9:05 chiều - Thứ Năm 27 Tháng Mười Một 2014

Chú giải và chia sẻ Tin mừng Chúa Nhật IV Mùa Chay – năm B

A. BẢN VĂN (Ga 3,14-21):

14 Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy,15 để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.

16 Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.17 Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.18 Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa.19 Và đây là bản án: ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa.20 Quả thật, ai làm điều ác, thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách.21 Nhưng kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ: các việc của người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa.”

B. CÁC BÀI CHÚ GIẢI

1. Chú giải của Học viện Đa Minh

3,14: Trong câu này  Đức Giêsu bộc lộ cách thức mà Con Người sẽ hoàn thành “đời mình” cho những ai sẽ tin vào Người. Đức Giêsu đã minh họa cách thức sinh ra một lần nữa bằng việc trưng dẫn một biến cố được tìm thấy trong Ds 21,5-9, như là cách thức chính Người chịu đóng đinh thập giá. Con rắn cũng là một tiêu biểu cho sự kết án của Thiên Chúa. Hạn từ “phải” ám chỉ sự cần thiết được giương cao trên thập giá. Gioan đã dùng động từ “được giương cao” (hupsôthenai) cho biến cố Thập Giá, chứ không nói về biến cố Thăng Thiên.

3,15: Cụm từ “phàm ai” (pas) cũng được nói đến trong câu kế tiếp. Đó là một từ có tính bao quát. Cụm từ “tin vào Người” (pisteuôn eis auton) là đẻ trả lời cho câu hỏi “làm sao” của Ni-cô-đê-mô. Hạn từ “Người” (auton) ám chỉ Con Người được giương cao (câu 14). Tin vào Người là phó thác hoàn toàn đời mình vào sự quan phòng của Người. “Tin” cũng hàm chứa sự vâng phục.

3,16: Động từ “đã yêu” (êgapêsen) có một vị trí trổi vượt trong câu. Đức Giêsu muốn mọi người biết rằng chính tình yêu của Thiên Chúa đã mang sự sống đời đời cho thế gian. Con Người vốn đến từ trời và ở trên trời đã mang đến cho chúng ta chân lý và sự xác quyết này (3,13; 1,18).

Động lực (tình yêu), hành động (ban tặng), và tặng phẩm (Con của Người) của Thiên Chúa là một thể thống nhất không thể tách rời. Tình yêu sẽ chẳng còn là tình yêu nếu không có sự diễn tả và tặng phẩm của nó. Tình yêu như thế là tình yêu cao vời, thánh thiện vốn diễn tả sự cao quý về bản tính và ý muốn của Thiên Chúa. Tình yêu như thế phải được diễn tả bằng ý nghĩa cụ thể. Tình yêu thì thường hằng nơi Thiên Chúa và vô thường nơi phàm nhân. Tình yêu từ trời xuống với con người và sẽ đưa con người lên trời. Bằng tình yêu Thiên Chúa được tỏ lộ nơi chính Đức Giêsu Kitô. Tất cả những ân sủng và tặng phẩm dành cho con người tuôn đổ từ tình yêu của Thiên Chúa. Tình yêu là phẩm tính cao trọng nhất. Nó là phương tiện để đạt đến cứu cánh và là cứu cánh thường hằng nơi chính nó (1 Cr 13). Điều này không phủ nhận sự thánh thiện và công bình của Thiên Chúa, vì đằng sau sự thánh thiện và công bình của Thiên Chúa là một tấm lòng yêu thương và chờ đợi. Tình yêu của Thiên Chúa đưa ra một kế hoạch tuyệt hảo nhất cho đối tượng tình yêu của Người.

Hình thức của cả hai động từ “yêu” (êgapêsen) và “ban” (edôken) được chia ở thì aorist quá khứ, để nhấn mạnh hành động như là một sự dứt khoát. Kết quả tình yêu của Thiên Chúa là “đến nỗi Thiên Chúa đã ban” (gar êgapêsen ho theos). Sự trao ban phải có tặng phẩm để tặng ban.

Hạn từ “Con Một” (ton huion ton monogenê) đã xuất hiện trong Ga 1,14.18 và cũng có trong Hr 11,17, và ám chỉ mối tương quan duy nhất, đặc biệt.

Cụm từ “vào Người” (eis auton) quả quyết mối tương quan gần gũi nhất qua giới từ “vào” (eis). Giới từ này ám chỉ “vào trong” hay “hướng ra” sự tin tưởng và phó thác. Điều này để lại nhiều khả năng cho tiến trình “hướng tới” mối tương quan toàn bộ thực tại của Đức Giêsu Kitô.

Liên từ “nhưng” (all’) nhằm tương phản giữa hai từ “diệt vong” (apolêtai) và “sự sống đời đời” (zôên anônion). Sự sống đời đời nhấn mạnh đến phẩm tính hơn là trường độ. Sự sống ấy là đời đời ví nó là sự sống của Đức Giêsu Kitô trong chúng ta, chứ không phải vì chúng ta đánh mất nó. Sự sống ấy bắt đầu từ đây và bây giờ, qua việc tin vào Chúa Giêsu Kitô. Nguồn cội của sự sống ấy ở trong sự sống của chính Thiên Chúa.

3,17: Liên từ “quả vậy” (gar) dùng để kết nối câu trước đó với câu này nhằm cho biết lý do Thiên Chúa sai Con của Người. Thiên Chúa “đã ban” bằng cách “sai đến”. Thiên Chúa “sai Con Một của Người” (apesteilen ton uion) đến không phải để Người xét xử thế gian, nhưng là để Người cứu thế gian.

3,18: Cụm từ “tin vào Con của Người”, “tin” (pisteuôn) được dùng ở lối động tính từ hiện tại và chỉ hành động liên tục. Những ai luôn tin tưởng và phó thức vào Đức Giêsu sẽ không bị trừng phạt và xét xử.

Cụm từ “không tin” (mê pepisteuken) được chia ở thì hoàn thành, có nghĩa là họ đã không và mãi mãi vẫn không tin.

3,19: Chính Chúa đã mặc khải lý do của bản án. Người không nói họ rất xấu xa, dù một số người trong họ là xấu. Ánh sáng là sự mặc khải về Thiên Chúa. Từ chối ánh sáng là từ chối chính Thiên Chúa. Việc tách mình ra khỏi Thiên Chúa chính là tách những kẻ không tin ra khỏi căn nguyên sự sống. Sự yêu chuộng bóng tối của họ khiến họ loại bỏ mặc khải (ánh sáng) của Thiên Chúa vốn được tỏ hiện nơi Người Con. Tình yêu của những kẻ yêu bóng tối là thứ tình yêu khó có thể lay chuyển. Nó là thứ tình yêu mà họ hoàn toàn bị cuốn theo.

Câu “vì những việc họ làm đều xấu xa” (ên gar autôn ponêra ta erga) biểu hiện bằng chứng về việc họ yêu chuộng bóng tối. Những việc xấu xa (ác độc, hèn hạ, bẩn thỉu, ác ý, suy đồi) là hệ quả từ bóng tối. Hành vi là dấu chứng của tính cách. Điều lớn nhất của mọi việc làm từ bóng tối là vô tín. Tội lỗi gia tăng ở trong bóng tối. Đón nhận Đức Giê-su Ki-tô là đón nhận ánh sáng; cũng thế, từ chối Đức Kitô là ở trong bóng tối.

3,20: Liên từ “quả thật” làm sáng tỏ lý do lời khẳng định của Đức Giêsu trong câu 19, như thể câu 19 đưa ra lý do về việc con người từ chối ánh sáng. Ánh sáng là mặc khải của Thiên Chúa nơi Người Con. Vì con người đã chọn lấy bóng tối, nên con người đã làm điều dữ, con người làm điều xấu xa; nghĩa là con người làm cho lối sống của mình ra xấu xa. Hạn từ “phaula” ám chỉ những hành động có những động lực thấp hèn hoặc vô nghĩa. Câu 19 nói về những việc làm xấu xa mang tính chủ động. Những việc xấu xa ấy như là một sự băng hoại đạo đức. Câu 20 đề cập nảy sinh. Người làm những điều vô giá trị này chẳng muốn các việc của mình bị quở trách khi bị vạch trần ra ánh sáng.

3,21: Người đã quyết theo Đức Kitô thì tiếp tục đến cùng ánh sáng. Người ấy sống trong sự thật. Người ấy tiếp tục đem sự thật vào cuộc sống của mình. Người ấy có thể làm điều này vì người ấy đến cùng “ánh sáng” (phôs) và muốn việc làm của mình hợp với sự thật được mặc khải nơi Đức Giêsu Kitô. Chính vì vậy, máu của Đức Giê-su không ngừng thanh tẩy người ấy (1 Ga 1,7).

Người như thế sẽ đối chiếu hành vi của  mình với điều được mặc khải trong Đức Kitô. Người ấy học hỏi Lời Chúa và cầu nguyện sao cho hợp với hình ảnh của Đức Ki-tô (Gc 1,23; 2 Cr 3,18; Rm 8,29). Người ấy đến cùng “ánh sáng” vì muốn việc của mình được tỏ lộ, vì chính trong Thiên Chúa mà các việc đó được hoàn thành hay thực hiện. Điều này không có nghĩa là những kẻ tin không bao giờ gặp phải sai lầm hay không bao giờ phạm tội. Những khi kẻ tin hành động, thì họ đến cùng “ánh sáng” để tìm kiếm sự tha thứ và hướng dẫn (1 Ga 1,7 – 2,1).

2. Chú giải của Lm PX Vũ Phan Long, ofm: một tình yêu không thể tin được

1- Ngữ cảnh và Bố cục

Sách các Dấu lạ của TM IV (2,1–12,50) nói về các dấu lạ lồng vào một cái khung thời gian nhằm giới thiệu chân tính của Đức Giêsu, là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa. Cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu với Nicôđêmô (3,1-21) nằm trong phần đầu (2,1–4,54), phần này có bố cục như sau:

A (2,1-11.12) : Khởi đầu các dấu lạ tại Cana miền Galilê: biến nước thành rượu (c. 12 là câu chuyển tiếp [nói về thời gian và không gian]sang đoạn sau).

B (2,13-22.23-25 +) : Thanh tẩy Đền Thờ Giêrusalem và đối thoại với người Do-thái về Đền Thờ mới (cc. 23-25 là những câu “làm cầu” nối 2,13-22 với 3,1-21).

C (2,23-25; 3,1-21) : Đối thoại với Nicôđêmô về việc sinh bởi trên cao và diễn từ về việc có sự sống vĩnh cửu.

C’(3,22-36; 4,1-3 +) : Đối thoại của Gioan Tẩy Giả với các môn đệ ông về chú rể đến từ trên cao và diễn từ về sự sống (Đoạn 3,22-24 là dẫn nhập chuyển tiếp. Đoạn 4,1-3 là những câu “làm cầu” nối [vì kết] 3,22-36 với [vì chuẩn bị cho] 4,4-42; đoạn này minh nhiên quy chiếu về 3,22-23 và hướng tới 4,43-45).

B’(4,1-3.4-42) : Đối thoại với người phụ nữ Samari về việc có nước hằng sống và việc phụng tự đích thật.

A’(4,43-45.46-54) : Dấu lạ thứ hai tại Cana miền Galilê: chữa con trai một quan chức nhà vua (cc. 43-45 là đoạn chuyển tiếp [nói về thời gian và không gian] từ 4,4-42 sang 4,46-54).

Chúng ta thử xác định cấu trúc của phân đoạn 3,1-21 (nhờ đó, có thể biết vị trí của cc. 14-21). Về hình thức bản văn, chúng ta ghi nhận rằng Nicôđêmô có nói ba lần ở cc. 2, 4 và 9. Đáp lại ba câu nói của ông, Đức Giêsu trả lời bằng công thức long trọng, “Thật, tôi bảo thật ông” (cc. 3, 5 và 11; đi trước c. 11 là một nhận xét đối-thủ-luận [ad hominem]). Ba câu trả lời của Đức Giêsu cứ mỗi lần mỗi dài hơn. Về phương diện tư tưởng, có những liên hệ đến Ba Ngôi: các lời Đức Giêsu nói ở cc. 3-8 liên hệ đến vai trò của Thần Khí; những lời ở cc. 11-15 liên hệ đến Con Người; những lời ở cc. 16-21 liên hệ đến Thiên Chúa Cha. Nếu tổng hợp hai phương diện hình thức và tư tưởng, chúng ta có thể xác định bố cục của 3,1-21 như sau:

* Câu 3,1: Dẫn nhập cho toàn bài (nối 2,23-25 với ch. 3).

1. Phân đoạn 1 (cc. 2-8): Sinh ra bởi trên cao nhờ bởi Thần Khí là điều cần thiết để được đi vào trong Nước Thiên Chúa; sinh ra bởi tự nhiên thì không đủ.

(a) cc. 2-3: Câu hỏi và câu trả lời đầu tiên: sự kiện sinh ra bởi trên cao.

(b) cc. 4-8: Câu hỏi và câu trả lời thứ hai: cách thức sinh ra – nhờ bởi Thần Khí.

2. Phân đoạn 2 (cc. 9-21): Tất cả những điều này chỉ có thể có được khi Con đã lên cùng Cha, và điều này chỉ được ban cho những ai tin vào Đức Giêsu.

- cc. 9-10: Câu hỏi và câu trả lời thứ ba dẫn nhập vào toàn phân đoạn.

(a) cc. 11-15: Con phải lên cùng Cha (để ban Thần Khí).

(b) cc. 16-21: Tin vào Đức Giêsu là điều cần thiết để được hưởng nhờ ân huệ này.

Theo R.E. Brown, tác giả TM IV đã để lại một vài dấu chỉ giúp khám phá ra lược đồ ngài theo để tổ chức bản văn.

Phân đoạn 1 bắt đầu với lời khẳng định của Nicôđêmô: “Chúng tôi biết Thầy là một vị tôn sư” (c. 2); câu này được đặt trong thế cân bằng với mở đầu của Phân đoạn 2 với lời Đức Giêsu, “Ông là bậc thầy (tôn sư) trong dân Israel, … chúng tôi nói những điều chúng tôi biết” (cc. 10-11).

Ngoài cách bố cục thành hai phân đoạn, dường như toàn bài được viết theo kỹ thuật đóng khung (bằng các ý tưởng cùng một trường ngữ nghĩa):

(a) Bản văn bắt đầu với việc Nicôđêmô đến với Đức Giêsu ban đêm; bản văn kết thúc với  đề tài người ta phải bỏ bóng tối để đến với ánh sáng.

(b) Nicôđêmô mở đầu cuộc đối thoại bằng cách chào Đức Giêsu là vị tôn sư từ Thiên Chúa mà đến; phần cuối của bản văn cho thấy rằng Đức Giêsu là Con Một Thiên Chúa (c. 16) mà Thiên Chúa đã sai đi vào trong thế gian (c. 17) như là ánh sáng cho thế gian (c. 19).

(c) Nếu chúng ta coi 2,23-25 như là phần mở đưa vào “xen” Nicôđêmô, chúng ta lại có một bản văn đóng khung khác: ở 2,23, chúng ta đã nghe nói đến những người “đã tin vào danh Người”, nhưng niềm tin của họ không thỏa đáng vì họ không đến để thấy Người là ai; ở 3,18, chúng ta thấy lời Đức Giêsu nhấn mạnh rằng ơn cứu độ chỉ được ban cho những ai “tin vào danh của Con Một Thiên Chúa”. 

2- Vài điểm chú giải

- Như ông Môsê đã giương cao con rắn (14): Câu này nhắc đến Ds 21,9tt.

- ai tin vào Người thì được sống muôn đời (15): Câu này tương ứng với Ds 21,8: “Ai nhìn lên con rắn đó, sẽ được sống”.   

- Thiên Chúa yêu thế gian (16): Động từ agapaô ở thì quá khứ aorist (êgapêsen) nhắm diễn tả hành vi yêu thương tuyệt đỉnh của Thiên Chúa. Có thể nói ở đây chúng ta có một ví dụ tuyệt hảo về động từ agapaô được diễn tả ra thành hành động, bởi vì c. 16 nói đến tình yêu Thiên Chúa được bày tỏ ra trong cuộc Nhập Thể và cái chết của Chúa Con.

- đã ban (16): Đông từ didomi không chỉ nhắm đến cuộc Nhập thể (Thiên Chúa gửi Con vào trần gian; c. 17), nhưng nhắm đến cả cuộc đóng đinh (trao nộp cho chết: “giương cao” trong cc. 14-15). Như thế, động từ này tương tự với paradidomi, “trao nộp”, ở Rm 8,32; Gl 2,20; và didomiGl 1,4.

- Thiên Chúa sai Con (17): Động từ apostellô này song song với “ban” (didomi) ở c. 16. Khi nói về Đấng Bảo Trợ, cũng có cặp động từ này, “sai” và “ban” ở 14,16.26. Gioan dùng hai động từ có nghĩa là “sai phái” có vẻ không phân biệt: pempô (26 lần) và apostelô (18 lần).

- Con (17): Từ “Con” ở dạng tuyệt đối (không có túc từ đi theo) trong Ga thì hầu như song song với  cụm từ “Con Người” theo truyền thống Nhất Lãm.

- không phải để lên án thế gian (17): Câu này xác định mục tiêu của sứ mạng Chúa Con đảm nhận khi được gửi vào trần gian: không phải để lên án, nhưng để cứu độ (x. Ga 4,42; 1 Ga 4,14). Thế nhưng ở 9,39, Đức Giêsu lại khẳng định: “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử”. Điều duy nhất Thiên Chúa muốn, đó là cứu độ thế gian; nhưng biến cố Con của Ngài đến cũng nhất thiết đưa loài người đến chỗ phải lấy quyết định; quyết định trọng yếu nhất của đời người, là gắn bó với Con Một Thiên Chúa (c. 18) bằng đức tin, hoặc ngược lại, từ chối tin vào Người.

- được cứu độ (17): So sánh với c. 16, ta hiểu “được cứu độ” ở đây có nghĩa là “được sống muôn đời” (x. 1 Ga 4,14; Ga 12,47).

- vì đã không tin (18): Mê pepisteuken ở thì hoàn thành (perfect) có nghĩa là “đã và vẫn không tin”, một thái độ cứng lòng tin kéo dài.

- tin vào danh (18): “Danh” chính là bản thân Đức Giêsu.

- làm điều ác (20): Kiểu dùng động từ “làm” với “điều tốt”, “sự thật”, hoặc “điều xấu” (xem cc. 20.21) là một kiểu nói Sê-mít.    

3- Ý nghĩa của bản văn

* Con phải lên cùng Cha (11-15)

Qua những lời đối thoại giữa Đức Giêsu và Nicôđêmô, ta biết rằng để được tham dự vào Nước Thiên Chúa, phải có một khởi đầu hoàn toàn mới, do Thiên Chúa ban trong bí tích Rửa Tội, nhờ quyền năng sáng tạo của Thiên Chúa. Ở trong khởi đầu mới này, chúng ta không được thụ động, trái lại phải tin vào Con Thiên Chúa (x. 1 Ga 5,1). Thế nhưng đức tin chẳng phải là chuyện của con người. Đức Giêsu cho thấy rằng đức tin phải dựa trên bằng chứng tình yêu mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta khi sai phái Con của Ngài đến. Cuộc tái sinh bởi Thiên Chúa và lòng tin vào Con Thiên Chúa đưa chúng ta đạt tới ý nghĩa và sự viên mãn của cuộc sống chúng ta, đưa đến sự sống đích thực không qua đi. Không có hai điều này, chúng ta sẽ sai lầm về ý nghĩa của chính bản thân chúng ta.

Làm thế nào để tránh khỏi cái chết thảm thương và bảo đảm cho cuộc sống chúng ta? Israel đã đứng trước những câu hỏi này khi mà trên đường băng qua sa mạc, họ bị rắn độc đe dọa (x. Ds 21,4-9). Thiên Chúa đã ra tay cứu trợ Dân Ngài. Ngài đã bảo Môsê đúc một con rắn đồng và treo vào cán cờ; ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng ấy thì được sống. Thiên Chúa vẫn trợ giúp chúng ta. Khi con người phạm tội, Thiên Chúa đã đặt định rằng Đấng Chịu Đóng Đinh là biểu tượng của ơn cứu độ, là nguồn mạch đưa tới sự sống. Đàng sau Đấng Chịu Đóng Đinh là chính Thiên Chúa. Ngài đã ban và sai Con của Ngài đến vì yêu thương toàn thể nhân loại, để họ được cứu độ. Tình yêu của Thiên Chúa có một cường độ và một chiều kích to lớn đến nỗi, nếu có thể, hẳn ta phải nói: Thiên Chúa yêu thương thế gian, yêu thương chúng ta, hơn chính Con của Ngài. Ngài không bỏ mặc thế gian, mà lại còn ban cho chúng ta món quà là Người Con vẫn sống trong một tương quan duy nhất với Ngài.

* Tin vào Đức Giêsu là điều cần thiết (16-21) 

Thiên Chúa bày tỏ một sự ân cần lạ lùng đối với loài người chúng ta, Ngài quan tâm giúp chúng ta thành công trong cuộc sống. Tuy nhiên, chúng ta vẫn ở trong tình trạng bấp bênh: Thiên Chúa không cung cấp ơn cứu độ không cần chúng ta, hoặc là ngược lại với ý muốn của chúng ta. Chúng ta phải mở ra với sự ân cần của Thiên Chúa, phải trân trọng tình yêu lạ lùng ấy, phải tin vào Con Thiên Chúa chịu đóng đinh. Chỉ khi chúng ta xác tín rằng Đấng chịu đóng đinh là Con Một, Con yêu dấu của Thiên Chúa, thì quyền năng của tình yêu này của Thiên Chúa mới có thể thực sự đến với chúng ta và chúng ta mới có thể hoàn toàn mở ra với ánh sáng và sức nóng của Người. Đời sống chúng ta tùy thuộc đức tin của chúng ta.

Điều cần thiết này có vẻ hiển nhiên. Tuy thế, có một hiện tượng lạ lùng, đó là loài người lại ưa thích bóng tối hơn ánh sáng (c. 19). Có những lý do để trốn tránh ánh sáng và tìm lá chắn là bóng tối; những lý do này nằm nơi lối sống của con người. Ai làm điều ác thì tự nhiên tránh ánh sáng; ai làm điều thiện thì mới dám ra trước ánh sáng, người ấy không có gì phải che giấu. Chúng ta không thể coi nhẹ tầm quan trọng của hành động để bày tỏ đức tin. “Điều thiện”, đó là những gì chúng ta làm theo ý Thiên Chúa (c. 21), bằng cách lắng nghe Ngài, chân thành tìm cách thi hành ý muốn của Ngài. “Điều ác” là những gì chúng ta làm không theo các tiêu chí đó, khi chúng ta không tìm Thiên Chúa, nhưng ích kỷ tìm cách thực hiện các chương trình và ý muốn của riêng mình, thậm chí ngược lại với ý Thiên Chúa. Ai chỉ tìm chính mình, thì khép lại với Thiên Chúa và gặp nguy cơ là cũng cứ khép lại không nhận được mạc khải xán lạn về tình yêu của Ngài. Không nghiêm túc quan tâm đến ý muốn của Thiên Chúa, làm sao có thể tin vào tình yêu của Ngài? Chính tình yêu ấy lại càng đưa người ấy xa rời khuynh hướng ích kỷ và làm cho người ấy càng cảm nhận rằng mình hoàn toàn lệ thuộc Thiên Chúa! Ai luôn duy trì một dây liên kết với Thiên Chúa, thì mở ra với ánh sáng của tình yêu Ngài. 

+ Kết luận

Chỉ trong mấy câu Ga 3,14-21, tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi đối với loài người được khẳng định với sự tha thiết lạ lùng và điều kiện phải theo để được hưởng nhờ tình yêu đó cũng được xác nhận hết sức rõ ràng. Đứng trước mạc khải vĩ đại và trực tiếp này về Thiên Chúa, chúng ta không còn có thể tránh né mà nói rằng Thiên Chúa chỉ là một sức mạnh mơ hồ và xa cách với chúng ta. Đức Giêsu, Đấng Chịu Đóng Đinh, cũng không phải chỉ là một tư tưởng hay một lý thuyết, một giả thuyết hoặc một chuyện hão huyền trên mây trên gió, mà là một thực tại lịch sử đích thực. Do đó, tình yêu của Thiên Chúa rất thực hữu!        

