7:45 chiều - Thứ Hai 22 Tháng Mười Hai 2014

Mùa Chay: Nguồn gốc và ý nghĩa

NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA
Jean Luc Muller
Église en fêtes, Téqui, 1990

Là thời gian hướng về ngày lễ Phục Sinh bắt đầu với thứ Tư Lễ Tro, một thời gian thiêng liêng phong phú cho các cộng đoàn Kitô giáo, Mùa Chay với hình thức như hiện nay là kết quả của quá trình tiến triển lâu dài về lịch sử cũng như phụng vụ, xét về độ dài thời gian cũng như sự nghiêm ngặt của các quy định.

Nguồn gốc

Nói thật ra, Mùa Chay là một thiết chế của Giáo Hội không bắt nguồn từ thời Giáo Hội sơ khai. Đối với các Kitô hữu thời các tông đồ, mỗi ngày Chúa Nhật là một cử hành biến cố phục sinh, và mãi cho đến thế kỷ thứ II mới thấy xuất hiện một ngày lễ đặc biệt dành để tưởng niệm cái chết và phục sinh của Đức Kitô để rồi sau đó biến thành Tam Nhật phục sinh (Triduum pascal): thứ Năm Tuần Thánh, thứ Sáu Tuần Thánh và Vọng Phục Sinh.

Biến cố này được chuẩn bị bằng một hay nhiều ngày ăn chay tuỳ theo miền, thường là từ chiều thứ Năm Tuần Thánh cho đến sáng ngày lễ Phục Sinh, hoặc ít ra là trong vòng 40 giờ từ lúc Chúa chịu chết cho đến thời điểm phục sinh. Đến giữa thế kỷ thứ III, ở Alexandrie việc giữ chay kéo dài suốt Tuần Thánh, và đến cuối thế kỷ III thì tại Ai Cập cũng đã xuất hiện việc giữ chay kéo dài đến 40 ngày mà mục đích trước hết dường như là sống lại thời gian chay tịnh của Chúa Giêsu trong hoang mạc cũng như chuẩn bị cho lễ Phục Sinh.

40 ngày

Chẳng bao lâu sau, Mùa Chay 40 ngày của người Ai Cập đã định hình như là thời gian chuẩn bị cho cái chết và phục sinh của Đức Kitô và lan rộng ra khắp Giáo Hội. Vào tiền bán thế kỷ thứ IV, ở Roma đã hình thành một thời gian chay tịnh trong 3 tuần trước khi cử hành biến cố phục sinh và vào khoảng giữa những năm 354 đến 384 họ cũng đã thêm vào 3 tuần nữa. Như vậy chính xác có 40 ngày (quadragesima) giữa Chúa Nhật mở đầu Mùa Chay cho đến khi bắt đầu Tam Nhật Thánh (Triduum).

Nhưng vì không ăn chay vào các ngày Chúa Nhật nên thực tế chỉ có 34 ngày ăn chay trong thời gian này. Cộng thêm ngày thứ Năm và thứ Sáu Tuần Thánh thì cũng chỉ có 36 ngày. Và cũng vì muốn chuẩn bị cho biến cố phục sinh bằng cách rập khuôn chính xác 40 ngày chay tịnh của Chúa Giêsu trong hoang mạc nên vào thế kỷ thứ VII người ta thêm vào 4 ngày còn thiếu, và từ khi ấy người ta bắt đầu Mùa Chay với thứ Tư trước Chúa Nhật thứ nhất Mùa Chay mà sau này trở thành thứ Tư Lễ Tro. Vào ngày này, các tín hữu ở Roma tụ họp nhau tại nhà thờ Thánh Anastasie dưới chân đồi Palatin là nơi Đức Giáo Hoàng công bố mở đầu Mùa Chay; rồi mọi người đi thành đoàn rước đến nhà thờ Thánh Sabine trên đồi Aventin để cử hành thánh lễ.

Thứ Tư Lễ Tro

Việc xức tro có nguồn gốc từ thực hành thống hối công khai, một nghi thức bắt buộc dành cho các tín hữu phạm lỗi nặng hoặc làm gương xấu trước khi họ được chính thức tái hoà nhập cộng đoàn vào ngày thứ Năm Tuần Thánh, họ được xá tội và được phép rước lễ trở lại vì trước đó họ bị cấm.

Một trong những thực hành thống hối công khai này là xức tro trên đầu. Cử chỉ này thịnh hành ở Roma từ thế kỷ thứ IV và dần dần lan ra các xứ Kitô giáo, rồi nhiều tín hữu tự nguyện xức tro trên đầu để biểu lộ ý muốn thống hối. Chính các Đức Giáo Hoàng cũng đã chấp nhận nghi thức này và vào thế kỷ XI thì các ngài đã kết hợp việc thống hối này với việc bắt đầu Mùa Chay, do đó mà có tên gọi thứ Tư Lễ Tro và thực hành xức tro.

