2:53 chiều - Thứ Sáu 25 Tháng Tư 2014

Đức tin và lý trí (Nguyễn Khắc Dương)

ĐỨC TIN VÀ LÝ TRÍ

Nguyễn Khắc Dương

MỤC LỤC

I. Khoa học và Thượng Đế
II. Thái độ duy khoa học và niềm tin
Phụ lục: Ý nghĩa các từ Cụ thể và Trừu tượng, Tâm và Vật
III. Thuyết Tiến Hoá và sự hiện hữu của Thượng Đế
IV. Thiên Chúa và tự do của con người
V. Viên thục: Hiện hữu, mến yêu và thờ lạy

Đức tin và lý trí

I. KHOA HỌC VÀ THƯỢNG ĐẾ

Bạn thân mến,

Sau những giờ phút chúng ta cùng nhau trao đổi về vấn đề Đức Tin, mình cảm thấy hiểu và thông cảm với bạn nhiều hơn trước. Mình thấy một mặt bạn đang bị dao động những nghi vấn về vấn đề Đức Tin do chính lý trí của bạn và những lời phê bình chỉ trích của kẻ khác gây ra: những nghi vấn đó đang nắm lấy đức tin của bạn mà lay tận gốc, như để xem nó vững chắc đến mức độ nào. Nhưng mặt khác, bạn lại cố bám chặt lấy đức tin như người sắp chết đuối cố níu lấy những mảnh ván cuối cùng đang trôi nổi giữa trùng dương đầy sóng gió vì bạn cảm thấy dầu sao đức tin vẫn là lẽ sống của bạn; nếu bạn buông nó ra, bạn sẽ trôi dạt không biết về đâu. Nếu không còn đức tin nữa thì tất cả những nền tảng mà trên đó bạn đã xây dựng đời mình sẽ sụp đổ. Bị chia xẻ giữa hai chiều trái ngược nhau như vậy, bạn rơi vào một tình trạng rối ren bất ổn, hoang mang, lo sợ về cả hai mặt lý trí và cảm tính. Được chia sẻ tâm trạng đó của bạn, mình viết mấy dòng này tới bạn.

Trước hết, mình xin góp ý là bạn đừng phản ứng như kẻ tự nhiên bỗng có cảm tưởng rằng họ có thể đã lầm đường lạc lối rồi đâm ra hoảng hốt, chạy đôn chạy đáo khắp phía lung tung, vì trong sự hoảng hốt đó, bạn quá rõ là càng loay hoay lại càng rối loạn, càng hoảng sợ lại càng đi xa vào đường lạc lối. Vậy, việc đầu tiên là bạn hãy cố gắng giữ cho tâm hồn được bình tĩnh.

Muốn vậy, bạn nên ý thức rằng: sự dao động của bạn hiện nay không có gì đáng làm cho bạn phải hoảng hốt, lo sợ cả: vì đó là một điều rất thường, chẳng những tất nhiên phải xảy ra nữa, vì nó có một tác dụng cần thiết cho đức tin, lợi ích cho đức tin của bạn.

Quả vậy, đức tin không phải là một tĩnh vật như một thoi vàng, một viên ngọc, chỉ cần nhét kín vào két sắt khoá kín là đủ. Đức tin là một sự sống. Mà sự sống nào cũng vậy, cũng phải luôn chuyển động, biến dịch để tăng trưởng, để sinh hoa kết quả. Mà mỗi lần biến dịch và mỗi lần tăng trưởng là phải qua một cơn khủng hoảng. Khủng hoảng là vì phải rời bỏ một thế quân bình cũ chuyển sang một thế quân bình mới do sự thích ứng với những thay đổi ở bên trong cũng như ở bên ngoài. Một em bé lúc tập bò, tập ngồi, tập đi, mọc răng, đều qua những cơn nóng sốt; nam nữ đến tuổi dậy thì chuyển dần sang giai đoạn trưởng thành cũng phải qua một cơn khủng hoảng. Những khó khăn bên trong cũng như những nghịch cảnh bên ngoài, lẽ tất nhiên có thể gây nguy hại, nhưng là điều kiện cần thiết để kích thích cho sự sống được linh hoạt tăng trưởng; nếu quá bình an, thì tuy là ổn định, nhưng sợ rơi vào ù lỳ, khô cứng, nếu không muốn nói là chết cứng.

Thế nên, cơn khủng hoảng về đức tin của bạn hiện nay, dầu là vì lý do gì đi nữa (trí tuệ, tình cảm, đạo đức) và mặc dầu có phần nào đáng lo ngại, nhưng căn bản vẫn là một điều cần thiết và có thể bổ ích nếu bạn biết cách để ra khỏi đó.

Như vậy rốt cuộc phải thấy rằng đó là điều đáng mừng và bạn đã đón nhận lấy nó như một ân sủng với lòng cảm tạ biết ơn. Đáng mừng vì đó là dấu chỉ cho thấy đức tin của bạn sống động chứ không ù lỳ, vì có sống động mới có thắc mắc băn khoăn; và có thể đó là biểu hiện một sự phản tỉnh của một lòng tin đang tự tìm kiếm, tự kiểm điểm lấy chính mình để ý thức hơn nữa (vì chắc là đã có ý thức một phần nào rồi mới có sự dao động) những nhược điểm của mình để cố gắng vươn lên tìm hiểu, bổ khuyết và nhờ đó mà bước sang một giai đoạn khác trên đường trưởng thành sau khi đã khắc phục được cơn thử thách. Đã thấy rõ như trên, chắc là bạn sẽ bình tĩnh hơn, và nhờ vậy sẽ sáng suốt hơn để chúng ta cùng nhau đi vào vấn đề.

Trước hết, chúng ta hãy cùng nhau xét qua một vài nguyên tắc căn bản trong việc truy tầm chân lý. Trong công việc của chúng ta cũng gần như là một cuộc thực nghiệm khoa học, cần phải có phương pháp thích ứng, và nhất là cần phải có một thái độ đứng đắn trước vấn đề chân lý.

Chúng ta sẽ không làm cái việc khó khăn là định nghĩa chân lý là gì. Câu trả lời sẽ đến khi chúng ta kết thúc cuộc trao đổi này. Chúng ta chỉ lưu ý điều này: có nhiều loại chân lý, và mỗi loại đòi hỏi một phương pháp đặc thù, và một thái độ khác nhau của con người đối với nó. Thí dụ: muốn dò xem một người con gái có yêu bạn không mà bạn lại có thái độ và dùng cùng một phương pháp như lúc bạn tìm xem trong một bình nước có chất độc ác-xê-níc không, thì không thể nào bạn đạt kết quả được.

Cho nên, ngay từ bây giờ chúng ta có thể quả quyết rằng nếu Thiên Chúa có thật và ta muốn tìm gặp Ngài (hay chứng minh sự hiện hữu của Ngài) mà ta lại áp dụng phương pháp Pasteur đã dùng để chứng minh có vi trùng, thì chắc là không đạt kết quả. Vì nếu Thiên Chúa có thật, thì Ngài là một đối tượng khác vi trùng. Đối tượng ấy đòi hỏi một phương pháp khác, một thái độ khác.

Ngoài ra, trên nguyên tắc, ai cũng nghĩ rằng mình thích chân lý. Nếu gặp được chân lý, mình sẽ đón nhận ngay. Nhưng thực tế thì khác! Có những loại chân lý chúng ta dễ dàng đón nhận khi nó được phát hiện. Chẳng hạn chúng ta sẵn sàng nhìn nhận rằng: quả thật 2+2=4. Nhưng có những chân lý khác liên quan sâu xa đến cuộc đời của chúng ta, thì chúng ta chưa hẳn lại sẵn sàng chấp nhận nó đâu. Thí dụ: một người cha thông minh lỗi lạc, khó lòng mà nhìn nhận rằng quả thật mình có một đứa con đần độn! Thế rồi nhiều khi tình cảm, tưởng tượng chi phối, che khuất lý trí, đưa đến chỗ có thể phủ nhận ngay cả những sự thật hiển nhiên! Vì vậy, muốn tìm được, và đón nhận được chân lý, phải có cả một sự khắc kỷ, thanh lọc tâm hồnl

Chân lý như mặt trời, tâm trí con người như mặt nước. Nước có trong thì mới soi đúng bóng sự vật. Nước vẩn đục và xáo động, bóng sự vật sẽ bị xáo trộn, lu mờ. Vì thế, người đi tìm chân lý khác nào một kẻ đi tìm thầy học đạo. Phải trai giới khiết tịnh, phải tự kiếm đời sống của mình để giải thoát mình, chẳng những khỏi những dục vọng thấp hèn, mà khỏi cả lòng tự cao tự đại, khỏi những tập quán, những thành kiến cố chấp, hẹp hòi. Khắc phục tình cảm, tưởng tượng để lý trí trở nên thuần khiết. Công việc thanh lọc này cũng như trước khi dùng dao, ta phải mài dũa cho sạch gỉ sét, trước lúc soi gương, ta phải lau chùi cho khỏi bụi bặm.

Hơn nữa, muốn tìm chân lý, ta phải yêu chân lý; yêu đây không phải là tinh cảm say sưa để tìm nơi chân lý một nguồn an ủi, mà là yêu theo nghĩa hy sinh những cái vị kỷ thấp hèn để tìm chân lý, để phục vụ chân lý. Yêu đây cũng không phải là đi chiếm hữu chân lý như một lợi lộc thoả mãn nhu cầu vị kỷ mà là để cho chân lý chiếm lấy trí tuệ của mình, không bắt chân lý ráp vào khuôn sẵn có của mình, trái lại sẵn sàng bỏ những khuôn sáo cũ, để mở rộng tâm trí mình ra đón nhận chân lý, dù chân lý ấy có làm mình phải chói chang nhức nhối, có đòi hỏi phải từ bỏ chính mình. Phải hướng về chân lý với tất cả tâm hồn mình là vậy. Vì thế người đã hiến dâng cả cuộc đời mình để truy tầm chân lý (dù là khoa học tự nhiên) thường có tâm hồn cao đẹp, khiêm cung, liêm khiết, bình dị, rộng rãi, dũng cảm, đơn thuần, nghiêm túc và từ tốn. Chân lý đối với họ là cả một giá trị gần như tuyệt đối mà họ cống hiến cả một đời để phục vụ. Nơi làm việc của những người ấy, nhiều khi phảng phất một bầu khí tôn nghiêm, phảng phất tinh thần nguyện cầu. Quả vậy, nguyện cầu là thái độ của một tâm hồn gạt bỏ tất cả, dồn hết tâm trí hướng về một đối tượng, rời khỏi mình, đi ra khỏi sự chật hẹp của bản thân, hướng tới với tất cả tâm hồn hiến dâng cho một đối tượng.

Tóm lại, tu viện khắc kỷ và trầm lặng nguyện cầu (theo nghĩa trên đây) là điều kiện cần thiết cho những ai muốn suy tìm chân lý. Ở đây cũng tưởng nói thêm điều này để bạn yên tâm là những điều kiện đó không phải để ru ngủ lý trí trong một giấc mơ huyền bí, mà chính là để gạn đục khơi trong tâm hồn, đưa tâm hồn vào một khung cảng sáng sủa, bình lặng, trần trụi, để lý trí được thông suốt, kiên cường bén nhạy, uyển chuyển sâu sắc, chín chắn, thoát khỏi những kìm hãm của dục vọng, của tập quán, thành kiến, hấp tấp vội vàng, nặng nề, thô thiển, nông cạn.

Ngoài ra, nếu có thể, cũng nên tạo một khung cảng sống bình lặng, xa những nơi huyên náo, xa những chuyện phiền toái cuộc đời ô trọc, ganh đua bon chen hối hả. Nếu có được một phong cảnh thanh u tĩnh mịch lại càng tốt. Hay ít nhất trong ngày cũng cố gắng tạo cho mình một sự vắng lặng bên ngoài trong một thời gian nào đó và trầm tĩnh tâm hồn đi vào sự vắng lặng bên trong. Có nhiều lúc, chỉ cần cố gắng tạo nên một khung cảnh sống như vậy, tạo nên một thái độ bên trong như vậy, tức khắc ánh chân lý sẽ bừng toả. Vì thực ra chân lý không ở đâu xa, mà đã có trong chính tâm hồn mình, chỉ vì ta để cho tâm hồn bị ô nhiễm, xáo trộn bởi dục vọng, thành kiến tập quán, bon chen, náo động nên nó bị che khuất giống như ánh mặt trời bị mây mù che phủ vậy. Chỉ cần quét sạch cho mây mù tan biến là tức khắc mặt trời ló dạng.

ĐỨC TIN và LÝ TRÍ

Bây giờ mình xin góp ý với bạn một số vấn đề có tính cách cụ thể hơn. Đó là những vấn đề có liên quan đến Đức Tin, lý trí, khoa học v.v… Như bạn biết, đức tin thường được coi là trái nghịch với lý trí: có một quan niệm khá phổ biến cho rằng: nội dung của đức tin có những điều không hợp lý như: Giêsu Nadarét vừa là người vừa là Thiên Chúa; dưới hình bánh miến có sự hiện diện thực sự của Mình Thánh Chúa Giêsu.

Từ ngữ ‘không hợp lý’ khá mơ hồ. Cần phải phân tích hai trường hợp:

1/ Về phương diện luận lý hình thức: không hợp lý là những mệnh đề có hàm chứa mâu thuẫn: “A vừa là A vừa là không A trong một lúc và trên cùng một bình diện”. Nguyên tắc mâu thuẫn là một nguyên tắc chỉ đạo công tác khẳng định của lý trí, hoàn toàn hình thức, chứ không liên hệ đến nội dung của mệnh đề, không liên hệ đến hiện hữu của sự vật.

Vì vậy nói rằng: “Giêsu vừa là người, vừa là không (không phải là) người” là không hợp lý về mặt luận lý hình thức, vì khi nói thế, sự khẳng định tự mâu thuẫn với chính điều mình tuyên bố. Còn nói rằng: “Giêsu vừa là người vừa là Thiên Chúa” thì vẫn hợp lý về phương diện luận lý hình thức, vì Thiên Chúa tuy khác với con người, nhưng không bao hàm mệnh đề phủ định “không người”. Về mặt này thì đức tin không bao giờ khẳng định điều gì tự mâu thuẫn với chính mình cả.

2/ Về phương diện luận lý nội dung: không hợp lý là những sự kiện trái với những định luật phổ biến của thiên nhiên. Thí dụ: khi nghe nói có một con sông mà nước chảy ngược dòng từ biển lên ngọn nguồn, thì người ta sẽ kết luận ngay là phi lý, vì điều đó trái với kinh nghiệm phổ biến về tất cả mọi con sông: xưa nay nước chảy từ ngọn nguồn đến biển cả chứ có bao giờ thấy chảy ngược lại đâu; cũng thế, tin rằng Giêsu Nadarét chết chôn đã ba ngày rồi sống lại là điều không hợp lý vì theo định luật sinh học phổ biến, một con người đã chết thật thì không thể hồi sinh được nữa.

Xin nhắc lại là các mệnh đề của đức tin không bao giờ phạm nguyên tắc mâu thuẫn cả, vì thế không bao giờ là không hợp lý theo nguyên lý hình thức, mà chỉ có thể bị xem như là không hợp lý theo nghĩa thứ hai trên đây, nghĩa là về phương diện luân lý nội dung mà thôi. Vậy ta thử xét vấn đề hợp lý hay không hợp lý về phương diện này xem sao?

Trước hết, ta cần phải phân biệt rõ là sự hợp lý đức tin có hai mặt:

1. Sự hợp lý của chính nội dung những tín điều. Thí dụ: “Giêsu đã chết thật sự và đã sống lại” mệnh đề này có hợp lý không?

2. Lý do khiến cho lý trí chấp nhận một mệnh đề mà nội dung có thể có chỗ không hoặc chưa nắm được là đúng hay sai.

Thí dụ:

a) Tôi tin mệnh đề “2+2=4” là chính vì lý trí của tôi tự nhận ra được nội dung của mệnh đề ấy đúng. Việc tin của tôi như vậy là hợp lý theo mặt thứ nhất.

b) Bà nội tôi nói: “Bà cố nội của con bàn tay trái có sáu ngón” và tôi tin lời bà tôi nói là thật. Một cách nào đó mà nói, tôi chưa áp dụng hết mọi phương pháp, như hỏi lại các cụ già quen biết bà cố nội tôi, hay khai quật mồ mả của bà cố nội tôi lên để kiểm chứng xem có đúng không. Nhưng xét rằng bà nội tôi vốn là người sáng suốt (không lầm lẫn), thành thật (không nói dối), vả lại nói dối về việc ấy bà tôi chẳng được lợi lộc gì, và bà cũng chẳng bị ai ép buộc phải nói dối như thế cả. Vì vậy tôi chưa kiểm chứng trực tiếp xem mệnh đề trên đây có thực đúng không, tôi vẫn có thể tin được việc bà cố nội tôi bàn tay trái có sáu ngón là sự thật. Tuyệt đối mà nói, việc tin của tôi vẫn chưa vững chắc 100%. Nhưng thực hành mà xét, chắc ai cũng nhất trí rằng tôi tin vào lời làm chứng của bà nội tôi là một việc hợp lý. Và nếu bà nội tôi thà chịu thiệt thòi trăm nghìn chuyện hoặc thà chịu chết chứ không phủ nhận việc bà cố nội tôi bàn tay trái có sáu ngón, thì lòng tin vào sự làm chứng của bà tôi lại càng hợp lý hơn.

Qua những nhận xét trên, ta có thể quả quyết ngay từ bây giờ là tính cách hợp lý theo mặt thứ hai này của đức tin chúng ta hoàn toàn được bảo đảm. Đã có hàng triệu người đổ máu để làm chứng nhân, mà trong số đó có rất nhiều người thuộc vào hạng ưu tú nhất nhì của nhân loại về cả hai mặt tài trí và đức hạnh.

Hơn nữa, phần lớn những điều ta tin đều hợp lý về cả hai mặt này trong một tỷ lệ nào đó, và hai mặt thường hỗ trợ nhau, vì dù sao lý trí ta cũng phải phần nào thấy được sự lờ mờ hợp lý của chính nội dung mệnh đề mới có thể tin được. Thí dụ: nội dung mệnh đề “Giêsu đã chết thật và đã sống lại” tuy có chỗ khó chấp nhận nhưng đào sâu xét kỹ có thể có lý do nào đó để chấp nhận. Trái lại nếu ai nói: “Giêsu có 5 đầu, 6 tay và luôn luôn đi đầu xuống đất chân lên trời” thì nội dung này khó chấp nhận hơn. Vì sự sống lại của Giêsu có một ý nghĩa nào đó mà suy cho sâu gẫm cho cùng cũng sẽ lờ mờ thấy hợp lý; chứ việc Giêsu 5 đầu, 6 tay, luôn đi đầu xuống đất, chân lên trời, không có ý nghĩa gì để thấy nó có thể là có lý, là hợp lý cả.

Vì vậy, những lý do để đức tin của chúng ta hợp lý về mặt thứ hai dù có nhiều và có giá trị bao nhiêu đi nữa thì chúng ta cũng phải tìm những lý do làm cho đức tin của chúng ta hợp lý theo mặt thứ nhất. Nghĩa là chúng ta phải cố gắng tìm thấy rằng nội dung của một số tín điều thường bị xem như không hợp lý bởi một số người, thực ra cũng hợp lý trong một chiều hướng, trên một bình diện, ở một tầm mức nào đó. Muốn thấy vậy, ta phải biết là để chấp nhận một mềnh đề là đúng, ta có nhiều loại lý do khác nhau tuỳ theo từng lãnh vực. Thử so sánh các mệnh đề sau đây:

1/ 2+2=4

2/ Dưới áp lực không khí bình thường nước bốc hơi nếu được đun lên tới 100 độ C.

3/ Xét về nghệ thuật, thơ của Nguyễn Du hay hơn thơ của Nguyễn Đình Chiểu.

4/ Người vị tha có thể hưởng ít khoái lạc hơn, nhưng có hạnh phúc hơn người vị kỷ.

5/ Anh X là người trung tín có thể tin cậy được.

Những cái lý để ta cho mệnh đề 1 là đúng khác hẳn cái lý để ta cho mệnh đề 3 hoặc mệnh đề 5 là đúng. Nếu có ai bắt buộc ta chứng minh sự thật của mệnh đề 3 và mệnh đề 5 y như chứng minh mệnh đề 1 thì người đó đã thật sự không hiểu gì về luận lý và phương pháp.

Cũng vậy, đòi hỏi chứng minh những tín điều theo phương pháp toán học hay khoa học tự nhiên là một điều không hợp lý vì đức tin thuộc về một lãnh vực khác. Để chấp nhận các tín điều, trí tuệ tôi dựa vào những lý khác loại với những lý đưa tôi đến chỗ chấp nhận một định lý toán học hay một định luật khoa học, cũng như để tin vào lòng trung tín của anh X, để xác nhận thơ của Nguyễn Du hay hơn thơ của Nguyễn Đình Chiểu, tôi phải dựa vào những lý thuộc về lãnh vực riêng của văn nghệ, của sự giao du giữa người với người. Không thể nói rằng tôi không chứng minh được cái hay của thơ Nguyễn Du, lòng tin của anh X, như chứng minh một định lý toán học, hay kiểm nghiệm một định luật khoa học thì sự chấp nhận cái hay của thơ Nguyễn Du, lòng trung tín của anh X là không hợp lý!

Có cái lý của toán học, có cái lý của hoá học, có cái lý của tâm lý học, có cái lý của xã hội học, có cái lý của siêu hình học, có cái lý của thần học v.v… Đòi hỏi áp dụng cái lý cùa lãnh vực này sang lãnh vực khác, là một điều không hợp lý. Hầu hết các luận cứ của người cho rằng đức tin không hợp lý đều có tính cách không hợp lý vì đòi hỏi áp dụng những lý thuộc về lãnh vực khác vào lãnh vực tôn giáo. Họ nhân danh lý trí nhưng thực ra họ làm một việc không hợp lý, chẳng khác nào đòi dùng phương pháp toán học để chứng minh thơ Nguyễn Du là dở!

Thực ra dưới cái “LÝ” là cả một mớ quan niệm rất hàm hồ. Trừ nguyên tắc mâu thuẩn ra, cái mà người ta gọi là lý là cả một số những qui tắc cần phải được phân biệt rõ ràng tuỳ theo từng lãnh vực của nhận thức con người. Đành rằng con người phải có óc phê phán, phải thận trọng hết sức khi chấp nhận cái gì là sự thật, nhưng cũng phải có tầm nhìn sâu xa, rộng rãi, uyển chuyển, tinh tế, để phân biệt chân, giả trong nhiều lãnh vực khác nhau. Nếu đòi hỏi phải chứng minh cho bằng được chuyến xe hàng ta sắp đi sẽ không có tai nạn bằng phương pháp toán học mới chịu bước lên xe thì có lẽ không ai dám di chuyển đi đâu bằng phương tiện xe cộ cả, chỉ có đi bộ thôi! Mà muốn đi bộ lại sẽ không gặp tai nạn nào mới chịu rời khỏi nhà, thì chẳng ai dám đi đâu cả! Và nếu chỉ chịu ở trong nhà với điều kiện là phải chứng minh bằng phương pháp toán học cho thấy nhà không sập thì chẳng ai dám ở trong nhà cả! Nói vậy để ý thức vấn đề xác tín là một vấn đề phức tạp, và do đó từ ngữ “HỢP LÝ” phải được hiểu một cách đa dạng, rộng rãi chứ không thể đóng khung vào một khuôn khổ độc nhất, chật hẹp, cứng ngắc. Làm như thế, tưởng là có lý, nhưng thực ra chỉ là một thái độ cố chấp, khép kín, hẹp hòi và cuối cùng là không hợp lý chút nào cả.

Bên cạnh sự kiện có nhiều loại lý tuỳ theo từng lãnh vực, lại còn sự kiện trong mỗi lãnh vực cái lý cũng có tính cách tương đối nhất thời chứ không phải là vĩnh viễn tuyệt đối. Mỗi một thời đại tất cả các kiến thức được sắp xếp vào một hệ thống chặt chẽ, điều hợp nhất trí. Cái gì mà người ta không sắp xếp được một cách ổn thoả thì người ta gọi là không hợp lý. Thí dụ: trong một thời đại mặt đất còn được hình dung như là một cái đĩa dẹp và tròn, mà bảo rằng: trên mặt đất có thể có hai người cùng chân đạp đất đầu đội trời, thế mà lại đối chân và ngược đầu với nhau (antipode) thì ai cũng cho là không thể có được vì không hợp lý. Nhưng đến lúc biết được quả đất hình cầu thì việc ấy lại là chuyện hợp lý.

Thực ra cái mà người ta tưởng là một cái lý vĩnh viễn, tuyệt đối, có khi chỉ là một toàn bộ kết thành bởi những nguyên tắc, bởi những sự kiện do sự hình dung của một thời đại một trình độ kiến thức nào đó được điều hợp thành một hệ thống để con người có một cái nhìn nhất quán về sự vật trong một hệ thống duy nhất, mà trong đó mọi sự được lý giải và nhờ đó con người có thể dựa vào các mối liên hệ được thiết lập giữa các sự vật để hành động cho có hiệu quả mà thôi. Sự lý giải ấy chẳng qua là sắp xếp cho ổn định của một sự vật một cách ổn định và điều hợp trong toàn bộ của một hệ thống duy nhất, chứ thực ra không đào sâu vào nguyên nhân căn bản của sự vật, mà chỉ thiết lập tương quan giữa các sự vật và các khái niệm mà thôi. Thường thường, mỗi khi có sự kiện gì khác thường không tìm được chỗ ổn định để sắp xếp vào trong toàn bộ hệ thống ấy, thì người ta vì lười biếng trí tuệ, vội gạt phăng đi, phủ nhận nó và cho là không hợp lý. Nhưng đối với những người có óc hiếu tri, họ lại cố gắng tìm cách lý giải, hợp lý hoá sự kiện được xem như lạ lùng ấy, bằng cách sửa lại quan niệm cũ, nới rộng, linh hoạt hoá các hệ thống cũ để cho sự kiện mới mẻ kia có một chỗ đứng được điều hợp trong toàn bộ một hệ thống mới. Sở dĩ kiến thức loài người tiến bộ được là nhờ những sự kiện lúc đầu thường bị xem như là phi lý không thể có được, thôi thúc đi tìm cách lý giải. Ngay trong giới khoa học, những phát minh mới mẻ, lúc mới ra đời cũng gặp sự phản đối kịch liệt của các nhà bác học kỳ cựu, có uy tín lớn, nhưng đã quá quen suy nghĩ trong khuôn khổ của hệ thống khoa học hiện hành.

Như vậy, cái mà người ta thường cho là cái LÝ vĩnh viễn tuyệt đối, thực ra chỉ là những cái lý riêng biệt, tương đối của từng lãnh vực, từng thời đại, chỉ là cái nhìn, sự hình dung, cách lý giải về sự vật vô cùng vô tận, của một giai đoạn trong sự tiến bộ không ngừng của trí tuệ con người mà thôi. Những cái lý ấy chỉ là sản phẩm của trí năng con người luôn luôn sinh hoạt, luôn luôn đổi mới tiến bộ, luôn luôn đào sâu, nới rộng những hệ thống kiến thức để mỗi ngày mỗi thêm tinh vi, phong phú, uyển chuyền. Cho nên vội vã tuyên bố một việc nào là không hợp lý một cách tiên quyết, cứng ngắc, hẹp hòi thì đó là dấu chỉ của một não trạng thủ cựu, cố chấp, hẹp hòi, cằn cỗi chứ không phải là một não trạng biết tôn trọng sự kiện và trí năng linh hoạt của con người.

Nếu chúng ta thấy rõ giá trị nhất thời và cục bộ của cái mà ta gọi là lý, ta sẽ không bị dao động bao nhiêu trước những vấn nạn của chính mình hoặc của kẻ khác nêu ra, khi thấy tín điều này hay tín điều nọ có vẻ như không hợp lý. Trái lại điều đó có thể giúp ta suy nghĩ, tìm tòi để lý giải phần nào những tín điều ấy bằng cách đào sâu, mở rộng những hệ thống quan niệm của ta. Chính nỗ lực ấy là nguồn phát sinh ra các hệ thống thần học và cũng chính những nỗ lực ấy đã góp phần rất nhiều trong sự hiểu biết mỗi ngày một hơn về con người. Chẳng hạn vấn đề Thiên Chúa Ba Ngôi đã đưa đến kết quả giúp ta phân biệt Ngã vị (Ngôi, personne) và bản thể (nature). Và nhờ đó nảy sinh cả một nền suy tư phong phú về giá trị nhân vị con người và về tình yêu giữa hai Ngã vị. Vấn đề ân sủng và tự do là nguồn phát sinh ra cả một hệ thống sâu sắc về tự do của con người. Và có lẽ một tôn giáo thường bị người ta cho là giáo điều, tha hoá con người v.v… chính lại là nơi mà suy tư con người đào sâu nhất về vấn đề Ngã vị và tự do của con người, và thường cũng là thành trì cuối cùng và kiên cố để bảo vệ giá trị tối thiêng liêng của Ngã vị và tự do con người trước sự uy hiếp của mọi quyền lực ở đời này. Cả một nền suy tư sâu sắc, phong phú về tự do, ngã vị, tình yêu, sáng tạo của con người, sở dĩ có được là nhờ những lý giải (trong mức độ có thể của trí tuệ con người) những tín điều mà một số người vội cho là không hợp lý. Và ta có thể nói lý thuyết duy vật chưa chắc đã giúp con người hiểu rõ bản chất và giá trị của vật chất bằng mầu nhiệm Phục sinh và bí tích Thánh Thể.

Chúng ta có thể cùng Pascal mà kết luận: “Điều cao nhất mà lý trí loài người đạt được là ý thức rằng vũ trụ bao la còn có những điều vượt khỏi tầm với của trí năng con người”. Cái nhìn khiêm tốn ấy, chính là một động lực để thúc đẩy con người cố gắng suy tầm, tìm hiểu những gì mình chưa hiểu nỗi; trái lại hễ thấy cái gì khác thường, vội vã kiêu căng gạt đi, cho là không hợp lý, để ngủ yên trong cái hệ thống lý chật hẹp, phiến diện, cứng nhắc của mình, là một thái độ cố chấp, phản lý trí.

Nhìn lại lịch sử tư tưởng Tây phương sở dĩ nó có tính cách sinh động, phong phú (khác hẳn với sự ngưng đọng của các nền tư tưởng khác như Ấn Độ, Trung Hoa). Chắc chắn chính là nhờ sự thúc bách của nỗ lực thần học tìm cách lý giải những vấn nạn, những hóc hiểm của các mầu nhiệm Kitô giáo vì hầu hết các mầu nhiệm ấy dồn lý trí con người vào thế phải giải quyết những sự kiện hầu như nghịch lý (paradoxal). Và nhờ vậy bắt buộc trí tuệ phải làm việc một cách phi thường phá vỡ những khái niệm, những hệ thống cố định chật hẹp một chiều chứ không thể để nó yên nghĩ tự mãn trong chính những khuôn khổ do mình tạo ra.

* * *

Trên đây chúng ta đã thấy rằng sở dĩ khoa học tiến bộ là nhờ những đầu óc biết tôn trọng những SỰ KIỆN (mới xem qua có vẻ như là nghịch lý) và nỗ lực lý giải bằng những quan niệm mới, những hệ thống mới. Về mặt này có những điểm tương đồng giữa suy tư thần học Kitô giáo và Khoa học thực nghiệm. Cả hai đều đi từ việc tôn trọng SỰ KIỆN (dù là sự kiện mới xem qua tưởng như là nghịch lý) rồi cố gắng tạo ra những quan niệm mới, những hệ thống mới để lý giải (tức là để tìm hiểu những cái KHÓ HIỂU) những sự kiện ấy, chứ không gạt bỏ chúng một cách tiên quyết dựa vào những quan niệm, những hệ thống sẵn có. Thay vì vội vã, kiêu căng tuyên bố các sự kiện mới lạ là không hợp lý, thì cố gắng đào sâu vươn cao để tìm ra cái lý mới của chúng.

Bạn nên nhớ đức tin của chúng ta không phải là một hệ thống tư duy sẵn có do con người tạo ra, mà là những sự kiện khách quan đã xảy ra và con người phải nhìn nhận là có THẬT và phải cố gắng mà tìm hiểu lấy. Tinh thần khoa học chân chính là tinh thần biết tôn trọng sự kiện, rồi cố gắng dùng lý trí lý giải sự kiện chứ không phải lấy lý trí làm khuôn áp đặt lên sự kiện.