4- Gợi ý suy niệm

1. Nói đến tình yêu là nói đến sự quan tâm, sự thông dự, sự ân cần, chăm sóc, nỗ lực, vận dụng mọi sự. Tình yêu muốn điều hay điều tốt cho người mình thương. Người ấy không dửng dưng với con đường và định mệnh của người yêu, nhưng ra sức làm cho người kia được sống trong niềm vui và sự viên mãn. Đối với Thiên Chúa thì sao? Phải chăng Ngài đã tạo thành thế giới rồi bỏ mặc nó? Ngài có quan tâm đến chúng ta và đến định mệnh chúng ta không, Ngài có để ý xem chúng ta thế nào và chúng ta đi đến đâu không? Thiên Chúa đã tạo thành chúng ta, đã quan tâm đến số phận của chúng ta, đã ban Người Con Một để chúng ta được sống viên mãn ngay từ bây giờ. Chúng ta có giá đối với Thiên Chúa đến mức Ngài sẵn sàng hy sinh Con vì chúng ta (x. Rm 8,32).

2. Sau cuộc tạo dựng, sau Lề Luật, các Ngôn sứ và tất cả những hình thái ân cần săn sóc khác, Chúa Con là tiếng nói cuối cùng và ân huệ có giá trị tối cao được Thiên Chúa ban cho chúng ta. Người Con sẽ quan tâm đến chúng ta riêng tư từng người, sẽ chỉ cho từng người biết con đường đưa tới ơn cứu độ, sẽ đưa ta đến chỗ hiệp thông với Người và đi đến cuộc sống muôn đời. Đức Giêsu, Đấng Chịu Đóng Đinh, không phải là một tư tưởng hay là một lý thuyết, một giả thuyết hay một chuyện tưởng tượng, nhưng là một thực tại lịch sử đích thực. Từ đó, chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng tình yêu của Thiên Chúa cũng hết sức hiện thực.

3. Thiên Chúa, “một” (độc thần) mà cũng là “ba” (ngôi), là một mầu nhiệm rất lớn lao, mà chúng ta chẳng bao giờ ngờ tới, nếu chính Thiên Chúa không mạc khải cho chúng ta nhờ trung gian Đức Kitô. Chúng ta phải tuyên xưng các dữ kiện của mầu nhiệm này, và tiếp cận bằng những bước rất giới hạn và phiến diện, đồng thời tin tưởng tuyệt đối vào giáo huấn của Đức Giêsu Kitô.

4. Bản văn không nói trực tiếp đến Chúa Thánh Thần, nhưng chúng ta đã được mạc khải rằng Thiên Chúa và Đức Giêsu cứu độ chúng ta bằng cách ban Thánh Thần cho chúng ta (Ga 7,37-39; x. Gl 4,4-7). Dù sao mẩu đối thoại với Nicôđêmô cũng đã cho thấy những cái mốc: não trạng thiêng liêng do Thánh Thần ban cho. Thánh Thần đối nghịch lại với xác thịt (Ga 3,6), với những cái nhìn trần tục (3,12). Thiên Chúa Cha gửi Con Một của Ngài đến với chúng ta, để Người Con cứu chúng ta bằng cách thông ban Thần Khí. Và chính Thần Khí giúp ta đi lên với Chúa Cha nhờ trung gian Đức Kitô (x. Gl 4,4-7; Rm 8,15-17).   

3. Chú giải mục vụ của Alain Marchabour

NỘI DUNG MẶC KHẢI CỦA CHÚA GIÊSU (c.14-17)

Để tạo uy tín cho lời nói của mình, trước hết Chúa Giêsu đặt nó vào trong lịch sử Israel. Sự mới mẻ mà Người mang đến, cần phải là sự hoàn tất mọi điều Kinh Thánh. Con rắn được giương cao trong sa mạc, theo sách Dân số 21,4-9, đã giải thoát các người Do Thái bất trung khỏi phải chết. Từ giai thoại bí nhiệm này, chúng ta nên lưu ý những điểm có thể làm sáng tỏ điều mặc khải tiếp theo sau:

a) Con rắn được giương cao, giống như con người sẽ được treo lên thập giá. Có sự giống nhau từng chữ.

b) Sự chết đe dọa dân tộc là do sự cứng lòng tin. Dân Do Thái được cứu độ không phải bằng một nghi thức phù phép, mà bằng một nghi thức đầy ý nghĩa tượng trưng, đó là đức tin vào Thiên Chúa. Tác giả sách Khôn ngoan đã hiểu rất rõ điều đó: “Ai nhìn lên (con rắn) sẽ được thoát, không phải nhờ xem điềm lạ đó mà được khỏi, nhưng tại nhờ vào Ngài là Cứu Chúa muôn loài” (16,7). Quả thật, ơn cứu độ do Thiên Chúa mà có.

c) Hiểu rộng hơn, việc tham chiếu với đoạn nói về con rắn bằng đồng kết nối sự giáng thế của Chúa Giêsu với những biến cố Xuất hành. Chúa Giêsu là một Môsê mới, và chắc chắn đối với Thánh sử Người còn hơn thế nữa.

Con Người
sẽ phải được giương cao
để ai tin vào Người
thì được sống muôn đời
Quả thật Thiên Chúa
yêu
thế gian
đến nỗi đã ban Con Một
để ai tin vào Con của Người
thì khỏi phải chết
nhưng được sống muôn đời.

Câu này tóm gọn mặc khải: ở đây chúng ta đang đứng trước những “chuyện trên trời” được nói đến ở câu 12. Nên lưu ý đến kết cấu Do Thái song song: cách phân chia câu cú có thể giúp nhận ra những thành phần của câu tương ứng với nhau: “Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy”: hoàn cảnh và các tác nhân cụ thể gây nên cái chết của Chúa Giêsu không được phơi bày ở đây. Thánh sử chỉ giữ lại sự “nhất thiết” (phải) ăn rễ sâu trong ý định của Thiên Chúa. Việc dùng thụ động tiếp sau đó có thể là một cách hành văn để tránh phải dùng đến từ “Thiên Chúa”. Kết cấu bản văn chứng tỏ sự song song giữa Thiên Chúa yêu thương và Người được giương cao. Từ câu này chúng ta nhận ra bản tóm lược sự mặc khải, chúng ta thử dẫn ra những điểm sau đây:

a) Trong Tin Mừng Gioan, sự nâng lên tương ứng với việc treo lên thập giá (x 2,28’ 12,31-34). Tại sao việc bị treo lên thập giá, “điều ô nhục đối với người Do Thái, sự điên rồ đối với dân ngoại” (1Cl 1,23) lại là tuyệt đỉnh mặc khải nơi Gioan (x. 19,31-37)?

b) Điều đó bởi vì thập giá là nơi phơi bày tình yêu của Thiên Chúa. Từ này xuất hiện ở đây lần đầu tiên trong Tin Mừng Gioan. Đặc biệt nó sẽ được lặp lại trong phần thứ hai của Tin Mừng. “Thiên Chúa đã yêu đến nỗi đã ban Con mình”: cả hai động từ đều được dùng ở thì quá khứ vô định, một sắc thái của thì động từ không dùng trong tiếng Pháp, chỉ định một thời điểm rõ ràng và chính xác (hội nhập vào bước đường lịch sử của Chúa Giêsu và kết thúc trên thập giá). Chính nhờ ân huệ này của Thiên Chúa mà Gioan có thể nói đến tình yêu. Đó là tình yêu hiển thị (1Ga 4,10). Việc nhập thể chính là sự biểu lộ tình yêu mà đỉnh cao là thập giá.

c) Thập giá không phải là nguồn ơn cứu độ ở khía cạnh một của lễ đền tội đẫm máu. Chính bởi vì nó là cách diễn tả cao cả nhất của tình yêu Thiên Chúa, cho nên nó là nguồn sự sống cho các tín hữu. Chúng ta không nên nhìn thập giá như nơi Thiên Chúa trút cơn thịnh nộ, nơi Chúa Con bị Chúa Cha từ bỏ để cứu độ chuộc tội lỗi loài người. Nơi đây Chúa Con và Chúa Cha thông hiệp cùng một tình yêu dành cho nhân loại. Prométhée chịu hình phạt của chúa tể trên chính tảng đá mà chúa tể đã sử phạt mình vì đã mang lừa cho loài người. Và ca đoàn lý giải các nguyên do hình phạt bằng những lời lẽ này: “Đó là kẻ thù của Zeus, kẻ đã chấp nhận sự căm hờn của mọi thần linh vì đã quá yêu loài người”. Trong Tin Mừng Gioan, tình yêu loài người được Thiên Chúa Cha và Con cùng chia sẻ.

d) Cho dù ông Nicôđêmô đã biến mất cách lạ lùng, thì cũng một chủ đề đó kết nối phần thứ hai của bài trần thuật với phần bài mà ông có mặt: ông này, ngờ vực, đã không muốn tin rằng một người già có thể sinh ra lần thứ hai. Ở đây chúng ta biết rằng Con Thiên Chúa trên thập giá có năng lực làm cho những ai tin vào Người được sống muôn đời.

TIN VÀ KHÔNG TIN (cc. 18-21)

Nếu tình yêu của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu là vô điều kiện, thì nó mời gọi lời đáp trả của con người. Sự hiện diện của Chúa Giêsu đòi hỏi mỗi người bây giờ phải lựa chọn: chính bây giờ mà việc xét xử được thực hiện. Tính cách quyết liệt và lập tức của việc xét xử là hiệu quả sự hiện diện của Đấng mặc khải: Người hiện diện, con người bắt buộc phải lựa chọn và từ sự lựa chọn này phát sinh ngay từ bây giờ hoặc ơn cứu độ hoặc án phạt. Sự đối nghịch bóng tối/ánh sáng nhắc đến những đoạn văn rất quen thuộc với cộng đoàn Cumran. Thế nhưng Gioan tránh né khía cạnh định mệnh những người Etxênô: chính sự tự do của mỗi người kéo theo sự chia cách và từ đó sự xét xử. Đoạn kết phần thứ nhất của Tin Mừng (12,46-48) lặp lại những chủ đề đó cùng với một loại từ ngữ, đến nỗi có vài nhà chú giải đã nghĩ rằng Ga 3,16-19 và 12, 46-50 có thể là hai bản dịch của cùng một bài giảng của cộng đoàn Gioan. Giả thuyết này (không thể xác định được) có cái lợi là chứng tỏ thánh sử đã soạn thảo Tin Mừng như thế nào: ông có sẵn nhiều nguồn và ông đã lựa chọn. Một vài mảng văn đã có thể được thêm vào trong những lần in ấn khác nhau. Chỉ có tác giả là người hoàn tất việc soạn thảo Tin Mừng, chịu trách nhiệm toàn tập.

Cuộc đối thoại với ông Nicôđêmô và sự mặc khải tiếp theo, tạo thành một đỉnh cao về Chúa Kitô trong Tin Mừng Gioan. Cộng đoàn, đối mặt với Do Thái giáo, được mời gọi xác định căn tính của Chúa Giêsu và tách mình ra khỏi trào lưu Do Thái, cho dù nó có gần gũi với cộng đoàn (như trường hợp ông Nicôđêmô), bởi vì những người Do Thái đã không sẵn sàng tuyên xưng Chúa Giêsu là Đấng mặc khải của Thiên Chúa, là Chúa Con nhờ người Thiên Chúa nói lời cuối cùng với nhân loại.

4. Chú giải của Noel Quesson

Như ông Môsê đã gương cao con rắn trong sa mạc

Tin Mừng hôm nay bắt đầu bằng một lời mời gọi ta “nhìn ngắm”, “đưa mắt” hướng lên một hình ảnh. Thánh Gioan sử dụng một hồi tưởng Kinh thánh trong suốt “bốn mươi” năm hành trình trong sa mạc, ngời Do Thái đã bị một kẻ thù đáng sợ tấn công, đó là loài rắn lửa (Ds 21,6-9). Môsê đã phải làm “một dấu hiệu chữa trị”, một con rắn đồng cứu chữa được treo lên một cây gậy. Đó là hình ảnh có tính thần thoại mà các y sĩ ngày nay vẫn tiếp tục sử dụng như là biểu tượng. Kẻ nào quay lại nhìn thì được cứu không phải nhờ điều nó thấy nương nhờ Người, là Đấng cứu chữa mọi người” (Kn 16,7).

Qua sự giải thích trên của sách khôn ngoan, ta đã có thể ghi nhận rằng, đó không phải là một cử chỉ ma thuật, có tính tụ động. Cái “nhìn” tự nó không chữa. lành được ai, như một thứ bùa hộ mạng, một vật mang lại may mắn, một cử chỉ dị đoan. Nhưng đó là dấu chỉ “Đức tin”, nghĩa là nhờ một cử chỉ bên ngoài, nó cho ta thấy rõ rằng, con người đang “quay về” với Thiên Chúa.

Con người cũng sẽ phải được gương cao như vậy để ai tin vào Người, thì được sống muôn đời.

Vâng, thánh Gioan đang mời gọi ta nhìn lên thập giá.

Cần phải dám ngắm nhìn “Đấng chịu đóng đinh” đó, Đấng được “giương cao” trước mắt chúng ta, Gioan đã sử dụng từ được giường cao” (“upsothènai” trong tiếng Hy Lạp) để nói lên, Đức Giêsu vừa được “giương cao) trên thập giá, vừa được “đưa lên” ngự bên hữu Chúa Cha nhờ cuộc phục sinh và lên trời (Ga 3,14; 8,28; 12,32-34).

Vâng, thánh Gioan không bao giờ có thể quên được ngày đó, cũng như cảnh tượng đó, mà chúng ta như đã quá quen thuộc. Vả lại, Gioan là người duy nhất trong số mười hai Tông đồ đã hiện diện tại đó, vào chiều thứ sáu, dưới chân thập giá. Kể từ lúc đó, trong suốt hơn 70 năm, ông đã suy gẫm “hình ảnh” này, và đây là kết quả của cuộc suy tư lâu dài và sâu sắc mà ông cống hiến cho ta. Đối với Gioan, “Thập giá” và “Phục sinh” thuộc cùng một mầu nhiệm mà ông đã diễn tả bằng một từ mang hai ý nghĩa: “Đức Giêsu được đưa lên cao khỏi đất”. Bị đóng kinh: Cũng có nghĩa là được tôn dương. Đối với Gioan, Thăng thiên đã bắt đầu ngay từ ngày thứ sáu tuần thánh. Còn chúng ta, chúng ta vẫn tiếp tục mong chờ Thiên Chúa biểu lộ “vinh quang” của Người cho ta trong cử chỉ hiển thắng rạng ngời nào đó. Còn Gioan, ông đã chứng kiến cảnh tượng, thì thập giá chính là Vinh quang Thiên Chúa

Ngay khi Giu-đa vừa ra khỏi phòng tiệc ly, Đức Giêsu đã nói: “Giờ đây, Con Người được tôn vinh” (Ga 13,31). Bốn ngày trước đó, vào buổi chiều ngày dân chúng rước lá tôn vinh Người, Đức Giêsu đã nói: “‘Đã đến giờ Con Người được tôn vinh… Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác… phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12,23-32).

Vậy khi đến lượt mình, chúng ta cũng phải nhìn lên Đấng đã được “gương cao” giữa trời và đất, để cầu nguyện. Cái chết tự nguyện này sẽ mãi mãi là “đỉnh cao của tình yêu”: Đỉnh cao của tình yêu Người Con đối với Người Cha và đỉnh cao của tình yêu của Người Anh hoàn vũ đối với những đứa em tội lỗi. Cây thập giá to lớn bằng gỗ đó, đang đeo mang một thân xác con người bị tra tấn đến ứa máu, chính là một “chóp đỉnh của đau đớn” và chết chóc”, nhưng cũng là một đỉnh cao của mạc khải Thiên Chúa. Về chưng diện thể lý, ta cần phải mở to đôi mắt để chiêm ngắm hình ảnh này. Nhưng cũng cần phải nhắm mắt lại để “thấy” những gì chưa có thể thấy được, mà cảnh tượng trên mới chỉ là “dấu chỉ”: Tình yêu tuyệt đối đang thiêu đốt tâm hồn con người đó, Đức Giêsu “không ai có tình thương lên hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho hạn hữu (Ga 15,13). Nhưng tình yêu tuyệt đối đã thiêu đốt con người Giêsu, cũng chính là “dấu chỉ” của một tình yêu tuyệt đối khác, tình yêu của Chúa Cha: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người” (Ga 3,16).

Vì thế, các nghệ sĩ thường muốn trình bày Đức Giêsu trên thập giá với một thứ “vinh quang” nào đó. Hai cánh tay và thân xác của Người, thay vì bị co quắp trong đau đớn khổ hình, lại được trình bày trong tư thế hết sức mềm mại và thoải mái: Tư thế của người cầu nguyện, tư thế của linh mục cầu nguyện và dâng lễ vật nới bàn thờ, tư thế của đôi bàn tay nâng lên để đọc kinh “Lạy Cha”.

Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban Con Một mình.

Thời đại chúng ta, nhiều người bị thử thách trước một nhận xét đầy bi quan: ‘Thế gian thật là thối nát, không thể làm gì để cứu vãn được’ chúng ta cũng dễ hiểu sự chán nản, vẻ khó chịu của những người thức thời đứng trước bao cảnh trớ trêu: Bạo lực, bắt cóc các con tin, ích kỷ có tính tập thể và cá nhân, đê tiện đủ loại, cảnh người bóc lột người, sa đọa luân lý, mất lương tâm nghề nghiệp, lạm đụng việc dối trá trong việc phổ biến ý thức hệ hay quảng cáo, đàn áp dư luận quần chúng, tình trạng vỡ mộng… Chính Thiên Chúa cũng biết tất cả những sự việc đó? Tuy thế, Người vẫn yêu mến thế gian này. Người không chịu để sự xấu ác của nó lộng hành. Người muốn cứu độ nó. Thiên Chúa thương đi ngược lại chúng ta. Đối với chúng ta, thế gian này xem ra rất tồi tệ và xấu ác, thế mà Thiên Chúa vẫn yêu thương nó. Thiên Chúa như say mê trước công cuộc tạo dựng chưa hoàn tất của mình, mà Người đang hướng đến nó sự hoàn hảo. Thế gian không thể phi lý. Nếu chúng ta chấp nhận cách nhìn của Thiên Chúa, một ‘cái nhìn yêu thương’, thì lúc đó, thay vì tiếp tục rên rỉ kêu than, chúng ta sẽ hiến mạng sống cho anh em.

Người đã ban cho Con Một mình

Hai động từ diễn tả thái độ của Thiên Chúa: “Yêu và cho”! Ta hãy cầu nguyện dựa vào những tác động mà hai từ đó gợi lên.

Ta cũng nên lưu ý tĩnh từ được áp dụng cho Đức Giêsu: “Một” hay “độc nhất” (tiếng Hy Lạp là ‘Monogénes’). Từ này chỉ có thánh Gioan sử dụng. Nó được đưa vào trong kinh Tin kính: “Tôi tin Chúa Giêsu Kitô, con một Thiên Chúa”. Tiếng này làm cho chúng ta vượt qua khỏi những vẻ bề ngoài tràng giang, tiến sâu vào các thế giới bên kia: Đức Giêsu là đối tượng tử hệ tuyệt đối độc nhất của Thiên Chúa. Đàng khác, tiếng này cũng nhắc lại một hồi tưởng Kinh thánh. Trong ký ức của Israel người ta luôn nhớ đến một người con độc nhất khác, được cha hết sức yêu quý thế mà người cha đầy tình yêu thương này lại chấp nhận một cách kỳ diệu ‘hy sinh’, ‘ban tặng’ đứa con đó: thánh Gioan nhớ rất rõ câu chuyện Abraham và đứa con trai của ông Isaac (St 22,2-16).

Tình yêu của Thiên Chúa đối với thế gian, khiến Người ban tặng “Con Một” Người, Gioan sẽ diễn tả tình yêu đó bằng năm kiểu nói, để không ai còn có thể nghĩ ngược lại được: “Thiên Chúa không muốn con người phải hư mất”, Người đã tạo dựng mọi sự để tất cả được tồn tại (Kn 1,13).

- Thiên Chúa muốn cho con người được sống đời đời: đó là một “sự sống từ trời” được ban tặng (Ga 3,3).
– Thiên Chúa không muốn kết án thế gian: nghĩa là toàn thể nhân loại.
– Thiên Chúa muốn cứu độ thế gian; thánh ý của Thiên Chúa là mọi người đều được cứu độ.
– Công trình của Con Người cũng là “công trình của Thiên Chúa” (1Tm 2,4).

Ai tin vào con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.

Thiên Chúa là “Đấng hằng sống” tuyệt vời, sự sống là của quý giá nhất mà con người có thể chiếm hữu. Thiên Chúa đã quyết định thông truyền sự sống của Người, cho người con sự sống thần thiêng và vĩnh cửu ý định “cứu độ phổ quát” của Thiên Chúa thật rõ ràng: Nhưng để công cuộc cứu độ được thành tựu, con người còn phải chấp nhận “ân huệ” đó. Hiển nhiên không thể tương tượng được rằng, một người nhất định khước từ Thiên Chúa, lại bị cưỡng chế và áp lực phải sống bên cạnh Người, bất chấp ý muốn của họ. Làm như thế, thì thật sự là tạo một thứ “hỏa ngục”. Thiên Chúa luôn luôn tôn trọng tự do của con người: Kẻ nào không muốn “sự sống” mà Thiên Chúa tặng ban cho mọi người, kẻ đó sẽ ở trong sự chết? Liệu có một người nào đó khăng khăng chối từ như thế? Đó là bí mật đáng sợ của cái chết, vào giây phút mà con người được giải thoát khỏi cảnh u tối trần gian, thực sự “đối diện với Thiên Chúa”.

Vì Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian. Nhưng là để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ. Ai tin vào Con của Người thì không bị lên án; những kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào Danh của Con Một Thiên Chúa. Và đây là bản án: ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa.

Trích đoạn trên làm cho chúng ta khá choáng váng.

Đoạn văn quả quyết hai điều:

- Một là: Thiên Chúa không lên án ai. Người muốn cứu độ tất cả vì Người yêu thương hết mọi người.
– Hai là: Chính con người tự xét xử và lên án mình, khi nó cố chấp khước từ Thiên Chúa.

Như thế, việc “lên án” không phải là một hành vi ở bên ngoài con người. Nhưng trớ trêu thay, nó lại là sự việc của chính con người đó, khi họ có thái độ khước từ tình yêu Thiên Chúa, được biểu lộ trong việc “Con Một của Người hiến thân” cho đến hy sinh thập giá. Chính Thiên Chúa làm mọi sự. Người đã đi đến cùng sự cứu độ. Mọi sự diễn tiến như thể việc “lên án” không thuộc về thế giới Thiên Chúa, nhưng đó là một thực tại ở bên ngoài Vương Quốc: Những kẻ khước từ ánh sáng “diện kiến” tự kết án mình trở thành một thế giới “ở bên ngoài” Thiên Chúa; một thế giới chết chóc, một thế giới không có sự sống đời đời.

Chúng ta cần ghi nhận rằng, “bi kịch của thái độ vô tín” không chỉ là một vấn đề hiện tại. Nó xuất hiện ngay giữa Tin Mừng. Nếu ta muốn kéo dài sứ vụ của Đức Giêsu, thì chúng ta không được phép lên án ai, mà phải ước muốn cứu giúp mọi anh em mình, phải làm tất cả để đạt được điều đó. Ai xét xử anh em mình, thì làm điều trái ngược Thiên Chúa; kẻ đó tự đặt mình ra ngoài thế giới của Thiên Chúa “Đấng không đến để xét xử”.