Là bụi đất, hình ảnh của tội lỗi và sự mong manh của con người, là những gì còn lại của thân xác sau khi ngọn lửa sự sống vụt tắt đi (St 3, 19; 18, 27), tro rắc trên đầu mà ngày nay người ta xức trên trán biểu lộ sự thống hối và tang chế (Is 58, 5; 61, 3; Gr 6, 26). Chính vì thống hối dưới bụi tro và áo mặc áo vải thô mà dân thành Ninivê nhận được sự tha thứ của Thiên Chúa (Gn 3)

Linh đạo Mùa Chay

Là thời gian hoán cải dành cho hối nhân, trong những thế kỷ đầu tiên, Mùa Chay cũng là thời gian chuẩn bị cho các dự tòng chịu phép rửa để được gia nhập cộng đoàn Kitô giáo vào đêm Phục Sinh, sau khi giữ chay và tiết chế trong suốt thời gian này cũng như miệt mài cầu nguyện.

Như thế, khi khuyên nhủ các tội nhân công khai hối cải, Giáo Hội cũng khích lệ toàn thể cộng đoàn thống hối, và khi nhắn gởi với các dự tòng, Giáo Hội cũng chuẩn bị cho mọi tín hữu sống lại ân sủng phép rửa của chính mình    

Khi chuẩn bị cho mọi người gặp gỡ Thiên Chúa, đối với các tín hữu, Mùa Chay đã trở thành một hành trình tiến về Thiên Chúa, một con đường vòng băng qua hoang mạc, một cuộc chiến đấu với những cám dỗ trong đời sống. Giáo Hội đề nghị chúng ta sống trọn vẹn cuộc sống Kitô hữu của chúng ta một cách nồng nhiệt hơn trong suốt mấy tuần hướng về ngày lễ Phục Sinh.

Như đoàn dân của Môisen lang thang nhiều năm dài trước khi vào Đất Hứa, chúng ta cũng khám phá ra rằng hành trình tiến về Thiên Chúa, con đường tiến về Nước Trời của chúng ta không phải là không gặp khó khăn, chướng ngại, thụt lùi, đôi khi có phản kháng nữa; thế nhưng Thiên Chúa vẫn luôn hiện diện để mang lại cho ta hy vọng và niềm tin. Khi kết hiệp với Chúa Giêsu Kitô vẫn luôn trung thành với Chúa Cha trong thử thách cuối cùng, chúng ta sống kinh nghiệm cuộc vượt qua tiến về Chúa Cha qua sự sống và cái chết, chúng ta dần tiến về mầu nhiệm của Đức Kitô để hiệp thông vào đấy một cách sâu xa hết sức có thể.

Làm thế nào để diễn dịch cách cụ thể cuộc hành huơng tiến về với Thiên Chúa mà mỗi Kitô hữu được mời gọi trong suốt thời gian Mùa Chay này? Đã có câu trả lời được lập đi lập lại qua các bản văn phụng vụ ngày Chúa Nhật (và những ngày khác) trong thời gian chuẩn bị cho biến cố phục sinh: các bài đọc Tin Mừng cũng như Kinh Tiền Tụng đã dành ưu tiên cho bộ ba này: cầu nguyện, ăn chay và chia sẻ.

Cầu nguyện

Là khoảng không ngút mắt nơi không có sự sống, hoang mạc mà dân của Giao Ước cũ và chính Đức Kitô đã đi qua đưa chúng ta đến yếu tính của đời sống, dẫn chúng ta gặp gỡ với Hữu Thể độc nhất, cội nguồn cho hiện hữu của chúng ta: Thiên Chúa. Là nơi chốn gợi lên sự vô cùng của Thiên Chúa, chính trong hoang mạc mà Charles de Foucauld đã tận hiến hoàn toàn cho Ngài qua lời cầu nguyện. Như thế, hoang mạc và Mùa Chay là nơi chốn và thời gian để gặp gỡ Chúa trong lời cầu nguyện.

Qua lời cầu nguyện, đời sống chúng ta hướng về Thiên Chúa, chúng ta để cho Chúa Thánh Thần uốn nắn mình theo hình ảnh Đấng Tạo Hoá để trở nên sẵn sàng cho Đức Kitô và cho anh em. Cầu nguyện là “lương thực hằng ngày” nuôi sống chúng ta bằng tình yêu của Thiên Chúa, không có nó tâm hồn chúng ta có nguy cơ xa rời ý muốn của Chúa Cha.

Theo gương các dự tòng vào những thế kỷ đầu tiên đã toàn tâm toàn ý cầu nguyện cách quảng đại và thực tâm, theo gương Đức Kitô lui vào trong cô tịch của hoang mạc Giuđa, chúng ta hãy biến Mùa Chay thành một thời gian gặp gỡ Chúa, chiêm niệm và tạ ơn, ngợi ca Danh Thánh Chúa và biến đổi tâm hồn.

