8:27 chiều - Thứ Hai 24 Tháng Mười Một 2014

Tôn giáo ở thời toàn cầu hóa

Giám mục Phaolô Nguyễn Thái Hợp, O.P

Thật là một niềm vui cho tôi được hiện diện trong Hội thảo đầu tiên về đề tài “Tôn giáo và Văn hóa” do Trung tâm nghiên cứu Tôn giáo đương đại tổ chức. Cuộc Hội thảo này, tuy mới rụt rè và chập chững đặt bước chân đầu tiên, nhưng là thành quả của nhiều cố gắng và phấn đấu âm thầm của nhiều người trong suốt mấy năm qua. Xin chúc mừng Ban Tổ chức và hy vọng với bước đầu thuận buồm xuôi gió này, chúng ta sẽ có nhiều cơ hội gặp gỡ nhau trong tương lai.

Tôi được phân công để trình bày về vai trò của tôn giáo trong tiến trình toàn cầu hóa. Vào đầu thế kỷ XXI, toàn cầu hoá không còn là một chọn lựa, mà là một thực tế. Nhiều người coi đây là kết quả của một tiến trình lịch sử bất khả phục hồi, đang biến đổi sâu rộng không những cơ cấu chính trị, mô hình kinh tế, tổ chức xã hội, mà ngay cả nếp sống, lối nghĩ và bộ mặt của thế giới. Trong vòng xoáy của toàn cầu hóa này, nhiều ý thức hệ và chủ nghĩa lớn đã bị chao đảo trầm trọng, thậm chí có nguy cơ bị chìm nghỉm. Nhưng, như một nghịch lý của thời đại, tôn giáo nói riêng và chiều kích tâm linh nói chung, ra như đã vươn dậy và đang trở thành một nhu cầu của thời đại. Có người nói đến hiện tượng trở lại của tôn giáo.

Dưới đây là một vài phân tích và nhận định về hiện tượng tôn giáo trong tiến trình toàn cầu hóa.

1- Thế kỷ XXI là “thế kỷ tôn giáo”?       

Văn hào André Malraux là tác giả của câu nói thời danh: “Văn hóa là những gì còn lại, khi tất cả mất đi”. Người ta cũng gán cho ông một tuyên bố thời danh khác: “Thế kỷ XXI sẽ là tôn giáo hoặc sẽ chẳng là gì cả[1]. Mới đây Fr. Lenoir đặt lại vấn đề tác giả của lời tiên tri nói trên, bởi vì cho đến nay người ta không tìm thấy nó trong bất cứ tác phẩm, di thảo hay diễn văn nào của Malraux. Tuy nhiên, người ta gặp thấy một số phát biểu tương tự, chẳng hạn như khi Malraux xác quyết:“Vấn đề cốt yếu của cuối thế kỷ (XX) sẽ là vấn đề tôn giáo – dưới một hình thức khác với hình thức mà chúng ta biết” hoặc khi ông tuyên bố:“Trách nhiệm của thế kỷ XXI phải là tái du nhập thần linh vào đời sống con người”.

Như vậy, cho dù A. Malraux không phải là tác giả đích thực của câu nói lịch sử ở trên đi chăng nữa, thì chính ông đã là người gợi hứng, vì ông từng tuyên bố tôn giáo phải là một chiều kích căn bản của thế kỷ XXI. Rất có thể khởi đi từ những phát biểu của Malraux về giá trị tâm linh một người nào đó đã đúc kết thành câu nói thời danh “thế kỷ XXI sẽ là tâm linh hoặc chẳng là gì cả”. Cũng cần nói thêm rằng giả sử Malraux không phải là tác giả câu nói thời danh này đi chăng nữa, thì chính ông lại tâm đắc với câu nói này và không hề cải chính khi người ta gán nó cho ông[2].

Khỏi nói mọi người đều rõ, khi tuyên bố trên xuất hiện, vào giữa thế kỷ XX, nhiều người ngạc nhiên và sửng sốt, bởi vì kể từ thế kỷ XVIII cho đến lúc đó biết bao nhiêu tác giả đã lớn tiếng loan báo đi loan báo lại giờ cáo chung của tôn giáo. Nào ngờ vào cuối thế kỷ XX và đầu XXI thì câu tuyên bố từng gây “sốc” ở trên dần dần trở thành hiện thực.

Thật vậy, dưới cái nhìn của Voltaire, Diderot, J.J. Rousseau và nhóm “Bách khoa Tự điển” thì tôn giáo chỉ là chuyện phiếm, mê tín, dị đoan… cần phải loại trừ bằng cứ giá nào. Sứ mệnh của thế kỷ XVIII là đem “ánh sáng lý trí” để làm tan biến những vùng tối tăm, u mê và hồng hoang của nhân loại! Các đồ đệ của “khoa học chủ nghĩa” (scientisme) đã biến khoa học thành chân lý tối cao và chuẩn mực tối hậu cho cuộc sống. Lý tính được sử dụng như phương tiện đầy quyền năng để khám phá và xây dựng những tiêu chuẩn lý thuyết lẫn thực hành có tính thuyết phục để tạo nên cơ cấu xã hội tiến bộ, công bằng và hợp lý hơn. Người ta tin rằng khoa học sẽ giải quyết mọi vấn đề, đem lại hạnh phúc cho mọi người và chẳng cần đến bất cứ một giả thuyết nào về Đấng Tối Cao. Ánh sáng khoa học cũng sẽ chấm kết niềm tin tôn giáo và đẩy lui tất cả những gì là “linh thiêng, huyền nhiệm” vào vùng quá khứ mông muội.

Dựa trên thể nghiệm cá nhân của một bộ phận tôn giáo thời đó, Karl Marx đã giải thích bản chất tôn giáo qua hiện tượng vong thân của nhóm tín đồ này: “Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự tri giác của người chưa tìm thấy bản thân mình hoặc đã lại đánh mất bản thân mình một lần nữa[3]. Tôn giáo cũng thường được nhìn như thượng tầng kiến trúc của một thực trạng xã hội nào đó: “Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo, tức thế giới quan lộn ngược, vì chính bản chất chúng là thế giới lộn ngược. Tôn giáo là lý luận phổ biến của thế giới ấy, là toát yếu bách khoa của nó, là lôgích thông tục của nó…”. Liền sau đó là bản văn thời danh của Marx, mà không biết bao nhiêu người đã trích dẫn và bình luận trong suốt thời gian qua: “Sự khổ nạn của tôn giáo, vừa là biểu hiện sự khổ nạn hiện thực, lại vừa là sự phản kháng chống sự khổ nạn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của sinh linh bị áp bức, là tình cảm của thế giới vô tình, cũng giống như nó là tinh thần của chế độ không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”[4].

Qua những câu trích dẫn ở trên, người ta chưa thực sự tìm gặp một định nghĩa đích thực về bản chất tôn giáo. Tuy nhiên, cùng với Lénine, nhiều tác giả thuộc khối XHCN vẫn coi chúng là “hòn đá tảng của toàn bộ thế giới quan của chủ nghĩa Marx về vấn đề tôn giáo”. Người ta đặt rất nhiều kỳ vọng ở tiến bộ của khoa học và sự thành tựu của công cuộc giải phóng nhân loại ngang qua các cuộc cách mạng xã hội. Từ viễn tượng đó, nhiều tác giả vẫn đinh ninh rằng “chỉ có thể thực hiện được một cách đầy đủ chủ nghĩa cộng sản khoa học nếu chiến thắng triệt để mọi tôn giáo”[5]. Ở giai đoạn cộng sản chủ nghĩa sẽ chấm dứt mọi vong thân, đặc biệt là vong thân tôn giáo.