Nói cho cùng nguyên tắc mà xét thì chỉ có thuyết của Parménide là hợp lý, chỉ có một hữu thể duy nhất, hằng hữu bất biến, v.v…vì nó không ngược với nguyên tắc căn bản của lý trí là ĐỒNG NHẤT. Nhưng sự kiện thì khác: muôn loài muôn sự dị biệt, đa tạp, biến dịch không ngừng, không hợp lý chút nào cả; cả vũ trụ muôn màu sắc là không hợp lý! Sao con rít có hằng trăm chân, con rắn lại không có chân! Sao lửa lại nóng, tuyết lại lạnh! Sao cây bầu cây bí thân cây nhỏ, quả lại lớn! Cây nhãn quả thì bé, mà thân lại lớn! Sao hạt lúa hẩm nát đi lại sinh hằng trăm hạt vào mùa gặt. Sao cô bé mũm mĩm kia sẽ là một cô gái mỹ miều, rồi sẽ là một bà già tóc bạc da mồi v.v… toàn là không hợp lý cả! Thái độ duy lý cực đoan đó đã đi đến chỗ phủ nhận thực tại đa tạp và biến dịch, cho nó là hư vô, là ảo ảnh! Và chỉ có một cái HỮU duy nhất, vĩnh viễn bất biến v.v… kiêu ngạo lấy lý trí con người làm khuôn cho vạn vật!

Trí tuệ con người sở dĩ tiến bộ là nhờ thái độ khiêm tốn duy thực: đón nhận SỰ KIỆN, bắt lý trí tìm hiểu sự kiện, chứ không áp đặt khuôn khổ của lý trí lên sự vật để khỏi phải mất công tìm hiểu, mất công thay đổi quan niệm, hệ thống của mình. Vừa kiêu căng vừa lười biếng trí tuệ, vừa thiếu liêm khiết. Kết quả là giam hãm con người trong những khuôn khổ cứng nhắc, chật hẹp, kìm hãm bước tiến của trí tuệ. Những phát minh của nhân loại là nhờ ở những kẻ biết thấy sự kỳ quặc của sự vật (chứ không nhân danh cái lý của mình gạt bỏ nó) rồi bắt lý trí tìm cho ra cái lý của nó chứ không phải cái lý mình gán cho nó.

Vì thế mỗi sự kiện có cái lý riêng của nó, thuộc lãnh vực riêng của nó. Có cái lý toán học, có cái lý vật lý học, có cái lý tâm lý học, có cái lý xã hội học, có cái lý siêu hình học, có cái lý thần học v.v… chứ không có cái lý chung chung! Trí tuệ con người là một năng khiếu sáng tạo ra trăm nghìn cái lý trong khi tiếp xúc đón nhận sự vật chứ không phải là cái thùng chứa một số lý bất di bất dịch có sẵn, chỉ cứ việc áp đặt lên sự vật thôi.

* * *

Tới đây chắc bạn đã thấy khá rõ vấn đề nhưng cũng chưa phải là lúc chúng ta kết luận rằng: Đức tin chúng ta là hợp lý, mà chỉ mới đi tới chỗ có điểm nào trong các tín điều mà chính ta hoặc người khác cho là không hợp lý, thì ta phải thận trọng xem là không hợp lý nào? Và cái lý ấy có thẩm quyền, có liên quan gì đến lãnh vực đối tượng đức tin không? Với lại bạn đừng quên là tìm cho ra cái lý của sự vật không phải là dễ.

Một khối óc như Newton mà phải bận tâm suy nghĩ tìm tòi mới tìm ra được cái lý của một sự kiện rất thông thường là quả táo rơi. Một khối óc như Pascal mà cũng phải tốn bao nhiêu công lao mới tìm được cái lý của sự kiện nước chỉ lên có một cao độ nào đó trong ống thuỷ tinh, rồi để lại một khoảng chân không có tính cách kỳ lạ đối với quan niệm cổ truyền là thiên nhiên sợ chân không.

Hơn nữa, nói lý giải sự vật thì cũng chỉ lý giải phần nào thôi chứ đâu có tìm thấy cái lý rốt cùng của sự vật được! Ngay một việc tầm thường như tại sao bàn tay con người lại thường chỉ có 5 ngón thôi thì cũng chẳng ai biết được cái lý rốt ráo của nó cả! Sao lại 5 không phải là 7; mà nếu 7, sao lại 7 mà không phải là 9 v.v… Tại sao hàm răng con người không phải là 80 cái, mà nếu 80 cái, tại sao không phải là 120 cái v.v…

Cái lý cuối cùng là đâu? Cái mà trí tuệ gọi là lý chẳng qua chỉ là một cách tạm gọi là nắm được phần nào cái mầu nhiệm không đáy của bất cứ một sự vật gì dù là thông thường hết sức như một giọt sương lấp lánh dưới ánh mặt trời ban mai, hay ánh trăng vằng vặc trên mặt nước hồ thu, hay ánh mắt của một em bé, hay một ngọn lá vàng rơi tạt vào khung cửa sổ rụng trên mái tóc của một người quả phụ khóc chồng, hoặc sự ra đi vĩnh viễn của một bậc anh tài vô ý vướng phải dây điện cao thế rơi ở vệ đường.

Xét về một mặt nào đó, sự ngơ ngác của một em bé, của một người tiền sử trước vũ trụ bao la, có lẽ hiểu rõ cái mầu nhiệm hiện hữu hơn là sự tự đắc của một chàng sinh viên năm một khoa học trước thành quả tốt đẹp anh ta đã thí nghiệm được. Nếu cái ngơ ngác của em bé hay của người tiền sử là chỉ thấy rừng bao la mà không thấy rõ cây thì cái tự đắc của chàng sinh viên khoa học là chỉ thấy cây, để cây che khuất cả khu rừng bao la bát ngát. Chúng ta nói anh chàng sinh viên năm một khoa học chứ chúng ta không nói nhà khoa học lão thành, vì chỉ có ai mới được tập tễnh vài bước vào thế giới kiến thức mới coi trời bằng vung, chứ các thiên tài của nhân loại vì đã đi cùng đường kiến thức nên thường là khiêm tốn như Newton đã tự ví mình như em bé lấy vỏ hến múc nước của trùng dương chứ không dám tự cho mình đã lý giải được sự vật muôn trùng diệu vợi.

Giữa con người đã đặt chân trên mặt trăng và nhà thơ viết câu: “Vàng gieo ngấn nước cây lồng bóng sâu” với người nông dân hát câu: “Cớ sao múc ánh trăng vàng đổ đi!”; giữa nhà nghiên cứu luật rơi của sự vật và nhà thơ viết: “Vàng bay mấy lá thu hầu hết”, ai đã đi sâu, ai nắm được thực thể của sự vật? Ai thấy được cái lý của vạn vật hơn? Để trả lời những câu hỏi này ta cần phải suy gẫm kỹ, chớ vội vàng hấp tấp! Cơn khủng hoảng trầm trọng mà nhân loại đang trải qua từ đệ nhất thế chiến đến nay về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá biết đâu lại chẳng phải vì đã tuyệt đối hoá, vĩnh viễn hoá một thứ lý nào đó (cái lý của phe duy lý) lấy nó làm cái lý vô tận vô biên của mọi sự, vượt qua vượt xa tầm với của con người. Pascal quả là một vĩ nhân khi nói “Điểm cao nhất của lý trí là biết rằng có những điều vượt quá tầm của lý trí”. Đó mới thật là người đã biết rõ lý trí là gì. Cái đó cũng không có gì làm lạ, vì Pascal là người có một lý trí siêu đẳng, cũng như người đã trèo lên thành giếng mới biết trời bao la chứ không phải chỉ là miệng giếng, chỉ có cóc ngồi đáy giếng mới đóng khung chân trời bao la vào khuôn khổ chật hẹp của miệng giếng mà thôi.

Nếu hiểu rõ giới hạn của lý trí thì vấn đề đức tin và khoa học cũng đã được giải quyết rồi.

ĐỨC TIN và KHOA HỌC (TỰ NHIÊN)

Chúng ta thử suy nghĩ hai vấn đề liên quan đến Khoa học tự nhiên, đó là vấn đề tất định và vấn đề xin tạm gọi là “Duy vật khoa học” hay “Duy vật phương pháp” (matérialisme scientifique, matérialisme méthodique) để phân biệt với “Duy vật triết học” (matérialisme philosophique).

VẤN ĐỀ TẤT ĐỊNH

Công việc của nhà khoa học là đi tìm những định luật chi phối các hiện tượng. Đi tìm những định luật tức là đã bao hàm giả thuyết cho rằng: “trong cùng những điều kiện như nhau, sự vật đâu đâu và thời gian nào cũng xảy ra như nhau”. Thí dụ: cùng dưới một áp lực không khí bình thường nước được đun nóng lên 100 độ C thì sẽ bốc thành hơi”. Và cái giả thuyết bảo sự vật sẽ xảy ra thường đều (constant) trong những điều kiện thường đều là điều kiện để thành lập ra qui luật, vì nếu không tin vào giả thuyết ấy, không ai lại mất công đi tìm định luật, cũng như nếu không tin sự vật sẽ xảy ra một cách thường đều, mà mỗi nơi mỗi khác, không thể có khoa học được. Và giả thuyết ấy là nguyên tắc nhất định, hay nói cho chính xác, là định đề tất định.

Tất định, định luật, khoa học tự nhiên, đó là ba khâu của một vòng xích.

Khoa học tìm định luật, mà chỉ có thể có định luật nếu định đề tất định là đúng. Và ngược lại định đề tất định chỉ được kiểm chứng là đúng khi khoa học đã thành lập được một số định luật mà thôi. Nhà khoa học phải tin vào định đề tất định mới mất công đi tìm định luật, và chỉ có tìm ra được định luật mới kiểm chứng được quả thật cái định đề mình dựa vào để làm việc là đúng. Tuy nhiên tất định khoa học (Déterminisme scientifique) chỉ là một “giả thuyết phương pháp để làm việc” (hypothèse de travail) nghĩa là một giả sử để dựa vào đó mà làm việc, nghiên cứu, tìm tòi, và chỉ được xác nhận sau khi làm việc tìm tòi có kết quả tốt.

Nhà khoa học không tuyên bố: “TẤT CẢ MỌI SỰ đều do nguyên tắc tất định chi phối”. Có thể có NHỮNG SỰ VẬT xảy ra theo tất định, và nếu thế, tôi có thể tìm ra định luật chi phối NHỮNG SỰ VẬT ẤY; và khi tôi kiểm chứng được có NHỮNG SỰ VẬT chịu sự chi phối bởi định luật ấy thì giả thuyết tất định của tôi quả là đúng. Công việc của nhà khoa học là chỉ biết đến những sự việc do nguyên tắc tất định chi phối và nỗ lực của họ là càng khám phá ra nhiều định luật càng hay.

Nói cách khác, khoa học không có quyền tuyên bố TẤT CẢ đều tất định, mà chỉ tuyên bố có NHỮNG SỰ KIỆN tất định; và những sự kiện này mới thuộc lãnh vực của tôi. Còn vấn đề tất cả có tất định hay không là một vấn đề triết học không thuộc phạm vi khoa học tự nhiên.

Cần phải nhớ là khoa học tự giới hạn mình vào những sự kiện tất định, đi tìm các định luật chi phối các sự kiện ấy, thế thôi! Có thể tất cả đều tất định, nhưng để biết bên nào là đúng giữa hai quan niệm ấy, thì khoa học không có thẩm quyền mà là do suy tư triết học.

Nói tóm lại, cần phải phân biệt định đề tất định. Bất cứ nhà khoa học nào dù duy tâm hay duy vật, vô thần hay hữu thần, duy tất định (về mặt triết học) hay duy vô tất định (về mặt triết học) thì lúc vào phòng thí nghiệm, lúc tìm định luật cũng đều phải chấp nhận định đề tất định cả. Nhưng khi bàn đến Vũ trụ quan (là một vấn đề triết lý) thì không có quyền nhân danh định đề tất định khoa học để tuyên bố là “Tất cả đều tất định” và cũng không có quyền nhân danh những giới hạn của khoa học để tuyên bố “Không phải TẤT CẢ đều tất định”. Hai mệnh đề này chưa biết bên nào đúng, bên nào sai, nhưng có một điều phải nắm vững là những luận cứ đưa ra để biện hộ cho mệnh đề này hay mệnh đề kia chắc chắn không thuộc phạm vi khoa học mà thuộc phạm vi triết học. Nếu dựa vào uy tín của khoa học để hỗ trợ cho quan niệm của mình về vấn đề triết học này là phạm lỗi lầm lẫn hai lãnh vực, là lạm quyền, là thiếu liêm khiết trí thức.

Dù bạn thuộc về phía nào, từ ngữ TẤT CẢ là một từ ngữ triết học, siêu hình; khoa học không bao giờ có tham vọng nắm TẤT CẢ vào phạm vi của mình. Vì khoa học dựa vào thực nghiệm thì dù nhiều bao nhiêu cũng không bao giờ áp dụng được cho tất cả. Khi thời gian và không gian là vô hạn, làm sao thực nghiệm ôm tất cả vào cánh tay hữu hạn của mình được, dù cánh tay có dài mấy đi nữa thì cũng chỉ là hạn hữu mà thôi.

Nếu nhân danh khoa học, ta có quyền tuyên bố: “NHỮNG GÌ tôi nắm được thì tất định, còn vấn đề tất cả có tất định hay không, điều đó chẳng liên hệ gì tới tôi cả!”. Có nhà khoa học thuộc phái “duy tất định”, có nhà khoa học khác thuộc phái “tất định giới hạn”, nhưng khi họ thuộc phái nào thì không phải là với tư cách một nhà khoa học nữa, mà là với tư cách một người có vũ trụ quan, một nhân sinh quan nào đó trên bình diện triết học, bởi vì những luận cứ đưa họ tới kết luận này hay kết luận kia không phải là những luận cứ khoa học mà là những luận cứ triết học siêu hình.

* * *

Đến đây, tưởng để nắm vững vấn đề hơn, chúng ta nên phân biệt rõ giữa tất định và tất yếu. Những sự kiện mà nhà khoa học tìm ra được các qui luật chi phối là tất định, nghĩa là xảy ra một cách thường đều (trong những điều kiện như nhau thì không thay đổi). Nhưng những định luật tự nhiên là thường đều (constant) chứ không phải tất yếu (nécessaire). Chúng vẫn là bất tất (contigents). Nghĩa là khoa học dựa vào kinh nghiệm trên những kinh nghiệm CÓ ĐÓ của vũ trụ này của chúng ta, thành lập những định luật thường đều của vũ trụ này và tuyên bố là trong vũ trụ hiện có, đang có này thì có những sự kiện theo những định luật như thế, chứ không tuyên bố là vũ trụ này tất phải có (không thể không có) và tất phải đang có và đã có (chứ không thể khác được). Nghĩa là nhà khoa học không phủ nhận mà cũng chẳng khẳng định vũ trụ này có thể không có, và có thể có một cách khác. Nghĩa là hiện nó có và có như thế đấy, nhưng nếu nó không có, hay có một cách khác thì không phải là điều không thể có.

Thực ra, vấn đề này không thuộc về khoa học mà thuộc về phạm vi triết học. Có nhà khoa học quan niệm vũ trụ này với định luật của nó là tất yếu; có nhà khoa học khác lại quan niệm chúng là bất tất. Nhưng thuộc về phái nào, những quan niệm ấy vẫn là kết luận của luận cứ triết học của ông ta chứ không phải do những luận cứ khoa học. Vì cũng như vấn đề trên, nhân danh khoa học ta chỉ có thể trả lời: “Tôi biết có vũ trụ này tôi phân tích nó, phát kiến ra những định luật như thế, còn vấn đề sự hiện hữu của vũ trụ này và những định luật của nó là tất yếu hay bất tất, điều đó chẳng liên hệ gì tới tôi cả”. Nhân danh khoa học mà kết luận về phía này hay phía khác là phạm lỗi lạm quyền y như trên kia vậy.

VẤN ĐỀ DUY VẬT KHOA HỌC (TỰ NHIÊN)

Như bạn đã biết. một phương pháp của khoa học tự nhiên là phân tích cái phức tạp khó hiểu để tìm cái dễ hiểu nằm bên dưới thượng tầng, chẳng hạn phân tích một hiện tượng sinh lý để tìm ra những hiện tượng lý hoá đơn giản hơn nằm ở hạ tầng; phân tích những hiện tượng tâm lý phức tạp để tìm ra những hiện tượng sinh lý ở hạ tầng; phân tích những hiện tượng xã hội phức tạp để tìm ra những hiện tượng kinh tế ở hạ tầng, v.v…

Cái xu hướng của khoa học là giản lược, hướng hạ, để hiểu những cái nằm bên trong hay ở dưới hạ tầng của những hiện tượng phức tạp rối rắm, hầu hiểu chúng một phần nào. Vì vậy thường thường khoa học cứ giản lược, hướng hạ vấn đề đến hạ tầng thấp nhất là vật chất. Nói cách khác, cách lý giải của khoa học giống như ta tháo gỡ từng bộ phận của một chiếc máy phức tạp, chứ khoa học không đặt vấn đề các bộ phận được qui tụ, kết hợp bởi lý do nào.

Vì thế dù là quan niệm triết học của cá nhân nhà khoa học là gì đi nữa (duy tâm hay duy vật, vô thần hay hữu thần) thì khi bước vào phòng thí nghiệm, lúc tìm định luật, đặt giả thuyết, ai ai cũng đều áp dụng phương pháp giản lược, hướng hạ và duy vật như vậy cả. Riêng về khoa học tự nhiên thì chỉ biết có vật chất và chỉ lưu ý đến khía cạnh vật chất của sự vật và gác vấn đề tâm linh ra ngoài.

Một nhà bác học kitô giáo như Paul Chauchard chẳng hạn, khi lấy tư cách là một nhà sinh học, ông chỉ nghiên cứu ý thức con người dưới khía cạnh bộ não mà thôi. Ông ta không tuyên bố ý thức là do não tiết ra như Le Dantec, nhưng ông giới hạn việc nghiên cứu của mình dưới khía cạnh NHỮNG ĐIỀU KIỆN não cân của sự xuất hiện, biến chuyển, vận dụng ý thức của con người mà thôi. Như vậy, không phải ông chấp nhận thuyết duy vật siêu hình (chủ trương CHỈ CÓ vật chất mà thôi), nhưng lúc làm việc khoa học, ông ta gác vấn đề linh hồn con người ra một bên, và chỉ nghiên cứu những điều kiện sinh lý của những hiện tượng ý thức thôi. Ngược lại, khi ông ta khẳng định con người có linh hồn bất tử ông ta đã không dựa vào những công trình luận cứ khoa học để đi đến kết luận đó. Nhà khoa học chỉ tìm xem dưới những điều kiện não cân nào ý thức xuất hiện. Chứ nhà khoa học với tư cách là nhà khoa học, ông không tuyên bố sự sống CHỈ LÀ sản phẩm của não cân. Nếu có thiên về thuyết duy vật siêu hình (CHỈ CÓ vật chất MÀ THÔI) hay về thuyết tâm linh là do những luận cứ của con người làm việc suy tư triết học của ông ta mà thôi.

Từ “CHỈ CÓ MÀ THÔI” là một từ ngữ của triết học, vì khoa học thực nghiệm chỉ dựa vào những sự kiện hiện có, ghi nhận được bằng giác quan trực tiếp hay qua dụng cụ máy móc chứ không có tham vọng cho rằng mình đã gạn lọc được hết mọi hiện tượng, nên không bao giờ tuyên bố “Chỉ có… mà thôi” cũng như không bao giờ tuyên bố “Tất cả là… “. Chỉ khi nào nắm được tất cả vũ trụ trong không gian thời gian vô hạn, mới có quyền tuyên bố: “Chỉ có… mà thôi”, “Tất cả là… “.

Thực nghiệm bao giờ cũng hữu hạn cả, có thể thuyết duy vật triết lý là đúng, có thể thuyết chủ trương có tâm linh là đúng, nhưng những luận cứ để biện hộ cho thuyết nào đi nữa thì cũng chỉ là luận cứ thuộc địa hạt triết học chứ không thuộc lãnh vực khoa học. Nhân danh khoa học để hỗ trợ cho thuyết này thuyết nọ là phạm lỗi lạm quyền, lẫn lộn lãnh vực này với lãnh vực kia. Nhà khoa học với tư cách là nhà khoa học, nhân danh khoa học mà nói thì chỉ có quyền tuyên bố: “Địa hạt của tôi là vật chất, tôi tìm những cơ cấu vật chất của sự vật, thế thôi”.

Nếu ta hỏi họ phải chăng chỉ có vật chất hay còn có tâm linh, hay chỉ có tâm linh thôi, thì về mặt khoa học họ sẽ trả lời ngay: “Điều đó chẳng liên hệ gì tới tôi cả!”. Còn nếu họ bàn về vấn đề ấy, lúc đó họ không bàn với tư cách, với tinh thần phương pháp khoa học nữa, mà đã bước sang lãnh vực suy tư triết học rồi.

Tóm lại, các vấn đề tất định, duy tất yếu, duy vật là những vấn đề ngoài phạm vi của khoa học, tinh thần khoa học không cho phép dựa vào khoa học hay lấy uy tín của khoa học để hỗ trợ cho thuyết này hoặc thuyết nọ, vì những vấn đề ấy là những vấn đề triết học. Các nhà khoa học vẫn làm triết học, nên làm triết học vì họ cũng là người (và người nào chẳng có một nhân sinh quan, một vũ trụ quan, nghĩa là người nào mà chẳng có một triết thuyết), nhưng lúc đó họ không còn áp dụng phương pháp khoa học nữa, họ không suy nghĩ như là, với tư cách là một nhà khoa học nữa. Triết thuyết của họ có giá trị như thế nào là tuỳ ở giá trị luận cứ triết học của họ, chứ không tuỳ ở giá trị công trình khoa học của họ. Có những thiên tài về khoa học nhưng suy tư triết học lại rất tầm thường, vì mỗi lãnh vực đòi hỏi những khả năng phương pháp khác nhau.

Nói vậy để ta khỏi bị uy tín của khoa học làm choáng ngợp chứ phần đông các nhà bác học lão thành đều ý thức rõ vấn đề này và ít khi họ lạm dụng uy thế của khoa học để lấn sang lãnh vực của triết học, vì hơn ai hết họ biết rõ lãnh vực giới hạn phạm vi của mình. Những nhà khoa học có tinh thần khoa học, làm việc theo phương pháp khoa học khác với những người theo triết thuyết duy khoa học (scientisme). Ta cần phải phân biệt tinh thần khoa học (esprit scientifique) với triết thuyết khoa học (scientisme philosophique) là một quan niệm triết lý có xu hướng tuyệt đối hoá khoa học, trong lúc khoa học chỉ là một trong nhiều lãnh vực khác nhau của kiến thức con người mà thôi.

KHOA HỌC và THƯỢNG ĐẾ

Từ những suy nghĩ trên đây chắc bạn đã thấy rõ là ta có thể kết luận rằng vấn đề hiện hữu của Thượng Đế (cũng như vấn đề linh hồn con người) là một vấn đề không nằm trong phạm vi khoa học. Khoa học không chứng minh mà cũng không phủ nhận sự hiện hữu của Thượng Đế. Khoa học đặt vấn đề ấy ra ngoài phạm vi của mình. Vấn để Thượng Đế là một vấn đề thuộc lãnh vực triết học. Nhà khoa học với tư cách là khoa học, không đặt câu hỏi vũ trụ này tự hữu hay có Thượng Đế tạo nên. Họ chỉ nhận lấy vũ trụ này và khám phá tìm hiểu những định luật chi phối các hiện tượng xảy ra trong vũ trụ này, thế thôi!

Thí dụ một người vô thần và một người hữu thần đều có thể chấp nhận sự tiến hoá của các sinh vật là có thực và cũng nhất trí về mặt khoa học trong khi trình bày phân tích sự tiến hoá đã xảy ra như thế nào. Nhưng phương pháp khoa học, luận cứ khoa học không thể giải quyết, cũng không hề đặt vấn đề sự tiến hoá ấy là do sự qui tụ ngẫu nhiên, hay sự qui tụ ấy là do ý đồ của một trí tuệ, một ý chí siêu việt sắp đặt. Khoa học chỉ xác nhận có sự qui tụ và phân tích xem sự qui tụ ấy đã diễn tiến ra như thế nào, thế thôi! Còn ngẫu nhiên hay có ý đồ sắp xếp của một ĐẤNG SỊÊU VIỆT, nhà khoa học với tư cách khoa học sẽ trả lời: “Điều đó chẳng liên quan gì đến tôi cả!”. Một nhà khoa học có thể là hữu thần hay vô thần, nhưng khi làm việc khoa học họ không đặt vấn đề ấy ra, và những lý do đưa họ đến kết luận vô thần hay hữu thần là những lý do không thuộc về khoa học. Họ không có quyền nhân danh khoa học để đi đến kết luận vô thần hay hữu thần.

Thật ra tất cả những vấn đề trên được bàn đến là vì chúng ta, vì trong dư luận của một số quần chúng còn rơi rớt lại những quan niệm lỗi thời về khoa học và về Thượng Đế, chứ thực ra ngày nay trong phòng thí nghiệm các nhà khoa học đủ mọi xu hướng triết học, mọi tín ngưỡng, hợp tác đắc lực với nhau trong lãnh vực chuyên môn và đã thừa rõ sự phân biệt của từng lãnh vực khoa học, triết học, tín ngưỡng. Nếu đọc những dòng chữ trên đây họ chỉ mỉm cười, lắc đầu và cho đó là những vấn đề hư tạo ngô nghê méo mó do môt thời ấu trĩ của khoa học trùng hợp với một thời lạc hậu của thần học nay đã qua rồi. Nào có khác gì hai gia đình trong quá khứ đã có sự ngộ nhận nên xích mích với nhau, nay người lớn trong hai nhà đã giải quyết xong từ lâu, chỉ còn bọn trẻ chưa thấy rõ đầu đuôi câu chuyện vẫn còn “nói leo” chí choé tranh cãi rườm tai nhức óc mà thôi!

Vì thế chúng ta tạm ngưng ở đây. Hẹn bạn thư sau.

Xin Thần trí khôn ngoan và hiểu biết soi dẫn bước đường chúng ta.

[Về mục lục]

II. THÁI ĐỘ DUY KHOA HỌC VÀ NIỀM TIN

Bạn thân mến,

Có nhiều người đồng ý rằng tôn giáo không có gì ngược với khoa học. Nhưng họ lại bảo chỉ có khoa học mới có giá trị về phương diện trí thức cũng như về phương diện hành động. Còn tín ngưỡng chỉ là một não trạng lạc hậu, nếu không hẳn là mê tín dị đoan, thì cũng chỉ là một cách giải thích mơ hồ về những điều mà ánh sáng khoa học chưa soi dọi tới, nhưng rồi nay mai khi khoa học tiến bộ, sẽ được khoa học giải đáp thôi!

Hơn nữa tôn giáo cũng chỉ là thuốc phiện thoa dịu đau khổ tất nhiên của cuộc sống dành cho những tâm hồn uỷ mị tìm cách trốn chạy những đau khổ phải có ở đời. Còn những tâm hồn sáng suốt và dũng cảm thì chỉ bằng lòng với ánh sáng của khoa học trong nhận thức và với hiệu năng của kỹ thuật trong đời sống hành động chứ không chạy trốn vào một thế giới huyền ảo nào cả. Họ cho thế giới của tín ngưỡng là thế giới của uỷ mị vẩn vơ, nếu không thần thoại thì cũng chỉ là huyền thoại! Thường thường những người này cũng có một thái độ tương tự đối với triết học và nhất là đối với siêu hình học.

Thiết tưởng không ai phủ nhận khoa học đã đem lại cho nhân loại nhiều kiến thức về ngoại giới (một em bé lên sáu ngày nay biết rất nhiều về vũ trụ mà Platon hay Lão Tử hay các tiên tri Do Thái không biết) và đã phục vụ con người rất nhiều về cuộc sống vật chất cũng như văn hoá. Con người cũng tự hào về ngành khoa học kỹ thuật và nên cố gắng tiến xa mãi trên con đường ấy. Tuy nhiên tự hào khác với tự mãn! Và nhất là lại không nên tưởng rằng thái độ suy tôn khoa học ấy là một thái độ của tinh thần khoa học. Vì vậy trước hết ta phải ý thức:

Thái độ suy tôn khoa học, cho khoa học độc tôn, không phải là hậu luận tất yếu của tinh thần khoa học, là chỉ là một thái độ triết lý của khoa học, về tri thức luận, mà ta gọi là “duy khoa học”.

Tinh thần khoa học là một phương pháp sưu tầm, làm việc theo những nguyên tắc của khoa học thực nghiệm, phát kiến sự kiện, thiết lập qui luật, đề nghị học thuyết lý giải các sự kiện vật chất và văn hoá. Còn nói rằng khoa học sẽ lý giải tất cả mọi vấn đề tri thức, sẽ giải quyết mọi vấn đề hành động, là vượt ra ngoài phạm vi khoa học, gán cho khoa học một giá trị quá sức mà khoa học (trong phạm vi của mình) không bao giờ vơ lấy cho mình cả. Quan niệm duy khoa học ấy, dù là một khoa học gia nổi tiếng đề ra, cũng không dựa trên nền tảng khoa học mà chỉ dựa hơi khoa học vì lúc ông ta tuyên bố như vậy, ông ta không làm việc với những phương pháp khoa học mà làm việc với tư cách một nhà lý luận học, một nhà triết học suy tư về triết lý khoa học, về tri thức luận.

Quả vậy, khoa học bao giờ cũng phải dựa vào sự kiện và kiểm chứng: mà sự kiện thì chỉ cho ta thấy khoa học lý giải được NHIỀU sự vật chứ chưa có sự kiện nào cho thấy và kiểm chứng rằng khoa học sẽ lý giải TẤT CẢ sự vật và giải quyết TẤT CẢ mọi vấn đề. SẼ là một cái gì còn phải CHỜ được kiểm chứng mới có giá trị khoa học. Nếu chưa thì có khác gì một niềm tin như sẽ thấy linh hồn bất tử sau khi chết, sẽ thấy thiên đàng, hoả ngục sau ngày tận thế v.v… Với cái SẼ, giả sử gì mà chẳng được.

Còn nếu khiêm tốn hơn, mà bảo rằng mình chỉ tin vào khoa học và chỉ chờ vào ánh sáng hiệu năng của khoa học, thì cũng tốt thôi! Có điều chỉ xin những người ấy hãy sáng suốt và liêm khiết trí tuệ nhận định rằng đó chỉ là một thái độ có thể là rất đúng nhưng nếu đúng thì không phải vì như thế mới hợp với tinh thần khoa học, vì tinh thần khoa học chỉ nằm trong phạm vi tìm kiếm lý giải sự kiện chứ không lan sang vấn đề giá trị độc tôn của khoa học. Do đó rất nhiều nhà khoa học trứ danh vẫn không tự mãn (tuy vẫn tự hào) với ánh sáng của khoa học và hiệu năng của kỹ thuật mà còn có những suy nghĩ về tôn giáo mà không thấy mình thiếu tinh thần khoa học.

Thực vậy, một khoa học gia sau khi ở phòng thí nghiệm ra, ý thực được sự bất lực của khoa học về vấn đề sự khổ, sự dữ, sự chết, mà có nỗ lực suy tư triết học hay đời sống tín ngưỡng để tìm ánh sáng soi rọi các vấn đề ấy, không hề đi ngược với khoa học, vì tinh thần khoa học không ngăn cản mà cũng chẳng khuyến khích ai suy tư triết học hay sinh hoạt tôn giáo, tương tự như khoa học không cấm ai, cũng chẳng khuyên ai nghe nhạc, ngâm thơ hay… yêu đương cả!

Thích suy tư triết học hay không? Thấy cần hay không? Đó là một vấn đề sống, thuộc triết lý về nhân sinh quan chứ không thuộc về khoa học, không hề hấn gì đến tinh thần khoa học cả!

Cầu nguyện để tìm sự kết hiệp giữa bản thân mình với Đấng Siêu Việt. Điều đó không phản khoa học, chỉ khi nào cầu nguyện để xin Đấng Siêu Việt làm giùm cho bài toán vật lý mới là phản tinh thần khoa học (mà cũng là ngược với một đức tin trưởng thành, chính đáng nữa). Sau khi đã tìm hiểu vì sao các chất hoá học hàm chứa trong các loại phân lại giúp cho cây hoa hồng trổ hoa thêm thơm đẹp, suy tư thêm để tìm hiểu sự sống thực vật là gì; hoặc nhận thấy nơi hương sắc của muôn loài như là “Vết chân” của Ngôi Hai Sáng Tạo in lên cây cỏ theo cái nhìn của thánh Bonaventura, thánh Gioan Thánh Giá, rồi cất tiếng hát bài ca Mặt Trời của thánh Phanxicô Khó Khăn để ngợi khen Thiên Chúa; hoặc một nhà chính trị xã hội học sau khi đã nhờ ánh sáng của các khoa học lịch sử, kinh tế xã hội để phân tích tình hình nào đó của thời thế hành động có hiệu năng hơn về bình diện tự nhiên, vẫn có thể suy nghĩ về ý nghĩa của thế sự thăng trầm và nếu có đi đến một sử quan như của Augustino, của Bossuet, của Daniélou, của Maritain hay của Marx, của Tonby thì cũng là việc thuận tình hợp lý chứ không có gì là trái với tinh thần khoa học cả. Thậm chí có đọc lời cầu nguyện theo Kinh Hoà Bình (tục truyền của thánh Phanxicô) để xin Thiên Chúa ban cho mình trở nên khí cụ hoà bình dưới sự thúc đẩy của Thần Linh Thánh Ái cũng không có gì là trái với tinh thần khoa học cả. Hoặc có ca bài Quốc Tế Ca của đệ Tam Quốc Tế hầu khích lệ tinh thần của mình cũng như các bạn đồng chí thì cũng vậy thôi.