Ăn chay

Là nơi gặp gỡ Thiên Chúa, đối với dân Israel cũng như đối với Đức Kitô, hoang mạc đồng thời cũng là thời gian thử thách, là trận chiến chống lại thế lực sự dữ để không nhường bước trước thú vui, điều choáng ngợp và quyền lực, ba thần tượng mà con người thường hy sinh tất cả để đạt cho được. Những cám dỗ này không ngừng quấy nhiễu chúng ta và là nguồn gốc nhiều sự dữ, ngay từ khi xuất hiện Mùa Chay, việc từ bỏ những cơn cám dỗ này được diễn dịch bằng việc ăn chay, một thực hành rất đòi hỏi nhưng lại đạt được nhiều kết quả thiêng liêng. Khi giảm thiểu những nhu cầu sống để chỉ giữ lại những gì thiết yếu, việc ăn chay giúp chúng ta trở nên những người nghèo khó trong tâm hồn (xem Các Mối Phúc), nghĩa là thành những con người cần đến Thiên Chúa, nhường cho Ngài một chỗ trong đời sống mình, người nghèo trong Tin Mừng là những người đặt hết niềm hy vọng vào Chúa, háo hức gặp gỡ với Đức Kitô. Như vậy sự khổ hạnh và từ bỏ mọi sự rất cần thiết để Thánh Thần Thiên Chúa xâm chiếm lấy con người mình. 

Nếu chay tịnh trước hết có nghĩa là từ bỏ của ăn thì trong ý nghĩa tận căn hơn nữa ăn chay cũng có nghĩa là từ bỏ tính ích kỷ, tính cứng đầu và lòng tham lam của chúng ta: “Đây là những điều bạn phải thực hành khi muốn ăn chay. Trước hết, hãy xa lánh mọi lời nói và ước muốn xấu xa, thanh tẩy tâm hồn khỏi mọi thứ hư không đời này. Nếu giữ được điều đó, việc ăn chay của bạn sẽ nên hoàn hảo. Sau khi hoàn tất những gì tôi đã viết trên đây, vào ngày ăn chay, bạn không ăn gì ngoại trừ bánh mì và nước lã và rồi hãy tính toán giá lương thực mà bạn thường ăn trong ngày ấy, bạn dành tiền ấy để cho quả phụ, cô nhi hoặc người nghèo … Nếu bạn ăn chay theo như những điều tôi khuyên nhủ trên đây, hy sinh của bạn sẽ được Thiên Chúa chấp nhận” (Le Pasteur d’Hermas).

Chia sẻ

Ngay từ thế kỷ thứ II, việc ăn chay đã có khuynh hướng chia sẻ như là một phương tiện giúp đỡ những ai đang túng thiếu để chúng ta có thể tiến đến gần Thiên Chúa hơn. Thánh Cyprianô thành Carthage vào thế kỷ thứ III cũng đã để lại những dòng chữ rất thuyết phục về chủ đề này: “Những người giàu có và dư dật … bạn sẽ trở nên vàng ròng khi tinh luyện mình qua các công việc vì đức công bình và làm bố thí … Hãy xem trong Tin Mừng, một bà goá nghèo đã đi vào trong lời dạy của Thiên Chúa khi bà bố thí giữa lúc thất vọng và túng bấn. Bà ném vào trong thùng tiền hai đồng xu cuối cùng. Chúa đã lưu ý và nhấn mạnh về tấm lòng quảng đại của bà và nói: “Bà goá này đã dâng cho Thiên Chúa nhiều hơn mọi người khác” … Đức Giêsu Kitô muốn chúng ta hiểu rằng của bố thí của chúng ta sẽ đến với chính Thiên Chúa và rằng những ai bố thí thì đẹp lòng Chúa”.

Chia sẻ cũng là tình yêu tha nhân, nhìn nhận người khác như đồng loại của mình, nhận ra Đức Kitô trong những người anh em hèn mọn nhất. Đây là biểu hiện tình yêu Thiên Chúa của chúng ta và không thể được diễn dịch đơn thuần chỉ bằng một phong trào cứu trợ hay phong trào đoàn kết nào đó. Qua sự thiếu thốn và chia sẻ, chúng ta đáp ứng được giới răn kép của tình yêu: “Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi và yêu tha nhân như chính mình”.

Ghi chú:

Khi nói về việc ăn chay, mãi cho đến thế kỷ thứ IX, tất nhiên là việc giữ chay nghiêm nhặt hơn ngày nay nhưng không phải là các tín hữu cả ngày không ăn uống gì. Thật ra, người ta phân biệt:

- Ăn chay đơn giản, kiêng mọi thứ thịt, cả trứng, phômai, bơ và sữa. Việc ăn chay này kéo dài suốt Mùa Chay, trừ các ngày Chúa Nhật.

- Ăn chay nhặt một vài ngày nào đó trong thời gian này, nhất là thứ Sáu và thứ Bảy Tuần Thánh. Trong những ngày này người ta chỉ dùng một bữa ăn nhẹ duy nhất trong ngày.

Hiện nay, Giáo Hội chỉ buộc kiêng thịt vào các ngày thứ sáu của Mùa Chay, ăn chay cùng với kiêng thịt vào các ngày thứ Tư Lễ Tro và thứ Sáu Tuần Thánh. “Luật kiêng thịt buộc những người đã 14 tuổi trọn. Luật ăn chay buộc hết mọi người đã đến tuổi trưởng thành cho tới lúc bắt đầu 60 tuổi” (Giáo luật điều 1252).