Nguyên tắc Nhà nước thế tục” (principe de laicité d’Etat) do Cách mạng Pháp 1789 khởi xướng và được Bộ luật Phân ly năm 1905 triển khai là một bước ngoặt quan trọng đối với Kitô giáo nói riêng và đối với các tôn giáo nói chung. Đây là một giải pháp cần thiết để tách rời tôn giáo với chính trị, tách hệ thống giáo dục khỏi các tổ chức tôn giáo và coi tôn giáo là chuyện của mỗi cá nhân. Hiện nay, hầu hết các nước tiến bộ đều áp dụng nguyên tắc này vì phù hợp với thời đại đa văn hóa, tôn trọng dân chủ, đảm bảo quyền bình đẳng cho mọi công dân, tránh xung đột tôn giáo hay ý thức hệ…

Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều mô hình “Nhà nước thế tục” khác nhau: đi từ mô hình tích cực cho đến mô hình quá khích hay loại trừ. Tương quan đối với tôn giáo vì vậy cũng rất khác nhau. Đặc biệt, chủ trương duy thế tục đã làm cho mối tương quan giữa tôn giáo với Nhà nước thêm căng thẳng. Đây là “một trào lưu tư tưởng thật sự có cương lĩnh theo đuổi mục tiêu giải phóng xã hội khỏi mọi ảnh hưởng của tôn giáo và đôi khi gắn với những hình thức của thuyết vô thần Nhà nước”[6]. Chính vì vậy, với tiến trình thế tục hóa ở thời hiện đại, sự hiện diện của tôn giáo trong lãnh vực chính trị, xã hội và văn hóa… đã bị giảm thiểu từ cấp độ vĩ mô xuống trung mô và rút dần vào vi mô.

Vào cuối thế kỷ XX, thời hiện đại chấm hết và chuyển sang giai đoạn hậu hiện đại. Đứng trên phương diện lý thuyết, hậu hiện đại phủ nhận những giá trị căn bản của hiện đại, mà yếu tố đóng vai trò chủ động là vai trò tối thượng của lý tính khoa học, tri thức khách quan và sự thật tuyệt đối. Hậu hiện đại phủ nhận niềm tin ngây thơ vào tri thức khách quan và cho thấy ảnh hưởng của thế giới chủ quan, di sản văn hóa, giáo dục, tôn giáo, trải nghiệm cuộc sống… “Thế giới quan hiện đại” không những không khách quan tí nào mà vốn dĩ đầy dẫy áp đặt, ý thức hệ, bá quyền… của một nền văn hóa hay của một nhóm người. Tính toàn thể, thống nhất, ổn định, trật tự của thời hiện đại thật ra đã được duy trì thông qua các thần thoại hợp lý hóa hay những tuyên ngôn hoặc khẩu hiệu mang tính ý thức hệ[7].

Các lý tưởng rạng ngời, các ý thức hệ sáng chói và các chủ nghĩa lớn lao đã từng hướng dẫn nhân loại trong thời hiện đại lần lượt sụp đổ. Chưa bao giờ nhân loại tiến bộ như hôm nay, nhưng xem ra chưa bao giờ con người khốn khổ, âu lo như ở thời hậu hiện đại này. Khoa học kỹ thuật đã giải phóng con người khỏi một số vong thân và vòng kim ô nghiệt ngã của thiên nhiên, nhưng đồng thời lại tạo nên những vong thân và lệ thuộc mới. Tình trạng khủng hoảng và sự sụp đổ của khối XHCN Đông Âu đã dẫn đến hiện tượng tê liệt của các phong trào xã hội trên thế giới. Niềm tin và niềm hy vọng của nhiều người nơi lý tưởng xã hội bị khủng hoảng trầm trọng. Mất những tiêu chuẩn và lý tưởng cổ điển, con người rơi vào cô đơn, hoang mang và khủng hoảng. Thay vì chạy theo những tham vọng “đội đá vá trời”, người ta quay về tìm kiếm chính mình và kiến tạo hạnh phúc riêng tư, bé nhỏ, vị kỷ…

Chính trong bối cảnh đó, tôn giáo đã trở lại để lấp đầy sự trống rỗng và thất vọng của con người hôm nay. Edgar Morin nhận định:“Tìm lại căn tính và tìm kiếm tâm linh biểu lộ cùng một khát vọng vượt qua kỹ thuật chủ nghĩa, duy vật chủ nghĩa, kinh tế chủ nghĩa, tính tầm thường. Nhiều sự phân cực trong thế giới Tây phương, với cách thức đôi khi ngây thơ hoặc vụng về, nhưng với cùng một ý thức mập mờ rằng thế giới kỹ thuật hóa, duy vật hóa, kinh tế hóa, ích kỷ hóa của Tây phương, làm cho con người phải đau khổ trong phần sâu thẳm nhất, nơi tận linh hồn và tâm trí của chúng ta.

Ở những vùng khác của thế giới hôm nay, hiện tượng Tây phương hóa, việc tiêu chuẩn hóa, sự đánh mất niềm tin nơi tương lai của tiến bộ đã dẫn đến quyết định trở về với các nguồn gốc có căn tính tôn giáo, đạo đức, quốc gia. Vì thế, trong thế giới Hồi giáo, người ta không ngạc nhiên trước sự thành công của những người Hồi giáo dấn thân vào các hành động liên đới giữa xã hội ích kỷ và thối nát”[8].

2-  Tôn giáo như cội nguồn và bản sắc văn hóa

Trào lưu thế tục khai sinh từ lòng Kitô giáo phương Tây. Hiện nay, tại hầu hết các nước phương Tây, nguyên tắc Nhà nước thế tục đã trở thành một yếu tố pháp lý và hiến định. Ở một số nước, đặc biệt tại Pháp, đã có một thời, trào lưu này mang tính ý thức hệ, nhằm loại trừ ảnh hưởng của tôn giáo khỏi tất cả mọi lãnh vực xã hội, kinh tế, giáo dục, y tế… Nhưng bất chấp mọi áp lực, trào lưu thế tục vẫn không thể xóa bỏ một số đồng thuận văn hóa, ít nhiều ý thức, giữa dân chúng với tôn giáo. Bối cảnh hậu hiện đại và toàn cầu hóa càng làm tăng vai trò của tôn giáo trong việc bảo vệ bản sắc dân tộc[9]. Dưới đây, xin trưng dẫn một số trườnh hợp điển hình.

a) Trung và Đông Âu

Sau Thế chiến II, thống chế Tito đã thành lập Yougoslavia bằng cách cưỡng chế nhiều quốc gia độc lập kết hợp thành liên bang. Cuối thập niên 80’, sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, thì Yougoslavia cũng sụp đổ theo. Nhưng khác với các nước khác, do điều kiện xã hội, văn hóa và tôn giáo đặc biệt, tại vùng đất này đã xảy ra một cuộc chiến bi thảm: Các quốc gia thành viên đấu tranh đòi độc lập và nội chiến bùng nổ.

Croatia, một nước toàn tòng Công giáo, quyết định tách khỏi liên bang để bảo vệ bản sắc văn hóa và dân tộc tính. Đạo Công giáo trở thành quốc túy quốc hồn của họ. Trong khí thế dành độc lập đó, người Croatia không ngần ngại chống lại ảnh hưởng của Chính thống giáo và Hồi giáo ở vùng biên giới giáp ranh với Serbia và Bosnia.

Đương nhiên người Serbia, theo Chính thống giáo và hãnh diện từng là thành trì trong quá khứ để bảo vệ Kitô giáo phương Tây chống lại sức tấn công của Hồi giáo, phải phản ứng mãnh liệt để bảo vệ đất nước. Một đàng họ chống lại viễn tượng một mô hình thống nhất mới trong đó Công giáo sẽ giữ vai trò bá chủ, đàng khác họ tiếp tục chủ trương loại trừ ảnh hưởng của Hồi giáo.

Còn Bosnia, một vùng đất theo Hồi giáo, bị kẹt giữa hai nước Công giáo và Chính thống giáo, trở thành nạn nhân. Kể từ khi vương quốc Ottoman chấm dứt vào năm 1878, Bosnia luôn luôn bị đe dọa bởi các nước láng giềng và phải gồng mình lên để bảo vệ sự độc lập cũng như căn tính của mình.