Tất cả những thái độ ấy, có khác nhau là khác nhau ở niềm tin, ở thái độ nhân sinh và vũ trụ quan, chứ không phải là một bên có tinh thần khoa học, một bên không; vì tất cả những niềm tin, những nhân sinh quan khác nhau ấy đều bắt nguồn từ một cái gì ở ngoài (hoặc ở trên) phạm vi khoa học thuần tuý.

Không phải vì tu sĩ Mendel hát những thánh vịnh ngợi khen các kỳ công của Thiên Chúa trong tạo vật mà giá trị về thuyết di truyền của ông kém giá trị hơn những quan niệm của Lyssenkô về vấn đề này. Không phải vì Daniel Rops tin vào sự quan phòng trong các biến cố lịch sử, mà công trình khảo sát sử học của ông kém phần giá trị hơn của H.Lefebre vì ông này ca bài Quốc tế. Không phải vì Teilhard de Chardin tin rằng vạn vật đồng quy hướng thượng về chung điểm omega mà giá trị khoa học cổ sinh vật học của ông kém giá trị. Vì sao? Vì suy tư triết học hay niềm tin tôn giáo không phải là dấu chỉ một não trạng lạc hậu mà ánh sáng của khoa học đủ sức để đẩy lui: quan niệm như vậy chỉ là thành kiến tương tự như thuyết “tam trạng” của Auguste Comte.

Theo thuyết này thì trí não nhân loại qua ba giai đoạn, ba trạng thái:

1. Thần thoại (mà Auguste Comte đã lầm đồng hoá với tôn giáo. Trong một bài nói chuyện khác, chúng ta sẽ vạch rõ sự sai lầm này);

2. Siêu hình;

3. Thực nghiệm.

Giai đoạn đầu, loài người có xu hướng lý giải sự vật bằng những thần linh. Thí dụ: thần sấm, thần sét v.v…

Giai đoạn hai lý giải sự vật bằng những khái niệm trừu tượng. Thí dụ: âm, dương, hàn, nhiệt v.v…

Và giai đoạn thứ ba lý giải sự kiện bằng qui luật hằng đều. Theo Auguste Comte, hai giai đoạn đầu chỉ là thời ấu trĩ của trí tuệ, chỉ có giai đoạn ba mới là trưởng thành, chính xác và đúng đắn.

Nếu theo quan niêm này thì một anh sinh viên năm thứ nhất khoa học, có lập trường khoa học sẽ trưởng thành hơn Pascal, hơn Teilhard de Chardin, hơn Mendel vì các ông ấy còn tin vào Thiên Chúa; hơn Bergson, hơn Merleau Ponty vì hai ông này còn suy tư triết học.

Nhìn thoáng qua ta thấy thuyết của Auguste Comte có vẻ đúng, vì quả thực đầu tiên con người có cái nhìn thần thoại về vũ trụ, rồi sang giai đoạn thứ hai suy tư triết học chiếm ưu thế, và hiện nay thì khoa học thực nghiệm có vị trí vô cùng quan trọng.

Nhưng phân tích kỹ càng và sâu xa ta sẽ thấy niềm tin tôn giáo, suy tư triết học và khảo sát khoa học là đối tượng của ba xu hướng khác nhau của tâm trí con người. Ba xu hướng ấy vận dụng trên ba bình diện khác nhau, và có thể đồng thời hiện diên trong một thời đại và nơi một con người. Có lẽ lúc đầu cả ba đều cùng hoạt động nhưng chưa ý thức được sự khác biệt về bình diện nên tất cả được xếp chung một trật trong một hệ thống kiến thức duy nhất, rồi dần dần với sự tiến bộ của kiến thức càng ngày người ta càng thấy rõ sự phân hoá ra từng bình diện, chứ không có sự thay thế hay sự đẩy lùi của giai đoạn sau xoá bỏ giai đoạn trước.

Khoa học thực nghiệm trong thời Thượng và Trung cổ quả có bị kìm hãm trong những hệ thống nặng tính cách thần thoại hoặc siêu hình, nên ở giai đoạn mới phát triển này cần phải đấu tranh để giành cho được sự độc lập của mình. Nhưng thái độ duy khoa học là thái độ bành trướng bá quyền; sau khi giành được độc lập chủ quyền lại muốn lấn át địa hạt của triết học và tín ngưỡng.

Xét cho cùng, các nhà duy khoa học có thể bị kết tội tương tự như những nhà duy thần học hay duy siêu hình thời trước, nghĩa là những người có cái não trạng “duy” muốn ngành của mình lên nắm quyền “bá chủ” mọi sinh hoạt con người. Và nếu như vậy thì thật ra đó cũng chỉ là một não trạng “trung cổ” (tuy là đảo ngược) chứ đâu có tiến bộ gì! Có lẽ chính vì thế mà phần đông các khoa học gia thứ thiệt không có thái độ duy khoa học, trái lại họ rất khiêm tốn, rất liêm khiết trí thức, không miệt thị siêu hình và tôn giáo, cũng không cậy dựa vào uy tín khoa học mà biện hộ cho triết thuyết hay tín ngưỡng của họ nếu họ có suy tư triết học hay sinh hoạt tôn giáo.

Chúng ta đồng ý rằng khoa học là kiến thức có giá trị vững chắc nhờ vậy mà đã đem lại những áp dụng có hiệu năng về kỹ thuật (lên cung trăng, chữa bệnh nan y v.v…). Nhưng trên bình diện trí thức, khoa học sở dĩ được vững chắc là nhờ đã TỰ HẠN CHẾ, TỰ GIỚI HẠN lãnh vực của mình chỉ khám phá một khía cạnh của sự vật vô cùng phong phú huyền nhiệm mà thôi. Thí dụ: sở dĩ khoa quang học vững chắc là nhờ đã tự hạn chế, gác một bên những gì là huyền nhiệm của muôn màu muôn sắc.

Còn triết học siêu hình và tín ngưỡng, sở dĩ không vững chắc bằng vì suy tư triết học đáp ứng nhu cầu muốn đào sâu tận căn nguyên cội rễ của sự vật, muốn có cái nhìn tổng hợp toàn bộ, toàn diện của sự vật; vì tín ngưỡng phải đáp ứng nhu cầu tìm ý nghĩa rốt cùng của nhân sinh và vũ trụ, và nhất là ý nghĩa của cuộc đời con người cá nhân, cũng như cả và nhân loại qua thăng trầm của thế sự cũng như qua vui buồn sướng khổ vinh nhục của con người có sinh bệnh lão tử, nhưng có yêu đương hạnh phúc, có sa ngã lỗi lầm, nhưng cũng có hy sinh tận tuỵ v.v…

Khoa học rất vững vàng, nhưng thái độ duy khoa học gần như một sự lựa chọn dập tắt mọi thao thức về trí thức cũng như về cuộc sống của con người, giản lược vào một bình diện duy nhất, là bình diện đối vật (objectal chứ không phải là objet objectif khách quan) dồn nén mọi xu hướng mọi khao khát của con người biết đưa mắt lên cao, đào sâu vào cái huyền nhiệm vô cùng của bất cứ sự vật gì, dầu chỉ là hạt sương lấp lánh dưới ánh triều dương trên ngọn cỏ hèn mọn.

Nếu khoa học khám phá được bí mật của vũ trụ và của con người về bình diện đối vật thì triết học và tín ngưỡng nâng cao, đưa xa tâm trí vào cái huyền nhiệm của vạn vật và nhất là của con người có ngã vị, có ý thức, có tự do của một chủ thể sống với những ngã vị, những chủ thể khác.

Thế kỷ XX có thể tự hào về tiến bộ khoa học và kỹ thuật nhưng đã biết gì về vẻ đẹp của những đoá hoa, nắm được ý nghĩa gì trong một nụ cười, trong một giọt lệ, trong một nghĩa cử cao đẹp, hay một hành vi tồi bại, trong thế sự thăng trầm của hai cuộc thế chiến, trong cái lo âu khắc khoải của bao nhiêu tâm trí từ những nhà lãnh đạo các quốc gia, các vị lãnh đạo tinh thần, các nhà tư tưởng, bác học, văn hoá cho đến những bận rộn trong cuộc sống hàng ngày của ngàn triệu sinh linh đang vật lộn kiếm miếng cơm manh áo, hay một chân trời sống cho xứng với phẩm giá của một con người đồng loại với những kẻ đã khám phá ra bí mật của vật chất cực vi cũng như cực đại, đơn chất cũng như phức hợp (tế bào não).

Thái độ tự hào về trí năng của con người là một điều phải vì đó là một yếu tố của ý thức nhân phẩm nơi mình và nơi kẻ khác, nhưng tự mãn tự tôn và nhất là độc tôn, lại còn dựa vào “thành quả” của bao nỗ lực kiên trì, của bao khoa học gia khiêm tốn liêm khiết, của bao lao công của các giới kỹ thuật đủ mọi trình độ (từ kỹ sư cho đến công nhân lao động đơn giản) thì cần phải xét lại, xem một thái độ như vậy có giá trị gì về khoa học cũng như về nhân sinh.

Ta có thể hỏi, tại sao với sự tiến bộ và thành công rực rỡ của khoa học kỹ thuật, cuộc sống tinh thần và văn hoá của con người ở thế kỷ XX này vẫn bị dằn vặt tuy đời sống vật chất có phát triển và đầy đủ tiện nghi hơn trước? Chẳng phải vì đã giản lược kích thước con người “linh ư vạn vật” vào một chiều kích của đối vật, đánh mất đi chiều kích ngã vị chủ thể của mình, của tha nhân, và vì mãi chúi đầu chúi mũi vào bí mật của vạn vật mà quên đi huyền nhiệm của sự hữu (Existence-Être) sao? Chẳng phải đó là điều mà triết gia Bergson nhắc đến khi ông nói “nhân loại thế kỷ XX cần được bổ sung bằng một mảnh tâm hồn” (un supplément d’âme) sao?

Vì vậy, ta có thể xét lại thuyết Tam trạng của Auguste Comte mà suy nghĩ về vấn đề này: nếu thời cận và hiện đại có một sự phát triển về kiến thức khoa học (thực nghiệm) kèm theo hiệu năng của kỹ thuật, thì chẳng phải sự phát triển ấy đã đem lại một sự mất thăng bằng nào đó, một sự đui chột nào đó về khía cạnh sâu xa huyền nhiệm của vũ trụ, của lòng người? Tiến bộ hay thoái vị?!? Hay tiến mặt này phải trả giá bằng sự thụt lùi về mặt khác!? Nếu thế thì vai trò của văn nhân, nghệ sĩ, triết gia và thiền sư, tu sĩ, đạo nhân có lẽ không phải chỉ là những người ủy mị viễn vông, yếm thế, trốn đời, mà có lẽ… Chỉ hỏi thôi, câu trả lời chúng ta hãy sáng suốt, can đảm vạch trần chân tướng của chính bản thân của cuộc sống loài người với trăm nghìn vấn đề về mọi mặt và xin mỗi người hãy tự tìm lấy cho mình.

Nhưng dầu có trả lời bằng cách nào thì cũng xin có đủ sáng suốt và liêm khiết trí tuệ mà ý thức rằng đó là một cách nhìn, một cách lựa chọn thái độ trước vũ trụ, trước cuộc đời. Ai cũng có quyền tự do cả, chỉ xin đừng dựa hơi vào khoa học chẳng những không thêm vinh quang cho khoa học mà chỉ còn làm cho kẻ thức giả mỉm cười! Mỉm cười vì suy cho cùng cũng chỉ là một lý thuyết giới hạn trong phạm vi lý thuyết trừu tượng, tranh luận suông, chứ ai thì cũng có một cuộc sống thực tế và đời sống ấy đòi hỏi ta phải đối diện với đời sống vũ trụ bao la với tha nhân và với chính bản thân, phải giải quyết cho chính mình, cho kẻ khác trăm ngàn vấn nạn về tri thức cũng như về hành động.

Nói cách khác, ai rồi cũng phải có một thái độ sống, phải đặt cho đời mình cũng như toàn bộ vũ trụ nhân sinh một ý nghĩa nào đó (ngay những kẻ chủ trương thuyết hư vô hay phi lý thì cũng đã gán cho mọi sự một ý nghĩa đó là sự vô nghĩa của tất cả). Mà đã bước sang lãnh vực ý nghĩa của vũ trụ nhân sinh thì còn đâu là thái độ duy khoa học nữa, vì đã suy tư triết học hay ít ra cũng đã chọn lựa, dù là vô ý thức, một thái độ trước cuộc đời rồi; mà hễ nói tới thái độ sống là đã vượt ra ngoài phạm vi phòng thí nghiệm khoa học rồi.

Trong căn bản, thái độ sống nào cũng được xây dựng trên cơ sở của một niềm tin cả, chứ không phải chỉ riêng cuộc sống của các tín đồ tôn giáo mới xây dựng trên niềm tin vì cuộc sống bao giờ cũng vượt quá tầm kiến thức chính xác thực nghiệm cả. Bước lên chiếc phi cơ đã là bao hàm niềm tin phi cơ không gãy cánh lưng trời rồi! Chỉ có khác nhau là tin vào cái gì, tin vào ai mà thôi!

* * *

Những suy nghĩ trên đây có thể bị hiểu lầm là chúng ta đã nhân danh đức tin để phủ nhận giá trị của lý trí và của khoa học. Vì vậy chúng ta cần xác định rằng khoa học là một sản phẩm rất có giá trị của công lao tích luỹ của bao nhiêu khối óc đã dày công tìm tòi nghiên cứu, và những áp dụng kỹ thuật của khoa học đã biến đổi rất nhiều cuộc sống của con người trong môi trường thiên nhiên và xã hội. Ta có thể tự hào về trí tuệ của nhân loại mà mượn lời của Thiên Chúa khi Ngài tạo dựng nên mỗi loài tạo vật mà nói rằng: “Và Thiên Chúa thấy là tốt”, và ta cũng có thể cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho con người có một khả năng cao quý như lý trí để khám phá những kỳ công của Ngài. Ta chỉ phê phán thái độ triết lý “duy khoa học” và thái độ dựa hơi vào giá trị, vào uy tín của khoa học để biện hộ cho một quan niệm triết học và một vấn đề thuộc luận lý học, tri thức luận, tức là về vấn đề vị trí của khoa học trong toàn bộ tri thức của con người. Và như vậy chính là ta bảo vệ giá trị đích thực của khoa học bằng cách phân biệt chính nó với cái triết thuyết lợi dụng nó, xuyên tạc nó và do đó ngược lại với nó, đó là triết thuyết duy khoa học.

Ngoài ra, không những nhờ vậy ta tránh được thái độ tự ti mặc cảm trước thành quả của khoa học kỹ thuật hoặc thái độ lên án khoa học, mà trái lại ta còn có thể có một cái nhìn tích cực hơn về mối tương quan giữa đức tin Kitô giáo và khoa học.

Thực vậy, nhiều sử gia về tư tưởng chẳng hạn như nhà bác học kiêm triết gia P.Duhem, đã đi đến nhận xét như sau: mặc dầu một vài sự kiện lịch sử như vụ án Galilê, làm cho ta có cảm tưởng đức tin trái với sự tiến bộ khoa học, nhưng nếu đào sâu suy kỹ thì thấy trong căn bản, chính môi trường văn hoá Thiên Chúa giáo lại thuận lợi cho sự phát sinh ra tinh thần thực nghiệm của khoa học vì lý do chính sau đây:

A/ Trong bài trước ta đã thấy nơi những trang đầu của Sáng Thế Ký, vũ trụ vật chất được phi linh hoá. Chính nhờ vậy mà con người được giải thoát khỏi thái độ “thần thoại” mà Auguste Comte đã phân tích: người Thiên Chúa giáo từ xa xưa đã biết không có thần sấm, thần mưa v.v… đã biết trăng sao tinh tú, cầm thú thảo mộc, tất cả chỉ là tạo vật, chỉ là sự vật được đặt dưới chân con người để con người khai thác tìm hiểu, chứ không thờ lạy chúng. Người tín hữu Thiên Chúa giáo từ xa xưa đã nhìn vũ trụ như một toà nhà do Cha mình tạo nên, mình là con, mình có quyền, có khả năng lục lọi, khám phá, sử dụng, quản lý trong khi các dân tộc khác vẫn còn đắm chìm trong bóng tối của thần thoại. Và đó là mầm sống của khoa học kỹ thuật. Nên nhớ rằng người được xem như thuỷ tổ của khoa học thực nghiệm là Roger Bacon, một tu sĩ dòng Phanxicô (con cháu của vị thánh làm bài thơ ca ngợi anh mặt trời, chị nước, chị trăng, anh sao v.v…). Suy cho kỹ ta sẽ thấy rằng con cháu của vị thánh đã ý thức được sâu xa về mầu nhiệm của vũ trụ do Thiên Chúa sáng tạo (nên là anh em của con người) lại là ông tổ của phương pháp khoa học thực nghiệm không phải là ngẫu nhiên, mà là đúng như nhận xét của Duhem cái nhìn của Thiên Chúa giáo về vũ trụ vật chất như là những sự vật thụ tạo đã giải thoát con người khỏi trạng thái thần thoại, là điều kiện để khoa học có thể phát triển.

B/ Trong bài trước ta cũng đã lưu ý là giữa nỗ lực suy tư thần học (khác với triết học duy tâm suy lý trừu tượng) với duy tâm khoa học thực nghiệm có cái gì tương tự, đó là TÔN TRỌNG SỰ KIỆN, dù sự kiện ấy thế nào ta cũng không phủ nhận cách tiên quyết. Trong Thánh Kinh Tân Ước ta thấy có hai người có tinh thần rất gần với “trạng thái duy nghiệm” đã được Auguste Comte đề cao, đó là thánh Tôma khi ngài nói: “Có được thọc tay vào các vết thương của Giêsu mới tin Giêsu sống lại!” (xem Gioan 20,25). Có lẽ không có ai có tinh thần thực nghiệm như vậy ở cái thế kỷ của ngài. Còn thánh Phêrô (ông già chài lưới vô học chứ không phải nhà triết học hay thần học) thì tuyên bố: “Các ngài bảo tôi đừng làm chứng về Giêsu Kitô làm sao được, vì tôi không thể phủ nhận những điều tôi đã chứng kiến: tai nghe, mắt thấy, tay sờ” (xem TĐCV 2,32; 3,15; 4,17-20).

Nền tảng đức tin của chúng ta xây dựng trên sự kiện duy thực, và cũng nên lưu ý rằng triết học của Giáo Hội có xu hướng duy thực theo truyền thống của Aristote chứ không theo truyền thống duy ý (Idéalisme) của Platon. Vì vậy đối với người Kitô giáo sự hiện hữu của vũ trụ vật chất là CÓ THẬT chứ không phải chỉ là sự hình dung của tâm trí loài người hoặc tâm trí một đấng thần linh siêu nghiệm nào cả! Cây thập giá, các đinh đóng vào tay, chân Chúa Giêsu là CÓ THẬT, máu và mồ hôi, nước chảy ra từ cạnh sườn của Ngài là CÓ THẬT, và thánh Gioan đã ghi chú rõ là người đã CHỨNG KIẾN THỰC SỰ mầu nhiệm cứu độ trên đỉnh đồi Golgotha (xem Gioan 19,35) là một ngọn đồi có thật, dưới một thời điểm có thật mà bất cứ nhà địa lý và sử học nào cũng có thể khảo sát và tìm kiếm được.

Khởi đầu chương 2 Tin Mừng theo thánh Luca là một cách biên niên của một tài liệu lịch sử. Còn sách Công Vụ Các Tông Đồ lại toàn là địa danh với nhân danh sử học, mà khảo cứu thì tha hồ! Từ Phêrô giáo hoàng tiên khởi cho đến Gioan Phaolô II, là một chuỗi dây nhân chứng liên tục tài liệu đầy đủ, ai có thời giờ, có khoa sử học thì tha hồ mà khảo sát phê phán!

Và có thể nói, đại cương Thánh Kinh là một tài liệu lịch sử ghi chép sự kiện Thiên Chúa đi vào lịch sử loài người. Abraham, Moise, Đavít, – Phêrô, Phaolô… Gioan Phaolô II đều bị Thiên Chúa gọi (như Ngài gọi Samuel vậy!) và hầu hết đều sợ, đều có ý muốn thoái thác cả, chứ không phải là những nhà suy tư, mơ mộng bóp đầu bóp trán nặn ra Thiên Chúa đâu! Vì vậy, có kẻ đã táo bạo nói:”Thiên Chúa của Thánh Kinh là một sự thực hiện hữu, mà phần lớn chứng nhân đã đạp phải như đạp phải cái đinh, nhiều khi muốn Ngài đừng có cho ổn, nhưng khốn nỗi Ngài hiện hữu ‘thù lù’ như cái đinh muốn phủ nhận, muốn trốn cũng không được chứ đâu phải là một ý tưởng, một phóng đại, một hình dung của tâm trí con người tạo ra!”

Quả vậy, những chân lý như Thiên Chúa Ba Ngôi, Giêsu phục sinh, Mình và Máu trong bí tích Thánh Thể, Giáo Hội thừa biết là chỉ làm cho người ta khó chấp nhận, bỏ đi e có lẽ sẽ có nhiều người theo đạo hơn, nhưng làm sao được! Vì đó là sự kiện, đâu có phải do các Tông đồ suy tư tạo ra mà là do Phêrô, Tôma v.v… đã CHỨNG KIẾN THỰC NGHIỆM giao cho Giáo Hội phải bảo tồn và lưu truyền. Còn ai muốn nghĩ sao thì nghĩ: sự kiện là vậy đó! Hiểu sao đó thì cố gắng mà tìm hiểu lấy: khoa học thực nghiệm cũng vận dụng tương tự như vậy. Và nếu chúng ta đọc kỹ những lời tuyên bố của chính Chúa Giêsu thì cũng sẽ thấy một tinh thần tương tự: Ngài cũng phải làm chứng về sự thật, về những điều mà Ngài nhận từ Thiên Chúa Cha, chứ không phải tự chính mình Ngài suy tưởng, mơ mộng viễn vông mà “DỰNG ĐỨNG” nên đâu! Và theo chân Chúa Giêsu, các thánh Tông đồ, các vị tử đạo hay nói chung các kẻ LÀM CHỨNG về Thiên Chúa đều đi đến chỗ thà chết chứ không thể nói ngược lại những điều mình đã nhận thức được và có nhiệm vụ phải LÀM CHỨNG (làm chứng nhiều hơn là chứng minh một chân lý trừu tượng vì đây là một sự kiện cụ thể. Về ý nghĩa của hai từ cụ thể và trừu tượng, xin xem phần chú giải).

C/ Ngược lại, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật nếu không rơi vào cạm bẫy của thuyết duy khoa học cũng là một trong những điều kiện thuận lợi để con người trưởng thành hơn trong tương quan với Thiên Chúa Cha cả về hai mặt nhận thức cũng như hành động. Vì tự bản chất sự tiến bộ này vốn là điều tốt, nó thể hiện cái sứ mạng mà Thiên Chúa Cha đã giao phó cho con cái của Ngài là được vinh dự tự mình tiếp tục hoàn chỉnh sự nghiệp tạo dựng của Cha mình. Do đó với viễn tượng này, ngay cả khẩu hiệu “Vắt đá thành nước, thay trời làm mưa” tuy mặc hình thức vô thần và khá ngạo nghễ, nhưng nó vẫn có giá trị nói lên quyền làm chủ thiên nhiên nằm trong cái sứ mạng mà Thiên Chúa đã giao phó cho con người để tiếp tục hoàn chỉnh và cải biến vũ trụ vật chất này.

Qua Thánh Kinh, ta thấy rằng sự hiểu biết về Thiên Chúa và cách đối xử của con người với Thiên Chúa Cha, cũng qua một quá trình từ ấu trĩ đơn sơ đến trưởng thành chín chắn. Thí dụ từ quan niệm một Thiên Chúa quốc gia (Bien National) đến một Thượng Đế phổ quát, một đời sống duy luật nhãn tiền đến một đời sống đạo đức, nội tâm, có chiều hướng siêu nhiên, liên hệ đến đời sau v.v…

Ngay các Tông đồ cũng vậy, sống cận kề Chúa Giêsu đêm ngày, mà mãi sau khi Chúa Giêsu về trời vẫn còn có phần nào ấu trĩ, phải đợi khi Thánh Linh ngự xuống mới hiểu được nhiều điều mà trước đó vẫn chưa lãnh hội nổi. Giáo Hội trong cuộc lữ thứ trần gian cũng có một sự tiến triển tương tự cho đến ngày Chúa trở lại. Đức tin cũng cần phải chín muồi hơn, sâu sắc hơn.

Thí dụ trong thời kỳ khoa học và kỹ thuật chưa phát triển, khi cầu nguyện phần “xin xỏ nhờ cậy” (khác với đức trông cậy) thường chiếm quá nhiều. Nay khoa học kỹ thuật phát triển, có thể để chúng ta dễ ý thức được sâu xa hơn: cầu nguyện chủ yếu là để con vâng ý Cha chứ khộng phải để Cha làm điều con muốn và gương mẫu là lời cầu của Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu: “Chẳng như ý con, một như ý Cha” (xem Mt 14,36; 26,39; Lc 22,42).

Nào có khác gì tương quan cha con ở trần gian, con càng lớn, càng tự lập, đạo hiếu càng sâu hơn, vì không còn là để cậy nhờ vào cha mới hiếu thảo với cha, mà trái lại sẽ phụng dưỡng cha với thái độ hiến dâng vô cùng!

Chẳng phải như vậy ý niệm Chúa quan phòng sẽ sâu sắc, phong phú hơn là quan niệm một Ông Chúa Trời, cứ đợi người ta kêu cầu rát cả cổ mới chịu chạy xuống tra tay can thiệp từng vụ một y như kiểu cửa quyền chờ người ta “năn nỉ”, thậm chí phải “trà nước” mới giải quyết cho sao? Và đỉnh cao của cầu nguyện chẳng phải là ở chỗ không “xin xỏ” mà còn đến chỗ quên mình, không ý thức rằng mình cầu nguyện đó sao?

Một thí dụ khác: Khái niệm “mầu nhiệm” trong một nền văn minh mà khoa học kỹ thuật tiến bộ, sẽ được hiểu sâu sắc hơn. Thực vậy, có thể vì trình độ khoa học còn thấp mà “mầu nhiệm” đôi khi bị lẫn lộn với “bí mật” của vũ trụ, và Thiên Chúa được xem như là đáp số chung cho những gì mà con người chưa tìm hiểu được, hay nói cách khác, khi đó Thiên Chúa được xem y như là thùng chứa “chỗ bí” của con người. Mầu nhiệm đâu phải như thế! Chẳng hạn ngay khi khoa thực vật đã lý giải được sự sinh sôi nảy nở của một hạt giống thành cây, đâm hoa kết quả (tức là tất cả bí mật của nó đã được khám phá) cái MẦU NHIỆM CỦA SỰ HIỆN HỮU của một cánh hoa hé nở dưới ánh bình minh rung rinh điểm giọt sương mai vẫn còn nguyên vẹn. Khoa sinh vật học đã khám phá bí mật của sự thụ thai đẻ trứng, nở thành gà con, nhưng cái mầu nhiệm của một con gà mái ấp ủ đàn con, can đảm xông lên chiến đấu chống lại quạ đen, vẫn còn y nguyên. Đó là chưa nói đến tình mẫu tử nơi con người. Còn từ ngữ “mầu nhiệm” mà thánh Phaolô dùng trong các thư của ngài thì lại càng không phải bí mật vũ trụ mà là chương trình của tình yêu cứu chuộc.

Trong môi trường khoa học tiến bộ khái niệm “nguyên nhân” khi chỉ về Thiên Chúa cũng được hiểu sâu hơn, vì nếu Thiên Chúa là nguyên nhân vạn vật thí không phải là nguyên nhân theo kiểu cái trứng là nguyên nhân con gà, rồi con gà lại là nguyên nhân cái trứng, – để bị dồn vào chỗ bí: Nguyên nhân đầu tiên là gì? Thiên Chúa không phải là cái mốc đầu tiên của một chuỗi dây xích theo chiều ngang, mà Ngài hiện diện nơi từng nguyên tử để giữ nguyên tử ấy trong sự hiện hữu từng giây phút một hầu khỏi rơi vào hư vô.

Có thể có những chuyến bay vũ trụ giúp ta ý thức hơn từ ngữ “trên trời”. Tuy rằng khi cầu nguyện ta vẫn ngước mắt trông lên, hoặc giơ hai tay lên cao, nhưng nhà phi hành Nga đầu tiên đã nói cho chúng ta biết Chúa không có ở trên trời cao; và có lẽ nhờ đó mà ta hiểu thấm thía câu nói của thánh Augustinô: “Ngài ở sâu thẳm trong tôi, hơn chính sự sâu thẳm của tôi nữa”.

Như vậy, từ Albert Legrand, Roger Bacon cho đến G.Mendel, Teilhard de Chardin qua bốn, năm thế kỷ khoa học và kỹ thuật phát triển, giữa đức tin và khoa học THỰC NGHIỆM thuần tuý, không có gì là mâu thuẫn cả. Và có thể nói đức tin Kitô giáo tự nó (nghĩa là không bị lẫn lộn với các triết truyết duy tâm, duy linh) với truyền thống tôn trọng sự kiện, mọi cái nhìn duy thực, với quan niệm phi linh hoá vũ trụ vật chất chính là môi trường thuận lợi cho khoa học kỹ thuật phát triển. Và ngược lại, một nhà bác học quen TÔN TRỌNG SỰ KIỆN (dù là những sự kiện xem ra khác thường) dễ đi đến chỗ chấp nhận sự kiện vĩ đại: Thiên Chúa đi vào lịch sử loài người để thực hiện chương trình cứu độ của Ngài.

Chúng ta không rơi vào việc dại dột dựa hơi khoa học để nói rằng khoa học chứng minh có Thượng Đế. Chúng ta chỉ cần xác định: nhân danh khoa học mà phủ nhận Thượng Đế là việc, nếu không nói là phản khoa học, thì ít nhất cũng ngoài phạm vi khoa học, để đặt Thượng Đế vào bình diện triết học của nó. Chúng ta cũng chưa đi đến kết luận cho thuyết vô thần là sai mà chỉ cần nhớ rằng:

1- Khoa học không bàn đến vấn đề có hay không có Thượng Đế;

2- Nhân danh khoa học để chứng minh hay phủ nhận Thượng Đế là sai!

3- Giữa tinh thần khoa học thực nghiệm và thái độ chấp nhận sự kiện cứu độ và suy tư thần học có điểm tương tự.

4- Có thể môi trường Kitô giáo thuần tuý tạo điều kiện cho óc khoa học kỹ thuật phát minh và phát triển.

5- Người có tinh thần thực nghiệm thực sự và không bị một triết thuyết nào, ngay cả thuyết duy khoa học chi phối, sẽ dễ chấp nhận sự kiện cứu độ, nhờ không bị thành kiến tiên quyết nào ràng buộc cả;

6- Và cuối cùng NẾU thuyết vô thần có đúng đi nữa thì cũng đúng vì luận cứ triết học, hữu thể học chứ không phải vì luận cứ khoa học.

Vậy ta không có gì phải sợ hãi đố kỵ và cũng không để cho thuyết duy khoa học làm lung lay đức tin của mình.

Vấn đề lý trí cũng vậy! Ý thức giới hạn của các loại “lý” không phải là kìm hãm dồn nén yêu sách chính đáng của lý trí, dập tắt ánh sáng của lý trí, nhưng trái lại là đưa yêu sách ấy đi xa hơn, lên CAO hơn, đào SÂU hơn, mở RỘNG hơn. Và như vậy càng ngày càng phát hiện ra cả một giai tầng (hiérachie) về các loại
”lý” càng lúc càng sắc bén hơn, uyển chuyển hơn, linh hoạt sống động hơn thay vì cứng rắn, khép kín, chết cứng trong một loại “lý” độc nhất.

Tự tín nhưng khiêm cung trước SỰ KIỆN trước Thực hữu, đó mới là thái độ chân chính của lý trí. Lý trí là một năng khiếu, một dụng cụ để khám phá từ từ: từ gần đến xa, từ thấp lên cao, từ cạn đến sâu, từ đơn giản đến phức tạp, cái vô cùng tận của thực hữu, dù là thực hữu của một ngọn cỏ.

Cũng nên cần biết rằng các loại lý, các nấc thang của tri thức không bao giờ ngược nhau, nhưng các bình diện càng lên cao hay càng đào sâu thì càng phức tạp, càng tinh tế hơn. Một định luật khoa học không ngược với một định luật toán học nhưng phức tạp hơn, tràn ra ngoài những định luật toán học, vì đối tượng của nó phức tạp hơn, phong phú hơn. Một thực tại sinh lý không ngược với các định luật lý hoá nhưng bao hàm những định luật ấy trong một phức hợp rắc rối hơn. Một xu hướng tâm lý vẫn dựa trên những thực hữu sinh lý nhưng kéo dài những định luật sinh lý đi lên, hay ăn sâu vào một phức hợp rắc rối hơn v.v… cứ thế mà đi lên mãi cho đến mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Và mỗi lần vượt qua một nấc thang tri thức khác, thì lý trí lại phải vươn lên, mở rộng, mài sắc, tinh vi hoá, uyển chuyển hoá đến độ phải giằng co giữa những căng thẳng gần như phải đứt ra vỡ tung ra, khác nào như con chim, phải mổ cho vỡ cái vỏ trứng ra mới bay cao lên được để thấy cả bốn phương trời bao la bát ngát. Và có thoát khỏi vỏ trứng, con chim mới định vị được cái vỏ trứng mà xưa nay mình tưởng là cả vũ trụ chỉ là một tù ngục giam hãm mình trong tối tăm chật hẹp, che mất ánh sáng của thực hữu và chân lý muôn trùng diệu vợi.