Nhưng kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ: “Mọi việc họ làm đều hợp ý Thiên Chúa”

Sau hết, niềm vui của tín hữu là hưởng trước những gì sẽ là niềm vui vĩnh cửu được diện kiến với Thiên Chúa. Đối với họ, sự sống đời đời đã khởi sự. Họ đã nhận biết tình yêu Thiên Chúa đối với mọi người. Họ sống tình yêu đó mỗi ngày. Họ không ngừng tạ ơn tình yêu đó và ‘sự sống vĩnh cửu’ này đã khởi sự, đó là một sự sống đầy sinh động. Các Kitô hữu từ lâu đã thường nói đến sự sống vĩnh cửu nhờ một thứ ngôn ngữ và những hình ảnh gần với Niết bàn (nirvầna) của Phật giáo hơn là quan niệm của thánh Gioan: Đó là một ’sự nghỉ ngơi đời đời’. Đối với Tin Mừng thứ tư, đó là một ‘sự sống vĩnh cửu’, tràn đầy sinh động và niềm vui, chớ không phải là một sự nghỉ ngơi tẻ nhạt. Ở đấy, theo văn bản Hy Lạp, Gioan đã nói: “Kẻ nào hành động theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng” . Sống là “hành động”! Đó là những “hành động”, những “việc làm”; những “công trình”. Và đây là điều làm ta ngỡ ngàng: lúc đó, những “việc làm của con người” cũng được công nhận như những “việc làm của Thiên Chúa”. Đó là cuộc sống vĩnh cửu.

5. Chú giải của Fiches Dominicales: THIÊN CHÚA ĐÃ YÊU THẾ GIAN ĐẾN NỖI ĐÃ BAN CON MỘT, ĐỂ AI TIN VÀO CON CỦA NGƯỜI… (Ga 3,14-21)

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

1. Tình yêu nhưng không của Thiên Chúa

Trong khi bầu khí căng thẳng do việc Chúa đuổi quân buôn bán ra khỏi đền thờ gây ra chưa lắng dịu, thì ông Nicôđêmô, một kỳ mục trong dân tìm gặp Đức Giêsu. Ông đến vào lúc đêm tối, nhằm giữ kín sự việc, nhưng dưới ngòi bút của Gioan nó mang một ý nghĩa tượng trưng: phải chăng Nicôđêmô đang ở trong bóng tối tìm đến ánh sáng?

Cuộc đối thoại mở đầu với đề tài phải tái sinh. Đức Giêsu tuyên bố: “Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bới nước và Thần Khí” (3, 5) .

Rồi từ câu 11 trở đi, cuộc đối thoại biến thành độc thoại. Đức Giêsu bắt đầu giảng dạy bằng cách kể lại những biến cố trong lịch sử dân Israel. Người nhắc đến biến cố bí ẩn trong sách Xuất Hành: con rắn đồng được treo lên làm dấu hiệu, chẳng những được hoàn tất, mà còn bị vượt lên trên trong biến cố khổ nạn, cái chết, phục sinh và lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa của Người.

* Ngày xưa, thời xuất hành trong hoang địa, con cái Israel vì kêu trách và thiếu tin tưởng vào Thiên Chúa, nên đã bị rắn độc tràn ra cắn chết nhiều người. Sách Dân Số thuật lại (21,4-9): bấy giờ ông Môsê treo một con rắn đồng lên cao; hễ ai nhìn lên con rắn đồng với lòng tin thi được thoát chết. Sách Khôn Ngoan giải thích (để tránh lối giải thích ma thuật): “Hễ ai nhìn lên thì được cứu vớt cứu không phải do vật được nhìn, mà do Chúa, Đấng Cứu Độ của mọi người” (Kn 1, 6-7).

* Dấu chỉ giờ đây nhường chỗ cho thực tại mà nó ám chỉ, đó là sự hiện diện của Đức Giêsu, Môsê mới, là Lời hằng sống, ban sự sống của Thiên Chúa. “Bị treo lên”, Đức Giêsu cũng sẽ bị treo lên bởi những kẻ đóng đinh Người vào thập giá; Người sẽ được nâng lên bởi Chúa Cha, Đấng đón nhận Người vào hưởng vinh quang với Thiên Chúa (8,28-30). Và cũng như xưa, hễ ai nhìn lên con rắn đồng thì được sống, ngày nay hễ ai nhìn lên “Con Người bị đóng đinh và phục sinh” thì được Người ban cho sự sống đời đời.

* Nguồn gốc của hành vi cứu độ này không cần tìm đâu xa, nó ở ngay trong tình thương điên dại của Thiên Chúa, của Đức Giêsu Kitô đối với thế gian. X. Léon-Dufour diễn tả: “Ở trọng tâm của tất cả mọi sự và đặc biệt của vai trò Con Người và của con đường đi đến thập giá, ta thấy Thiên Chúa yêu thương thế gian. Lời xác quyết nêu bật Thiên Chúa và tình thương của Người như thực tại tuyệt đối. Tình thương đi trước mọi sự, cũng như trong Lời Mở Đầu, ánh sáng thần linh của Ngôi Lời soi chiếu mọi người trong bóng tối. Thiên Chúa thương yêu chỉ có một ý định là ban ơn cứu độ và sự sống (Lecture de L’evangile selon Jean, cuốn 1, Seuil, trang 305-306).

Như thế, ở đây, thập giá được trình bày như địa điểm mạc khải tình thương của Thiên Chúa, một biểu lộ tối hậu là nguồn mạch sự sống.

2. Mời gọi ta đáp trả

Đến đây coi như Nicôđêmô biến mất. Đức Giêsu xem như đối thoại với một nhóm thính giả, chính là chúng ta ngày nay:

Tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa tỏ bày qua Đức Giêsu Con Ngài, luôn kêu mời sự đáp lại của con người có tự do. Và nó đòi một lời đáp ngay lúc này, đối diện với Đức Giêsu, Đấng Chúa Cha sai đến, Đấng mặc khải tình yêu của Thiên Chúa Cha. Bởi vì ngay bây giờ, cuộc xét xử đang được thực hiện:

Hoặc từ khước Thiên Chúa, đóng cửa không đón tiếp, mù quáng không muốn nhận ánh sáng, chìm đắm trong tối tăm và bị luận phạt. Hoặc cởi mở đón nhận ánh sáng, đón nhận sự cứu độ của Thiên Chúa, và như thế tất cả đều thay đổi, vì mọi hoạt động của ta sẽ được nhìn nhận như những hoạt động của Thiên Chúa, và trở nên dấu chỉ sự hiện diện của Người.

X. Léon-Dufour giải thích thêm: “trong những câu chúng ta vừa đọc, thái độ lựa chọn hay từ chối đều thể hiện trong lời đáp trả của con người trước Đấng Thiên Chúa sai đến. Một đặc điểm quan trọng khác là: sự sống vĩnh cửu và luận phạt đời đời không chỉ được thi hành vào ngày thế mạt, nó được thực hiện ngay trong giây phút hiện tại, ngay khi gặp gỡ Đức Giêsu. Tin vào Đức Giêsu, lập tức được sống, trái lại, từ khước tin Chúa, con người tự ý chọn lựa cái chết (vĩnh viễn), mà Thánh Kinh thường ám chỉ bằng câu “bị xét xử”. (Sđd, trang 308-309).

BÀI ĐỌC THÊM

1) “Cái nhìn cứu sống”

(G.Bessière, trong “Dieu si proche” năm B, DDB, trang 42-43).

Đem câu chuyện con rắn đồng so sánh với Đức Giêsu, kể cũng hơi lạ thường! Câu chuyện lạ thường này có ý nghĩa gì đây? Truyền thống Thánh Kinh có thuật rằng, trong cuộc Xuất hành, khi dân Do thái bị đói, bị khát đã kêu trách Thiên Chúa và ông Môsê. Họ đã phải chịu hình phạt: những con rắn lửa bò ra gieo chết chóc cho dân. Nhưng rồi Thiên Chúa đã xót thương, Người truyền cho ông Môsê treo con rắn bằng đồng lên cột cao: “Ai nhìn lên con rắn đồng sẽ được cứu sống” (Ds 21,8) Ở đây sự so sánh nằm ở từ “treo lên”, Đức Giêsu bị treo lên cây thập giá, cũng như con rắn đồng bị treo lên trước toàn dân. Và ở từ “sống”. Ai bị rắn độc cắn trong hoang địa, nếu nhìn lên con rắn đồng sẽ được cứu sống; những ai tìm kiến sự sống vĩnh cửu, sẽ tìm thấy trong Đức Giêsu, nếu kẻ ấy “tin”. Đức Giêsu ban sự sống, và Ngài ban cách sung mãn. Không phải sự sống nhân tính, mà “sự sống vĩnh cửu”. Bởi đâu có ân huệ vô biên thoả mãn mọi ước muốn như vậy? – “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi Người đã ban chính Con duy nhất của Người”. Nguồn gốc không thể diễn tả đó, chính là tình thương phát xuất từ mầu nhiệm cao siêu mãnh liệt đối với muôn loài muôn vật.

Viễn tượng thật hết sức lạc quan. Có người chủ trương rằng Đấng Thiên Sai sẽ đến tiêu diệt những kẻ ô nhơ, tội lỗi. Đức Giêsu lại bày tỏ thái độ chống lại chủ trương tàn bạo này. Thiên Chúa không sai Con của Người đến để phán xét, nhưng “để nhờ Người mà thế gian được cứu sống”.

Nếu có ai cố tình giam hãm mình trong sự dữ, hay trong bóng tối, thì không phải Chúa luận phạt, mà chính họ đã chọn bóng tối cho mình. Phải chăng, như vậy là nói rằng những người ngoài Kitô giáo, nghĩa là không gắn bó với Đức Giêsu, đều bị mất phần rỗi? Thánh Gioan nhìn nhận rằng sự gặp gỡ Thiên Chúa còn sâu xa hơn; nó được thể hiện trong sự thành tâm, trong giá trị của các hành động và trong sự mở rộng tâm hồn ra với người khác. Thánh sử đề cập cuộc tranh luận này khi viết: “Phàm ai thực thi chân lý, thì đến với ánh sáng…”

2) Một cuộc sống được nâng niu và bao bọc bằng một tình thương vô điều kiện.

(Thư mục vụ của Hội Đồng Giám Mục Pháp “Thư gởi những người công giáo Pháp”, Cerf, trang 55-56).

Sau hết, tin vào ơn cứu độ của Thiên Chúa làm thay đổi cách thế hoạch định cả cuộc sống trần thế, và khiến ta hiểu khác đi lịch sử của ta trong thế giới này, và cả cách hoàn tất lịch sử đó nữa. Bởi vì “cho dầu sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 8,38-39).

Mặc dầu chúng ta chia sẻ những ưu tư của thế giới này, chúng ta vẫn tin rằng cuộc sống con người như được nâng niu và bao bọc bằng một tình thương vô điều kiện, mà không gì làm thay đổi được và rằng ân sủng của Thiên Chúa hằng theo dõi và sẽ còn theo dõi trong mọi hoàn cảnh của lịch sử chúng ta. Và chúng ta cũng hy vọng rằng cái chết, đôi khi là cái chết tàn bạo, không chấm dứt số phận chúng ta, bởi vì Chúa hứa cho ta sống lại và sống vĩnh cửu.

Đứng trước những nỗi sợ hãi của thời đại chúng ta, chúng ta không thể im lặng về kết cục của số phận con người, dưới ánh sáng của Tình Thương. Giao ước của Thiên Chúa sẽ được thực hiện trong thế giới mới, thế giới đã được biến đổi, mà chúng ta mong đợi. Niềm hy vọng này luôn nâng đỡ những người (nam cũng như nữ) đang đấu tranh chống lại sự chết và những quyền lực của sự chết, những người dám hiến dâng sự sống mình vì tình yêu Đức Giêsu Kitô.

6. Gợi ý bài giảng của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt: ĐÀM THOẠI VỚI NICÔĐÊMÔ (Ga 3,14-21)

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Thánh Gioan viết cuốn Tin mừng của ông khoảng 60 năm sau khi Chúa Giêsu về trời. Trí nhớ của tuổi già, thường rất chính xác khi gợi lại những kỷ niệm thời thanh xuân, đã giúp ông nhớ lại một vài cảnh đặc sắc trong đời Chúa Giêsu và nhiều giáo huấn đặc biệt của Thầy. Đoạn Tin Mừng hôm nay tiếp tục câu chuyện Nicôđêmô đến đàm thoại với Chúa Giêsu về đề tài đức tin và sự tái sinh thiêng liêng. Sau khi tường thuật, vị thánh sử gộp lại trong suy tư riêng một lô giáo huấn Chúa Giêsu đã ban hay đã gợi ý mà ông đã thâu thập và đào sâu. Ông trình bày chúng dưới ánh sáng của Chúa Giêsu phục sinh cùng trong lối văn riêng của mình, là nhớ thế đã cho chúng ta một vài phản ảnh sống động về một đức tin được trực tiếp nuôi dưỡng tận nguồn (Gioan dã biết Chúa Giêsu) cùng được suy niệm cách sâu xa (Gioan đã sống đức tin với tư cách môn đồ hết mực trung tín).

2. Ở đây thánh Gioan đưa ra ánh sáng điều mà thánh Phaolô vẫn luôn gói trong các thư của ông là “mầu nhiệm” cứu rỗi do Thiên Chúa đem đến để ta tin: Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa xuống trần để cứu rỗi thế gian. Những ai được hưởng ơn rỗi là kẻ, khi gặp Chúa Kitô, đã tin vào Người.

3. Từ ngữ “Con Người” xuất phát từ ngôn sứ Đanien (7,13). Một cách chung chung, tước hiệu được Tin mừng Gioan áp dụng cho Chúa Giêsu để biểu thị vai trò cứu thế của Người qua việc Nhập thể, Tử nạn và Phục sinh, nên có thể hiểu như là “Con Thiên Chúa làm người”. Như vậy ta thấy Chúa Giêsu là Đấng thể hiện được kiểu mẫu hoàn hảo của con người tự hoàn thành lấy mình vì đã tự vượt thắng mình trong Thiên Chúa. Thánh Gioan còn ghi lại: “Con Người đã bị giương cao”. Đây là việc treo lên thập giá. Lời này ám chỉ đến câu chuyện Môsê treo con rắn đồng được sách Dân số kể lại (Ds 21,6-8) Sách kể rằng: khi đang ở trong một vùng nầy rắn rít lúc đi qua sa mạc, người Hy bá đã được kháng nhiễm một cách lạ lùng khỏl nọc độc của chúng bằng cách nhìn lên một con rắn đồng Môsê treo lên nơi cao. Câu chuyện này được thánh sử gợi lại như biểu tượng cho thực tại thiêng liêng của ơn cứu độ được ban cho hết những ai nhìn về thập giá Chúa Kitô vui lòng tin.

4. “Ai tin vào Người thì không bị án xử, kẻ không tin vào Người thì đã bị án xử rồi”. Cách nói này cho thấy niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô bao hàm sự dấn thân dứt khoát và sau cùng sẽ đem lại công hiệu. Nghĩa là đức tin của tôi hôm nay (mà tôi luôn giữ vững) sẽ cứu tôi trong ngày tôi chết và trong ngày cánh chung. Giữa cái hôm nay và ngày sau hết của đời tôi, có thể xảy ra nhiều thăng trầm. Nhưng đức tin hiện tại của tôi đã đặt tôi vào vị thế khỏi bị kết án, nghĩa là đặt tôi trong ơn tha thứ của Thiên Chúa, trong sự tiếp đón và trong tình bằng hữu của Ngài. Điều này giải thích cho thấy sự nồng nhiệt của đức tin tôi hôm nay có một tầm quan trọng rất lên đối với cuộc gặp gỡ sau cùng của tôi với Thiên Chúa; mỗi ngày hiện tại chuẩn bị ngày cuối cùng đời tôi. Song nhờ niềm tin vào Chúa Giêsu, hồng ân lạ lùng là tình bằng hữu của Thiên Chúa cũng đến ngay bây giờ trong tôi và biến đổi tôi rồi. Niềm tin này lôi kéo tôi sống trong ánh sáng, nghĩa là trong sự thẳng thắn trung thành với Tin mừng. “Ai hành động trong sự thật thì đến cùng ánh sáng”.

5. Sự tự do hành động mà Nicôđêmô được hướng cũng là một dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa, Đấng để con người bước đi theo ý họ, ngay cả trên đường nẻo gian tà, thù hận và chết chóc. Thiên Chúa chỉ muốn làm một điều là ban Con Một, sai Người đến giữa nhân loại để chịu đau khổ và chết chóc hầu cứu rỗi họ. Cả Chúa Cha lẫn chúa Con đều không muốn ép con người yêu, nhưng chỉ kêu mời họ yêu từ đỉnh thập giá. Hai Đấng cũng tránh không phán xét hay kết án con người ngay ở đời này. Chính con người và chỉ mình họ tự làm quan tòa cho mình, tùy như họ cởi mở đón nhận hay từ chối ánh sáng.

6. Như thế con người của Chúa Kitô, qua hành động và lời nói, tỏ hiện ra như là nơi gặp gỡ hay chia rẽ của nhân loại. Theo Tin mừng Gioan, mọi người đều phải đối chất với Chúa Kitô, dù chỉ là một cách mặc nhiên, khi họ thông đồng với sự ác, hay khi họ khát vọng chân lý, sự thiện. Từ khi Ađam ẩn núp khỏi mặt Thiên Chúa, con người luôn luôn có khuynh hướng trốn tránh Thiên Chúa, tha nhân và chính mình, để khỏi lộ tẩy các hành vi xấu xa của mình, nhất là những hành vi bên ngoài có vẻ tốt hảo. Ai cố ý quay lưng lại với chân lý dầu chân lý ra sao – thì liều mình chết trong sự mù quáng tội lỗi. Ngược lại, ai tỏ ra trung thành trong thực tế với chân tý mà mình đã thoáng thấy – dầu chân lý đó hạn hẹp mặc lòng – thì cũng được Chúa Kitô hứa cho sống và dược thông hiệp với Thiên Chúa Cha.

C. CÁC BÀI CHIA SẺ

Bài 1. Cung thương
Trầm Thiên Thu

Bài thánh ca “Tình Chúa” khá quen thuộc của một nhạc sĩ Công giáo nào đó có những ca từ đẹp và đạo đức, nói lên thực tế yếu hèn của con người và lòng nhân từ của Thiên Chúa: “Khi tình yêu con còn mơ, tin yêu con dệt thơ thì tình Chúa hững hờ. Chúa vẫn dang tay trông chờ, đôi mắt vương lệ mờ, nhưng con vẫn làm ngơ. Và khi tình yêu con tan vỡ, tin yêu con sầu khổ, chạy đến Chúa nương nhờ. Chúa vẫn đôi tay trông chờ, lòng Chúa vẫn vô bờ, trìu mến mong con từng giờ. Khi đường trần say nguồn vui, tương lai con rực cháy, con quên Chúa mất rồi. Chúa vẫn đôi tay rộng mời, và thứ tha tội đời, nhưng con chối từ thôi. Rồi khi đường trần con buồn đau, tương lai con mờ ảo, chạy đến Chúa kêu cầu. Chúa vẫn đôi tay rộng mời, tình Chúa không đổi dời, lòng Chúa bao dung đời đời. Ôi tình yêu của Chúa không bến bờ, con lại đắm say trần thế hơn cả tình Chúa. Ôi vì yêu mà Chúa không tiếc đời, trên thập giá xưa lòng Chúa đang cơn ngậm ngùi.

Người Việt có câu: “Khi vui chẳng nhớ tới ai, đến khi nóng cứ trái tai mà sờ”. Chúng ta cũng thường đối xử với Chúa theo kiểu như vậy. Nhưng Thiên Chúa vẫn “làm ngơ”, coi như không biết, vì Tình yêu Chúa luôn là bản trường ca đầy những Cung Thương kỳ lạ dệt thành Giai điệu Xót Thương tuyệt vời nhất! Khối Thánh Tình đó của Ngài được phát xuất từ Thánh Tâm, Nguồn Yêu Thương, và đó cũng chính là Lòng Thương Xót vô biên của Ngài.

Thiết tưởng cũng nên “mở ngoặc”: Chúa Nhật IV Mùa Chay còn được gọi là Chúa Nhật Vui (Laetare), với lễ phục màu hồng, xuất phát từ ca nhập lễ trong ngày này (Laetare Jerusalem – Hãy vui lên hỡi Giêrusalem).

TỘI LỖI và HỆ LỤY

Tất cả chúng ta đều là những hạt-bụi-nhỏ-nhoi-và-yếu-hèn, đều là những tội nhân, ngay cả những người công chính cũng vẫn phạm sai lầm mỗi ngày 7 lần. Thật vậy, sách Sử biên niên nói: “Tất cả các thủ lãnh của các tư tế và dân chúng mỗi ngày một thêm bất trung bất nghĩa, học theo mọi thói ghê tởm của chư dân và làm cho Nhà Đức Chúa đã được thánh hiến ở Giêrusalem ra ô uế” (2 Sb 36:14). Do đó, Thiên Chúa không ngừng sai sứ giả của Ngài đến cảnh cáo, vì Ngài hằng thương xót dân và thánh điện của Ngài. Thế nhưng họ nhạo cười các sứ giả của Thiên Chúa, khinh thường lời Ngài và chế giễu các ngôn sứ của Ngài. Dân Chúa phạm tội tăng theo cấp số nhân, dân Chúa cũng chính là chúng ta. Và rồi Thiên Chúa buộc lòng phải bừng bừng nổi giận mà trừng phạt dân Ngài đến vô phương cứu chữa. Nhưng Ngài trách phạt chúng ta vì yêu thương, vì thương xót, chứ không vì ghét bỏ, để chúng ta có thể “sáng mắt” và giác ngộ mà nhận ra những sai lầm thái quá của mình.

Sách Sử biên niên kể: Ngày xưa quân Canđê đốt Nhà Thiên Chúa, triệt hạ tường thành Giêrusalem, phóng hoả đốt các lâu đài trong thành và phá huỷ mọi đồ đạc quý giá. Những ai còn sót lại không bị gươm đâm, thì vua bắt đi đày ở Babylon; họ trở thành nô lệ của vua và con cháu vua, cho đến thời vương quốc Ba Tư ngự trị. Theo “luật nhân quả” thì “gieo gì gặt nấy”, tương tự chúng ta cũng nói: “Gieo gió thì gặt bão”. Hình phạt là hậu quả từ sự ngang ngược của chúng ta – một hệ lụy tất yếu.

Vì phạm tội phản nghịch Thiên Chúa mà dân chúng phải đi đày. Nhớ về quê hương, dân chúng buồn bã than: “Bờ sông Babylon, ta ra ngồi nức nở mà tưởng nhớ Xi-on; trên những cành dương liễu, ta tạm gác cây đàn” (Tv 137:1-2). Chúng ta cũng đã bao lần tự cắt mối dây liên lạc với Chúa vì phạm tội, lúc ở đường cùng thì chúng ta chỉ còn biết năn nỉ ỉ ôi: “Xin Chúa thương xót chúng con”. Lời cầu nguyện này không chỉ được chúng ta đấm ngực và kêu xin trong thánh lễ hằng ngày mà còn nhiều lần khác trong ngày.

Đã khổ sở vì lòng ray rứt, dân chúng còn bị bọn lính canh “khiêu khích” để chạm vào vết thương lòng đang sưng tấy: “Hát đi, hát thử đi xem! Xi-on nhạc thánh điệu quen một bài!” (Tv 137:3). Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ! Buồn não lòng như vậy thì còn đâu hứng khởi mà hát xướng, dù là Bài ca kính Chúa Trời? Và rồi lòng lại dặn lòng: “Giêrusalem hỡi, lòng này nếu quên ngươi, thì tay gảy đàn thành tê bại! Lưỡi xướng ca sẽ dính với hàm, nếu ta không hoài niệm, không còn lấy Giêrusalem làm niềm vui tuyệt đỉnh của tâm hồn” (Tv 137:5-6).

LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT

Thiên Chúa biết chúng ta đau khổ vì đã chống lại Ngài, nhưng Ngài vẫn “làm ngơ” để chúng ta có thể sám hối thật lòng. Chừng nào chúng ta “đầu hàng vô điều kiện” thì Ngài sẽ ra tay cứu độ. Thánh Phaolô trần tình: Thiên Chúa giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta, nên dầu chúng ta đã chết vì sa ngã, Ngài cũng đã cho chúng ta được cùng sống với Đức Kitô” (Ep 2:4-5). Chúng ta may mắn hết sức, nhưng đừng tưởng Thiên Chúa “phải” yêu thương chúng ta. Ngài yêu thương chúng ta vì thương xót chúng ta, “chính do ân sủng mà chúng ta được cứu độ” (Ep 2:5).