Cuộc chiến trở nên thê thảm hơn khi những người gốc Albania tại Kosovo, một tỉnh của Serbia, nhưng theo Hồi giáo và đứng lên đòi tự trị. Dân Serbia đã phản ứng mãnh liệt vừa để bảo vệ lãnh thổ, vừa để bảo tồn văn hóa và tôn giáo của mình. Tôn giáo đã trở thành bản sắc dân tộc và yếu tố thống nhất quốc gia cho mỗi nhóm (Croatia, Serbia và Bosnia), nhưng lại là nguyên nhân xung đột và đố kị đối với các nhóm khác.

Trường hợp của Ba Lan, vai trò bảo vệ căn tính của tôn giáo càng rõ rệt hơn. Gia nhập Công giáo từ năm 966, nhưng suốt nhiều thế kỷ liền, Ba Lan luôn bị đô hộ bởi các quyền lực chính trị và ý thức hệ ngoại bang. Niềm tin Công giáo đã trở thành yếu tố nối kết và sức mạnh linh thiêng giúp người Ba Lan can trường chiến đấu dành độc lập, chống lại những người Tin Lành Thụy Điển hay Đức, những người Chính thống giáo Nga, những người Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ và những người Cộng sản thuộc Liên bang Xô Viết. Chiều kích tôn giáo luôn quyện lẫn với tình tự dân tộc. Hôm nay, mặc dù giữa lòng dân tộc Ba Lan đã nổi lên nhiều tiếng nói phê phán thái độ bảo thủ, độc tài và lạc hậu của hàng Giáo phẩm Công giáo, nhưng nói chung, người Ba Lan vẫn tiếp tục nối kết bản sắc dân tộc với Công giáo.

b) Nước Nga

Sau khi khối XHCN sụp đổ, người dân Nga đã bộc lộ nhận mối tương quan văn hóa và dân tộc với Kitô giáo. Nhờ đó, Chính thống giáo tại Nga đã hồi sinh nhanh chóng. Theo đức Thượng phụ Alexei, trước khi XHCN sụp đổ trên toàn lãnh thổ Nga chỉ có 6800 giáo xứ và 19 tu viện. Năm 2007, nghĩa gần 20 năm sau, Chính thống giáo Nga có 27.300 giáo xứ và 716 tu viện. Vào thập niên 60 và 70 của thế kỷ XX, tại các nhà thờ ở Nga chỉ thấy toàn các bà già, hôm nay sự hiện diện của giới trẻ đã đem lại nét sinh động mới cho Giáo hội.

Nếu một số chính trị gia nghi ngờ khả năng thích nghi của Chính thống giáo đối với chế độ tự do chính trị và kinh tế, thì đại đa số vẫn nhìn thấy nơi Chính thống giáo yếu tố bền vững duy nhất trong bối cảnh xáo trộn và bất ổn hiện nay. Chính thống giáo có thể giúp quy tụ dân chúng quanh các giá trị đạo đức và dân tộc, hầu thực hiện những biến đổi chính trị cần thiết mang bản sắc Nga. Một số người tin rằng nhờ ảnh hưởng của Chính thống giáo, một tôn giáo đã để lại dấu ấn lịch sử và thấm nhiễm văn hóa dân tộc, người Nga có khả năng kiến tạo một mô hình dân chủ và phát triển kinh tế khác với mô hình phương Tây.

Cựu Tổng thống V. Putin cũng tuyên bố công khai về nguồn gốc Chính thống giáo của gia đình ông. Đầu tháng 11 năm 2000, báo “Le Figaro” (Pháp) đăng tải một bài phỏng vấn rất đặc biệt trong đó ông Putin đã bộc lộ ảnh hưởng niềm tin tôn giáo trong cuộc đời của ông.

Phóng viên của “Le Figaro” đặt câu hỏi: “Trong một lần trả lời phỏng vấn báo chí Nga, ông cho biết là đã đến cầu nguyện tại mộ của Chúa Giêsu ở Giêrusalem, trong tay cầm thánh giá. Nhưng ông lại là cựu sĩ quan tình báo KGB. Ông nghĩ thế nào về sự trái ngược đó?”

Ông Putin đã trả lời với một sự thẳng thắn họa hiếm: “Cuộc sống được tạo nên bằng những điều trái ngược. Khi không còn những điều trái ngược thì đó là cái chết. Nước Nga không phải là một quốc gia giả tạo mà nó có một lịch sử lâu đời. Thời kỳ còn là nước Liên Xô, đã có nhiều ý đồ làm thay đổi truyền thống nhưng vẫn không sao tách nước Nga khỏi những giá trị văn hóa của dân tộc. Nền văn hóa đó, cũng giống như cây cỏ mọc trên các đại lộ của thành phố, xuyên thủng nhựa đường để tồn tại. Mẹ tôi là một phụ nữ theo đạo, mặc dù, ở thời Liên Xô trước đây, đi lễ nhà thờ không phải là không nguy hiểm. Mẹ tôi đã bí mật cho tôi được rửa tội tại nhà thờ. Vậy tại sao các ông lại có vẻ ngạc nhiên khi tôi cầm thánh giá cầu nguyện tại mộ Chúa Giêsu? Tôi đã làm việc cho KGB vì chúng tôi không còn quốc gia nào khác ngoài nhà nước Cộng sản. Mỗi nhà nước đều có những công cụ riêng. Cơ quan an ninh nơi tôi đã làm việc là một trong những công cụ đó. Chuyện mẹ tôi mang tôi đến nhà thờ để rửa tội khi tôi mới 1 tuổi không gây khó khăn gì cho tôi khi làm việc ở đây. Phải nói rằng tôi làm việc tại một bộ phận ít liên quan đến chính trị nhất của KGB. Tuy nhiên, việc gia nhập Đảng Cộng sản là điều bắt buộc”.

Cuối cùng, đề cập đến mối tương quan với Chính thống giáo, cựu Tổng thống Putin xác quyết: “Tôi tự hào là tín đồ Giáo hội Chính thống giáo. Điều đó làm tôi hiểu biết thêm, tạo ra mối liên hệ cá nhân với nhân dân chúng tôi. Niềm tin của tôi làm cho tôi thêm tinh thần và bình an trong tâm hồn”[10].

Năm 2007, nhân dịp tạp chí Time bầu V. Putin làm nhân vật của năm, các phóng viên của tạp chí thời danh này đã phỏng vấn ông suốt 3 giờ rưỡi về nhiều vấn đề. Trước câu hỏi về niềm tin tôn giáo đóng vai trò nào trong quá trình lãnh đạo của ông, Putin đã trả lời như sau: “Đầu tiên và trên hết, chúng tôi làm việc theo tri thức chung. Nhưng tri thức chung lại dựa vào những quy tắc đạo đức. Ngày nay không thể tách rời đạo đức khỏi những quy tắc tôn giáo”[11].

c) Tây Âu

Ở Tây Âu, nhiều nước vẫn còn duy trì “tương quan căn tính” với tôn giáo. Bất chấp những hậu quả của trào lưu thế tục, tôn giáo vẫn âm thầm hiện diện ở khắp nơi trong suốt nhiều thập niên qua và đang hồi sinh trong mấy thập niên sau cùng. Một vài thí dụ để minh họa cho vấn đề.

Một số nước ở Tây Âu vẫn duy trì quốc giáo. Ở Đan Mạch chẳng hạn, Tin Lành của phái Luther là quốc giáo. “Giáo hội quốc doanh” Đan Mạch được đặt dưới sự kiểm soát của Nhà nước và là Giáo hội duy nhất được trích phần thuế của các tín đồ và nhận các trợ cấp khác của Nhà nước. Giáo hội quốc doanh này chỉ thâu nhận những thành viên gốc Đan Mạch và được coi là cơ quan duy trì truyền thống quốc gia. Giáo hội Luther và văn hóa dân tộc quyện lẫn với nhau, cũng như tôn giáo và Nhà nước luôn yểm trợ và dựa vào nhau để bảo vệ quyền lợi chung[12].

