10:38 sáng - Chủ Nhật 26 Tháng Mười 2014

Chú giải và suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật I Mùa Chay – năm A

Các bài chú giải và suy niệm Tin Mừng
Chúa Nhật I Mùa Chay – năm A
Lời Chúa:
St 2,7-9; 3,1-7; Rm 5,12-19; Mt 4,1-11
***************

MỤC LỤC
1. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt: Cám dỗ trong sa mạc
2. Chú giải của Noel Quession: Giải thoát những thần linh giả
3. Chú giải của Fiches Dominicales: Dứt khoát chọn lấy sự vâng phục
4. Chú giải và gợi ý suy niệm của Lm. Inhaxiô Hồ Thông: Đức Giê-su chịu thử thách trong hoang địa
5. Chú giải và gợi ý suy niệm của Lm FX Vũ Phan Long, ofm: Cám dỗ tại hoang địa
6. Đứng về phía Giêsu để chống lại tên cám dỗ (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)
7. Theo Ađam hay theo Chúa Giê-su? (Linh mục Inhaxiô Trần Ngà)
8. Cám dỗ (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)
9. Phương thế chiến thắng cám dỗ (Lm Giuse Nguyễn Hữu An)
10. Con người trước cám dỗ của ba thù (JM. Lam Thy ĐVD.)
11. Cám dỗ (Lm. Bùi Quang Tuấn)
12. Chọn lựa (Lm Carolo Hồ Bạc Xái)
13. Những cơn cám dỗ (ĐTGM. Ngô Quang Kiệt)
14. Đức Giêsu bị cám dỗ (Lm Giuse Đinh lập Liễm)
15. Những cuộc cám dỗ bất tận (R. Veritas)
16. Sống mùa chay (Lm. Vũ Thái Hoà)
17. Cám dỗ

18. Ba cơn cám dỗ (P. Trần Đình Phan Tiến)
19. Chiến thắng cám dỗ (Lm Giuse Tạ Duy Tuyền)
20. Cám dỗ (ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt)
21. Suy niệm của Lm Nguyễn Bình An
22. Con người trước cám dỗ của ba thù (JM. Lam Thy ĐVD.)
23. Cám dỗ, nguy cơ và cơ may (Lm Pietro Nguyễn Hương)
24. Cám dỗ (Lm Trần Xuân Lãm)
25. Sa Tan kia, xéo đi (Fx Đỗ Công Minh)
26. Liên hệ (Lm. Vũ Đình Tường)
27. Chiến thắng cám dỗ (AM Trần Bình An)
28. Không chỉ bằng cơm bánh (Lm Nguyễn Hồng Giáo)

29. Hãy cảnh giác trước cám dỗ (Jos. Vinc. Ngọc Biển)
30. Phương cách chống trả cám dỗ của ma quỷ (Lm. Đan Vinh)

The Temptation of ChristAry Scheffer, 1854A. BẢN VĂN

Bài đọc I (St 2,7-9 ; 3.1-7)

2 7 Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật. 8 Rồi Đức Chúa là Thiên Chúa trồng một vườn cây ở Ê-đen, về phía đông, và đặt vào đó con người do chính mình nặn ra.

9 Đức Chúa là Thiên Chúa khiến từ đất mọc lên đủ mọi thứ cây trông thì đẹp, ăn thì ngon, với cây trường sinh ở giữa vườn, và cây cho biết điều thiện điều ác.

3 1 Rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng, mà Đức Chúa là Thiên Chúa đã làm ra. Nó nói với người đàn bà : “Có thật Thiên Chúa bảo : ‘Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không ?’ 2 Người đàn bà nói với con rắn : “Trái các cây trong vườn, thì chúng tôi được ăn. 3 Còn trái trên cây ở giữa vườn, Thiên Chúa đã bảo : ‘Các ngươi không được ăn, không được động tới, kẻo phải chết.’” 4 Rắn nói với người đàn bà : “Chẳng chết chóc gì đâu ! 5 Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác.” 6 Người đàn bà thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn. Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình ; ông cũng ăn. 7 Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng : họ mới kết lá vả làm khố che thân.

Bài đọc II (Rm 5,12.17-19)

12 Thưa anh em, vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết ; như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội.

17 Nếu chỉ vì một người, một người duy nhất sa ngã, mà sự chết đã thống trị, thì điều Thiên Chúa làm qua một người duy nhất là Đức Giê-su Ki-tô, lại còn lớn lao hơn biết mấy. Quả vậy, những ai được Thiên Chúa ban ân sủng dồi dào và cho trở nên công chính, thì sẽ được sống và được thống trị.

18 Tóm lại, cũng như vì một người duy nhất đã sa ngã mà mọi người bị Thiên Chúa kết án, thì nhờ một người duy nhất đã thực hiện lẽ công chính, mọi người cũng được Thiên Chúa làm cho nên công chính, nghĩa là được sống. 19 Thật vậy, cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người công chính.

Tin Mừng (Mt 4,1-11)

1 Sau khi chịu phép rửa, Đức Giê-su được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu quỷ cám dỗ. 2 Người ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày, và sau đó, Người thấy đói. 3 Bấy giờ tên cám dỗ đến gần Người và nói : “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì truyền cho những hòn đá này hoá bánh đi !” 4 Nhưng Người đáp : “Đã có lời chép rằng : Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.”

5 Sau đó, quỷ đem Người đến thành thánh, và đặt Người trên nóc đền thờ, 6 rồi nói với Người : “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì gieo mình xuống đi ! Vì đã có lời chép rằng : Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá.”

7 Đức Giê-su đáp : “Nhưng cũng đã có lời chép rằng : Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi.”

8 Quỷ lại đem Người lên một ngọn núi rất cao, và chỉ cho Người thấy tất cả các nước thế gian, và vinh hoa lợi lộc của các nước ấy, 9 và bảo rằng : “Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó, nếu ông sấp mình bái lạy tôi.” 10 Đức Giê-su liền nói : “Xa-tan kia, xéo đi ! Vì đã có lời chép rằng : Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi.”

11 Thế rồi quỷ bỏ Người mà đi, và có các sứ thần tiến đến hầu hạ Người.

[Mục Lục]

khoangcahB. CÁC BÀI CHÚ GIẢI VÀ SUY NIỆM

Bài 1. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt: CÁM DỖ TRONG SA MẠC

CÂU HỎI GỢI Ý

1) Đối với người Do thái thế kỷ I, “sa mạc” và “cám dỗ” gợi lên điều gì?

2) Trình thuật này liên hệ với trình thuật Phép Rửa nhờ chữ nào? Chữ đó có nghĩa mạnh hay chỉ có nghĩa thuần túy thời gian?

3) Phải đọc lại Đệ Nhị Luật chương 8 và ý nghĩa cuộc thử thách trong sa mạc.

4) Phải hiểu như thế nào việc Chúa Giêsu vượt thắng cách vẻ vang cơn cám dỗ mà dân Do thái đã vấp ngã? Dựa trên hậu cảnh Cựu Ước, hãy rút ra ý nghĩa thần học ba cuộc cám dỗ Chúa Giêsu?

5) Cơn cám dỗ phải chăng chỉ nhắm đến sự nghiệp của Đấng Messia, bằng cách gợi lên một thiên sai chủ nghĩa giả tạo thần kỳ hoặc chính trị? Hay là nhắm đến chính con người Đấng Messia, bằng cách tách Người khỏi Thiên Chúa với một thứ chủ trương vô thần thực tiễn?

6) Làm sao Chúa Kitô có thể bị cám dỗ? Điều đó có nghĩa gì? Hãy so sánh với cơn hấp hối, với Pl 2, 6 tt và Dt 5,7tt.

7) Các thiên sai chủ nghĩa bị Chúa Giêsu chống báng phải chăng chỉ là những hiện tượng lỗi thời, hay ta vẫn còn thấy giữa thế kỷ XX này quanh ta? trong ta?

8) Thân phận người Kitô hữu phải chăng là một thân phận bị cám dỗ triền miên?

***

1) Có lẽ Chúa Giêsu đã mặc khải cho các môn đồ Người biến cố mà ngay từ lúc bắt đầu cuộc sống công khai Người đã trải qua với một kinh nghiệm thấm thía. Giáo Hội sơ khai đã đón nhận mặc khải ấy về nguồn gốc đích thực của cám dỗ (Satan) như là lời sửa sai quan niệm Cựu ước, vốn cho rằng cám dỗ là do Thiên Chúa: Mt đã phóng đại dữ kiện giản lược mà ông đã thu nhận từ truyền khẩu. Trình thuật của ông có vẻ như là một cấu trúc văn chương, một sáng tác tưởng tượng nhằm khai thác các giá trị thần học tiềm tàng trong biến cố có thực. Đây là những dấu chỉ cho thấy trình thuật của ông thực là một sáng tác: cuộc đối thoại với Satan, việc đem Chúa Giêsu lên thượng đỉnh Đền thờ, ngọn núi cao từ đó có thể trông thấy “tất cả các nước thiên hạ”, lối trích dẫn nhiều câu trong diễn từ thứ hai của Môisen nói với dân (Đnl 8,3; 6,16; 6,13). Sáng tác văn chương này đặt cơ sở trên ba cuộc cám dỗ của Israel trong sa mạc:

- Sau khi được ăn manna một thời gian, Israel đòi ăn thịt (Ds 11, 4-34)

- Môisen gõ phiến đá hai lần (Ds 20, 1 -13)

- Giai thoại con bò vàng (Xh 32, 1- 8)

Matthêu cho thấy Chúa Giêsu tổng lược cả ba kinh nghiệm của dân Isarel và đã chiến thắng vẻ vang trong khi Israel lại vấp ngã. Xin nói qua là sách Đệ Nhị Luật cũng là sách chỉ nam của cộng đoàn thiên sai là Giáo Hội: các chương đầu của Công Vụ Sứ Đồ ghi lại những bước đầu của Giáo Hội sơ khai, đã cảm hứng theo Đệ Nhị Luật.

2) Giữa phép rửa Chúa Giêsu và cơn cám dỗ, có một liên hệ rõ ràng: chính Thánh Thần ngự xuống trên Chúa Giêsu lúc ở sông Giođanô đã đưa người vào sa mạc, không phải để tra cứu lề luật và tìm lại tinh thần Giao ước như nhóm Essêni, cũng chẳng phải để tổ chức kháng chiến như phái Nhiệt thành, song để chịu ma quỷ cám dỗ (4,1). Học thuyết thiên sai của Chúa Giêsu phải được thử thách. Và cuộc thử thách này là một giai đoạn cần thiết trong ơn gọi làm Israel mới của người. Vì là Đấng đáp ứng nỗi chờ mong của dân, Người phải sống tất cả chiều kích của lịch sử họ: tạm trú tại Ai cập (2,13-15), vượt sông Giođanô (2, 13-17 -so sánh với Gs 3), cám dỗ ở sa mạc (4, 1-11).

3) Giai thoại cám dỗ trong sa mạc xảy ra như để xác nhận việc Chúa Kitô hoàn toàn chấp nhận thánh ý Chúa Cha: gạt bỏ mọi hình thức thiên sai chủ nghĩa mà Thiên Chúa không muốn (trước hết là thứ thiên sai chủ nghĩa cánh chung có tính cách báo phục của Gioan Tẩy giả và của Qumrân, thứ đến là thiên sai chữ nghĩa xác thịt, uy hùng hay chính trị mà Israel trông chờ), Chúa Kitô chấp nhận đường lối thiên sai khổ đau, là đường lối duy nhất phù hợp với thánh ý Chúa Cha.

4) Lối giải thích mang màu sắc thiên sai về ba chước cám dỗ (tức lối giải thích liên kết trình thuật này với trình thuật phép rửa trước đây) là lối giải thích lưu ý nhiều đến chỗ đứng của đoạn văn trong văn mạch của các chương này cũng như của các vấn đề tổng quát của một. Tuy nhiên lối giải thích này không loại bỏ các lối giải thích khác đã từng được truyền thống công nhận như:

- Lối giải thích luân lý: Chúa Kitô tự nguyên chịu các chước cám dỗ lớn của nhân loại: những dục vọng của xác thịt và tinh thần, để rồi vượt thắng các cám dỗ đó cách khải hoàn, và nhờ dấy nên gương mẫu cho đời ki tô hữu; Lối giải thích song đối kiểu mẫu: Chúa Kitô, Ađam mới, chịu một cơn cám dỗ “tổ tông” mới, để nhờ lòng vâng phục hiếu thảo của Người mà chuộc lại cuộc nổi loạn nguyên thủy (x. trình thuật mạc về cuộc cám dỗ này và thần học của Phaolô về Ađam mới);

- Lối chú giải cánh chung học: qua cuộc chiến đấu này, Chúa Kitô tiên báo cuộc khải hoàn vinh thắng cuối cùng của Người trên các quyền lực sự dữ (lối giải thích của Lc).

5) Chủ đề sa mạc chiếm một chỗ đứng đáng kể trong Kinh Thánh, vì sa mạc là một dữ kiện địa lý quan trọng trong thế quân bình kinh tế và nhân chủng của xứ Palestine. Ảnh hưởng của địa thế này không phải là nhỏ đối với lịch sử dân Thiên Chúa. Lịch sử này lưu lại hai kỷ niệm xem ra mâu thuẫn, mà có người đã muốn coi như. là hai chủ đề có nguồn gốc khác nhau, nhưng kỳ thực chỉ là hai phương diện của một thực trạng. Cuộc lưu ngụ trong sa mạc trước tiên được trình bày như là thời kỳ lý tưởng trong cuộc sống của tuyển dân, thời kỳ mà tuyển dân được các điều kiện thuận lợi nhất ớể phát huy lý tưởng tôn giáo của mình, và đã sống lý tưởng đó cách tuyệt hảo. Đàng khác thời gian lưu ngụ trong sa mạc cũng. được xem như là một thử thách, như một hình phạt, phạt tội phàn nàn và bất tuân. Sa mạc vừa là nơi tĩnh tâm và thanh luyện, vừa là nơi phát sinh chước cám dỗ và xóa tội. Vì thế trong suốt lịch sử dân Israel, sa mạc vẫn là nơi hun đúc sức mạnh sinh động của quốc gia (tất cả các khuôn mặt lớn trong dân đều đến sa mạc lập kế hoạch, hay nung nấu lại lòng nhiệt thành) và cũng là nơi thử thách.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

“Bấy giờ Chúa Giêsu được Thần khí dẫn vào sa mạc”: Chữ bấy giờ nói lên mối liên hệ giữa trình thuật này với trình thuật Chúa Giêsu chịu phép rửa. Lát nữa ta sẽ thấy mối tử hệ thần linh của Chúa Giêsu đã được công bố lúc người chịu phép rửa) hệ tại chỗ nào. Trạng từ “bấy giờ” ở đây (cũng như ở 3, 13 chẳng hạn) có một giá trị chuyển mạch hơn là giá trị thời gian. Tiếng “để chịu cám dỗ” nói rõ ràng ý định của Thiên Chúa, như trong đoạn văn trước. Bởi ma quỷ: một chữ Hy-lạp trước tiên có nghĩa là “đứa vu khống” rồi “kẻ buộc tội”. Vì thế bản 70 đã dùng chữ này để dịch chữ “Satan”. Ngữ vựng của phần dẫn nhập trình thuật này tương tự với ngữ vựng của Đnl 8,2 (bản 70) và ám chỉ đến cảnh huống của Israel trong sa mạc: “Hãy hồi tưởng lại tất cả con đường mà Giavê Thiên Chúa của ngươi đã dẫn ngươi đi (cùng một động từ Hy lạp như Matthêu) trong sa mạc, với dụng ý là hạ ngươi uống, thử thách ngươi (cùng một động từ Hy lạp như Matthêu) và biết đáy lòng ngươi”.

“Người đã giữ chay 40 ngày và 40 đêm”: 40 là con số chẵn thường được Kinh Thánh dùng để chỉ một thời gian khá dài: 40 ngày lụt đại hồng thủy (St 7,4), 40 năm Israel lưu trú trong sa mạc (Xh 16, 35; Ds 14, 33; Đnl 29, 5), 40 năm trị vì của Đavít (1Sm 5,4), 40 ngày trước khi phá hủy thành Ninivê (Gn 3), 40 ngày giữa cuộc Phục Sinh và Thăng Thiên của Chúa Giêsu… Chi tiết xác định “40 đêm ” là của riêng Matthêu (Luca chỉ nói “40 ngày”) và ám chỉ đến 40 ngày và 40 đêm mà Môisen đã trải qua trên núi của Giavê “không ăn bánh cũng chẳng uống nước” (Xh 24, 1-8: giữ chay sau cuộc thần hiển, và trong 34,28: giữ chay sau cuộc tái lập Giao ước). “40 đêm” có lẽ cũng ám chỉ đến cuộc chay trường của Elia trên núi Horeb (1V 19,8: sau khi được thần hiển và trao sứ mệnh). Cả hai nhân vật lên này của Cựu ước, những vị gồm tóm trong bản thân Lề luật và Ngôn sứ, sẽ tái xuất hiện trong cuộc Biến hình của Chúa Giêsu (biến hình = thần hiển; cuộc thần hiển này được tiếp nối với việc thiết lập Giao ước mới bằng Tử Nạn-Phục Sinh). Chắc hẳn Matthêu muốn cho thấy việc giữ chay của Chúa Giêsu một cách nào đó tổng lược kinh nghiệm của Môisen và Elia, cũng như cuộc cám dỗ sẽ tổng lược lịch sử Israel trong sa mạc. Ở đây không nên hỏi cơ thể con người, xét về mặt tự nhiên, có thể giữ chay trong bao lâu! Cũng như trong trường hợp Môisen (suốt 40 ngày không uống nước!), chính Thiên Chúa trực tiếp nâng đỡ Chúa Giêsu. Chúa Kitô sống nhờ lòng tín thác vào Thiên Chúa. Thành ra việc cảm thấy đói sau 40 ngày được xem như là một cuộc thử thách: Chúa Giêsu có thể nghĩ Thiên Chúa đã bỏ rơi mình. Và đó là điểm đưa đến cám dỗ đầu tiên.

Cám dỗ đầu tiên (cc. 3-4)

“Nếu Ngài là Con Thiên Chúa”. (c.3) là công thức dẫn vào chước cám dỗ thứ nhất và thứ hai. Tiếng “Con Thiên Chúa”; nhắc lại lời phán từ trời trong cảnh trước đây và đầu tiên có nghĩa là “Đấng Messia” (x.ghi chú BJ). Công thức này cho thấy ma quỷ cám dỗ Chúa Giêsu như là Đấng Messia, thủ lãnh của dân mới Thiên Chúa. “Nếu Ngài là…” không nhằm nói lên nỗi nghi ngờ của ma quỷ, nhưng cố khơi lên trong Chúa Giêsu niềm hoài nghi. Dưới chân thập giá, chính người Do thái sẽ thay thế Satan để cám dỗ Chúa Giêsu một cách tương tự: “nếu ông là con Thiên Chúa” (Mt 27,40). Hai chước cám dỗ này song song với nhau: chúng nhằm thúc đẩy Chúa Giêsu sử dụng các quyền lực thiên sai Người có để mưu cầu tư lợi, hay đúng hơn để thoát khỏi cảnh hiểm nghèo (đói trong sa mạc, chết trên thập giá).

“Hãy truyền cho các viên đá này thành bánh”: Cơn đói mà Chúa Giêsu đột nhiên cảm thấy đã là một chi tiết giúp ta giải thích cơn cám dỗ đang bủa vây Người. Tuy nhiên, còn có một chi tiết giàu ý nghĩa hơn trong câu trả lời của Chúa Giêsu trích lại Đnl 8,3. Văn mạch của Đnl 8,3 cho thấy dân Israel nghi ngờ Giavê, thay vì tự hạ và chấp nhận tùy thuộc một mình Ngài: “Hãy hồi tưởng lại tất cả con đường Giavê Thiên Chúa của người đã dẫn ngươi đi, qua sa mạc, trong 40 năm, với dụng ý là hạ ngươi xuống cùng để thử cho biết ngươi có gì nơi đáy lòng, xem người có giữ các lệnh truyền của Ngài chăng. Ngài đã hạ ngươi xuống, đã để ngươi phải chịu đói; rồi Ngài lại cho ngươi ăn manna ngươi chưa từng biết và cha ông ngươi cũng không hề biết, để dạy cho ngươi hay là người ta không sống nhờ bánh mà thôi, nhưng sống nhờ mọi điều xuất ra từ miệng Giavê” (Đnl 8, 2-3).