Ngài không chỉ cứu độ chúng ta mà còn “cho chúng ta được cùng sống lại và cùng ngự trị với Đức Kitô Giêsu trên cõi trời” (Ep 2:6). Ngài tỏ lòng nhân hậu đối với chúng ta trong Đức Kitô Giêsu, để biểu lộ cho các thế hệ mai sau thấy ân sủng dồi dào và phong phú của Ngài. Thánh Phaolô tái xác định: “Chính do ân sủng và nhờ lòng tin mà anh em được cứu độ: đây không phải bởi sức anh em, mà là một ân huệ của Thiên Chúa, cũng không phải bởi việc anh em làm, để không ai có thể hãnh diện” (Ep 2:8-9). Quả thật, chúng ta không hề có mảy may gì để mà hãnh diện!

Điều đó vừa mặc nhiên vừa minh nhiên, vì “chúng ta là tác phẩm của Thiên Chúa, được dựng nên trong Đức Kitô Giêsu”, và chúng ta có trách nhiệm “sống mà thực hiện công trình tốt đẹp Thiên Chúa đã chuẩn bị cho chúng ta” (Ep 2:10). Đó là sự công bình hợp lý vậy!

Sách Dân số cho biết rằng, từ núi Horép, dân Chúa lên đường theo đường Biển Sậy (Sea of Reeds, còn gọi Biển Đỏ), vòng qua lãnh thổ Êđôm, trong cuộc hành trình qua sa mạc, với lương thực duy nhất là “món” mana, dân Ít-ra-en mất kiên nhẫn nên kêu trách Chúa và ông Môsê: “Tại sao lại đưa chúng tôi ra khỏi đất Ai Cập, để chúng tôi chết trong sa mạc, một nơi chẳng có bánh ăn, chẳng có nước uống? Chúng tôi đã chán ngấy thứ đồ ăn vô vị này!” (Ds 21:5). Chúa cho rắn độc ra cắn khiến nhiều người chết. Dân hoảng quá nên cầu xin ông Môsê: “Chúng tôi đã phạm tội, vì đã kêu trách Đức Chúa và kêu trách ông. Xin ông khẩn cầu Đức Chúa để Người xua đuổi rắn xa chúng tôi” (Ds 21:7). Ông Môsê cầu nguyện, Chúa bảo đúc một con rắn bằng đồng và treo lên cây cột, và “hễ ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng, thì được cứu sống” (Ds 21:9).

Biểu tượng ơn cứu độ thời Cựu ước là “con rắn đồng treo trên cây cột trong sa mạc”, biểu tượng ơn cứu độ thời Tân ước là Đức Kitô bị treo trên Thập giá”, để “ai tin vào Ngài thì được sống muôn đời” (Ga 3:15). Lời hứa đó là niềm hy vọng chắc chắn của chúng ta, nhưng tất cả đều là hồng ân, là nhờ Lòng Chúa Thương Xót. Thiên Chúa không hề tiếc chúng ta điều gì: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16).

Quả thật, Lòng Chúa Thương Xót quá lớn lao, ngoài sức tưởng tượng của nhân loại: “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3:17). Thiên Chúa không thiên tư tây vị bất kỳ ai, không “ưu tiên” người “có thế giá”, mà cũng chẳng “chèn ép” người cô thân, dù là người cùng đinh nhất trên thế gian: “Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa” (Ga 3:18). Và đó chỉ là sự công bằng mà thôi!

Nguyên nhân của bản án đó? Rất đơn giản: “Ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa” (Ga 3:19). Chúa giải thích: “Ai làm điều ác thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách. Nhưng kẻ sống theo sự thật thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ: các việc của người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa” (Ga 3:20-21).

Trách nhiệm của chúng ta là “thực hiện công trình tốt đẹp Thiên Chúa đã chuẩn bị cho chúng ta”, nếu ai hoàn thành tốt thì “việc của người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa”. Một hệ lụy rất lô-gíc và quá tuyệt vời! Nếu vậy thì mỗi chúng ta sẽ trở thành một “cung thương” trong bản tổng phổ của “Trường ca Lòng Chúa Thương Xót”.

Ma quỷ rất tinh quái, thiết tưởng chúng ta nên cảnh giác như Thánh Têrêsa Hài Đồng: “Ma quỷ thường hay đánh lừa những linh hồn quảng đại bằng cách thúc đẩy họ bước vào những hy sinh thái quá, vừa làm hại sức khỏe vừa khiến họ không thể chu toàn bổn phận, đồng thời lại lấy đó làm tự mãn.

Lạy Chúa, chúng con là những người quá vô tình, lo ngoại tại mà quên nội tại, nói nhiều mà chẳng làm được bao nhiêu. Xin Chúa ban ơn soi sáng để thức tỉnh chúng con, và làm cho chúng con biết khiêm nhường để có thể thực sự trở nên khí cụ của Chúa. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

Bài 2. Tội Lỗi và Tình Thương
Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

Lịch sử Dân Chúa là một lịch sử của ân sủng và tội lỗi, trung thành và bất tín, đón nhận và từ chối, ánh sáng và bóng đen. Ðó là lịch sử một tình thương hải hà, nhưng vô cùng mầu nhiệm.

Sách Khởi nguyên cho biết con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và sống trong tình thương yêu thân thiện của Người. Nhưng ngay từ những bước đầu, tội lỗi đã xâm nhập vào thế gian. Con người đã phản bội Chúa. Do hành vi phản bội nguyên thủy này, tội lỗi bắt đầu thống trị. Tội phân lìa con người ra khỏi Chúa, đẩy con người xa quỹ đạo sự sống và tình thương, biến cuộc sống con người thành một xung khắc triền miên với bản thân, với anh em và với thế giới. Lịch sử con người trở nên một lịch sử hận thù đầy chém giết, tham lam và tranh chấp.

Bị dục vọng đè nén, con người không làm nổi điều thiện mình muốn, trái lại cứ lao đầu vào hố sâu của tội ác.

Tội lỗi mãnh liệt như một quyền lực cứ luôn đè bẹp và cầm tù con người.

Lịch sử con cháu Ađam cho thấy tội lỗi như một vết dầu loang bao trùm cả thế giới và vũ trụ, khiến mỗi người sinh ra trong tội (Tv 51,7).

Tội lỗi gieo rắc mầm mống sự chết khắp nơi và biến đổi thế giới sự sống thành thế giới u sầu tang tóc.

Nếu chỉ dừng lại ở đây, chúng ta sẽ bi quan và thất vọng. Cuộc đời sẽ hoàn toàn vô nghĩa và con người thà đừng sinh ra thì hơn (Yb 3,1-26).

Quả thật tội lỗi đã khiến hình ảnh Thiên Chúa trong con người bị hoen ố. Con người đánh mất hết những vẻ diễm lệ yêu kiều, trở nên một tạo vật xấu xí trần trụi; thân thể đầm đìa máu me và vết tích.

Không ai trong chúng ta có thể tự hào là đáng yêu, vì mỗi người đều đắm chìm trong tội.

Nhưng, tình thương của Thiên Chúa thật nhiệm mầu. Người đã yêu thương ta, khi ta còn là những kẻ có tội. Người khiến ta là những kẻ đã chết bởi sa ngã phạm tội, được cùng hồi sinh với Ðức Kitô (Ep 2,5).

Tiên tri Êzêkiel ví Thiên Chúa như một người qua đường thấy dân mình quằn quại trong vũng máu, quyết đưa về tắm rửa và trang điểm, biến thành như một thiếu nữ mỹ miều xinh đẹp (Ez 16,6-14).

Thiên Chúa chăm sóc và nuôi dưỡng dân Người. Người để ý từng đường đi nước bước của họ. Người trìu mến như người cha, dỗ dành như người mẹ, âu yếm như người chồng. Nhưng dân Người lại là những kẻ tình nghĩa nhạt như nước ốc, lòng dạ bạc như vôi.

Tiên tri Hôsê ví dân Chúa như một người vợ được chiều chuộng đủ điều, nhưng vẫn quen thói thất trung, thích chạy theo khách mới. Thiên Chúa phải làm mọi cách cho người vợ ấy trở về (Hs 2).

Sách Ký sự cho thấy mọi thành phần dân Chúa đều bất tín, từ đầu mục tư tế cho đến thứ dân đã chạy theo những ngẫu tượng của ngoại bang. Họ làm hoen ố đền thờ Chúa và xúc phạm Danh Thánh Người.

Thiên Chúa giàu lòng yêu thương đã sai nhiều sứ giả đến với họ, nhưng họ vẫn giả điếc làm ngơ, và hơn thế nữa, họ còn nhạo báng, hành hạ và giết chết các tiên tri.

Thiên Chúa, dù là Ðấng nhân ái từ bi, đã buộc lòng phải trừng phạt vì chạm trán với lòng con người chai đá. Người cho dân đi lưu đày, mất quê hương, mất đền thờ, mất tất cả, để từ đó họ khám phá lại những hồng ân lớn lao của Thiên Chúa.

Và đến ngày đã định, Thiên Chúa lại đưa dân về sau khi thanh luyện họ bằng những biến cố xảy ra trong đời họ.

Thánh Phaolô ý thức sâu xa về thực trạng tội lỗi. Người đã kinh nghiệm về hoạt động của tội trong chính bản thân, trong môi trường người sống và những nơi người đến rao giảng.

Về bản thân, người đã thốt lên những lời chua xót:

Tôi thuộc về xác thịt, bị bán làm tôi sự tội (Rm 7,14).

Không phải tôi hành động, nhưng chính là tội lỗi cư ngụ trong tôi (Rm 7,17).

Mọi thứ luật khác chi phối chi thể tôi, giam cầm tôi trong tội (Rm 7,23).

Về nhân loại nói chung, người đưa ra một ý tưởng còn táo bạo hơn nữa.

Thiên Chúa đã đón mọi người vào đàng bất tuân, ngõ hầu dủ lòng thương hết mọi người (Rm 11,32).

Thánh Phaolô thấy rõ tội lỗi của riêng mình và của toàn thể nhân loại, nhưng người cũng nhận thức được tình yêu và thượng trí của Thiên Chúa. Ôi thẳm sâu thay sự giàu có, khôn ngoan và thượng trí của Thiên Chúa (Rm 11,33).

Thiên Chúa là Chúa của hồng ân, và “tội lỗi phát sinh càng nhiều, ân sủng càng dồi dào gấp bội” (Rm 5,30).

Chính Ðức Yêsu Kitô là hồng ân trọn vẹn của Thiên Chúa. Người là dấu hiệu của tình thương. Người là chính tình thương sâu thẳm bao la của Thiên Chúa.

Tình thương của Chúa Cha đã nhiều lần trở nên hữu hình trong lịch sử nhân loại. Tình thương đã được tỏ bày nhờ nhiều sứ giả và qua nhiều biến cố. Và cuối cùng, tình thương đã hoàn toàn biểu lộ trong một người, một gương mặt. Ðó là Yêsu Kitô.

“Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình… để thế gian nhờ Người mà được cứu độ…” (Yn 3,16).

“Thiên Chúa đã không dung tha chính Con mình, nhưng lại trao phó Người cho tất cả chúng ta” (Rm 8,32).

Chúa Cha đã biểu lộ tình thương đối với loài người đến mức tối đa trong Ðức Yêsu Kitô, Con của Người. Và chính Ðức Yêsu Kitô cũng đã yêu thương chúng ta đến cùng độ:

“Không có tình thương nào lớn hơn tình thương của người chịu chết vì kẻ mình yêu thương” (Yn 15,13).

Ðức Yêsu chấp nhận chịu treo trên Thập giá để sức mạnh tình yêu có thể kéo mọi người lên với mình, nhưng với điều kiện là con người phải nhìn lên Thập giá và tin vào Người.

Tình thương không bao giờ cưỡng bách, nhưng đòi hỏi một thái độ rõ rệt đón nhận hay khước từ.

Ðức Yêsu Kitô đến, không để luận phạt thế gian, nhưng để cho thế gian được cứu rỗi.

Ai tin, nghĩa là đón nhận tình thương, thì được sống; ai không tin thì tự hủy diệt mình vì đã từ chối sự thật và ánh sáng.

Ðức Yêsu Kitô là dấu chỉ trọn vẹn tình thương của Chúa Cha, nên chỉ một mình Người có quyền đòi hỏi thái độ dứt khoát:

“Ai không theo Ta là chống lại Ta”.

Ai không chọn yêu thương thì không ở trong Thiên Chúa, nhưng sa lầy trong tội.

Ðối với Người, chúng ta không có con đường thứ ba.

Giảng Lễ

“Thiên Chúa đã sai Con Một Người xuống thế, không phải để lên án thế gian, nhưng để thế gian nhờ Người mà được cứu rỗi”.

Ðó là nội dung Tin Mừng của Chúa nhật hôm nay. Tin Mừng đó đã được chuẩn bị từ thời Cựu Ước, nhưng chỉ được thực hiện từ thời Ðức Kitô.

Trong thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã dùng nhiều người, nhiều cách để loan báo ơn cứu độ mà Người sẽ thực hiện ở nơi Con Một là Ðức Yêsu Kitô. Người đã tỏ rõ ý chí của Người thương yêu nhân loại, không muốn thấy nhân loại chết đi như trong vụ đại hồng thủy nữa, nên đã ký kết một giao ước tình thương với gia tộc Noe, như ta đã nghe đọc trong Chúa nhật thứ nhất mùa Chay. Nhưng con cháu Noe đã không trung thành sống theo giao ước. Thiên Chúa không vì vậy mà bỏ kế hoạch tình thương. Người chọn một ngành trong gia tộc Noe để thực thi ý định. Abraham đã được chọn như Chúa nhật II mùa Chay còn nhắc lại. Và đến khi con cái Abraham đã trở nên đông đúc, Thiên Chúa quy tụ họ lại thành dân tộc, gọi là Dân riêng của Chúa. Và Chúa nhật III mùa Chay cho ta thấy Người ban hiến pháp giao ước cho dân tộc ấy. Tình thương của Người cứ bị họ lạm dụng. Ngay cả hàng tư tế trong dân cũng làm đủ điều ghê tởm, khiến chính đền thờ Yêrusalem đã trở nên ô uế. Nếp sống đồi trụy ấy dĩ nhiên đã mở đường cho địch quân xông vào tàn phá vườn nho của Chúa. Nhưng Chúa vẫn không quên lời giao ước. Bài đọc I hôm nay cho ta thấy Người dùng Cyrus khôi phục lại thánh đường Yêrusalem và dựng lại nước Israel. Cyrus, Môsê, Abraham, Noe chẳng qua chỉ là những hình ảnh báo trước việc chính Con Một Thiên Chúa giáng trần để cứu chuộc nhân loại. Và lần này phải dứt khoát và vĩnh viễn. Thế nên trong bữa tiệc ly chúng ta cử hành bây giờ qua thánh lễ, Ðức Kitô Cứu thế đã tuyên bố: Chén Máu Ngài cầm trong tay là chén Tân Ước vĩnh cửu, là Giao ước mới mẻ và vĩnh viễn. Chúng ta cử hành thánh lễ, là kỷ niệm và đúc kết lại tất cả con đường lịch sử cứu chuộc mà Thiên Chúa đã đi để cứu vớt loài người, hầu đưa họ vào tình thân mật thánh thiện, làm nên hạnh phúc cho chính họ. Ý thức nội dung của thánh lễ như vậy, chúng ta phải cố gắng để cử hành cho thật trang trọng và sâu xa. Và chỉ có một cách cử hành tốt, là đón nhận Ðức Kitô và kết hợp hoàn toàn với Người trong mầu nhiệm cứu thế.

Thế mà như lời Phúc Âm hôm nay viết: có nhiều người không đón nhận Ðức Kitô là Cứu thế, vì họ sợ ánh sáng, sợ công việc tối tăm của họ bị lộ tẩy khi tiếp xúc với ánh sáng. Họ muốn trốn ánh sáng, nhưng không thể trốn nổi, vì ánh sáng đã đến trong thế gian. Chúa đã đem lời Phúc Âm từ trời xuống; và lời Phúc Âm đã được rao giảng đến tai họ. Họ càng nhắm mắt lại, ánh sáng của Lời Chúa càng chiếu soi trong lòng họ, khiến họ phải nhận ra mình đang còn nhiều nết xấu, còn nhiều điều lệch lạc và phải canh tân sửa mình. Nhiều người sợ ánh sáng của Chúa chiếu soi lương tâm, nên tìm cách lo nghĩ những công việc thế tục hầu để lương tâm mình nằm yên trong tối tăm. Những người ấy không đón nhận ánh sáng, không đón nhận Chúa Yêsu. Họ dự lễ, rước lễ như để Chúa ở bên ngoài tâm hồn và đời sống. Ra khỏi nhà thờ, họ quên ngay những lời Thánh Kinh đã nghe và không còn nhớ Chúa ở trong tâm hồn mình nữa. Họ sẽ chạy theo hết mọi tiêu chuẩn của thế gian, khiến họ có đạo cũng dường như không có. Nhưng ai đón nhận ánh sáng thì khác hẳn. Họ sẽ đưa lời Kinh Thánh vừa nghe đọc vào trong mình; họ sẽ nhờ Chúa Thánh Thể đã ngự vào lòng họ. Sự hiện diện của Lời Chúa và của Thánh Thể sẽ soi sáng lương tâm. Tối tăm sẽ dần dần dẹp đi và tâm hồn sẽ trong sáng, đời sống họ sẽ trong sạch. Ðàng rằng ánh sáng của Chúa luôn cho ta thấy mình còn tội lỗi và khuyết điểm. Nhưng đó là thứ ánh sáng chữa lành mọi vết thương, giống như những người Dothái ngày trước nhìn vào con rắn đồng, đều được cứu sống. Bởi vì khi ánh sáng của Chúa soi cho lương tâm biết tội lỗi của mình, thì đồng thời nó cũng cho ta thấy những tội lỗi ấy có thể được đóng đinh trên thập giá Chúa Kitô. Và như vậy tự nhiên ta sẽ cầu xin Ðức Kitô ở trên thập giá tiêu diệt giúp tội lỗi cho ta và ta sẽ cảm thấy được lành mạnh.

Mùa Chay đang đi dần vào tuần Thương khó. Phụng vụ muốn ta chiêm ngưỡng thập giá Chúa Kitô. Như Môsê đã treo con rắn đồng lên để người Dothái nhìn vào hầu được cứu sống; thánh giá ngày này là nguồn ơn cứu độ mọi người, miễn là người ta thấy cần và muốn được cứu rỗi. Chúng ta không thể hưởng nhờ mọi ân phúc của mùa Chay, nếu không nhìn lên thánh giá như những người đang đau đớn vì tội lỗi. Việc xưng tội trong mùa Chay cần là vì thế. Việc kiểm điểm đời sống để chừa bỏ nết xấu là cùng chết với Ðức Kitô trong mầu nhiệm thương khó, hầu được sống lại với Người. Chúng ta đừng làm công việc thống hối, ăn năn với sức lực của mình. Bài thơ Phaolô đã nói rõ. Ơn cứu độ không đến với chúng ta qua sự nghiệp của ta đâu, nhưng qua niềm tin, tin vào lòng lân tuất của Chúa đã cứu ta qua mầu nhiệm tử nạn của Con Ngài. Chính đường lối cứu chuộc này khiến việc xét tội, ăn năn của ta không còn phải chỉ là một công việc nặng nề và tiêu cực. Nhưng khi xét tội ăn năn mà nhớ tới lòng Chúa đã rộng rãi với ta qua sự chết của Con Ngài, sẽ khiến công việc diệt tội của ta đã được nâng đỡ bằng mầu nhiệm Phục sinh rồi. Nói như vậy không phải để chúng ta làm công việc xét tội, ăn năn, dốc lòng một cách hời hợt. Ngược lại, nhìn vào thánh giá Ðức Kitô như nơi phải đóng đinh tội lỗi, chúng ta biết phải ăn năn thống hối thế nào mới được kết quả. Người muốn được ơn tha thứ và trở nên thánh thiện, phải đặt tất cả niềm tin vào thập giá Ðức Kitô và như vậy phải muốn tiêu diệt tội lỗi như Người. Người chấp nhận đóng đinh trong tình yêu mến Chúa Cha và thương xót loài người. Chúng ta cũng phải tiêu diệt tội lỗi với ý hướng mến Chúa và thương yêu đồng loại hơn. Nỗ lực canh tân đời sống, có nằm trong chiều hướng cứu thế, mới đóng góp, tham dự vào mầu nhiệm thánh giá và mới đưa tới việc tham dự vào mầu nhiệm Phục sinh.

Thế nên ta phải gia tăng lòng mến để đi vào các tuần thương khó. Ta phải chia sẻ lòng Chúa Cha thương yêu muốn cho loài người được hạnh phúc, để bằng lòng kết hợp với Ðức Kitô trong mầu nhiệm chết cho tội lỗi.

Mầu nhiệm này ta sắp cử hành nơi bàn thờ. Thánh lễ hôm nay cũng như mọi thánh lễ, kêu gọi ta nhìn vào mầu nhiệm thánh giá như bằng chứng Chúa thương yêu loài người nên chịu chết cho loài người, để ta tham dự vào tình yêu ấy mà muốn canh tân đời sống để thế giới được hạnh phúc và thánh thiện hơn.

Bài 3. GIƯƠNG CAO
Học viện Đa Minh

Trước hết, cần biết rằng, khi nói mình sẽ được “giương cao”, Đức Giêsu ám chỉ rằng Người sẽ bị treo lên thập giá, nhưng sau khi chết, Người sẽ sống lại và sẽ lên cùng Chúa Cha. Thật vậy, trong Tin Mừng theo thánh Gioan, “được giương cao” ám chỉ một hành động liên tục trong việc thăng thiên của Đức Giêsu: Đức Giêsu bắt đầu cuộc trở về với Chúa Cha khi Người đón nhận cái chết, và sau khi sống lại, Người sẽ hoàn tất cuộc trở về ấy khi Người thăng thiên. Tuy nhiên, Đức Giêsu không chỉ “được giương cao”, không chỉ trở về với Chúa Cha bằng đôi tay trắng, nhưng Người dẫn chúng ta theo Người. Vì quả thật, chính Người đã nói: “Phần Tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, Tôi sẽ kéo mọi người lên với Tôi”. Vì thế, khi nói về việc “giương cao” của mình, Đức Giêsu đã gợi lại việc Môsê giương cao con rắn đồng trong sa mạc.

Tất cả những ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng do Môsê giương cao theo lệnh Đức Chúa, thì sẽ được cứu chữa. Vậy, việc nhìn lên con rắn đồng và việc được cứu chữa có liên hệ chặt chẽ với nhau; và mối dây liên hệ ấy chính là đức tin. Điều kiện để được cứu sống là nhìn lên con rắn đồng, nhưng không phải bất cứ ai nhìn lên con rắn đồng cũng đều được cứu; trái lại, chỉ những ai có cái nhìn đức tin để nhận ra con rắn đồng bị treo lên trên cao ấy chính là dấu chỉ, là phương thế cứu độ của Thiên Chúa, thì mới được cứu sống. Cũng vậy, Con Người được giương cao trên thập giá là dấu chỉ ơn cứu độ và là nguồn sống cho nhân loại, nhưng chỉ những ai tin vào Người mới đón nhận được sự sống đời đời.

Như vậy, sự sống đời đời của những người tin xuất phát từ việc Đức Giêsu được “giương cao” trên thập giá. Sự sống đời đời ấy là sự sống của con cái Thiên Chúa. Đó là sự sống vĩnh cửu, bởi được thông phần vào sự sống Thiên Chúa. Vì thế sự sống đời đời là tròn đầy hạnh phúc, là ứa tràn sức sống, là viên mãn trường tồn. Như vậy, sự sống đời đời trào ra từ Đức Giêsu được “giương cao” là một thực tại cánh chung. Tuy nhiên, con người không phải đợi đến khi chết, không phải đợi đến ngày tận thế mới được hưởng nếm; nhưng trái lại, đối với những ai tin vào Đức Giêsu được “giương cao”, thì sự sống đời đời ấy đã được ban cho họ ngay trong cuộc sống hiện tại này. Dù vậy, sự sống đời đời mà các Kitô hữu đang có nơi mình cũng mới chỉ là việc “nếm trước” sự sống sung mãn đích thực mà Đấng được “giương cao” sẽ ban cho họ trong ngày sau hết.