Có thể nói rằng đức tin là ánh sáng vượt lên, bao trùm mọi tia sáng nhỏ. Đức tin không nói gì ngược lại những khám phá đích thực của lý trí, không dồn nén những yêu sách chính đáng, đúng mức của lý trí. Trái lại, đức tin mời gọi lý trí lên cao, đào sâu mở rộng tầm nhìn vượt khỏi mọi giới hạn. Và rồi đến một lúc nào đó thì chính những mầu nhiệm đức tin sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn một phần nào (tức là khám phá ra một phần nào) cái lý của nhiều vấn đề đã từng làm bao tâm trí đông tây kim cổ băn khoăn thắc mắc, mà vẫn chưa tìm ra lời giải đáp.

Thí dụ: Quen suy niệm về mầu nhiệm thánh giá sẽ hiểu được phần nào (tìm thấy phần nào cái lý) của sự khổ, sự dữ. Mầu nhiệm Ngôi Hai nhập thể có thể giúp ta thấy rõ hơn đôi chút tương quan mật thiết kỳ lạ giữa vật chất và tâm linh. Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi đem lại một ánh sáng nào đó cho ta hiểu sâu hơn về ngã vị và tình yêu. Người ta thường ví đức tin như mặt trời, nhìn thẳng vào thì quáng mắt (vì mắt yếu chứ không phải vì mặt trời tối!) nhưng chính nhờ ánh sáng của mặt trời mà mọi sự đều được soi tỏ, tức là trở nên có lý.

Thánh Augustinô nói: “Tin để hiểu, hiểu để tin”. Thực vậy, giữa đức tin và lý trí có một tương quan biện chứng. Nếu biết vận dụng cho đúng, hai ánh sáng ấy sẽ nương nhau mà lên cao, cao mãi, mở rộng, rộng mãi, đào sâu, sâu mãi vô cùng vô tận như chính sự vô cùng vô tận của Đấng thực hữu đã mặc khải mình là HỮU (xem Xh 3.14; Ga 8,24 v.v…).

Và chẳng phải một yếu tố của phúc lạc đời sau là yêu sách của lý trí sẽ được thoả mãn tràn đầy sao: “Ta sẽ thấy được Thiên Chúa không phải như qua một tấm gương mờ, nhưng Ngài thế nào ta sẽ được thấy y như vậy.” Thánh Phaolô đã hứa chắc như thế (1Cr 13,12). Lý trí còn có yêu sách nào cao xa hơn thế nữa không? Thiết tưởng những khiếu nại của phái duy lý chật hẹp, thiển cận khác nào một đứa bé chẳng biết cha mẹ đã dành riêng cho mình cả một kho tàng châu báu vô tận mà đi vòi vĩnh những cái không đâu.

Trên đây là một vài ý tưởng vội góp ý với bạn. Hy vọng chúng ta sẽ có dịp chia sẻ với nhau sâu sát hơn. Hẹn bạn thư sau.

[Về mục lục]

PHỤ LỤC: Ý NGHĨA CÁC TỪ CỤ THỂ VÀ TRỪU TƯỢNG, TÂM VÀ VẬT

1. Cụ thể và Trừu tượng

2. Tâm và Vật

CỤ THỂ và TRỪU TƯỢNG

Chúng ta thường lẫn lộn giữa hai nghĩa khác nhau của các từ CỤ THỂ và TRỪU TƯỢNG. Sự lẫn lộn này có thể tạo dịp cho ta rơi vào ngụy biện trong các suy luận. Vậy ta cần phân biệt cho thật rõ ràng.

Hai từ này thường được dùng theo hai nghĩa hoàn toàn khác nhau.

1/ NGHĨA PHỔ THÔNG: (nghĩa này không được chính xác lắm và đáng lẽ không nên dùng mà phải dùng từ khác cho chính xác hơn)

Thông thường người ta dùng chữ trừu tượng và cụ thể để phân biệt hai loại sự việc có những đặc tính khác nhau:

Trừu tượng được dùng để chỉ đặc tính của những sự vật không thuộc về thế giới vật chất, khả giác, hữu hình.

Thí dụ: Tảng đá là một vật cụ thể, tâm tình của con người là một sự vật trừu tượng; vì tảng đá ta sờ được, đo lường được, còn tâm tình của con người, ta chỉ có thể phỏng đoán (và có khi lầm to) qua các biểu hiện gián tiếp chứ tự nó thì ta không sờ được, không đo lường lớn nhỏ nặng nhẹ được.

Theo nghĩa này thì linh hồn (nếu có), Thượng Đế (nếu có) thuộc về các sự vật trừu tượng. Và khi nói rằng một sự vật hay sự việc nào là trừu tượng thì không hề đề cập đến khía cạnh nó có hay không mà chỉ muốn nói lên cái đặc tính của nó là thuộc về loại vô hình, bất khả giác, không thuộc về vật chất (như tư tưởng con người, như một nguyên lý toán học). Còn khi nói một sự vật hay sự việc nào là cụ thể thì ta cũng khôg hề đề cập đến vấn đề nó có thực hay không mà ta chỉ muốn nói lên đặc tính hữu hình, khả giác, thuộc về vật chất (như tảng đá, cành hoa, giọt nước v.v…).

2/ NGHĨA CHUYÊN MÔN CỦA LUẬN LÝ HỌC (VÀ NHẤT LÀ CỦA VẤN ĐỀ TRI THỨC)

Theo nghĩa chuyên môn này thì hai từ trừu tượng và cụ thể không phải dùng để chỉ tính chất (đặc tính) của sự vật nơi chính tự nó, mà để chỉ: đứng về bình diện nào mà xét.

a. Khi muốn chỉ một sự vật (dù hữu hình hay vô hình, khả giác hay bất khả giác, vật chất hay không thuộc về vật chất) mà ta xét về chính trong sự hiện hữu thực sự của nó như là một sự vật đặc thù thì ta dùng từ “cụ thể”.

Thí dụ: Một em bé vấp phải một cục đá lúc 4 giờ 25 phút 30 giây ngày 22 tháng 11 năm 1978 trên một đoạn đường nhất định nào đó. Hòn đá đó khối lượng bao nhiêu, trọng lượng bao nhiêu, màu sắc ra sao, hình thù thế nào, thuộc loại đá gì v.v… thì trong vũ trụ vô biên khoáng hậu này chỉ có một mình nó độc nhất vô nhị là chính nó, với vô số vô lượng vô biên chi tiết đặc thù làm cho nó là nó cá thể chứ không phải là một hòn đá khác. Và không có trí óc nào có thể kiểm kê cho tận tuyệt hết được tất cả những chi tiết đặc thù của nó (vì là vô hạn, vô cùng tận). Chỉ có một trí óc vô biên như của Thượng Đế (nếu có Ngài) mới múc cạn được các chi tiết của nó thôi.

Vậy trong sự hiện hữu cụ thể thì sự vật nào , sự việc nào cũng vậy cả: một sợi lông mi cũng vậy, một nỗi buồn của một em bé ngủ trưa dậy không có gì bỏ vào miệng cũng vậy, một tảng đá cũng vậy, Thượng Đế cũng vậy (nếu có Ngài), linh hồn của một người nhất định nào đó cũng vậy (nếu có linh hồn).

Do đó không phải sự vật này là cụ thể, sự vật kia không là cụ thể mà sự vật nào (nếu có và giả sử như là có) thì đều có thể xét về bình diện cụ thể, tức là xét về bình diện trong sự hiện hữu của nó hay nói đúng hơn, xét về nó trong sự hiện hữu của nó như là nó, với tư cách một hữu thể đặc thù cá thể. Một tảng đá nào đó, Thượng Đế hay một vị thần linh nào đó, hay linh hồn một người nào đó đều có thể xét về BÌNH DIỆN cụ thể cả.

b. Khi muốn chỉ nội dung (hay nội hàm) của sự biết của con người NÓI CHUNG về một sự vật (hay đúng hơn: một loại sự vật nào đó), qua sự hình dung của trí óc con người, chứ không phải chính sự vật trong sự hiện hữu cá thể đặc thù của nó thì người ta dùng từ trừu tượng. Và sự biết qua hình dung của trí óc này được gọi là trừu tượng vì nó là kết quả của một động tác của trí năng qua hai giai đoạn:

- Trừu: rút tỉa ra.

- Tượng: hình dung lên.

Nghĩa là trong vô số vô lượng chi tiết đặc thù của mỗi sự vật cá thể thuộc một loại (thí dụ: đá), tính năng chỉ rút ra, tách rời ra (trừu) một số những đặc tính chung cho mỗi cục đá, rồi kết hợp lại thành một tổng hợp toàn bộ, và hình dung lên (tượng) trong trí não để rồi có thể áp dụng sự hình dung ấy cho bất cứ hòn đá nào.

Theo nghĩa này trừu tượng nghĩa là tính cách của nội dung (hoặc nội hàm) của những khái niệm do trí năng tạo ra để hình dung một loại sự vật hoặc phẩm tính hay động tác của sự vật nói chung.

Khái niệm đen là trừu tượng vì quạ đen, gà đen, mực đen, tóc đen v.v… mỗi sự vật đen mỗi kiểu, nhưng trong khái niệm đen do trí óc hình dung thì chỉ ghi lại những nét chung đã do trí năng tách rời ra khỏi các thứ đen cá biệt.

Khái niệm đá là trừu tượng, vì có đá vôi, đá cuội, đá hoa cương v.v… mỗi thứ đá, mỗi cục đá có nhiều chi tiết đặc thù, nhưng trong khái niệm đá do trí óc hình dung lên thì chỉ ghi lại những nét chung do trí năng tách rời ra khỏi các thứ đá, các cục đá cá biệt.

Khái niệm chạy là trừu tượng vì mỗi người, mỗi con vật chạy mỗi cách cá biệt đặc thù, nhưng trong khái niệm chạy thì trí óc chỉ hình dung lên những nét chung cho bất cứ kiểu chạy nào của các sự vật đang chuyển động nhanh: người chạy, ngựa chạy, xe chạy v.v…

Vậy trừu tượng không có nghĩa là do trí óc con người dựng đứng lên mà không có trong thực tế, cũng không phải là tính chất của sự vật vô hình, mà có nghĩa là tính chất của sự hình dung về sự vật do trí năng tạo ra để biết về sự vật (dù là vật hữu hình hay vô hình, khả giác hay bất khả giác, vật chất hay không vật chất). Cho nên KHÁI NIỆM đá là TRỪU TƯỢNG, KHÁI NIỆM Thượng Đế là TRỪU TƯỢNG, chứ không phải đá là trừu tượng, mà cũng chẳng phải Thượng Đế là trừu tượng.

Nói tóm lại theo nghĩa chuyên môn này, bất cứ sự vật nào nếu xét dưới bình diện trong sự hiện hữu cá thể đặc thù của chính mình nó thì đều là cụ thể cả: cục đá mà đứa bé vấp phải chiều hôm nọ trên quãng đường ấy là cụ thể, nỗi buồn xâm chiếm tâm hồn người chinh phu nọ trong buổi chiều tà kia bên khung cửa sổ ấy cũng là cụ thể, linh hồn (nếu có) của ông sinh ngày tháng năm nọ tại chỗ kia v.v… cũng là cụ thể, Thượng Đế (nếu có) xét trong chính sự hiện diện cụ thể của Ngài cũng là cụ thể.

Còn khái niệm do trí năng tạo thành bằng hai động tác trừu và tượng là trừu tượng. Khái niệm đá, khái niệm chạy, khái niệm linh hồn, khái niệm Thượng Đế v.v… bất kỳ khái niệm nào cũng là trừu tượng cả!

Vậy chân lý trừu tượng là chân lý do trí năng hình dung lên, không phải là nó không có hay không đúng, nhưng nó thuộc về bình diện tri thức. Thí dụ chân lý: nếu A>B và B>C thì A>C. Không rõ A,B,C là gì, là ở đâu, là vào thời nào, chỉ biết lập luận trên là một cái gì rất đúng nhưng thuộc về hình dung của trí năng.

Ta có thể chứng minh chân lý trừu tượng đó bằng nguyên lý mâu thuẫn: vì nếu A<C thì A<B và như vậy trái với tiền đề A>B. Do đó A phải >C thì mới không tự mâu thuẫn.

Nhưng Thiên Chúa của chúng ta không thể chứng minh nhu thế được, vì nếu như vậy thì chỉ có người mất trí mới phủ nhận Ngài (trong lúc thực tế có nhiều nhà vô thần là những đầu óc thông minh sáng suốt hơn người) và vì Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa của Abraham, của Issac, của Giacob, của Phêrô, của Phaolô, của Gioan Phaolô II v.v… của các bà phước tận tuỵ hy sinh trong trại cùi, của ông Lê Bảo Tịnh thà chịu chết chứ không chịu chối Chúa, của cậu Đôminicô Saviô còn bé mà đã có đời sống hơn người v.v… nghĩa là của các chứng nhân đã “vấp phải”, đã “đụng phải” chính Ngài trong sự hiện hữu của Ngài, tức là trong sự cụ thể của Ngài, y như một em bé vấp phải cục đá chảy máu chân ra không thể chứng minh sự hiện hữu của hòn đá theo kiểu chân lý trừu tượng A>B và B>C thì A>C, mà chỉ khóc vì đau thật, chỉ đưa chân bị thương chảy máu ra (tức là các sự kiện) cho mẹ xem, cho cô y tá băng lại.

Thánh Phêrô không chứng minh Chúa Giêsu sống lại theo kiểu A>B và B>C thì A>C, mà chỉ nói trước Hội đồng tư tế Do thái là: “Tôi không thể phủ nhận những gì mắt thấy tai nghe, tay sờ được và Ngài sống lại thật, theo sự kiện Chúa sống lại, và chẳng thà chết chứ không thể phủ nhận sự kiện Giêsu chết và phục sinh. Cũng như em bé vấp phải đá chảy máu thì phải khóc và chỉ đưa chân ra làm chứng mà thôi!

Không minh chứng Thiên Chúa như chứng minh một chân lý mà làm chứng về Thiên Chúa như một sự kiện, làm chứng bằng cách sống và nếu cần thì bằng cái chết. Tử đạo, Martyr có nghĩa là làm chứng mà!

Tiện dịp, cũng xin vạch rõ sự ngụy biện trong một tam đoạn luận thường hay bị lợi dụng vì vô tình hay hữu ý lẫn lộn hai nghĩa của trừu tượng:

1/ Thiên Chúa (A) là trừu tượng (B).

2/ Trừu tượng (B’) là chỉ có trong sự hình dung của trí óc (C).

3/ Vậy Thiên Chúa chỉ có trong sự hình dung của trí óc!

Tam đoạn luận này mới xem qua tưởng là đúng quy tắc, nhưng thực ra là phạm luật vì:

Trong tiền đề thứ nhất, trừu tượng (B) có nghĩa theo nghĩa thông thường, thần linh, vô hình, không vật chất (từ trừu tượng trong mệnh đề này không sát nghĩa và thực ra là sai).

Còn trừu tượng (B’) trong tiền đề thứ hai có nghĩa theo nghĩa chuyên môn: đặc tính của các khái niệm (chữ trừu tượng ở đây mới thật là sát nghĩa, là đúng).

Vậy tuy cùng một chữ “trừu tượng” nhưng thực ra là hai hạn từ (terme) hoàn toàn khác nhau. Đáng lẽ ra phải nói:

1/ Thiên Chúa (A) là thuần linh (là vô hình, là không vật chất) (B).

2/ Cái gì trừu tượng (thuộc về khái niệm) (B’) thì do trí năng tạo ra (C).

Rõ ràng hai mệnh đề trên không tạo để cho phép ta rút ra một kết luận nào hết vì không có hạn từ chung cho cả hai mệnh đề cả vì khi A=B và B’=C không cho phép ta kết luận A=C được (B và B’ khác nhau mà!!!)

Sau khi đã phân biệt rạch ròi các nghĩa khác nhau của hạn từ trừu tượng và cụ thể, và vạch rõ những nguỵ biện do sự lầm lẫn giữa các nghĩa ấy, chúng ta cùng nhau đào sâu sự phân biệt của Pascal khi ông nói Thiên Chúa của chúng ta là “Thiên Chúa của Abraham, của Issaac, của Giacob, chứ không phải Thiên Chúa của các nhà triết học”.

Đã nhiều lần chúng ta nhấn mạnh đến vai trò của các SỰ KIỆN, và thấy rằng về phương diện phương pháp luận, có một cái gì tương đồng giữa tinh thần khoa học thực nghiệm và suy tư thần học Kitô giáo: cả hai đều tôn trọng, đón nhận, khiêm tốn trước các SỰ KIỆN. Nghĩa là cả hai hướng về thế giới cụ thể với tất cả những sự phong phú vô cùng vô tận của nó, rồi cố gắng tìm hiểu, tìm cách lý giải, và nếu cần thì cũng không ngấn ngại phá tung ngay cả những hệ thống dù cổ truyền khả kính mấy đi nữa.

Cũng chính Pascal (nên nhớ Pascal là một nhà khoa học) đã nói: “Thực tại (thực hữu) đem lại cho chúng ta (cung cấp cho chúng ta) hằng hà sa số sự việc nhiều gấp trăm ngàn lần các điều mà đầu óc ta có thể tưởng tượng nổi”. Vì thế trí óc của con người có đức tin không trùm lên Thiên Chúa những quan niệm, những biểu tượng, những hệ thống của con người, không bắt Thiên Chúa phục tùng khuôn khổ của cái lý của mình (tức cái trừu tượng) nhưng mở mắt ra mà nhìn, mà đón nhận Thiên Chúa như một SỰ KIỆN CỤ THỂ (dù mới xem qua thì gần như phi lý).

Thí dụ: mỗi lần dự lễ và rước lễ, người tín hữu Công giáo mở mắt NHÌN, lắng tai NGHE, đón nhận vào miệng lưỡi (tức là nếm với vị giác) Mình Thánh Chúa Giêsu là Thiên Chúa Ngôi Hai nhập thể, Tử nạn, Phục sinh. Và để đơn giản cho dễ thấy, chúng ta đã thưa AMEN khi linh mục trao Mình Thánh và nói: “Mình Thánh Chúa Kitô”. Vậy ở năm ân phúc 1979 này, Thiên Chúa của người Công giáo là miếng bánh mà linh mục truyền phép trên mỗi bàn thờ có dâng lễ tạ ơn (và có một sự kiện tương tự nơi các toà cáo giải có linh mục ban bí tích xá giải). Sự kiện là như thế đó, chấp nhận hay không tuỳ ý. Và nếu chấp nhận thì đào não bới óc ra mà tìm hiểu lấy!

Sự kiện là năm 1979 này, có một ông già xuýt xoát 60, có lẽ đang trằn trọc khó ngủ vì đau bụng, đang hơi bực mình vì người bồi dưỡng nấu bữa cơm chiều không hợp khẩu vị lắm, và khí hậu Rôma khác với khí hậu ở Balan v.v… nhưng lại dám cả gan lãnh nhận trọng trách kế vị thánh Phêrô làm Tảng đá cho Giáo hội, vị Hiền thê của Ngôi Hai Thiên Chúa, nắm trong tay lời hứa Vô Ngộ về chân lý đức tin cứu độ! Sự kiện là như thế đó (và trong các vị tiền nhiệm của ông già ấy có bậc thánh thiện như Piô X, nhưng cũng có ông quá tệ như Alexandre VI – Borgia)!

Cho nên Thượng Đế của chúng ta không phải là một quan niệm trừu tượng do những trí óc (dù là thiên tài) hình dung nên nhờ suy luận, mà là một hữu thể cụ thể đã tỏ mình ra với những cá nhân, những tập thể qua các thời đại lịch sử từ ngày tạo thiên lập địa cho đến ngày cánh chung. Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa của Abraham, của Pascal, của chân phước Anrê Phú Yên, của chị, của anh, của tôi, tỏ mình ra ở đây, ở đó, trên núi Sinai, trên đường đi Damas, có thể ở đầu đường xó chợ, thậm chí trong sòng bạc nơi ổ điếm, trong một trại giam, nơi tiền đồn chống ngoại xâm, bên guồng máy cũng như trong cung cấm chốn hoàng thành, giữa buổi yến tiệc vương giả hay nơi phòng the khuê các, trên bàn thí nghiệm khoa học, qua ống kính hiển vi, qua một nụ cười, một áng mây, một nốt nhạc, một bức tranh, một bài thơ, một câu Kinh Thánh, qua một lần thất bại cũng như một sự thành công, mọi nơi, mọi lúc, dưới mọi hình thức, trong mọi hoàn cảnh, với đủ mọi hạng người. Các tâm hồn gặp Chúa như đạp phải cái gai, như đâm vào bức tường. Cứ đọc Thánh Kinh thì sẽ thấy sự Hiện Hữu cụ thể của Thiên Chúa. Có chạy trốn, có phủ nhận cũng không được.

Thiên Chúa không phải là một cái gì con người tạo ra để cho an tâm tĩnh trí, mà thường là một cái gì chướng tai gai mắt, ngược đời, nghịch lý làm đảo lộn tất cả: Thiên Chúa là cơn gió lốc, là ngọn lửa thiêu, là dòng nước lũ, là hòn đá vấp phạm cho nhiều người, lôi kéo nhiều người ra khỏi sự an thân, ném họ vào giữa bao chống đối gian nan (xem đời Abraham, Môisen, Phaolô, các Tiên tri, các Thánh nam nữ thì sẽ rõ!).

Thiên Chúa không phải là một thứ thuốc an thần ru ngủ với ảo ảnh một thiên đàng cực lạc xa xôi nào, mà Thiên Chúa ném chúng ta vào cuộc đời này. Thánh Kinh là một pho lịch sử đầy chất trần gian, gồm các sự kiện: gia đình, xã hội, quốc gia, quốc tế, kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá, ái tình, chinh chiến, thương mãi, kể chuyện từ cái đuôi con chó ve vẩy chào chủ đi xa về đến sự hưng vong của các triều đại; và cuối cùng là một lời tha thiết nài xin khao khát một biến cố: sự trở lại của Chúa Giêsu (xem Kh 22,20). (Đừng quên Giêsu là một nhân vật lịch sử, lý lịch rõ ràng được ghi chép trong 4 cuốn Tin Mừng).

Có lẽ vì vậy khi Môisen hỏi Thiên Chúa là ai, Ngài không dùng bất cứ từ nào để nói lên yếu tính (Toàn năng, Toàn thiện, v.v…) mà Ngài đã tự xưng mình là Hằng Hữu, là Có, tức là HIỆN HỮU CỤ THỂ (xem Kh 3,14). Ngài đi vào đời sống cá nhân cũng như nhân loại qua tiểu sử từng người cũng như lịch sử cả loài người. Ngài thực hiện một chương trình cụ thể chứ không phải giải quyết suy tư siêu hình trừu tượng cho một thiểu số triết gia. Cái chương trình ấy thánh Phaolô gọi là Mầu Nhiệm được mặc khải cho những tâm hồn đơn sơ, mà lại che khuất đối với kẻ tự xem mình tài giỏi (thật ra là vuợt quá tầm với của bất cứ trí khôn nào ở nơi trần thế này chứ không phải bị che khuất). Cho nên một em bé, một bà già thất học có thể thấy rõ mà những khối óc uyên thâm lại cũng không hiểu hết, và một em bé chăn cừu có thể thực hiện đạo sống của Mầu Nhiệm ấy dễ như chơi, trong khi những nhà khổ tu rèn luyện suốt cuộc đời vẫn thấy như không thể nào sống nổi hay còn quá xa lý tưởng!

Thiên Chúa chúng ta là một SỰ KIỆN CỤ THỂ, nhưng vì hữu hạn, trí óc ta không thể nào múc cạn được sự kiện cụ thể ấy cả (nên nhớ rằng trí óc hữu hạn của ta không thể nào biết hết được tất cả, hình dung hết được tất cả về bất cứ một sự kiện nào, huống hồ là Thiên Chúa!), cho nên ta lại phải TRỪU TƯỢNG để hình dung Thiên Chúa như hình dung bất cứ một sự kiện nào! Mà đã là trừu tượng thì bao giờ cũng đại khái, cũng có hạn, cũng khiếm khuyết, cũng mô phỏng theo quan niệm, thành kiến, lập trường, vị tri, hoàn cảnh, tâm tình, cơ thể của mỗi người, mỗi văn hoá, mỗi thời đại, nghĩa là ta cũng đóng khung Thiên Chúa vào những khuôn khổ chật hẹp của ta: trừu tượng hoá.

Vì thế, dưới ảnh hưởng của triết thuyết Platon, ta có xu hướng hình dung Thiên Chúa như là Linh Niệm Chí Thiện; dưới ảnh hưởng học thuyết Aristote, ta có xu hướng hình dung Thiên Chúa như là Hiện thể (Acte) toàn hảo; còn dưới ảnh hưởng của Nho giáo, ta lại có xu hướng đồng hoá “Ý Cha” với thiên mệnh. Trong một xã hội quân chủ, ta dễ quan niệm Thiên Chúa như “Vua cả trên trời”; trong chế độ xã hội chủ nghĩa, hình ảnh người thợ mộc thành Nadarét trở nên phổ biến. Một cựu quân nhân như Inhaxiô Lôyôla quan niệm phục vụ Thiên Chúa như phục vụ một vị nguyên soái đi mở Nước Trời; một thiếu nữ vốn được Cha già âu yếm đùm bọc như Têrêxa Hài Đồng thì chỉ muốn trọn đời sống âm thầm lặng lẽ ca ngợi tình yêu xót thương của Thiên Chúa, v.v… Một cuộc đời bầm dập giáp trận với tội lụy đau thương của nhân thế như Eve Lavallière thì chìm đắm trong mầu nhiệm khổ giá luôn luôn khắc khoải như đối đầu với sự dữ. Một cuộc đời không có biến cố gì như Elisabeth de la Trinité thì lại muốn hoà tan vào trùng dương bát ngát và vắng lặng của mầu nhiệm Ba Ngôi.

Sự hình dung Thiên Chúa và cách sống mối tương quan giữa Ngài với con người và vũ trụ, bao giờ cũng bị giới hạn và nếu không luôn luôn cảnh giác và thanh lọc, thì dễ bị biến thành những khái niệm trừu tượng, những ngẫu tượng lệch lạc, ô nhiễm bởi những hiện tượng tâm lý xã hội, mà Freud và Marx đã phân tích một cách rất sâu sắc. Thực ra, những nhà thần nhiệm học cũng đã biết và đã phân tích đến nơi đến chốn những hiện tượng đó trong các giai đoạn của cuộc đời thần hiệp dưới các khái niệm như đêm tối giác quan (nuit des sens) và đêm tối tâm linh (nuit de l’esprit). Và các ngài cho thấy những sự tinh luyện, thanh lọc ấy có được một phần nào là do cố gắng của tâm hồn, nhưng phần lớn chính là nhờ tác động của Ân sủng Thiên Chúa mời gọi lên đến đỉnh cao của thần hiệp.

Con người bao giờ cũng dính bén, bám víu vào những đối tượng không phải là Thiên Chúa, nên Thiên Chúa phải can thiệp để giúp con người “từ bỏ” tất cả những gì có thể tha hoá chính con người, làm con người vong thân trong những thần tượng do mình tạo nên theo con đường “thăng hoa” như Freud đã phát hiện ra diễn tiến, hoặc con đường tha hoá như Marx đã phân tích và nêu rõ (vì thế xét về mặt này, Freud và Marx là hai vị đại ân nhân đã giúp đức tin ý thức về chính mình để đề cao cảnh giác mọi thăng hoa tâm lý và mọi tha hoá xã hội, luôn luôn đe doạ làm mờ tối, lệch lạc, khô cứng, phiếm diện, hủ hoá nguồn mạch sự sống, ánh sáng của đức tin vẹn tuyền tinh tuý). Và nếu đời sống cá nhân phải qua những chặng đường thử thách tôi luyện, thì đời sống của Giáo Hội trong cộng đoàn cũng phải qua những chặng đường thử thách, những “đêm tối” tương tự.

Có thể nói gọn là những thử thách của cuộc đời cá nhân, cũng như những “thăng trầm” của dân Israel đời Cựu ước, của Giáo Hội đời Tân ước chỉ là những tinh luyện mà Thiên Chúa dẫn đưa chúng ta đi qua để thoát khỏi sự trừu tượng hoá về Ngài, để nhận chân chính mình Ngài trong sự hiện hữ cụ thể của Ngài, để có thái độ của một niềm tin sống động, không biến thành những ý hệ khô cứng dù là màu mè tín ngưỡng.

TÂM và VẬT

Có một cặp từ ngữ khác cũng thường gây nên nhiều ngộ nhận và do đó gây nhiều tranh luận vô bổ. Đó là TÂM và VẬT, và nhất là từ Duy tâm. Lý do chính là vì chữ TÂM có rất nhiều nghĩa khác nhau:

Có khi nó có nghĩa chuyên môn hữu thể luận như khi nó được dùng để chỉ một loại bản thể vô hình, bất khả giác. Ví dụ linh hồn bản thể là Tâm, thân xác bản thể là Vật.

Có khi nó có nghĩa chuyên môn triết học đạo đức luận, như khi nó được dùng để đối lập với chữ Tài. Khi ấy nó có nghĩa gần như là Đức.

Có khi nó có nghĩa chuyên môn về khoa học nhân văn như trong các từ ngữ: tâm lý học thực nghiệm, tâm lý học loài vật, v.v… khi đó nó được dùng để chỉ về một loại hiện tượng thuộc về lãnh vực ý thức hoặc là ý thức thực sự, hoặc là những động thái tương tự như có ý thức.

Và cuối nó đã được dùng sai (hay ít là không được chính xác lắm!) trong từ DUY TÂM hiểu theo nghĩa là ngoại giới không có thực mà chỉ do tâm trí con người hình dung ra, biểu tượng ra, tưởng ra (như trong ảo giác, trong giấc mộng); đáng lẽ ra ở đây phải dùng chữ TƯỞNG (duy tưởng) mới đúng!

Vậy trong khi biện luận mà có từ DUY TÂM, trước khi tranh luận, cần phải xác định rõ xem chữ DUY TÂM đang bàn đến được hiểu theo nghĩa nào. Ví dụ khi có người đặt vấn đề học thuyết Platon có phải là duy tâm không, hoặc Thiên Chúa Giáo có duy tâm không, thì trước khi trả lời ta cần phải hỏi lại xem TRONG MỖI MỘT CÂU HỎI đó người ấy đã hiểu từ duy tâm theo nghĩa nào.

Sở dĩ thường có sự lẫn lộn giữa các giữa các nghĩa của từ duy tâm như vậy là vì từ duy tâm vốn được dịch từ chữ « IDÉALISME » mà ra! Và chữ Idéalisme lại được tạo thành bởi chữ IDÉE, thế mà chữ idée thì có nhiều nghĩa lắm. Đại khái nó có những nghĩa sau đây:

1/ NGHĨA THÔNG THƯỜNG: nó dùng để chỉ một hiện tượng tâm lý:

a) Hoặc là chỉ sự hình dung do trí óc tạo ra tưởng ra. Ví dụ: ý tưởng về con chó trong trí khôn của tôi (l’idée du chien dans mon esprit).

b) Hoặc là chỉ ý tưởng, chủ ý (intension). Ví dụ: tôi có ý đến thăm bạn (j’ai l’idée d’aller vous voir).

Ta thấy chữ IDÉE ở đây chỉ ý tưởng có trong đầu óc con người.

2/ NGHĨA TRIẾT HỌC TRONG THUYẾT PLATON: Idée (linh niệm) là những hữu thể có THỰC trong một thế giới thực (thực hơn là thế giới khả giác hữu hình) vốn là khuôn mẫu, nền tảng của thế giới khả giác. Như vậy, chữ Idée ở đây được dùng để chỉ một thực thể đặc biệt mà ta gọi là Linh Niệm.

Nhưng để có thể hiểu rõ hơn các nghĩa của từ Duy tâm, có lẽ ta cần phải phân biệt 2 vấn đề triết học sau đây:

- Thứ nhất là vấn đề về sự hiện hữu của ngoại giới và giá trị của tri giác (tức là sự biết của con người về ngoại giới ấy). Trước vấn đề này ta thấy thường có hai cách trả lời: Duy Thực (Réalisme) và Duy Tâm (Idéalisme subjectif, mà ta tạm gọi là Duy Tâm A, đúng ra nó phải được gọi là Duy Tưởng mới hợp lý).

- Thứ hai là vấn đề về hữu thể học, về bản thể của sự vật (của bất cứ vật nào). Trước vấn đề này thường ta cũng có hai cách trả lời: Duy Vật (Matérialisme) và Duy Tâm (Idéalisme objectif mà ta tạm gọi là Duy Tâm B).