Chước cám dỗ mà Israel phải. chịu, đó là cơn đói khát Thiên Chúa cho dân trải qua để thử lòng tín thác của họ. Nhưng dân đã phàn nàn, đã hối tiếc các thức ăn của xứ Ai cập, và càu nhàu đòi lương thực. Chúa Giêsu cũng đang sống trong một tình trạng tương tự như dân Israel. Bị đói, Người có thể nghĩ Thiên Chúa đã bỏ rơi người. Ma quỷ đến dụ dỗ Người nghi ngờ Thiên Chúa và hãy cậy dựa vào chính quyền năng thần thông mà Người vừa mới nhận lúc được thánh hiến làm Đấng Messia. Có thể Chúa Giêsu sẽ dùng quyền đó để mưu cầu tư lợi trái nghịch với thánh ý Thiên Chúa. Khi dụ dỗ Chúa Giêsu nghi ngờ và bất tuân, ma quỷ muốn Người cắt đứt liên lạc với Thiên Chúa. Đáp lời lại, Chúa Giêsu xác quyết Người chẳng muốn dùng các phương thế riêng của mình để được sống, nhưng muốn hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa. Người chỉ cậy dựa vào Thiên Chúa (27,43).

Cám dỗ thứ hai (cc.5-7)

“Thành thánh” là một thành ngữ Do Thái thông dụng để chỉ Giêrusalem (Mt 27, 53; Kh 11,2). Ma quỷ dụ dỗ dựa vào lại Tv 91,11: điều đã được hứa cho mọi người đạo đức, càng phải có giá trị hơn đối với Đấng Messia: chắc chắn Thiên Chúa sẽ bảo vệ Người. Chúa Giêsu trả lời bằng cách trích dẫn Đnl 6,16 là câu nhắc lại giai thoại Massa (Xh 17, 1-7). Israel đã dám thử thách Thiên Chúa khi nói: “Có Chúa giữa chúng ta hay không?”. Họ không ngại đòi Thiên Chúa ban cho một dấu chỉ là phép lạ nước đột xuất từ tảng đá. Nếu gieo mình từ thượng đỉnh Đền thờ theo như lời Satan dụ dỗ, là Chúa Giêsu đã buộc Thiên Chúa phải thực hiện một phép lạ. Cuối cơn cám dỗ thứ nhất, Chúa Giêsu đã nép mình dưới sự quan phòng chở che của Thiên Chúa. Ma quỷ dụ dỗ Người lợi dụng sự che chở này, như Israel ngày xưa, bằng cách đòi hỏi Thiên Chúa can thiệp Thành ra xét cho cùng đây là việc áp đặt ý muốn con người trên Thiên Chúa.

Một vài giới bình dân Do thái hình dung Đấng Messia như sẽ khai mào sứ vụ của mình trên chóp đỉnh Đền thờ; nơi đó Người phải loan báo việc giải phóng Israel. Vì thế có lẽ Satan đã gợi ý cho Chúa Giêsu ra mắt dân chúng theo cách phù hợp với quan niệm bình dân này, đi ngược với kế hoạch của Thiên Chúa.

Cám dỗ thứ ba (cc. 8- 10)

“Một ngọn núi cao” từ đó có thể xem thấy “tất cả các nước thiên hạ” là một điều dị thường. Sở dĩ Matthêu giữ lại chi tiết kỳ quái này của truyền thống Tin Mừng, là vì muốn trung thành với truyền thống bao quanh con người Môisen: Thiên Chúa đã chỉ cho Môi sen, đứng trên núi Nêbo, thấy toàn thể Đất Hứa (Đnl 31, 1-4). Tương quan Môisen-Giêsu, mà Matthêu luôn đề cập đến, còn được nổi bật ở đây. Đất Hứa ở đây trở thành lãnh địa tuyệt hảo mà Chúa Giêsu sẽ tiếp nhận lúc Phục Sinh: “mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Ta” (28,18) như lời hứa của Tv 2, 6-8.

“Tôi hiến cho Ngài hết mọi điều đó, nếu Ngài phục mình bái lạy tôi”. Đây là cám dỗ thờ bò vàng, thờ các ngẫu thần, là cám dỗ tự biến mình thành vị thần dễ xài, trấn an, vị thần được dùng để đem đi giao chiến, chinh phục địa cầu, vị thần mà ta có thể thương thuyết mặc cả: “Tôi hiến tất cả điều đó cho Ngài, nếu Ngài phục mình bái lạy tôi”. Chính Chúa Giêsu đã hiểu chước cám dỗ thứ ba này theo nghĩa ấy, vì câu Người trả lời Satan trích lại một đoạn Đệ Nhị Luật, trong đó rõ ràng đề cập đến việc thờ ngẫu thần: “Ngươi hãy coi chừng kẻo lãng quên Giavê Đấng đã đem ngươi ra khỏi Ai Cập, khỏi nhà tôi mọi. Ngươi sẽ kính sợ Giavê Thiên Chúa của ngươi; ngươi sẽ phụng thờ Ngài, sẽ thề nhân danh Ngài. Đừng đi theo các thần khác, thần của các dân ở chung quanh ngươi, vì Giavê Thiên Chúa của ngươi, ở giữa ngươi, là Thiên Chúa ghen tương” (Đnl 6,12-15). Qua việc trích dẫn đoạn văn này, Chúa Giêsu xác quyết Thiên Chúa đích thực không phải là một thần tượng mà ta có thể mua chuộc các hồng ân. Giavê không mua bán mặc cả. Ngài đòi phải tin yêu và vâng phục vô điều kiện. Ngài chẳng phải là con bò vàng “đi trước chúng ta” mà người ta có thể sử dụng như một khí cụ để chinh phục. Chúa Giêsu từ chối đi vào con đường mà Thiên Chúa không muốn Đấng Messia của Ngài dấn thân, là đường vinh thắng rạng rỡ (bằng việc cậy dựa vào các ngẫu thần), đưa đến việc thống trị hoàn vũ. Vì bị tiêm nhiễm giấc mơ khải huyền bình dân, Phêrô sẽ chống đối việc tiến lên Giêrusalem để chịu tử nạn. Chúa Giêsu sẽ trả lời ông như đang trả lời ở đây: “Hỡi Satan, hãy xéo đi” (16,23 cũng có cùng động từ như 4,10 những chỉ thêm chữ “sau Ta”). Trong cả hai trường hợp, Chúa Giêsu xác quyết ý định của Người là hoàn toàn tuân theo kế hoạch của Thiên Chúa, dù “tư tưởng của Thiên Chúa không phải là tư tưởng của loài người” (16,23). Đối lại với việc Israel say mê thờ ngẫu thần (các ngẫu thần được xem như là khí cụ để chinh phục), việc Chúa Giêsu gắn bó vào Thiên Chúa hệ tại chỗ loại bỏ mọi ngẫu thần để chỉ phụng sự Thiên Chúa đích thực. Vì thế, Chúa Giêsu sẽ thể hiện kiểu mẫu Messia mà Thiên Chúa đã trù định, là làm người Tôi tớ bị lăng nhục và đau khổ mà Isaia đã loan báo. Dĩ nhiên, Người không từ chối việc chinh phục thế giới, nhưng sẽ chỉ chinh phục bằng thập giá mà thôi.

“Họ hầu hạ Người”: Việc các thiên sứ hầu hạ Chúa Giêsu nói lên chân lý này: Chúa Giêsu đã được phong vương ở sông Giođan. Họ cho thấy Nước Trời đã đến bên loài người vì triều đình thiên quốc đang chầu chực quanh Người Con Yêu Dấu. Tuy nhiên các thiên sứ này chỉ can thiệp sau khi Chúa Giêsu đã vượt thắng cơn cám dỗ. Ở đây hình như Matthêu tiên báo điều sẽ xảy ra trong cuộc Tử nạn. Là Đấng có thể xin cấp ngay “hơn 12 cơ binh thiên sứ” (26,53) để thoát khỏi khổ hình thập giá, Chúa Giêsu đã muốn hoàn tất Kinh thánh và phó mình cho Chúa Cha. Sau khi Người đã thắng vượt cơn cám dỗ, các thiên sư mới đến hầu hạ Người, và sau khi Người phục sinh, các thiên sứ mới đi báo tin cho các môn đồ (28, 2-7).

KẾT LUẬN

Đoạn Tin Mừng này của Matthêu trước tiên hoàn toàn mang ý nghĩa thần học. Nó được soạn thảo và lưu truyền không nhằm cho ta biết về một giai thoại trong cuộc đời Chúa Giêsu cho bằng giúp ta hiểu cách Người đã thi hành vai trò Messia ra sao. Satan, một thời gian ngắn trước khi Chúa Giêsu ra mắt công khai, đã cố làm cho Người bất tuân với Chúa Cha bằng cách gợi lên trong Người tâm tình tự lập, muốn từ khước địa vị làm Con để tự do sử dụng các quyền hành Người đã được ban cho. Nhưng thay vì tự chiếm đoạt quyền lực và ỷ mình được Thiên Chúa tuyển chọn như Biệt phái và Sađucêô, Chúa Giêsu đã xóa mình trước mắt Chúa Cha, như dã xóa mình trước mặt Gioan Tẩy giả và sẽ còn xóa mình suốt cả cuộc đời, cho đến lúc chết. Thay vì chiều theo quan niệm của nhân gian về Đấng Messia uy hùng, vinh thắng, Chúa Giêsu đã chấp nhận quan niệm Đấng Messia-tôi tớ khiêm cung.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1) Satan đã đề nghị Ađam trở thành Thiên Chúa: “Ngươi sẽ nên như các thần minh” (St 3,5). Còn đối với Chúa Kitô, nó đề nghị người sử dụng quyền năng thiên sai như một đặc quyền, một khí cụ. Xét cho cùng, tội lỗi luôn luôn là một ý muốn thống trị. Thế mà Thiên Chúa đã cứu thoát con người khỏi tội lỗi nhờ sự yếu đuối của Chúa Kitô, Đấng đã chọn lấy thân phận tôi tớ, và hoàn toàn phó thác vào tay Thiên Chúa.

2) Cám dỗ luôn luôn xoay quanh Lời Chúa, hoặc để vi phạm hoặc để xuyên tạc ý nghĩa. Con rắn quỷ quyệt trong St 3 đã nói ngược Lời Chúa. Nó bảo: “Thiên Chúa đã phán: các ngươi chẳng được ăn cây nào trong vườn cả!… Các ngươi chẳng chết chóc đâu. Nhưng vì Thiên Chúa biết rằng mắt các ngươi sẽ mở ra…”. Tên cám dỗ trong Tin Mừng cũng yêu cầu Chúa Giêsu sử dụng Lời Chúa để biến đá thành bánh, và giải thích lệch lạc ý nghĩa Thánh Vịnh để đẩy Người thử thách Thiên Chúa. Nó cám dỗ Chúa Giêsu sử dụng Lời sáng tạo, Lời cứu rỗi để mưu cầu lợi riêng. Nhưng Chúa Giêsu đã tuân phục và đón nhận Lời Thiên Chúa: “Đã chép rằng…”

3) Khi tình nguyện trở nên người Tôi Tớ chứ không trở nên kẻ thống trị, Chúa Giêsu đã cứu rỗi chúng ta. Người mặc khải cho chúng ta một Thiên Chúa tình yêu, mà ta có thể bắt chước bằng cách tự hạ, tự chối bỏ chính mình. Thiên Chúa đã đến gần nhân loại trong con người của Con Ngài, không phải để bắt nhân loại làm nô lệ, nhưng để phục vụ nhân loại với tư cách là tôi tớ bị đóng đinh.

4) Chúa Giêsu bị cám dỗ, bởi vì xét như là con người, Người phải chứng minh mình là “Con yêu dấu”. Chính vì thế Người phải trải qua, cách cụ thể trong nhân tính của mình, cái kinh nghiệm thế nào là sống như con cái Thiên Chúa, nghĩa là chỉ chờ đợi hạnh phúc ở nơi Thiên Chúa mà thôi. Người Kitô hữu cũng phải trải qua cơn cám dỗ tương tự và phải chọn lựa giữa sự tự tôn cá nhân, coi thường Thiên Chúa và anh em, với thái độ hiếu thảo phục vụ Thiên Chúa và mọi người.

[Mục Lục]

Bài 2. Chú giải của Noel Quession: GIẢI THOÁT NHỮNG THẦN LINH GIẢ

Năm A này dành hết cho việc đọc sách Tin Mừng theo thánh Matthêu về những cám dỗ của Đức Giêsu và sự biến hình của Người. Rồi, chúng ta sẽ có ba tin mừng lớn của Thánh Gioan, theo truyền thống, chuẩn bị cho ‘lễ thanh tẩy’: nước hằng sống của người nữ Samari, người mù từ lúc mới sinh được sáng mắt và Ladarô sống lại. Hôm nay, đây là cuộc chiến đấu lớn lao của Đức Giêsu…sự mời gọi khẩn thiết đi vào trong cuộc chiến đấu riêng của chúng ta trong Mùa Chay.

Bấy giờ Đức Giêsu được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu quỷ cám dỗ.

Ba tác giả Tin Mừng nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa sự cám dỗ Chúa và phép rửa của Người. Về lịch sử, chắc rằng Đức Giêsu đã muốn thực hiện một thứ “tĩnh tâm” trước khi khởi đầu tác vụ của mình. “Hoang địa” là nơi đã tìm thấy thật sự hay dành cho việc đó: nỗi cô liêu và thanh tĩnh mà con người thấy mình đối diện một cách khắt khe với chính mình, mà không có lối tránh né, và tất cả những mặt nạ mà xã hội đem đến cho ta. Matthêu cũng như hai tác giả Tin Mừng kia, đều nhấn mạnh là Đức Giêsu được Thần Khí dẫn đến hoang địa này. Cám dỗ là một phần trong dự tính của Thiên Chúa cho Con Người. Và ở đây chúng ta cũng vậy, chúng ta được cho biết là phép thanh tẩy không làm cho một ai trong chúng ta được miễn trừ không phải chịu các thử thách.

Quả thực, ngoài ý nghĩa có phần ngây thơ của từ “cám dỗ”, Kinh Thánh sử dụng từ này để chỉ “thử thách”. Theo nghĩa này, cám dỗ có một cái gì tích cực. Không phải là một tình yêu được thử thách để biết xem nó có thực sự vững bền và chân thật sao? Như thế Đức Giêsu sắp chịu thử thách bởi chính Thánh Thần của Thiên Chúa, cũng như thể xưa kia dân Do Thái trong hoang địa với cuộc Xuất Hành: “Thiên Chúa của anh em đã dẫn anh em đi suốt bốn mươi năm nay trong sa mạc, để bắt anh em phải cùng cực; như vậy người thử thách anh em để biết lòng dạ anh em, xem anh em có giữ các mệnh lệnh của người hay không? (Đnl 8,2).

Xin Thánh Thần giúp chúng ta xem xét những thử thách của chúng ta theo cách thế tích cực này; trong khi nghĩ rằng Đức Giêsu, người Con hoàn toàn, người công chính vẹn toàn, đã tìm thấy trong những thử thách của con người, sự nâng cao chính tình yêu của Người, của lòng trung tín của Người với Chúa Cha.

Người ăn chay ròng rã bốn mươi ngày và sau đó Người thấy đói.

Trong câu truyện của Matthêu, ta không phải tìm trước hết một sự mô tả cụ thể về “điều đã xảy ra”. Đàng sau những chi tiết, ta cần khám phá ra một ý nghĩa thần học. Matthêu rõ ràng đã đạo diễn, trong khúc đầu cuộc đời công khai của Đức Giêsu, những cám dỗ mà thực sự người đã cảm nghiệm trong suốt cuộc đời mình: lúc nào cũng vậy, Đức Giêsu phải tự bênh vực khi sử dụng thiên tính của mình để tránh cho mình khỏi những lo âu của con người (Mt 12,24-30; 16,23; 26-59 – 27-40).

Kiểu nói “bốn mười ngày và bốn mươi đêm” chẳng hạn, là một phần của kiểu nói biểu tượng của Kinh Thánh: con số ước lệ chỉ thời gian cần thiết cho sự trưởng thành của đời người. “Bốn mươi” là thời gian Israel ở trong sa mạc, thời gian đi của ngôn sứ Elia đến Núi Chúa, thời gian của Đấng Phục sinh hiện ra. (Đnl 8,1-5; 1V 19,8; Cv 1,3).

Bấy giờ tên cám dỗ đến gần Người và nói: Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì truyền cho những hòn đá này hóa bánh đi!

Không cần phải làm dịu Tin Mừng đi; ngay như nếu có thể giải thích bằng nhiều cách, để có thể áp dụng vào cuộc sống chúng ta trên nhiều diện khác nhau, sự cám dỗ đầu tiên này của Đức Giêsu, chẳng hạn, không có lý do nào để nghĩ rằng nó chỉ có tính cách thiêng liêng mà thôi: Đức Giêsu đã thực sự thấy đói, trong quá trình cuộc đời mình. Người đã bị đụng chạm đến, bị nao núng, bị dày xé ở ngay chính thân xác mình… và không phải chỉ trong quá trình một cuộc ăn chay khắc khổ trong hơn một tháng. Cám dỗ đầu tiên là cám dỗ chống lại sự cậy trông: người ta lồng lộn trước thử thách, trước đau khổ; người ta xin Chúa bỏ đi tất cả những gì gây đau khổ cho chúng ta. Sự xấu mà chúng ta phải chịu, sự xấu tác động đến những kẻ vô tội, cái đói bất công của một bộ phận trong nhân loại, đấy là sự phản kháng lớn lao và sự phản kháng đầu tiên chống lại Thiên Chúa. Lúc đó người ta bị cám dỗ cáo giác Thiên Chúa… hoặc là xin Người giải quyết trực tiếp những vấn đề của chúng ta.

Cám dỗ đầu tiên có thể được giải thích qua cuộc tranh chấp giữa xác thịt và tinh thần. Các giác quan của chúng ta cảm thấy đói, và chúng ta đi tìm các thực phẩm trần thế để làm dịu cơn đói. Và đó là điều tốt, làm đẹp lòng Thiên Chúa. Nhưng trong lãnh vực này đặc biệt, chúng ta biểu sự tự chủ cạnh ta: sự vui thỏa dễ dãi không nỗ lực xây dựng những người đàn ông và đàn bà có một giá trị.

Xã hội tiêu thụ với chủ nghĩa duy vật thực tiễn, có nguy cơ hạ thấp con người xuống ngang mức với tầm vóc sơ đẳng nhất.

Nhưng Người đáp: “Đã có lời chép rằng: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời Thiên Chúa phán ra” (Đnl 8,3).

Ba câu trả lời Của Đức Giêsu cho kẻ cám dỗ được rút ra từ trong sách Đệ Nhị Luật. Kinh Thánh đề ra một cách đọc lại thần học về 40 năm cuộc đời trong sa mạc Sinai, và những đòi hỏi của Giao ước. Đức Giêsu được giới thiệu đây như một Israel mới. Nhưng Đức Giêsu là người chiến thắng, trong khi dân Thiên Chúa, bị thử thách vì đói và khát, đã sa ngã trong khi lẩm bẩm kêu trách Chúa (Xh 6,8). Câu trả lời của Đức Giêsu luôn luôn có tính thời sự, và chất vấn chúng ta một cách mạnh mẽ: chúng ta cảm thấy đói cái gì nhất? Những thỏa mãn trần thế có thể sẽ khiến chúng ta hư mất? Hay lời Thiên Chúa có thể cứu chúng ta khỏi mọi thử thách? Lạy Chúa, xin giúp chúng con, tin cậy vào Chúa cho đến cùng. Xin ban cho chúng con lòng cậy trông.

Sau đó quỷ đem Người đến thành thánh, và đặt Người trên nóc đền thờ, rồi nói với Người: Nếu ông là Con Thiên Chúa. thì gieo mình, xuống đi! Vì đã có lời chép rằng: Thiên Chúa sẽ truyền thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng cho bạn thỏi vấp chân vào đá (Tv 91,11-12). Nhưng cũng có lời chép rằng: Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi (Đnl 6,16)

Nếu sự đau khổ (cơn đói) thử thách lòng tin của chúng ta vào Chúa, thì bây giờ đây là cám dỗ thứ hai, có tính điển hình của dân Chúa, của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, và của những tín hữu chúng ta; đó là thử thách về lòng tin. Israel trong sa mạc 40 năm đã xin Chúa cho những dấu hiệu lạ lùng để Thiên Chúa chứng tỏ là mình có hiện hữu không! Chúa có ở với chúng tôi không, có hay không? (Xh 17,1-7). Và Đức Giêsu, suốt cuộc đời Người đã bị cám dỗ thoát ra khỏi thân phận con người của mình, đạt tới kết quả sau cùng của sứ mệnh Người bằng các phương tiện dễ dãi là phép lạ: công luận của thời đại người ta trông đợi một Đấng Mêsia siêu việt, Người sẽ tỏ ra một cách rõ ràng quyền năng của Thiên Chúa; có lời cho những tín hữu bằng cách thực hiện những dấu hiệu chói lòa: họ xin Đức Giêsu cho họ một dấu chỉ xuống từ trời (Mt 16,1; 12,39; 24,3).