Hy Lạp là một trường hợp tương tự khác. Từ năm 1830, Chính thống giáo trở thành quốc giáo của nước này và tạo thành một cột trụ vững chắc của quốc gia. Thật vậy, “đối với người Hy Lạp đương đại, căn tính chủng tộc bất khả phân ly với tôn giáo (…). Văn hóa Hy Lạp và Chính thống giáo Hy lạp nối kết một cách hết sức chặt chẽ căn tính chủng tộc và dân tộc Hy Lạp. Điều này định hướng Chính thống giáo Hy Lạp đi tới một thứ chủng tộc chủ nghĩa”[13]. Tất cả các đảng phái chính trị, tả khuynh cũng như hữu khuynh, triệt để khai thác tình trạng này. Nhà nước cũng khôn khéo vận dụng tôn giáo cho nhiều mục tiêu chính trị và ý thức hệ khác nhau, cả trong chính sách đối nội lẫn đối ngoại, đặc biệt khi đối diện với Cộng đồng Âu châu và toàn cầu hóa. Trong khi đó, Chính thống giáo đợi chờ sự nâng đỡ trực tiếp của Nhà nước ở mọi lãnh vực. Trên nguyên tắc, Hiến pháp Hy Lạp bảo đảm tự do tôn giáo, nhưng kể từ năm 1975, luật đó chỉ được áp dụng một cách đặc biệt cho Chính thống giáo mà thôi.

Nước Anh là một trường hợp nữa có sự hiện hữu của quốc giáo. Ba yếu tố chứng tỏ vai trò căn tính của tôn giáo trong nước này. Thứ nhất, “thực chất của Anh giáo biểu lộ trong tên của nó: Một Giáo hội quốc gia của nước Anh” và vua (hay hoàng hậu) là thủ lãnh. Mặc dù tiến trình thế tục hóa cũng bành trướng ở Anh như ở những nước châu Âu khác, nhưng tình trạng lịch sử đặc biệt này làm cho Giáo hội Anh vẫn để lại dấu ấn sâu đậm trong lương tâm tập thể của dân tộc. Đó cũng là một trong những lý do khiến nước Anh thiếu mặn mà với cộng đồng châu Âu, vì sợ thương tổn đến quyền tối thượng, tự lập và tự quyết định.

Cuộc điều tra dân số năm 2001 cho thấy số người Anh tự nhận là tín đồ Anh giáo tăng cao khác thường, mặc dù trong đó tỷ lệ những người “không thực hành tôn giáo” cũng khá cao. Một số nhà bình luận nhìn thấy nơi hiện tượng này nỗi âu lo trước làn sóng di dân Hồi giáo đang tràn ngập vương quốc Anh và phản ứng tự vệ chống lại đe dọa đánh mất căn tính bằng cách tái xác quyết mối tương quan sinh tử giữa Anh giáo với nước Anh. Mặc dù đã có một số thay đổi về luật pháp để phù hợp với xã hội dân chủ và đa tôn giáo, nhưng Anh giáo vẫn tiếp tục giữ vai trò trụ cột và chiều kích căn tính của nước Anh[14].

Chính nước Pháp, quê hương của nguyên tắc Nhà nước thế tục 1789 và Bộ Luật Phân ly 1905, cũng không thoát khỏi chiều hướng chung này. So với các nước khác, chủ nghĩa thế tục ở Pháp có màu sắc ý thức hệ và mang tính cường điệu, nhất là trong những cuộc tranh luận về giáo dục học đường. Trong nhiều trường hợp, thế tục chủ nghĩa đã vận hành như một thứ tôn giáo thay thế cho Công giáo và nhằm hủy bỏ quyền lực của giới giáo sĩ. F. Dubet dám viết: “Tại Pháp, các cuộc tranh luận về thế tục lập tức mang màu sắc tôn giáo”[15]. Tuy nhiên, Tổng thống Nicolas Sarkozy cho biết: “Nước Pháp đã thay đổi rất nhiều. Các công dân Pháp có xác tín đa dạng hơn ngày xưa”[16]. Một vài sự kiện cho thấy sự khác biệt đó.

Sự kiện rõ rệt nhất là “Mặt trận Dân tộc” (Front national), một đảng chính trị cực hữu, đã qua mặt cựu thủ tướng Jospin, ứng cử viên đảng Xã hội, ở vòng nhất trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 2002. Mặt trận này chọn khẩu hiệu “Nước Pháp của người Pháp” và luôn lớn tiếng tố cáo những người di dân, đa số gốc Bắc Phi, về tình trạng thất nghiệp, bạo động, tệ nạn xã hội… Như biểu tượng của lòng ái quốc, họ đã chọn thánh Jeanne d’Arc, một vị anh hùng dân tộc đã hô hào đánh đuổi quân Anh khỏi bờ cõi nước Pháp. Mỗi năm, vào ngày 1 tháng 5, các thành viên của Mặt trận quây quần chung quanh tượng đài của thánh nữ để bộc lộ sự phản kháng chống lại làn sóng di dân và biểu lộ mối quan tâm bảo vệ văn hóa dân tộc, cũng như chủ trương dành ưu tiên về việc làm, bảo hiểm xã hội, thăng tiến xã hội… cho những người Pháp chính tông. Dĩ nhiên, “Mặt trận Dân tộc” không tự xưng là Kitô giáo và hàng Giáo phẩm Công giáo cũng chẳng hề đồng hóa với tổ chức chính trị này, nhưng ông Le Pen đã khéo léo đề cao sự nối kết văn hóa giữa Công giáo với nước Pháp[17].

Suốt nhiều năm liền, hiện tượng giáo phái (sectes) và trào lưu tôn giáo mới (nouveaux mouvements religieux) đã trở thành một đề tài nhức nhối, gây âu lo cho xã hội Pháp, đến độ Quốc hội phải thiết lập một Ủy ban đặc biệt để giải quyết vấn đề. Hiện tượng này thực ra cũng xuất hiện ở nhiều nước châu Âu khác, nhưng sự hiện diện của nó tại quê hương của trào lưu thế tục lại mang một ý nghĩa rất đặc biệt.

Từ vài thập niên nay, Giáo hội Công giáo Pháp cũng bắt đầu một số chương trình mục vụ khá khởi sắc. Một thí dụ điển hình của chương trình loan báo Tin Mừng trong lãnh vực văn hóa và nghệ thuật là việc thành lập “Collège des Bernardins” tại Paris. Trung tâm biểu hiệu chủ trương đối thoại của Giáo hội với thế giới đương đại nói chung và với lãnh vực văn hóa- nghệ thuật nói riêng. Ba trục sinh hoạt chính của Trung tâm là: Giáo trình thần học và tâm linh; hội thảo và chương trình nghiên cứu; văn hóa đương đại. Trung tâm được vận hành dưới sự hướng dẫn của một ủy ban bảo trợ gồm những nhân vật tên tuổi như Élie Bernavi, Michel Camdessus, Jacques Delors, Anne-Marie Idrac… Ngoài ra, còn có một số sáng kiến táo bạo để loan báo Tin Mừng cho mọi người và mọi giới, từ gia đình cho đến học đường, công sở, đường phố và phòng trà. Một số công tác mục vụ này đang thu hoạch kết quả khả quan. Có người dám nói đến hiện tượng trở lại của Thiên Chúa trong xã hội Pháp![18]

Một năm sau lễ kỷ niệm bách chu niên của Bộ Luật Phân ly 1905, Nicolas Sarkozy, lúc đó là Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Phụng tự, đã nêu vấn đề “xem xét lại bản văn căn bản của chủ nghĩa thế tục”[19]. Năm 2007, trong lá thư gửi các nhà giáo nhân ngày khai trường, Tổng thống Sarkozy đã trở lại đề tài nhạy cảm này. Ông viết: “Nếu tôi mong muốn, trên hết mọi sự, nhà trường phải tiếp tục là nhà trường thế tục, đó là vì tôi cho rằng tính thế tục là nguyên lý của sự tôn trọng lẫn nhau và vì nó mở ra một không gian đối thoại và hòa bình giữa các tôn giáo, vì nó là phương tiện chắc chắn nhất để bảo đảm việc đấu tranh chống lại ý đồ bó tròn nhà trường trong tôn giáo”. Nhưng liền sau đó, ông đã viết thêm: “Mặc dù thế tục hóa nhà trường như vậy, nhưng tôi thực sự tin rằng chúng ta không nên gạt tín ngưỡng và tôn giáo ra khỏi nhà trường(…). Cái tâm linh, cái thiêng liêng song hành mãi mãi cùng cuộc phiêu lưu của loài người. Đó là nguồn gốc mọi nền văn minh. Và khi chúng ta dễ dàng dang rộng cánh tay cho kẻ khác, chúng ta cũng đối thoại dễ dàng hơn rất nhiều với họ khi chúng ta hiểu rõ họ”[20].