Nhưng trọn Mùa Chay vẫn là thời gian thống hối, các ngày thứ Sáu khác trong năm cũng vậy. Trong những ngày này, “Các tín hữu chú trọng đặc biệt đến sự cầu nguyện, thi hành việc đạo đức và việc bác ái, từ bỏ bản thân, bằng cách chu toàn các bổn phận riêng và nhất là bằng cách giữ chay và kiêng thịt” (Giáo luật điều 1249). Việc giữ chay và kiêng thịt cũng có thể được thay thế bằng các hình thức thống hối khác do Hội Đồng Giám Mục quy định (Giáo luật điều 1253).

Phụng vụ

Sự thống hối của Mùa Chay được biểu lộ ra bên ngoài qua màu lễ phục phụng vụ (màu tím) và không đọc kinh Allêluia và kinh Vinh Danh trong thánh lễ và các giờ kinh. Ngày xưa, việc đánh đàn trong nhà thờ hoàn toàn bị bãi bỏ trong thời gian này, ngày nay người ta hết sức giảm thiểu, chỉ đệm đàn để hát.

Một nốt nhạc vui đột nhiên cắt ngang những ngày thống hối này: đó là ngày Chúa Nhật Vui (Laetare), hay Chúa Nhật thứ tư Mùa Chay với lễ phục màu hồng thay cho màu tím. Nguyên thuỷ của ngày này được tìm thấy trong nghi thức trao ban Tín biểu đức tin (kinh Tin Kính) cho các dự tòng vào ngày thứ Tư sau Chúa Nhật thứ tư Mùa Chay. Vì thế, niềm vui của Giáo Hội đã được biểu lộ trong phụng vụ ngay từ ngày Chúa Nhật vì mình sắp được thâu nhận những tín hữu mới. Lý do thật sự của ngày Chúa Nhật Vui (Laetare) – mà tên gọi xuất phát từ ca nhập lễ trong ngày này (Laetare Jerusalem – Hãy vui lên hởi Giêrusalem) – sau đó đã bị lãng quên để rồi mang lấy một ý nghĩa khác là “để an ủi cho các tín hữu khỏi bị ngã lòng nản chí vì nỗ lực kéo dài trong Mùa Chay và giúp họ tiếp tục chịu đựng những hạn chế với tâm hồn thanh thản và nhẹ nhàng” (Giáo Hoàng Innôcentê III, 1216).

Bài đọc các ngày Chúa Nhật Mùa Chay

Hướng về ngày lễ Phục Sinh, phụng vụ Lời Chúa trong 5 Chúa Nhật Mùa Chay (Chúa Nhật thứ sáu là Lễ Lá và Thương Khó) được diễn dịch bằng cách gợi lại những giai đoạn lớn trong hành trình của nhân loại tiến về ngày Phục Sinh của Đức Kitô:

- Những giao ước nguyên thuỷ (Năm A: St 2, 7-3, 7; Năm B: St 9, 8-15; Năm C: 26, 4-10)
– Abraham (Năm A: St 12, 1-4; Năm B: St 22, 1-18; Năm C: St 15, 5-18)
– Môisen (Năm A: Xh 17, 3-7; Năm B: Xh 20, 1-17; Năm C: Xh 3, 1-15)
– Đất Hứa (Năm A: 1 Sm 16, 1-3; Năm B: 2 Sb 36, 14-23; Năm C: Gs 5, 10-12)
– Các ngôn sứ (Năm A: Ed 37, 12-14; Năm B: Gr 31, 31-34; Năm C: Is 43, 16-21)

Chủ đề của các bài Tin Mừng:

- Cơn cám dỗ và sự biến hình của Đức Kitô trong hai Chúa Nhật đầu tiên theo một trong ba Tin Mừng Nhất Lãm.
– Giáo lý về bí tích rửa tội trong ba Chúa Nhật còn lại của năm A (Ga 4, 5-42; Ga 9, 1-41; Ga 11, 1-45)
– Thập giá, dấu hiệu tôn vinh của Đức Kitô, trong ba Chúa Nhật còn lại của Năm B (Ga 2, 13-25; Ga 3, 14-21; Ga 12, 20-33)
– Lòng thương xót của Chúa kêu mời hối cải trong ba Chúa Nhật còn lại của Năm C (Lc 13, 1-9; Lc 15, 1-32, Ga 8, 1-11)

Cuối cùng là các bài thánh thư được chọn lựa để làm rõ nghĩa cho bài Tin Mừng hay bài trích Cựu Ước.

Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính
Trích “Bản Thông Tin” giáo phận Qui Nhơn, số tháng 2/2011

Ý Nghĩa Mùa Chay thánh của Giáo hội Công Giáo
Prepared for Internet by Msgr Peter Nguyen Van Tai
Radio Veritas Asia, Philippines

Ý Nghĩa Mùa Chay thánh của Giáo hội Công Giáo.

Thứ Tư ngày 13 tháng 2/2002, Giáo hội Công Giáo bước vào Mùa Chay thánh. Vậy Mùa Chay là gì?

Trong tiếng Latinh,  Mùa Chay thánh được gọi là “Quadragesima” (ngày thứ 40), tức là thời kỳ gồm 40 ngày,  (thực sự là 46 ngày, nếu tính từ Thứ tư lễ Tro cho đến Chúa nhật Phục sinh), nhưng theo nghĩa hẹp, Mùa Chay tính từ Chúa nhật thứ nhất đến chiều Thứ Năm Tuần Thánh, nghĩa là cho tới lúc cử thành thánh lễ Tiệc Ly vào ban chiều “in Caena Domini”,  trong đó Chúa lập Bí tích Thánh Thể,  rửa chân cho 12 môn đệ và truyền lại Giới răn mới.