Bằng tất cả sức mạnh sống động của con người trai trẻ và năng động, Đức Giêsu đã luôn bị cám dỗ để làm ra vẻ Thiên Chúa Toàn Năng. Và không phải là không bị dày xé mà Người đã chọn làm Đấng Mêsia nghèo nàn, bị hạ nhục bị đè nén bởi đám đông và những nhà chức trách ở thời Người.

Mọi tín hữu đến lượt mình đều phải chờ đợi lúc mình phải chịu cám dỗ “chống lại lòng tin” này: đó là sự cám dỗ và sự chân không, cái ấn tượng gieo mình vào chân không khi người ta tin vào Chúa. Người ta có lẽ muốn rằng Thiên Chúa phải hiển nhiên hơn. Và Người là Thiên Chúa ẩn giấu. Có lẽ người ta muốn cảm nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa trong những kinh nguyện hay trong việc phụng tự của chúng ta. Và Thiên Chúa thinh lặng… và sự “tự mập mờ” không làm cho người ta thích thú. Thiên Chúa không gây thú vị lắm bởi vì Người không đáp ứng cho họ những chuẩn mực của chúng ta. Có lẽ người ta muốn tác động lên Người, làm ra một Thiên Chúa phục vụ chúng ta, một Thiên Chúa có lẽ làm chân chúng ta khỏi vấp vào đá trên đường đi. Và Thiên Chúa để cho chúng ta tự trị và tự chịu trách nhiệm: chính bạn, bạn hãy tránh những hòn đá và nếu bạn vấp phải, đừng chờ phép lạ: nhưng không phải vì thế mà Tôi không hiện hữu… bởi vì Tôi là thực thể hoàn toàn khác. Lạy Chúa, xin giúp con tin tưởng. Xin cho chúng con đức tin.

Quỷ lại đem Người lên một ngọn núi rất cao và chỉ cho Người thấy tất cả các nước thế gian, và vinh hoa lợi lộc của các nước ấy, và bảo rằng: Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó nếu ông sấp mình bái lạy tôi. Đức Giêsu liến nói: Xatan kia, kéo đi! Vì đã có lời chép rằng: Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi. Thế rồi quỷ bỏ Người mà đi, và có các thiên sứ tiến đến hầu hạ Người.

Ta hãy lột bỏ tất cả những tưởng tượng về các biểu tượng ấu trĩ quá đơn giản. Thật hiển nhiên là Matthêu, không hơn chúng ta, đã không bị lừa về ngôn từ của nó. Không có ngọn núi nào ở thế gian mà từ đó người ta có thể trông thấy “tất cả” các nước trên trái đất! Đó là một cách nói. Đó là một thị kiến nội tâm, mà không phải là một hiện tượng vật lý. Sau thử thách về lòng cậy trông và lòng tin, thì đây có lẽ là ‘thử thách về tình yêu’. Dân Israel trong cuộc xuất hành của mình, bị cám dỗ bỏ giao ước, một hôn ước tình yêu với Thiên Chúa thật, để hiến thân cho các “thần tượng” ngoại tình một cách nào đó (Xh 23,20-33). Thứ ngôn từ biểu trưng của Matthêu, nó có sức gợi cảm mạnh mẽ biết mấy! Xatan đã đòi các vương quốc trên thế gian làm tài sản riêng của nó. Nó là chủ, là ông hoàng của thế giới này. Đức Giêsu đã lột mặt nạ đối phương. Ở đây Chúa Giêsu, chỉ thẳng tên Xa-tan; đó là một tên phản Thiên Chúa! Chính y là kẻ đòi loài người phải thờ phụng y.

Đúng thế, chúng ta bị cám dỗ Thiên Chúa hóa tất mọi sự vật. Đông đảo biết bao các thần tượng của chúng ta. Tất cả những thứ luôn cố đoạt lấy địa vị của Thiên Chúa: tiền bạc, tiện nghi, uy tín, thống trị, quyền lực, thú vui, các ý thức hệ, môi trường của chúng ta… hay là nhiều thứ ba láp này kia mà chúng ta gán cho tầm quan trọng lớn lao biết bao!

Chỉ một mình Thiên Chúa là Thiên Chúa. Mùa chay này được ban cho chúng ta để chúng ta được giải thoát những thần linh giả.

[Mục Lục]

Bài 3. Chú giải của Fiches Dominicales: DỨT KHOÁT CHỌN LẦY SỰ VÂNG PHỤC

Chịu ma quỷ cám dỗ, Đức Giêsu đã có lựa chọn của một Người Con, phó thác trọn vẹn thân phận trong tay Cha. Câu chuyện được xem như điển hình cho tất cả những thử thách Người phải chịu cho đến hơi thở sau cùng.

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Trung thành với phép rửa đã nhận, một chọn lựa trước sau như một của Đức Kitô.

Cả ba Tin Mừng Nhất lãm đều thuật lại câu chuyện Đức Giêsu chịu ma quỷ cám dỗ trong hoang địa, và cả ba đều nối kết chặt chẽ câu chuyện này với phép rửa Người đã nhận trong dòng sông Giođan. Thánh sử Máccô viết: “Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa. Người ở đó bốn mươi ngày, chịu Satan cám dỗ” (Mc l,12). Thánh Luca kể: “Đức Giêsu được đầy Thánh Thần, từ sông Giođan trở về, và được Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu quỷ cám dỗ” (Lc 4,1). Còn thánh sử Matthêu cũng nhấn mạnh rằng nếu Chúa Giêsu, sau khi đã chịu phép rửa, chịu quỷ cám dỗ, là vì Người được Thần Khí đưa dẫn. Cũng chính Thần Khí ấy đá đáp xuống và ngự trên Người, bên bờ sông Giođan, trong lúc có tiếng từ trời phán rằng: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người”.

Câu chuyện Đức Giêsu chịu cám dỗ J.Guillet nhận định theo cả ba Tin Mừng Nhất lãm, gắn liền với câu chuyện Chúa chịu phép rửa. Matthêu viết rõ: “Ngay sau khi ngự trên Đức Giêsu, Thần Khí dẫn Người vào hoang địa chịu quỷ cám dỗ (Mt 4,1). Bài tường thuật về cơn cám dỗ và phép rửa của Chúa làm thành một tập hợp riêng, liên can đến quãng thời gian Đức Giêsu chưa thực sự bắt đầu sứ vụ công khai của Người. Không hoàn toàn lặng lẽ ẩn mình như trong thời thơ ấu, nhưng Chúa có vẻ như để mình bị động từ bên ngoài: Từ Thiên Chúa là Đấng đã lên tiếng phán, từ Thần Khí dẫn Người vào hoang địa, và điều lạ lùng là ngay cả từ ma quỉ, cho nó lân la lại gần, dụ dỗ Người, và hình như có thể điều khiển được cả thân xác Người. Người ta có thể xem lúc này chỉ giai đoạn chuẩn bị. Thực ra đây là một luồng sáng chiếu rọi trước vào suốt lịch sử đang đến: lịch sử của Con Thiên Chúa và lịch sử của cả nhân loại. Toàn thể cuộc đời của Đức Giêsu, diễn ra trong ánh sáng của tiếng Chúa Cha xác nhận: đây là Con yêu dấu của Ta, dù bên cám dỗ cứ tha hồ rên rỉ: “Nếu ông là Con Thiên Chúa”.

Trong lúc bài tường thuật của Máccô rất ngắn gọn vỏn vẹn chỉ có một câu, thì Matthêu và Luca không ngần ngại dàn dựng cả một câu chuyện đầy tính biểu tượng. Đây là một hình thức văn chương khá quen thuộc đối với những độc giả của các ông, là những người đã thấm nhuần văn hóa Do Thái. Xung quanh ba cơn cám dỗ con số tượng trưng cho sự viên mãn đầy đủ. Câu chuyện muốn tổng hợp tất cả cơn cám dỗ liên lỉ mà Chúa Giêsu phải chịu cho đến giây phút cuối cuộc đời.

Và để cho thấy rõ ràng, Đức Giêsu với tư cách là Môsê mới, đang thực hiện lại cuộc hành trình của Dân Thiên Chúa tiến về Đất hứa, Matthêu và Luca đã cố ý lựa chọn mặc dù khác nhau đôi chút về thứ tự “ba nơi chốn có tính cách biểu tượng của lịch sử Israel, đó là: Hoang địa, là nơi Dân Chúa chịu thử thách đầu tiên; Đền Thờ, là chỗ Dân Chúa tụ họp để tôn thờ sự hiện diện của Thiên Chúa, Núi Cao là nơi Môsê sẽ nhận lệnh Lề luật của Chúa, và núi Nê-bô là địa điểm từ đó ông đã nhìn về Đất Hứa” (J.Potin, Jésus, l’histoire vraie, Centurion, 1994 trang 114).

2. Giữa hoang địa – Niềm cậy trông tuyệt đối vào Thiên Chúa.

Cơn cám dỗ đầu tiên có khung cảnh là “hoang địa”. Đối với dân tộc Do Thái, đây là nơi chốn tượng trưng cho sự gần gũi Thiên Chúa, đồng thời cho sự thử thách làm sáng tỏ đáy lòng con người (chay tịnh, nhịn đói là nhằm thử lòng mình đối với Thiên Chúa); Hoang địa còn là nơi có tính cách biểu tượng cho mọi khởi đầu: Đức Giêsu ăn chay ở đây suốt bốn mươi đêm ngày, cũng như Môsê ngày xưa trên núi Sinai, trước khi đón nhận luật Giao ước. J.Guillet viết: đối với cư dân miền Palestine, hoang địa vừa là một phong cảnh cụ thể, nhìn thấy được từ đỉnh của dãy núi chính, vừa là một kỷ vật gợi nhớ lại thời các tổ phụ, đồng thời cũng là hình ảnh đầy ý nghĩa về những cách Thiên Chúa đã xử sự với dân Người. Có khi là những tai họa khổ đau Người để dân phải chịu, có khi là niềm an ủi, vỗ về Người dành cho họ. Trong ký ức của người Do thái, hành trình đi qua hoang địa vừa là quãng thời gian thiêng liêng của biến cố núi Sinai, cũng như của việc ban bố Lề luật, vừa là giai đoạn đen tối của thói kêu ca lẩm bẩm và những hành động chống đối của dân chúng, thời gian của Thiên Chúa và cũng là thời gian của ma quỉ, chính Đức Giêsu đã tự ý bước vào đó” (sđd, trang 44-45).

- Trong hoang địa, khi chịu cái đói thử thách “để cho biết lòng dạ chúng ra sao” (Nhị Luật 8,2), con cái Israel đã nghi ngờ Thiên Chúa. Họ đã tỏ ra không dám cậy dựa vào một mình Lời Chúa, không dám tin tưởng vào các lời hứa của Người. Họ lẩm bẩm kêu ca: “Thà rằng chúng ta chết bởi tay Thiên Chúa ở đất Ai Cập thời ấy được ăn uống no nê” (Xh 16,3). Và Người đã ban mana xuống cho họ.

- Trong hoang địa, Đức Giêsu cũng phải trải qua cơn cám dỗ như thế: cơn cám dỗ về sự dễ dãi tiện nghi, muốn ‘có tất cả, có liền’. Hãy truyền cho những hòn đá này hóa bánh đi, tên cám dỗ đã dụ Người.

- J.Radermakers giải thích: “Tiếng nói đã mời mọc Đức Giêsu biến đá sỏi sa mạc thành mâm đồ ăn ngon, thành tiếng nói của bản năng và xác thịt loài người luôn có xu hướng bóp nghẹt sự sống của Thiên Chúa” (Au fil de l’Evangile selon saint Matthieu”, trang 67). Nhưng Đức Giêsu đã có lựa chọn của “Người Con”; Người đáp lại bằng cách trích dẫn sách Đệ Nhị Luật, chương 8 câu 3, liên hệ đến câu chuyện về bánh manna; “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra”. Trái với dân Israel trong hoang địa xưa, Đức Giêsu hoàn toàn phó thác nơi Chúa Cha, Người chỉ cậy dựa vào một mình Lời của Thiên Chúa. Rồi đây trong suốt cuộc đời hoạt động của Người, Đức Giêsu sẽ trở thành mục tiêu công kích của những, đối thủ. Họ đòi Chúa phải cho họ thấy những dấu chỉ tỏ tường, để minh chứng điều Người tự xưng về mình. “Bấy giờ, có những người thuộc phái Pharisêu là phái Xa-đốc lại gần Đức Giêsu”, Matthêu dùng lại từ ngữ của bài tường thuật Cám Dỗ, và để thử Người, thì xin Người cho thấy một dấu lạ từ trời” (Mt 16,1). Nhưng cho đến giây phút cuối, Đức Giêsu vẫn muốn là một Đấng Cứu Thế nghèo, nhận lãnh tất cả từ Chúa Cha.

3. Trên nóc Đền Thờ – Chấp nhận con đường đau khổ.

Cơn cám dỗ thứ hai có khung cảnh là nóc “Đền Thờ”, nơi là dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện và che chở Dân của Người.

- Trong hoang địa, khi chịu cái khát thử thách, con cái Israel đã phải trải qua đêm tối của đức tin, khiến họ nghi ngờ và chống đối. Thiên Chúa đã dẫn họ vào hoang địa phải chăng để bỏ rơi họ trong cảnh tuyệt vọng “Có thực Thiên Chúa ở với chúng ta hay không? (Xh 17), họ lẩm bẩm với nhau như thế. Họ đã đi đến chỗ “thách thức” Thiên Chúa xem Người: có thể cung cấp nước uống cho họ trong hoang địa, họ “thử thách Người”.

- Đức Giêsu cũng phải trải qua cơn cám dỗ như thế: cơn cám dỗ về quyền lực. “Gieo mình xuống đi!”, tên cám dỗ xúi Người bằng cách xuyên tạc một câu của thánh vịnh 90: “Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá”.

Một lần nữa, Đức Giêsu đã có chọn lựa của “Người Con”; Người đáp lại bằng cách trích dẫn sách Nhị Luật, chương 6, câu 16, liên hệ đến chuyện dân Do Thái kêu ca, và Thiên Chúa đã ban cho họ mạch nước tràn trề từ tảng đá: “Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi”. Khác với Israel trong hoang địa xưa, Đức Giêsu không bao giờ tìm cách thử xem Thiên Chúa có hiện diện trong cuộc đời mình hay không. Người bước đi mà không cho dấu chỉ nào, không yêu cầu bằng chứng nào, trong suốt sứ vụ, và nhất là trên thánh giá, vào giờ phút đen tối nhất, khi chính Chúa Cha cũng lặng thinh, Đức Giêsu đã chịu cơn cám dỗ: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy tự cứu lấy mình và xuống khỏi thập giá đi”, những đối thủ của Chúa đã buông lời thách thức, lập lại lời của tên cám dỗ trước kia. Nhưng Đức Giêsu, cho đến cùng vẫn trung thành với chọn lựa là một vị Cứu Thế khiêm cung, hoàn toàn phó thác mình cho Chúa Cha.

4. Trên núi cao – chọn lựa một đường lối cứu thế, bằng phục vụ.

Cơn cám dỗ thứ ba, theo Tin Mừng Matthêu, có khung cảnh “một ngọn núi rất cao”. Nghe nói đến địa điểm này, người Do Thái chắc chắn sẽ liên tưởng đến ngọn núi Nê-bô ông Môsê đã lên để nhìn từ biệt Đất Hứa. Trên đó, Thiên Chúa đã chỉ cho ông xem thấy toàn bộ miền đất (Đnl 34,1), và thêm: “Miền đất này, ngươi sẽ chẳng được vào” (Đnl 34,4). Ở đây, Đức Giêsu là Môsê mới, đang chuẩn bị dẫn dắt đoàn dân của Người đến Đất Hứa Nước Trời, Người được tên cám dỗ chỉ cho thấy tất cả các nước thế giới và vinh hoa lợi lộc của các nước ấy.

- Trong hoang địa, con cái Israel bị hoang mang trước tương lai bất định, đã chịu thua cơn cám dỗ. Họ đã bỏ quên Thiên Chúa độc nhất, Đấng đã cứu họ khỏi đất Ai Cập, để chạy theo các thần ngoại khác dễ dãi, dễ sai khiến, dễ chiều theo ý muốn của họ, sẵn sàng bảo đảm cho họ giấc mơ quyền lực và mộng bá chủ: “Hãy làm cho chúng tôi những vị thần để đi trước chúng tôi”, họ yêu cầu ông Aaron (Xh 32,33); và Aaron đã làm cho họ một con bò vàng.

- Chính Đức Giêsu cũng đã phải trải qua cơn cám dỗ như thế: cơn cám dỗ về sức mạnh trần thế, dụ dỗ Người theo đuổi một đường lối cứu thế kiểu trần gian, chiều theo những mong đợi và tham vọng loài người. “Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó, nếu ông sấp mình bái lạy tôi”, tên cám dỗ hứa hẹn với Chúa như thế. Lần thứ ba, Đức Giêsu lại có chọn lựa của “Người Con”. Người đáp lại bằng cách trích dẫn Sách Nhị Luật, chương 8, câu 17-18, hiển nhiên có liên can với câu chuyện bò vàng: “Satan kia, xéo đi! Vì có lời chép rằng: ngươi phải bái lạy Đức Giêsu là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi. Khác xa dân Israel xưa trong hoang địa, Đức Giêsu khước từ mọi thỏa hiệp: Người dứt khoát đi theo con đường cứu thế bằng phục vụ chứ không phải bằng sức mạnh thống trị.

- Trong suốt sứ vụ, Đức Giêsu phải thường xuyên đương đầu với cơn cám dỗ ấy. Cơn cám dỗ đến không chỉ từ phía những đối thủ hay đám đông dân chúng đi theo mà thôi, nhưng còn ngay từ những bạn hữu của Người, những kẻ Người sẽ giao trách nhiệm kế tục sứ mạng của Người. “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy”, Phêrô đã lên tiếng can ngăn, thay mặt cho cả nhóm không muốn thấy Đức Giêsu, Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, mà phải rơi vào số phận bi đát như thế. Đức Giêsu Kitô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ bởi các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại”. Và Đức Giêsu đã nghiêm khắc đáp lại, tương tự lời Người đã nói với tên dỗ: “Satan, lui lại đằng sau Thầy! Anh cản lối Thầy vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người (Mt 16,16-23). Cho đến cùng, Đức Giêsu vẫn chọn làm một vị Cứu Thế tôi tớ đau khổ mà các ngôn sứ đã loan báo.

J. Potin kết luận: “Nếu Đấng được Thiên Chúa chọn đã vẻ vang vượt qua được cơn cám dỗ lần này, thì thử thách thực sự vẫn còn trước mắt. Như thánh sử Luca kết ở cuối câu chuyện: “Sau khi đã xoay hết cách để cám Người, quỷ bỏ đi, chờ đợi thời cơ (Lc 4,13). Đâu là khuôn mặt cứu thế mà Đức Giêsu phải đảm nhận. Phải chăng là khuôn mặt của Đavit, người của Thiên Chúa, và cũng là người của những cuộc chinh chiến chống lại quân thù. Phải chăng là khuôn mặt của Người Tôi Tớ Thiên Chúa mà chúng ta sẽ thấy được khắc họa ngày càng rõ nét. Matthêu và Luca có ý cho thấy ngay trước bắt đầu sứ vụ, vừa lãnh phép rửa xong, Đức Giêsu đã chọn lựa. Đấng được Thiên Chúa chọn, là Con Thiên Chúa, đã dứt khoát chọn lấy sự vâng phục trọn vẹn Lời của Thiên Chúa” (Sđd, trang 117).

BÀI ĐỌC THÊM

1. Mối liên lạc thâm sâu giữa Phép Rửa và cám dỗ: (“J.Guillet, “Jésus la foi des premiers disciples” Desclée de Brouwer, 1995, trang 46-47).