Xin nói ngay rằng chính sự lẫn lộn giữa Duy Tâm A và Duy Tâm B là đầu mối của mọi sự ngụy biện, sai lầm. Nhưng Duy Tâm A khác Duy Tâm B như thế nào? Duy Thực và Duy Vật là gì?

Sau đây chúng ta sẽ trình bày qua các vấn đề này và nhận định xem sao:

DUY THỰC và DUY TÂM A (đáng ra phải dùng từ Duy Tưởng mới đúng).

Theo xu hướng tự nhiên thì ai cũng có thái độ duy thực về vấn đề tri giác và ngoại giới, nghĩa là cho rằng:

a) Ngoại giới là có thực. Ví dụ: cuốn sách tôi đang cầm đọc đây là có thực chứ không do tôi tưởng tượng ra như trong giấc mơ.

b) Và sự hình dung của tôi về nó là đúng y hệt như nó là tự chính nó, nghĩa là cái màu xanh của bìa sách tôi đang cầm nghĩa là có thật ở nơi chính tấm bìa chứ không phải chỉ có trong sự hình dung bởi tâm trí tôi.

Chúng ta không đi vào chi tiết chuyên môn mà chỉ ghi nhận rằng vấn đề này có 2 loại triết thuyết chính:

- Thuyết Duy Thực là thuyết cho rằng ngoại giới có thật.

- Thuyết Duy Tâm A cho rằng không có ngoại giới; ngoại giới chỉ do sự hình dung của tâm trí ta mà có y như giấc mộng vậy. Nếu hiểu từ Duy Tâm theo nghĩa (A) này (tức là Duy Tưởng), thì học thuyết Platon không phải là Duy Tâm (Duy Tưởng) mà là Duy Thực, vì Platon vẫn cho rằng ngoài tâm trí con người có một thực thể khác. Theo nghĩa này thì Thiên Chúa giáo cũng là Duy Thực vì tôn giáo này quan niệm rằng ngoài tâm trí con người còn có Thiên Chúa là Hữu Thể có thực và ngoại giới do Thiên Chúa tạo nên cũng là có thực.

Vậy nếu bây giờ ta phải trả lời cho câu hỏi: Học thuyết Platon có phải là Duy Tâm không? thì ta có thể trả lời ngay là VỀ VẤN ĐỀ TRI THỨC, học thuyết của Platon không phải là Duy Tâm nhưng là Duy Thực (nghĩa là quan niệm ngoài trí óc con người còn có những hữu thể khác có thực không phải do trí óc tưởng tượng ra), nhưng VỀ VẤN ĐỀ HỮU THỂ thì học thuyết này là Duy Tâm (theo nghĩa B) nghĩa là cho rằng cái hữu thể khác có thực ấy bản thể không phải là vật mà là Tâm (đáng lẽ ra phải dùng chữ Linh mới phải vì chữ Idée (linh niệm) khác với Idée (Ý tưởng) như trên đã phân biệt.

DUY VẬT và DUY TÂM B

Đây không còn là vấn đề tri thức luận nữa mà là vấn đề hữu thể học về vấn đề bản thể của sự vật. Về vấn đề này ta thấy có 3 triết thuyết chính:

- THUYẾT DUY VẬT

Thuyết này quan niệm mọi sự đều chỉ là vật chất hoặc chỉ do vật chất tạo ra mà thôi! Ví dụ thuyết của Karl Marx cho rằng mọi sinh hoạt tinh thần văn hoá của con người cũng chỉ dựa trên nền tảng vật chất mà thôi, vì chỉ có một bản thể duy nhất là Vật mà thôi!

- THUYẾT DUY TÂM

Thuyết này ngược lại, quan niệm mọi sự đều là Tâm linh. Thế giới mà ta gọi là Vật chất hoặc là không có thực chỉ do tâm trí hình dung ra như là giấc mộng (duy tưởng) hoặc là do một sự sa đoạ nào đó của Tâm linh mà thôi (Duy Thực kiểu Platon).

- THUYẾT LƯỠNG NGUYÊN

Thuyết này cho rằng Vật chất và Tâm linh cả hai đều là những bản thể có thực. Có thể nói Thiên Chúa giáo thuộc về loại thuyết này.

Vậy ai khẳng định Thiên Chúa giáo là duy tâm là sai vì Thiên Chúa giáo chủ trương rằng ngoại giới có thực và thuộc về vật chất và vật chất là có thực. Thiên Chúa giáo không chủ trương rằng chỉ có tâm linh mà thôi! Thiên Chúa giáo chỉ chủ trương rằng nguồn gốc của mọi sự là Thiên Chúa mà Thiên Chúa thì thuần linh (nhưng thuần linh là muốn nói lên tính cách siêu việt của Thiên Chúa: Thiên Chúa vô cùng phong phú gồm đủ tất cả những gì có ở trong tâm linh cũng như ở trong vật chất và còn có nhiều nhiều vô cùng vô tận, vô hạn, vô biên , chứ không phải là như tinh thần con người mà thôi đâu!). Thật ra có lẽ ta chỉ nên nói Thiên Chúa là Duy Hữu; hay gọn hơn là HỮU: nghĩa là mọi cách có, có kiểu Vật, có kiểu Tâm, tất cả đều có trong Thiên Chúa. Và trong Thiên Chúa còn có vô vàn, vô biên, vô tận, vô hạn kiểu có mà tâm trí ta không tài nào múc cạn hết được. Hơn nữa trong Thánh Kinh, Chúa cũng đã tự xưng Danh Mình là Đấng CÓ, Đấng HỮU, HẰNG HỮU, chứ Ngài đâu có xưng mình là Tâm, là Vật, là Thiện, là Mỹ, là Chúa, là gì gì cả! (xem Kh 3,14).

Thiên Chúa chỉ là… có, vì có bởi Thiên Chúa; có trong Thiên Chúa: tâm linh, vật chất, X,Y,Z,W, v.v… và mọi kiểu có (tâm,vật, X,Y,Z,W, v.v…) mà ta kinh nghiệm được chỉ là những yếu tính hữu hạn trong một cách có nào đó, còn Thiên Chúa thì không có yếu tính, nếu không muốn nói yếu tính Ngài là CÓ.

Vậy khi nói Thiên Chúa là thuần linh thì phải phá vỡ khái niệm Linh, và tốt hơn, nên bỏ cách nói như vậy đi để tránh mọi lầm lẫn. Có lẽ khi có ai hỏi Chúa là Giêsu, hay là Vật, hay X, hay Y, hay Z, hay W, hay v.v… thì ta cứ dùng Lời Chúa mà trả lời: Chúa là ĐẤNG-CÓ (và CÓ là bao gồm tất cả những gì ta biết và ta không biết, là vô tận, vô biên, vô cùng, vô hạn, và cũng là nguồn gốc tất cả, nền tảng cho tất cả mà cũng là ngàn trùng vượt trên tất cả), và đó chính là điều chúng ta muốn nói lên khi tung hô: THÁNH, THÁNH, THÁNH ngàn trùng chí THÁNH!

Ngoài ra, chúng ta thấy rằng khi người ta gán cho một học thuyết hay một trường phái nào cái « nhãn hiệu » Duy Tâm thì thường là họ đã (vô tình hay hữu ý) lẫn lộn giữa hai nghĩa (A) và (B) của từ ngữ ấy.

Ví dụ: Học thuyết Platon có thể gọi là Duy Tâm theo nghĩa (B) (và theo nghĩa này thì cách duy tâm của nó không phải là không có giá trị, vì nó cũng nói lên được một khía cạnh nào đó của hữu thể) nhưng người ta gây cho người nghe một ấn tượng không mấy thiện cảm đối với học thuyết ấy vì thường người nghe lại liên tưởng (một cách tiềm thức) với nghĩa (A) (tức là Duy Tưởng) của từ ấy. Thực ra có rất ít người chấp nhận nghĩa (A) nầy bởi vì theo đó đến cùng thì nó sẽ dẫn đến thuyết Duy Ngã độc hữu (Solipsisme hay Subjective Abolu) là một học thuyết quá khích và có thể nói là sai lầm.

Khi người ta gán cho Thiên Chúa giáo hai chữ Duy Tâm thì cũng vậy! Nếu biện bạch ra ta thấy hầu hết đều đồng ý Thiên Chúa giáo là Duy Thực về vấn đề tri giác và ngoại giới, nhưng khi nói phớt qua, gán từ Duy Tâm cho Thiên Chúa giáo (vô tình hoặc hữu ý) thì người ta lại muốn gợi (hoặc không muốn gợi nhưng vô tình gợi ra) cho người nghe cái cảm tưởng là Thiên Chúa giáo thuộc về phe Duy Tâm (nghĩa là A) tức là Duy Tưởng, tức là sai, là phi lý. Trong khi đó Thiên Chúa giáo là Duy Hữu (và nếu có gọi là Duy Linh hay Duy Tâm đi nữa thì phải phá vỡ khung chật hẹp thường có của hai từ ấy và cho chúng một nghĩa rộng lớn như chúng ta đã nói trên).

Tóm lại, những cách gán ghép từ ngữ Duy Tâm ấy là vô tình ngụy biện hay vô tình xuyên tạc bằng cách sử dụng từ ngữ một cách hàm hồ. Trong trường hợp đó ta chỉ cần bình tĩnh sáng suốt phân tích, định nghĩa nhận định và phân biệt rõ ràng tức thì nhiều vấn đề ngụy tạo sẽ được giải quyết hoặc nói đúng hơn là sẽ được « dẹp đi » ngay!

Bây giờ ta thử suy nghĩ thêm về từ « VẬT » xem sao:

Thường thường mới xem qua ai lại chẳng tưởng rằng VẬT là cái gì dễ hiểu, dễ biết rõ bản thể nhất. Hòn đá kia, khối nước nọ tôi sờ được, nếm được, nhìn được, ngửi được, cân đo được, v.v… Đó là vật chất. Nhưng từ trước các nhà triết học đã biết rằng dù sao thì vật chất cũng chỉ được biết qua giác quan mà thôi. Và cái thế giới vật chất hữu hình mà ta tưởng là ta nắm bắt được bản chất đó, thực ra là một tổng hợp giữa sự kích thích do ngoại giới và phản ứng của giác quan. Mầu xanh, mùi thơm, vị đắng, sức nặng, độ cứng, không phải là có tự nơi vật chất mà là một cấu tạo phối hợp giữa yếu tố kích thích và lệ thuộc vào cơ cấu của giác quan! Nói như các nhà Duy Tâm rằng cơ thể không đau mà chỉ có linh hồn đau khi tôi bị chặt tay thì có hơi quá, nhưng cũng là một cách lưu ý ta về tính cách tương đối, biểu tượng của tri giác, và sự khó hiểu biết của vật chất.

Ngày nay các nhà khoa học đã biến những đặc tính khả giác (qualité sensible) đầy chủ quan thành những số lượng khách quan: màu xanh là bao nhiêu chấn động, độ ấm lạnh được xác định bằng tốc độ của phân tử v.v… và vật chất trở nên một cái gì rất trừu tượng đến nỗi cuối cùng những nhà duy vật như Lénin cũng chỉ định nghĩa vật chất là một cái gì có thực được kết hợp giữa một bên là thiên nhiên ngoại giới với một bên là trí năng và động năng của con người. Thật ra từ « duy vật biện chứng » có thể chỉ có nghĩa là một quan niệm « duy thực » về trí thức và hiệu năng hoạt động của con người trên thế giới tự nhiên, nhiều hơn là về bản thân của sự vật, và như vậy thì… cái nhìn về tương quan của con người và thế giới tự nhiên (về cả hai mặt trí thức và hành động) của Thiên Chúa giáo cũng không khác hơn nhiều lắm đâu!! vì Thiên Chúa của Thánh Kinh là Thiên Chúa của một lập trường Duy Thực, chứ không phải là Thượng Đế theo kiểu Duy Tưởng, Duy Tâm, Duy Linh.

Cho nên nhiều lúc chúng ta có thể tự hỏi phải chăng bao nhiêu đối lập, bao nhiêu biện luận, bao nhiêu ngộ nhận, bao nhiêu… xa cách, bao nhiêu… xương máu hận thù sẽ được giải toả (không nói là hoàn toàn được giải quyết hẳn) biện bạch giảm nhẹ nếu ta biết chịu khó khách quan và chân thành phân biệt cho rõ ràng một số danh từ. Vì vậy, tuỳ theo bạn định nghĩa thế nào là Tâm là Vật là Thực là Tưởng mà tôi có thể duy gì cũng được.

Nếu chữ Tâm được hiểu theo nghĩa (A) (tức là Duy Tưởng) thì Thiên Chúa giáo không phải là Duy Tâm vì tôn giáo này có quan niệm Duy Thực. Ngược lại nếu Vật được định nghĩa tương tự như là cái gì có thực mà tri giác và hành động của con người vừa nắm được vừa phải tuỳ theo mà xử sự, thì Thiên Chúa giáo có quan niệm Duy Vật hiểu như thế, vì thực ra lúc đó Duy Vật và Duy Thực tương tự như nhau mà Thiên Chúa giáo là Duy Thực.

Chính vì thế nếu có nhà Thánh Kinh học nào có cho ra một tác phẩm nào nhan đề là « Một cách đọc Duy Vật Tin Mừng theo Máccô » thì cũng là chuyện thường nếu tác giả dùng chữ Duy Vật theo nghĩa Duy Thực, vì quả thật trong 4 cuốn Tin Mừng, cuốn của Máccô có nhiều nét Duy Thực cụ thể nhất, chẳng hạn Ngài ghi chép ngay cả chuyện bãi đất mà các môn đệ sắp đặt chỗ ngồi để chia bánh cho quần chúng có mọc cỏ xanh tốt (xem Mc 6,39). Duy Vật như vậy cũng tốt thôi!

[Về mục lục]

III. THUYẾT TIẾN HOÁ VÀ SỰ HIỆN HỮU CỦA THƯỢNG ĐẾ

Bạn thân mến,

Có một quan niệm khá phổ biến cho rằng: Không có Thượng Đế vì khoa học đã chứng minh được các loài sinh vật là do sự tiến hoá từ giống này sang giống khác một cách tự nhiên chứ không do Thượng Đế trực tiếp tạo nên. Và quan niệm này đã tạo nên một cuộc tranh luận vô cùng gay gắt, nhất là với vấn đề về sự xuất hiện của con người. Càng gay gắt hơn nữa khi đôi bên lại nại đến những trang đầu của sách Sáng Thế Ký thuật lại việc Thượng Đế tạo dựng trời đất và muôn loài với một quy trình mô phỏng theo thuyết Dịnh Chủng: mỗi giống, mỗi loài và nhất là loài người, đều được Thiên Chúa trực tiếp tạo dựng từ nguồn gốc chứ không phải là do sự tiến hoá tự động, tự nhiên. Và thường thường cuộc tranh luận có thể được tóm tắt như sau:

1/ Phe Vô Thần lập luận:

a. Thánh Kinh dạy rằng Thiên Chúa tạo dựng nên muôn loài và theo kiểu định chủng.

b. Nay khoa học đã chứng minh được các loài, các giống là do luật biến hoá tự động tự nhiên từ giống này qua giống nọ, chứ không có bàn tay của Đấng Siêu Việt nào trực tiếp can thiệp cả.

c. Vậy Thánh Kinh đã sai lầm, và như thế thì trời đất với muôn loài là tự nhiên mà có chứ không do Thượng Đế tạo ra và đồng thời cũng chẳng có Thượng Đế.

2/ Còn phe Hữu Thần CỔ ĐIỂN lại lập luận như sau:

a. Thánh Kinh đã dạy là Thượng Đế đã tạo dựng muôn loài cách trực tiếp theo kiểu Định Chủng.

b. Thánh Kinh là Lời Chúa, nên là chân lý.

c. Vậy quan niệm tiến hoá trái với Lời Chúa, tức là trái với chân lý. Lời Chúa không thể sai lầm được, vậy ắt quan niệm tiến hoá phải sai.

Câu chuyện hôm nay tôi muốn nói với bạn không phải để giải quyết vấn đề vô thần hay hữu thần đúng, quan niệm Định Chủng hay quan niệm biến hoá đúng mà chủ yếu là làm cho chúng ta rõ: dù vô thần hay hữu thần đúng, dù tiến hoá hay định chủng đúng thì hai vấn đề – một bên là sự hiện hữu của Thượng Đế và một bên là sự xuất hiện của các loài sinh vật – không liên hệ gì trực tiếp với nhau cả. Ngoài ra, nhân dịp có đả động tới Thánh Kinh thì cũng tìm hiểu xem nơi những chương đầu sách Sáng Thế Ký, Lời Chúa muốn dạy cho nhân loại chân lý gì?

Tóm lại, chủ đích của bài này là khai quang một cuộc tranh luận bằng cách phân biệt vấn đề này với vấn đề kia để xếp vào hồ sơ lưu trữ một vấn đề hư tạo do một sự lẫn lộn vấn đề, lẫn lộn bình diện mà cả hai phe đã lầm mắc phải gây nên.

Ở đây, ta thấy có 3 vấn đề bị móc ngoặc vào nhau tạo nên một mớ chỉ rối:

a. Vấn đề nội dung của chân lý mặc khải trong những chương đầu của sách Sáng Thế Ký. Đó là một vấn đề thuộc khoa Thánh Kinh học.

b. Vấn đề nguồn gốc của vũ trụ: trời đất muôn loài trong toàn thể căn bản của sự HIỆN HỮU là một vấn đề hữu thể học về sự HỮU (tại sao CÓ thay vì KHÔNG) trong toàn bộ của mọi hữu thể.

c. Vấn đề thứ ba là một vấn đề của khoa học tự nhiên. Trong cái vũ trụ mà ta ĐÃ CÓ ĐÂY (nó tự đâu đến: tự hữu hay thụ tạo từ hư vô, không cần biết và cũng không cần đặt câu hỏi) thì trên bình diện của các sự kiện – các loài sinh vật đã xuất hiện như thế nào.

Và cuộc tranh luận sở dĩ đã xảy ra một cách vô duyên vì phe nào cũng phạm lỗi sơ đẳng về luận lý là đã thiết lập những Tam đoạn luận giữa những mệnh đề thực sự chẳng có gì liên hệ với nhau cả, nhưng đã bị họ lầm tưởng (hoặc cố tình ngụy biện!) là có liên hệ. Sự ngộ nhận hay ngụy biện ấy được gói ghém trong Đại tiền đề mà cả hai đã dựa vào để lập luận, đó là mệnh đề hoàn toàn sai sau đây: Nếu thuyết Tiến Hoá đúng thì Thánh Kinh sai, thì không có Thượng Đế!

1/ Phe Vô thần lập luận như sau:

a) Nếu thuyết Tiến Hoá đúng thì Thánh Kinh sai, thì không có Thượng Đế;

b) Mà khoa học đã chứng minh rằng thuyết Tiến Hoá đúng;

c) Vậy Thánh Kinh sai và không có Thượng Đế.

2/ Còn phe Hữu thần cổ điển lại lập luận:

a) Nếu thuyết Tiến Hoá đúng thì Thánh Kinh sai, thì không có Thượng Đế;

b) Mà Thánh Kinh là Lời Chúa nên không thể sai;

c) Vậy thuyết Tiến Hoá tất là phải sai.

Cả hai phe đều đã giỏi về Luận lý hình thức, hai Tam đoạn luận trên đều đúng về hình thức, nhưng cả hai đều không ý thức rằng nội dung các mệnh đề và nhất là Đại tiền đề sai nên kết luận tuy đúng về phép diễn dịch hình thức lại có thể sai về nội dung. Ta sẽ lần lượt xem nội dung của các Tiền đề chung cho cả hai phe, sai ở chỗ nào.

1/ Trước hết, ta thử xét Tiểu tiền đề của phe Hữu thần: « Thánh Kinh là Lời Chúa nên Thánh Kinh không thể sai » có giá trị gì?

Đây là một vấn đề Thánh Kinh học [1][1]: Quả thật Thánh Kinh là Lời Chúa, Thánh Kinh không thể sai. Nhưng điều kiện cần phải hiểu rõ là nội dung Thánh Kinh, là Lời Chúa chủ yếu mặc khải chân lý gì? Chân lý ấy thuộc bình diện nào?

Muốn thấy rõ vấn đề chắc chúng ta cần phải nhắc lại một vài nguyên tắc căn bản của khoa Thánh Kinh học: tuy Thánh Kinh là Lời Chúa, nhưng Lời Chúa (thật ra là ý tưởng của Chúa và đó là nội dung chân lý mà Thiên Chúa mặc khải) phải mặc lấy hình thức của con người viết Thánh Kinh: những quan niệm triết học, những kiến thức khoa học, những khái niệm, những biểu tượng, những văn thể, những ngôn từ mà những hình thức này thì thuộc về một thời đại, một địa phương, một xã hội, một văn hoá, một cá tính, một trình độ của cá nhân người viết. Vậy phải phân biệt cái NỘI DUNG (chính là Lời Chúa trong chính chủ ý Ngài muốn mặc khải) với các hình thức mà người viết Thánh Kinh muốn khoác lên cái nội dung ấy. Tất nhiên chỉ có nội dung mới là chân lý của Thiên Chúa, còn những hình thức được khoác lên thì chỉ có giá trị bình thường như bất cứ cái gì của con người: nghĩa là có thể sai hoặc tương đối.

Như vậy ta phải hỏi khi khẳng định rằng Lời Chúa không thể sai – thì phải biết trong các chương đầu của sách Sáng Thế Ký, Lời Chúa mặc khải chân lý gì? Thưa: một chân lý tôn giáo về vấn đề cứu độ, chứ không phải chân lý về hữu thể học, lại càng không phải kiến thức khoa học về vũ trụ học.

Vậy ta có thể khẳng đĩnh ngay: chủ ý nội dung chân lý được mặc khải ở những chương đầu của sách Sáng Thế Ký không phải là vấn đề các giống, các loài sinh vật xuất hiện theo quan niệm Định chủng hay theo quan niệm Biến hoá. Vấn đề này được trình bày theo quan niệm đương thời của người viết ; nó chỉ là cái vỏ, cái bình để đựng chân lý mà Chúa muốn mặc khải, là chân lý cứu độ, là vấn đề tương quan giữa con người và Thiên Chúa, là vấn đề sự dữ, sự ác, sự tội, sự cứu độ. Thánh Kinh đúng, Thánh Kinh là Lời Chúa. Nhưng chỉ là Lời Chúa, chỉ đúng về chân lý cứu độ, chứ còn quan niệm siêu hình hay kiến thức khoa học của người viết thì đâu có phải là Lời Chúa mà là lời của người viết, là cái vỏ của người viết khoác lên Lời Chúa mà thôi.

Vậy cái Tiền đề « Thánh Kinh đúng » không có nghĩa là thuyết Định chủng của người viết đúng, vì thuyết Định chủng là của người viết chứ không phải là Chân lý Chúa mặc khải, do đó Thánh Kinh đúng nghĩa là: tín điều về sự tội, sự ác, về phương thế thoát khỏi sự tội, sự ác được trình bày ở các chương đầu của Sáng Thế Ký là đúng, chứ không phải quan niệm Định chủng của người viết là đúng. Vì vậy Thánh Kinh đúng (về Chân lý Mặc khải) không cho phép ta rút tỉa ra một kết luận nào về một vấn đề hoàn toàn không liên hệ gì đến chân lý mặc khải cả, tức là vấn đề khoa học về các sinh vật. Và nếu Thánh Kinh có sai đi nữa thì cũng sai về mặt nào, chứ không sai về mặt khoa học, vì nội dung Thánh Kinh có bàn về vấn đề khoa học đâu! Khoa Thánh Kinh không dạy thuyết Định chủng mà cũng chẳng dạy thuyết Tiến Hoá. Thánh Kinh dạy Chân lý Cứu độ nhưng vì người viết ở vào hàng chục thế kỷ trước khi Darwin ra đời nên trong lúc mô tả tấn bi kịch tội lỗi sa ngã, đã vẽ một bối cảnh theo cách hình dung sự vật của thời đại ấy, là hình dung theo quan niệm Định chủng. Nếu quan niệm ấy có sai cũng không liên hệ gì đến giá trị nội dung chân lý mặc khải và ngược lại giá trị nội dung chân lý mặc khải cũng không liên hệ gì đến giá trị của quan niệm kiến thức đương thời của người viết về vũ trụ, về các loài sinh vật.

Để dễ hiểu hơn, xin xét một thí dụ sau đây: Chúa hiện ra với nữ chân phước Angèle de Foligno và bảo rằng: « Ta là Thực Hữu, còn con chỉ là hư vô ». Như vậy có phải Chúa dạy cho Angèle de Foligno một bài về Hữu thể học và dạy rằng: về Hữu thể học quả thật con người là hư vô không? Tất nhiên là không, vì nếu nói rằng về Hữu thể học con người là hư vô thì hoàn toàn sai! Chắc hẳn khi nói như thế với Angèle, Chúa không có quan niệm cho rằng con người là hư vô về Hữu thể học, mà đó chỉ là một CÁCH NÓI để diễn tả cái tương quan về Thần nhiệm, về thái độ Angèle phải có trước cái siêu việt của Thượng Đế. Angèle là thực hữu (về Hữu thể học) chứ đâu phải là hư vô! Tưởng rằng Thánh Kinh dạy thuyềt Định chủng về vấn đề sinh vật cũng phi lý như tường Chúa dạy cho Angèle một bài Hữu thể học và quan niệm của Chúa là thuyết Hư vô vậy!

Vì thế, nội dung của mệnh đề « Thánh Kinh là Lời Chúa. Lời Chúa là đúng » không có nghĩa là Chúa dạy thuyết Định chủng và thuyết Định chủng là đúng và do đó từ mệnh đề ấy phía Hữu thần không có quyền suy diễn rằng: thuyết Định chủng là đúng, nên thuyết Tiến Hoá là sai. Ngược lại phía Vô thần cũng không có quyền suy diễn từ tiền đề « Thuyết Tiến Hoá đúng » mà kết luận « Thánh Kinh sai và không có Thượng Đế » – vì Thánh Kinh có dạy thuyết Định chủng đâu. Thánh Kinh dạy một chân lý khác, qua cái hình dung cái vỏ do quan niệm Định chủng đương thời của người viết khoác lên mà thôi!

Nói tóm lại, nếu thuyết Định chủng có đúng thì cũng không phải vì vậy mà phe Hữu thần đúng, ngược lại nếu thuyết Tiến Hoá có đúng thì cũng không phải vì vậy mà phe Vô thần đúng. Cả hai phe Hữu thần và Vô thần muốn lập luận để chứng minh quan niệm của mình (chưa biết ai đúng) phải dùng luận cứ khác, chứ dựa vào vấn đề Định chủng hay Tiến hoá thì hoàn toàn vô giá trị: Tam đoạn luận của cả hai phe đều là ngụy biện cả! Phe Vô thần nếu có đúng, cũng không có quyền dùng thuyết Tiến Hoá để chứng minh quan niệm Vô thần của mình. Ngược lại phe Hữu thần dầu có đúng, cũng không có quyền dựa vào Thánh Kinh, vào chân lý mặc khải của Thiên Chúa để tiên quyết phủ nhận thuyết Tiến Hoá. Có Thượng Đế hay không thì các sinh vật cũng có thể xuất hiện theo thuyết Định chủng hay thuyết Tiến Hoá không hề hấn gì, không liên can gì đến nhau cả!

2/ Bây giờ ta hãy xét giá trị của Đại tiền đề mà cả hai phe đều dựa vào để lập luận « Nếu thuyết Tiến Hoá đúng, thì Thánh Kinh sai, thì không có Thượng Đế ».

Thánh Kinh không chủ yếu mặc khải gì về Định chủng hay Tiến hoá, nên Thánh Kinh không phi bác mà cũng chẳng khẳng định gì về vấn đề này cả, nên không có gì là mâu thuẫn với thuyết Tiến Hoá nếu thuyết này đúng.

Nhưng còn một câu hỏi khác: « Nếu Thánh Kinh có ý mặc khải chân lý Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ muôn loài » thì tín điều này có liên quan gì (nghĩa là có phù hợp hay trái ngược) với thuyết Tiến Hoá không?

Sở dĩ nói « Nếu Thánh Kinh… » là vì thực ra những chương đầu của Sáng Thế Ký cũng không có chủ đích trực tiếp mặc khải chân lý về Hữu thể học là trời đất muôn loài do Thiên Chúa dựng nên từ hư vô! Nội dung chủ yếu trực tiếp được mặc khải là vấn đề tương quan giữa Thiên Chúa và con người, là vấn đề sự dữ, sự ác, sự tội, là con đường cứu độ. Còn vấn đề vũ trụ quan chỉ là thứ yếu, chỉ là gián tiếp. Trong đầu óc người viết Thánh Kinh, chủ yếu là nói về vấn đề con người trong tương quan với Thiên Chúa, và tấn bi kịch tội lỗi sa ngã của con người trong việc cắt đứt tương quan ấy. Còn vũ trụ được đề cập đến chỉ có giá trị của tấm phông của bối cảnh cho tấn bi kịch mà thôi.

Nếu có chân lý nào được gián tiếp truyền dạy một cách hàm ẩn trong đối tượng chính thì vấn đề không phải là chân lý về sự tạo dựng trên bình diện một vấn đề Hữu thể học, mà là vấn đề vị trí của con người ở giữa trời đất bao la với muôn loài muôn vật. Thánh Kinh không chủ ý dạy trực tiếp một bài học về tính bất tất và tính cách thụ tạo của vũ trụ mà chỉ nói đến tính cách thụ tạo của vũ trụ muôn loài để dạy cho con người có phải tôn thờ gì là tôn thờ Thượng Đế, chứ còn vũ trụ bao la, dù hùng vĩ với tất cả muôn loài, cũng chỉ là thụ tạo, mà lại còn là những thụ tạo ở cấp dưới con người. Thánh Kinh không chủ ý dạy chân lý Hữu thể học về tính cách thụ tạo (tức là hiện hữu bất tất) của vũ trụ muôn loài, mà chỉ nhắc đến vấn đề ấy để chủ ý dạy con người đừng tôn thờ sùng bái bất cứ gì khác ngoài Thiên Chúa!

Chân lý siêu hình về Hữu thể chỉ được nhắc đến để dạy chân lý tôn giáo, và chân lý tôn giáo mới là đối tượng chính của mặc khải. Như thế chân lý về Thiên Chúa tạo dựng cũng chỉ có một vai trò thứ yếu trong sứ điệp được mặc khải qua mấy chương đầu của Sáng Thế Ký thôi. Cho nên dựa vào Thánh Kinh để lập luận về các vấn đề chuyên môn Hữu thể học như hiện hữu bất tất của vũ trụ, hằng hữu của vật chất, sáng tạo từ hư vô, cũng là đã đi hơi xa, đi ngoài nội dung chủ yếu của mặc khải rồi!

Nhưng nếu Thánh Kinh có mặc khải về chân lý Thiên Chúa tạo dựng thì có ngược với thuyết Tiến Hoá không? Xin trả lời ngay là không! Vì sao? Vì Tín điều « Thiên Chúa dựng nên trời đất muôn vật hữu hình và vô hình » là một chân lý liên can đến vấn đề Hữu thể học thuộc triết học, còn thuyết Tiến Hoá là một thuyết về vấn đề Vũ trụ học, thuộc khoa học tự nhiên.

Tín điều « Thiên Chúa sáng tạo » là trả lời câu hỏi về « CÓ » và « KHÔNG » của toàn thể hiện hữu, là một vấn đề về hiện hữu và hữu thể. Theo tín điều này thì vạn vật vốn là « không » mà sở dĩ « có » được là do Thiên Chúa sáng tạo. Còn thuyết Tiến Hoá thì không đề cập tới vấn đề « có » và « không », mà đi từ cái ĐÃ có, đã có ĐÓ (không hề hỏi từ đâu mà có) và chỉ hỏi « Có như thế nào? ».

Tín điều « Thiên Chúa sáng tạo » dạy rằng vạn vật KHÔNG TỰ HỮU (cho nên không hằng hữu, không tất hữu), còn thuyết Tiến Hoá bảo rằng các sinh vật xuất hiện loài này từ loài nọ, chứ không nói khởi đầu của SỰ HỮU là do đâu. Hai vấn đề hoàn toàn biệt lập nhau, từ một quan niệm về vấn đề A (vấn đề hiện hữu) dù đúng hay sai cũng không rút tỉa ra được kết luận gì (dầu về phe nào) về vấn đề B (vấn đề khi đã có đó rồi thì diễn tiến ra sao).

Vạn vật có tự hữu đi chăng nữa thì vẫn có thể tự hữu theo kiểu Định chủng và cũng có thể tự hữu theo kiểu Tiến hoá. Và vạn vật có là do Thiên Chúa dựng nên thì cũng có thể dựng nên theo kiểu Định chủng hoặc theo kiểu Tiến hoá. Hai vấn đề không có liên hệ gì với nhau cả. Phe Hữu thần không thể dựa vào sự kiện vạn vật là thụ tạo để phi bác thuyết Tiến Hoá. Phe Vô thần cũng không thể dựa vào thuyết Tiến Hoá để chứng minh vạn vật tự hữu. Thuyết Tiến Hoá chỉ là một cách quan niệm về CÁCH NHƯ THẾ NÀO (một khi đã có) chứ không phải là một thuyết về sự VÌ SAO MÀ CÓ thay vì không có.