Mùa Chay kéo dài 40 ngày, trước hết để nhớ lại 40 ngày Chúa Giêsu ăn chay và cầu nguyện trên Núi. Núi này cao 500 thước, ở mạn bắc cánh đồng Gerico, cách thành phố này 4 cây số. Theo truyền thống từ lâu,  Núi nầy được coi là nơi Chúa Giêsu ăn chay và cầu nguyện trong 40 đêm ngày và sau đó bị Satan cám dỗ (Mt 4,1-11; Lc 4,1-15). Hiện nay, trên đỉnh núi có một nhà nguyện được xây cất tại chính nơi Satan cho Chúa  nhìn thấy “tất cả các nước trên thế giới và sự huy hoàng của các nước này (Mt 4,8).

Thời gian 40 ngày cũng để nhớ lại 40 đêm ngày Maisen cầu nguyện trên Núi Sinai và được Chúa trao cho 10 Giới răn. Rồi 40 ngày còn để nhớ lại cuộc hành trình 40 ngày trong sa mạc của Tiên tri Elia, lúc ông trốn khỏi cơn thịnh nộ của  Hoàng hậu Gezabele,  để tiến về Núi Oreb (cũng là núi Sinai, kế Biển Ðỏ và Kênh đào Suez), nơi đây Chúa mạc khải và trao cho ông sứ vụ mới (1 Vua 19).

Mùa Chay của Giáo hội Công giáo là thời kỳ chuẩn bị trong cầu nguyện, trong  sám hối, trong suy tư , trong  thanh vắng và bằng những hy sinh, những công việc bác ái, cách riêng đối với các anh chị em nghèo khổ, để có thể được tái sinh thiêng liêng  trong ngày Chúa Phục sinh.

Việc ăn chay và kiêng thịt ngày nay được giảm bớt rất nhiều, chỉ còn buộc có hai ngày: Thứ tư Lễ Tro, bắt đầu Mùa Chay và Thứ Sáu Tuần Thánh, ngày kính nhớ Cuộc Tử nạn của Chúa trên Thánh giá. Dù sao  cũng nên kiêng thịt các ngày thứ sáu Mùa Chay. Trong Mùa Chay thánh, các tín hữu nên nhớ lại ba mệnh lệnh: ăn chay, sám hối và cầu nguyện. Việc ăn chay đẹp lòng Chúa hệ  tại giải thoát mình khỏi tính ích kỷ và ở tại việc an ủi và giúp đỡ tha nhân, cách riêng những người sống trong cảnh cùng cực. Giáo hội giảm bớt rất nhiều việc ăn chay bên ngoài, có mục đích thúc giục con cái mình dấn thân nhiều hơn trong việc giúp đỡ các người đau khổ, cùng cực. Mùa Chay là thời giờ khám phá ra những nhu cầu của anh chị em mình và nhắc nhở hết thảy chúng ta tìm mọi cách để đến gặp gỡ các người đau khổ tinh thần và thể xác, bằng việc từ bỏ chính bản thân và những gì có thể ngăn trở việc tiến về Chúa. Việc ăn chay được thực hiện với lòng yêu mến Chúa và với tình yêu đối với tha nhân là dấu chỉ của ý chí thành thực muốn trở về với Thiên Chúa, muốn thay đổi cuộc đời. Theo ý nghĩa sâu xa này, việc ăn chay vẫn giữ toàn vẹn giá trị của nó.

Phụng vụ Mùa Chay rất giúp ích cho việc suy gẫm Lời Chúa. Mỗi ngày trong Mùa Chay đều có những bài Sách thánh riêng, giúp chúng ta thực hiện giáo huấn của Chúa: “Con người không phải chỉ sống bằng cơm bánh, mà còn bằng những lời phát xuất bởi miệng Chúa nữa”. Trong Mùa này, các tín hữu được mời gọi tham dự thánh lễ hằng ngày, nếu có thể và các vị chủ chăn được mời gọi giải thích Lời Chúa cho cộng đồng tham dự thánh lễ.

Phụng vụ Lời Chúa trong Mùa Chay còn giúp các anh chị em tân tòng chuẩn bị trực tiếp, để lãnh Bí tích Rửa tội và giúp những ai đã được rửa tội rồi, củng cố đức tin để  tiến mạnh trên con đường thánh thiện. Trong Ðêm Vọng Phục sinh, anh chị em tân tòng và các tín hữu sẽ cùng nhau, cầm nến sáng trong tay, tuyên xưng lại lời hứa Phép rửa tội. Trong lễ nghi rửa tội, các tín hữu đã thề từ bỏ ma quỉ và các việc của chúng, cam đoan tin kính Chúa Ba Ngôi và trung thành với Giáo hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Vì thế, càng gần lễ Phục sinh, các tín hữu càng được mời gọi suy ngắm cuộc Tử nạn và Phục sinh của Chúa, để cùng với cuộc Tử nạn, các tín hữu chôn vùi tội lỗi trong mồ và sau đó cùng sống lại trong vinh quang phục sinh với Chúa Kitô.