“Mối liên lạc thâm sâu giữa Phép Rửa và cám dỗ chính là mối liên lạc của đức tin, nơi Đức Giêsu và nơi chúng ta. Cơn cám dỗ rõ ràng là một trong những chỗ mà người ta không thể nào hiểu được Đức Giêsu nếu không nói đến niềm tin của Người. Sống nhờ những gì Thiên Chúa ban cho, hoàn toàn vâng phục Thiên Chúa, một mình đối diện trước hư không, trước một tương lai vô định, dưới nhiều dạng khác nhau, đó chính là kinh nghiệm của đức tin. Và nếu, theo các sách Tin Mừng, kinh nghiệm ấy đi liền với biến cố Phép Rửa, là bởi vì trong biến cố ấy, nó đóng một trai trò rất quan trọng. Và bằng chứng đây là vấn đề của đức tin, đó là những cám dỗ của Đức Giêsu cũng chính là những cám dỗ của Dân Chúa trong hoang địa. Khi thắng những cám dỗ ấy, Chúa muốn đồng thời chỉ cho họ thấy họ đang thiếu cái gì và hôm nay Người mang đến cho họ cái gì. Bây giờ nếu trung thành với những chỉ dẫn của các sách Tin Mừng, đối chiếu hai biến cố phép rửa và cám dỗ của Đức Giêsu, người ta sẽ có thể nhận ra được chỗ đứng đặc biệt của đức tin nơi cả hai đoạn. Kết quả đối chiếu bề ngoài có vẻ mâu thuẫn: phép Rửa là nơi tràn ngập sự hiện diện của Thiên Chúa, là nơi vang rền tiếng phán từ trời cao, trái lại, cám dỗ là chỗ của sự xa vắng, của đói khát, của trống trải hư không. Phải nói rằng Đức Giêsu đã lần lượt nếm qua cả hai kinh nghiệm chính yếu trên.

Đối lại với lối giải thích nông cạn đó, chúng ta phải để ý đến cách suy luận rất rõ của các Tin Mừng, đến sự nhấn mạnh của các sách ấy vào mối liên lạc thâm sâu giữa hai khoảng khắc. Không phải chỉ đơn giản là sự tương phản ở hiện tượng bên ngoài, nhưng là một sợi dây nối hết sâu bên trong. Trong câu chuyện này hay câu chuyện kia, nội dung vẫn là Chúa Con trong tương quan với Thiên Chúa. Là Con Thiên Chúa, điều đó mang đến một lúc hai ý nghĩa không thể tách rời nhau: là lắng nghe tiếng nói yêu thương của Chúa Cha, và trọn vẹn vâng phục thánh ý Người. Cả hai làm thành đức tin, đức tin của Con Thiên Chúa.

Đúng là người tín hữu thường phải sống đức tin trong tâm trạng xa vắng và đêm tối tâm hồn. Không có sự xa vắng đó, đức tin sẽ biến chất và tiêu tan thành một thứ thị kiến ảo ảnh. Nhưng ngay trong tâm trạng xa vắng đó người tín hữu kinh nghiệm một sự gặp gỡ, một sự hiện diện. Thánh Gioan Thánh Giá đã xây dựng toàn bộ học thuyết của mình trên lời dạy này: nhận biết Thiên Chúa qua đức tin chính là đã đạt được Người trong chân lý của Người, ngay từ cuộc đời này. Cuộc gặp gỡ trong đêm tối này, niềm xác tín thường chỉ là vô thức này, chính là trung tâm, cốt lõi của đức tin chân thực, chỉ với một đức tin như vậy chúng ta mới nhận biết một vị Thiên Chúa thật. Đức tin một trật vừa là ánh sáng rực rỡ, Vừa là bóng tối thẳm sâu. Cũng thế, một cách bất khá phân ly, ánh sáng của Phép Rửa cùng với đêm tối của Cám Dỗ, làm nên đức tin của Đức Giêsu Kitô, mầm mống của đức tin chúng ta.

2. “Những cám dỗ của Đức Giêsu cũng là của chúng ta hôm nay”.

“Chúng ta thấy: những cám dỗ của Đức Giêsu cũng là của chúng ta hôm nay. Chẳng có gì phải ngạc nhiên. Chúng ta biết rằng nơi Đấng là Đầu, toàn Thân Mình đã chiến thắng cám dỗ. Chính nhờ cậy dựa vào Người mà đến lượt mình chúng ta có thể thoát được cạm bẫy của tên cám dỗ. Đức Giêsu dạy chúng ta phải đương đầu như thế nào: bằng cách chạy đến với Lời Chúa. Lời Chúa soi đường chỉ lối cho chúng ta đi. Lời Chúa chở che, bảo đảm cho chúng khỏi bị lầm lạc. Thật là nguy hiểm nếu chúng ta để mình buông theo xu hướng tự nhiên của loài người? ma quỉ cũng không mong gì hơn chúng ta đồng lõa với chúng như thế. Khi ấy Lời Chúa sẽ là thành lũy bảo vệ chúng ta.

[Mục Lục]

Bài 4. Chú giải và gợi ý suy niệm của Lm. Inhaxiô Hồ Thông: Đức Giê-su chịu thử thách trong hoang địa

Hằng năm, vào Chúa Nhật I Mùa Chay, Tin Mừng tường thuật cho chúng ta chuyện tích “Đức Giê-su chịu thử thách trong hoang địa”.

Các Bài đọc

Hằng năm, vào Chúa Nhật I Mùa Chay, Tin Mừng tường thuật cho chúng ta chuyện tích “Đức Giê-su chịu thử thách trong hoang địa”. Vì thế, vào năm A này, phụng vụ mời gọi chúng ta lắng nghe và suy gẫm chuyện tích Đức Giê-su chịu thử thách trong hoang địa theo Tin Mừng Mát-thêu.

St 2,7-9; 3,1-7

Bài đọc 2 trích từ sách Sáng Thế mô tả, theo hình thức gợi hình, sự thử thách của người phụ nữ đầu tiên. Được đặt trước một sự chọn lựa: hoặc nương tựa vào Đấng Tạo Hóa, hay tự mình quyết định theo sự tự do của riêng mình, người phụ nữ này sa ngã trước sự thử thách và kéo theo nhân loại.

Rm 5,12-19

Trong Thư gởi các tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô gợi lên rằng nhân loại từ nguyên thủy mang lấy dấu ấn của tội lỗi, nhưng nhờ Đức Giê-su, cắt đứt với A-đam và được tái sinh trong muôn vàn ân sủng.

Mt 4,1-11

Tin Mừng Mát-thêu tường thuật việc Đức Giê-su chịu thử thách trong hoang địa. Xa-tan đề nghị cho Ngài những con đường cứu thế khác với con đường thập giá mà Chúa Cha đã chọn.

Gợi ý Bài giảng

Chuyện tích “Đức Giê-su rút vào hoang địa và chịu ma quỷ cám dỗ” được cả ba Tin Mừng Nhất Lãm thuật lại. Dù có nhiều chi tiết khác nhau, tuy nhiên cả ba đều đặt biến cố này ngay sau khi Đức Giê-su chịu phép rửa bởi Gio-an Tẩy Giả. Cả ba Tin Mừng đều nhấn mạnh rằng việc Đức Giê-su rút lui vào hoang địa và chịu ma quỷ cám dỗ là dưới tác động của Chúa Thánh Thần.

1. Gốc tích câu chuyện:

Không ai được chứng kiến tận mắt biến cố nầy, vì thế phải giả sử rằng nguồn cung cấp duy nhất của mọi dữ kiện nầy không ai khác hơn ngoài Đức Giê-su. Đây là cuộc chuyện trò riêng tư giữa Thầy và trò. Vì thế, chúng ta đến câu chuyện nầy với lòng cung kính tuyệt đối, vì qua đó Đức Giê-su đã thổ lộ những sâu kín trong lòng của Ngài. Ngài đã cho loài người biết kinh nghiệm của chính Ngài. Đây là câu chuyện thánh hơn hết vì qua đó Đức Giê-su muốn nói với mỗi người rằng Ngài có thể giúp đỡ chúng ta trong những chước cám dỗ. Từ những cuộc chiến đấu của chính Ngài, Ngài đã cho chúng ta thấy Ngài có thể giúp chúng ta trong cuộc chiến đấu của chính chúng ta. Vào cuối đời, Đức Giê-su đã có thể nói với các môn đệ: “Còn anh em, anh em vẫn một lòng gắn bó với Thầy, giữa những lúc Thầy gặp thử thách gian nan” (Lc 22,28). Vả lại, Đức Giê-su ám chỉ rõ ràng đến sự chiến thắng của Ngài trên quyền lực quỷ vương trong dụ ngôn về một kẻ mạnh bị trói. Đám đông hỏi Ngài nhờ ai mà Ngài xua trừ ma quỷ, Đức Giê-su trả lời: “Làm sao người ta có thể vào nhà một kẻ mạnh và cướp của được, nếu không trói kẻ mạnh ấy trước đã, rồi mới cướp sạch nhà nó?” (Mt 12,29).

2. Hoang địa:

Hoang địa nơi Đức Giê-su rút lui là sa mạc Giu-đê, trải dài giữa Giê-ru-sa-lem và Biển Chết. Dãi đất hoang vu nầy toàn cát vàng, đá vôi bể vụn và đá sỏi rải rác. Đó là nơi Đức Giê-su thấy mình trơ trọi hơn bất cứ nơi nào khác trong toàn xứ Pa-lét-tin. Những chước cám dỗ đã có thể mặc lấy hình thức của cuộc tranh luận nội tâm, diễn ra trong suốt cuộc rút lui vào hoang địa nầy như hai thánh Mác-cô (Mc 1,13) và Lu-ca (Lc 4,2) gợi ra, đoạn đạt đến cực điểm, vì sự yếu nhược thể lý của Đức Giê-su, do bởi ăn chay lâu dài như thánh Mát-thêu gợi ra (Mt 4,3).

Đức Giê-su chuẩn bị sứ mạng của mình trong thinh lặng, cầu nguyện và chay tịnh. Hơn nữa, khi người ta ăn chay, có nghĩa người ta khiêm tốn nhận ra mình là tội nhân. Việc Đức Giê-su chay tịnh được định vị vào trong tiến trình nối tiếp sau việc Ngài chịu phép rửa, như vậy Ngài cũng muốn được liên đới với toàn thể nhân loại tội lỗi.

Đồng thời, Đức Giê-su cũng bày tỏ ước nguyện của mình là thu tóm ở nơi bản thân mình vận mệnh của dân Ngài. Như dân Ngài, Ngài đã kinh qua cuộc lưu đày ở Ai-cập khi còn ấu thơ (Mt 2,13-16); bây giờ, Ngài trải qua kinh nghiệm ở hoang địa bốn mươi đêm ngày, con số này nhắc nhở bốn mươi năm dân Do Thái đã trải qua trong hoang địa, cũng như bốn mươi đêm ngày ông Mô-sê chuẩn bị để đón nhận những lời Giao Ước trên núi Xi-nai.

Chính ông Mô-sê mà thánh ký đặc biệt nghĩ đến, như được bày tỏ trong chuyện tích cám dỗ này. Như ông Mô-sê xuống núi Xi-nai để công bố Giao Ước, Giao Ước này thiết lập dân Ít-ra-en thành dân Chúa chọn; cũng vậy, Đức Giê-su sẽ rời bỏ hoang địa để thiết lập một Giao Ước Mới và khai sinh một dân Ít-ra-en mới. Song đối với bốn mươi ngày trong hoang địa, chúng ta cũng sẽ gặp thấy cùng khoảng thời gian giữa biến cố Phục Sinh và biến cố Thăng Thiên của Đức Giê-su: “Trong bốn mươi ngày, Ngài đã hiện ra nói chuyện với các ông về Nước Thiên Chúa” (Cv 1,3).

3. Ba chước cám dỗ:

Một mặt, ba chước cám dỗ diễn tiến theo trình tự của ba chước cám dỗ chính yếu mà dân Do Thái đã trải qua trong hoang địa: bánh man-na (Xh 16,4), điềm thiêng dấu lạ (Xh 17) và thờ ngẫu tượng (Xh 32). Nhưng trong khi dân Ít-ra-en thất bại trước những chước cám dỗ này, thì Đức Giê-su lại chiến thắng vẻ vang. Mặt khác, ba chước cám dỗ này đều có một nét chung: cả ba đều được sắp xếp nhằm trình bày những quan niệm sai lầm về Đấng Mê-si-a mà Đức Giê-su sẽ gặp phải trong suốt sứ vụ của Ngài. Trong hoang địa, Ngài có đủ sáng suốt và sức mạnh cần thiết để chế ngự chúng.

3.1- Đấng Mê-si-a trần thế:

Sau khi đã ăn chay suốt bốn mươi đêm ngày, Đức Giê-su cảm thấy đói. Quỷ cám dỗ Ngài biến những hòn đá thành bánh: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì truyền cho những hòn đá này hóa bánh đi !”. Quỷ muốn thử thách quyền năng của Đấng đã nhận tước hiệu “Con Thiên Chúa” vào lúc Ngài chịu phép rửa. Cũng một cách như vậy, những kẻ thù Ngài chế nhạo và thách đố Ngài ở dưới chân thập giá: “Hãy cứu lấy mình đi, nếu mày là Con Thiên Chúa” (Mt 27: 40). Hai chước cám dỗ nầy song đối với nhau: lạm dụng quyền Con Thiên Chúa để mưu cầu tư lợi cho riêng mình. Đức Giê-su đã đẩy lùi chước cám dỗ nầy: Ngài sẽ chỉ sử dụng quyền năng của mình để phục vụ tha nhân.

Xưa kia dân Do Thái trong khi phải đói trong hoang địa đã nhận được bánh man-na; ông Mô-sê cảnh giác họ đề phòng mọi tham lam của cải vật chất: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra” (Đnl 8,3). Đức Giê-su đáp lại Xa-tan cũng bằng những lời nầy, qua đó Ngài khẳng định cái đói mà Ngài đến để làm no thỏa là cơn đói Lời Chúa. Trong câu trả lời của Ngài, Đức Giê-su không chỉ không để lộ chân tính của Ngài, nhưng tự đồng hoá mình với nhân loại.

Một ngày kia, trong khi Đức Giê-su đói, các môn đệ của Ngài mang đến cho Ngài lương thực, Ngài trả lời: “Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết…Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy…” (Ga 4,32-33).

3.2- Đấng Mê-si-a uy quyền:

“Sau đó, ma quỷ đem Ngài đến thành thánh, và đặt Ngài trên nóc đền thờ, rồi nói với Ngài: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì gieo mình xuống coi”. Quỷ đề nghị với Đức Giê-su thực hiện một kỳ công ngoạn mục, nhờ đó Ngài có được một uy thế lớn lao đối với dân chúng. Với sự khôn khéo xảo quyệt, Xa-tan trích dẫn Thánh Vịnh 91,11-12.15 theo đó người công chính hoàn hảo, được Thiên Chúa phù trì che chở và truyền cho thiên sứ tay đỡ tay nâng cho khỏi bị vấp chân vào đá.

Xưa kia, trong hoang địa, chính dân Do Thái cũng đã thách thức Thiên Chúa: nếu Ngài không ban cho họ nước uống ngay tức khắc, thì họ sẽ nghi ngờ sự hiện diện của Ngài (Xh 17,1-7), dù trước đó Ngài đã ban cho họ bánh kỳ diệu. Nhờ quyền năng Thiên Chúa, ông Mô-sê đã ban cho họ nước phun ra từ tảng đá, tuy nhiên ông trách cứ nghiêm khắc dân cứng đầu cứng cổ nầy: “Anh em đừng thách thức Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em” (Đnl 6,16).

Đức Giê-su đã trả lời cho sự thách đố của Xa-tan cũng bằng chính lời của ông Mô-sê: “Ngươi chớ thách thức Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi”. Đức Giê-su bác bỏ lời đề nghị của Xa-tan: Ngài không đòi hỏi Thiên Chúa độ trì che chở Ngài đến độ đặt Ngài ra ngoài thân phận thường tình của con người. Sau nầy, Đức Giê-su cũng đã nhiều lần bị thách thức theo chiều hướng nầy: những người Biệt Phái đòi hỏi Ngài một dấu lạ ngoạn mục từ trời để chứng thực Ngài là Đấng Mê-si-a. Nhưng Ngài sẽ không bao giờ ban cho họ.

3.3- Đấng Mê-si-a thống trị thế giới:

Chước cám dỗ thứ ba được định vị trong môi trường khải huyền: một ngọn núi tưởng tượng, Xa-tan chủ tể của mọi vương quốc…Chắc chắn, những hình ảnh nhấn mạnh sức mạnh của cuộc chiến nội tâm mà Đức Giê-su phải đương đầu: chước cám dỗ về một Đấng Mê-si-a thống trị thế giới.

Đấng Mê-si-a mà dân Do Thái chờ đợi mặc lấy nhiều dung mạo; nhưng phần đông hy vọng một Đấng Mê-si-a khải hoàn và chiến thắng, Đấng sẽ khôi phục lại vương quốc Đa-vít, qua đó, sẽ cho phép Thiên Chúa thống trị toàn thế giới. Một chương trình tuyệt vời, nhưng không một chút nào là chương trình của Đức Giê-su. Ngài đã đến với tư cách là “Người Tôi Trung”“Con Người”, đó là hai tước hiệu Mê-si-a mà Ngài quy chiếu về mình. Khi đám đông phấn chấn muốn tôn Ngài lên làm vua, Ngài liền lánh mặt (Ga 6,15). Ở Xê-da-rê Phi-líp-phê khi thánh Phê-rô ra mặt chống đối viễn cảnh về Đấng Mê-si-a chịu đau khổ, Đức Giê-su mạnh mẽ đẩy lùi cơn cám dỗ nầy: “Xa-tan, hãy lui lại đằng sau Thầy!” (Mt 16,23). Đó cũng là mệnh lệnh mà Ngài ra lệnh cho Tên Cám Dỗ trong hoang địa: “Xa-tan kia, xéo đi!”. Trong cuộc đời của Ngài, chưa bao giờ xảy ra một cuộc chiến đấu với chước cám dỗ nào dữ dội như cuộc chiến đấu tại vườn Ô-liu, khi quỷ tìm cách cám dỗ Ngài từ chối con đường thập giá.

Thánh ký đồng hoá quyền thống trị thế giới với sự khuất phục dưới quyền Xa-tan. Sau nầy, Đức Giê-su vạch mặt chỉ tên Xa-tan là “thủ lãnh thế gian nầy” (x. Ga 12,31; 14,30; 16,11; 1 Ga 3,8). Thánh Phao-lô cũng đồng hoá những quyền thống trị thế giới với những thế lực của Sự Ác, vì vào lúc đó, quyền nầy là quyền của thế giới ngoại giáo và quyền thờ lạy ngẫu tượng (Ep 6,12).

Xưa kia, ngay cả trước khi vào Đất Hứa, dân Do Thái để cho mình bị cám dỗ bởi việc thờ lạy ngẫu tượng (thờ bò vàng), ông Mô-sê đã mạnh mẽ xác quyết: “Chính Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, là Đấng anh em phải kính sợ; chính Người là Đấng anh em phải phụng thờ” (Đnl 6,13). Đức Giê-su cũng đáp trả bằng những lời xác quyết mạnh mẽ như thế: “Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi”. Lúc đó, một chi tiết thật là có ý nghĩa: “Lập tức có thiên sứ đến gần hầu hạ Ngài”, nghĩa là, Đức Giê-su đích thật là Đấng Công Chính hoàn hảo mà Thánh vịnh 91 tiên báo.

Đức Giê-su đã không chọn những của cải trần thế, nhưng sự nghèo khó; Ngài đã không chọn uy thế, nhưng sự khiêm hạ; Ngài đã không chọn thờ ngẫu tượng của quyền thống trị thế giới: Ngài thích bị kết án một cách bất công là “vua dân Do Thái” hơn.

[Mục Lục]

Bài 5. Chú giải và gợi ý suy niệm của Lm FX Vũ Phan Long, ofm: CÁM DỖ TẠI HOANG ĐỊA

Đức Giêsu đã không nhường bước cho một nẻo đường tiện nghi thoải mái, đã không muốn hưởng trước một thành công; nhưng Người đã tôn trọng con đường đã được chọn cho Người dù phải hy sinh, thiệt thòi.

1- Ngữ cảnh

Đoạn văn này nằm trong Phần Mở của Tin Mừng Mt, mà chúng ta có thể xác định vị trí theo lược đồ sau đây:

A = Lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả và câu trích Is 40,3 (3,1-4)

B = Gioan và Đức Giêsu: cuộc đối đầu giữa các niềm hy vọng Đấng Mêsia (3,5-15)

C = Con yêu dấu của Thiên Chúa Cha đăng quang Mêsia, với câu nhắc đến Is 42,1 (3,16-17)

B’= Đức Giêsu và ma quỷ: Loại trừ niềm hy vọng Đấng Mêsia trần tục (4,1-11)

A’= Lời rao giảng của Đức Giêsu và câu trích Is 8,23–9,1 (4,12-17). Kết luận và chuyển mạch (4,18-25).