Xin nhắc lại với bạn là chúng ta chưa tìm xem vô thần hay hữu thần đúng, cũng không tìm xem Định chủng đúng hay Tiến hoá đúng, mà chỉ đi đến cho thấy rằng hai vấn đề này không liên hệ gì với nhau cả.

Quả vậy, ta có thể quan niệm Thượng Đế tạo dựng vũ trụ từ đầu rồi đặt ngay vào sự vật một tiềm lực nội tại để nó tự động, tự phát, tự nhiên biến hoá theo những quy luật của nó, mà chẳng có gì nghịch với thuyết Tiến Hoá cả. Cái nhìn này nào có khác gì cái nhìn về sự biến hoá của một hạt lúa nẩy mầm, mọc lá đâm bông, kết hạt do tiềm lực, do nguyên nhân đất đai, phân bón, nắng mưa, v.v… mà vẫn có thể quan niệm tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng ra với năng lực tiềm ẩn của chúng , rồi chúng chỉ có việc tự phát theo quy luật đã an bài. Cần gì hễ động một tí là Thiên Chúa phải trực tiếp can thiệp! Vấn đề Thiên Chúa tạo dựng là vấn đề hạt lúa đầu tiên từ đâu mà có, còn vấn đề tiến hoá là vấn đề hạt lúa một khi đã có thì triển nở ra sao.

Lấy một thí dụ khác để hình dung: có hai loại đồng hồ, một loại phải lên dây hằng ngày và một loại tự động. Nếu ta ví vũ trụ này như một chiềc đồng hồ thì vấn đề tiến hoá là để trả lời câu hỏi: chiếc đồng hồ MÀ TA ĐÃ CÓ ĐÂY là loại tự động (Tiến hoá tự nhiên) hay là loại phải lên dây (Định chủng). Thuyết Tiến Hoá không đòi hỏi chiếc đồng hồ vì sao CÓ thay vì KHÔNG CÓ! Còn tín điều tạo dựng thì không trả lời về vấn đề đồng hồ phải lên dây hay là tự động, vấn đề này là cứ mở mắt ra xem (tức khảo nghiệm khoa học) thì biết, mà lại đặt câu hỏi và trả lời về vấn đề chiếc đồng hồ vì sao mà có thay vì không có.

Đến đây chúng ta có thể tạm ngưng, nhưng để vui câu chuyện, chúng ta có thể mượn hình ảnh đồng hồ mà nói thêm là giữa chiếc đồng hồ phải lên dây hằng ngày (Thiên Chúa phải can thiệp từng đợt một để tạo ra giống này loài nọ) và một chiếc đồng hồ tự động (Thiên Chúa không cần can thiệp từng đợt mà đặt ngay từ đầu một tiềm lực để vạn vật tiến hoá) thì tác giả cái đồng hồ tự động tài ba hơn.

Nếu quan niệm Thiên Chúa là Đấng toàn năng thì có thể xét rằng E CÓ LẼ quan niệm vũ trụ tự nhiên tiến hoá (chứ không phải tự hữu: thuyết Tiến Hoá khoa học chỉ nói vũ trụ tự nhiên tiến hoá chứ không hề đề cập đến vũ trụ tự hữu hay thụ tạo. Vấn đề này là vấn đề triết học, không thể suy diễn rút ra như một tiền đề thuộc về khoa học tự nhiên được) hợp với Ngài hơn là quan niệm Định chủng, đòi hỏi Ngài cứ mỗi lần có chuyện gì lại phải nhúng tay can thiệp.

Tuy nhiên, đó là « tán gẫu » cho vui để nhấn mạnh thêm là tuỳ theo cái nhìn, tuỳ theo não trạng của mỗi thời đại, của mỗi cá nhân suy diễn « cho vui » để có thể nghĩ rằng vũ trụ thế này thì có lẽ hợp với Thiên Chúa hơn là vũ trụ như thế nọ! Nhưng suy nghĩ theo hướng nào thì cũng chỉ là cách nhìn theo kiểu loài người, chứ nếu có Thiên Chúa, và Thiên Chúa là Đấng toàn năng, thì vũ trụ được dựng nên theo kiểu nào cũng vậy thôi! Chẳng có kiểu nào tài hơn kiểu nào cả! Vì cái « TÀI » chính là ở chỗ từ « KHÔNG » làm nên « CÓ », còn khi « đã có rồi » thì theo kiểu nào cũng là điều thứ yếu.

Nói cách khác, vấn đề Thượng Đế được đặt ra không phải là vấn đề các sinh vật định chủng hay tự tiến hoá, mà là vấn đề toàn thể vũ trụ với muôn loài trong ấy (Định chủng hay Tiến hoá cũng vậy thôi) là tự hữu hay không?

Cho nên thuyết Định chủng đúng hay sai, thuyết Tiến Hoá đúng hay sai, không cho phép ta rút ra kết luận nào về hữu thần hay vô thần cả, về vũ trụ tự hữu hay thụ tạo cả. Và ngược lại, vô thần đúng hay sai, hữu thần sai hay đúng, vũ trụ tự hữu hay thụ tạo cũng không cho phép ta rút ra kết luận gì về vấn đề Định chủng hay Tiến hoá cả. Định chủng đúng hay sai, Tiến hoá đúng hay sai, Thánh Kinh không liên hệ gì. Ngược lại, tín điều Thiên Chúa tạo dựng đúng hay sai cũng không cho phép ta rút ra kết luận gì về sự đúng hay sai của thuyết Định chủng hay thuyết Tiến Hoá cả,

Người vô thần không thể dựa vào thuyết Tiến Hoá để biện hộ cho quan niệm vô thần của mình, và người hữu thần cũng không thể dựa vào sự hiện hữu của Thượng Đế để phủ nhận một cách tiên quyết thuyết Tiến Hoá. Vô thần hay hữu thần đúng hay sai là do những luận cứ triết học. Định chủng hay Tiến hoá đúng hay sai là do sự tìm kiếm kiểm chứng của khoa học thực nghiệm.

Đến đây chắc bạn đã mường tượng thấy cuộc tranh luận mà ta xét ở đây là một cuộc tranh luận giữa một người mù và một người điếc. Một bên nói về màu sắc, một bên nói về âm thanh mà cứ tưởng là cùng nói về một vấn đề, nên mới sinh chuyện. Chỉ cần phân biệt lãnh vực, phân biệt vấn đề, tức là ổn chuyện! Lại thêm vấn đề chú giải Kinh Thánh nữa, khác nào thêm một người vừa câm vừa điếc nhập cuộc, nói về hương vị, chỉ thêm rắc rối! Phân biệt rõ âm thanh, màu sắc, hương vị ra là giải toả vấn đề, là thấy rõ Đại tiền đề mà cả hai phe đều cùng dựa vào là sai và như thế Tam đoạn luận của cả hai phe đều sụp đổ ngay tận gốc!

Nhưng đó là vấn đề của cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chứ nay cuối thế kỷ XX rồi, khoa Thánh Kinh, môn triết học, ngành sinh vật học đã hiểu nhau, đã phân biệt lãnh vực của nhau trên căn bản, không thành vấn đề nữa! Chỉ có những người hoặc là cố tình ngụy biện, hoặc là còn trì trệ lại trong cuối thế kỷ XIX mới còn đặt vấn đề mà thôi! Chúng ta nên dành thì giờ nói sang chuyện khác lý thú hơn, cập thời hơn, đó là tiền đề: « Thuyết Tiến Hoá là đúng có giá trị ra sao? ».

Thuyết Tiến Hoá là một thuyết khoa học chứ không phải một sự kiện được thực nghiệm cho nên dù nó có đúng thì nó cũng chỉ có giá trị của một thuyết chứ nó không có giá trị của một sự kiện.

Như tất cả chúng ta đều biết, một thuyết là một quan niệm do trí tuệ con người nêu lên, đặt ra để lý giải một số sự kiện. Có một số sự kiện được lý giải nhờ thuyết Tiến Hoá là chưa có sự kiện nào ngược với thuyết ấy, thì thuyết ấy CÓ THỂ được xem là ĐÚNG. Nhưng trên nguyên tắc mà nói, nó chỉ có giá trị một thuyết khoa học mà thôi.

Thái độ chân chính của một nhà khoa học, có tinh thần khoa học, là đối với bất cứ thuyết nào, họ cũng sẵn sàng chờ đợi khi có sự kiện gì được phát hiện ra mà ngược lại thuyết ấy thì họ sẽ sẵn sàng xét lại thuyết ấy ngay hoặc để sửa sai hoặc để bổ khuyết thuyết ấy cho phong phú hơn.

Vì tinh thần khoa học thực thụ là tinh thần luôn luôn nhớ rằng SỰ KIỆN muôn vàn phong phú của thực tại bao giờ cũng có thể vượt qua tầm vóc của bất cứ thuyết nào của con người thiết lập nên để lý giải nó. Đến nỗi có khi trí tuệ của con người phải cố gắng tổng hợp hai thuyết hầu như trái ngược nhau. Chẳng hạn thuyết « Cơ học ba động » (Mécanique ondulatoire) là một nỗ lực tổng hợp hai thuyết nghịch nhau về bản chất của ánh sáng. Cho nên « theo đuổi » một thuyết khoa học nào đó để biện hộ cho một quan niệm triết học hay một chân lý đức tin nào đó là làm một việc đầy bất trắc coi chừng có ngày « gậy ông đập lưng ông »!

***

Bạn mến,

Những dòng trên đây về vấn đề tiến hoá và tín điều Thiên Chúa tạo dựng, chỉ là một nỗ lực để định rõ vị trí của mỗi lãnh vực, khai quang đầu óc, tháo mối chỉ rối chứ không có ý theo đuổi dựa vào một thuyết khoa học nào (dầu đúng cũng chỉ là tương đối) để biện hộ cho một triết thuyết hay một tín điều nào cả. Vì vậy chắc nó chỉ đụng chạm đến những ai ngụy biện, lẫn lộn vấn đề và bình diện, lãnh vực mà thôi.

Có lẽ bạn cũng như những người khác hơi bực mình vì chưa biết phe nào đúng, phe nào sai cả. Nhưng thiết tưởng với lòng yêu mến chân lý, với sự sáng suốt và bình tĩnh, mỗi người có thể tự rút ra một kết luận cho mình, bằng không nếu cần, chúng ta sẽ cùng nhau trao đổi trong một dịp khác.

Thân chào bạn.


[2][1] Để hiểu rõ hơn vấn đề Thánh Kinh chung quanh mấy chương đầu sách Sáng Thế Ký, xin bạn đọc:

“L’HISTOIRE BIBLIQUE DE LA CRÉATION AUJOURD’HUI” của Herbert Haag, trong 9-82, trong cuốn BIBLE ET ÉVOLUTION, Mame – Paris 1964”.

Hoặc bản dịch tiếng Việt dưới nhan đề: SỰ KIỆN LỊCH SỬ SÁNG THẾ TRONG KINH THÁNH, HIỂU THEO NGÀY NAY.

* Vấn đề hư tạo: Faux problème.

[Về mục lục]

IV. THIÊN CHÚA VÀ TỰ DO CỦA CON NGƯỜI

Bạn thân mến,

Một trong những trở ngại lớn nhất làm cho con người thời đại này không chấp nhận có Thiên Chúa, phải chăng vì người ta sợ rằng có Thiên Chúa sẽ ngăn cản, hạn chế, nếu không muốn nói là tước đoạt hoàn toàn tự do của con người. Và như vậy là Thiên Chúa sê làm tổn thương đến phẩm giá cao quý của con người, vì con người chỉ thực sự xứng đáng là người khi có một cuộc sống hoàn toàn tự do mà thôi?

Chắc bạn cũng thấy ngay là thái độ ấy không phải là không có lý do của nó. Thực vậy:

1. Một số không ít các giới răn của Thiên Chúa (nhất là dưới khuôn khổ một nền giáo dục gò bó, khép kín, quá thiên về tiết chế dục vọng) được xem như là những ngăn cấm: CHỚ làm điều này, CHỚ làm điều nọ… khi ấy Thiên Chúa chẳng khác nào viên cảnh sát công lộ.

2. Và ngay những giới răn mang hình thức tích cực, khuyến thiện: HÃY làm điều này, HÃY làm điều nọ… cũng được xem như là hạn chế tự do của con người vì con người buộc phải hướng về một cái THIỆN do Thiên Chúa áp đặt, chứ không phải do chính con người mình tự thiết định ra (J.P.Sartre là tiêu biểu cho xu hướng muốn con người có quyển tự mình đặt ra nấc thang giá trị cho riêng mình, chứ không phải phục thuận một nấc thang giá trị tự do mà mọi lương tri phải phục thuận).

Phải chăng, quả thật Thiên Chúa hạn chế, tước đoạt tự do của con người, hay trái lại, chính Thiên Chúa là nguồn mạch, là nền tảng cho tự do ĐÍCH THỰC của con người?

Nhưng Tự do là gì? Và thế nào TỰ DO ĐÍCH THỰC?

1/ Tự do bên ngoài: thường được hiểu như là không bị bất cứ một cái gì bên ngoài cản trở, muốn làm gì thì làm: tôi muốn nằm ngủ hay muốn cuốc đất hoặc muốn vào nhà người ta mở tủ họ lấy tiền xài chơi… đều làm được, không bị ai ngăn cấm, không bị ai cản trở cả… thế là tôi có tự do bên ngoài. Theo nghĩa này thì một dòng nước chảy xuôi từ nguồn ra biển không bị cản trở; một nồi nước đun sôi, hơi nước bốc lên không bị nắp vung chặn lại… cũng có thể xem như là được tự do bên ngoài. (Và một người sống buông thả theo dục vọng, không bị điều kiện vật lý hạn chế, không bị luật lệ xã hội ngăn cấm, cũng được xem như là có tự do bên ngoài).

Muốn có tự do này, con người phải đấu tranh về hai mặt:

a. Kỹ thuật: để phá tan những ngăn cấm do vật lý tự nhiên. Ví dụ: bắc cầu qua sông, xẻ núi làm đường, bắt dây điện thoại để nói chuyện với người ở xa…

b. Xã hội chính trị: lật đổ cường quyền áp bức…

2/ Tự do bên trong: (có nhiều xu hướng triết học phủ nhận, cho rằng con người không có thứ tự do này vì con người cũng như các vạn vật khác đều do luật tất định chi phối hoàn toàn. Ta tạm gác vấn đề này, vì như vậy thì mọi vấn đề luân lý, luật pháp, chân lý, tín ngưỡng đều ra vô nghĩa, và vấn đề trao đổi hôm nay cũng vô ý nghĩa vì tất cả mọi sự đều đã tất định cả rồi). Ở đây ta đi từ GIẢ SỬ là con người có thứ tự do này để xem như vậy thì Thiên Chúa có cản trở hay tước đoạt tự do này của con người hay không.

Nhưng tự do này là gì? Là con người khác hẳn các vật khác ở chỗ con người có KHẢ NĂNG KHỞI ĐẦU TUYỆT ĐỐI, không bị tất định bởi bất cứ cái gì trước đó, NGAY CẢ ĐỐI VỚI CHÍNH MÌNH TRONG QUÁ KHỨ CŨNG KHÔNG. Tự do này không phải là ở chỗ muốn gì làm nấy, mà ở chỗ: có thể muốn cái gì tự mình khởi điểm ngay trong hiện tại chứ không có ngoại vật mà cũng không có quá khứ bản thân tất định (“Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng”: cái tôi trong hiện tại, chứ không tại bất cứ cái gì khác, không tại ngoại cảnh, không tại huyết thống, không tại di truyền, không tại thói quen, không tại giáo dục, không tại gì cả, chỉ tại TÔI, cái TÔI như là khởi đầu, hoàn toàn tuyệt đối, ngay chính lúc tôi lựa chọn muốn cái này hay cái nọ. Khi con người đấm ngực nhận tội hay vỗ ngực kể công, khi xã hội tuyên án một phạm nhân hay tuyên dương một vĩ nhân, tức là đã mặc nhiên nhìn nhận con người là hữu thể đặc biệt, có thứ tự do bên trong này, vì thế mới có trường hợp gia trọng, trường hợp giảm khinh, nhưng không bao giờ nghĩ rằng con người mất hẳn thứ tự do này, trừ trường hợp điên khùng).

Thứ tự do này (nếu có) chính là cái làm cho con người vượt lên trên tất cả mọi loài gần như sánh ngang với Thiên Chúa, vì sự tự do này làm cho con người có khả năng sáng tạo (nghĩa là làm ra cái mới hoàn toàn, không có cái gì có trước làm nên cả chẳng khác gì Thiên Chúa sáng tạo từ hư không). Vì vậy có kẻ bảo rằng Thiên Chúa tạo nên con người theo hình ảnh của Ngài tức là tạo nên con người TỰ DO theo nghĩa này. Mà quả vậy, ta sẽ thấy ngay cả sự TOÀN NĂNG của Thiên Chúa cũng phải bó tay trước sự TỰ DO của con người, và rồi sự CHÍ ÁI của Ngài cũng đành bất lực trước sự TỰ DO của con người, khi mà con người trả lời “KHÔNG” trước ân sủng của Tình Yêu Thiên Chúa.

Đáng lẽ phải nói đến một nghĩa thứ ba nữa, tức là thứ tự do theo nghĩa như của J.P. Sartre: con người có quyền quyết định lấy nấc thang giá trị cho riêng mình, nhưng suy cho cùng thì đó là một thứ tự do bất nhân, phi lý vô nghĩa (liberté d’indifférence) nào có khác gì sự hờ hững của một người mù trước hai bức tranh, người điếc trước hai bản nhạc, rồi quờ quạng, võ đoán chẳng căn cứ vào đâu mà tuyên bố, quyết định rằng bức tranh A là đẹp hơn bức tranh B, bản nhạc M hay hơn bản nhạc N. Vả lại đòi cho con người thứ tự do này là đòi con người phải như Thiên Chúa tự mình là tiêu chuẩn của CHÂN, THIỆN, MỸ. Ai còn có chút lý trí thì chắc cũng biết mình không phải là Thiên Chúa, cũng không dám nghĩ rằng mình có thứ tự do này. Tuy nhiên!!! Cơn cám dỗ trong vườn địa đàng chính là mơ ước muốn bằng Thiên Chúa, muốn tự mình định chuẩn cho Thiện Ác, Chân Giả qua việc ăn trái cấm.

I. Trước hết, chúng ta thử xét xem Thiên Chúa có hạn chế sự tự do bên ngoài của con người không?

Sở dĩ chúng ta có cảm tưởng Thiên Chúa hạn chế, tước đoạt tự do bên ngoài của con người, là vì chúng ta thấy rằng nhiều ước muốn của chúng ta bị các giới răn cản trở. Chúng ta phải nhìn nhận rằng vì những thiếu sót sai lầm trong nến giáo dục mà các “điều răn” của Thiên Chúa đối với một số tâm hồn chưa trưởng thành đủ, còn mang một bộ mặt áp chế, thường kèm theo sự hăm doạ, thưc ra mà nói, trong một giai đoạn nào đó, hình thức “răn đe” đôi lúc cũng cần thiết và hữu ích (trong chúng ta ai có lòng thành thực khiêm tốn mà lại không nhìn nhận rằng, dẫu già đầu rồi, có khi chúng ta vẫn còn là một đứa bé “sợ roi vọt” là thứ hàng rào ngăn cản cuối cùng giúp ta khỏi bị cơn lốc dục vọng lôi cuốn vào vực thẳm sa đoạ) để từ từ huấn luyện con người đi đến chỗ làm chủ lấy chính mình để tự mình lựa chọn và trung thành với nấc thang giá trị làm tiêu chuẩn cho cuộc sống để trở nên người tự do, bên ngoài không bị ngoại vật chi phối, bên trong không bị dục vọng lôi cuốn nhận chìm. Mới nhìn qua thì hơi mâu thuẫn, những mục đích của răn đe, chính là để hướng dẫn con người từ từ tiến lên trình độ tự điều khiển chính mình không cần ai răn đe nữa. Tại sao như thế? Chính là vì con người có tự do (bên trong) vậy!

Chúng ta có thể nói vốn là như thế này: Tất cả vạn vật trừ con người ra đều đạt tới cứu cánh của mình, thể hiện được chính mình một cách trọn vẹn tuyệt hảo vì chúng đều do luật tất định chi phối: một tảng đá, trọng lượng bao nhiêu đó, nằm trên một mặt nghiêng với một độ dốc bao nhiêu đó, thì nhất định sẽ lăn xuống với một tốc độ nào đó, và sẽ ngừng ở một điểm nhất định nào đó, vào một thời điểm nào đó. Một búp hoa nào đó, với độ nắng mưa nào đó, đã được vun quén phân bón với mức độ nào đó, thì nhất định sẽ nở ra như thế nào đó, và cuối cùng sẽ tàn rụng lúc nhất định nào đó… Nhất nhất mọi dự đều tuyệt hảo, không sai một ly tấc nào cả! Có lẽ vì vậy mà khi tạo nên mọi sự (trừ con người), Thiên Chúa đều thấy là “tốt lành” (xem St 1,1-31) vì tất cả đều răm rắp hiện ra trong sự hữu hình của mình vẹn toàn, hoàn hảo đúng y như quy luật do bản chất của mình, thể hiện chính mình một cách tuyệt mức, không hơn được mà cũng không kém được. Nhưng có một điều là chúng không TỰ thể hiện chính mình, mà hoàn toàn BỊ THỂ HIỆN, BỊ chi phối theo luật tất định! Vì vậy, chẳng ai khen một cột trụ chịu đựng được sức nặng ngàn cân, cũng chẳng ai chê một chiếc đòn gánh gãy vì quá yếu không kham nổi một trọng lượng quá sức chịu đựng, chẳng ai cười một bông hoa nở muộn, chẳng ai hoan hô một chồi non mọc sớm v.v… cũng vì vậy mà Thiên Chúa chẳng phải răn đe khuyến khích, mời mọc hay hăm doạ gì cả, mà cũng chẳng ai mất công hô hào hay đe doạ để cho một cành hoa đào nở đúng ngày xuân.

Với con người thì khác hẳn! Một mặt con người cũng chỉ đạt được cứu cánh của mình, thể được chính mình bằng cách sống đúng theo bản tính trung thực, đích đáng của mình, tức là sống đúng theo phẩm giá con người, nghĩa là cũng phải theo những quy luật phù hợp với bản tính, với cứu cánh của mình mới đạt được hạnh phúc đích thực của mình (tức là cứu cánh của mình, thực hiện chính mình) cũng tương tự như vạn vật đều tuân theo các quy luật tự nhiên vậy! Nhưng phúc thay, vinh thay, hoặc là khốn thay, những quy luật của con người, không tất định chi phối con người, mà phải DO con người TỰ nhận thức lấy, TỰ chọn lấy và TỰ thực hành lấy! Biết đâu chẳng phải vì vậy mà Thiên Chúa đã thấy “TỐT LÀNH QUÁ ĐỖI” sau khi dựng nên con người (xem St 1,31).

Con người có khả năng TỰ chọn lấy, TỰ làm lấy những điều ngược lại với quy luật của mình, và như thế TỰ đi lệch ra ngoài con đường đúng đắn, và hụt mất cứu cánh của mình, tự huỷ lấy mình, tự đánh mất chính mình: mất linh hồn là vậy đấy! Thiên Chúa vì không muốn con người bị tất định (và tất định thì vô tri, vô giác, đâu còn là con người nữa) mà để cho con người HOÀN TOÀN TỰ DO, TỰ quyết định lấy, TỰ lựa chọn lấy, để hoặc là tựTỰ thể hiện chính mình, đạt được cứu cánh – hạnh phúc thật của mình, hoặc là TỰ đánh mất, TỰ đày ải mình, TỰ mình làm hụt mất cứu cánh hạnh phúc của mình.

Những giới hạn của Thiên Chúa là những mũi tên chỉ đường cho con người biết đâu là đường sống, còn theo hay không, Thiên Chúa nhường quyền hoàn toàn cho con người TỰ DO quyết định. Mà chính vì đã nhường quyền quyết định cho con người nên Thiên Chúa mới phải in sâu những giới răn ấy vào bên trong chính lòng con người: tức là tiếng nói của lương tâm, và NHẮC LẠI bên ngoài bằng các giới răn (Mười điều răn Đức Chúa Trời, sáu điều răn Hội Thánh…).

Thật ra, các giới răn tiêu cực (ngăn cấm) và tích cực (khuyến khích) được minh thị, thì nào có khác gì các nhãn hiệu dán trên các chai thuốc độc và các chai thuốc bổ, để cho con người đã trưởng thành biết đọc, biết suy nghĩ, muốn sống thì lựa chọn chai có nhãn đề thuốc bổ, muốn chết thì tìm chai thuốc độc mà dùng! Chứ không còn là trẻ con, phải do người lớn chọn thay và cạy miệng đổ vào!

Các giới răn chẳng những không vi phạm đến tự do con người, mà còn giúp cho con người nhận thức đúng để TỰ mình chọn lấy con đường sống hay con đường chết một cách có ý thức: Tiếng nói lương tâm đâu có phải là một mệnh lệnh độc đoán áp chế, trái lại đó là lời cảnh tỉnh, là tiếng chuông báo động, là mũi tên, bảng hiệu vẽ đường chỉ lối, là lời mời mọc ân cần, âu yếm nhưng nghiêm túc đứng đắn (chứ không phải đường mật quyến rũ, dụ dỗ) để con người tự do mà chọn lựa; con người có toàn quyền tự bịt mắt, bưng tai, ngoảnh mặt lại đi vào chỗ chết mà! Chẳng những Thiên Chúa không cưỡng bức ép buộc, mà Ngài cũng không hề doạ dẫm: Ngài chỉ nói rõ cho biết là hậu quả sẽ ra sao, rồi mong con người tỉnh ngộ mà thôi. Cuối cùng khi không biết làm sao được nữa, Ngài chỉ còn có cách là hiến chính Con Một yêu dấu của Ngài trên thập giá để kêu gọi chính tự do của con người hãy TỰ mình trở về với con đường sống. Cái chết của Con Thiên Chúa trên thập giá có khác gì cái chết của các trung thần chỉ còn biết lấy cái chết mà can gián hôn quân! Tôn trọng tự do con người, như thái độ của kẻ thần tử can gián bậc quân vương, tiết tưởng đến độ ấy là cùng, không còn ai có thể vượt qua được nữa! Và Con Thiên Chúa đã làm gì trước khi dùng cái chết để can ngăn? – Ngài đã quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ (thật là thái độ của kẻ nài nẳng cầu xin cho người hãy hồi tâm tỉnh ngộ), rồi ngay với chính kẻ dùng cái hôn để bán Ngài, Ngài cũng còn nói một lời như nài nẳng van xin một lần cuối, mong kẻ bán Ngài TỰ mình tỉnh ngộ ăn năn: “Này Giuđa, bạn dùng một cái hôn để nộp Con Người sao?” (Lc 22,48). Và ai biết được những gì chứa đựng trong cái nhìn của Ngài gởi đến cho Phêrô, đã làm cho Phêrô TỰ mình bước ra ngoài và khóc, rồi từ đó đã TỰ mình trở nên con người mới (Lc 22,61-62).

Nếu trong Thánh Kinh có những lời xem ra như doạ nạt, thì cũng như mẹ doạ con vì thương con, chứ bản chất là những lời thiết tha nài nẳng van xin con người hãy tự mình trở lại, của một ngã vị có tự do đến một ngã vị có tự do, tôn trọng chờ đợi lời đáp trả trong tự do tuyệt đối chứ không hề có gì là cưỡng ép cả! Và có thể nói cả chương trình Cứu Độ: lựa chọn dân Do Thái, gởi các tiên tri, gởi chính Con Một của Ngài thành lập Giáo Hội cho đến ngày tận thế, cũng chỉ là những phương thế để gởi lời mời gọi tha thiết đến người tình phụ đã tự do chối bỏ Tình Yêu! Ai đã yêu cũng đều biết tình yêu chỉ có thể có được trong tự do mà thôi, vì nếu phạm đến tự do thì là cưỡng hôn chứ đâu còn có tình yêu nữa!

Và cũng chính để tôn trọng tự do nên Thiên Chúa đã dùng những phương tiện yếu hèn (lịch sử dân Do Thái chỉ là một chuỗi những thất bại! Đời Chúa Giêsu là một cơn tử nạn. Lịch sử Giáo Hội là một chuỗi chìm nổi triền miên). Vì Ngài không muốn dùng quyền uy mà doạ dẫm, cũng không dùng giàu sang mà mua chuộc, không dùng lý luận để thuyết phục, chỉ biết phó dâng chính bản thân mình để mời gọi một sự phó dâng trong tự do tuyệt đối của con người chỉ lấy tình yêu đáp trả tình yêu, chứ không bị chi phối bởi bất cứ một thứ nào khác (Quyền lực, không! Bả vinh hoa phú quý, không! Hứa hẹn hão huyền, không! Và ngay cả thuyết phục bằng lý luận cũng không!). Chỉ có một tình yêu tự do tuyệt đối, tự phó dâng mình để chờ đợi một sự đáp trả của tình yêu cũng tự do tuyệt đối.

Tự cổ chí kim, từ đông sang tây, không một học thuyết nào, không một chủ nghĩa nào mà TỰ DO con người được đề cao đến mức độ ấy. Và ta có thể quả quyết rằng cũng chẳng bao giờ còn có thể được đề cao hơn nữa! Đó là lẽ tất nhiên, rất ĐƠN SƠ, rất DỄ HIỂU vì Thiên Chúa chúng ta là Thiên Chúa Tình Yêu (Ga 4,8-16) tạo nên con người vì TÌNH YÊU, để con người qua con đường TÌNH YÊU mà đạt đến cứu cánh là TÌNH YÊU; và ai cũng biết TÌNH YÊU chỉ có thể có khi có tự do mà thôi. Ai có trái tim sẽ hiểu, mà làm người, thiết nghĩ ai lại chẳng có trái tim!

Ngoài ra, ta còn có thể nói rằng: Thiên Chúa đã tôn trọng tự do con người đến độ thà tôn trong tự do con người và vì thế con người CÓ THỂ tự đánh mất chính mình, chứ Ngài không vi phạm tự do con người để cứu lấy con người. Tất cả pho Thánh Kinh đều cho ta thấy rõ điều đó. Điều này có lẽ cũng dễ hiểu thôi! Các vạn vật khác không có tự do nên không tham dự vào chính cuộc sống của Thiên Chúa là tự do yêu mến trong Ba Ngôi. Tạo nên con người là để CON NGƯỜI THAM DỰ VÀO CUỘC SỐNG TỰ DO YÊU MẾN của Ba Ngôi bằng sự TỰ DO đáp ứng TÌNH YÊU TỰ DO của Thiên Chúa nên phải để con người TỰ DO (nghĩa là có thể TỰ MÌNH đáp ứng hay phủ nhận tình yêu Thiên Chúa). Cũng vì vậy mà hầu hết các sử gia chuyên về lịch sử tin tưởng nhân loại đều công nhận rằng chỉ có trong Kitô Giáo là vấn đề tự do con người được đào sâu nhất và được đề cao nhất. Và ai biết đọc Thánh Kinh thì cũng thấy rõ rằng đó là một pho tình sử giữa Thiên Chúa và con người, mà đã nói đến chuyện tình, thì tất nhiên đó là câu chuyện giữa hai ngã vị có tự do trao đổi hoặc từ khước tình yêu, và sở dĩ có chuyện là vì muốn được TỰ DO yêu và muốn được người yêu TỰ DO đáp lại tình yêu mà mình đã tự do dâng hiến.

Nói tóm lại, một Thiên Chúa toàn năng thưởng phạt vô cùng, thì sẽ còn có thể bị hiểu lầm là Ngài hạn chế, hay tước đoạt TỰ DO của con người. Nhưng một Thiên Chúa vốn là TÌNH YÊU (Ba Ngôi trong tưong quan yếu tính là TÌNH YÊU) sáng tạo vì tình yêu, mời gọi con người bước vào thế giới của tình yêu! Tất nhiên là chỉ có thể TÔN TRỌNG tự do của con người, KHƠI DẬY sự tự do của con người vì tự do là điều kiện của tình yêu, và tình yêu là dụng tính (acte) cao nhất, thiết yếu nhất của tự do, vì chỉ có tình yêu, con người mới thể hiện ở mức cao nhất sự tự do của mình. Nếu đem so sánh với vấn đề chân lý, ta có thể nói: vấn đề Tình Yêu hiện diện sự tự do của con người rõ ràng hơn. Một lý trí sáng suốt chỉ có thể kết luận: B nhỏ hơn A nếu A lớn hơn B, chứ không có cách nào khác cả; trong khi trước sự mời gọi của tình yêu (dù là Tình Yêu của Thiên Chúa, và nhất là Tình Yêu của Thiên Chúa) con người vẫn có thể trả lời “Vâng” hoặc “Không”, và chính cái khả năng ấy là điều kiện của tình yêu.

II. Trên nguyên tắc là vậy, nhưng thực tế thì sao?

a. Chính Tình Yêu Thiên Chúa giải phóng ta khỏi mọi sự lệ thuộc bên ngoài.