Tại Điện Latran, Roma, với tư cách là Tổng thống nước Pháp, ông Nicolas Sarkozy tiếp tục xác quyết rằng “thế tục là một sự kiện bất khả đảo lộn ở Pháp” và “hôm nay chế độ thế tục ở Pháp là một tự do”. Tuy nhiên, ông cũng công nhận tính cường điệu, cực đoan và chống giáo sĩ của nó trong quá khứ. Do đó, ông ước mong đạt tới “một thế tục tích cực (laicité positive), nghĩa là một thế tục biết gìn giữ tự do suy tư, tự do tin và tự do không tin, không nhìn các tôn giáo như một mối đe dọa, nhưng đúng hơn như một quân bài chủ. Giải pháp không phải là thay đổi thế quân bình của luật 1905 (…). Vấn đề hệ tại việc tìm kiếm đối thoại với các tôn giáo lớn tại Pháp và tạo điều kiện dễ dàng cho sinh hoạt thường nhật của các trào lưu tâm linh lớn hơn là tìm cách gây khó khăn cho họ”[21].

d)- Hoa Kỳ

Ngay từ đầu, nhà cầm quyền ở Mỹ đã áp dụng nguyên tắc thế tục và nghiêm cấm các khoản tài trợ chính thức cho các tổ chức tôn giáo, nhưng không đi theo con đường của Pháp. Chính vì vậy, không xuất hiện những xung đột hay căng thẳng về tôn giáo như ở Âu châu trước đây. Tại Mỹ, tôn giáo vẫn tiếp tục giữ một vai trò quan trọng trong xã hội dân sự cũng như trong các lãnh vực giáo dục, khoa học, văn hóa nghệ thuật, ngay cả trong những sinh hoạt chính trị. Trong những cuộc tranh cử ở Quốc hội hay tổng thống, hầu như chẳng ứng cử viên nào có thể thắng cử nếu như không đưa ra những câu trả lời thỏa đáng về vấn đề tôn giáo. Trên tờ dollars người ta long trọng tuyên bố “nơi Chúa chúng tôi đặt trọn niềm tin” hay theo Hiến Pháp, khi nhậm chức phải thề “trước mặt Chúa”…

Cũng chỉ duy ở Mỹ người ta mới có thể nối kết dễ dàng và tư nhiên giữa ngôn ngữ chính trị với ngôn ngữ khoa học và tâm linh. Francis S. Collins, Giám đốc Dự án giải mã gen người, tường thuật một câu chuyện độc đáo đã diễn ra tại Nhà Trắng vào tháng 6 năm 2000, nhân dịp công bố bộ gen người hàm chứa toàn bộ các ADN, mã số di truyền của sự sống:

“Phiên bản mới được phát hiện này dài ba tỷ ký tự hóa học và được viết dưới dạng mật mã gồm bốn ký tự rất kỳ lạ. Kỳ lạ ở chỗ thông tin mang trong mỗi tế bào của cơ thể người phức tạp đến mức ngay cả khi đọc liên tục suốt ngày đêm với tốc độ một chữ/giây thì vẫn phải mất tới 31 năm mới có thể đọc hết mã số đó. Nếu in những ký tự này trên giấy với kích cỡ thông thường và đóng chúng lại thành sách, ta sẽ có một tòa tháp cao ngang với tượng đài Washington”.

Với tư cách là Giám đốc Dự án, Francis Collins “đứng cạnh Tổng thống Bill Clinton trong gian phòng phía Đông của Nhà Trắng (…). Thủ tướng Anh Tony Blair đã kết nối trực tiếp qua vệ tinh để theo dõi sự kiện này và hoạt động kỷ niệm cũng diễn ra đồng thời ở rất nhiều địa điểm khác trên thế giới.

Tổng thống Clinton bắt đầu bài phát biểu với việc so sánh bản đồ gen người mới được phát hiện này với bản đồ mà Meriwether Lewis đã công bố trước Tổng thống Thomas Jeffeson tại chính gian phòng này cách đây gần hai trăm năm (…). Nhưng đoạn văn thu hút sự chú ý nhiều nhất của công chúng chính là khi ông chuyển từ khía cạnh khoa học sang tâm linh: “Ngày hôm nay, chúng ta được hiểu về loại ngôn ngữ mà Chúa đã sử dụng để sáng tạo nên Sự sống. Hơn bao giờ hết, chúng ta nghiêng mình trước sự phức tạp, trước vẻ đẹp và sự diệu kỳ của món quà thần thánh nhất, thiêng liêng nhất của Người”.

Nhiều người đợi chờ xem Tiến sĩ F. Collins, một nhà khoa học được đào tạo bài bản, sẽ phản ứng ra sao khi nghe vị lãnh đạo thế giới đề cập rõ ràng nhất đến tôn giáo trong một biến cố khoa học như thế? Tuy nhiên, khi đến lượt mình phát biểu, ông cũng đi theo dòng suy tư đó: “Hôm nay là một ngày hạnh phúc của toàn thể thế giới. Riêng với tôi, thật tuyệt vời và đáng kinh ngạc khi biết rằng lần đầu tiên chúng ta đọc được cuốn sách chỉ dẫn về chính bản thân mình, cuốn sách mà trước đó duy chỉ có Chúa biết đến”[22].

e) Hồi giáo cực đoan                                                         

Khách quan mà nói, toàn cầu hóa đã góp phần tích cực trong việc tăng trưởng kinh tế. Đây là một cơ hội tốt để đẩy mạnh phát triển kinh tế mà những cố gắng cổ điển về liên đới đã không đem lại kết quả mong muốn. Toàn cầu hóa cũng đẩy mạnh tiến trình dân chủ hóa ở mọi nơi trên thế giới. Nhãn giới của người dân được mở rộng và được hiện đại hóa nhờ công nghệ thông tin. Cũng nhờ toàn cầu hóa thông tin, cộng đồng nhân loại xích lại gần nhau hơn và cùng rung nhịp đập của con tim như chưa từng thấy.

Nhưng không phải tất cả mọi người đều chia sẻ cái nhìn lạc quan này. Đối với nhiều người, tiến trình toàn cầu hóa là một hiện tượng quá vô tình, lạnh lùng, xa lạ và thù nghịch, được xây dựng mà không cần đến họ, bất chấp họ và hơn nữa chống lại họ. Mối đe dọa này tăng thêm mỗi ngày do yếu tố quyết định của kiến thức, kỹ thuật và tài chánh trong phát triển, vì vậy toàn cầu hóa đang tăng thêm cơ hội thành công cho các nước có khả năng tiếp thu nhanh những canh tân kỹ thuật và làm nghèo thêm những người nghèo cũng như nước nghèo.

Nhiều người đồng hóa toàn cầu hóa với tiến trình hiện đại hóa, nhưng trong thực tế, vấn đề này rất nhiêu khê, phức tạp, hàm hồ và dị nghĩa. Tại các nước tiên tiến, toàn cầu hóa khai sinh giai đoạn hậu hiện đại, trong đó giá trị, ước mơ và những hứa hẹn của thời hiện đại đang bị chất vấn gay gắt. Trái lại, ở các nước đang phát triển, tiến trình toàn cầu hóa hiện diện đồng thời với một xã hội tiền kỹ nghệ và tiền hiện đại. Việc chung sống cưỡng ép và giả tạo giữa các mô hình xã hội tiền kỹ nghệ, tiền hiện đại, hiện đại và hậu hiện đại trong tiến trình toàn cầu hóa là một trong những nguyên nhân của tình trạng căng thẳng, xung đột và bạo động hiện nay.