Trong phân đoạn này, tác giả Mt đã vận dụng các đoạn Cựu Ước mà ta có thể thấy qua bảng đối chiếu sau:

Mt 4,1 Đnl 8,2-3
Mt 4,2 Xh 34,28; x. Đnl 9,9
Mt 4,4 Đnl 8,3
Mt 4,6 Tv 91,11-12 (LXX)
Mt 4,7 Đnl 6,16
Mt 4,8 Đnl 34,1
Mt 4,10 Đnl 6,13
Mt 4,11 Xh 11,14; x. Đnl 32,11; Tv 91,10-11

2- Bố cục

Bản văn có thể chia thành năm phần:

1) Mở (4,1-2);

2) Cám dỗ thứ nhất (4,3-4);

3) Cám dỗ thứ hai (4,5-7);

4) Cám dỗ thứ ba (4,8-10);

5) Kết (4,11).

3- Vài điểm chú giải

- Thần Khí dẫn vào hoang địa (1): Chính là Thần Khí đã xuống trên Đức Giêsu tại sông Giođan nay dẫn (anagô) Người vào hoang địa.

- hoang địa (1): Đây là một đề tài quan trọng của Kinh Thánh, vì hoang địa gây ảnh hưởng trong suốt lịch sử Dân Thiên Chúa. Lịch sử này đã ghi lại hai kỷ niệm có vẻ mâu thuẫn nhau, nhưng thật ra là hai mặt của cùng một hoàn cảnh. (1) Thời gian ở trong hoang địa trước tiên được trình bày như là thời kỳ sống lý tưởng của Dân được Thiên Chúa tuyển chọn. Trong thời kỳ này, lý tưởng tôn giáo của họ phát triển phong phú và họ sống lý tưởng này ở mức hoàn hảo. (2) Thời kỳ này cũng còn được coi như một thử thách, thậm chí một hình phạt dành cho tội lẩm bẩm kêu ca và bất phục tùng. Quả thật, hoang địa vừa là nơi con người tách mình khỏi trần thế để được thanh luyện, vừa là nơi thử thách.

- để chịu quỷ dữ cám dỗ (1): Đây là một sự chọn lựa nằm trong chương trình của Thiên Chúa. Tư cách Mêsia của Đức Giêsu cần được thử thách. Và sự thử thách này là một chặng cần thiết trong ơn gọi của Đức Giêsu, trong tư cách Israel mới.

- quỷ dữ (1): Từ ngữ Hy Lạp diabolos có nghĩa là “kẻ vu khống”, “kẻ tố cáo” (động từ diaballô, “tố cáo”; “kết án”). Bản LXX đã dùng diabolos để dịch từ Híp-ri satan (HL satanas). Trong Kinh Thánh, “quỷ” xuất hiện ra như là kẻ tố cáo (x. Dcr 3,1-5; G 1–2; Tv 109,6), ông hoàng của thế gian (Ga 12,31; 14,30), tên cám dỗ (G 1,8-12; 2,1-6; 2 Sm 24,1tt; 1 Sb 21,1; Kn 2,24; 1 Tx 3,5; 1 Cr 7,5; 2 Cr 11,3-15; Rm 16,17-20…). Dù với tên gọi nào, “quỷ” cũng là một “đối thủ” (nghĩa nguyên thủy của từ satan), một kẻ thù của Thiên Chúa và của loài người, nghĩa là chống lại sự thiện. Xem trong Mt: 6,13; 8,28; 12,22; 12,24; 13,25; 16,23…

- Người ăn chay suốt bốn mươi ngày bốn mươi đêm (2): Con số 40 chỉ một thời gian khá dài và có sắc thái là một sự hoàn tất với kết quả tích cực là giải phóng và xây dựng con người. So với Lc, Mt thêm “bốn mươi đêm” để ám chỉ thời gian Đức Giêsu ở trong hoang địa tương đương với thời gian Môsê ăn chay trên núi cao để rồi sau đó được Đức Chúa ban cho các điều khoản của Giao ước (Xh 34,28; x. Xh 25,18). Nhưng cũng có thể Mt muốn ám chỉ đến Êlia nữa (x. 1 V 19,8: ăn chay trong hành trình tiến về núi Khôrép). Hai dung mạo vĩ đại này, đại diện cho Lề Luật và các Ngôn sứ, sẽ tái xuất hiện trong cuộc Hiển Dung của Đức Giêsu (cuộc Hiển Dung này chính là cuộc thần hiển. Sau đó sẽ có việc thiết lập Giao Ước mới nhờ cuộc Khổ Nạn–Phục Sinh của Đức Giêsu). Có lẽ Mt muốn nói rằng việc Đức Giêsu ăn chay đã tóm kết cách nào đó kinh nghiệm của Môsê và Êlia, cũng như các cám dỗ sẽ tóm kết lịch sử của Israel tại hoang địa.

- Nếu ông là Con Thiên Chúa (3): Cám dỗ này do bởi quỷ và thử thách dưới chân thập giá do bởi người Do Thái (Mt 27,40) song song với nhau: chúng nhắm đến tư cách Mêsia của Đức Giêsu. Đây cũng là một lời thách thức Đức Giêsu làm lại các cử chỉ của Môsê, để chứng tỏ thời đại thiên sai đã đến. Không có lời nhắc đến man-na, nhưng câu trả lời của Đức Giêsu khiến nghĩ đến man-na.

- đã có lời chép rằng (4): Gegraptai là thì hoàn thành (perfect) ở thái bị động của động từ graphô, “viết”. Thái bị động này thay tên Thiên Chúa, nên có thể hiểu là “Thiên Chúa đã viết”.

- vinh hoa của các nước ấy (8): Doxa (HL), “vinh quang”, đây là một từ ngữ Kinh Thánh để chỉ sự lộng lẫy huy hoàng hoặc giàu sang, sung túc, được tỏ ra bên ngoài.

4- Ý nghĩa của bản văn

* Mở (1-2)

Bản văn này được liên kết với bài tường thuật về phép Rửa. Tại sông Giođan, Thần Khí Thiên Chúa đã được ban cho Đức Giêsu, nay cũng Thần Khí ấy lại dẫn Người vào hoang địa. Chiều hướng của bản văn là: Bởi vì Đức Giêsu đến hoàn tất nỗi chờ mong của dân Người, nhất thiết Người phải đảm nhận mọi chiều kích của lịch sử dân Người: ở tại Ai Cập (2,13-15), đi qua sông Giođan (3,13-17), cám dỗ trong hoang địa (4,1-11). Qua các cám dỗ, Đức Giêsu cho thấy Người chấp nhận trọn vẹn thánh ý Chúa Cha; Người loại trừ mọi thứ cung cách Mêsia mà Thiên Chúa không muốn (mà chính Gioan Tẩy Giả đã hình dung), để chấp nhận làm một Mêsia chịu đóng đinh.

Tất cả bài tường thuật về ăn chay và cám dỗ tập trung vào các biến cố của cuộc Xuất Hành. Dân Israel cũng là “con yêu dấu của Thiên Chúa”, nhưng tất cả hành trình trong hoang địa cho thấy họ đã là một đứa con nổi loạn và thất trung (x. Đnl 6,16; 17,2.7; ch. 32–34; Ds 14,22; các Tv: Tv 78,18-41; 81,11; 95,8; 96,6; các ngôn sứ: Gr 7,22; Ed 20,5; Is 63,10. Xem các tác giả Tân Ước: Dt 3,16; 5). Quả thật, ngôn ngữ của câu đầu đã khiến chúng ta nhớ đến Đnl 8,2 (LXX) và như ám chỉ đến hoàn cảnh của Israel tại hoang địa: “…Thiên Chúa đã dẫn (êgagen; Mt: an-ago) …, như vậy Người thử thách (ekpeirasê; Mt: peirasthênai)…”. Bản văn Đnl nói rằng Thiên Chúa “thử thách” dân để “biết lòng dạ anh em, xem anh em có giữ các mệnh lệnh của Người hay không”. Còn ở đây, trong bản văn Mt, “thử thách” là để phá hỏng và kẻ “thử thách” là quỷ, chứ không phải là Thiên Chúa. Tại hoang địa, Đức Giêsu vừa tóm kết kinh nghiệm của Môsê và Êlia, vừa tóm kết lịch sử của dân Israel trong hoang địa.

Sức con người có thể nhịn ăn nhịn uống được đến thế? Chắc chắn là có, như trường hợp thánh Phanxicô Assisi sau này. Nhưng ở đây, tác giả còn muốn nói một điều khác: cũng như trong trường hợp Môsê, ở đây chính Thiên Chúa nâng đỡ Đức Giêsu, vì Người tin tưởng gắn bó với Thiên Chúa. Nếu như thế, cảm giác đói sau bốn mươi ngày, chính là một thử thách: Phải chăng Thiên Chúa đã bỏ rơi Đức Giêsu? Cám dỗ thứ nhất được tháp vào điểm này.

* Cám dỗ thứ nhất (3-4)

Trong cám dỗ này, quỷ thách thức Đức Giêsu lặp lại các cử chỉ của Môsê, nhưng không phải bằng cách làm mưa man-na, nhưng bằng cách rút bánh ra từ các tảng đá. Đây cũng là một thách thức nhắm vào tư cách Mêsia của Đức Giêsu. Từ ngữ “nếu” nhằm gieo một sự hoài nghi vào tâm trí Đức Giêsu (x. Mt 27,40). Trong cả hai trường hợp, ở đây và trên thập giá, quỷ (ở đây; trên đồi Sọ: quỷ hiện thân nơi “những người qua lại”) thúc đẩy Đức Giêsu sử dụng những quyền lực thiên sai để thoát khỏi một hoàn cảnh nguy hiểm (đói ở hoang địa; chết trên thập giá).

Thiên Chúa đã để cho Israel đi qua thử thách là cái đói, để kiểm chứng lòng tín thác của họ (x. Đnl 8,2-3). Họ đã lẩm bẩm kêu ca, tiếc nuối Ai Cập. Đức Giêsu cũng cảm thấy đói; Người có thể nghĩ rằng Thiên Chúa đã bỏ rơi mình. Quỷ gợi ý cho Người, trong tư cách là “Con Thiên Chúa”, tin vào quyền năng làm phép lạ của mình, và như thế là xúi giục Đức Giêsu nghi ngờ và bất phục tùng Thiên Chúa. Đức Giêsu dứt khoát dựa vào Kinh Thánh (sách Đnl; gegraptai) để nói “không” với quỷ; Người tiếp tục cậy dựa hoàn toàn vào Thiên Chúa (x. 27,43). Sách Khôn ngoan nói rằng: “Lời Ngài mới giữ gìn chăm sóc những ai hằng tin tưởng vào Ngài” (Kn 16,26). Tin Mừng Gioan cho thấy là lương thực mà Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, vẫn dùng chính là thi hành ý muốn của Chúa Cha (x. Ga 4,34). Đấng Mêsia không có nhiệm vụ vun trồng những ảo tưởng dễ dãi, nhưng thức tỉnh niềm tin tưởng nơi Thiên Chúa.

* Cám dỗ thứ hai (5-7)

Sau cám dỗ thứ nhất, Đức Giêsu đã náu mình vào trong sự che chở của Thiên Chúa. Với câu Tv 91,11, quỷ đề nghị Người, vẫn trong tư cách “Con Thiên Chúa”, gieo mình từ nóc Đền Thờ xuống đất: đây hẳn là đáp lại sự chờ đợi của dân chúng, vì họ được loan báo là Đấng Mêsia sẽ xuất hiện trên núi Sion, cũng được đồng hóa với Đền Thờ (các sách ngụy thư Ét-ra IV [13,34-37]; Khải huyền Barúc [40,12]). Dù sao đây cũng vẫn là xúi Đức Giêsu vận dụng sự che chở của Thiên Chúa vào hướng xấu, như Israel đã làm, khi đòi hỏi Thiên Chúa can thiệp (x. Xh 17,1-7; Ds 14,22; Đnl 6,16; Tv 95,8-11). Đây chính là áp đặt ý muốn của con người cho Thiên Chúa. Cùng một chiều hướng như thế, trong Mt, có các truyện các đối thủ Đức Giêsu xin những dấu lạ từ trời (12,38-42) hoặc đề nghị Người xuống khỏi thập giá (27,49); trong Lc, có giai thoại các môn đệ muốn xin lửa xuống thiêu hủy thành không hiếu khách (Lc 9,56). Đức Giêsu vẫn dứt khoát trả lời “không”, bằng câu Đnl 6,16. Người không muốn ép Thiên Chúa phải can thiệp khi mà Thiên Chúa không định như thế; Người vẫn tiếp tục tín thác vào Thiên Chúa.

Chúng ta ghi nhận trong hai cám dỗ đầu, quỷ quy về tư cách “Con Thiên Chúa”, như thế là xác nhận lời công bố tại sông Giođan (x. 3,17).

* Cám dỗ thứ ba (8-10)

Cám dỗ cuối cùng không còn chút che đậy nào nữa: quỷ đề nghị Đức Giêsu thờ phượng nó. Cám dỗ này gồm tóm khát vọng cổ xưa nhất của Israel (sở hữu đất Canaan). Để làm thế, hẳn là nó bày ra trong trí của Đức Giêsu tất cả quang cảnh các nước thế gian, như xưa kia Môsê đứng trên đỉnh Nơvô mà nhìn vào Đất Hứa (x. Đnl 31,1-4) và gợi ý cho Đức Giêsu một giải pháp: bái lạy nó. Đây là cám dỗ con bê vàng, muốn tự tạo cho mình một thần linh mà mình có thể điều khiển. Đức Giêsu vẫn dứt khoát nói “không”, bằng câu Đnl 6,13: Thiên Chúa không phải là một Đấng mà người ta có thể mặc cả với; Ngài đòi hỏi tin tưởng và vâng phục vô điều kiện. Dĩ nhiên, Đức Giêsu, Tôi Trung của Thiên Chúa, không từ bỏ kế hoạch chinh phục thế giới, nhưng chinh phục bằng thập giá. Đất Hứa là lãnh địa bao la mà Người sẽ nhận khi sống lại (x. 28,18: theo lời hứa ở Tv 2,6-8). Sau này, chúng ta thấy các môn đệ Người không hiểu được chọn lựa này (Phêrô: Mt 16,23). Đức Giêsu sẽ chấp nhận cái đói, các nỗi nhục nhã, những thất bại, cái chết, để chu toàn ý muốn của Thiên Chúa.

* Kết (11)

Câu kết của bản văn là một ghi chú thần học hơn là một sứ điệp lịch sử. Sự thống trị mà Đức Giêsu đã từ chối nay vẫn được ban cho Người. Trong tâm thức dân gian, các thiên sứ là những tôi tớ của Thiên Chúa (x. Mt 16,27), bây giờ đến phục vụ Đức Giêsu, lệ thuộc Người. Đức Giêsu không nhận một vương quyền trần thế, nhưng chia sẻ chính quyền thống trị của Thiên Chúa.

Rõ ràng Nước Trời đã đến gần loài người, bởi vì thiên triều đang vây quanh Người Con yêu dấu của Thiên Chúa. Nhưng các thiên sứ chỉ can thiệp sau khi Đức Giêsu đã chiến thắng cám dỗ. Sau này, khi Người đã thắng được cám dỗ muốn vận dụng “hơn mười hai đạo binh thiên thần” (26,53) để tránh thoát thập giá, khi Người vẫn phó thác cuộc đời vào tay Chúa Cha, các thiên sứ lại đến hầu hạ Người, qua việc loan báo tin mừng Phục Sinh cho các môn đệ (x. 28,2-7).

+ Kết luận

Các cám dỗ nhắm tấn công Đức Giêsu trong tư cách Mêsia và Người Con vâng phục và trung thành của Thiên Chúa. Quỷ xúi Đức Giêsu lạm dụng lời quyền năng của Người, rồi xúi Người ỷ lại vào quan hệ giữa Người với Thiên Chúa, và cuối cùng, xúi Người bỏ đi lòng trung nghĩa với Thiên Chúa. Chiến thắng của Người rất quan trọng. Nó xóa đi những bóng tối đã tích tụ lại trong lịch sử dân Thiên Chúa và nó cũng gợi ra chiều hướng dấn thân phục vụ ơn cứu độ. Thay vì chọn làm một Mêsia-Phù thủy hay một Mêsia-Thủ lãnh, Đức Giêsu chọn làm Mêsia-Tôi tớ khiêm nhường. Khi đó, Người vẫn là Người Con vâng phục, và cũng là Israel chân chính và hoàn hảo.

5- Gợi ý suy niệm

1. Trung thành đọc và suy gẫm Lời Chúa, chúng ta sẽ khám phá ra liên tục lòng nhân ái của Thiên Chúa đối với chúng ta. Từ đó, chúng ta có thể yên tâm phó thác cuộc sống cho Ngài, không phải tính toán để bảo vệ cuộc sống mình, để rồi rơi vào các cám dỗ. Cám dỗ luôn luôn xoay quanh Lời Chúa, hoặc để vi phạm hoặc để lái Lời Chúa khỏi ý nghĩa đúng đắn. Con rắn mưu mô trong St 3 đã bóp méo Lời Chúa: “Có thật Thiên Chúa bảo: ‘Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không? … ‘Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra…” (St 3,1.5). Tên cám dỗ trong bài Tin Mừng Mt đã bảo Đức Giêsu dùng Lời Chúa để biến đá thành bánh hoặc đã uốn nắn ý nghĩa của Thánh vịnh để đưa Đức Giêsu đến chỗ thử thách Thiên Chúa. Đức Giêsu không áp đảo Lời Chúa; Người vâng phục Lời Chúa, Người nhận Lời Chúa từ Thiên Chúa.

2. Quỷ đã đề nghị cho Ađam trở thành Thiên Chúa (St 3,5). Nó cũng gợi ý cho Đức Kitô sử dụng quyền lực thiên sai của mình như một đặc quyền hay như một vũ khí. Nói cho cùng, tội lỗi luôn luôn là một ý chí hùng cường. Thế mà Thiên Chúa lại cứu con người khỏi tội lỗi bằng sự yếu đuối của Đức Kitô. Muốn được Thiên Chúa can thiệp tức khắc vào đời sống mình có nghĩa là nghi ngờ sự quan phòng thông thường của Ngài, nghi ngờ quyền năng và lòng nhân lành của Ngài. Ai thử thách Thiên Chúa, thì không có đức tin hoặc có một đức tin đang chao đảo, nên mới chờ đợi các phép lạ.

3. Các cám dỗ không chỉ là chuyện một ngày hay bốn mươi ngày, mà là cả đời Đức Giêsu. Luôn luôn có những sức mạnh bên ngoài, như các môn đệ (Mt 16,22), các kẻ thù (12,38; 27,41), và cả những khát vọng của bản thân Người (26,39; 27,46) tìm cách đưa Người đi theo nẻo đường quỷ vạch ra cho Người. Người đã chọn, Người sẽ phải liên tục chọn nói “không” với quỷ và thưa “xin vâng” với Chúa Cha (x. Dt 5,8).

4. Đức Giêsu nói “không” với quỷ, nhưng cũng phải nói “không” với chính mình, bởi vì con đường Người theo kềm hãm các khát vọng và những đòi hỏi của bản tính tự nhiên. Các phản ứng của Người trước đau khổ, những tủi nhục, những thất bại, thì cũng giống như mọi người. Người không thể phạm tội, nhưng Người có thể chọn con đường chung của mọi người, là sự thỏa thuê. Vinh quang không phải là một tội, mà còn là một quyền Người có thể dùng. Sự rút lui của quỷ chứng tỏ đây không những là một chiến thắng của chủ trương Mêsia khiêm nhường và phục vụ như tôi tớ, mà còn là một chiến thắng riêng của Đức Giêsu. Người đã không nhường bước cho một nẻo đường tiện nghi thoải mái, đã không muốn hưởng trước một thành công; nhưng Người đã tôn trọng con đường đã được chọn cho Người dù phải hy sinh, thiệt thòi. Rời khỏi hoang địa, không những Người được thánh hiến mà còn đủ tư cách Mêsia.

[Mục Lục]

Bài 6. Đứng về phía Giêsu để chống lại tên cám dỗ
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Bước vào Mùa Chay Thánh, Giáo hội quen gọi là mùa tập luyện chiến đấu thiêng liêng với những việc tốt lành theo truyền thống là ăn chay, cầu nguyện và bố thí. Chúa nhật thứ I Mùa Chay hôm nay, thánh Matthêu trình bày cho chúng ta cơn cám dỗ của Chúa Giêsu : “Chúa Giêsu được Thánh Thần hướng dẫn vào hoang địa để chịu ma quỷ cám dỗ” (Mt 4,1), cho thấy dù là Con Thiên Chúa, Ngài đã nhận lấy thử thách, chiến đấu với chống lại tội lỗi để cứu chúng ta là kẻ có tội. Sau khi Chúa Giêsu đã nhịn chay bốn mươi đêm ngày, Ngài cảm thấy đói, ma quỷ bắt đầu cám dỗ (x. Mt 4, 2), nó bắt Ngài lựa chọn giữa những gì có thể. Cảnh đối nghịch giữa tên cám dỗ và Chúa Giêsu thể hiện rõ căn tính và nguồn gốc của Chúa Giêsu trong lịch sử Israel.