Tổ phụ Ábraham thường được xem như là Thuỷ Tổ của Dân Chúa, nhưng tiêu biểu cho Tình Yêu giải phóng khỏi ách nô lệ (tức là thể hiện tự do) chính là Môisen. Dân Chúa sống dưới ách nô lệ của Ai Cập (tượng trưng cho mọi sự nô lệ, nhất là những nô lệ do xã hội gây nên). Chính thế, nhân danh sự thờ phượng Thiên Chúa mà Môisen đã đương đầu với Pharaông (tiêu biểu cho mọi quyền uy trần thế) để giải phóng Dân Chúa. Quả vậy, kinh nghiệm của từng cá nhân, cũng như của muôn vàn thế hệ cho ta thấy rằng: con người hết làm nô lệ cho quyền lực này sang làm nô lệ cho quyền lực khác. Lịch sử nhân loại xét cho cùng, là một cuộc đấu tranh oanh liệt cho tự do, chống lại mọi cường quyền (kể cả giáo quyền nếu lạm quyền) nhưng ta thấy loài người thoát khỏi cường quyền này lại rơi vào cường quyền khác! Và xét cho cùng, chỉ có ai nhận quyền tuyệt đối của Thiên Chúa mới thoát khỏi cảnh nô lệ cho cường quyền trần thế. Vì sao? – Vì chỉ có Thiên Chúa mới nâng địa vị con người lên gần ngang hàng với Ngài, nghĩa là đặt con người lên trên mọi quyền lực ở trần gian.

Ta vừa nhắc tới Môisen đương đầu với Pharaông, và lịch sử Dân Chúa đời đạo cũ là một lịch sử đấu tranh của những kẻ chỉ biết thờ phượng một mình Chúa, đối đầu với mọi uy quyền khác của thế trần: hết Ai Cập tới Babylon, hết Babylon đến Assyria, hết Assyria đến Ba Tư, hết Ba Tư đến Hy Lạp, hết Hy Lạp đến La Mã. Và lịch sử Giáo Hội cũng chỉ tiếp tục đấu tranh để bảo vệ quyền thờ phượng Chúa của những kẻ mang tước hiệu cao trọng làm con cái Đức Chúa Trời, những vị Hoàng tử mà không quyền lực nào ở trần gian có quyền nô lệ hoá cả!

Các Thánh Tử đạo, sở dĩ trở nên những anh hùng thánh nhân cũng đã vì hiên ngang chống lại những ai dám phạm đến quyền tự do thờ phượng Chúa của những người con cái của Chúa Tể càn khôn! Hầu hết mọi sự bách hại đều bắt nguồn từ những bạo quyền muốn bóc lột sự tự do của những người chỉ biết kính sợ Chúa mà thôi: và chính lòng kính sợ Chúa đã làm con cái Chúa trở thành chiến sĩ của tự do tuyệt đối, của lương tâm con người chống mọi quyền lực trần gian hòng khuất phục con người, bắt con người thờ phượng họ như họ là Thiên Chúa vậy!

Suy cho kỹ, ta sẽ thấy mọi sự nô lệ của con người, bản chất là vì con người thờ phượng những Thiên Chúa giả, những thần tượng giả (idolâtrie). Chỉ có sự thờ phượng THIÊN CHÚA THẬT mới giải phóng con người khỏi mọi ách nô lệ do sự thờ phượng các thiên chúa giả, các thần tượng giả gây ra! Tiên tri Êlia, một mình nhân danh Thiên Chúa thật đương đầu với mọi quyền lực trần gian đạp đổ mọi sự thờ lạy ngẫu tượng nô lệ hoá con người để giải phóng con người, đưa con người về với Thiên Chúa thật của Tình Yêu thật là tiêu biểu cho tinh thần tự do chân chính (xem Lc 18-19). Cái gì đã biến Êlia thành chiến sĩ tuyệt vời của tự do? Chính là sự nồng nhiệt của Tình Yêu Thiên Chúa thật Hằng Sống là nguồn động lực thúc đẩy Êlia lên đường kháng chiến, chống lại mọi thứ thần tượng, thiên chúa giả, thiên chúa chết, đang cầm buộc con người trong xiềng xích nô lệ.

Trong kinh Vinh Danh, không có câu nào giải phóng con người thoát mọi thứ nô lệ cho bằng câu: “CHỈ CÓ Chúa là Chúa, CHỈ CÓ Chúa là Đấng Tối Cao”. Câu ấy bao hàm một sự tự do tuyệt đối của con người ném thẳng vào mặt những thế lực trần gian đang tham vọng lên làm chúa để nô lệ hoá con người. Những ai biết tôn thờ Thiên Chúa thật thì mới vạch mặt chỉ trán những tên thiên chúa giả toan chiếm ngôi Thiên Chúa để nô lệ hoá con người: “Các anh, các chị hãy xê ra, lùi bước, chúng tôi CHỈ NHẬN có MỘT Thiên Chúa là Thiên Chúa THẬT, CHỈ CÓ Ngài mới là Thiên Chúa thôi còn tất cả mọi cái khác đều là tạo vật mà thôi, đừng hòng nô lệ hoá, đừng hòng tha hoá chúng tôi; chúng tôi mang hình ảnh Đức Chúa Trời trong người chúng tôi, chúng tôi đội vương miện của ngôi Thiên Tử (Con Đức Chúa Trời) anh em của Ngôi Hai Thiên Chúa mà!”.

Ai là người dám bất tuân lệnh dâng hương thờ cúng của hoàng đế La Mã? – Kitô hữu! Ai là người dám đương đầu với tên hôn quân dâm bôn Henri VIII, tự phong mình làm giáo chủ? – Thánh Tôma More! Ai dám đương đầu với Napôlêông? – Hai ông già yếu đuối: Giáo chủ Piô VI và Piô VII! Ai dám cãi lệnh các vua triều Nguyễn ra lệnh bước chân trên Thánh Giá? – Kitô hữu! v.v…

Con người biết kính sợ Thiên Chúa thật, thì không còn sợ gì ở trần gian này nữa cả! Con người biết yêu mến Thiên Chúa thật, thì không còn cái gì ở trên trần gian này lôi cuốn nữa cả! Con người biết trông cậy ở Thiên Chúa thật, thì không còn ảo ảnh nào ở trên trần gian này quyến rũ được nữa cả! Con người nhận biết chân lý của Thiên Chúa thật, thì không còn bị mưu mô quỷ quyệt, miệng lưỡi xảo trá nào ở trần gian mê hoặc nữa cả! Và thử hỏi một người không sợ gì ở trần gian cả, không mê đắm gì ở trần gian cả, không bị gì ở trần gian lừa bịp cả, không bị một ảo tưởng nào ở trần gian huyễn hoặc nữa cả, thì con người đó không phải là một con người hoàn toàn TỰ DO sao?

Tổng lãnh Thiên thần Micaen, vị Thống soái của đạo binh thiên quốc, khi dẹp các ác thần hằng nô lệ hoá con người, Ngài mang lá cờ hiệu “Quis sicut Deus” (Ai bằng Thiên Chúa) (xem Đn 10,21 phần ghi chú), đó chính là khẩu hiệu của sự tự do tuyệt đối diệt trừ mọi tà thần ác quỷ hòng tiếm ngôi Thiên Chúa để nô lệ hoá con cái của Ngài là chúng ta đây! Chỉ có trở về với Ngài trong một Tình Yêu Tự Do dâng hiến chúng ta mới hồi phục được sự tự do đã bị các tà thần ác quỷ tước lột, ác quỷ và tà thần mà Pharaông, các hôn quân La Mã, các tay cường quyền bạo chúa là công cụ luôn hòng kìm kẹp con người trong mọi thứ xiềng xích nô lệ. Lẽ tất nhiên, đối với sắc dục, tiền tài, danh vọng thì Thiên Chúa thật cũng giải phóng con người như vậy.

b. Chính Tình Yêu Thiên Chúa mới giải thoát khỏi mọi lôi cuốn bên trong.

Có triết gia nhận xét: “Chinh phục cả và thế giới còn dễ hơn là tự làm chủ chính mình”, và thánh Phaolô cũng than thở: “Sự lành tôi muốn, tôi không làm, còn sự dữ không muốn, tôi lại thi hành… Vô phúc thay con người tôi! Ai cứu tôi khỏi cái xác chết này?” (Rm 7, 19.24).

Ai đã có ít nhiều kinh nghiệm trong việc tu thân đều biết rằng, sở dĩ chúng ta nô lệ bên ngoài là chính vì bên trong chúng ta bị lôi cuốn bởi trăm nghìn dục vọng. Thực ra xiềng xích của dục vọng chẳng qua là do tất định của quy luật thể lý và tâm lý cùng xã hội. Con người thật của ta, cái bản ngã sâu xa của ta vốn là tự do, bị gông cùm trói buộc, bị đè nặng giam cầm trong một màng lưới dày đặc do những quy luật tất định ấy tạo nên. Ai trong chúng ta chắc cũng kinh nghiệm rằng cuộc chiến đấu chống lại những lôi cuốn thấp hèn đang làm ta mất hẳn tự do, biến ta thành một “đồ vật”, hoàn toàn bị các định luật thể lý, tâm lý, xã hội chi phối, là một cuộc chiến đấu liên lỉ và vô cùng cam go. Phải có một nghị lực phi thường, một lòng kiên trì bền vững mới khỏi bị buông trôi như một cành lá khô cuốn theo dòng nước lũ. Và kinh nghiệm ngàn đời của nhân loại cho ta thấy rằng chỉ có TÌNH YÊU mới có sức giúp ta chiến thắng được sự lôi cuốn, phá vỡ được gông cùm nô lệ hoá chúng ta! Và ngôn từ thường được dùng để nói lên tình yêu này là HI SINH, chính tình mẹ con, tình cha con, tình anh em, tình bằng hữu, tình quê hương, tình yêu nước, tình yêu khoa học, tình yêu nghệ thuật, tình yêu chân lý, tình yêu giai cấp v.v… đã giúp các bậc anh hùng, thánh nhân, đủ sức phá tan tất cả xiềng xích gông cùm của mọi thứ lôi cuốn, dục vọng thấp hèn… Chính những tình yêu ấy là sức mạnh giải phóng các ngài.

Thực ra sự nô lệ sâu độc nhất chính là nô lệ cái TÔI VỊ KỶ. Và chỉ có tình yêu hướng tha, vị tha, mới giải phóng ta khỏi sự nô lệ chính mình ta. Con người vị tha thật, con người nhờ sự thúc đẩy của tình yêu vị tha, vượt ra khỏi nhà tù nô lệ của cái TÔI vị kỷ. Một con người đã thoát khỏi được sự nô lệ căn bản ấy thì không còn nô lệ cái gì nữa mà làm chủ được chính mình một cách hoàn toàn tức là tự do hoàn toàn.

Chính vì cái tôi vị kỷ đã cưỡng lại sự cố gắng tự giải thoát của ta làm cho ta có cảm tưởng rằng các giới răn hạn chế sự tự do của ta. Thực ra cái bị hạn chế, cái bị ngăn chặn, không phải là cái ta tự do thật, mà là cái tôi, một cái tôi vốn chỉ là tổng kết của màng lưới định luật tất định đè nén, bóp nghẹt cái ta tự do thật. Các giới răn chỉ là phương thế để diệt trừ cái tôi vị kỷ tất định áp chế để giải phóng cái ta tự do thực, khác nào như việc cắt xén cành khô lá úa cỏ dại để mầm non được vươn mạnh, đâm bông kết trái! Các giới răn chỉ là huấn luyện viên tạm thời, hướng dẫn ta đến chỗ tự do hoàn toàn của Tình Yêu. Kỷ luật thực ra chỉ là một thứ kỹ thuật trong cuộc tu thân, trong công cuộc linh thao. Và từ từ để Ngài đi vào Tình Yêu, thì chúng ta sẽ trưởng thành không còn dùng đến luật lệ nữa.

Trong Thư gởi tín hữu Rôma, thánh Phaolô đã nói rõ về vai trò huấn luyện viên của Lề luật, và sự giải phóng về Lề luật do đức tin (và tình yêu). Thánh Augustinô cũng đã nêu cao phương châm của sự tự do hoàn toàn: “Ama et fac quod vis” (Hãy yêu mến, rồi muốn làm gì thì làm!). Và tình yêu, dù yêu gì bất cứ, cũng đưa đến chỗ hiến dâng thờ phượng: “Je t’aime, je t’adore, je m’offre” (Tôi yêu X, tôi thờ X, tôi hiến dâng). Ba mệnh đề ấy bao giờ cũng liên kết chặt chẽ. Kẻ tự do thật là kẻ bỏ mình vì tình yêu, chứ không phải kẻ vơ vét tất cả về cho mình. Kẻ vơ vét, cuối cùng sẽ là nô lệ của những thứ “của cải” (avoir). Còn kẻ hỉ xả, rốt cùng sẽ thênh thang, nhẹ nhõm, tự do với cái “tại” (être) của mình, thể hiện được chính mình, đạt được cứu cánh của mình, vì cái “tại” thực là một tác dụng (acte) ở thể động trong sự tự ban bố chính mình trong tình yêu tự do trao đổi. Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là thế: yếu tính của Đấng Tự Hữu là Cha (tức là sinh ra Con, nghĩa là tự ban bố chính mình trong Con) và Con (tức đón nhận Cha và hiến dâng trở lại cho Cha) và Thánh Thần (tức là chính sự trao đổi ấy là tự do tuyệt đối và là Tình Yêu bản thể (amour substantiel). Do đó, con người chỉ có tự do thật trong mức độ thông dự vào mầu nhiệm tự hữu, tự tại, tự hiến, tự ái ấy. Và chương trình sáng tạo và cứu độ cuối cùng chỉ nhằm mục đích khơi dậy những ngã vị tự do như thế mà thôi.

III. Đạo đức với các giới hạn, chỉ là phương thế đào luyện, hun đúc con người trở nên tự do thực sự mà thôi.

Trên đây chúng ta dùng những từ “tu thân”, “linh thao”. Sở dĩ phải dùng đến các từ ấy thật vạn bất đắc dĩ là vì muốn mượn những ngôn từ thông dụng cho dễ hiểu. Nhưng cần phải lưu ý thận trọng phân biệt một quan niệm Duy luân lý (moralisme) với đạo Tình Yêu do Thiên Chúa mặc khải. Chính Chúa đã dạy: “Tất cả lề luật (luân lý) chỉ thu gọn vào có một điều duy nhất: yêu mến Thiên Chúa và tha nhân (xem Mc 12,34-40; Một 22,34-40; Lc 10,25-28). Sở dĩ ta thường có cảm tưởng Thiên Chúa hạn chế tự do của con người vì Thiên Chúa được xem như là một nhà lập pháp: thiết lập ra một hệ thống ràng bụộc vô điều kiện, tuyệt đối theo kiểu “mệnh lệnh tuyệt đối” (impératif catégorique) của Kant! Không! Thiên Chúa của chúng ta không phải là một nhà lập pháp. Như thánh Phaolô đã dạy rõ là Lề luật chỉ có giá trị tương đối của những phương tiện có tính cách giai đoạn, chứ không có tính cách của những ràng buộc tuyệt đối; chúng chỉ là bờ rào ngăn cản chứ không phải là con đường, là Đạo (xem Rm 7,1-25; Gl 4,21-29 v.v…). Con đường đi, Đạo là một ngã vị mà yếu tính là Tình Yêu chờ đợi sự đáp ứng tự do của những ngã vị có tình yêu: Ta là đường, là sự sống… (Ga 14,6).

Tu thân, linh thao không phải để tự tạo cho ta một nhân phẩm đạo đức cao quý theo kiểu duy luân lý để rồi tự ngắm nghía chính mình, tự thoả mãn với cái đạo đức của mình! (chữ “đạo đức” cũng đã đưa chúng ta vào lối duy đạo đức, và từ đó rơi vào thái độ Pharisêu rất gần). Tu thân, linh thao chỉ nhằm mục đích rèn luyện ta đi đến chỗ quên mình, hiến dâng cho Tình Yêu. Xét về một mặt nào đó, không nên dùng những từ tu thân, đạo đức, thánh thiện vì dễ gây ra ngộ nhận mà nên thay thế bằng các từ: yêu mến, quên mình, bỏ mình, hiến dâng, phục vụ, vì các từ này gợi ý đạo tình yêu, còn các từ kia có thể sa lầy thành một thứ duy kỷ thiêng liêng (égocentrisme spirituel); mà như thế, thì dù thiêng liêng cách mấy, cũng chỉ là duy kỷ, là nô lệ cho cái Tôi, và cái Tôi thiêng liêng nhiều khi còn độc hại hơn cái Tôi nhục thể nhiều! Loài vật chỉ là nhục thể nên vô tội, còn Luxiphe là thuần linh nên mới là trọng tội! Không! Trăm lần không! Đạo Thiên Chúa không nhằm mục đích trau dồi cái Tôi cho nên cao quý, mà nhằm mục đích đưa mọi sự đi vào mầu nhiệm của Tình Yêu tự do hiến dâng trao đổi bằng con đường quên mình, giải thoát mình khỏi mọi thứ nô lệ mà nhất là nô lệ chính cái mình duy kỷ, vị kỷ, dù là cái đạo đức thiêng liêng! Gái giang hồ, trai trộm cướp có thể vào nước Thiên đàng trước bè lũ Pharisêu là vì vậy đó (xem Mt 21,31). Hai người được chính Chúa Giêsu phong thánh đâu phải là những kẻ suốt đời lo tu thân linh thao, mà là một cô gái trắc nết và một tên gian tặc, nhưng trong một phút, đã biết QUÊN MÌNH HOÀN TOÀN vì Tình Yêu Thiên Chúa (xem Lc 7,36-50; 23,39-43).

Trong việc giáo dục con cái của Thiên Chúa Tình Yêu cần phải nêu rõ đặc điểm ấy của đạo Thiên Chúa Tình Yêu, nếu không thì có khác gì các đạo khác (Khổng giáo chẳng hạn), các triết thuyết khác: người ta thường nói đạo nào cũng như đạo nào, đều trừng ác khuyến thiện cả! Nếu vậy thì Con Thiên Chúa chẳng phải mất công xuống thế loan Tin Mừng cứu độ làm gì! Tin Mừng cứu độ là ở chỗ: Thiện không phải là toàn bộ hệ thống những ràng buộc luân lý có tính cách tuyệt đối mà con người phải phục tòng, nhưng Thiện là một ngã vị Tình Yêu mời gọi con người đáp ứng lại sự hiến dâng tình yêu trong cuộc trao đổi tự do hoàn toàn, mặn nồng và tha thiết. Thiện không phải là một bộ đạo đức học mà là một con tim bị lưỡi đòng đâm thâu qua trên thập giá, đổ máu và đổ nước ra để chứng tỏ Tình Yêu và khao khát kêu gọi thiên hạ đáp lại Tình Yêu để cùng nhau đi vào Tình Yêu muôn thuở (xem Ga 19,31-33; 18,9-17; Lc 12,49). Thiên Chúa không phải là một quan toà căn cứ vào một bộ luật để khen thưởng hay trừng phạt. Thiên Chúa là một tiếng gọi của Tình Yêu, vì tôn trọng tự do của con người, nên đành để cho con người tự mình đi vào cõi sống hay cõi chết. Tất cả mọi tội khiên đã được đền tạ và tha thứ một cách sung mãn bởi Ngôi Hai Thiên Chúa. Tiệc cưới trên trời đã dọn sẵn, Tin Mừng đã được tung ra khắp nẻo đường mời TẤT CÀ mọi người không trừ một ai: mời (tự do) chứ không ép buộc, nên có kẻ TỰ DO vào dự tiệc, có kẻ TỰ DO khước từ thoái thác (vì bận mua bò, cưới vợ, đi buôn…, xem Mt 22,1-10; Lc 14,16-24). Cái đó hoàn toàn tự do tự nguyện, tự quyết, thể hiện chính mình hay tự đánh mất mình: Thiên Chúa không hề ép uổng ai cả, Ngài chỉ mời gọi nài xin mà thôi. Vì thế, nguyện cầu có lẽ không phải là để van xin Thiên Chúa (vì Chúa đã cho hết cả rồi, cho đến chính Con Một yêu dấu của Ngài, còn gì đâu nữa mà xin!) mà là để lắng nghe Lời Chúa nài xin mời gọi ta vào dự tiệc!

Trên kia có ví Thiên Chúa với vị trung thần lấy cái chết để can gián quân vương, bây giờ ta có thể ví Thiên Chúa như một kẻ bị tình phụ, lấy cái chết để thức tỉnh kẻ phụ tình, hay như một kẻ hành khất nài xin được bố thí tình yêu! Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng đã hiểu lời Chúa Giêsu hổn hển kêu khát trên thập giá theo ý ấy: Chúa khát, Chúa xin được uống Tình Yêu của nhân thế. Một Thiên Chúa như thế, có thể vi phạm tự do của ai không? Hỏi tức là đã trả lời!

Thân ái chào bạn.

* PHỤ LỤC

Phần trên, chúng ta có nhắc tới quan niệm về Tự do con người của J.P.Sartre. Đó là cả một học thuyết sâu sắc và tinh vi, nhưng ta chỉ xét đến một luận điểm tóm tắt như sau: TỰ DO phải là tuyệt đối, nếu bị hạn chế, dầu chỉ là một chút thì cũng không còn là tự do nữa. Vậy Thiên Chúa sẽ là một hạn chế rất lớn cho tự do con người, vì con người chỉ có tự do chọn lựa hay từ chối những giá trị siêu việt do Thiên Chúa thiết lập ra trước mà thôi. Trong khi theo Sartre con người chỉ có thể có tự do khi chính tự mình chẳng những chọn lấy hay khước từ những giá trị siêu việt do Thiên Chúa thiết lập ra, mà còn phải được cả quyền thiết lập ra tiêu chuẩn của giá trị đó nữa: nghĩa là cái gì con người cho là giá trị thì giá trị, chứ con người không phải phục tùng một nấc thang giá trị nào có sẵn, từ ngoài, từ trên thiết lập ra trước cả.

Trước quan điểm lý luận này, chúng ta xin góp một vài suy nghĩ như sau:

1. Về vấn đề giá trị siêu việt

Mất tự do không phải ở chỗ là tự phải phục thuận một nấc thang giá trị không do mình đặt ra, mà là ở chỗ bị ÉP BUỘC, CƯỠNG BỨC phải chấp nhận một nấc thang giá trị mà mình không đồng ý. Ví dụ: bắt buộc ta phải khen hay một bản nhạc mà trong thâm tâm ta cho là dở, thế là mất tự do; còn như khen hay một bản nhạc do người khác làm ra, nhưng CHÍNH MÌNH công nhận quả thực là hay và chính mình thực sự lấy làm thích thú, thấy như được nâng cao lên mỗi khi nghe nó và tự hào mình quả là tay sành nhạc khi biết thưởng thức bản nhạc ấy, thì sao lại gọi là bị hạn chế tự do!

Vấn đề thiết tưởng không phải ở chỗ nấc thang giá trị do đâu mà có mà ở chỗ người khác có để cho mình tự dùng ánh sáng lý trí, dùng óc phê phán của mình mà thẩm lượng hay bắt buộc mình nhắm mắt lặp lại theo kiểu nhồi sọ. Thiên Chúa chẳng nhồi sọ ai cả! Thiên Chúa chỉ kêu gọi con người đừng để cho dục vọng làm mờ ám lương tri, mà thẩm lượng sai lầm các giá trị mà thôi! Hơn nữa, Thiên Chúa còn dọi thêm ánh sáng cho con người để con người được sáng suốt hơn trong việc chọn lựa, mà chắc ai cũng đồng ý rằng sáng suốt là một yếu tố căn bản của sự tự do trong lúc chọn lựa. Người gian trá đánh lừa kẻ khác mới hạn chế sự tự do, chứ Đấng chân lý soi sáng trí tuệ con người thì đâu có giới hạn tự do của con người, trái lại còn giải phóng tự do con người khỏi u mê lầm lạc nữa!

2. Có lẽ ảnh hưởng Duy đạo đức phi ngã (moralisme impersonnel) theo kiểu mệnh lệnh tuyệt đối của Kant (impératif catégorique) đã tạo ra một ấn tượng sai lầm cho rằng các giá trị là một mớ hệ thống siêu việt trong một siêu giới phi ngã nào đó, áp đặt lên, in sâu vào lương tri con người một cách ngoại thuộc (hétéronomie) nên mới nghĩ rằng chấp thuận các giá trị là vi phạm tự do con người.

Quả vậy, nếu các giá trị (dù cao siêu mấy như kiểu một linh niệm “Thiện” phi ngã) chỉ là một cái gì trừu tượng phi ngã, ra lệnh một cách tuyệt đối thì con người có tự do, vượt lên trên giá trị. Nếu bắt con người phải phục thuận, phải hướng về cái giá trị ấy thì thực sự đã vi phạm đến tự do con người. Chính vì thế, ta có thể đi đến kết luận này: Chỉ có một Thiên Chúa hữu ngã, tự do mời gọi sự đáp ứng tình yêu trong tự do, mới là nền tảng khả dĩ làm cho cả hệ thống giá trị không vi phạm đến tự do con người. Vì vậy, trong đời sống tín hữu đâu có phải chấp thuận một hệ thống giá trị (lề luật, giới răn) là điều chính, mà điều chính là yêu Thiên Chúa và tha nhân! Tất cả mọi giá trị khác chỉ có giá trị trong mức độ thể hiện tình yêu ấy mà thôi (xem Lc 13,1). Tất cả lề luật chỉ rút gọn vào có một giới răn duy nhất là YÊU MẾN. Thế mà như trên đây ta đã nói: tự do là điều kiện của tình yêu và tình yêu là thể hiện cao nhất của tự do. Thực vậy, đâu phải giá trị là nguồn gốc của tình yêu, trái lại tình yêu mới là nguồn gốc của giá trị. Chúa yêu ta đâu phải bởi ta có giá trị gì, nhưng chính nhờ tình yêu của Chúa mà ta nên giá trị. Cũng một lẽ tương tự, đâu có phải ta yêu Chúa vì Chúa là nơi tập trung các giá trị trừu tượng, song sở dĩ ta phục thuận các giá trị là vì ta yêu Chúa, mà các giá trị thì bắt nguồn từ Chúa mà Chúa là một ngã vị tự do chứ không phải là một giá trị tuyệt đối và phi ngã như linh niệm Thiện của Platon. Thiên Chúa là nguồn mạch các giá trị, tình yêu của ta đối với Chúa là động lực làm cho ta tự do phục thuận các giá trị (như thế một phần nào, chính ta yêu các giá trị qua Thiên Chúa), nên các giá trị mới trở nên giá trị, nghĩa là gần như chính ta có quyền (qua tình yêu Thiên Chúa) tự do định mức định chuẩn cho các giá trị vậy!

Chắc hẳn J.P.Sartre sẽ bằng lòng! Có lẽ J.P.Sartre chỉ nhìn con người qua một nhân sinh quan duy đạo đức nên không thấy rằng: Thiên Chúa Tình Yêu tự do chính là ở chỗ cho con người được tự do hoàn toàn. Cùng với Tình Yêu Thiên Chúa con người vượt lên trên tất cả các giá trị, thẩm lượng các giá trị và giá trị hoá mọi sự. Chính Tình Yêu Thiên Chúa đã giải phóng con người thoát khỏi ngay cả sự nô lệ (theo như J.P.Sartre nói) các giá trị đạo đức! Có lẽ chính nhờ J.P.Sartre mà ta lại thấy rõ hơn chân lý này: Chính sự hiện hữu của Thiên Chúa như một Đấng tự hữu, tự do tuyệt đối ban phát tình yêu mời gọi con người tự do đáp lại tình yêu (yêu Chúa và tha nhân) là nền tảng, là nguồn mạch, là bảo đảm cho tự do con người ngay cả đối với các nấc thang giá trị đạo đức. Trái lại, nếu không có Thiên Chúa, tự do con người có thể bị hạn chế bởi những thang giá trị ấy như J.P.Sartre đã nghĩ rất đúng. Và từ đó ta lại có thể rút ra một kết luận khác: nếu đào sâu về mầu nhiệm tự do con người, chẳng những ta không phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa, trái lại chính sự kiện con người có tự do lại là một biểu hiệu, một dấu chỉ của Thiên Chúa ở trần gian này, một chứng cớ cho ta thấy rằng Thiên Chúa hiện hữu.

3. Cuối cùng, chúng ta có thể kết luận như sau:

- Sở dĩ ta tin rằng con người có tự do thật, chứ không phải chỉ là một ấn tượng chủ quan, ảo tưởng, là vì có Thiên Chúa Tình Yêu tự hữu, tự do làm nền tảng, làm nguồn mạch, đã mặc khải cho ta mầu nhiệm tình yêu, tức là mầu nhiệm tự do.

- Còn sở dĩ ta tin có Thiên Chúa Tình Yêu tự hữu, tự do là vì ta có một dấu vết, một hình ảnh, một biểu hiện của sự tự do tuyệt đối ấy, đó là sự tự do của con người chúng ta mà chúng ta trực nghiệm được như một sự kiện ở nơi chúng ta.

4. Nếu bạn muốn suy nghĩ thêm về luận điểm tự do của J.P.Sartre, bạn có thể đọc thêm bài “TỰ DO CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ THƯỢNG ĐẾ” trong cuốn “HAY LÀ HUYỀN THOẠI” do Giáo hoàng Học viện Thánh Piô X xuất bản năm 1975.

[Về mục lục]

V. VIÊN THỤC: HIỆN HỮU, MẾN YÊU VÀ THỜ LẠY

(Phỏng dịch theo bài “MATURITÉ: ÊTRE, AIMER et ADORER” của Rolande Lamarre OSC)

Nhiều lúc chúng ta có cảm tưởng rằng văn minh, khoa học và kỹ thuật ngày nay đưa thế giới chúng ta đi tới chỗ tiêu hao càng ngày càng trầm trọng những nguồn sinh lực căn bản của con người. Con người của thời đại này càng ngày càng cảm thấy tìm lại cho được « CHÍNH LÒNG MÌNH! » nối tiếp lại với những cội rễ sâu xa để tìm thấy lẽ sống, múc lấy những hứng khởi của niềm tin, của lòng kiên trung chung thuỷ là một điều rất khó. Con người săn tìm hạnh phúc ở một chỗ xa xôi nào đâu ấy, đôi khi rất xa, trong những giấc mơ giàu sang, tự do, tình yêu không bao giờ thực hiện được. Trong lúc ấy thì nguồn hạnh phúc lại ở rất gần mình, gần gũi đến nỗi mình không biết nhìn nhận ra nó nữa! Hạnh phúc chính là ở chỗ đón nhận lấy những thực tại đơn sơ, giản dị, tầm thường nhưng « rất thật » của cuộc sống hằng ngày, trong một tâm hồn biết mở rộng ra cho tình yêu Thiên Chúa và anh em.

Người tu sĩ cũng vậy thôi! Nghĩa là ngay trong chính bản thân mình cũng phải « đối đầu » với cái thế giới đang tìm kiếm và cái điều gì là « cốt yếu » ấy! Người tu sĩ cũng là một con người đi tìm ý nghĩa của mình đối với chính mình, đối với kẻ khác, đối với xã hội, và chung quy là đối với Thiên Chúa. Hơn ai hết, người tu sĩ phải là chứng nhân cho thế giới này về một ý nghĩa căn bản sâu xa, một ý nghĩa có tầm mức tiên tri, thiên sứ.

« Điều chính là phải cho đi đến tận cùng chính bản thân mình » (Cha sở họ Ars).

Sự triển nở bản thân là một quyền lợi của nhân vị con người. Còn đối với chúng ta là những Kitô hữu, « vui sống » là một bổn phận. Nhưng!!! Sự triển nở, niềm vui mà chúng ta nói đây là triển nở như thế nào, niềm vui thuộc loại nào? Chúng ta cần phải biết chúng ta hiểu như thế nào về các từ ngữ « thể hiện nhân ngã vị của con người », « hoàn thành bản thân », « trưởng thành », đó là những từ ngữ đã trở thành cái « mốt » mà chúng ta phải hết sức thận trọng khi sử dụng chúng.

« Việc sử dụng một cách bừa bãi những từ ngữ « trưởng thành », « quân bình »… làm cho chúng ta tự mân, nhưng nhiều lúc chỉ giản lược con người theo hình ảnh khuôn mẫu được quy định theo sự đòi hỏi của một sự thích nghi xã hội nào đó thôi! Thực ra, trạng thái trưởng thành và quân bình tâm lý không phải là trạng thái an ủi, không hề có sự xung đột nào, không hề có sự xung đột bên trong nào, không hề có sự căng thẳng bên trong nào, không hề có sự băn khoăn nào! Không phải như vậy! Thành ngữ trưởng thành về cảm tính quá nhiều khi chỉ là cái lý tưởng của cuộc đời phẳng lặng, như một mặt biển lặng như tờ, phóng lên hình ảnh ấy của một giấc mơ, một cuộc sống mình hoàn toàn làm chủ được tất cả, luôn luôn bình an, bình an vô sự! Cái lý tưởng một tâm lý viên thục nhiều khi chứa chấp một thứ « ấu trĩ » rất tinh tế của một người không chịu đựng bất cứ một sự xung đột nào hay một nỗi đau đớn nào về tâm lý ».