Tóm lại, qua việc “giương cao” là chịu chết, sống lại và lên trời, Đức Giêsu đã trở nên nguồn ơn cứu độ cho những ai tin vào Người.

Bài 4. Ðức Giêsu là Ðấng Cứu Ðộ
An Phong op 

Hôm nay Tin mừng tường thuật cuộc đàm thoại giữa Chúa Giêsu với ông Nicôđêmô; và Ðức Giêsu khẳng định chỉ có Ơn Cứu Ðộ nơi Con Một Thiên Chúa, Ðấng chịu treo trên thập giá, và là nguồn sống cho nhân loại. Cuộc đối thoại nhắc lại thời kỳ dân Do Thái lưu lạc trong sa mạc; họ kêu trách Chúa và Môsê; rồi rắn bò ra cắn chết nhiều người. Nhưng nhờ Môsê can thiệp, Thiên Chúa đã chữa lành Dân nhờ một biểu tượng : con rắn đồng được treo lên.

Nhưng “con rắn đồng” và việc chữa lành rắn cắn chỉ là hình bóng ám chỉ Ơn Cứu Ðộ thực sự cho tất cả nhân loại đang bị đè bẹp dưới ách tội lỗi : Ðức Giêsu chịu treo lên thập giá, ai tin tưởng nơi Ngài sẽ được cứu độ.

“Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng”, câu kinh quen thuộc đó biểu lộ tình trạng tội lỗi của chúng ta trước Thiên Chúa và cộng đoàn. Thật vậy, chúng ta là những người tội lỗi “trong tư tưởng, lời nói, và việc làm”, và hơn thế nữa, trong “những điều thiếu sót”, tức là những điều chúng ta phải làm nhưng lại chưa làm hay không làm để xây dựng cuộc sống nhân loại tốt đẹp hơn. Từ ngày Adam Eva phạm tội, con rắn cám dỗ vẫn chạy quanh khắp nơi, rình cắn mọi người, con rắn của ích kỷ, tham lam, dục vọng, hờn giận, oán ghét… Vâng, ta thấy có đủ mọi hình thức, mọi tình trạng của “bệnh tật” phát sinh từ con rắn tội lỗi ấy. Mỗi người chúng ta có thể nghiệm thấy sự hoành hành của tội lỗi trong con người mình.

May thay, chúng ta không chết, chết vì thất vọng, chết vì đánh mất tính người; bởi vì có nguồn sự sống tuôn trào tự thập giá và Phục sinh của Ðức Kitô, Ðấng cứu độ chúng ta; tình yêu của Người giúp ta vượt thắng ích kỷ, oán hờn; sức sống của Người giúp chúng ta vượt qua dục vọng, yếu đuối… Chỉ có Người là thầy thuốc chữa lành “bệnh tật tâm hồn” của chúng ta, miễn là chúng ta biết nhìn lên Người, tin tưởng và yêu mến Người.

Ơn Cứu Ðộ của Thiên Chúa vẫn đang hiện diện; chúng ta hãy kêu cầu Người : “Xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ”; và Người sẽ trở nên nguồn sống, mang lại cho chúng ta ánh sáng, hy vọng, niềm vui và hạnh phúc.

Lạy Chúa Giêsu,
Chúa đã cứu độ nhân loại bằng cái chết trên thập giá,
cái chết vì tuân phục Thánh Ý Chúa Cha
và vì yêu thương con người;

Xin cho chúng con biết tin tưởng nơi Người,
bước theo chân Người trên con đường hy sinh và phục vụ.

 

Bài 5. Rắn Đồng
Như Hạ op

Con rắn đã bò vào lịch sử nhân loại, để lại những dấu vết không đẹp. Nhưng có một con rắn tượng trưng cho uy quyền cứu độ, chứ không đẩy xô con người xuống hố diệt vong. Ðó là con rắn đồng trong sa mạc. “Ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc,” (Ga 3:14) để “tất cả những ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đó, sẽ được sống” (Ds 21:9). Con rắn đã mang một bộ mặt mới kể từ ngày Thiên Chúa tìm cách cứu con người khỏi hố diệt vong.

TÌNH YÊU BA CHIỀU

Trên cây thập giá, Ðức Giêsu đã thiết lập được một tương quan ba chiều với Chúa Cha, loài người và thụ tạo. Người đã phải trả một giá rất đắt. Nếu Thiên Chúa đã không thương yêu thế gian tột độ, không bao giờ có cuộc hi sinh lớn lao đó. Ðức Giêsu xứng đáng là một vị thẩm phán tối cao, có quyền xét xử muôn dân. Nhưng Người đã không đến với tư cách đó. “Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người mà được cứu độ” (Ga 3:17). Sự công chính đã mang bộ mặt tình yêu. Chính vì tình yêu đó, Ðức Giêsu đã phải hi sinh tới giọt máu cuối cùng trên thập giá. Ðó là giá rất đắt. Con Thiên Chúa đã phải trả cho chúng ta.

“Như ông Môsê giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời” (Ga 3:15). Như vậy cuộc hi sinh lớn lao đó nhằm lập tương quan thân ái với nhân loại và vạch ra con đường đi tới hạnh phúc vĩnh cửu. Con đường đó là tin vào tình yêu Thiên Chúa nơi Con Người chịu treo trên thập giá. Ðó là con đường thoát vòng tử thần, tới nguồn sống thật. Chính Ðức Giêsu quả quyết : “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16).

Thập giá đã trở thành trung tâm chương trình giải thoát của Thiên Chúa (Faley 1994: 262). Ngước mắt nhìn lên thập giá, chính là hướng về nguồn ơn cứu độ. Bởi vì chính trên cây thập giá Ðức Giêsu đã mạc khải tất cả sự thật về bản tính mình. “Khi các ông giương Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu” (Ga 8:28). Ðức Giêsu chính là Ðức Chúa và nguồn sống cho vạn vật và con người. Không tin vào chân lý đó tức là tự lên án chính mình. “Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3:17). Chính cây thập giá sẽ phân nhân loại làm hai hạng người tin và không tin. Thập giá không phải là dấu chỉ của án phạt. Nhưng không tin cái chết của Ðức Giêsu có sức mạnh cứu độ mới dẫn tới hư vong. “Ðức Giêsu là cơ hội chứ không phải là nguyên nhân” (Fahey 1994:263) của việc phán xét. Cây thập giá là một biểu tượng cho mọi người thấy tình yêu Thiên Chúa mãnh liệt tới mức nào.

Như vậy cây thập giá đã chứng tỏ tình yêu riêng của Ðức Giêsu (Ga 13:1) và cả tình yêu Thiên Chúa Cha đối với nhân loại. Tình yêu là động lực chi phối toàn bộ sứ mạng Ðức Giêsu dưới thế. Tình yêu trở thành hồng ân vĩ đại, vượt quá tầm hiểu biết.

Quả thực, “Thiên Chúa giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta, nên dầu chúng ta đã chết vì sa ngã, Người cũng đã cho chúng ta được cùng sống với Ðức Kitô. Chính do ân sủng mà anh em được cứu độ” (Ep 2:4-5). Trong nguồn ân sủng đó, chúng ta trở thành “con cái ánh sáng” (Ep 5:8). Bởi vì chính Ðức Giêsu là “ánh sáng đã đến thế gian” (Ga 3:19). Không phải ai cũng đón nhận được hồng ân cao cả đó. Thực tế, “người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa” (Ga 3:19). Chính việc làm đã tạo thành một bản án đeo vào cổ họ. Số phận thật tang thương ! Ðịnh mệnh thật khốc liệt !

Nhưng trong quá khứ, ngay lúc bi tuyệt vọng nhất, dân Chúa đã thực hiện tất cả giấc mơ. Chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể tạo nổi lịch sử ! Thực vậy, “để lời Ðức Chúa phán qua miệng ngôn sứ Giêrêmia được hoàn toàn ứng nghiệm, Ðức Chúa tác động trên tâm trí Kyrô, vua Ba tư” (Sb 36:22), để vua “ra lệnh phục hồi Giuđa, hồi hương dân cư và tái thiết đền thờ” (Fahey 1994:261). Bởi đó tin vào Thiên Chúa không bao giờ tuyệt vọng. Thiên Chúa luôn có sẵn những giải pháp tốt đẹp nhất.

TRỜI BỪNG SÁNG

Thiên Chúa chính là nguồn hi vọng cho những ai tin tưởng tuyệt đối nơi Người. Nói khác, niềm tin và hi vọng luôn đi song đôi. Tin là con đường dẫn tới sự sống. Ðức Giêsu đã củng cố tinh thần những ai run sợ trước thần chết : “Ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16). Ðức tin trở thành một thành phần cần thiết của cuộc sống. Theo Martin Luther, “đức tin là một thực tại sống và bởi thế gồm những nhân đức thương yêu và hi vọng, kinh nghiệm sống hiệp nhất với Thiên Chúa, và khát vọng sống kết hiệp với Chúa tới muôn đời” (Cook 1995:512). Chính vì thế, không tin, cuộc sống trở thành trống rỗng và vô vị.

Khi tin, con người sẽ thấy mình vươn tới đỉnh cao của tình yêu Thiên Chúa. Vì chính Thiên Chúa đã giải thoát chúng ta không những khỏi ách nô lệ tội lỗi, nhưng còn khiến chúng ta tự do yêu thương nhau và bởi đó đem ánh sáng Thiên Chúa chiếu soi trần gian (Disciples in Mission, Homily Guide, Lent Cycle B 1999:19). Từ tình yêu tới tình yêu. Từ ánh sáng tới ánh sáng. Sống trong tình yêu là đi trong ánh sáng. Ðức Giêsu muốn chúng ta là “ánh sáng cho trần gian” (Mt 5:14). Nguồn cung cấp ánh sáng chính là tình yêu, một tình yêu phải được sự thật giải thoát. Ðó là lý do tại sao Chúa nói “kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng” (Ga 3:21). Ði trong tăm tối trần gian hay sống dựa trên sự lừa đảo, gian dối, không thể tìm được nguồn sống và nguồn sáng đích thực. Do đó cuộc đời mãi mãi là nô lệ.

Muốn thoát khỏi cảnh nô lệ lầm than đó, phải “tin tưởng và xác tín rằng chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể cứu chúng ta. Tin là phó thác những chương trình hiện tại và vận mệnh đời đời nơi Ðức Kitô. Tin là vừa xác tín lời Chúa có thể thực hiện và cậy dựa vào quyền năng biến đổi của Người” (Life Application Study Bible 1991:1878). Một khi xác tín như thế, chúng ta sẽ thay đổi toàn bộ, từ não trạng đến cái nhìn và nếp sống. Từ nay không còn gì xảy ra ngoài chương trình đầy tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Ta sẽ “bắt đầu lượng định tất cả sự việc xảy ra theo nhãn quan vĩnh cửu” (Life Application Study Bible 1991:1878).

Hơn nữa, tin tưởng còn có nghĩa là “làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa toàn thắng trên quyền lực sự dữ trong chúng ta và trên thế giới” (Disciples in Mission, Homily Guide, Lent Cycle B 1999:19). Niềm tin không bao giờ bất động hay tiêu cực, nhưng luôn thúc đẩy con người đi tới tha nhân và hi sinh bản thân để lôi kéo mọi người vào cuộc sống hạnh phúc và đầy yêu thương của Thiên Chúa. Không có niềm tin ấy, người ta chỉ tìm cách hi sinh tha nhân cho những mục tiêu trần tục. Ðó là điều những người vô thần đã làm. Ðứng trước đài kỉ niệm Holocaust ở Giêrusalem, tưởng nhớ hằng triệu nạn nhân vô tội của chũ nghĩa Nazis, ÐGH Gioan Phaolô II nói : “Chỉ có chủ thuyết không có Thiên Chúa (vô thần) mới có thể tính kế và thực thi sự tiêu diệt toàn bộ khối người như vậy” (VietCatholic 23/3/2000). Những hành động cuồng điên đó không những phát xuất từ niềm tin vô thần, nhưng còn là kết quả của những thất vọng lớn lao. Thất vọng đã xô đẩy mọi người vào thất vọng.

Nhưng “ngay trong những giờ tuyệt vọng, không phải mọi ánh sáng đều đã tắt hết đâu” (Gioan Phaolô II, VietCatholic 23/3/2000). Lý do vì ngay lúc khốn cùng và nguy hiểm nhất, người tín hữu vẫn có thể thưa với Chúa: “Con đây vẫn tin tưởng nơi Ngài, lạy Chúa, con dám thưa rằng: Ngài là Thượng Ðế của con.” (Tv 30:15) Nói lên được điều đó thật là can đảm. Ngày nay vẫn còn rất nhiều tâm hồn can đảm như thế nơi những Kitô hữu trên quê hương Việt Nam.

 

Bài 6. Con loài người phải được giương cao
Fr. Jude Siciliano, OP.

Thưa quí vị. Câu truyện dưới đây tác giả đặt sau bài suy gẫm, kiểu như để đọc thêm. Người dịch lại chuyển lên đầu, để giúp minh hoạ cho nội dung bài Tin mừng hôm nay. Lý do là độc giả Việt Nam không thích suy luận trừu tượng, ưa những gì cụ thể. Truyện của nữ tác giả Ann Lamott trong sách Bird by Bird (Từng Con Chim).

Một em bé trai tám tuổi có người em gái sáu tuổi đang hấp hối chết vì bệnh ung thư máu. Ðể cứu được bệnh nhân người ta cần đến một loại máu tương tự. Cha mẹ giải thích cho con trai là đi thử máu để xem có thích hợp với máu của em gái không ? Em nhanh nhẹn bằng lòng. Sau khi thử, hai loại máu hoàn toàn am hợp. Rồi các bác sĩ đề nghị em cho em gái mình vài phân khối máu để cứu em. Ðứa anh lưỡng lự nói để suy nghĩ xem sao qua một đêm.

Sáng hôm sau, vừa thức dậy, em chạy đến phòng cha mẹ trả lời là em sẵn sàng hiến máu. Cha mẹ vui mừng đưa em vào bệnh viện, nơi con gái đang nằm chờ chết. Người ta đưa em lên giường để hút máu nơi cánh tay. Sau đó người ta tiếp máu cho bệnh nhân. Chỉ một vài lượng máu mà đứa con gái nhỏ thoát khỏi thần chết. Mọi người vui mừng. Một bác sĩ đến giường người cho máu để xem lại sức khỏe cho em. Ðứa anh trai đang nằm lim rim mở to đôi mắt hỏi : “Thưa bác sĩ bao lâu nữa thì con mới chết ?” Bác sĩ mỉm cười. Với tâm hồn ngây thơ, em cứ ngỡ cho máu như thế là mình sẽ chết thay cho em gái.

Trong câu truyện với Nicôđêmô Chúa Giêsu cũng đề cập đến việc Ngài sẽ chết thay cho nhân loại. Nhưng là chuyện tương lai, cho nên khó mà nắm bắt được hết ý nghĩa. Giọng văn của thánh Gioan thâm trầm, súc tích lại càng làm cho độc giả bối rối hơn. Mỗi câu, mỗi chữ gói ghém nhiều tư tưởng, đến nỗi dù đã ở trong nghề giảng thuyết nhiều năm, tôi vẫn phải ngồi bóp chán suy nghĩ lâu giờ. Bài Tin mừng đúng là một thách thức cho những khối óc lớn, làm sao giới lao động hiểu nổi ? Tuy đã đọc nhiều lần trước đây, hôm nay tôi vẫn phải tự hỏi: Chúa Giêsu ám chỉ điều chi trong câu truyện thù tiếp với ông Nicôđêmô ? Làm thế nào mà giải thích nó cho thính giả bình dân ?

Phúc âm nhất lãm dễ hiểu hơn. Các câu truyện của chúng ngắn gọn và sống động. Hình ảnh rất cụ thể, dễ cho các nhà rao giảng khai triển đề tài. Tuy nhiên nhiều linh hồn đạo đức lại thích Phúc âm của thánh Gioan. Họ có thể ngồi hàng giờ, giở từng trang, nghiền ngẫm từng chữ cho tâm trí thoả niềm nguyện ngắm. Ðoạn Tin mừng hôm nay thêm phần rắc rồi ở chỗ nó được trích ra ở khoảng giữa bài huấn giáo thật dài Chúa ban cho ông Nicôđêmô (3,1-21), bởi vậy khi đọc lên, người ta nghe như hoàn toàn lạc lõng và quá nặng nề đối với một cộng đoàn quen thuộc những bài đọc dễ hiểu hơn. Tôi cũng không dám chắc bài đọc 1 trích từ sách 2 Biên Niên Sử có thoáng hơn bài Tin mừng chăng ? Xem ra nó là một bản tóm lược lịch sử cứu độ và như vậy nó cũng gây khó khăn không ít cho những người rao giảng. Khi đọc lần đầu tôi thấy chúng mơ hồ và có rất nhiều giọng điệu thần học bí nhiệm.

Rào trước đón sau như vậy tôi mới dám bầy tỏ trực giác của mình về nội dung Tin mừng, tuy nhiên cũng chưa thể đi thẳng vào đề tài, xác địch ngay những điều Phúc âm muốn nói, mà phải suy gẫm hàng giờ xem bằng những hàng chữ này, Thánh Thần muốn mặc khải những chi cho linh hồn tôi và linh hồn các thích giả của tôi.

Ðiều đầu tiên tôi khám phá ra trong bài huấn từ,Chúa Giêsu nhiều lần quy chiếu về lịch sử cổ xưa của dân tộc Do thái, đặc biệt về hành trình vượt sa mạc, tiến vào đất hứa. Trong mùa chay này giáo xứ chúng ta cũng có nhiều cuộc hành trình thiêng liêng tương tự. Phải lợi dụng chúng để chỉnh đốn lại tâm hồn mọi người. Vừa thoát khỏi ách nô lệ, Ai cập dân Israel tay sách, nách mang vượt qua nhiều con đường dài, khô cằn, vất vả, họ trở nên mỏi mệt, kêu trách ông Môisen đã hành hạ họ và như thế gián tiếp ta thán Thiên Chúa : Sách Dân số ghi lại như sau: “Từ núi Ho, họ lên đường theo Biển sậy, vòng qua lãnh thổ Êdom, trong cuộc hành trình qua sa mạc, dân Israel mất kiên nhẫn, họ kêu trách Thiên Chúa và ông Môise rằng: “Tại sao lại đưa chúng tôi ra khỏi đất Ai cập, để chúng tôi chết trong sa mạc ?” (4,21). Thiên Chúa nổi giận với họ, vì họ đã bất trung. Ngài cho rắn độc từ trong rừng bò ra cắn chết rất nhiều người. Các nhà chú giải cắt nghĩa rằng, đây là một loài rắn độc. Từ “Saraph” nghĩa là rắn lửa. Gọi như vậy vì các vết thương đỏ lên, rất độc và đau đớn.

Ðiều thứ hai là: ông Nicôđêmô đến nói chuyện với Chúa Giêsu vào ban đêm. Một người đang ngồi trong bóng tối tìm đến Ánh sáng soi đường. Và ông được bảo cho biết Ðức Chúa trời phán xét thế gian. Ý tưởng thật dễ sợ. Những ai quen ăn ở độc ác nghĩ đến điều Thiên Chúa phán xét hẳn phải rùng mình sợ hãi. Ðây không phải là chuyện đùa, phép công thẳng của Ngài đã từng được minh chứng qua dòng lịch sử. Cả một dân tộc bị Chúa phạt thua trận, đi đầy, thành quách bị phá đổ, cửa nhà tan hoang, không còn nghi lễ, không còn tư tế, trẻ nhỏ bị sát tế dâng tiến ngẫu tượng (bài đọc 1). Những ai ăn ở bất toàn cũng không thể đứng vững trước mặt Thượng Ðế. Nguyên nghĩ về truyện này mà thôi đã thất lạnh sương sống, nói chi đến thực tế hãi hùng ? Tuy nhiên án phạt của Thiên Chúa nối kết chặt chẽ với ơn thánh của Ngài.

Thật lạ lùng ! trí khôn nhân loại không thể hiểu thấu. Bởi lẽ án phạt lại là một hành động yêu thương. Thiên Chúa là tình yêu, nơi Ngài không có bóng tối đố kỵ, ghét ghen. Mọi hành động của Ngài đều là yêu mến, phát xuất từ tình yêu. Ðiều lạ lùng trên hết mọi sự lạ! Cho nên án phạt là từ chối tình yêu của Ðức Chúa Trời : “Kẻ không tin thì đã bị lên án rồi vì không tin vào danh Con Một Thiên Chúa.” Do đó án Ðức Chúa Trời tuyên trên nhân loại là sai con của Ngài, Ngôi Hai, nhập thể để giải phóng chúng ta khỏi tội, khỏi đêm tối Nicôđêmô. Ánh sáng đã đến trong thế gian chiếu trên bóng tối linh hồn mỗi người. Người ta muốn xa tránh ánh sáng này cũng không được nữa, bởi nó là ánh sáng thấu suốt mọi sự, chiếu trên tội lỗi của chúng ta và bày tỏ án phạt cho mỗi người. Nói cho đúng, dân Israel bị lưu đầy, đền thờ bị phá huỷ không phải vì Thiên Chúa mà do tội bât trung của mình, họ đã từ chối thắng trận, từ chối ơn bảo trợ của Ðức Chúa Trời.

Chúa Giêsu nhắc nhớ ông Nicôđêmô về biến cố rắn lửa bò ra cắn chết nhiều người Do thái vì bất trung. Ông Môsê đã làm gì để cứu dân ? Thiên Chúa truyền cho ông treo một con rắn bằng đồng lên cây cọc giữa sa mạc. Bất cứ những ai nhìn lên, kêu cầu con rắn đó đều được chữa khỏi. Vậy thì con rắn đồng đứng làm biểu tượng cho ơn cứu rỗi đến từ Thượng Ðế. Thiên Chúa một lần nữa lại là nguồn ơn giải phóng cho toàn dân, đúng như khi họ còn ở Ai cập. Với đức tin, một cái nhìn hướng về con rắn, hứa hẹn ơn cứu chuộc.

Ngày nay chúng ta dễ dàng nhận thấy ý nghĩa song hành giữa Chúa Giêsu chịu chết trên cây thánh giá và con rắn đồng của Môsê. Nhưng đối với ông Nicôđêmô thì không, ông chưa thể nhìn ta vế thứ hai của câu truyện, vì thế ông chưa hiều được, ông cần cần nhờ sự soi sáng đến từ trời cao. Chúng ta cũng phải ngang qua những giây phút hoang địa của cuộc đời, những hoang tưởng trên con đường tiến về Thượng đế. Biết bao nhiêu cám dỗ xúi dục chúng ta thất vọng, mất tin tưởng vào sự cứu rỗi của Thiên Chúa, không phải chỉ trong những thử thách lớn, mà ngay trong các biến cố của cuộc sống hàng ngày, chúng ta cần phải thường xuyên dừng lại, nhất là mùa chay này, nhìn lên Chúa cứu thế để xin thêm đức tin, chỉnh đốn lại cuộc sống.

Ðến đây tôi nhớ đến bài hát nổi tiếng của Johnny Cash : “Tôi bước đi trên dấu đường đã vạch” (I walk the line). Anh hát về lòng trung thành của mình với người yêu : “Suốt cả thời gian ấy tôi đã mở to đôi mắt… bởi em là của tôi, tôi đang bước đi trên dấu đường đã vạch.” Hôm nay cũng là thời gian và cơ hội để chúng ta mở to đôi mắt, nhìn những dấu chân đi hoang của mình suốt năm qua. Ðặt ra những câu hỏi thích hợp để cật vấn lương tâm: Nếu tự do và mục tiêu của tôi là Ðức Chúa Trời, thì tôi đã suy nghĩ thế nào khi chọn lựa các quyết định thường nhật ? Tại sao tôi ngu xuẩn đến thế ? Tại sao tôi không bước đi trên dấu đường đã vạch từ khi chịu phép thanh tẩy ? Con đường hiện nay tôi đang tiến bước có dẫn đến Thiên Chúa hay không ? Chúa Giêsu đến để bật sáng lên ngọn đèn trong đêm tối tương lai, nhờ ánh sáng của Ngài mọi sự đã rõ ràng, chúng ta nhận ra các chướng ngại vật, bấy lâu làm bao người vấp ngã. Ðó là tham, sân, si, là các dục vọng, thói xấu làm điên đảo lòng người. Liệu chúng ta có cương quyết tránh xa ? Hay lại dấn thân sâu đậm vào chúng hơn nữa ? Ðâu là những con đường giả tạo chúng ta đã theo đuổi ? Lúc này, có đúng là chúng ta đang bước đi trên “dấu đường” Chúa Giêsu đã chỉ và ban ơn cho chúng ta dõi theo ?