Ba phen cám dỗ

Trình thuật ghi rõ “Ma quỷ lìa bỏ Người” (Mt 4,11) Điều này muốn nói rằng, cuộc chạm trán giữa Chúa Giêsu và tên cám dỗ được lặp lại, nhưng chắc chắn kết thúc và phần thắng thuộc về Chúa Giêsu qua việc thánh hiến, hoàn tất bằng cuộc khổ nạn và Phục sinh.

Ma quỷ cám dỗ Chúa Giêsu theo một trình tự rõ ràng. Một bên Chúa Giêsu, bên kia là ma quỷ. Cả hai nhân vật không cần giới thiệu. Chúa Giêsu được độc giả biết đến khi tin vào Ngài. Ma quỷ là thành phần của thế giới quen thuộc nơi người Dothái. Ma quỷ tiếng Dothái là “Satan” (tiếng Hylạp là “Quỷ“) ám chỉ tên đối phương. Đó là một nhân vật mà bản tính là đối đầu. Nó đối đầu với ai? Với Thiên Chúa trước hết.

Phen thứ nhất (c. 1-4)

Khung cảnh diễn ra tại samạc. Samạc tự nhiên gợi lên thời Xuất hành và sự đối diện giữa Thiên Chúa và dân Ngài. 40 ngày nhắc lại 40 năm trong samạc và 40 ngày Môsê ở trên núi. Chúa Giêsu ăn chay 40 ngày. Chúa Giêsu đang ở trong tình trạng cần thiết “Người cảm thấy đói” (Mt 4,2). Ma quỷ đặt vấn đề : “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy khiến những hòn đá này biến thành bánh” (Mt 4,3). Như là một gợi ý cho Con Thiên Chúa.

- Ma quỷ cám dỗ Chúa về quyền lực : “hãy khiến những hòn đá này…”. Đá chỉ đá và bánh chỉ là bánh, Ma Quỷ yêu cầu Chúa làm trái tự nhiên “khiến đá thành bánh”. Khi từ chối khiến đá thành bánh, Chúa Giêsu mạc khải rõ Ngài là Con Thiên Chúa.

- Chúa ra lệnh: “Có lời chép rằng : ‘Ngươi phải thờ lạy Chúa là Thiên Chúa ngươi’” (Mt 4,10). Nó ẩn chứa một cách hành văn theo kiểu Sách Thánh để làm sáng tỏ thái độ. Đây là cả một chương trình, Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, đúng như lời Kinh Thánh, Ngài đã trở nên người vâng lời Thiên Chúa Cha, chấp nhận đói để mạc khải cho con người biết rằng, cuộc sống của họ còn đói một thứ rất quan trọng, đó là: đói Lời Chúa. Thật vậy, “Người ta sống không nguyên bởi bánh” (Mt 4, 4).

Phen thứ hai (c. 5-7)

Ma Quỷ đưa Chúa Giêsu lên nóc Đền thờ Giêrusalem, đặt Chúa vào một vị trí ngược lại với bản chất của Ngài: mục tiêu tối hậu của nó là chỉ cho Ngài thấy rõ Đền thờ Giêrusalem, thử thách Ngài về thực tại quyền lực, yêu cầu Ngài gieo mình từ Đền thờ xuống để chiếm được ngay lập tức với sự giúp đỡ tuyệt vời của các Thiên Thần, và qua sự thể hiện uy quyền đó, người Do thái nhận biết Ngài là Con Thiên Chúa.

Ma Quỷ biện minh rõ về danh tính của nó là kẻ chống đối Thiên Chúa. Lời đề nghị của nó rất thô thiển. Khi ấy, phải đặt sự cám dỗ vào đâu và tại sao Chúa Giêsu lại đẩy lùi cơn cám dỗ? Nếu Chúa Giêsu chịu thua tên cám dỗ, thì Ngài trở về với những niềm mong đợi của dân chúng, họ đi tìm một Đấng Messia huy hoàng và quyền lực. Chúa Giêsu đã từ chối Messia theo kiểu trên. Con đường mà Ngài chọn bao hàm sự chôn vùi trong nhân thế. Thái độ của Chúa Giêsu thật rõ ràng: được mời gọi xác định căn tính tiên tri của mình. Ngài khẳng định cách từ chối của mình thật tuyệt vời lạ thường khi đặt ra một khoảng cách căn bản giữa quyền lực thế gian và nước Thiên Chúa .

Phen thứ ba (c. 8-11)

Cuối cùng ma quỉ đưa Chúa Giêsu lên núi cao. Sau cuộc cám dỗ lần thứ nhất về kinh tế, lần thứ hai về tôn giáo và lần thứ ba cám dỗ về chính trị. Tư thế ở đây chuyển biến cách đột ngột. Từ trên cao sấp mình xuống (trả lại) sự thống trị cho Ma Quỷ. Ma quỷ chỉ cho Đức Giêsu xem thấy mọi nước thế gian và vinh quang (trong chốc lát), nó hứa “Tôi sẽ cho ông tất cả những cái đó, nếu ông sấp mình xuống thờ lạy tôi” (Mt 4,9).

Nếu ông là con Thiên Chúa (4,3)

Nếu ông thờ lạy tôi (4,9).

Ở đây, ma quỷ tự vạch trần Con Thiên Chúa mà nó thách thức và mời gọi tôn thờ nó, có nghĩa là bắt Chúa Giêsu tôn thờ thần tượng thế gian.

Với lời đề nghị này, Chúa Giêsu đặt ma quỷ vào vị trí của nó: “Ngươi phải thờ lạy Chúa là Thiên Chúa người, và chỉ phụng sự một mình Ngài” (Mt 4,10).

Phần kết :

Cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu và tên cám dỗ kết thúc bằng sự chiến thắng của Chúa Giêsu: “Ma quỷ lìa bỏ Người. Và các thiên thần tiến lại hầu hạ Người“.

Đứng về phía Chúa Giêsu

Chúa Giêsu bị Ma Quỷ cám dỗ đủ cả ba phen, đó cũng là những cơn cám dỗ của chúng ta ngày hôm nay. Chúng ta được Thiên Chúa phú ban cho tự do lựa chọn giữa ý Chúa và ý chúng ta, chúng ta ngần ngại giữa thiện và ác. Chúa Giêsu hoàn toàn chiến thắng điều ác vì Ngài đã vâng lời Chúa Cha vô điều kiện.

Chúa nhật này đưa chúng ta vào ngay trung tâm của mầu nhiệm vượt qua : “cũng như do một người mà tội lỗi đã nhập vào thế gian, và do tội lỗi mà có sự chết, và thế là sự chết đã truyền tới mọi người, vì lẽ rằng mọi người đã phạm tội ” (Rm 12, 17). Và đây, phía sau của mầu nhiệm : Nhưng “Vì như bởi tội không vâng lời của một người mà muôn người trở thành những tội nhân thế nào, thi do đức vâng lời của một người mà muôn người trở thành kẻ công chính cũng như thế.” (Rm 12, 19) Tất cả lịch sử nhân loại trải dài giữa hai sự kiện này : trước là tội nguyên tổ, ảnh hưởng đến chúng ta ; sau là mầu nhiệm cứu chuộc được ban tặng cho chúng ta trong Chúa Giêsu Đấng Cứu Thế.

Bước vào Mùa Chay Thánh, mùa chiến đấu thiếng liêng, vậy chúng ta đứng về phía nào, đứng về phía Chúa Giêsu là chắc rồi. Đứng về phía Ngài, lắng nghe lời Ngài để chống lại tội lỗi, đương đầu với trận chiến thiêng liêng chống lại thần dữ, ba thù : Ma Quỷ, thế gian và xác thịt.

Lạy Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse, xin giúp sức cho chúng con trong suốt Mùa Chay Thánh này. Amen.

[Mục Lục]

Bài 7. Theo Ađam hay theo Chúa Giê-su?
Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Vì loài người đi trật ra ngoài quỹ đạo của Thiên Chúa, không đi theo đường lối Chúa, nên đau khổ và sự chết là hậu quả tất nhiên đã đến với mọi người.

Điều gì sẽ xảy ra nếu trái đất không đi đúng quỹ đạo mà Thiên Chúa đã vạch ra cho nó?

Trong trường hợp nầy, một thảm họa lớn nhất trong vũ trụ sẽ xảy ra. Những trận hoả hoạn toàn cầu khủng khiếp chưa từng thấy sẽ bùng lên thiêu rụi hết mọi thứ, nếu trái đất xích lại gần mặt trời hơn cự ly hiện nay; hoặc băng giá sẽ bao trùm trái đất khiến sự sống của mọi sinh vật sẽ bị đóng băng, nếu trái đất trệch ra xa mặt trời hơn khoảng cách hiện tại.

Điều gì sẽ xảy ra nếu nước biển không tuân theo quy luật là nước phải tụ về chỗ trũng thấp? Lúc đó, Biển Đông thỉnh thoảng tràn lên đến tận dãy Trường Sơn và toàn bộ phố xá ruộng vườn đều bị cào xới bình địa, mọi cư dân đang sống trên đường đi của nó trở thành lương thực cho các loài tôm cá.

Điều gì sẽ xảy ra nếu quy luật giao thông không được người tham gia giao thông tuân giữ? Lúc đó, xe cộ sẽ trở thành vũ khí huỷ diệt hàng loạt trên toàn cầu và đường sá trở thành nơi ngốn nhiều nhân mạng hơn hết thảy mọi cuộc chiến tranh khắp thế giới.

Điều gì sẽ xảy ra nếu ngữ pháp không được người ta tôn trọng lúc giao tiếp? Khi đó, chỉ có người nói mới hiểu mình nói gì và người chung quanh không thể hiểu được điều ta nói.

Điều gì sẽ xảy ra nếu loài người không đi theo con đường mà Thiên Chúa đã vạch ra cho mình? Kinh thánh cho thấy nguyên tổ loài người đã đi trật đường Chúa và phải lãnh lấy hậu quả là đau khổ và chết chóc.

Nói tóm lại, mọi sự đều phải vận hành theo quy luật mà Thiên Chúa đã an bài thì sự sống mới được duy trì và khi quy luật không được tôn trọng thì thảm hoạ sẽ xảy ra cho vũ trụ, cho thế giới, cho mọi loài.

Bài trích sách Sáng Thế được công bố trong phụng vụ hôm nay khẳng định lại chân lý nầy. Khi hai ông bà nguyên tổ đi trệch đường lối Thiên Chúa (được minh hoạ bằng việc Chúa truyền đừng ăn trái cấm mà hai ông bà bất tuân) thì hậu quả đau thương đã đến với hai ông bà và lan truyền đến toàn thể nhân loại.

Qua bài đọc thứ hai, thánh Phao-lô khẳng định lần nữa chân lý nầy: Vì một người (là Ađam) đã không tuân giữ quy luật của Thiên Chúa mà muôn người trở thành tội nhân (Rôma 5, 19) và tội lỗi đã gây nên sự chết! (Rôma 5, 12).

Khốc liệt thay hậu quả của việc bất tuân, của việc đi lệch ra ngoài quỹ đạo!

Vì loài người đi trật ra ngoài quỹ đạo của Thiên Chúa, không đi theo đường lối Chúa, nên đau khổ và sự chết là hậu quả tất nhiên đã đến với mọi người.

Để cứu vớt loài người, Thiên Chúa Cha đã cho Ngôi Hai xuống thế, trở thành một Ađam mới, sửa lại những sai lệch do Ađam cũ gây nên, hầu cứu nhân loại khỏi vòng huỷ diệt.

Cũng như Ađam cũ, Ađam mới cũng bị Sa-tan cám dỗ đi trệch đường của Thiên Chúa với hy vọng một khi ‘Đầu Tàu’ đi trật đường rầy thì toàn thể đoàn tàu cũng sa xuống vực sâu. Ba lần cám dỗ trong hoang địa mà Tin Mừng hôm nay thuật lại là tổng hợp của ‘trăm chiều thử thách’ (Do-thái 4, 15) mà Ađam mới là Chúa Giê-su phải đương đầu trong cuộc đời dương thế.

Nhưng khác với Ađam cũ nông nổi nghe lời Sa-tan xúi giục đi trệch đường lối Thiên Chúa, Đức Giê-su đã kiên quyết đi theo đường lối Chúa Cha không hề sai lệch, cho dù phải chấp nhận thập giá và cái chết vô cùng đau thương (Phi-líp 2, 8). Nhờ thế, Ngài đã nắn lại những sai trật do Ađam gây ra và đã lôi kéo được nhân loại về với Thiên Chúa.

Hôm nay, mỗi người chúng ta cũng phải đương đầu với những cám dỗ, thử thách mà Ađam cũ cũng như Ađam mới là Chúa Giê-su đã gặp hôm xưa.

Bước theo vết chân của Ađam cũ, tức là nghe theo lời mời mọc của Sa-tan, không theo đường lối Chúa, để rồi phải lâm vào cảnh đau thương chết chóc hay là kiên quyết chống lại cám dỗ để vững bước đi theo con đường của Thiên Chúa như Chúa Giê-su đã làm, là chọn lựa mà mỗi người chúng ta phải lặp lại mỗi ngày. Bao lâu còn mang thân phận con người, bấy lâu chúng ta còn phải chịu thử thách và chiến đấu.

Lạy Chúa Giê-su,

Đường vào thiên quốc hay lối xuống địa ngục, cửa sinh hay cửa tử đang mở ra trước mặt chúng con. Xin giúp chúng con đừng mê muội đi vào cửa tử nhưng khôn ngoan sáng suốt chọn bước vào cửa sinh, biết kiên cường chống lại mọi hình thức cám dỗ như Chúa và theo gót Chúa bước đi theo đường lối Chúa Cha.

[Mục Lục]

Bài 8. Cám dỗ
Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Chúng ta bắt đầu bước vào Mùa Chay Thánh, câu truyện của sách Sáng Thế Ký dẫn chúng ta trở lại sự khởi nguyên của dòng dõi loài người. Thiên Chúa sáng tạo con người từ bùn đất và thổi sinh khí ban cho con người có sự sống. Thiên Chúa đặt sẵn một mảnh vườn tuyệt đẹp để con người được vui hưởng hạnh phúc. Ngay từ giây phút đầu tiên, Thiên Chúa đã nhắc nhở hai ông bà tổ tiên Ađam và Evà về sự chọn lựa giữa sự sống và sự chết. Con rắn, biểu hiện của ma quỷ, đã cám dỗ lòng thèm khát của ông Ađam và bà Evà muốn trở nên giống Chúa qua sự hiểu biết về sự lành và sự dữ. Ma quỷ mon men dụ dỗ người đàn bà trước, Người nữ nói với con rắn: “Chúng tôi được ăn trái cây trong vườn; nhưng trái cây ở giữa vườn thì Thiên Chúa bảo: ‘Các ngươi đừng ăn, đừng động tới nó, nếu không sẽ phải chết.” (St 3,2-3). Bà Evà đã sa ngã nghe theo lời cám dỗ và cùng kéo lôi Ađam vào bẫy của ma quỷ. Ông bà đã chọn lựa sự bất tuân lệnh của Chúa và trong phút chốc sự ngây thơ vô tội đã biến mất.

Cám dỗ là sự ước muốn một hành động mà chúng ta có thể hưởng lạc ngay trong khoảnh khắc nhưng sau đó lại hối hận. Cám dỗ là hướng chiều về tội. Cám dỗ cũng là dịp hay cơ hội dẫn đến những ước muốn tò mò thực hiện những hành động xấu. Những đòi hỏi ước muốn của bản năng len lỏi vào mọi khía cạnh của cuộc sống. Chúng ta không thể nào thoả mãn tất cả mọi khao khát của lòng ham muốn hay dục vọng. Lòng ước muốn có thể là điều tốt hoặc xấu và điều phải hoặc trái. Chúng ta có quyền chọn lựa thái độ sống tốt. Dịp tội đưa dẫn chúng ta thoả mãn sự tò mò của tâm trí và đáp ứng những khao khát của ngũ quan thèm muốn. Vì nhùng nhằng với cơn cám dỗ, bà Evà bị rơi vào bẫy xập của ma quỷ. Người nữ thấy trái cây đẹp mắt, ngon lành và thèm ăn để nên thông minh. Bà hái trái cây ăn, rồi lại cho chồng, người chồng cũng ăn (x. St 3,6). Hậu quả của sự tò mò tìm kiếm những kinh nghiệm sống thực là: “Mắt họ liền mở ra và họ nhận biết mình trần truồng, nên kết lá vả che thân.” (St 3,7). Bài học kinh nghiệm sống đời giống như thế đã gây nên biết bao nhiêu thất bại nơi nhiều người. Thôi lỡ rồi!

Trong Kinh Lạy Cha, Chúa dạy chúng ta cầu xin: “Xin chớ để chúng con xa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.” Chúng ta khó có thể tránh khỏi các cơn cám dỗ, vì nó xảy đến bất ngờ mọi nơi và mọi lúc dưới nhiều hình thức. Điều quan trọng là chúng ta phải biết tỉnh thức phấn đấu và thắng vượt. Thường thì các cơn cám dỗ đến rất nhẹ nhàng và xem ra hợp tình hợp lý. Nó đáp ứng đúng những nhu cầu đòi hỏi của lòng ao muốn thoả mãn thân xác và tâm linh. Muốn thắng các cơn cám dỗ, chúng ta cần tỉnh thức cầu nguyện và ăn chay hãm mình. Đôi khi chúng ta còn phải trốn chạy, người ta nói “đào vi thượng sách” là thế! Chúng ta phải biết lượng sức mình, nếu chúng ta coi thường mà cứ quanh quẩn trong thách đố, ma quỷ sẽ không buông tha cho chúng ta. Chúng ta thường đối diện với những cám dỗ về danh vọng, ham muốn quyền lực, đức công bằng, sự tham lam của cải vật chất, sự ghen tương, thù ghét và lòng ước muốn dâm dục.

Ma quỷ đã cám dỗ Chúa Giêsu về những ước muốn thoả mãn của ăn vật chất, quyền lực và danh vọng. Chúa Giêsu đã dứt khoát chống trả các chước cám dỗ một cách mau lẹ bằng cách dựa vào lời Kinh Thánh: “Nhưng Chúa Giêsu đáp lại: ‘Có lời chép rằng: ‘Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.’” (Mt 4,4). Lời Chúa là lẽ sống và là khí giới vạn năng giúp chúng ta chiến đấu thắng vượt những cạm bẫy của ma quỷ. Với sức riêng, chúng ta khó vượt qua các mưu mô của quỷ dữ. Chúng ta cần phải cậy nhờ vào ơn Chúa và luôn tỉnh thức. Hằng ngày chúng ta đối diện với rất nhiều cơn cám dỗ. Trong khi lựa chọn thái độ sống là khi chúng ta chạm trán với sự cám dỗ giữa lành và dữ, tốt và xấu. Bảy mối tội đầu là bảy loại cám dỗ hay xuất hiện: tội kiêu ngạo, hà tiện, dâm dục, hờn giận, mê ăn uống, ghen ghét và lười biếng phụng thờ Thiên Chúa.

Tập trung hướng nhìn về Chúa và chỉ tôn thờ một mình Ngài. Chúa Giêsu thắng vượt các cơn cám dỗ dễ dàng bởi sự tỉnh thức và ăn chay nguyện cầu. Chúa đã dùng lời Kinh Thánh để đối đáp với những lạm dụng của ma quỷ: “Bấy giờ Chúa Giêsu bảo nó rằng: Hãy lui đi, hỡi Satan! Vì có lời đã chép: ‘Ngươi phải thờ lạy Chúa là Thiên Chúa ngươi, và chỉ phụng sự một mình Ngài.’” (Mt 4,10). Ma quỷ cũng thấu đạt lời Kinh Thánh, cũng khéo léo áp dụng, tuy nhiên không đúng nơi đúng chỗ và không có ý hướng ngay lành. Ma quỉ đã thất bại và bỏ cuộc. Lời Chúa là vũ khí rất lợi hại giúp chúng ta vượt thắng những mời mọc và khiêu khích của ma quỷ. Trong Mùa Chay Thánh này, chúng ta hãy cố gắng đọc, học hỏi, suy niệm và tin vào Lời Chúa. Nghi thức xức tro mời gọi: Hãy sám hối và tin vào Phúc Âm.