Nếu chúng ta săn tìm hạnh phúc như vậy thì chỉ là một điều « không tưởng ». Đó là một sự « thể hiện » không thể có được! Vả chăng cũng quả là một khiếm khuyết chẳng đầy đủ một chút nào cả! Vì chúng ta không thể bằng lòng chỉ làm chứng nhân cho một lý tưởng của một sự quân bình ở tầm mức con người nào đó mà thôi! Một sự quân bình mà với những phương pháp tự nhiên, với sự giúp đỡ của các « kỹ thuật gia » tâm lý, người ta có thể đạt tới được. Đành rằng, trong việc tìm hiểu lại ý nghĩa đời sống tu trì của chúng ta, chúng ta phải thâu nhận những cái gì là có giá trị trong quan niệm về con người trong thời nay. Những năm gần đây, tất cả chúng ta đều tin quyết rằng cần phải có những sự thay đổi để đem lại cho các cộng đồng của chúng ta một bầu không khí lành mạnh thực sự về mặt nhân bản để giúp chúng ta tìm gặp Thiên Chúa một cách thuận lợi hơn, vì kinh nghiệm cho ta thấy rằng: ở đâu có sự hiện diện của tình người, một cách súc tích, thì ở đó có sự hiện diện của Thiên Chúa.

Trong nhiều lãnh vực, đã thực hiện những cải cách theo chiều hướng mềm dẻo, nhất là ở những điểm mà có những trở ngại cho việc thể hiện nhân bản cũng như siêu nhiên của người tu sĩ. Nỗ lực lớn lao ấy dựa vào những phát kiến gần đây của các khoa học nhân văn về các điều kiện thể lý, tâm lý và xã hội của con người chúng ta. Sự soi sáng ấy cần phải có: đó chẳng những là hữu ích mà còn là cần thiết nữa. NHƯNG! Sự soi sáng đó đòi hỏi một sự soi sáng khác, mà nếu không có sự soi sáng thứ hai này thì chúng ta mới chỉ đi được một nửa chặng đường mà thôi! (Vả chăng trong giới tu sĩ có một sự không được thoả mãn khá phổ biến làm cho chúng ta phải xem xét vấn đề một cách nghiêm túc). Chúng ta phải đi tìm kiếm xa hơn những điều kiện hoá chỉ ở bình diện nhân bản mà thôi! Nếu không thì chúng ta sẽ không gặp được câu trả lời đang âm ỉ trong thâm tâm chúng ta, câu trả lời duy nhất có thể cứu độ chúng ta.

Đối với những tu sĩ sống đời chiêm niệm trong khung cảnh một tu viện kín (và đối với những tu sĩ nào cũng tương tự như vậy), chúng ta phải thận trọng kẻo rơi vào cái tệ biến đổi cái nhu cầu được phát triển đích thực trong bàn tay Thiên Chúa trở thành những sự thoả mãn không đích thực. Có lẽ chúng ta đã từng tưởng rằng sự triển nở, sự hạnh phúc của chúng ta sẽ mang hình thức một sự nghỉ yên phúc lạc trong sự yên ủi và sự bình an của nội tâm! Và một sự ngộ nhận như vậy vẫn còn ăn khá sâu trong đầu óc của một số đông sống ở ngoài viện tu. Đối với họ (và có lẽ với chúng ta nữa!) « Phần tốt nhất mà chúng ta đã chọn » sẽ bị giản lược thành một thứ an toàn và bình an đáng thèm và sở dĩ có được là ở chỗ trốn thoát khỏi những xáo trộn tranh chấp của trần gian, một sự bình an mà trong đó chúng ta nghỉ ngơi và nếm hưởng sự an ủi dịu ngọt trong sự thân mật với Thiên Chúa! Chúng ta không lấy làm ngạc nhiên về sự ngộ nhận ấy, vì sự ảo tưởng ấy vẫn còn ăn sâu, ngay cả đối với chúng ta. Và cứ như thế cho đến lúc chúng ta sẽ đau đớn đụng chạm với thân phận của kiếp người! Và rồi cho đến ngày ân sủng sẽ cho ta được, ngay trong chính chốn sâu thẳm của lòng ta cũng như trong đời sống cộng đồng, san chia nỗi khắc khoải, những xung đột, những phấn đấu và niềm cậy trông của cái trần gian bị đảo lộn là cái trần gian của chúng ta hết thảy chẳng trừ ai! Chúng ta, người tu sĩ, cũng phải lao khổ dựa vào cuộc chiến đấu cam go của tất cả mọi người (và tu sĩ vốn là đội quân cảm tử tiên phong lại càng phải gặp gay go hơn nữa!).

Sự giáp trận với cái thực tại tầm thường ấy nhiều khi là cả một sự thức tỉnh khá phũ phàng đối với nhiều kẻ trong chúng ta. Một vài người sẽ tưởng rằng: Thế là tất cả đều sụp đổ: nghỉ ngơi, bình an, tĩnh mục và ngay cả tình yêu Thiên Chúa nữa! Nhưng thực ra đó chỉ là một vết nứt rạn, nhưng chính xuyên qua đường nứt rạn ấy mà một luồng gió mới sẽ được thổi vào: một cái nhìn mới về chính mình và về kẻ khác sẽ xuất hiện, và cái nhìn mới ấy sẽ lật nhào rất nhiều những điều xác quyết của chúng ta trước kia. Nếu đời chúng ta quả thật sẽ trở nên đúng bản chất của nó thì nào chúng ta phòng trước được gì. Đời chúng ta là một sự gặp gỡ: « Đấng không ngờ trước được », là sự trả lời cho một « Ai nào đó tự do tuyệt đối » mà những ý nghĩ không phải là ý nghĩ của chúng ta và đường đi cũng không phải là đường đi của chúng ta. Nếu là như thế thì ta còn lo dự trù tính toán trước nỗi gì?

« Lề luật đời sống chúng ta có thể tóm tắt như sau: Hãy trở nên chính mình » (T.Merton: Mình như thế nào hãy trở nên như thế ấy). Vật nào cũng mang trong mình quy luật của sự hoàn thành chính mình. Quy luật ấy được ăn sâu vào từng thớ nhỏ của cơ cấu bản thân. Hạnh phúc, đời sống chân thực cốt yếu là ở chỗ vươn lên, hướng tới cứu cánh mà Tạo Hoá đã quy định một cách trung thực hướng tới những nhu cầu sâu xa của bản tính.

Quy luật ấy được xác nghiệm ở tất cả mọi giai tầng của mọi tạo vật. Tiểu sử của một con người trong sự diễn tiến của nó, chính là tiểu sử của sự tự do của người ấy. Chân lý ấy chúng ta có thể xét nghiệm được dễ dàng trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta, Mỗi một giây phút đều mời gọi sự tự do của ta dấn thân để thể hiện. Mỗi một giây phút chúng ta đều nghe một lời kêu gọi, và chúng ta có nhiệm vụ phải trả lời, một câu trả lời luôn luôn mang đầy ý nghĩa. Thế mà thường thường chúng ta ít khi ngờ đến! Dù trong sáng và an vui hay đau thương và đầy hỗn tạp, dù hay thay đổi bất thường và thiếu can đảm thì sự trả lời ấy cũng là đưa bản thân chúng ta vào một cuôc dấn thân.

Điều ấy không phải là một khám phá mới của khoa tâm lý thực nghiệm. Vì xưa thánh Grégoire de Nysse đã dạy rằng: « Mỗi một chúng ta sinh ra do sự tự lựa chọn lấy mình vì chúng ta ‘tự sinh đẻ’ ra chúng ta đúng như chúng ta muốn thế nào, thì ra thế ấy ». Con người được trao cho sự hiện hữu với cái sứ mệnh là tự thể hiện lấy chính mình do sự lựa chọn của chính bản thân mình. Vì chỉ có một cách để sống thực sự tự do của mình, là nhất quyết tự nguyện, tự do ở lại dưới sự chi phối của Đấng đã quy định mình phải tự mình trở nên chính bản thân mình.

Vậy mà, tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm bản thân về sự bất nhất của chính mình, chúng ta đều thể hiện rõ ràng trong một sự kinh hoàng cái khả năng khước từ đáng sợ của chúng ta. Lời kêu gọi sâu xa hướng tới Thiên Chúa không thể nào dồn ép được lời kêu gọi hướng tới thực tại in sâu trong hiện hữu bản thân ta, chúng ta có khả năng từ chối không đáp ứng lại. Và cái nguy hại chẳng những là không tồn tại hoặc làm sai lệch chính hữu thể của chúng ta mà lại còn là phó mặc chính mình ta cho những quyến lực chỉ làm ta trở thành nô lệ mà thôi. – Và sự tự do của ta, mặc dầu nó có thật, nó phải tự nhận mình là yếu đuối không vững chắc và bị phân tán. Trong sự khiêm tốn sâu xa, nó phải ẳm nhận lấy cái trọng trách khủng khiếp của mình với tất cả cái bấp bênh: đó là đưa toàn bộ bản thân của ta đến cứu cánh của nó, dẫn nó tới sự phát triển vẹn toàn, tới chỗ thể hiện đầy đủ bằng cách sở đắc lấy những gì xảy đến trong sự hiện thực của cuộc đời mình. Và tự đáy sâu thẳm của bản thân sẽ luôn luôn tung vọt vọng lên lời kêu gọi vươn lên một vùng tự do rộng lớn hơn, luôn luôn có tính cách thiêng liêng hơn, lời kêu gọi một dự vượt xa hơn một sự ổn định với chính mình một cách quá ổn, lời kêu gọi phó mình theo tiếng gọi của Thánh Linh.

« Mỗi một người sẽ phải tự mình quyết định lấy » (G.Marcel).

Từ cái kinh nghiệm bản thân về sự tự do của chúng ta, dần dần sẽ toát ra một cái « hình ảnh về chính mình ». Cái hình ảnh ấy sẽ tạo thành như một điểm tựa để chúng ta quy hướng về trong mọi tình huống của cuộc sống chúng ta. Và đó là một yếu tố ổn cố thiết yếu giữa những dao động của chính bản thân ta cũng như tất cả những gì ở chung quanh ta. Nhưng đồng thời cũng là một sức năng động luôn tiến hoá và thích nghi, luôn luôn tổ chức đi tổ chức lại chính đời sống nội tâm của ta để làm cho nó đáp ứng đúng với cái thực tại kinh nghiệm của ta. Để có thể đạt tới một sự nẩy nở toàn diện của một bản lãnh được kết cấu vững chắc biết mình là gì, mình muốn gì, mình đi đâu thì điều quan trọng là cái « hình ảnh về chính mình » phải trung thực.

Sự tự do trung thực với chính mình luôn luôn bị đe doạ. Sự thực về chính mình có thể bị bóp méo, và quả thực là có cái nguy hại là chúng ta sẽ biến chuyển theo những tiêu chuẩn và những thang giá trị vay mượn của kẻ khác. Vì kẻ khác luôn trưng bày những khuôn mẫu tiền chế bắt chúng ta tuân theo như là mô phạm của chính chúng ta, chúng ta cũng có thể quan niệm sự thành công theo kiểu như vậy. Chúng ta có thể đánh giá sự thành bại theo dư luận quần chúng thông thường. Chúng ta cho là thành công cái gì đem lại sự kính nể hay những lợi lộc vật chất hay tinh thần. Nếu chúng ta tỏ ra rằng mình là khác với cái gì người ta trông đợi nơi chúng ta, tất nhiên là chúng ta làm mất lòng họ và sẽ bị lôi cuốn vào một chuỗi dài khó khăn. Và lúc đó thì làm sao mà chẳng thấy chi bằng tiện hơn, chắc chắn hơn là cứ trình bày ra cho họ một cái hình ảnh của chúng ta mà họ có thể chấp nhận được và hợp điệu hơn? Nhưng như vậy thì sự trung thực sẽ bị hy sinh, đồng thời sự triển nở thực sự của ngã vị bản thân cũng sẽ bị hy sinh.

Sự tự do của kẻ dám tự khẳng định chính mình đối với những thói quen máy móc của tập thể, đối với sự ích kỷ bè nhóm và đối với tất cả mọi áp lực xã hội là một sự chiến thắng huy hoàng trên một sự nô lệ khủng khiếp, tinh tế và nhiều lúc vô ý thức. Điều quan trọng là luôn giữ cho mình được tự do. Vì sự tự do của chúng ta không bao giờ bị hoàn toàn lệ thuộc vào những sự điều kiện hoá bên ngoài. Trong một vài trường hợp nào đó kiên trì là một điều không phải tầm thường, nhưng chúng ta còn có thể làm hơn nữa. Chúng ta tất cả đều có khả năng để trung thành trong sự khiêm tốn với những gì mà ngày hôm nay, trong sự nghèo nàn của nó còn cho phép chúng ta muốn và làm. Cái ngày hôm nay ấy có thể là có tác dụng tha hoá, nhưng nó cũng có thể giúp chúng ta ngưng tụ hồi quy chính mình vào cái điều cốt yếu dự phòng của cuộc đời nhân bản của chúng ta: trong niềm tin và cậy, chúng ta mở rộng tâm hồn chúng ta hướng về những gì là sự thực của mọi người, mọi vật. Lúc ấy chúng ta sẽ phát hiện ra điều này: Điều quan trọng không phải ta làm gì, mà ta làm như thế nào, và có lẽ chỉ cần biết ở lại sống « cư ngụ bằng an trong hiện tại với một thái độ gần như ‘vô cầu’ », để tìm ra được tất cả những tiềm năng, nguồn mạch của niềm vui thực sự và của sự tự do luôn phát khởi.

Quyết định đời sống chiêm niệm trong một tu viện nào đó, gia nhập vào trong những điều kiện sống nào đó, với những đòi hỏi của một môi trường nào đó, tất cả những yếu tố đó đều có giá trị của nó cả, tuy nhiên những yếu tố ấy cũng hàm chứa cái nguy hại là có thể làm xoá nhoà mất cái bản ngã của mỗi người và biến thành thụ động tuỳ theo môi trường có tác dụng tạo nên những cấu trúc hay làm hư hỏng méo mó. Vì vậy, thật là một điều rất đáng mừng khi thấy ở giữa chúng ta đã tạo nên được một bầu khí tự do, lành mạnh, trung thực nhận lấy trách nhiệm của mỗi bản thân, cho phép mỗi người được trở nên thực sự là chính mình với tất cả sự đơn sơ và chân thực, được sống những giá trị của bản thân đặc sắc đối diện với cách sống của kẻ khác trong sự tôn trọng kính nể lẫn nhau.

Cũng nên ghi nhận rằng những sự trao đổi với nhau giữa chúng tôi có hướng tạo nên những tương quan liên ngã vị, vì chúng trở nên đơn sơ, tự phát, thực sự là « nhân bản » theo cái ý nghĩa tốt của tù ngữ ấy. Nhờ vậy mà bao nhiêu tài năng phong phú đã được phát hiện ra nơi chính các đương sự và cũng đã được lưu thông giữa cộng đoàn nhằm phục vụ lợi ích chung. Sự khôn ngoan của các người đi trước, cùng với tính năng động của kẻ đi sau hoà hợp với nhau trong một sự quân bình theo một sự yêu cầu đòi hỏi sâu xa. Chúng ta có thể nói đến một « bí tích huynh đệ (tỷ muội) » mà qua bí tích ấy sự gặp gỡ Thiên Chúa đã được xét nghiệm một cách nghiêm túc. Thánh Phanxicô Assise vẫn thường nhắc đi nhắc lại rằng: « Đâu có anh em, ở đó có Thiên Chúa ». Đi vào cái thế giới của các mối tương giao, cái thế giới luôn luôn được mở rộng rãi thêm lên hàm chứa một sự xác quyết của đức ái huynh đệ, đức ái ấy đòi hỏi chúng ta phải đối diện với cái thực tại đúng như nó có thật chứ không phải theo như điều ta mơ ước tưởng tượng. Những kẻ khác có thực ở đó, thực là sống động, và với họ là tất cả cái thực tế nó đòi hỏi mời gọi tôi với tất cả những sự phức tạp và bất ngờ. Cái thực tại xâm nhập vào tôi từ mọi phía và qua cánh cửa mở ra hướng về kẻ khác ấy, cái thực tại đó thúc bách tôi phải trở nên trung thực trong một sự trong sáng và một thái độ sẵn sàng luôn luôn mở rộng ra hơn mãi. Không cần phải nói nhiều, nhất là lời nói chỉ là để mà luôn đổ ý nghĩ của ta vào người khác. Nhưng biết lắng nghe, để dành cho kẻ khác hiện hữu đem lại cho họ một niềm vui, do sự đón nhận niềm nở đem lại, do sự hiện diện ưu ái dù là lặng lẽ; như thế mới là mở cánh cửa hướng về kẻ khác, mới là thực sự đi vào mối giao cảm với họ, như thế mới là đi sâu xa hơn vào thực tại, và đi sâu vào cho đến tận cái thực tại to lớn duy nhất tức là đi vào Thiên Chúa vậy.

« Ai muốn sự sống mình sẽ mất sự sống ấy » (Lc 9,24).

Chúng ta được mời gọi đi vào một cuộc mạo hiểm Tình Yêu với Thiên Chúa, một Thiên Chúa hoàn toàn khác, một Thiên Chúa có ngã vị đem lòng yêu mến con người, và lôi cuốn con người đến với Ngài như đến cứu cánh và sự phúc lạc tuyệt đối của chính con người. Cứ để cho cái chân lý đào luyện và hướng dẫn chúng ta, cái chân lý đến từ khắp nơi nhưng chung quy đến từ trái tim Thiên Chúa, đó chính là sự khôn ngoan đích thực. Chúng ta là những kẻ được tạo dựng nên để nhắm đến một động tác duy nhất thực sự là cốt yếu: đó là nhìn nhận ra và đón nhận lấy mầu nhiệm Tình Yêu của Thiên Chúa trong đời sống chúng ta, nhưng chúng ta cũng thấy tất cả sự khó khăn của việc ấy. Chúng ta sợ sự tuân phục và hiến dâng vô điều kiện mà việc ấy bao hàm chứa đựng chúng ta sợ sự khiêm nhượng và lòng quảng đại triệt để mà việc ấy đòi hỏi. Nhìn nhận Thiên Chúa, tức là dấn thân vào một cuộc phiêu lưu bất ngờ choáng váng đối với kinh nghiệm kiếp người chúng ta.

Chấp nhận rằng Thiên Chúa sẽ là Thiên Chúa trong đời sống của chúng ta, thực sự là một sự quyết định làm đảo lộn tất cả, một sự quyết định làm thay đổi hẳn ý nghĩa và phương hướng của cả một cuộc đời. Chấp nhận điều ấy là một việc không phải tức thời mà thực hiện ngay được. Đôi khi phải trải qua một cuộc phấn đấu lâu dài… Nhưng như nhà triết học Paul Ricoeur đã nói: « Ai chưa ‘vật lộn’ với Thiên Chúa, thì chưa thực sự tìm Ngài ». Ngài là Chúa, nói thế là đủ rồi. Tức là có ý nói rằng: Ngài không phải là, không thể nào lại là như chúng ta mong đợi Ngài sẽ là theo như ta muốn. Nghĩa là một Thiên Chúa đặt chúng ta vào nơi an toàn, một Thiên Chúa gìn giữ ta khỏi mọi ảo tưởng, một Thiên Chúa mà ta có thể sử dụng tuỳ thích theo những nhu cầu thiết yếu của ta… Một Thiên Chúa như thế chỉ có ở trong giấc mơ, trong ảo tưởng của chúng ta mà thôi! Một Thiên Chúa như vậy quá giống như chúng ta để có thể là thật có được… Phải đưa tất cả bản thân của chúng ta ra mới có thể chấp nhận, nhìn nhận được rằng Thiên Chúa là Thiên Chúa, là Chủ, là Thầy, và như vậy phải đi đến một sự lệ thuộc hoàn toàn vào một Thiên Chúa vượt quá chúng ta và làm chúng ta ngỡ ngàng vì Ngài sẽ phá vỡ mọi dự trù của chúng ta.

Vì chúng ta mãi quá lo lắng triển nở một bản ngã chỉ có trong lý tưởng, không hiện thực, và đeo đuổi những mục đích ảo tưởng, chúng ta sống mà giả vờ như không hề biết gì về cái cung cách hành động của Chúa cả. Chúng ta chẳng khác gì những kẻ đui mù trong công việc phải đón nhận cái thực thể của chúng ta, cái thực thể mà Thiên Chúa đã định hướng sẵn cho chúng ta từ muôn thuở, cái thực thể được mời gọi đi vào sự sống, sự ý thức của cái giá phải trả của một sự sinh đẻ đau đớn, một sự từ bỏ đối với những sự hình dung tưởng tượng của chúng ta, tuy đẹp đẽ nhưng hư ảo, và chỉ là những mặt nạ mà chúng ta khoác lấy để trình diện cho nhân thế mà thôi. Mọi việc đều xảy ra khác hẳn, không như điều chúng ta đã trù liệu, và chúng ta chìm ngập trong lo sợ vì chúng ta không biết điều gì sẽ xảy đến trong tương lai. Cái việc phải dẹp bỏ những tính toán của chúng ta để đi vào những dự tính của Thiên Chúa, đối với chúng ta, chúng ta tưởng rằng đó là một sự thất bại không phương pháp cứu vãn. Chúng ta thấy bất cứ gì cũng còn hơn là cái nhảy lao đầu vào khoảng không như vậy. Vì quá ánh sáng rõ ràng thì vẫn hơn bóng tối bao phủ mà chúng ta tưởng đâu phải gặp. Sự bảo đảm của những dự tính khôn ngoan của chúng ta thì vẫn hơn là bước đi một cách phi lý trong cái sa mạc xa lạ!

Dân Do Thái xưa, trong cuộc Xuất hành cũng có lập luận y hệt như vậy: « Xin hãy để chúng tôi yên! Chúng tôi thích làm nô lệ dân Ai Cập! Chúng tôi thấy làm nô lệ thì còn hơn là bị tiêu diệt trong sa mạc… Chớ gì chúng tôi được chết trong tay Thiên Chúa trong lúc chúng tôi ngồi trước những nồi đầy thịt và ăn no nê! Chứ bây giờ Ngài đưa chúng tôi vào cái sa mạc này để làm cho chúng tôi chết đói ». Và Thiên Chúa cũng trả lời như xưa, không bao giờ thay đổi từ cái thuở của đoàn dân cứng đầu không chịu nghe lời Ngài: « Nếu ngươi nhận lấy của ăn mà Thiên Chúa dọn cho ngươi ở trong sa mạc ấy, bánh ăn là sự khắc khoải, nước uống là sự gian nguy thì tức khắc Ngài sẽ không ẩn mình nữa và con mắt ngươi sẽ nhận thấy rõ Đấng dạy dỗ ngươi » (Is 30,20).

Thuận theo Thiên Chúa, như là Chúa, là Chủ, là Thầy của tất cả mọi sự tức là cùng với Ngài bước vào một mầu nhiệm và những tiêu chuẩn quen thuôc của chúng ta không còn có giá trị nữa và không còn có một vai trò nào nữa cả. Thánh Kinh đầy dẫy những con người qua cái kinh nghiệm bị « bắt chụp » bởi Thiên Chúa hằng sống. Bị dồn vào bước ngặt nghèo cùng cực tột độ, Gióp đã chất vấn Thiên Chúa với tất cả sự cậy dựa chắc ăn của sự công chính của ông ta: « Ngài đã trở nên tàn nhẫn đối với tôi! Bàn tay cứng cỏi nặng nề của Ngài đè nặng lên tôi! » (G 30,21). Và Thiên Chúa đã không có câu trả lời nào khác là tỏ rõ cho biết Ngài là ai: « Kẻ nào đó mà lại cả dám lộn xộn xen vào tranh luận bàn bạc với Ta bằng những lời lẽ chẳng có nghĩa lý gì cả? Chứ khi Ta tạo dựng nên quả đất thì khi ấy ngươi ở đâu? » (G38,2.4). Bị thua vì những lập luận dứt điểm của Giavê, Gióp đành phải tuyên xưng: « Tôi biết Ngài là Đấng toàn năng… Tôi đã phát ngôn ngu xuẩn bừa bãi vì những sự kỳ diệu vượt quá tôi rất xa, mà tôi không hiểu nỗi. Trước kia tôi chỉ biết Ngài qua những điều nghe kể lại, nhưng bây giờ thì chính mắt tôi đã trông thấy Ngài.» (G 42,2-5). Câu trả lời của Gióp biểu lộ rằng, mặc dầu ông ta đã được một sự nhận thức tường tận mới, mầu nhiệm của Thiên Chúa vẫn hoàn toàn mầu nhiệm, và con người muốn lãnh nhận mầu nhiệm ấy, đòi hỏi phải có đức tin hoàn toàn vô điều kiện và một tình yêu cũng hoàn toàn vô điều kiện. Chính Ngài là Đấng chỉ đường dẫn lối tất cả mọi sự, và không bao giờ Ngài lại hết không còn làm ta ngạc nhiên, ngỡ ngàng.

Tất cả chúng ta đều có ít nhiều CHƯNG HỬNG, ít nhiều hoảng sợ, trước sự xa lạ đầy đe doạ mà sự chuyển biến của đời tu gợi ra cho chúng ta, mà sự chuyển biến của cuộc đời nói chung hiện nay đem lại cho chúng ta. Chúng ta không cố gắng thử đặt lại những câu hỏi có tầm mức căn bản, chúng ta sợ hãi mà tránh né chúng, vì đó là những câu hỏi làm thay đổi tất cả mọi sự, tỉ như câu hỏi mà thánh Phanxicô Assise đã xoay đi xoay lại trong suốt cả những đêm trường: « Lạy Chúa, Chúa là ai? mà con là ai? » Và rồi bao giờ Chúa cũng sẽ trả lời cho những câu hỏi tương tự như vậy, vì những câu hỏi như thế bao hàm rằng người nào đã đặt nó ra, tức là đã nhìn nhận rằng mình không phải là Chủ, là Thầy nữa, Mà thuận tình chịu để bị dẫn đưa đến nơi nào mình không biết, mình không muốn, trong cái ý hướng về tình yêu đối với Thiên Chúa của mình.

Quả vậy, cuộc tình sử của chúng ta đối với Thiên Chúa, phải kinh qua sự chết, sự chết làm cho ta tưởng rằng ta mất mát tất cả. Nếu không như vậy thì cuộc tình sử ấy chỉ là một sự ảo tưởng miên trường, chỉ là một thứ nhân bản nào đó, đơn thuần nhân bản ở bình diện con người trần thế mà thôi. Một thứ nhân bản như vậy, thì dù có khoác bộ áo tu sĩ vào, cũng không có dính dáng gì với mầu nhiệm thập giá của Chúa Kitô. Bất cứ Kitô hữu nào thực sự dấn bước vào cuộc phiêu lưu của Tình Yêu Thiên Chúa và tình yêu mến anh em đồng loại, thì sẽ phải (hay đúng hơn là sẽ được) sống cái sự nghịch lý không sức nào chịu nổi và sự căng thẳng bên trong tâm hồn vốn gắn liền với thân phận (hay đúng hơn với cái vinh dự) của một tạo vật hữu hạn mà lại bị (hay đúng hơn, được) mời gọi hướng về vô hạn!

« Đây mới thực là sự trở lại… phó thác mình, để buông mình bị lôi cuốn vào con đường của Giêsu Kitô » (D.Bonhoeffer).

Đó là con đường bao dung dẫn tôi tới sự Phục sinh, con đường mà ít người thuận tình để cho mình bị lôi cuốn đi theo, con đường mà trên đó Thiên Chúa, về phần Ngài, nhất định Ngài không chút nhân nhượng đối với sự hèn nhát yếu nhược của chúng ta. Tiếng nói của thập giá vốn là một tiếng khó nghe! Tiếng nói ấy kêu gọi ta một cách nghiêm nghị cứng rắn mà ta không nên pha loãng đi! Qua sự chết của Ngài, Đức Kitô đã cho ta thấy phải rứt mình ra khỏi thế gian và khỏi chính bản thân mình như thế nào mới có thể gặp gỡ được Thiên Chúa và hoán cải « hữu-thể-tự-quy » (pour soi) trở thành « hữu-thể-hướng-thiện ». Sự hoán cải ấy không phải thể hiện được nhờ một sự tinh vi (tinh hoa hoá những khả năng của mình) mà phải nhờ một sự thuận tình để cho hư vô hoá, một sự huỷ hoại cái « hữu-thể-tự-quy » của chúng ta.

Muốn làm chứng nhân về chân lý rằng sự thâm nhập đột nhập của Thiên Chúa vào cuộc sống của chúng ta là nguồn mạch một sự giải phóng chứ không phải là một sự tha hoá thì tất nhiên phải bước qua cái ngưỡng cửa ấy, một ngưỡng cửa khủng khiếp nhưng có năng lực giải thoát, cái ngưỡng cửa của sự tự buông mình ra một cách triệt để, của sự tự bước ra khỏi chính mình, của ly tâm khỏi chính cái tâm điểm là mình, của sự nghèo khó triệt để, ở đó bản thân sẽ trở nên một sự sẵn sàng đón nhận cùng biến đổi với Thiên Chúa và đối với anh em.

Bước lên tới điểm này thì đi xa hẳn khỏi sự lo lắng về sự thành công về mặt con người thuần tuý nhân bản, thì rời bỏ thật đã đành, mà ngay cả sự thành công về mặt thiêng liêng cũng vậy! Vấn đề ở đây là vấn đề nên thánh. Và sự nên thánh có thể tạo thành bởi một số rất nhiều thất bại về tất cả mọi bình diện. Nhìn bề ngoài thì có vẻ chẳng có gì là đẹp đẽ, chẳng có gì là thành tựu, nhưng lại sẽ có sự hiện của một Đấng nào đó (một Ai nào đó) bên trong chúng ta, một sự nhịp nhàng điều hoà thầm kín, nhiệm mầu đang thể hiện nhờ quyền lực của Thánh Linh, là Đấng luôn luôn hoạt đông để đổi mới bộ mặt địa cầu.

« Chúng tôi muốn gặp Giêsu » (Ga 12,21).

Ngày hôm nay mọi sự đều mở ra với nhiều triển vọng cho tu sĩ (nam cũng như nữ) hoặc ngược lại tất cả đều xem như bị bế tắc về mặt văn hoá nhân bản cũng như hoạt động xã hội. Đó là điều đáng mừng. Các việc ấy đem ra để phục vụ ngã vị nhân bản cũng như đời sống siêu nhiên, đó là điều rất đáng mong mỏi. Nhưng chúng tôi xác quyết rằng chúng ta không thể chỉ ngừng lại ở điểm ấy, và sở sĩ như vậy là vì chúng tôi nhân danh những đòi hỏi của bản thể sâu xa nhất của chúng ta, những chờ đợi mong mỏi của thế giới ngày nay, và chung quy là nhân danh những đòi hỏi, những mời gọi của Thiên Chúa. Ngài mời gọi chúng ta đi đến chỗ mở rộng ra hướng về Ngài để đi tới một nhận thức có tính cách quỵết định dứt khoát về bản ngã nhân vị của chúng ta trong Tình Yêu vẹn toàn và vô hạn.

Đức hồng y Suenens gần đây có viết: « Người đồng thời của chúng ta hiện nay muốn gặp mặt một Đức Kitô sống thực. Họ muốn nhìn Ngài tận mắt, sờ mó Ngài tận tay. Và điều khốn khổ cho những Kitô hũu là chúng ta đây, là ở chỗ họ đòi hỏi nhìn Đức Kitô ở nơi chính mỗi một chúng ta, họ muốn rằng chúng ta phải trong suốt để Ngài chiếu xuyên qua như mặt trời qua một bức kính màu. Tất cả những gì mờ tối đen đặc nơi chúng ta sẽ làm sai lệch méo mó khuôn mặt của méo mó khuôn mặt của Đức Kitô. Điều họ trách chúng ta, không phải là chúng ta là Kitô hữu, mà là ở chỗ chúng ta chưa đủ mức, chưa đúng mức là Kitô hữu ».

Thế giới ngày nay, Giáo Hội ngày nay chờ đợi những sự trong suốt để Thiên Chúa chiếu xuyên qua, chớ không phải những con người thượng thặng, những con người muốn thoát thân cho riêng mình với bất cứ giá nào, những con người cố níu kéo lại những cơ chế đang thoát khỏi tầm tay của mình, bám víu vào những chức vụ đã được đồng hoá với chính bản ngã của mình. Không! Họ không chờ đợi những con người như thế, họ chờ đợi những thiên sai, những người chiêm niệm đã nhìn thấy Thiên Chúa và tuyên xưng điều họ thấy, ý thức được mầu nhiệm họ đang sống và họ mặc khải cho anh em đồng loại.

Bí quyết của hạnh phúc và niềm vui Cha Teilhard de Chardin tóm tắt như sau:

« Ngưng tụ lại nơi bản thể,

Tự ly cách với bản thân huớng về tha thể,

Siêu thăng hướng về một Đấng cao trọng hơn bản thân.

Nói cách khác: trước tiên thì hiện hữu,

Sau đến yêu mến và cuối cùng thờ lạy. »

[Về mục lục]

Nguyễn Khắc Dương

________________________


Chuyên mục: Features, Năm Đức Tin, Điểm sách - Đọc sách online, Đức tin & Khoa học