Tiếp liền sau Mùa Chay, là TAM NHẬT THÁNH,  bắt đầu từ Thánh lễ Tiệc Ly  (in Caena Domini) và  được kết thúc với giờ Kinh chiều Chúa nhật Phục sinh. Trong ba ngày Thánh này, Giáo hội suy ngắm cách riêng Cuộc Tử nạn của Chúa và chờ đợi ngày Phục sinh của Người, với những nghi thức phụng vụ rất ý nghĩa cảm động.

Trong sứ điệp Mùa Chay năm 2002, ÐTC nhắc lại cho con cái Giáo hội:  Mùa Chay là lúc trở về với nguồn gốc đức tin, bởi vì, trong khi suy ngắm về ơn thánh vô cùng lớn lao của Mầu nhiệm cứu chuộc, chúng ta không thể không ý thức được rằng: tất cả những gì đã ban cho chúng ta là do sáng kiến yêu thương của Thiên Chúa. Mùa Chay, trong khi đặt gương Chúa Kitô hy sinh trên Ðồi Calvario,  giúp chúng ta cách riêng hiểu rằng: sự sống đã được chuộc lại nơi Người. Qua trung gian Chúa Thánh Thần, Người canh tân cuộc sống chúng ta và làm cho chúng ta thông phần vào chính sự sống Thiên Chúa; sự sống này dẫn đưa chúng ta vào trong sự thân mật của Thiên Chúa Ba Ngôi và làm cho chúng ta cảm nghiệm tình yêu thương của Người đối với chúng ta. Ðây là một ơn cao cả, mọi tín hữu chỉ biết tuyên xưng ơn này và cảm tạ Chúa  với niềm hân hoan mà thôi.

Cần phải sống thế nào cho đúng ý nghĩa Mùa Chay?

Xưa nay nói nghĩ đến mùa Chay là nghĩ ngay đến việc ăn chay: kiêng thịt và ăn ít. Nếu chỉ dừng lại nơi hai việc này, thì chưa sống đúng ý nghĩa mùa chay thánh.

Bây giờ chỉ còn ăn chay kiêng thịt hai ngày trong năm thôi, theo luật Giáo hội: ngày thứ Tư lễ Tro và ngày thứ sáu Tuần Thánh.

Nhưng nếu ai có lòng tự ý hy sinh ăn chay kiêng thịt thêm nữa, là điều tốt lành đạo đức, cùng là điều đáng khuyến khích.

Trong Kinh Thánh Chúa Giêsu nhắn nhủ việc chay tịnh:

- Khi con giúp đỡ người nghèo khó, con đừng đánh trống thổi kèn việc con làm… (Mt 6,2)

- Khi con cầu nguyện, con đừng bắt chước kẻ giả hình… (Mt 6,5)

- Khi con giữ chay tịnh, đừng làm bộ mặt ủ rũ rầu rĩ như bọn gỉa hình… (Mt 6,16)

Như thế, Chúa Giêsu khuyến khích giữ chay tịnh trong trái tim hồn, chứ đừng giữ chay tịnh theo bề mặt bên ngoài.

Niềm vui với Thiên Chúa, niềm vui với tha nhân và cả với chính bản thân sức khỏe của mình không là bước cản trở sống ý nghĩa mùa chay. Trái lại, niềm vui đó giúp sống mùa chay theo đúng ý Chúa rất nhiều.

Có nhiều cách thức áp dụng sống mùa chay thánh, để ba việc căn bản: cầu nguyện, bố thí giúp người nghèo và ăn chay, được có ý nghĩa đầy đủ.

1. Ăn chay bằng đôi con mắt:

Con mắt là cửa cho những hình ảnh từ bên ngoài đi vào trong tâm trí con người. Ánh sáng đôi con mắt phản chiếu hình ảnh của mỗi con người. Nó tựa như mặt trời của con người. Con mắt không chỉ thu nhận hình ảnh từ bên ngoài vào trong thâm tâm mình. Nhưng nó còn chiếu tỏa ra bên ngoài những gì sâu kín nội tâm của con người nữa. Nó như tấm gương phản chiếu của linh hồn tâm trí và của thân xác con người. Con mắt là cửa số của linh hồn!

Nên tiết độ chừng mực bằng con mắt trong việc nhìn, trong việc quan sát, giúp ích rất nhiều cho tâm hồn được bình an. Chỉ nhìn xem những gì lành mạnh tốt đẹp, những gì mang gây đến niềm vui hạnh phúc cho mình cho người khác

2. Ăn chay bằng đôi tai

Đôi tai là cổng cho âm thanh to nhỏ từ bên ngoài đi vào trong tâm trí con người. Đôi tai là hình ảnh của sự cởi mở và sẵn sàng thâu nhận, cho lắng nghe.

Có những âm thanh làm đảo lộn tâm trí đời sống, tạo ra bất an cho con người. Vì thế tiết độ chừng mực bằng đôi tai, không phải là chối từ lắng nghe. Nhưng chỉ sẵn sàng nghe đón nhận những âm thanh tiếng nói mang lại niềm vui cho tâm hồn cùng gợi suy nghĩ sự hữu ích tốt lành thánh thiện cho đời sống.