Lòng con người hay hướng chiều về điều dữ là do bởi bản tính mỏng giòn, ô nhiễm bởi tội nguyên tổ. Thánh Phaolô Tông đồ trong thở gửi giáo đoàn Rôma đã viết: “Anh em thân mến, cũng như do một người mà tội lỗi đã nhập vào thế gian, và do tội lỗi mà có sự chết, và thế là sự chết đã truyền tới mọi người, vì lẽ rằng mọi người đã phạm tội.” (Rm 5,12). Nếu ai nói rằng mình không bao giờ phạm tội, đó là người nói dối và lừa đảo chính mình. Đôi khi chúng ta chỉ xét mình một cách hời hợt bên ngoài và chỉ xưng thú một vài lỗi lầm quen thuộc. Thí dụ: Một năm chúng ta có cơ hội xưng tội vào Mùa Chay, khi vào toà cáo giải, có người xưng: Thưa cha, trong năm qua con có bỏ lễ Chúa Nhật 2 lần, xin hết. Có lẽ chúng ta chưa xét mình cho đủ. Không dám nhìn vào đời sống nội tâm và không biết cách xét mình. Chúng ta có thể xét mình bằng cách dựa vào 10 giới răn của Chúa và 6 điều răn của Hội Thánh. Chúng ta có thể xét mình về những tội trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót. Chúng ta có thể xét mình về bổn phận đối với Chúa, với tha nhân và với chính mình. Càng xét mình kỹ, càng xưng thú rõ ràng và thật lòng ăn năn chừa cải, chúng ta mới có cơ hội thăng tiến trên đường nhân đức.

Truyện minh hoạ: Có một thiếu phụ đem quần áo ra giếng chung để giặt nhưng vì sợ người ta thấy quần áo mình quá dơ bẩn, nên vội vàng giặt sơ sơ rồi gấp mang về phơi. Vì thế, quần áo không có cái nào sạch cả. Ngày nay, nhiều người cũng làm như thế trước mặt Chúa và trong toà cáo giải với linh mục. Vì sợ linh mục nghe biết tội mình quá ô uế, nên họ không dám xưng từng tội một và chỉ trình bày cách tổng quát. Họ giấu những tội trọng hay cố tình nói cho nhẹ bớt, nên linh hồn họ dơ vẫn hoàn dơ.

Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa đã xuống trần hy sinh chịu chết trên thập giá để cứu độ. Chúa có uy quyền để tha thứ mọi tội lỗi của chúng ta đã phạm. Vì như bởi tội không vâng lời của một người mà muôn người trở thành những tội nhân thế nào, thì do đức vâng lời của một người mà muôn người trở thành kẻ công chính cũng như thế (x. Rm 5,19). Chúa đến để cứu độ chứ không phải để luận phạt chúng sinh. Khi đi rao giảng Tin Mừng Nước Trời, Chúa Giêsu đã tha tội cho nhiều người: Chúa tha tội cho người đàn bà tội lỗi khi xức dầu chân Chúa, tha tội cho phụ nữ Samaria tại giếng Giacob, tha tội cho người bất toại và tha tội cho kẻ trộm bị đóng đinh cùng… Chúa cũng đã trao quyền tháo cởi cho Thánh Phêrô, các tông đồ và những người kế vị. Chúng ta tin tưởng vào quyền năng tha thứ của Chúa.

Lạy Chúa, bước vào Mùa Chay Thánh là chúng con bắt đầu bước vào mùa tập luyện. Xin cho chúng con biết can đảm xét mình và nhận diện tình trạng tâm hồn yếu đuối và tội lỗi. Chúng con là kẻ tội lỗi cần đến lòng thương xót của Chúa. Xin Chúa xót thương và tha thứ tội lỗi chúng con.

[Mục Lục]

Bài 9. PHƯƠNG THẾ CHIẾN THẮNG CÁM DỖ
Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Phụng vụ Giáo hội đã bước vào Mùa Chay Thánh.

Mùa Chay trải dài 40 ngày.Thời gian này nhắc lại 40 năm của dân Israel trong sa mạc trước khi đến Đất hứa, 40 ngày ngôn sứ Êlia ở trên núi Horeb, 40 ngày Chúa Giêsu ăn chay cầu nguyện trong hoang địa.Thời gian 40 ngày là con số tượng trưng nói lên thời gian thử thách và thanh luyện.Trên con đường về Nước Trời, chúng ta trải qua những thử thách và thanh luyện.Thời gian 40 ngày chay tịnh thật quí giá để mỗi người nhìn lại bản thân, đánh giá lại chính mình để sám hối canh tân.

Hàng năm, Phúc Âm Chúa Nhật I Mùa Chay đều nói về cám dỗ. Chúa Giêsu vào hoang địa. Sau 40 đêm ngày ăn chay và cầu nguyện, Satan xuất hiện và cám dỗ. Chúa Giêsu đã chiến thắng Satan.

1. Chịu cám dỗ

Làm người ở đời là chấp nhận thân phận chịu cám dỗ. Thánh Kinh đã ghi nhận, từ buổi đầu sáng tạo đã có cám dỗ. Thụ tạo đầu tiên trong hàng các thiên thần đối diện với cám dỗ là Lucifer, một thiên thần sáng láng đã không vượt qua được cơn cám dỗ, và đã trở thành Satan tăm tối. Tiếp đến, thụ tạo đầu tiên trong con người là Adong và Evà cũng đã nếm mùi cám dỗ. Nguyên Tổ đã gục ngã thảm thương trước cám dỗ cho nên đau khổ sự chết đã tràn vào thế gian.Trong hành trình về Đất Hứa, dân Israel đi trong sa mạc và đã gặp nhiều cám dỗ: cám dỗ trở lại Ai cập để có bánh ăn; cám dỗ thờ tượng con bê vàng; cám dỗ thử thách Thiên Chúa.Vua Đavit sa ngã trước cám dỗ sắc dục nên đã phạm tội cướp vợ của Uria và đã giết chết người anh em này.Giuđa Iscariốt chỉ vì tham tiền nên đã phản bội Thầy và bán Thầy giá 30 đồng bạc bằng nụ hôn giả dối…Các chước cám dỗ của Satan đều chung quy về ba mục tiêu: danh, lợi, thú.

Thiên Chúa cho phép ma qủy cám dỗ để thử thách xem con người ta có trung tín hay không, và để cho con người có cơ hội lập công phúc, để họ có thể chứng minh đức tin của mình.

Thiên Chúa cho có sự cám dỗ để cho con người phấn đấu thanh luyện mình, và đồng thời, khi Ngài cho phép như thế, ma qủy cũng lợi dụng triệt để mà cám dỗ con người. Mỗi ngày, chúng bày ra những chước độc mưu thâm, mỗi lúc một tinh vi xảo quyệt, lắt léo khôn khéo để cám dỗ người ta.

Thiên Chúa ban ơn thêm sức để con người chúng ta có thể chống lại những cơn cám dỗ ấy. Không khi nào Chúa để con người phải chịu những cơn cám dỗ qúa sức mình chịu đựng được. Như vậy, chúng ta phải chiến đấu với những cơn cám dỗ. Điều cần thiết là chúng ta phải phân định được ma qủy với những hành động cám dỗ xấu xa của nó để chống trả và xa lánh.

2. Ma qủy thường cám dỗ như thế nào?

Ma qủy lừa dối con người.Ai cũng có trí khôn, biết phân biệt điều nào là xấu, là nguy hại và chẳng nên làm. Nhưng ma qủy lừa dối cho rằng việc làm đó là có lợi, là cần thiết nên người ta mới dấn sâu vào. Khi cám dỗ Evà, ma qủy không nói rằng ăn trái cấm đó là chống lại Thiên Chúa, nó chỉ nói rằng ăn trái này thì Bà sẽ được trở nên thông minh như Thiên Chúa. Có nhiều người bước vào nghiện ngập bằng những phút giây sảng khoái thăng hoa lừa dối. Nếu người ta biết sự xấu xa của tội thì có lẽ không ai lại đi phạm tội, nhưng người ta tưởng lầm, hoặc bị cám dỗ coi đó là hạnh phúc. Nếu người ta nhìn thấy những hình khổ nơi hỏa ngục thì chằng ai dám phạm tội. Ma qủy khiến người ta phạm tội bằng cách dẫn người ta một cách từ từ. Không khi nào có ai có thể phạm tội trọng ngay tức khắc, tội trọng chỉ bắt đầu bằng những tội nhẹ. Người ta thường nói, khi còn bé ăn trộm một qủa trứng, rồi khi lớn lên sẽ ăn trộm cả một con bò. Những tội trọng bắt đầu từ những nết xấu hay những tội nho nhỏ. Ma qủy cũng vậy, nó dẫn dắt người ta từ chỗ tưởng chừng vấp phạm những điều nhỏ tới phạm những điều lớn. Không ai nghiện thuốc ngay từ điếu hút đầu tiên, không ai nghiện rượu ngay khi uống chén đầu tiên. Nhưng dần dần nếu lập đi lập lại nhiều lần sẽ dẫn đến chỗ nghiện ngập (x. Buồn vui cùng kiếp người, ĐTGM Ngô Quang Kiệt, trang 33).

Chuyện kể rằng : khi ông Nôe trồng nho, Satan lấy làm lạ nên tiến lại gần hỏi :

- Ông đang trồng cây gì thế ?

- Cây nho.

- Nó có lợi gì không ?

- Có chứ. Trái nó vừa đẹp mắt, vừa ngon miệng. Từ trái nho ta còn có thể làm ra rượu giúp lòng người hưng phấn nữa.

- Vậy thì để tôi giúp ông.

Satan liền giết một con chiên, một con sư tử, một con lừa và một con heo. Lấy máu của chúng tưới gốc cây nho. Thế là cây nho lớn nhanh. Nôe lấy trái nho làm rượu.

Từ đó trở đi khi người ta uống một chút rượu vào thì sẽ vui vẻ dễ thương như con chiên; uống thêm chút nữa thì mạnh bạo như sư tử; nếu uống thêm thì sẽ ngu như lừa; nếu uống nữa thì… hoàn toàn như con heo vậy. (Truyện cổ Nước Pháp).

Ma qủy luôn lừa dối con người. Chúng ta phải luôn cảnh giác.

3. Phương thế chiến thắng cám dỗ

Noi gương Chúa Giêsu, chúng ta phải biết chống cự lại những cơn cám dỗ. Muốn chống lại, phải có những phương thế để có thể chiến thắng.

a. Lời Chúa

Ma qủy cám dỗ Chúa Giêsu từ những điều thường nhất là cơm bánh hàng ngày. Chúa nhịn ăn 40 đêm ngày, đói thì cần ăn, đó là điều rất đổi bình thường.Ma qủy lợi dụng điều đó để cám dỗ, sau đó mới cám dỗ những những điều mạnh hơn là thử thách Thiên Chúa và chống lại Ngài. Chúa Giêsu dùng Lời Chúa để chiến thắng.

Gương của Chúa Giêsu được Tin Mừng Thánh Luca kể rõ: mỗi lần ma qủy đưa ra một chước cám dỗ thì Chúa Giêsu lại lấy một lời của Kinh Thánh mà đẩy lui chước cám dỗ ấy:

- Có lời chép rằng: người ta không sống bằng cơm bánh mà còn bằng lời của Thiên Chúa nữa.(Lc 4,5)

- Có lời chép rằng:ngươi phải thờ lạy Chuá là Thiên Chúa ngươi và chỉ phụng thờ một mình Người.(Lc 4,8)

- Có lời chép rằng: ngươi đừng thử thách Chúa là Thiên Chúa ngươi.(Lc 4, 11).

“Sau khi đã xoay hết cách để cám dỗ Người, quỷ bỏ đi, chờ đợi thời cơ”. Satan tạm lánh vào bóng tối, khi có thời cơ thuận tiện sẽ quay lại tiếp tục tấn công. Có lần, Satan dùng miệng lưỡi của Phêrô để cám dỗ Chúa đừng lên Giêrusalem chịu khổ nạn. Chúa quay lại quát nạt: “Satan, hãy lui ra đằng sau, đừng gây cớ cho Ta vấp phạm”. Thời cơ ma quỷ chờ đợi chính là lúc Chúa Giêsu trải qua cuộc Khổ Nạn. Trong vườn Giêtsêmani, khi đối diện với cái chết đang cận kề, Chúa Giêsu không khỏi sợ hãi đến nổi “mồ hôi đổ ra như máu”. Người đã thân thưa cùng Chúa Cha đến hai lần: “ Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha ” (Mt 26, 39b) ; “ Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha ” (Mt 26, 42b). Cao điểm là khi Chúa bị treo trên thập giá, Satan dùng miệng lưỡi kẻ qua người lại để cám dỗ Chúa xuống khỏi thập giá: “Ông Kitô vua Israel, cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi để chúng ta thấy và tin”. Trong suốt cuộc đời dương thế, Chúa Giêsu đã phải chiến đấu chống lại nhiều cơn cám dỗ. Người thực sự là Thiên Chúa nhưng đồng thời Người cũng hoàn toàn là con người nên “Người cũng phải chịu trăm chiều thử thách y như ta” (Dt 4,15). Chúa Giêsu đã chiến thắng tất cả. Không một cám dỗ, không một thách thức nào có thể khiến Người lùi bước.

Lời Chúa là sức mạnh tâm linh, là lẽ sống thần linh và là lời ban sự sống. Đọc và suy gẫm Thánh Kinh sẽ đem lại cho chúng ta sức mạnh để chiến thắng tội lỗi.

b. Ăn chay cầu nguyện

Ăn chay cầu nguyện giúp con người chế ngự bản thân.Tội lỗi của con người là do không biết chế ngự bản thân. Ăn chay cầu nguyện giúp chúng ta biết thanh luyện con người mình, chế ngự bản thân, hãm dẹp dục vọng. 40 ngày Mùa Chay nhắc nhớ về 40 ngày đêm chay tịnh của Chúa Giêsu trong hoang địa, nhắc lại 40 năm dân Do thái lưu đày trong sa mạc chuẩn bị về Đất hứa. Mùa Chay là mùa tập luyện chiến đấu thiêng liêng, giúp chúng ta trở nên người thiện chiến, biết chế ngự và làm chủ bản thân.

Cầu nguyện là nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Khi vào hoang địa, khi bị ma quỷ cám dỗ, Chúa Giêsu cần đến sự nâng đỡ của Chúa Thánh Thần. Người đã dựa vào sức mạnh của Chúa Thánh Thần và đã chiến thắng cám dỗ.

Khi chúng ta lâm vào những cuộc thử thách, phải đối diện với những mưu chước của ma quỷ, rất cần ơn Chúa Thánh Thần trợ lực. Chúa Giêsu mà còn cần đến Chúa Thánh Thần nữa, thì huống hồ là chúng ta !

Cần phải cầu nguyện (Lc 22,40; Cv 2,42; GLGH #2612,2742). Nhờ cầu nguyện, Chúa Giêsu đã không cô đơn một mình, nhưng “được Thánh Thần hướng dẫn” (Mt 4,1). Nhờ cầu nguyện, chúng ta được liên kết với sức mạnh của Thánh Thần và với Các Thánh trên trời.Vai trò của Chúa Thánh Thần thật quan trọng trong đời sống của chúng ta. Những lúc bị cám dỗ, những khi sống trong cô đơn, buồn chán và thất vọng…hãy cậy trông và khẩn cầu với Chúa Thánh Thần xin ơn phù trợ. Chính Chúa Giêsu đã hứa: “Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần mà Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy các con mọi điều” (Ga 14,26).

Chúng ta đang sống trong một xã hội có quá nhiều cám dỗ. Một xã hội đầy dẫy các tệ nạn và có nhiều lối sống buông thả. Đó là môi trường là cơ hội thuận tiện cho ma quỷ ẩn núp và tấn công. Cám dỗ ngày càng nhiều và ngày càng tinh vi dưới muôn hình dáng vẻ. Vì thế, lời dặn dò của Chúa Giêsu ngày càng khẩn thiết: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ”. Cơn cám dỗ độc hại nhất mà con người cần phải luôn tỉnh thức canh phòng và trường kỳ chiến đấu bằng mọi cách, chính là lòng ích kỷ, quan niệm sống hẹp hòi, thiển cận của chính mình, chỉ biết có mình mà quên kẻ khác, chỉ biết thu vén lợi ích cho riêng mình mà quên quyền lợi kẻ khác.

Để tỉnh thức và cầu nguyện, chúng ta cần sống theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần và ánh sáng soi dẫn của Lời Chúa, thực thi những việc đạo đức của Mùa Chay.

Chúa Giêsu đã từng căn dặn các Tông Đồ: “Hãy tỉnh thức”. Tỉnh thức để nhận ra mưu mô của ma quỷ, tỉnh thức trước những lôi cuốn của thế gian, tỉnh thức trước những yếu đuối của con người xác thịt.

Mùa Chay là thời gian đặc biệt để sám hối canh tân bản thân dưới ánh sáng Lời Chúa và thực hành ăn chay cầu nguyện theo gương Chúa Giêsu, nhờ đó mỗi người chúng ta sống đẹp lòng Thiên Chúa hàng ngày.

[Mục Lục]

Bài 10. CON NGƯỜI TRƯỚC CÁM DỖ CỦA BA THÙ
JM. Lam Thy ĐVD.

Cũng bởi vì cám dỗ là “Khêu gợi lòng ham muốn đến mức làm cho sa ngã” (từ nguyên), nên nói đến cám dỗ là nói đến những vuốt ve nhẹ nhàng, những mời mọc hấp dẫn, cùng với những phong toả ngọt ngào, khó lòng từ chối, vượt thoát. Con người đứng trước những cám dỗ của ba thù, thường thì khó lòng cưỡng nổi, bị khuất phục là cái chắc. Chỉ cần một kẻ thù là Xa-tan cám dỗ cũng đã thấy khó lòng chống đỡ nổi, huống hồ tới ba kẻ thù cùng lúc tấn công thì làm sao tránh khỏi sa chước cám dỗ? Nhưng 3 kẻ thù đó là ai mà ghê gớm vậy? Đó chính là: 1- Dục vọng của bản thân; 2- Hấp lực của thế gian; 3- Cạm bẫy của Xa-tan. Nói con người đứng trước ba thù vây hãm cũng chẳng khác gì một thành trì bị “thù trong – giặc ngoài” hãm hại, chỉ còn nước bó tay chờ chết.

Đó là nói về con người trần thế, nhưng vấn đề đặt ra hôm nay là tại sao Đức Giê-su là Thiên Chúa mà còn bị ma quỷ cám dỗ không chỉ một lần mà tới 2 lần: Bài Tin Mừng hôm nay (CN.I/MC-A – Mt 4, 1-11) trình thuật trước khi khai mạc sứ vụ, Đức Giê-su vào hoang địa ăn chay 40 đêm ngày và chịu để ma quỷ cám dỗ. Sau đó, trước khi chính thức bước vào cuộc thương khó, Người lại bị cám dỗ tại vườn Ghết-sê-ma-ni, đến độ phải kêu lên với Chúa Cha: “Áp-ba, Cha ơi, Cha làm được mọi sự, xin cất chén này xa con.” (Mc 14, 36).

Cứ xét chuyện Đức Giê-su bị cám dỗ sẽ thấy ma quỷ rất sành tâm lý, chúng không chỉ cám dỗ về vật chất mà còn cả về tinh thần nữa: Về vật chất, chúng đem miếng ăn, sự vinh hoa phú quý trần thế làm mồi nhử; về mặt tinh thần, chúng đánh ngay vào tính tự cao tự đại của con người, lấy quyền lực siêu phàm làm mồi nhử. Với Đức Giê-su Ki-tô thì chuyện ma quỷ cám dỗ chỉ là chuyện nhỏ (bằng chứng là khi chúng đi quá lố, Đức Giê-su ngay lập tức đã đuổi thẳng: “Xa-tan kia, xéo đi!” – Mt 4, 10); nhưng sở dĩ Chúa chịu để ma quỷ cám dỗ, cũng là có ý muốn làm gương để răn dạy mọi người hãy cảnh giác trước mưu mô thâm độc của ba thù. Nói ma quỷ rất sành tâm lý, vậy tại sao chúng thất bại? Chuyện cũng dễ hiểu, ma quỷ dù biết Đức Giê-su là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa thật (bản tính Thiên Chúa), nhưng trước mắt chúng là một chàng thanh niên Giê-su bằng xương bằng thịt (bản tính loài người) như mọi người bình thường khác, vì thế chúng đem chính những thứ mà con người trần tục thường mê đắm để làm mồi cám dỗ, hầu có thể hạ gục Người.