Sự lượng định lại giúp dễ nhận ra những thực tại bất ổn trong lương tâm mỗi người, tuy rằng làm như thế có thể khiến chúng ta thất vọng, nhát đảm về mình. Nhưng xin hãy can đảm kết án mạnh mẽ những thiếu xót của lòng mình và lắng nghe sứ điệp Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô hôm nay. Ðừng liên tưởng về người khác mà là về chính bản thân.Thiên Chúa sẽ tuyên án trên chúng ta, cái án mà Ngài đã áp dụng cho toàn thể nhân loại: Sự tha thứ qua Ðức Giêsu Kitô chịu đóng đinh. Ðức tin chân chính sẽ khích lệ chúng ta ít nhìn về mình, nhưng về Chúa Giêsu, con rắn đồng treo trong “sa mạc” cuộc sống. Nhìn như thế sẽ giúp chúng ta được chữa lành nhanh chóng khỏi các vết thương do Satan, thế gian và xác thịt gây nên, hàn gắn các tương giao đã bị đổ vỡ, trái tim chai đá và độc ác, lòng đạo lạnh nhạt và muôn vàn thiếu xót khác.

Có tất cả hơn ba trăm lời tiên tri về Chúa Giêsu trong Kinh thánh Cựu ước. Ngài đã làm tròn tất cả. Hôm nay những hình ảnh được nhắc trong huấn từ Chúa dành cho ông Nicôđêmô là : Người Con duy nhất, Con Người, Con Một Thiên Chúa, Ánh sáng và Ơn cứu độ thế gian. Những tước hiệu này là đặc trưng của Phúc âm theo thánh Gioan. Nhưng cũng là tước hiệu thiết thân trong mỗi linh hồn tín hữu. Chúng mang nhiều tầng lớp ý nghĩa khác nhau, tuy nhiên, tất cả đều quy hướng về Chúa Kitô. “Con loài người” phải được “giương cao” là tư tưởng chủ đạo trong bài diễn từ. Và thực sự Chúa Giêsu đã được “giương cao” trên thập tự. Một đằng sự kiện này tố cáo chúng ta đã trung thành với Thiên Chúa thế nào ? Ðàng khác nó đòi hỏi chúng ta phải tiến bước ra sao trên con đường tự do. Sự dấn thân theo Chúa phải trả giá bằng hy sinh và đau khổ cá nhân. Nhìn Chúa đang chịu “dương cao” trên thánh giá, tức khắc chúng ta hiểu điều đó. Nhưng “giương cao” cũng còn có nghĩa là sống lại. Nếu chúng ta nhìn lên Ngài sống lại, chúng ta sẽ hiểu được rằng: Chẳng có tội lỗi nào mà Thiên Chúa không toàn thắng. Amen.

 

Bài 7. Thánh Giá Nguồn Ơn Cứu Độ
Lm. Jude Siciliano, OP (Chuyển ngữ FX Trọng Yên, OP)

Anh chị em thân mến,

Đối với một số người, nhà thờ là nơi họ đến để lẩn tránh những căng thẳng lo âu hàng ngày, đồng thời tránh những lo lắng của thời thế. Có người lại nói, nhà thờ là nơi hội họp, để cùng cầu nguyện xin Chúa an ủi, và Chúa đang lắng nghe cũng như sẵn sàng chữa lành và thêm sức mạnh cho họ. Thật đấy.

Nhưng mỗi lần đến nhà thờ, chúng ta đều thấy cây Thánh Giá, điều đó nhắc nhở chúng ta rằng: Nơi thờ phượng này không phải là nơi lẩn tránh trần gian, để mọi sự đều được rửa sạch và để cho chúng ta ở trong một thế giới khác, không hề biết đến sự đau khố và các mối xung đột của trần thế. Trái lại, giữa những bức tranh và hình tượng, những khăn bàn thờ ủi sạch, những chén thánh bóng loáng đều có cẩn Thánh Giá, cây Thánh Giá của đau khổ đã kết thúc đời sống trần thế của Chúa Kitô.

Trong khi thờ phượng, chung quanh đầy những cửa gương nhiều màu, ánh nến lung linh, tượng các thánh là các anh hùng đã đi trước chúng ta, đôi khi chúng ta có cảm nhận ở nơi thân thương này, khác với môi trường sống chung quanh chúng ta. Nếu chúng ta đang đau khổ, đang chán nản, đang bị đọa đày, và mong cuộc sống được giải thoát, chúng ta dễ bị cám dỗ cảm thấy như mình không thuộc về nơi đẹp đẽ này, cho đến khi chúng ta nhìn lên Thánh Giá.

Khi chúng ta làm dấu Thánh Giá lúc bước vào nhà thờ tham dự Thánh lễ và lúc ra về, khi chúng ta thấy Thánh Giá dẫn đầu đoàn rước đi vào nhà thờ trước Thánh lễ và đi ra sau lễ, chúng ta nên nhớ là hãy mang đến nhà thờ những đau khổ, những điều thiếu may mắn, và cả những tội lỗi của chúng ta nữa. Vì chính nhờ cây Thánh Giá mà tất cả đời sống của chúng ta đều được đón nhận vào Thánh lễ, nhất là những khi chúng ta bị đau khổ, thất bại và chán nản đến cùng cực.

Cây Thánh Giá là điểm tựa cho chúng ta ở nơi nầy. Nó cho chúng ta biết chắc là Thiên Chúa không phải là Đấng từ trên cao xa đang lạnh lùng nhìn xuống chúng ta, nhưng Ngài là Đấng đang đồng hành với chúng ta ngay từ thuở Ngài ra đời ở Bêthlêhem: Ngài đã là người di cư cùng với cha mẹ, phải chạy trốn một vị vua muốn giết Ngài. Kế đến, Ngài phải sống tha phương nơi xứ lạ; làm nghề mộc sinh sống qua ngày; sống trong một làng nhỏ đang bị ngoại bang đô hộ; Ngài cũng có những bạn bè thân quen; cũng thích ăn uống tiệc tùng; và rồi có người bạn đã thề hứa sẽ luôn ở cận kề Ngài đến cùng, nhưng đến lúc bị các thầy tư tế ruồng bắt trao Ngài cho đồng bọn để xử tử, lại bỏ rơi Ngài cho người ta chế nhạo và hành hạ cho đến chết.

Nếu chúng ta tự hỏi Chúa ở đâu khi đời sống chúng ta quá đổi truân chuyên, hay đang giữa Thánh lễ trọng thể kính thờ Chúa, mà sao chúng ta lại cảm thấy cô đơn. Hãy nhìn lên Thánh Giá, đó chính là nhà của chúng ta. Thập giá là một hình cụ dùng để xử tử, hình cụ này làm cho phạm nhân hoảng sợ đến nổi phải thú nhận tội. Nó còn dùng để xử tử các nô lệ, và những kẻ tạo phản. Nó không được dùng cho công dân của đế quốc La Mã. Thập giá không những là hình cụ tàn khốc để kéo dài cơn hấp hối của tội nhân, mà nó còn làm cho những người đứng nhìn lên cũng phải khiếp đảm. Chúng ta không muốn xem những cảnh bạo lực trên phim ảnh, hay trên truyền hình; nên càng không muốn nhìn thấy cảnh tượng rùng rợn của người bị đóng đinh treo trên thập giá cho đến chết. Thập giá nhắc cho một dân tộc bị đô hộ biết rằng họ có thể bị đánh đập và ném ra ngoài như cỏ rác, nếu bị chính quyền La-Mã kết tội, hay không tuân lệnh trên như Chúa Giêsu.

Chúa Giêsu làm cho đế quốc sợ vì Ngài nói đến vương quốc Ngài trải rộng không biên giới; một vương quốc mà các công dân đều bình đẳng; một vương triều không có người nhiều đặc quyền đặc lợi và thứ dân hạ đẳng; nơi có những người không thể hòa nhập được, khó trở thành như là thành viên của cộng đoàn; nhưng ở đó, tất cả các thành phần khác nhau đều được tôn trọng; và quyền bính không tập trung vào một số ít người, nhưng tình thương và sự phục vụ sẽ thu hút nhiều thành phần trong các thành viên. Chúa Giêsu gọi đó là Vương Triều Thiên Chúa. Những kẻ nghịch với Ngài thì họ cho đó là chống lại tôn giáo và chính trị của triều đại họ, nên họ muốn đàn áp sự chống đối ấy.

Thánh Kinh cho chúng ta biết Thiên Chúa dùng uy quyền một cách khác: Ngài thương yêu chúng ta, và cho chúng ta thấy tình thương đó mang hình dáng một người phục vụ. “Vì Thiên Chúa đã yêu thế gian…” và Ngài thể hiện những động thái để chứng tỏ lòng Ngài thương yêu chúng ta. Và Ngài cũng không từ chối ngay cả Con yêu dấu của Ngài. Thiên Chúa muốn lời rao giảng và các dụ ngôn về tình yêu thương của Chúa Giêsu trở nên hồng ân cho tất cả mọi người, kể cả những lãnh đạo tôn giáo và chính trị. Nhưng, Chúa Giêsu lại trở nên người đe dọa họ, họ phải ngăn chận và phá tan Tin mừng Ngài mang đến cho thế gian.

Nhưng Chúa Giêsu không muốn thối lui, trái lại, Ngài vẫn giữ Tin mừng Ngài mang đến từ lúc Ngài mới bắt đầu rao giảng như chúng ta nghe hôm nay. Ngài không e ngại những chống đối, đe dọa đến đời sống của Ngài. Thánh Gioan nói, vì yêu chúng ta nên Thiên chúa đã để Chúa Giêsu bị bắt, bị ức hiếp, bị xét xử và chịu án tử hình để tuyên xưng tình thương ấy. Bây giờ, khi nhìn lên Thánh Giá, ai cũng hiểu được ý định Thiên Chúa thương yêu chúng ta dường bao. Từ trên Thánh Giá, Chúa Giêsu tiếp tục nêu cao tình thương của Thiên Chúa đối với tội nhân, khi Ngài tha tội cho người trộm lành bị đóng đinh cạnh Ngài trước mặt những kẻ giết hại Ngài.

Khi cây Thánh Giá đã dựng lên và Chúa Giêsu đã chết, sự dữ và sức mạnh bạo lực có vẻ như thắng thế, và vẫn còn tiếp diễn. Những hy vọng của dân chúng một lần nữa tan biến. Có vẻ như không gì có thể ngăn cản được bạo lực và sự dữ. Dân chúng bị một mảnh lực lôi cuốn họ xuống ngày càng sâu thẳm. Đến lúc cuối đời, họ không còn chút hy vọng nào, khi mọi người đều khiếp sợ trong vô vọng thì Chúa Giêsu hiện ra từ cõi chết. Ngài sống lại và mang đến những lời hứa: ngày hôm nay “ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”(Ga 3:16)

Chúng ta đang ở giữa mùa chay. Trong mùa ơn thánh này, chúng ta nên nghe đi nghe lại lời Chúa trong Chúa nhật thứ nhất mùa chay “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”(Mc 1:15). Và chúng ta cố gắng hết sức tuân nghe lời Chúa để lánh xa tội lỗi và trở về theo lời mời gọi của Thiên Chúa qua Đức Kitô. Thánh Phao-lô nhắc chúng ta hôm nay: Nhờ ơn Chúa mà chúng ta được cứu rỗi, chứ không phải bởi ý lực của chúng ta. “Chính do ân sủng mà anh em được cứu độ”(Ep 2:5). Nếu chúng ta còn băn khoăn gì về thánh ý Chúa trong sự thương yêu chúng ta, hãy nhìn lên Thánh Giá đưa cao dẫn đầu đoàn rước vào thánh lễ hôm nay. 

 

Bài 8. Con Người Được Nâng Cao
G. Nguyễn Cao Luật op

Thế gian không bị từ bỏ

Trong phần thứ hai của cuộc đối thoại với Ðức Giêsu, ông Nicôđêmô không nói gì nữa, tuy vậy, phần này vẫn như là Ðức Giêsu đang ngỏ lời trực tiếp với ông. Qua vài hàng ngắn gọn, tác giả sách Tin Mừng tóm tắt toàn bộ chương trình yêu thương của Thiên Chúa được thực hiện trong Ðức Giêsu Kitô.

Thiên Chúa và thế giới

Thiên Chúa hằng mong muốn liên kết con người với toàn bộ công trình sáng tạo, để các công việc họ làm cũng phải là công trình của Thiên Chúa. Chính vì thế, Thiên Chúa không kết án thế gian : ngược lại, Người mong muốn thế gian được cứu thoát. Khát vọng này của Thiên Chúa được diễn tả qua dấu chỉ hữu hình là Chúa Con được sai đến thế gian.

Thế nhưng, thế gian tức là con người là một thực tại đầy những xáo trộn, trong đó có một số người ưa thích bóng tối hơn là ánh sáng. Thái độ này không được diễn tả qua ngôn ngữ hay tình cảm, nhưng là qua chính cuộc sống của con người, tức là qua cách thức họ sống, qua công việc họ làm.

Người Con và hai chiều hoạt động

Ðức Kitô, Con Thiên Chúa đã được sai đến trần gian, Người đã từ trời xuống. Người là dấu chỉ về ơn cứu độ được ban tặng cho hết mọi người, là dấu chỉ của sự sống được trao ban. Ý nghĩa này cũng giống như dấu chỉ Thần Khí được ban xuống trong cuộc sáng tạo và khi ông Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho Ðức Giêsu. Thế nhưng, Người Con đã được nâng lên cao, và đưa tất cả những ai tin vào Người cùng lên cao, hướng về trời. Việc nâng cao này là một cuộc thăng thiên nhờ cây thập giá được dựng lên trước mặt nhân loại.

Ánh sáng và bóng tối

Trong mối tương giao với Chúa Con, không thể có chuyện lấp lửng hay mưu mô lắt léo : hoặc là tin vào Người và được sống, hoặc là không tin và bị kết án. Sự lựa chọn của con người có nghĩa là chấp nhận ánh sáng hay bóng tối, là có thái độ mở rộng hay khép kín. Ai chấp nhận bóng tối tức là để cho bóng tối vây phủ, không để ai có thể nhìn thấy, cả Thiên Chúa lẫn người khác. Ai chấp nhận bóng tối tức là không sống vì tình yêu, không có sự sống đích thực : như vậy họ đã bị loại trừ và kể như đã chết.

Ngược lại, ai chấp nhận ánh sáng là người sẵn sàng nhận ra rằng những công việc mình làm chính là những công trình của Thiên Chúa. Họ là người luôn sống hoà hợp với tình yêu được tỏ bày trong Ðức Kitô, mặc dù họ chưa gặp thấy Người. Bài Tin Mừng là một hình thức diễn tả về cuộc phán xét, nhưng cũng rất gần với Mt 25.

Dấu chỉ của tình thương

Hình ảnh Ðức Giêsu tắt thở, thân treo trên thập giá vẫn là một dấu ấn đậm nét trong tâm hổn và trí nhớ những tín hữu thời đầu. Năm này qua năm khác, họ cố gắng khám phá và đánh giá lại hình ảnh này.

Theo họ, trong dấu chỉ thập giá, Thiên Chúa có mặt trọn vẹn và bày tỏ toàn bộ bí mật của Người. Nhưng thật là khó mà hiểu thấu được dấu chỉ này. Không thể nào không nối kết hình ảnh Ðức Giêsu được giương cao trên thập giá với hình ảnh con rắn đổng được ông Mô-sê treo lên trong sa mạc. Trong cuộc hành trình gian khỗ tại sa mạc, người Do-thái đã chống đối Thiên Chúa và họ đã bị rắn độc cắn. Nhưng Thiên Chúa đã yêu thương họ như Người vẫn yêu thương. Nếu ai bị rắn độc cắn mà nhìn lên con rắn đổng, người ấy được chữa lành. Nhờ vậy dân Do-thái đã được cứu thoát.

Trong khi tìm hiểu về dấu chỉ thập giá, họ cũng cảm nhận được rằng Ðức Giêsu chịu treo trên thập giá, không phải chỉ có mục đích cứu thoát một dân tộc, nhưng là toàn thể nhân loại. Về phần mình, thánh Gioan cũng ghi khắc trong tâm khảm mình dấu chỉ về con rắn và dấu chỉ về Con Người được giương cao trên thập giá, bởi vì ông xác tín rằng “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi …”

Thiên Chúa yêu thương nhân loại đến nỗi đã ban tặng phần quý giá nhất, tức là Người Con duy nhất. Ban tặng và để Người Con ấy phải chết, chết đau thương trên thập giá. Thiên Chúa quả là còn đi xa hơn tổ phụ Áp-ra-ham. Tất cả những ai không làm điều ác và sống theo sự thật thì dần dần có thể hiểu được dấu chỉ mang đầy nghịch lý tức là cây thập giá. Nhờ bước đi theo ánh sáng, họ hiểu được thập giá muốn ám chỉ điều gì.

Quả thế, cây thập giá là dấu chỉ về một Thiên Chúa hết lòng yêu thương nhân loại. Người yêu thương nhân loại với tất cả sức lực của trái tim, với tất cả tình thiết tha. Người đã bày tỏ điều sâu kín nhất cho nhân loại là không kết án họ, không muốn họ phải chết, nhưng là làm tất cả để họ được sống, sống hạnh phúc và mãi mãi. Người đã liều mình trao phó trọn vẹn cho con người và chờ mong con người đáp trả.

Thập giá cũng là dấu chỉ về sự điên cuồng do tình yêu dẫn dắt. Thiên Chúa làm người, mặc xác phàm nhân loại : đó là điều không ai có thể tưởng tượng nỗi. Vì yêu mến, Thiên Chúa đã từ bỏ quyền năng tuyệt đối của Người, hay nói cách khác, Người đã sử dụng quyền năng ấy để phục vụ con người. Vì yêu mến, Thiên Chúa đã muốn đón nhận tất cả những khổ đau của nhân loại, và nhất là, đã đi đến tận cùng, tức là đón nhận cái chết … Quả là một mầu nhiệm không ai hiểu thấu. “Thiên Chúa giàu lòng thương xót và rất mực yêu thương chúng ta.” (Ep 2,4)

Gieo mình vào trong tình thương

Bài Tin Mừng đem lại cho chúng ta một an ủi lớn lao : tội lỗi của chúng ta không bao giờ có thể lớn hơn tình yêu của Thiên Chúa. Không khi nào tình yêu của Thiên Chúa chịu thua trước tội lỗi của chúng ta. Tất cả chúng ta đều được cứu : tình yêu của Thiên Chúa sẽ không chịu nhường bước trước tội lỗi của con người. Quả thật, nếu để tâm suy niệm, chúng ta sẽ hiểu rằng thập giá là dấu chỉ ban ơn cứu thoát chứ không phải để kết án.

Có đôi khi chúng ta bằng lòng với quan niệm xem thập giá của Ðức Kitô là một biến cố hoàn toàn có tính cách lịch sử. Thật ra, thập giá vẫn luôn là một biến cố giữa Ðức Giêsu và Chúa Cha. Với cái nhìn đức tin, thì thập giá là sự dâng hiến của Ðức Giêsu và Chúa Cha trao tặng chính Người Con duy nhất của mình. Trên thập giá, Ðức Giêsu chịu chết và Chúa Cha đón nhận cái chết đó. Thập giá vừa là một sự từ bỏ, vừa là một sự hiệp thông : xem như Chúa Cha từ bỏ Người Con yêu dấu của mình, nhưng thật ra là một sự hiệp thông sâu xa. Xem như Ðức Giêsu từ bỏ cuộc sống của mình, nhưng lại đón nhận sự sống một cách mãnh liệt và trọn vẹn.

Trong con người và cuộc đời của mỗi chúng ta, vẫn có những bóng tối và ánh sáng. Ông Nicôđêmô đã ngần ngại, không dám mở rộng tâm hổn trước ân huệ của Thiên Chúa. Chúng ta có thái độ nào ? Chúng ta có sẵn sàng thực hiện một bước nhảy trong đức tin để được cứu thoát không ? Chúng ta có dám gieo mình vào trong tình yêu của Ðức Kitô, một tình yêu sẵn sàng đi đến cùng và chịu chết vì chúng ta không ? Chúng ta có muốn tiến bước theo ánh sáng, mỗi lúc một rạng rỡ hơn, hay cứ thích bước đi trong bóng tối của tội lỗi, của đam mê … ?

Nhờ Ðức Kitô chịu chết trên thập giá, tất cả nhân loại đã được đón nhận trong Người để cùng chịu chết. Nhưng mầu nhiệm này còn có ý nghĩa sâu xa hơn. Con Người đã đón nhận tất cả nhân loại vào mình lại bị nhân loại bỏ rơi. Con Người của toàn thế giới lại chịu chết một mình. Ðức Giêsu đã đi đến tận cùng của việc tự huỷ và đã dâng một của lễ tuyệt vời. Người đã chấp nhận sự từ bỏ này để thực hiện việc quy tụ tất cả nhân loại về một mối.

Sự cô đơn của Ðức Kitô đã đem lại hiệu quả là quy tụ trong hiệp nhất. Người đã để cho lưỡi đòng đâm thấu tim để rổi Người có thể xuyên thủng những bức tường cứng ngắc trong mọi tâm hổn. Người đã dang tay ra để nối lại những bến bờ, bởi vì chỉ có một Thiên Chúa ở trên tất cả và ở trong tất cả …

 

Bài 9. Tin yêu Chúa
Giacôbê Phạm Văn Phượng op

Chúa Giêsu dùng hình ảnh con rắn đồng để ám chỉ về cái chết cứu chuộc của Ngài. Con rắn đồng là gì ? Đây là một câu chuyện thời xưa được Chúa nhắc lại, khi dân Do Thái lang thang trong sa mạc trên đường về Đất Hứa, họ đã nhiều lần kêu trách Chúa, họ nói rằng : tại sao lại đưa họ vào sa mạc để họ phải khổ như thế này ? Số người Do Thái lúc đầu ra khỏi Ai Cập khoảng hơn hai triệu người, con số không phải nhỏ bé, họ được Chúa ban man-na ăn mỗi ngày, nhưng rồi họ cũng chán ngán, họ phàn nàn : chẳng có gì vui, chẳng có gì ngon, chỉ có mỗi man-na chán ngắt. Khi họ kêu trách Chúa như vậy tức là họ bày tỏ một tấm lòng hết tin tưởng, họ muốn quay trở về với kiếp nô lệ để được ăn củ hành củ tỏi, họ đã mất niềm tin vào Chúa. Có lần Chúa đã cho rắn lửa xuất hiện khắp nơi và cắn chết nhiều người, khi đó họ mới nhớ ra tội mình bội tín, bất trung với Chúa, họ ăn năn và cầu cứu với ông Mô-sê xin Chúa tha thứ. Chúa động lòng thương bảo ông Mô-sê làm một con rắn bằng đồng treo lên cây cao, để bất cứ ai bị rắn lửa cắn, nhìn lên con rắn đồng này thì được cứu sống.

Thật ra con rắn đồng kia chỉ là một thứ kim loại vô tri vô giác, tự nó không có khả năng hay quyền hành gì để cứu giúp người ta lúc ấy, yếu tố cứu giúp người ta chính là đức tin. Việc nhìn vào con rắn đồng kia là biểu hiệu một lòng tin vào Thiên Chúa, niềm tin từ bên trong phát ra bên ngoài bằng cái nhìn, nhờ đức tin mà Chúa đã cứu họ. Và đó là ý nghĩa của câu Chúa Giêsu nói với ông Nicôđêmô : “Ngày xưa, Mô-sê treo con rắn đồng thế nào thì Con Người sẽ bị treo lên như thế, để nhờ đó những ai tin nhận sẽ được cứu rỗi”. Nói vậy là Chúa có ý ám chỉ cái chết của Ngài, Ngài sẽ chết cách nào, Ngài sẽ bị treo lên thập giá để chuộc tội cho nhân loại.