Trong mô hình toàn cầu hóa hiện tại, văn hóa và nếp sống Tây phương, đặc biệt của giới bình dân ở Mỹ, đã trở thành “văn hóa toàn cầu” và có nguy cơ làm băng hoại văn hóa truyền thống của nhiều dân tộc. Hiện tượng này gây âu lo cho nhiều người ở một số nước đang phát triển, đặc biệt là các nhóm hay nước Hồi giáo bảo thủ. Họ kịch liệt chống lại văn hóa Tây phương để bảo vệ cái mà họ gọi là “tính tinh tuyền của niềm tin”. Không những các tiến bộ khoa học kỹ thuật và các tiện nghi cuộc sống, mà toàn bộ quan niệm Tây phương về dân chủ, nhân phẩm, nhân quyền, tự do, bình đẳng… đều bị họ lên án. Họ không ngần ngại chủ trương tiến hành “thánh chiến” (Djihad) để loại trừ ảnh hưởng Tây phương và thiết lập bá quyền của “Nhà Islam” (Dar el-Islam), không phải bằng đấu tranh tư tưởng, mà bằng võ lực và khủng bố. Chiến tranh, đối với họ, bao gồm cả bạo lực khủng bố lẫn tàn sát. Hơn mười năm sau, đọc lại câu nói của Ali Benhadji, cựu lãnh tụ Mặt trận Hồi giáo Cứu rỗi Algérie (FIS), chúng ta vẫn cảm thấy lạnh người: “Lòng tin thật sự là lòng tin thúc đẩy tín đạt tới sự hy sinh (…). Lòng tin không được tưới bằng máu thì không lớn lên được, không sống được. Các nguyên lý được củng cố nhờ những hy sinh, xả thân cảm tử và tuuẫn tiết vì Allah. Niềm tin lan truyền bằng tổng số các cuộc tàn sát và những xác chết. Người chiến sỹ phải hy sinh thì nào có sá gì:đó là người chiến thắng[23].

Vụ khủng bố ngày 11-9-2001 là một biến cố làm hiển hiện dòng chảy ngầm của lịch sử: Tất cả những nỗi đau, nỗi nhục, xung đột và hận thù, mà người cố ý che đậy hay phớt lờ để không bận tâm đến, bỗng nhiên nổ bùng một cách nghiệt ngã. Nó vượt khỏi quy mô của một hành động khủng bố đơn thuần để trở thành một hành động thách thức, một lời tuyên chiến. Thật vậy, tổ chức Hồi giáo cực đoan Al-Qaeda và Taliban nhân danh Allah toàn năng tuyệt đối và độc nhất để tuyên chiến cả với “quân ngoại đạo” lẫn “bọn phản đạo”. Niềm tin tôn giáo được vận dụng vừa để bảo vệ văn hóa và căn tính dân tộc, vừa để biện minh và hô hào hành động khủng bố.

3- Tôn giáo ở thời toàn cầu hóa

Lý thuyết thế tục hóa cho rằng xã hội càng tiến bộ, càng hiện đại hóa thì tôn giáo càng mất vai trò. Triết gia Nietzsche cũng lớn tiếng loan báo: “Thời kỳ của các tôn giáo đã chấm dứt: Thiên Chúa đã chết”. Vào cuối thế kỷ XIX, khi được hỏi về định hướng chính trị tương lai, chính trị gia Jules Ferry, một khuôn mặt biểu tượng của lý thuyết thế tục hóa ở Pháp, đã trả lời dứt khoát: “Mục đích (chính trị) của tôi? Tổ chức một nhân loại vắng bóng Thiên Chúa”.

Kể từ đó, rất nhiều dự đoán về cái chết của Kitô giáo nói riêng và tôn giáo nói chung đã được đưa ra. Ở thập niên 60’ của thế kỷ XX, Harvey Cox đã xuất bản một cuốn sách gây rất nhiều tiếng vang: “Secular City” (Kinh thành Thế tục), trình bày về những con người hiện đại được giải thoát khỏi tất cả những gì lỗi thời, cổ lỗ, lạc hậu của các tôn giáo. Người ta nói nhiều đến hiện tượng ở Phương Tây các thánh đường vắng bóng tín đồ hay không còn người trẻ. Đại đa số giới trẻ lớn lên trong bầu không khí tục hóa, không được giáo dục về niềm tin và cũng chẳng có cơ hội tiếp xúc với Giáo hội. Theo nhiều dự đoán, trong tương lai gần tôn giáo sẽ bị loại bỏ khỏi thế giới nhân sinh! Mãi đến giữa thập niên 70’, Jean Delumeau vẫn băn khoăn đặt câu hỏi: “Le Christianisme va-t-il morir?” (1977).

Nhưng rồi, bước sang thế kỷ XXI, hình như mọi sự lại đổi khác. Gió bắt đầu đổi chiều: Thượng Đế đã trở lại trên diễn dàn thế giới. Tôn giáo lại công khai xuất đầu lộ diện với ấn phẩm, phim ảnh, tranh luận trên truyền hình, mít tinh, đại hội giới trẻ… Ở thời hậu hiện đại, các ý thức hệ lớn và các chủ nghĩa lớn của thế kỷ XXe đã chết. Chủ nghĩa thế tục mất dần căn tính và vì vậy kém hấp dẫn. Tại một vài nơi, con số những người theo thuyết bất khả tri tăng lên. Nhưng rất ít người trong họ thuộc về một tổ chức vô thần hay có ghi danh mua sách báo vô thần. Trong khi đó, số tín đồ trên thế giới gia tăng[24]

Không phải vô lý mà Tổng thống Nicolas Sarkozy đã chúc mừng Năm Mới 2009 Ngoại giao đoàn với những lời lẽ như sau: Ước mong đổi khí hậu và sự tái xuất hiện của tôn giáo trở thành “hai thách đố” của nhân loại ở thế kỷ XXIe. Và ông nhấn mạnh thêm: “Tôi xác tín rằng hai thách đố này sẽ góp phần cấu trúc cộng đồng quốc tế của thế kỷ XXIe, rất có thể sâu xa hơn những ý thức hệ của thế kỷ XXe ”. 

Tạp chí “Le Monde des Religions” (Thế giới Tôn giáo) phát hành một số đặc biệt về chủ đề: Tại sao thế kỷ XXI là tâm linh?[25]. Theo tạp chí này, trong thập niên vừa qua, người ta nhận thấy hiện tượng khởi sắc về tôn giáo dưới mọi hình thức và ở mọi nơi. Hiện tượng tái xác quyết căn tính tôn giáo xuất hiện dưới nhiều dạng thức, muôn hình vạn trạng, tại khắp nơi trên thế giới:Từ Đại hội giới trẻ thế giới của Giáo hội Công giáo, ngang qua các phong trào “tôn giáo truyền thống” ở Do Thái, ở Ấn Độ, ở Thái Lan, ở Indonesia, ở Nga, ở cựu Yougoslavia… ngang qua các Hội nghị quốc tế của các quốc gia Hồi giáo, cho đến hoạt động của các nhóm Hồi giáo cực đoan như Al-Queda, Taliban…

Cuộc thăm dò do tạp chí “Thế giới Tôn giáo” tổ chức với sự cộng tác của France Inter cũng cho thấy quan điểm của người Pháp trước hiện tượng thức tỉnh tôn giáo hiện nay. Mặc dù nước Pháp là nơi mà hiện tượng tục hóa và sự phân cách giữa Nhà nước với Giáo hội đã xảy ra một cách triệt để và nghiệt ngã nhất, đồng thời con số tín đồ tham dự nghi thức thờ tự cổ truyền giảm sút, nhưng đại đa số người Pháp vẫn cho rằng tôn giáo chiếm một chỗ quan trọng hơn mười năm trước đây, trong thế giới (56%) cũng như ngay tại nước Pháp (45%). Kết quả điều tra cũng cho biết 78% người Pháp được hỏi ý kiến nghĩ rằng tôn giáo thuộc về nhu cầu thiết yếu của con người và sẽ không biến mất, cho dù có thể bị biến đổi. Đối với 41% người thăm dò, chiều kích tôn giáo và tâm linh rất quan trọng cho sự thành công cá nhân.