3. Ăn chay bằng đôi tay

Đôi tay không chỉ là phần thân thể tứ chi của con người, nhưng nó là dụng cụ có nhiều công dụng cho cuộc sống con người. Đôi tay là hình ảnh sức mạnh con người, đồng thời nó cũng diễn tả ra bên ngoài sức sống suy nghĩ từ bên trong tâm trí tâm trí.

Khi tay cử động làm việc, diễn tả hay sáng tạo, là muốn gửi đi tín hiệu đã được suy nghĩ nghiên cứu của tâm trí. Cử động của đôi tay là ngôn ngữ không thành lời, những gì người đó muốn nói.

Đôi tay làm việc thiện tốt lành, làm việc xây dựng, bác ái, chúc lành, cầu nguyện. Nhưng đôi tay cũng làm gây ra những việc không lành mạnh, không xây dựng, từ chối phá đổ, chửi rủa.

Tiết độ chừng mực bằng đôi tay là không dùng nó cho những việc tiêu cực, những việc không lành mạnh, những việc mang đến hậu qủa phá đổ không xây dựng.

4. Ăn chay bằng đôi chân

Đôi chân dung để đứng, để đi. Với đôi chân đứng vững trên mặt đất nền nhà là dấu chỉ sự nối kết giữa con người và đất. Từ đất , như trong Kinh Thánh diễn ta, con người được tạo thành và sau cùng cũng trở về với đất.

Đôi chân của con người diễn tả con đường sự sống của họ, con đường hành trình một đời người.

Chừng mực tiết độ bằng đôi chân trong đời sống là không chỉ biết đi mãi, đi không còn biết mệt mọi. Nhưng còn phải biết dừng chân nghỉ ngơi, dừng chân để suy nghĩ lại bước đường đã đi qua.

Chừng mực tiết độ bằng đôi chân trong đời sống là biết đi đến với người khác, không phải chỉ đi cho riêng mình.

Chừng mực tiết độ bằng đôi chân là không phải đi đến địa điểm có lợi ích cho phần nuôi sống thân xác. Nhưng còn cần phải đi đến địa chỉ nơi cầu nguyện, nơi học hành, nơi giải trí lành mạnh để nuôi sống phần tinh thần nữa.

http://svhaigiap.com

Ý NGHĨA MÙA CHAY

Mùa chay là một thời gian hồng ân đối với Giáo Hội và đối với mỗi Ki tô hữu, một tiếng gọi thay đổi đời sống và biến đổi đời sống, Chúa nói: “Đây ta làm một thế giới mới ” (Kh 21,5).

Mùa Chay mời gọi ta lắng nghe lời của ngôn sứ Ed 36: “Ta sẽ ban cho các ngươi một trái tim mới. Ta sẽ lấy khỏi thân hình anh em trái tim đá và sẽ ban cho anh em một trái tim thịt và ta sẽ là Thiên Chúa của anh em”.

Mùa chay làm vang lên những tiếng kêu của ngôn sứ Giê-rê-mi-a và sách Khải Huyền: “Lạy Chúa xin đưa con trở về” (Gr 31,18), “Này đây Ta đứng ngoài cửa và ta gõ” (Kh 3,20).

Mỗi năm Giáo Hội tìm cách sống cho đúng là một dân sống đời hoán cải đang tiến về lễ Phục sinh hơn nữa.

1. Mùa Chay kinh nghiệm sa mạc

Đối với dân người đã giải phóng khỏi Ai Cập, Thiên Chúa muốn cho họ kinh nghiệm về sa mạc: “Người cho họ đi theo con đường vòng trong sa mạc” (Xh 13,18).

Tại sao Chúa muốn cho Ít-ra-en đi theo con đường sa mạc đó? Là để cho họ nghe được tiếng Thiên Chúa của họ, để họ hoán cải, để họ tìm lại được đức tin và tình yêu tinh trong, rời xa những an toàn giả tạo.

Trong Tin Mừng Thánh Gio-an Tẩy giả cũng đi vào sa mạc. Người rao giảng trong xa mạc, người mời dân chúng vào sa mạc.

Chính Đức Kitô muốn sống và đảm nhận kinh nghiệm của dân Người và của Gio-an Tây Giả. Đối với Người, sa mạc là thời gian chịu thử thách: “Người bị cám dỗ; nhưng cũng là thời gian sống gần Chúa: “các Thiên Thần đến hầu hạ Người” (Mc 1,13).

Vậy, trong Kinh Thánh, sa mạc là thời gian cắt đứt và gặp gỡ, lột bỏ và hoán cải, tiếp đón và được mạc khải, đối thoại với một vị Thiên chúa rất gần, chuẩn bị cho tương lai.

Làm sao người Kitô hữu có thể đi vào sa mạc hôm nay?

Không phải là đi vào trong một sa mạc địa lý, nhưng là ở trong tình trạng lắng nghe Thần Khí Thiên Chúa.