Nói rõ hơn, ngày xưa, dân Do Thái muốn được khỏi bệnh rắn cắn thì nhìn lên rắn đồng, còn ngày nay, chúng ta muốn khỏi bị trầm luân, hư mất đời đời thì chúng ta cần tin vào Chúa Giêsu, nhận cái chết chuộc tội của Ngài, để Ngài đem hạnh phúc trường sinh cho. Nói như vậy là để chúng ta ý thức tình trạng tội lỗi của mình, nếu chúng ta không biết mình là người có tội, là người phải cần tới Chúa, thì cái chết của Chúa cũng giống như bao nhiêu cái chết khác, không liên quan gì đến mình, hay cùng lắm chúng ta coi cái chết của Ngài cũng như cái chết của một vị anh hùng, nếu như vậy thì cái chết của Chúa sẽ chẳng ảnh hưởng gì đến chúng ta, thái độ đó cũng chẳng khác gì thái độ của những người Do Thái xưa kia nhìn lên rắn đồng với cặp mắt nghệ thuật, nên vẫn bị chết. Chúng ta phải ý thức rằng tất cả chúng ta đều là những tội nhân, bị rớt xuống vực thẳm, không thể tự cứu nổi mình, chứ đừng nói cứu người khác, vậy cần phải có một người ở trên, ở ngoài cứu vớt chúng ta, đó là Chúa Giêsu, Chúa cứu chúng ta bằng cách chết thay cho chúng ta, nếu chúng ta tin nhận như thế là chúng ta đã bắt đầu đi vào con đường cứu độ của Chúa.        

Như vậy bài học Chúa Giêsu dạy đã quá rõ ràng, đó là chúng ta phải tin vào Chúa thì mới được cứu rỗi. Nói tới niềm tin chúng ta thấy sống trên trần gian này bất cứ ai cũng có niềm tin, lòng tin hay đức tin. Con người ta sống không thể nào thiếu vắng điều này, chúng ta không tin điều này thì tin điều khác, không tin người này thì tin người khác, chúng ta tin nhau, cha mẹ tin con cái, con cái tin cha mẹ, vợ chồng, bạn bè, trường học, trao đổi xã hội…đều lấy lòng tin làm căn bản. Từ một em bé đến trường, em có tin cô giáo dạy học được, em mới đi học, cuộc sống chúng ta trao đổi hàng quà, đồng tiền, công thợ…đều đặt vào lòng tin tưởng nhau, nếu không tin tưởng nhau chúng ta không thể nào gặp gỡ và nói chuyện với nhau được. Nói khác đi, chúng ta có gần gũi nhau hay không, thương yêu nhau hay không, điều đó cũng tùy thuộc vào lòng tin, chính lòng tin tạo nên hy vọng, tình yêu, một gia đình cùng một lòng tin “tát bể đông cũng cạn”. Như vậy, tin là chuyện bình thường trong cuộc sống, từ đó chúng ta dễ hiểu lòng tin trong lãnh vực tôn giáo, đối với chúng ta, đó là đức tin.

Cũng thế và hơn thế, Thiên Chúa chỉ đòi hỏi chúng ta phải có một đức tin sắt son vào Ngài, có bấy nhiêu thôi, nếu chúng ta không tin Ngài thì tin ai ? tin vào mình chăng ? tin vào tài trí, hy vọng vào chính mình, vào đời mình chăng ? Làm như vậy là gánh vàng đem đổ sông Ngô, là xây nhà trên cát. Chúng ta tin Chúa, chắc chắn rồi, chúng ta tin lời Chúa, cũng chắc chắn rồi, nhưng trước hết và trên hết, chúng ta phải tin Chúa thương yêu chúng ta. Chúng ta tin Chúa là cha rất gần gũi con cái, đùm bọc, che chở, quan phòng, rất toàn năng, đó là bấy nhiêu của lòng tin. Từ lòng tin đó chúng ta bắt đầu yêu Chúa. Chúng ta tin nên chúng ta yêu, hay yêu rồi tin cũng thế, chỉ biết rằng lòng tin nâng đỡ tình yêu, và tình yêu nâng đỡ lòng tin, có tin mới yêu, cũng như có yêu mới tin.

Chúng ta đang sống trong Mùa Chay, chúng ta đã đi được một nửa đường của Mùa Chay. Mùa Chay kêu gọi chúng ta ăn năn sám hối, sửa đổi đời sống. Chúng ta là những người tội lỗi, chúng ta tin Chúa yêu chúng ta hơn những người trần gian yêu chúng ta nhất, nên chắc chắn Ngài sẽ tha thứ cho chúng ta khi chúng ta xin lỗi Ngài. Vậy để biểu lộ lòng chúng ta tin yêu Chúa, chúng ta hãy ăn năn sám hối.

 

Bài 10. Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban Con Một
Lời Chúa và Thánh Thể

Con người phạm tội, mất tình nghĩa với Thiên Chúa, từ đây con người phải sống xa tình yêu của Thiên Chúa, phải vất vả và phải chết. Nhưng vì yêu thương Thiên Chúa đã không bỏ loài người chúng con sống trong tội lỗi mà đã hứa ban cho chúng con Người Con yêu dấu của mình, để cứu chúng con thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi. Trải qua dòng lịch sử, bằng cách này hay cách khác Thiên Chúa đã dùng các cha ông để đồng hành và dẫn dắt loài người chúng con trở về đất hứa, nơi mà vì phạm tội loài người chúng con đã đánh mất.

Hình ảnh tổ phụ Abraham hiến tế đứa con yêu dấu của mình làm của lễ dâng cho Thiên Chúa ; hay như hình ảnh Môsê treo con rắn đồng trong hoang mạc chính là những hình ảnh tuyên báo về một Giêsu sẽ được ban cho nhân loại, để cứu chuộc nhân loại và đưa nhân loại đến cùng Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã đến và đi sâu vào những khốn khổ tột độ của loài người chúng con, Người đã hạ mình thẳm sâu để gặp gỡ loài người trong tình trạng thảm hại nhất. Chúa Giêsu chính là món quà quý giá nhất Thiên Chúa đã ban tặng cho loài người chúng con, để qua cái chết của Ngài chúng con được cứu chuộc.

Thiên Chúa đã biết con đường mà Đức Giêsu đi qua sẽ là con đường của sự đau khổ, của sự chết, ấy thế mà Thiên Chúa vẫn để Con Một của mình đi. Điều này chứng tỏ tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người chúng con là vô bờ bến. Tất cả những tội luỵ của chúng con Thiên Chúa đều tha, nhưng Thiên Chúa đã không tha cho Người Con yêu dấu của mình khỏi chết. Thiên Chúa đã không cất chén đắng mà con yêu dấu của mình sẽ phải uống, vì Ngài biết rằng chỉ có cái chết trên thập giá mới có thể giải thoát con người khỏi tội và Thiên Chúa đã để Chúa Giêsu bước vào cái chết.

Lạy Chúa Giêsu Thánh thể !

Càng về cuối Mùa Chay, chúng con càng cảm thấy ẩn hiện cây Thánh giá trên đồi Golgôtha. Nhìn lên cây thánh giá, chúng con mới hiểu được tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng con thật lớn lao đến mức độ nào. Chúa phán cùng Nicôđêmô : “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một của mình, để tất cả những ai tin Con Ngài thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời”.

Đạo của Chúa là đạo tình yêu. Thập giá là biểu tượng của tình yêu tột cùng, không còn giới hạn nào nữa ! Có Thiên Chúa nào đã làm người với thân phận kiếp người ? Có Thượng Đế nào đã hạ mình làm tôi tớ vâng phục và vâng phục cho đến chết ? Có Đấng Tối Cao nào tự buộc mình chết trên thập giá một khổ hình độc ác nhất của trí khôn con người để cứu độ con người ? Đó chỉ có nơi tình yêu Thiên Chúa. Một tình yêu đã đi đến cái chết, để loài người chúng con xoá bỏ hận thù, ghen ghét, đố kỵ… để sống như những người con hiền từ của Thiên Chúa. Hình ảnh cái chết trên thập giá của Chúa Giêsu đã gợi lên cho chúng con thấy được hình ảnh của lòng thương xót, của bao dung tuyết đối, của một sự nhẫn nhục chiến thắng mọi hận thù, của sự hiền từ bất bạo động. Điều này khiến cho chúng con phải tha đến bảy mươi lần bảy.

Lạy Chúa ! chúng con tin vào một Chúa Giêsu bị đóng đinh. Như thánh Phaolô đã từng quả quyết “Tôi không rao giảng một Đức Kitô nào khác ngoài một Đức Giêsu bị đóng đinh”. Sống trong một xã hội mà hầu hết các giá trị được đo bằng vật chất phần nào đã làm cho chúng con khó sống đúng danh xưng là Kitô hữu. Bởi vì, Kitô giáo được xây dựng trên nền tảng một sự thật tuyệt đối nơi con Người Đức Giêsu Kitô, Ngài là sự thật và là sự sáng.

Đức Giêsu đã từng tuyên bố rằng “Tôi đến để cho thiên hạ được sống và sống dồi dào”. Vì yêu thương chúng con Chúa đã đến với Thập giá và bằng Thập giá, Ngài đã giải phóng chúng con khỏi những cản trở có thể ngăn cản chúng con đạt tới hạnh phúc vô tận. Giá trị cuộc sống mà Chúa Giêsu dành lại cho chúng con, lớn lao đến nỗi mọi của cải vinh hoa trần thế phải coi là thua kém. Cái giá mà Chúa Giêsu phải trả cho sự tự do của chúng con là chính sự sống của Người. Sự sống thần linh xuất phát từ cạnh sườn bị đâm thâu, từ các dấu đinh đâm thâu qua chân tay Ngài. Do đó thánh Phaolô đã thốt lên : “Thiên Chúa đã trả giá đắt mà chuộc lấy anh em” (1Cr 6, 20). Chúa không chấp nhận trở nên một người đơn thuần giữa chúng con, mà Chúa còn muốn hy sinh tính mạng như một giá chuộc để cứu thoát chúng con. Từng người trong chúng con có thể nói “Ngài đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi”.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã yêu thương chúng con đến nỗi hiến dâng mạng sống cho chúng con, xin cho chúng con trong cuộc sống cũng biết chia sẻ tình yêu của Chúa cho mọi người xung quanh, nhất là những người nghèo khổ, đói rách, bệnh tật… những người này họ cần lắm sự giúp đỡ của chúng con. Xin Chúa cũng ban cho chúng con luôn biết sống xứng đáng với tình yêu của Chúa, để qua con mọi người có thể nhận ra tình yêu của Thiên Chúa đang hiện diện. Amen

 

Bài 11. Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban Con Một
Antôn Nguyễn Thành Chương op

Trong suốt chặng đường lịch sử dân Do Thái trông chờ Đấng Cứu Thế. Thiên Chúa đã không ngừng tuôn đổ nhiều hồng ân cho họ: qua các tiên tri, các tổ phụ và chính nơi Đức Giêsu – Đấng mang ơn cứu độ đến từ Thiên Chúa là Cha của Người.

“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” (Ga 3, 16).

Giáo Hội đã sử dụng bài Tin Mừng trong Chúa Nhật hôm nay như để tôn vinh một tình yêu ban tặng nhưng không của Thiên Chúa cho con người. Vì thế, Chúa nhật hôm nay còn được gọi là “Chúa Nhật Hồng”, Chúa Nhật của tình yêu. Chúa Giêsu đã sử dụng hình ảnh con rắn được ông Mô-sê giương lên trong sa mạc như một biểu tượng của lòng tin. Chúng ta hiểu rằng bản chất không phải con rắn chữa lành mà chính nhờ lòng tin của con người vào Thiên Chúa nên được Người chữa lành.

Quả đúng như thế, khi Chúa Giêsu trả lời ông Ni-cô-đê-mô: “Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể thấy Nước Thiên Chúa, nếu không được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên.”(Ga 3, 3). Ơn trên mà Chúa Giêsu muốn ám chỉ là ân sủng của Chúa Cha trao ban, là chính Ơn Cứu Độ nơi Con Một Thiên Chúa, Đấng chịu treo trên thập giá để chết thay cho nhân loại được sống. Chúa Giêsu đã khẳng định: “Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.” (Ga 3, 14-15).

Ngày hôm nay Giáo Hội cũng muốn chúng ta nhìn lại con rắn trong sa mạc để nhận ra con rắn tội lỗi đang ngự trị trong tâm hồn mỗi người đó là: con rắn tham lam, ích kỷ, giận hờn, ghen ghét đang xâu xé tâm hồn chúng ta mỗi ngày, làm tâm hồn chúng ta trở nên cằn cỗi, hư nát. Không những thế, chúng còn tạo ra sự bất hoà giữa các thành viên trong gia đình và cộng đoàn. Phá tan sự hiệp nhất mà Đức Giêsu đã dùng chính mạng sống mình để đánh đổi.

Từ cái ngày Adam Eva phạm tội bất tuân phục thì tội lỗi đã theo họ lan tràn trên mặt đất. Bởi vậy, trong lời kinh thú tội hàng ngày chúng ta thường đọc “lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng” như để thưa cùng anh em, cha mẹ và với Thiên Chúa rằng con đây là kẻ bất xứng trước tình thương yêu của Thiên Chúa cùng mọi người đã dành cho con. Bởi vì, “trong tư tưởng, lời nói, việc làm” của con chỉ lo cho bản thân mà thiếu quan tâm đến mọi người đang hiện diện kề cận bên con hằng ngày.

Chính vì thế, Giáo Hội đã dành ra sáu tuần trong năm phụng vụ như một dịp thuận tiện để chúng ta nhìn lại bản thân qua việc làm thiết thực là: ăn chay, cầu nguyện và bố thí. Thời gian này như chặng đường dài, nhiều thử thách của dân Do Thái trải qua trong sa mạc trước khi trở về miền đất Chúa hứa ban làm gia nghiệp. Mùa chay này như để mỗi người chúng ta cùng đồng hành với Chúa Giêsu vào sa mạc để chuẩn bị cho công cuộc rao giảng, chịu chết, và cứu độ nhân loại. Và cuối cùng, mùa chay như quãng thời gian cho chúng ta thêm được vững tin vào Thiên Chúa như thể dân Do Thái khi xưa tin vào quyền năng Thiên Chúa mà ngước nhìn con rắn được ông Mô-sê giương lên trong sa mạc nên được chữa lành.

Lạy Thiên Chúa xin Người cũng cố lòng tin chúng con để chúng con giám đối diện với con người thật của mình, dám tuyên xưng niềm tin của mình vào Con Một của Ngài đã xuống thế làm người, chịu chết để cứu chuộc chúng con.

Lạy Chúa Giêsu, từ muôn thuở Chúa đã yêu thương và muốn cứu chuộc chúng con. Nhưng Chúa không thể cứu được chúng con nếu chúng con không muốn sám hối và đến với bí tích hoà giải trong mùa chay này. Xin cho chúng con biết dùng tự do của mình để chọn con đường dẫn đến phúc trường sinh. Con đường đó chính là Đức Giêsu. Tin vào Đức Giêsu chắc chắn chúng con sẽ được hạnh phúc muôn đời. Amen.

Bài 12. THẬP GIÁ CHÚA KITÔ
Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT

Mùa chay là mùa ăn năn sám hối, là dịp thuận tiện để con người quay về với Chúa và làm hòa với anh em. Nhìn lên Chúa để noi gương bắt chước Ngài, nhìn lên Chúa để thấy mình còn thiếu xót, còn khiếm khuyết quá nhiều, nên cần phải cố gắng vươn tiến.Chúa Giêsu đã kinh qua đau khổ mới tới vinh quang và thập giá là nhục hình nhất Ngài phải chịu theo ý Chúa Cha để cứu chuộc nhân loại, cứu rỗi con người. Chúa là ánh sáng chiếu soi, phá tan bóng tối và đêm đen, phá tan xiềng xích tội lỗi…

Vâng, trần gian luôn có bóng tối và ánh sáng. Bóng tối là mãnh lực của sự dữ, của tội lỗi, của muôn vàn mưu kế ma quỷ. Bóng tối của thế lực quyền lực, của danh vọng, của tiền tài, của ăn chơi trác tráng. Đó là những sức mạnh của ma quỷ, satan, của sự dữ tối tăm. Bóng tối tâm hồn còn vô cùng nguy hiểm, do đó, thánh Gioan đã viết: “Ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa” (Ga 3, 19). Con người thường ghét ánh sáng hơn bóng tối.Đó là thảm kịch nơi lòng con người. Thực tế, con người sinh ra vốn dĩ lương thiện, nhưng sự tội đã làm cho con người xa Chúa và sống không tốt với người khác. Tội Ađam và Eva phản nghịch, bất tuân lệnh Chúa. Tội Cain ghen tương giết Abel… Và còn nhiều tội khác làm con người xa dần Thiên Chúa. Con người chỉ có thể vươn lên khi họ ưa sự sáng. Khi con người để cho ánh sáng dọi chiếu và vén mở chính mình, họ sẽ đối diện với sự thật, với tội lỗi của mình và rồi họ biết ăn năn sám hối như thế họ sẽ có được niềm vui. Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, thánh Gioan đã nhắc nhở nhân loại, nhắc nở con người rằng: “Thiên Chúa đã không gởi Con Người vào trong thế gian để kết án thế gian nhưng là để cho thế gian nhờ Người mà được cứu” (Ga 3, 16). Con người chúng ta chỉ có thể vươn lên, vượt thắng khi dứt bỏ bóng tối để trở về với ánh sáng, bằng việc ngước nhìn lên. Ngước lên như dân Do Thái xưa trong sa mạc bị rắn độc cắn đã nhìn lên con rắn đồng được treo trên cây gỗ. Trong Tin Mừng của thánh Gioan, Chúa Giêsu đã phán: “Người phải được nhắc lên hay nâng lên”. Nhắc lên hay nâng lên ám chỉ Ngài bị đóng đinh trên thập giá. Đối với tử tội Do Thái xưa mà người Roma đã áp đặt, đó là họ bị đóng đinh trên thập tự giá gỗ. Đây là cái chết bi thảm trong mọi cái chết của tử tội. Thập giá xem ra là một thất bại ê chề chứ không phải là một chiến thắng. Tuy nhiên, đức tin cho hay thập giá là vinh quang, là chiến thắng. Chúa đã đánh tan sự chết và chiến thắng tử thần.Chính vì yêu, chính vì tự nguyện theo ý Chúa Cha, Chúa Giêsu đã chấp nhận bị đóng đinh trên thập giá bởi vì: “Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu” (Ga 15, 13). Cái chết đối với Chúa là vinh quang, là khải hoàn như lời tung hô Thánh Thể, chúng ta kêu lên với Chúa chúng ta rằng: “Bằng sự chết của Ngài, Ngài  đã phá hủy sự chết của chúng ta, bằng sự sống lại, Ngài đã phục hồi sự sống cho chúng ta”. Chính trong lời nguyện nhập lễ của thánh lễ cầu hồn, chúng ta đọc thấy: “Trong Đức Kitô, Đấng đã sống lại từ cõi chết, niềm hy vọng về sự sống lại của chúng ta đã ló rạng. Nỗi buồn về sự chết sẽ đưa tới lời hứa rạng ngời của sự bất tử. Đối với các tín hữu, sự sống thay đổi, chứ không mất đi. Khi thân xác của chúng ta ở trên mặt đất này chết đi thì chúng ta sẽ được đưa đến một nơi ở vĩnh viễn trên trời”.

Ngày nay, loài người, con người và chúng ta được cứu độ khi nhìn lên thập giá của Chúa Kitô: “Khi nào Ta được nâng lên khỏi đất Ta sẽ kéo mọi người đến cùng Ta” và “Nơi Người ơn cứu độ chứa chan”. Thập giá không phải là cái gì thảm bại, không phải là sự ê chề, không phải là sự bi thảm. Thập giá là một khải hoàn ca. Bởi vì trong sự vinh quang của Chúa Kitô, con người được thông dự vào sự sống mới, sự sống trường sinh. Thiên Chúa đã ban cho chúng ta sự sống nơi người Con của Người là Đức Kitô và chỉ nơi cái chết trên thập giá của Đức Kitô con người mới có sự sống vĩnh cửu.

Thánh Công Đồng Vaticanô trong Hiến Chế về Giáo Hội trong thế giới ngày nay, số 39 đã viết: “Được hình thành bởi tội lỗi, và bóng tối của thế gian này sẽ qua đi. Khi chúng ta được dạy rằng Thiên Chúa đã sửa soạn cho chúng ta một nơi ở mới và một miền đất mới, nơi đó sự công bình sẽ ngự trị và tất cả những người được chúc phúc sẽ được nhận lời, điều đó vượt quá sự khao khát bình an của con người trên trái đất này”.

Thập giá là tình yêu vô biên của Thiên Chúa Cha trao ban cho nhân loại qua người Con Một Yêu Dấu của Ngài là Đức Kitô. Nhìn lên thập giá để nhận ra tình thương và tình yêu của một Con Người đã hiến mạng sống cho nhân loại tất cả vì yêu.

Lạy Chúa, Chúa đã sai Con Một giáng trần để thực hiện công trình kỳ diệu là cho loài người được hòa giải với Chúa. Xin ban cho toàn thể dân Chúa khắp hoàn cầu được lòng tin sống động để hăm hở đón mừng lễ Vượt Qua sắp tới. Amen.

 

Bài 13. NHÌN LÊN CON RẮN ĐỒNG
JM. Lam Thy ĐVD.

Cứ tưởng đến thời Tân Ước thì Đền thờ Giê-ru-sa-lem mới bị ô uế bởi hàng tư tế và dân Do thái khiến Đức Giê-su nổi giận, thật không ngờ ngay từ thời Cựu Ước đã có chuyện “Tất cả các thủ lãnh của các tư tế và dân chúng mỗi ngày một thêm bất trung bất nghĩa, học theo mọi thói ghê tởm của chư dân và làm cho Nhà ĐỨC CHÚA đã được thánh hiến ở Giê-ru-sa-lem ra ô uế” (2Sb 36, 14). Thế mới biết “tội lỗi là bản tính con người” dù ở bất cứ thời đại và môi trường nào, và hình như càng tiến bộ con người càng tội lỗi nhiều hơn. Nhận xét này có vẻ bi quan, nhưng nhìn kỹ lại vấn đề, thấy quả nhiên không sai. Duy có điều tội lỗi ở cái thế kỷ XXI này không giống như thời thượng cổ, mà thiên biến vạn hoá đến độ có nhiều khi con người không nhìn ra được chân tướng của nó, thậm chí còn hiểu lầm mà khoác cho nó cái áo chân thiện nữa. Đáng sợ thật!

Suy cho cùng, từ Nguyên tổ cho đến hậu lai – ngoại trừ Đức Maria được đặc sủng vô nhiễm nguyên tội – tất cả loài người đều có tội, không nặng thì nhẹ, chẳng ít thì nhiều. Ấy cũng bởi vì con người thường muốn dễ dãi hơn là khó khăn, muốn đi trên những con đường rộng thênh thang hơn là những con đường nhỏ hẹp, muốn bóng tối hơn là ánh sáng. Cái nghịch lý của con người như thánh Phao-lô nói: “Tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu: vì điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại cứ làm… Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” – Rm 7, 15…19) tưởng cũng dễ hiểu, vì “Tất cả chúng tôi xưa kia cũng thuộc hạng người đó, khi chúng tôi buông theo các đam mê của tính xác thịt, thi hành những ước muốn của tính xác thịt và của trí khôn. Bẩm sinh chúng tôi là những kẻ đáng chịu cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, như những người khác” (Ep 2, 3). Như vậy thì phải chăng tội lỗi của loài người đã tới hồi “hết thuốc chữa”?