Cuộc thăm dò cũng cho thấy tính nghịch lý và đôi khi mâu thuẫn của hình ảnh tôn giáo nơi người dân Pháp. Trước câu hỏi về vai trò của tôn giáo trong thế kỷ XXI, những người được thăm dò tỏ ra khá hàm hồ và lưỡng lự:48% cho rằng tôn giáo vừa là yếu tố tiến bộ vừa là yếu thoái hóa; 38% cho rằng tôn giáo là một yếu tố thoái hóa và chỉ có 14% nghĩ rằng tôn giáo là yếu tố tiến bộ. Lý do của sự nghịch lý này có lẽ là do ranh giới mập mờ giữa bản chất tôn giáo với sự thể hiện cụ thể của nó trong thế giới hôm nay. Phải chăng thảm họa ngày 11-9-2001 và những vụ khủng bố do nhóm cực đoan Hồi giáo cũng bắt nguồn từ tôn giáo? “Thực vậy, điều đó có lẽ muốn nói rằng nếu bản chất các tôn giáo bao hàm vẻ trong sáng không chối cãi – một nhu cầu thiết yếu của con người – thì sự thể hiện hôm nay của các tôn giáo đang gây ra nhiều vấn đề”[26].

Tại nhiều nước phương Tây, nhiều tu viện và nhà thờ phải đóng cửa. Tuy nhiên, phong trào thức tỉnh tôn giáo hiện nay đã giúp tôn giáo ngày càng nhân vị hóa và đi vào sâu vào lãnh vực riêng tư. Chiều hướng này cũng đã giúp tâm linh hóa tôn giáo hơn nữa và nhiều người trẻ khao khát tìm một cách thế sống tâm linh – tôn giáo bên ngoài cơ cấu tôn giáo truyền thống[27].

Như chúng tôi đã đề cập ở trên, tương quan giữa Nhà nước với tôn giáo ở Hoa Kỳ ôn hòa hơn tại Pháp, vì vậy người Mỹ cũng gắn bó với tôn giáo nhiều hơn. Vào tháng giêng năm 2009, Viện Gallup đã hỏi 355.334 người trên 18 tuổi câu hỏi sau đây: “Tôn giáo có phải là yếu tố quan trọng trong cuộc sống thường nhật của bạn hay không?” Kết quả là 65% số người được hỏi đã trả lời là có. Tỷ lệ trả lời “có” cao nhất là bang Mississippi (85%), trong khi đó tỷ lệ thấp nhất ở bang Vermont (42%).

Cũng như tại Âu châu, ở Mỹ trong mấy thập niên vừa qua con số các tín đồ thuộc các Giáo hội truyền thống đã giảm sút, nhưng lại phát triển hiện tượng “unchurch”. Từ này có nhiều nghĩa và nghĩa đơn giản thường dùng là bị trục xuất ra khỏi một giáo hội, hay rút phép thông công. Nghĩa thứ nhì ám chỉ khuynh hướng mới ở Hoa Kỳ: những người đề cao nhu cầu tâm linh và tích cực tìm kiếm nó, nhưng thấy mình không phù hợp với một tôn giáo nào nữa. Họ tự xem mình là con người tâm linh, nhưng ở bên ngoài các giáo hội cơ chế và các tổ chức tôn giáo. Xem ra họ không thỏa mãn với những gì Giáo hội truyền thống cung cấp và muốn đi tìm những cảm nghiệm tâm linh mới hay đào sâu những cảm nghiệm tâm linh truyền thống bằng những con đường khác.

Theo phóng viên Eric Gorski[28], con số người Mỹ có tín ngưỡng nhưng không vào tôn giáo nào đã tăng gấp đôi trong thập niên qua, và lên tới con số 29 triệu người. Trên thực tế, con số này còn có thể cao hơn thế nữa, bởi vì trong những cuộc thăm dò ý kiến nhiều người vẫn tiếp tục đánh dấu vào một ô tôn giáo nào đó, trong bản thăm dò, chỉ để cho tiện thôi, hoặc có thể đó là tôn giáo của tuổi thơ. Ngày nay họ ra khỏi khung cảnh tôn giáo đó và đang tiếp tục tìm kiếm Thượng đế ở những nơi khác hay ở bất cứ nơi nào.

Robert Fuller[29] cũng cho biết khoảng 20% tự nhận là những con người tâm linh, nhưng không hề bước chân đến các Thánh đường Kitô giáo hay các Hội đường Do thái giáo. Đa số họ sống đời tâm linh theo cách thế của mình, bên ngoài những con đường cố cựu của các tôn giáo truyền thống tại Hoa Kỳ. Vấn đề không phải chỉ đặt ra cho Giáo hội Công giáo, mà cho tất cả các tôn giáo và Giáo hội cơ cấu. Chắc hẳn mọi người còn nhớ câu nói thời danh của Krishnamurti: “Ngày nay, người ta chỉ tìm thấy Phật giáo ở những nơi vắng bóng Phật giáo”. Câu nói trên có thể áp dụng cho Kitô giáo và cho nhiều tôn giáo khác. Phải chăng một số người hôm nay đã hoan hỉ tìm thấy đạo ngay tại những nơi vắng bóng đạo?

4- Thay lời kết

Sau khi từ nhiệm chức vụ Thủ tướng Anh, ông Tony Blair đã chấp nhận lời mời của Đại học Yale, Hoa Kỳ, để phụ trách giảng khóa “Niềm tin tôn giáo và toàn cầu hóa”. Ông cũng thành lập “Tony Blair Faith Foundation”để trình bày về vai trò của tôn giáo trong thời đại toàn cầu hóa. Ông cho biết: “Tony Blair Faith Foundation nhằm cổ võ sự tôn trọng và hiểu biết về các tôn giáo lớn – Kitô giáo, Hồi giáo, Ấn giáo, Phật giáo, Do Thái giáo – và chứng minh rằng đối với thế giới tân tiến niềm tin tôn giáo trở thành một sức mạnh thúc đẩy tiến tới điều thiện hảo”[30].

Mở đầu bài diễn văn cựu Thủ tướng Tony Blair tuyên bố: “Tôi không phải là một lãnh đạo tôn giáo, nhưng tôi rất quan tâm đến tầm quan trọng của niềm tin đối với thế giới hiện đại của chúng ta và việc cần thiết các tín đồ phải liên đới với nhau”.

Theo ông, ở thời toàn cầu hóa này, “niềm tin tôn giáo – cực kỳ quan trọng trong văn hóa và căn tính của rất nhiều người – có thể đóng vai trò tích cực hoặc tiêu cực. Về mặt tích cực, niềm tin tôn giáo sẽ thúc đẩy cùng nhau chung sống trong hòa bình giữa những người có đức tin trong sự tôn trọng, hiểu biết và khoan dung, giữ được căn tính riêng biệt của mình nhưng lại sống hạnh phúc với những người không cùng căn tính. Hoặc ngược lại, niềm tin tôn giáo sẽ phá bỏ sự chung sống với nhau đó bằng cách phân định con người qua khác biệt – những người có cùng niềm tin đối nghịch với những người khác niềm tin”[31].