Mỗi người chúng ta hãy cố gắng thỉnh thoảng thinh lặng bên trong, nghiệm xét cuộc đời mình và tìm lại điều chính yếu, khiêm nhường đón nhận sự thật làm cho mình nên tự do, nhìn người lân cận với một trái tim mới, ngó miền dất hy vọng mà Chúa ban cho, đổi mới canh tân đời sóng nhờ Tin Mừng ta đón nhận, sống trong ánh sáng của Thiên Chúa, trong tình trạng sẵn sàng: “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?”

2. Mùa Chay, thời gian hoán cải

Mùa Chay nhắc lại lời Thánh Gio-an Tẩy Giả kêu gọi: “Hãy hoán cải”. Mùa Chay bắt đầu bằng nghi lễ tro. Nghi lễ này giúp ta ý thức, ở trong Giáo Hội và liên đới, về sự sói mòn và già nua do tội lỗi gây ra. Ngày lễ này khiến ta nghĩ đến con người bệnh tật và tội lỗi, ngồi bên cạn bờ hồ, chờ được nhận vào vòi nước sôi sục của ơn tha thứ. Nghi lễ này là một lời kêu gọi hãy sinh lại làm một con người mới được dựng nên bằng sự công chính và thánh thiện.

Những nẻo đường hoán cải thì nhiều:

Có việc hoán cải trái tim, nghĩa là nhìn nhận tội lỗi của mình và ra sức tập nhìn nhận con người như Thiên Chúa nhìn: “Sao ngươi thấy cái rác trong con mắt của anh em, mà cái xà trong mắt của mình lại không thấy?” (Lc6,41).

Đối thoại, khi chúng ta có những tranh chấp. Đức Giêsu khuyên nên tìm gặp gỡ, hãy có sáng kiến ấy, hãy mau giàn hoà (Mt 18,15). Điều này đúng với các đôi vợ chồng, những người trong một gia đình, đối nhóm, đối với những người hàng xóm láng giềng, đối với các Kitô hữu cùng một Giáo Hội khi không biết nhau hoặc chia rẽ nhau.

Giao hoà với chính mình: chấp nhận những giới hạn của mình, những khó khăn của mình, tin tưởng vào Thiên Chua đang làm việc trong trái tim ta.

Yêu thương kẻ thù: những người muốn hại ta, những người đang hại ta. Chúa Kitô đã nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ”, và Thánh Tê-pha-nô thêm vào: “Lạy Chúa, xin đừng chấp tội họ” (Cv 7,60).

Tha thứ cho anh em: Chúa Giêsu bảo là phải bảy mươi lần bảy. Mac-cô thường tạo được những cuộc hoà giải không tiên liệu trước được.

Mùa phụng vụ này nhắc ta nhớ rằng Đức Kitô là Đấng hoà giải vĩ đại. Người đã tạo hoà bình bằng đổ máu ra trên thập giá. Nơi Người, cuộc giao hoà Thiên Chúa và người tội lỗi thành toàn.

Và chính trong Bí Tích Hoà giải mà việc giao hoà này được thực hiện cách đặc biệt. Mùa Chay nhắc mỗi Kitoo hữu hãy sống hoán cải, cử hành bí tích thống hối, tham dự những cuộc cử hành thống hối để lương tâm được soi sáng và nhất là đánh giá đúng việc xưng tội riêng: đây là cuộc gặp gỡ với Đức Kitô và Giáo hội qua con người của vị linh mục.

3. Thời gian ăn chay

Việc ăn chay diễn tả sự khiêm nhường trước nhan Thiên Chúa và được kinh nghiệm tháp tùng và mang lại cho ta điều chính yếu. Nó là nguồn ánh sáng, giải toả, bác ái, sức mạnh, công lý: “Việc ăn chay ta chuộng: bẻ gảy xích xiềng bất công, phóng thích những người bị áp chế, chia sẽ cơm bánh với người đói, cho người vô gia cư tá túc, cho người trần truồng áo mặc” (Is 58,6). Đức Kitô đã thực hành việc ăn chay cách đơn giản và khiêm nhường nhưng không gán cho việc này ý nghĩa tang chế (Mt 9,15).

Trong Mùa chay, Giáo Hội dạy ta ít nhất ăn chay vào thứ tư lễ tro và thứ sáu tuần thánh, nhiều người cũng ăn chay bằng cách kiêng thuốc lá, rượu, lời ăn tiếng nói, các chi tiêu… Có những quyết định thỉnh thoảng bỏ những bữa ăn để dùng số tiến ấy giúp những người túng thiếu. Họ chọn đói một chút để giúp những người đói thật: “Đừng bảo là một giọt nước trong đại dương. Đúng ra đó là một tia lửa đốt lên thành một đám cháy lớn”. Bởi vì thời gian hoán cải và cầu nguyện, Mùa Chay cũng trở thành một thời gian chia sẻ: Một số người chấp nhận từ bỏ một phần phú túc của mình hoặc sự dư thừa của mình để có những người khác sống một đời “con người” hơn.

“Đây là lúc Thiên Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ. Anh em đã nhận lãnh ân huệ của Thiên Chúa, thì đừng để trở nên vô hiệu” (2Cr 6, 13).

Nguồn: http://www.dongcong.net/

Chuyên mục: Features, Phụng vụ, Đức tin & Đời sống