Đọc sách Xuất Hành trình thuật cuộc hành trình trở về Đất Hứa của dân tộc Do Thái, ai mà không chú ý đến câu chuyện “CON RẮN ĐỒNG”. Đó là trên lộ trình đầy gian nan thử thách, khi đã gần tới Đất Hứa, dân Do Thái lại kêu trách Thiên Chúa và ông Mô-sê, Đức Chúa liền cho rắn lửa bò ra khắp nơi cắn chết nhiều người. Thấy vậy, dân chúng mới kinh hoàng nhận ra sai lầm, tỏ vẻ hối hận, chạy đến kêu cầu với ông Mô-sê xin cứu giúp. Ông Mô-sê cầu xin cùng Đức Chúa và Người bảo ông hãy làm một con rắn bằng đồng treo lên cao, để hễ ai bị rắn lửa cắn mà nhìn lên rắn đồng thì sẽ được khỏi. Con rắn đồng trở thành một biểu tượng ơn cứu độ của Thiên Chúa và vì thế, trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su đã mượn hình ảnh đó để nói lên công trình cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện nơi Người – Người cũng sẽ bị treo lên như vậy.

Con rắn đồng chỉ là một vật thể vô tri giác được Thiên Chua đặt làm biểu tượng Tình Yêu Cứu Độ, chỉ được một số ít người Do Thái biết ăn năn hối cải nhìn lên và được chữa khỏi; nhưng khi trở về tới Đất Hứa thì họ lại quên béng đi một cách vô tư. Họ lại tiếp tục phạm tội, lại tiếp tục than trách Chúa và nhất là lại tiếp tục thích dễ dãi hơn là khó khăn, thích đi trên những con đường rộng thênh thang hơn là những con đường nhỏ hẹp, khoái bóng tối hơn là ánh sáng. Hơn thế nữa, họ còn cố tình huỷ bỏ giao ước bằng cách phản bội lại Thiên Chúa nữa. Dân được chọn còn như thế, huống hồ dân ngoại. Tất cả nhân loại đã hầu như quên mất hình ảnh con rắn đồng và chính vì thế, nên Thiên Chúa phải lập một giao ước mới bằng cách sai chính Con Một xuống thế làm một con rắn bằng xương bằng thịt, bằng cả bản thể Thiên Chúa, treo lên thập giá để không chỉ là một biểu tượng mà còn là chính  Máu Thịt Con Chiên làm lễ vật hy  sinh (hy tế) cứu độ loài người (“Ta sẽ lập với nhà Ít-ra-en và nhà Giu-đa một giao ước mới, không giống như giao ước Ta đã lập với cha ông chúng, ngày Ta cầm tay dẫn họ ra khỏi đất Ai-cập; chính chúng đã huỷ bỏ giao ước của Ta, mặc dầu Ta là Chúa Tể của chúng – sấm ngôn của ĐỨC CHÚA.” – (Gr 31-32),

 Điều đó chứng tỏ dù con người có tội lỗi đến thế nào mặc lòng, Thiên Chúa vẫn thương yêu, vẫn dang rộng vòng tay mong họ trở về đường ngay nẻo chính. Căn bệnh trầm kha, căn bệnh kinh niên truyền kiếp của loài người vẫn không phải, chưa phải là “hết thuốc chữa”, bởi “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.” – Mc 2, 17). Người Thầy Thuốc Chí Nhân Chí Ái đã đến và đã được treo lên như con rắn đồng thủa xưa. Sự kiện Con Người được “giương cao” (đưa lên) bao hàm một ý nghĩa vô cùng thâm thuý: Đức Ki-tô không chỉ chết khổ nhục trên thập giá vì tội lỗi loài người, mà còn phục sinh và được đưa lên ngự bên hữu Chúa Cha. Vì thế, khi Con Người được treo lên thập tư thì thập tự đã trở thành Thánh Giá để những ai biết nhìn lên biểu tượng Tình Yêu cao vời khôn ví đó, sẽ được cứu độ. Nhìn lên Thánh giá (cũng như thủa xưa, dân Chúa biết nhìn lên con rắn đồng) không phải và không thể như nhìn một hình ảnh kiều diễm, hay một chiếc cúp quán quân, hoặc một thần tượng siêu nhân nào đó. Điều kiện tiên quyết là phải biết nhìn lại mình để thấy được những sai lầm thiếu sót, toàn tâm toàn ý ăn năn hối cải, nhiên hậu nhìn lên Thánh Giá với một đức tin chân thành vào Ơn Cứu Độ. Chỉ có như thế mới có hy vọng được cứu, bởi “Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy” (Dt 11, 1).

Nhìn lên con rắn đồng do ngôn sứ Mô-sê giương cao thì được cứu chữa. Cũng vậy, nhìn lên Con Người được giương cao trên thập giá sẽ được cứu độ. Việc “nhìn lên” và việc “được cứu chữa” liên kết chặt chẽ với nhau và mối dây liên kết đó phải chăng chính là đức tin? Vâng, “Nếu mạc khải là con đường Thiên Chúa đến với con người thì Đức tin là con đường con người đến với Thiên Chúa, là sự đáp trả của con người trước tiếng nói của Thiên Chúa” (Thánh Âu-tinh). Một hệ luận bất di bất dịch: “Có bệnh thì mong được khỏi, muốn khỏi bệnh phải biết nhìn lên Thầy Thuốc được giương cao trên Thánh Giá, đến với Thiên Chúa Cứu Độ bằng một đức tin kiên cường”. Ấy cũng bởi vì “Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa” (Ga 3, 18). Cho nên có thể nói không phải ai nhìn lên con rắn đồng, nhìn lên Thánh Giá đều được cứu sống, mà chỉ có những ai có cái nhìn đức tin (nhìn lên với một niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa qua biểu tượng con rắn đồng, hoặc chính Con Thiên Chúa) mới được cứu độ mà thôi.

Dân Chúa thời Cựu Ước đã thật vui mừng khi Thiên Chúa phán bảo ông Mô-sê giương cao con rắn đồng để những ai biết nhìn lên sẽ được cứu chữa. Mở đầu kỷ nguyên Tân Ước, thì chính Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật được giương cao trên Thánh Giá làm hy tế cứu chuộc nhân loại, và như thế thì còn nỗi vui mừng nào sánh bằng cho Dân Chúa thời kỳ Tân Ước cho đến thiên thu vạn đại? Vì thế, Chúa Nhật IV Mùa Chay thường được gọi là Chúa Nhật “Hãy vui lên” (Ca Nhập Lễ mở đầu bằng câu “Hãy vui lên!…” – Is 66, 10-11). Vâng, sau những hy sinh hãm mình, làm việc từ thiện trong suốt Mùa Chay, hãy vui lên trong Chúa là Đấng đã yêu thương cứu chuộc nhân loại. Hãy vui lên vì Thánh Giá là nguồn ơn cứu rỗi. Hãy vui lên để hướng tâm hồn về niềm vui Phục Sinh. Trong niềm hân hoan tận cùng đó, hãy vui mừng nhìn lên Thánh Giá, hướng tâm hồn lên Đấng Cứu Độ, để cùng hiệp lời cầu nguyện cho bản thân, cho mọi người biết dùng nhiều thời giờ hơn trong Mùa Chay Thánh – nhất là trong Mùa-Chay-cuộc-đời – để từ đó biết nhìn lại mình mà sám hối lỗi lầm, biết từ bỏ những tính hư, tật xấu, canh tân đời sống; đồng thời cầu nguyện cho những người tội lỗi biết ăn năn hối cải, và cầu nguyện cho những người chưa biết Chúa được có dịp chiêm ngắm Thánh Giá, ngõ hầu trở về cùng Chúa. Ước được như vậy. Amen.

Bài 14. ÂN SỦNG & LÒNG TIN
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ

Hai yếu tố vô cùng quan trọng trong đời sống Đức Tin và Ơn Cứu Rồi là “ân sủng và lòng tin.” Đó chính là ý nghĩa của ba bài Thánh Kinh mà Mẹ Hội Thánh cho chúng ta đọc trong Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật IV Mùa Chay Năm B này.   

Ân sủng và lòng tin là hai yếu tố thiết yếu tạo nên Ơn Cứu Độ. Không có Ân sủng, không có Ơn Cứu Độ. Nhưng không có lòng tin cũng không có Ơn Cứu Độ. Ân sủng là của Thiên Chúa, Người ban cho con người “một cách nhưng không”. Lòng tin là sự đáp trả hay phần đóng góp của con người, nhưng cũng do tác động của ân sủng. Thật là sự hợp tác kỳ diệu và tuyệt vời giữa Đấng Tạo Hóa và con người tạo vật trong việc đem hạnh phúc thật đến cho loài người là chúng ta!

 II. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH

2.1 Trong bài đọc (2 Sb 36,14-16.19-23): Cơn thịnh nộ và lòng thương xót của Chúa.

(14) Tất cả các thủ lãnh của các tư tế và dân chúng mỗi ngày một thêm bất trung bất nghĩa, học theo mọi thói ghê tởm của chư dân và làm cho Nhà Đức Chúa đã được thánh hiến ở Giê-ru-sa-lem ra ô uế.  (15) Đức Chúa, Thiên Chúa của tổ tiên họ vẫn không ngừng sai sứ giả của Người đến cảnh cáo họ, vì Người hằng thương xót dân và thánh điện của Người. (16) Nhưng họ nhạo cười các sứ giả của Thiên Chúa, khinh thường lời Người và chế giễu các ngôn sứ của Người, khiến Đức Chúa bừng bừng nổi giận mà trừng phạt dân Người đến vô phương cứu chữa.

(19) Quân Can-đê đốt Nhà Thiên Chúa, triệt hạ tường thành Giê-ru-sa-lem, phóng hỏa đốt các lâu đài trong thành và phá hủy mọi đồ đạc quý giá. (20) Những ai còn sót lại không bị gươm đâm, thì vua bắt đi đày ở Ba-by-lon; họ trở thành nô lệ của vua và con cháu vua, cho đến thời vương quốc Ba Tư ngự trị. (21) Thế là ứng nghiệm lời Đức Chúa phán, qua miệng ngôn sứ Giê-rê-mi-a rằng: cho đến khi đất được hưởng bù những năm sa-bát và suốt thời gian nó bị tàn phá, nó sẽ nghỉ, cho hết bảy mươi năm tròn.

(22) Năm thứ nhất thời vua Ky-rô trị vì nước Ba Tư, để lời Đức Chúa phán qua miệng ngôn sứ Giê-rê-mi-a được hoàn toàn ứng nghiệm, Đức Chúa tác động trên tâm trí  Ky-rô, vua Ba Tư. Vua thông báo cho toàn vương quốc và ra sắc chỉ như sau:  (23) “Ky-rô, vua Ba Tư, phán thế này:  ’Đức Chúa, Thiên Chúa trên trời, đã ban cho ta mọi vương quốc dưới đất. Chính Người trao cho ta trách nhiệm tái thiết cho Người một ngôi Nhà ở Giê-ru-sa-lem tại Giu-đa. Vậy ai trong các ngươi thuộc dân của Người, thì xin Đức Chúa, Thiên Chúa của họ ở với họ, và họ hãy tiến lên…!”

 2.2. Trong bài đọc 2 (Ep 2,4-10): được cứu độ nhờ ân sủng

(4) Nhưng Thiên Chúa giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta, (5) nên dầu chúng ta đã chết vì sa ngã, Người cũng đã cho chúng ta được cùng sống với Đức Ki-tô. Chính do ân sủng mà anh em được cứu độ! (6) Người đã cho chúng ta được cùng sống lại và cùng ngự trị với Đức Ki-tô Giê-su trên cõi trời.

(7) Như thế, Người tỏ lòng nhân hậu của Người đối với chúng ta trong Đức Ki-tô Giê-su, để biểu lộ cho các thế hệ mai sau được thấy ân sủng dồi dào phong phú của Người. (8) Quả vậy, chính do ân sủng và nhờ lòng tin mà anh em được cứu độ: đây không phải bởi sức anh em, mà là một ân huệ của Thiên Chúa; (9) cũng không phải bởi việc anh em làm, để không ai có thể hãnh diện. (10) Thật thế, chúng ta là tác phẩm của Thiên Chúa, chúng ta được dựng nên trong Đức Ki-tô Giê-su, để sống mà thực hiện công trình tốt đẹp Thiên Chúa đã chuẩn bị cho chúng ta.

 2.3. Trong bài Tin Mừng (Ga 3,14-21): Ai tin vào Con Một thì được cứu độ

(14) Khi ấy, Đức Giê-su nói với ông Ni-cô-đê-mô rằng: Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, (15) để ai tin vào Người thì được sống muôn đời. (16) Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. (17) Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ. (18) Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa. (19) Và đây là bản án: ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta ưa chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa. (20) Quả thật, ai làm điều ác, thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách.  (21) Những kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ: các việc của người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa.”

 III. KHÁM PHÁ CHÂN DUNG & SỨ ĐIỆP CỦA THIÊN CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH

3.1. Chân dung của Thiên Chúa

(1°) Trong bài đọc 1 (2 Sb 36,14-16.19-23), chúng ta cảm nghiệm được Thiên Chúa là Đấng yêu thương và quảng đại như thế nào đối với dân Ít-ra-en: dù dân và những người lãnh đạo của dân có phản bội, bất trung, bất nghĩa thế nào đi nữa thì Chúa vẫn một mực yêu thương và thứ tha cho họ. Để lôi kéo dân trở về, Thiên Chúa sai các sứ giả đến dạy dỗ hướng dẫn dân. Thiên Chúa còn dùng cả nhà vua Ba Tư để thực hiện chương trình cứu độ của Người.

 (2°) Trong bài đọc 2 (Ep 2,4-10) Thánh Phao-lô Tông đồ xác định một điều hết sức quan trọng và cốt yếu trong giáo lý và thần học Ki-tô giáo: con người được cứu là nhờ lòng thương vô bờ bến của Thiên Chúa tức nhờ ơn sủng mà Thiên Chúa rộng lượng ban “không” cho con người, chứ không phải do công lao của con người. Nhưng nói thế không có nghĩa là con người không “có phần” trong đó. Phần của con người và là phần không thể thiếu là lòng tin, là sự đáp trả trước tấm lòng yêu thương và ân ban của Thiên Chúa.

(3°)Trong bài Tin Mừng (Ga 3,14-21) Thánh Gio-an kể lại những lời khẳng định của Chúa Giê-su với ông Ni-cô-đê-mô, một bậc thày trong dân Ít-ra-en thời Chúa Giê-su, về điểm cốt lõi của Ki-tô giáo: Vì yêu thương loài người, Thiên Chúa đã ban Con Một Người cho thế gian để những ai tin vào Người thì được cứu!

Cũng là ân ban và lòng tin. Ở nơi nào hai yếu tố này gặp nhau thì ở nơi ấy phát sinh ơn cứu độ.

 3.2. Sứ điệp của Lời Chúa      

Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người / mỗi cộng đoàn chúng ta hãy: đón nhận Ơn Sủng của Thiên Chúa & đáp lại Tình Thương của Người bằng việc TIN vào Con Một của Người là Chúa Giê-su Ki-tô!

 IV. SỐNG VỚI CHÚA VÀ THỰC THI SỨ ĐIỆP CỦA LỜI CHÚA HÔM NAY

4.1. Sống với Thiên Chúa là mở rộng tâm hồn và cuộc sống để Thiên Chúa đổ tràn Ơn Sủng của Người vào đó. Tâm hồn và cuộc sống của chúng ta càng rộng mở với Thiên Chúa thì chúng ta càng hứng được nhiều ơn sủng của Người.

 4.2. Thực thi sứ điệp Lời Chúa là đáp lại Tình Yêu của Thiên Chúa bằng một lòng tin sắt son vào Con Một Thiên Chúa là Chúa Giê-su Ki-tô.

 Vì thế mà mỗi người và mỗi cộng đoàn hãy tự hỏi:

* Tôi/Chúng ta có thật sự tin vào Chúa Giê-su Ki-tô, Con Một Thiên Chúa không?

* Tôi/Chúng ta phải thay đổi gì trong cách suy nghĩ và hành động để tăng thêm lòng tin vào Con Một Thiên Chúa là Chúa Giê-su Ki-tô?

* Tôi/Chúng ta có mở rộng tâm hồn và cuộc sống của mình để đón nhận Ơn Chúa không?

* Trong tâm hồn và cuộc sống của tôi/chúng ta hiện có gì đang ngăn cản không cho Ơn Chúa đổ vào?

* Tôi/Chúng ta phải làm gì để khai thông cho Ơn Chúa đổ vào tâm hồn và cuộc sống của mình?

 V. CẦU NGUYỆN CHO HỘI THÁNH VÀ THẾ GIỚI

5.1. «Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời». Chúng ta hãy cầu xin Thiên Chúa ban mọi người mọi nước ơn sớm nhận tình thương cứu độ của Thiên Chúa.

X- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.  Đ- Xin Chúa nhận lời chúng con.

 5.2. «Chính do ân sủng mà anh em được cứu độ!» Chúng ta hãy cầu nguyện cho các Ki-tô hữu, nhất là cho Đức Thánh Cha Bê-nê-đi-tô XVI, cho các Hồng Y, Giám Mục, Linh Mục, Phó Tế và Tu Sĩ Nam Nữ, để mọi thành phần Dân Chúa, ý thức sâu sắc về việc mình được cứu độ là nhờ ân sủng “nhưng không” do Thiên  Chúa ban.

5.3. «Những kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ: các việc của người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa». Chúng ta hãy cầu nguyện cho mọi người thuộc giáo xứ chúng ta, nhất là cho những người tham dự Thánh Lễ này, càng ngày càng yêu mến sự thật và sống trong ánh sáng của Thiên Chúa.

5.4. «Ánh sáng đã đến thế gian». Chúng ta hãy cầu nguyện cho những nhà lãnh đạo các quốc gia và thế giới, để họ tìm đến với ánh sáng của Thiên Chúa trong khi thi hành nhiệm vụ lãnh đạo dân nước.

Bài 15. Như hoa hướng dương
Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Có một thời người ta đề nghị loại bỏ bài hát “Tình yêu Thiên Chúa” của nhạc sĩ Thể Thông ra khỏi danh mục những bài được phép hát trong phụng vụ. Họ cho rằng: không thể ví tình yêu Thiên Chúa như tình yêu của đôi nam nữ hẹn hò nhau giữa đêm trăng sao được. Tình yêu trăng sao là tình yêu mờ ảo, là những quan hệ không rõ ràng và bất chính. Một tình yêu đích thực phải quang minh chính đại, phải rõ như ban ngày mới đích thực là tình yêu. Bao lâu tình yêu đang còn che dấu, chưa công khai hoá tình yêu, bấy lâu vẫn còn là những quan hệ bất chính và tội lỗi.

Thường tình là thế! Ai cũng mong có được những tình yêu trong sáng, đơn sơ, chân thành. Ai cũng mong cuộc đời không còn mảng tối cần che đậy hay lấp liếm. Ai cũng muốn đến với nhau trong tình bạn trong sáng, trong tình người chân thành. Thế nhưng, “lực bất tòng tâm”. Con người đến với nhau vẫn còn đó bóng tối của lợi dụng, của ích kỷ. Tình yêu con người sao vẫn còn đó những mảng tối của giả dối, thiếu chân thành. Vẫn còn đó những người thích đi đêm với nhau trong những cuộc tình vụng trộm, trong những phi vụ làm ăn bất chính. Một người con gái bình thường không thể đón nhận lời tỏ tình đại loại như: “anh yêu em, nhưng đừng cho ai biết”. Thế nhưng, thực tế vẫn còn đó những cô gái tham tiền nên chấp nhận sống trong bóng tối làm vợ nhỏ, vợ bé của các đại gia. Ở đời vẫn còn đó những mối tình vụng trộm của “chồng chung vợ chạ”, của vô luân thất đức. Xem ra thế lực của bóng tối quá mạnh đến nỗi đã bao trùm khắp mọi nơi và phủ kín nhiều tâm hồn con người. Nhiều người đã mất ý thức về tội. Nhiều người đã chai lỳ trước tiếng nói lương tâm. Bóng tối đã làm cho con người mất đi sự trong sáng, đơn sơ và chân thật của tâm hồn.

Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta: “ai làm điều ác, thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng”. Đó là những tâm hồn đang chết dần, chết mòn vì thiếu ánh sáng, thiếu sức sống của chân thiện mỹ. Họ tự nguyện đi vào bóng tối cũng đồng nghĩa với việc khước từ sự sống để đi vào cõi chết. Adam – Eva đã rời áng sáng để lẩn trốn trong bóng tối khiến họ mất bình an, tìm lá che thân, và bản án đau khổ và sự chết đã  lận vào kiếp người.

Muôn loài  luôn hướng tìm về ánh sáng. Quy hướng về ánh sáng vạn vật sẽ xanh tươi. Sống dưới ánh sáng vạn vật sẽ phát triển đúng theo chủng loại của chúng. Con người được tạo dựng để trở thành ánh sáng cho trần gian, nhưng con người lại tìm về bóng tối sẽ trở thành vong thân. Con người sẽ đánh mất tính bổn thiện của thuở ban đầu tạo dựng. Con người tự nguyện nghiêng chiều và chạy theo bóng tối tội lỗi để thoả mãn dục vọng đê hèn, thỏa mãn tính xác thịt yếu đuối, con người đang đánh mất dần căn tính của mình.

Mùa chay mời gọi chúng ta nhìn lại mình đang ở trong ánh sáng hay trong bóng tối u mê? Tâm hồn tôi có thực sự được mở rộng cho ánh sáng của Chúa chan hoà khắp tâm hồn, hay đang bị che kín bởi những thói hư tật xấu?

Chúng ta hãy thử đến bệnh viện của Chúa, để kiểm điểm lại mình, để được Chúa chữa lành và sửa đổi cho tốt hơn. Chúng ta có mang những bệnh tật tâm hồn cần sửa đổi trong mùa chay thánh này hay không? Như một tác giả vô danh đã kể lại một lần đến bệnh viện của Chúa để kiểm tra sức khỏe và phát hiện rằng mình đang bị bệnh. Ông kể rằng:

Khi đo huyết áp cho tôi, Chúa cho biết tôi đang thiếu LÒNG NHÂN ÁI. Và khi lấy nhiệt độ, nhiệt kế đã nhảy vọt đến 400 độ ÍCH KỶ.

Điện tâm đồ cho biết trái tim thiếu những rung động YÊU THƯƠNG, một số mạch máu bị tắc nghẽn, vì lớp cholesterone GHEN GHÉT.

Tới khoa chỉnh hình, tôi khám phá mình đi lại khó khăn.

Tôi không thể tiến lại ôm người anh em vì lòng KIÊU HÃNH cản ngăn, cánh tay của tôi bại xuội.

Chứng CẬN THỊ làm mắt tôi không thể nhìn xa hơn cái vẻ bên ngoài của người khác.

Quen những tiếng ồn ào thường ngày, tai tôi bị ĐIẾC ĐẶC, không còn nhạy bén với những tiếng thì thầm yêu thương.

Con xin cảm ơn Ngài, Bác Sĩ Giêsu, vị Lương Y nhân hậu! Chúa đã chữa trị cho con miễn phí hoàn toàn vì lòng thương xót.

Con cam kết khi xuất viện sẽ tiếp tục dùng toa thuốc của Chúa, một cách trung thành và đều đặn, nhờ những dược liệu tự nhiên, Chúa hướng dẫn cho con, trong sách thuốc TIN MỪNG của Chúa.

Mỗi buổi sáng, khi thức dậy, con sẽ dùng ngay một chén trà TẠ ƠN. Trước khi làm việc, con sẽ nhớ uống một thìa súp NỤ CƯỜI THÂN ÁI!

Và mỗi giờ, con sẽ uống thêm một viên NHẪN NẠI, với một ly nước NHÂN BẢN, và lạy Chúa, khi về lại nhà, con sẽ chích một mũi thuốc TÌNH THƯƠNG trợ lực, rồi trước khi đi ngủ, con sẽ uống thêm 2 viên LƯƠNG TÂM BÌNH AN.

Ước gì mỗi người chúng ta hãy đế cho ánh sáng của Chúa chan hoà trong tâm hồn để đẩy lùi, xua tan những ký sinh trùng đang làm băng hoại tâm hồn chúng ta. Nguyện xin Chúa là Đấng đã tạo dựng chúng ta giống hình ảnh Ngài luôn gìn giữ, che chở chúng ta trong ân thánh của Ngài. Amen.

Chuyên mục: Features, Suy niệm Lời Chúa