Đối diện với khủng hoảng kinh tế toàn cầu, mà nguồn gốc sâu xa nằm ở khủng hoảng đạo đức trong thị trường tài chánh, Đức Biển Đức XVI cho rằng rằng hơn bao giờ hết nhân loại cần đề cao giá trị tâm linh và đạo đức trong mọi lãnh vực của cuộc sống: “Nguy hiểm của thời đại chúng ta nằm ở việc đồng lệ thuộc giữa người với người và giữa các quốc gia không tương ứng với sự tương tác giữa đạo đức lương tâm với kiến thức, mà kết quả đáng lẽ ra phải là một sự phát triển đích thực nhân bản. Chỉ có tình yêu được ánh sáng lý trí và đức tin chiếu sáng mới có thể đạt tới những mục tiêu mang giá trị nhân bản và nhân bản hóa. Việc chia sẻ của cải và tài nguyên, từ đó đưa đến phát triển đích thực, không thể chỉ được đảm bảo do tiến bộ kỹ thuật và do những tương quan thuần túy thỏa hiệp, nhưng còn phải do sức mạnh của tình yêu chiến thắng điều ác bằng điều thiện và biết mở rộng cánh cửa cho tương quan hỗ tương của lương tâm và tự do” [32].

Nhờ chính sách đổi mới, đất nước chúng ta đã đạt được một số thành quả tích cực về mặt kinh tế. Đáng lẽ ra tăng trưởng kinh tế phải được thể hiện qua việc cải thiện mức sống, nâng cao phẩm chất cuộc sống và hạnh phúc của con người. Nhưng xem ra tăng trưởng kinh tế của chúng ta chưa đồng hành với phát triển xã hội và con người. Nhiều người băn khoăn đặt câu hỏi: Phải chăng chúng ta đang trải qua giai đoạn khủng hoảng trầm trọng về giá trị? Tại sao: đạo lý cương thường đảo điên, giáo dục xuống cấp, gia đình rệu rã, sống vội, chụp giựt, quay cuồng buông thả? Tại sao hiện tượng tham nhũng, gian dối, lừa đảo, bạo động, nạo phá thai, HIV/AIDS tăng cao? Tại sao trái ngọt và quả đắng do tăng trưởng kinh tế đem lại không được chia đồng đều cho các thành phần khác nhau trong xã hội, trái lại hố phân cách giàu nghèo ngày càng sâu thẳm hơn?

Cũng như các nước khác trên thế giới, để ra khỏi cuộc khủng hoảng này và để có một mô hình phát triển quân bình trong giai đoạn toàn cầu hóa, Việt Nam không thể không cần đến những giá trị tâm linh và đạo đức. Bộ Chính trị cũng đã công nhận: “Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài. Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”. Vì vậy, cần cấp bách vận dụng văn hóa truyền thống và các giá trị tâm linh, đạo đức vào công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam ở giai đoạn toàn cầu hóa này.



[1] “Le XXIe siècle sera religieux ou ne sera rien”.

[2] Xem Fr. Lenoir, “Malraux et Le religieux”, trong Le Monde des religions, n. 13, sept.-oct. 2005, tr.5; Claude Tannery, L’Héritage spirituel de Malraux, Aréa, Paris, 2005.

[3] Marx-Engels tuyển tập, tập 1, tr. 1.

[4] Ibidem, tr. 2.

[5] Trích dẫn từ “Vài lời nói đầu” của NXB Khoa học Xã hội, trong cuốn “Tây dương gia tô bí lục” của Phạm Ngộ Hiên, Nguyễn Hòa Đường…, Hà Nội, 1981, tr. 5.

[6] Sabino Acquaviva, Enzo Pace, La Sociologie des Religions, (Traduction de Patrick Michel), Ed. Du Cerf, Paris, 1994, tr. 152 (có bản dịch tiếng Việt của Lê Diên, NXB KHXH,1998).

[7] Xem Jean-François Lyotard, La Condition Postmoderne, Paris, 1979; Anthony Giddens, The consequens of Modernity, Cambridge, 1990; Ihab Hassan, From Postmodernism to Modernity: the Local/Global context, 2000.

[8] Edgar Mrin, “Souffrance de l’âme et de l’esprit”, in Le Monde des Religions, n. 13, Sept-Oct. 2005, p.82.

[9] Xem Bruno Chenu & Marcel Neusch, Thiên Chúa ở thế kỷ XXI, NXB Tôn giáo, 2006; Liliane Voyé, “Religion et politique en Europe”, Sociologie et sociétés, vol. 38, no 1, 2006, tr. 139-163 ; K. Dobbelaere, « Secularization: a Multi-dimensional Concept », Current Sociology, vol. 29, no 2, 1981 ; Secularization: An Analysis at Three Levels, Bruxelles, P.I.E.-Peter Lang, 2002.

[10] Nhà tình báo đặt niềm tin vào Chúa, Le Figaro (Pháp), 1.11.2000.

[11] Cuộc phỏng vấn đặc biệt Nhân vật của năm 2007: Putin, ngày 12/12/2007.

[12] O. Riis, “Religion et identité nationale au Danemark”, in G. Davie et D. Hervieu-Léger (dir.), Indentitérelieuses en Europe, Paris, La Découverte, tr. 113-130.

[13] N. Kokosalakis, “Orthodoxie grecque, modernité et politique”, in G. Davie et D. Hervieu-Léger (dir.), Indentitérelieuses en Europe, op. cit., tr. 132-137.

[14] D. Voas et S. Bruce, « The 2001 Census and Christian Identification in Britain », Journal of Religion, vol. 19, no 1, 2004, tr. 23-28.

[15] F. Dubet, “Laicité dans les mutations de l’école”, in M. Wieviorka (dir.), Une société fragmentée? Le multicultuturalisme en débat, Paris, La Découverte, 1996, tr. 85.

[16] Nicolas Sarkozy, Discours au Palais du Latran, Roma ngày 20-12-2007.

[17] Xem D. Hervieu-Léger, La religion pour mémoire, Paris, Cerf, 1993.

[18] Xem Jean-Baptiste Maillard, Dieu est retour. La nouvelle évang élisation de la France, Editions de l’œOeuvre, Paris, 2009 và www.dieuestderetour.com

[19] La Croix, 20-9-2006: Nicolas Sarkozy interroge la loi de 1905,

[20] Nicolas Sarkozy, Thư gửi các nhà giáo nhân ngày khai trường năm 2007, ngày 4-9-2007, dẫn theo Thông tin Giáo dục quốc tế, số 6 năm 2007, tr.5.

[21] Nicolas Sarkozy, Discours au Palais du Latran, Roma ngày 20-12-2007 ; xem thêm Discours de Nicolas Sarkozy devant le Conseil Consultatif Riyad, Arabie Saoudite, 14-1-2008.

[22] Francis S. Collins, Ngôn ngữ của Chúa, NXB Lan Động, 2007, tr. 11-13.

[23] Xem B.R. Barber, Djihad versus McWorld, Desclée de Brouwer, Paris,1997.

[24] Xem Dinesh D’Souza, What’s So Great about Christianity, 2007; Bruno Chenu & Marcel Neusch, Thiên Chúa ở thế kỷ XXI, NXB Tôn giáo, 2006

[25] Le Monde des Religions, n. 13, Sept-Oct. 2005.

[26] J-Fr. Barbier-Bouvet, Sondage: Les Francais et “Le retour du religieux”, op. cit., 38-41 ; La Croix, Quel avenir pour le Christianisme ?, Paris, 2007 ; Hồng y Jean-Louis Tauran, « Quel avenir pour le christianisme en Occident ? » , Tham luận đọc tại Hội thảo do báo La Croix tổ chức, Roma, ngày 24-1-2008.

[27] Xc. Jean-Paul Williame, Europe et religions. Les enjeux du XXIe siècle, Paris, Fayard, 2004.

[28]Eric Gorski, “Traditional Religions Don’t Fit All”, báo Denver Post, ngày 13-9-2004.

[29] Robert Fuller, Spiritual But Not Religious: Understanding Unchurched America, Bradley University, 2001.

[30] Intervista a Tony Blair, “La religione ha un ruolo centrale e unico nella società e per il suo sviluppo”, L’Osservatore Romano 14-15 settembre 2009.

[31] Tony Blair, “Faith and Globalisation”, The Cardinal’s Lectures 2008, Westminster Cathedral, London, 3rd April 2008.

[32] Biển Đức XVI, Caritas in veritate, số 9.

 

 

 

Chuyên mục: Features, Suy tư - Chia sẻ, Văn hóa & Niềm tin, Đức tin & Đời sống