Trước hết, chúng biết Đức Giê-su vào hoang địa ăn chay 40 đêm ngày, chắc chắn Người phải đói bụng, vậy thì miếng ăn lúc này là mồi nhử hữu hiệu nhất, bởi chính đây mới là kẻ thù đáng sợ nhất của con người trần thế: Đó là kẻ thù từ bên trong (tự thân chủ thể) – là “thù trong” chớ không phải “giặc ngoài” – kẻ thù đến từ bên ngoài (khách thể). Tuy nhiên, có một điều rất đáng lưu ý là ma quỷ không đưa bánh thật ra, mà lại đưa một hòn đá rồi bảo Đức Giê-su hoá phép cho hòn đá ấy biến thành bánh mà ăn. Cái quỷ quyệt của ma quỷ chính ở điểm này, bởi với một con người bình thường thì chúng chỉ cần đưa ra miếng bánh, nhưng đây lại là Thiên Chúa đầy quyền năng, vì thế chúng nhắm vào tâm lý kiêu ngạo, hiếu thắng, muốn chứng tỏ mình của con người, để kích động Chúa. Và nếu vì đói bụng, hoặc cũng có thể do bản tính loài người hay kiêu căng tự phụ, Chúa làm phép lạ biến đá thành bánh để ăn, thì Chúa đã mắc mưu thâm độc của chúng. Nói cách khác, nếu làm theo ý ma quỷ thì Chúa đã bị khuất phục, bị sai khiến theo ý chúng. Nhưng chúng đã thất bại, bởi đối tượng chúng cám dỗ không chỉ là một chàng thanh niên Giê-su Na-da-ret bình thường, mà còn là Con Một Thiên Chúa được sai đến để chế ngự tội lỗi, cứu độ nhân loại.

Không đánh vào cái bụng đói của Chúa được, chúng xoay qua mặt tâm linh, đó là tính kiêu ngạo. Nếu là một con người bình thường, khi biết chắc là mình có nhảy xuống từ nóc Đền Thờ cao chót vót cũng sẽ được “Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng” (Mt 4, 6), chắc chắn họ sẽ nhảy xuống liền, và như thế sẽ được hoan hô ca tụng tận mây xanh. Lòng kiêu căng tự phụ được ve vuốt, đối với con người thì còn gì hơn thế nữa? Ngay từ Nguyên tổ của loài người, chuyện này cũng đã xảy ra: Khi rắn (ma quỷ) xúi bà E-va ăn trái cấm, bà còn e ngại vì nhớ Lời Đức Chúa: “Các ngươi không được ăn, không được động tới, kẻo phải chết”, thì ngay lập tức “Rắn nói với người đàn bà: “Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác.” (St 2, 4-5). Ấy thế là Nguyên tổ phạm tội, loài người bị tội lỗi thống trị. Loài người là vậy đó, nhưng với Đức Giê-su thì vì Người là Thiên Chúa, nên Người quở mắng liền: “Nhưng cũng đã có lời chép rằng: Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi.” Sau 2 lần thất bại, ma quỷ lại xoay qua mặt phú quý vinh hoa là mồi nhử hấp dẫn nhất đối với con người. Chỉ cần quy phục, quỳ lạy chúng, sẽ được tất cả. Lần này thì Chúa đuổi thẳng: “Xa-tan kia, xéo đi! ” và ma quỷ thất bại hoàn toàn, bỏ đi một nước.

Quả thật, giặc từ bên ngoài đánh chiếm thành trì, còn có thể thấy rõ kẻ thù, may ra còn hy vọng chiến đấu; nhưng nếu đó là kẻ thù từ bên trong thì chúng đã đồng hóa với “cái tôi” trở thành vô hình vô ảnh; vậy thì làm sao chống đỡ cho nổi? Nói như vậy thì phải chăng con người luôn bị ma quỷ cám dỗ và đành thúc thủ trước những mưu mô quỷ quyệt của chúng sao? Xin thưa, nếu anh chỉ sống theo xác thịt, chiều theo thị hiếu vật chất, thì bảo đảm anh thua là cái chắc, nhưng anh còn một vũ khí rất lợi hại để có thế chống lại được ba thù, có thế chiến thắng được những cơn cám dỗ. Câu “Muốn thắng người, phải thắng được mình trước” (tục ngữ) có thể viết thành “Muốn thắng chước cám dỗ của ma quỷ, phải thắng được mình trước”. Mà cái vũ khi lợi hại để có thể thắng được mình (nhiên hậu mới nói đến thắng được cám dỗ), đó chính là: CẦU NGUYỆN.

Không tự tin quá đáng (sẽ thành tự kiêu), cũng không tự ti, mà hãy dốc lòng tin cậy vào Thiên Chúa, bởi “Nếu chỉ vì một người, một người duy nhất (là A-đam) sa ngã, mà sự chết đã thống trị, thì điều Thiên Chúa làm qua một người duy nhất là Đức Giê-su Ki-tô, lại còn lớn lao hơn biết mấy. Quả vậy, những ai được Thiên Chúa ban ân sủng dồi dào và cho trở nên công chính, thì sẽ được sống và được thống trị” (Rm 5, 17). “Được sống và được thống trị”, ấy chẳng phải là chiến thắng đó sao? Vậy thì tại sao lại không thể làm như lời dạy của Thánh Gia-cô-bê Tông đồ: “Anh em đau khổ ư? Người ấy hãy cầu nguyện. Ai vui vẻ chăng? Người ấy hãy hát thánh ca. Ai trong anh em đau yếu ư? Người ấy hãy mời các kỳ mục của Hội Thánh đến; họ sẽ cầu nguyện cho người ấy, sau khi xức dầu nhân danh Chúa. Lời cầu nguyện do lòng tin sẽ cứu người bệnh; người ấy được Chúa nâng dậy, và nếu người ấy đã phạm tội, thì sẽ được Chúa thứ tha. Anh em hãy thú tội với nhau và cầu nguyện cho nhau để được cứu thoát” (Gc 5, 13-16).

Vâng, để “Được sống và được thống trị”, xin cùng dâng lời cầu nguyện: Ôi ! Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, chính nhờ sống theo Thần Khí hướng dẫn vào trong hoang địa ăn chay cầu nguyện 40 đêm ngày, mà Chúa đã được đầy sức mạnh chiến thắng được cơn cám dỗ quỷ quyệt của ma quỷ. Để có thể chống chọi được với những mời mọc hấp dẫn, những cám dỗ ngọt ngào của xác thịt, của ma quỷ, cúi xin Chúa thương giúp chúng con thực hành theo lời Thánh Phê-rô: “Vậy anh em hãy tự khiêm tự hạ dưới bàn tay uy quyền của Thiên Chúa, để Người cất nhắc anh em khi đến thời Người đã định. Mọi âu lo, hãy trút cả cho Người, vì Người chăm sóc anh em. Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé. Anh em hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự, vì biết rằng toàn thể anh em trên trần gian đều trải qua cùng một loại thống khổ như thế” (1Pr 5, 6-9). Ôi lạy Chúa, con tín thác nơi Ngài. Amen.

[Mục Lục]

Bài 11. CÁM DỖ
Lm. Bùi Quang Tuấn

“Lửa thử vàng, gian nan thử đức”. Có qua cám dỗ mới biết được ai là người thánh thiện, ai là kẻ đê hèn. Waterstone có viết: “Đầu hàng cám dỗ là hành động của thú tính, chiến thắng nó mới là con người”.

Cám dỗ chưa phải là xấu. Nó có thể giúp người ta trở nên tốt hơn. Cám dỗ không phải là tội. Nó sẽ giúp thấy rõ hơn sự thánh thiện nơi một con người. Cám dỗ cũng không phải là hình phạt, song nó sẽ là triều thiên vinh quang cho những ai chiến thắng (W. Barclay).

Bị cám dỗ cũng có nghĩa là đứng trước một lựa chọn: tốt hay xấu, chiến đấu hay đầu hàng, theo ý Chúa hay thuận ý Satan.

Bậc anh hùng là người nếm chiến thắng và cái giá phải trả cho cuộc chiến. Chẳng ai trao huy chương cho kẻ bỏ cuộc, nhưng là con người đã can đảm chống lại kẻ thù.

Trong cuộc sống, chẳng ai tránh được cám dỗ. Chính Đức Giêsu còn bị cám dỗ, tức phải làm những cuộc chọn lựa và quyết định trong đời, huống hồ là tôi. Nơi con người, ai cũng có các động lực vị kỷ, thiển cận, ngại khó, thích nhàn, thúc đẩy một chọn lựa sai lạc mà kết quả là nỗi niềm bất hạnh. Adong và Evà đã nếm mùi xấu hổ, khổ đau, và chết chóc vì đã chọn lựa sai lầm. Bởi chọn theo ma quỷ, chống lại luật Chúa, tôn thờ cái tôi mà thương đau đã lan tràn đến khắp nhân loại.

Thế nhưng, “nếu bởi sự sa ngã của một người mà nhiều người phải chết… và do sự bất tuân của một người mà nhiều người bị liệt hàng tội nhân, thì cũng nhờ sự vâng phục của một người (Đức Giêsu Kitô) mà nhiều người sẽ được liệt hàng công chính” (Rm 5,12-19).

Chính Đức Giêsu, qua các cơn cám dỗ trong sa mạc, đã khẳng định nguồn ơn cứu thoát cho nhân loại bằng việc lấy chính Lời Chúa làm ánh sáng soi dẫn đường đi, lấy việc tùng phục thánh ý Thiên Chúa để thánh hóa con người trở nên “người” hơn, và lấy việc tôn thờ Thiên Chúa trên mọi tạo vật như giá trị tuyệt đối và hạnh phúc chân thực của cuộc đời.

Mỗi một ngày sống trên trần gian, tôi sẽ phải không ngừng chọn lựa. Một chọn lựa ngay chính sẽ giúp cho việc chọn lựa ngay chính kế tiếp của tôi dễ dàng hơn. Trái lại, một sự nhu nhược đầu hàng cũng dễ kéo theo những đầu hàng nhu nhược tiếp theo. Và rồi tôi sẽ khó tránh khỏi tình trạng “cây xiêu bên nào sẽ đổ về bên đó”.

Không phải là “thánh” nghĩa là không bị cám dỗ tấn công. Đức Giêsu là Đấng Thánh, ấy thế mà Ngài cũng phải trải qua kinh nghiệm của xung khắc giữa sự lành và sự ác. Thư Do thái ghi nhận rõ ràng: “Không phải Ngài là người không thể cảm thông với nỗi yếu hèn của chúng ta, song là Đấng đã dãi dầu bao cơn thử thách, đủ điều như chúng ta” (Dt 4,15). Và thái độ chọn lựa của Ngài đã làm nên hy vọng lớn lao cho con người mong manh của tôi. Ấy là “nếu tôi cùng chết với Ngài, tôi sẽ cùng Ngài phục sinh; nếu tôi chịu khổ với Ngài, tôi sẽ cùng Ngài thống trị” (1 Tim 2, 11-12).

Đứng trước những lời mời gọi ngọt ngào của thế gian và bao hấp lực quay cuồng của xác thịt, sự từ khước hay vượt thoát nào cũng hàm ngậm một cân lượng khổ đau, nếu không nói là “chết” trong lòng ít nhiều. Bất cứ sự thắng vượt gian dối, điêu ngoa, dục tình, tức giận, ích kỷ, kiêu căng, hay ươn lười nào cũng đòi hỏi một cuộc chiến gay go, lắm khi phải rướm máu con tim chứ chẳng chơi.

Thế nhưng, cần phải chiến đấu để có thể chiến thắng! Cho dù thử thách và cám dỗ nặng nề đến đâu tôi vẫn xác tín như Thánh Phaolô: “Thiên Chúa trung tín sẽ không để con người bị cám dỗ quá sức. Trái lại, cùng với cám dỗ Ngài sẽ chừa cho lối thoát để có thể chịu đựng nổi” (1 Cr 10,13).

Sự “chịu đựng” đến khi chiến thắng chỉ có thể đạt tới nhờ liên kết chân thành với Thiên Chúa. Không gì tạo nên gắn bó cho bằng cầu nguyện. Chính nhờ cầu nguyện mà Chúa Giêsu đã có sức mạnh chịu đựng và chiến thắng tên Cám Dỗ ngay từ phút đầu.

Bước vào hành trình mùa Chay, tôi được kêu mời tu chỉnh lại đời sống cầu nguyện, để nhờ đó sức mạnh của Đức Kitô luôn ở trong tôi, giúp tôi can đảm chọn lựa những gì thuộc về Thiên Chúa, vững bước vượt bao chông gai trong đời, tiến đến đích cùng của bình an và hạnh phúc chân thật.

[Mục Lục]

Bài 12. CHỌN LỰA
Lm Carolo Hồ Bạc Xái

I. DẪN VÀO THÁNH LỄ

Chúng ta đã bước vào mùa chay, mùa sám hối. Sám hối là quay về nếu như mình đã đi lạc. Thực ra, ngay từ đầu, nguyên tổ loài người đã đi lạc do đã chọn lựa sai : chọn ý riêng thay vì ý Chúa. Rất may là Đức Giêsu, Ađam mới, đã sửa lại cái sai đó : trong những cơn cám dỗ khi bắt đầu sứ vụ của Ngài, Ngài đã nhất quyết chọn làm theo ý Thiên Chúa.

Cuộc đời chúng ta cũng dệt bằng một chuỗi những chọn lựa. Hôm nay chúng ta hãy suy gẫm về sự chọn lựa của nguyên tổ và của Đức Giêsu. Chúng ta xin Chúa soi sáng và trợ lực để khi đứng trước những cám dỗ thường xuyên trong đời, chúng ta luôn biết chọn lựa như Đức Giêsu.

II. GỢI Ý SÁM HỐI

- Chúng ta là con cái Thiên Chúa vì chúng ta được dựng nên giống hình ảnh Ngài. Lẽ ra chúng ta phải luôn sống trước nhan Ngài và vâng phục thánh ý Ngài. Nhưng chúng ta lại thường làm ngược ý Ngài và sống như không có Ngài.

- Chúng ta là em của Đức Kitô. Lẽ ra chúng ta phải luôn ghi nhớ và làm theo Lời Ngài. Nhưng chúng ta thường quên Lời Ngài, nhất là khi đứng trước những cơn cám dỗ.

- Chúng ta có ý thức về thân phận tội lỗi của mình và quyết tâm chiến đấu với khuynh hướng ích kỷ, tham lam, kiêu ngạo, ươn lười của mình không ?

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc Cựu Ước (St 2,7-9 3,1-17)

Đây không phải là một bài tả chân đúng y sự việc đã diễn ra, mà là một vỡ tuồng mà trong đó tác giả sử dụng nhiều hình ảnh tượng trưng để chuyển đạt những ý tưởng giáo lý về tình thương của Thiên Chúa, về cám dỗ, về quyền tự do chọn lựa của con người và hậu quả của sự chọn lựa ấy. Ta có thể coi bài tường thuật này như là một vở bi kịch, vở bi kịch đầu tiên trong lịch sử loài người.

Vở bi kịch gồm 3 màn :

- Màn 1 là tình thương của Thiên Chúa : Ngài đã dựng nên loài người từ hai yếu tố là vật chất (“bụi đất”) và thần linh (“hơi thở” của Ngài). Ngài lại còn ban cho con người một cuộc sống hạnh phúc (“vườn Êđen”).

- Màn 2 là cám dỗ : Satan (“con rắn”) khéo léo lái con người sang một hướng lệch lạc : không nhớ đến tình thương Thiên Chúa mà chỉ nghĩ đến sự cấm đoán của Ngài ; không thấy những ân huệ của Ngài mà lại nghĩ rằng Ngài ganh tị sợ con người bằng Ngài ; thay vì vâng lời Thiên Chúa thì lại làm theo ý riêng để tự mình “biết lành biết dữ”. Cám dỗ đã len vào con người qua các giác quan (mắt nhìn, miệng thèm, đưa tay hái).

- Con người được đặt trước một sự chọn lựa căn bản : hoặc làm con Thiên Chúa và vâng theo ý Ngài, hoặc “muốn bằng Thiên Chúa” nên theo ý riêng mình.

- Tiếc thay, nguyên tổ loài người đã chọn sai, gây hậu quả tai hại cho cả loài người.

2. Đáp ca : Tv 50

Thánh vịnh 50 là tiếng kêu van thống thiết của loài người con cháu nguyên tổ : ý thức thân phận tội lỗi của mình nhưng vẫn trông cậy vào tình thương xót thứ tha của Thiên Chúa.

3. Bài Tin Mừng (Mt 4,1-11)

Cũng là một vở kịch với những hình ảnh tượng trưng (“sa mạc” khô cằn đối lập với “vườn Êđen” xanh tươi, những hòn đá, mỏm núi cao, tháp đền thờ). Vở kịch này tương phản với vở đầu tiên và đi đến một kết thúc tốt đẹp.

- Sau tội nguyên tổ, thân phận loài người đổi thay hẳn : không sống trong vườn Êđen tươi mát mà phải sống trong sa mạc khô cằn.

- Cám dỗ vẫn đeo bám Đức Giêsu để xúi Ngài chọn sai : a/ chuộng những thứ vật chất thỏa mãn cho nhu cầu cuộc sống thân xác (bánh) mà bỏ quên lương thực nuôi dưỡng cuộc sống thần linh (Lời Chúa) ; đối với Thiên Chúa thì không chú ý vâng theo ý Ngài mà lại bắt Ngài phải chìu ý mình ; b/ không thờ phụng một mình Thiên Chúa nhưng lại tôn thờ những vinh hoa lợi lộc của thế gian.

- Đức Giêsu là Ađam mới đã cương quyết chọn vâng phục Thiên Chúa nên đã chiến thắng tất cả các cơn cám dỗ ấy.

4. Bài thánh thư (Rm 5,12.17-19)

Thánh Phaolô đã nhìn lại hai vở kịch ấy và rút ra kết luận : Đức Giêsu là Ađam mới mang lại một tương lai mới cho loài người : “Chỉ vì một người không vâng lời Thiên Chúa mà muôn người bị liệt vào hạng tội nhân, thì nhờ một người đã vâng lời Thiên Chúa mà muôn người cũng sẽ được kể là công chính”. Kết luận này khuyến cáo hãy coi chừng nguy hiểm lớn nhất là sự không vâng phục, đồng thời kêu gọi một người học theo gương Đức Giêsu luôn vâng phục thánh ý Thiên Chúa.

IV. GỢI Ý GIẢNG

1. Chọn lựa

Một tục lệ : ngày thôi nôi của một đứa bé, người ta quen đặt trước mặt nó nhiều món đồ (thí dụ một cây viết, một cái cày nhỏ, một cây súng v.v.). Người ta hồi hộp xem nó chọn món nào và từ đó suy đoán về tương lai của nó (chọn cây viết : sẽ là nhà trí thức ; chọn cái cày : sẽ làm ruộng ; chọn cây súng : sẽ đi lính). Tuy hơi dị đoan, nhưng tục lệ này nói lên hai ý tưởng khá sâu sắc : a/ con người luôn phải lựa chọn ; b/ đã quen chọn thế nào thì sẽ tiếp tục chọn thế ấy. Người ta nói “cuộc sống là một chuỗi của lựa chọn”. Quen chọn đúng thì sống tốt, quen chọn sai thì sống xấu.

2. Nhìn thẳng vào thực tại cám dỗ

- Chúng ta đừng nuôi ảo tưởng về một thế giới mà mọi sự đều tốt lành. Thân phận con người là sống giữa thế gian mà trong đó thiện ác, lành dữ lẫn lộn.

- Chính vì thế, khi Con Thiên Chúa xuống thế làm người, chính Chúa Thánh Thần đã dẫn Người vào sa mạc để đối diện với các cơn cám dỗ.

- Người ta sống tốt không phải bằng cách che mắt dấu mặt để khỏi nhìn thấy điều xấu, mà trái lại bằng cách nhìn thẳng vào điều xấu và chiến đấu để chiến thắng nó.

- Trong Mùa Chay, mỗi người hãy nhìn thẳng vào nội tâm mình. Không phải chỉ nhìn những mặt tốt, mà nhất là phải nhìn thẳng vào những mặt xấu, những thứ “tham, sân, si” đang âm thầm nhưng mãnh liệt khống chế mình.

- Và hãy nhìn vào cuộc chiến đấu của Đức Giêsu. Người đã thắng nhờ đâu ? Nhờ làm theo Lời Thiên Chúa và thực hiện thánh ý Thiên Chúa.

3. Tái lập bậc thang các giá trị

- “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh…” : Qua lời này, Chúa không bảo chúng ta đừng tìm cơm bánh, nhưng Ngài nhắc chúng ta đừng chỉ tìm cơm bánh.

- Bị quay cuồng trong cuộc sống vật chất, con người dễ bị cuốn hút theo vật chất : từ tình trạng quân bình dành mối quan tâm đồng đều cho những nhu cầu tinh thần và vật chất, chúng ta dần dần bị cám dỗ xén bớt phần tinh thần để vun đắp thêm cho phần vật chất, và cuối cùng chỉ còn có vật chất và vật chất.

- Mùa chay là khoảng thời gian thích hợp cho chúng ta lùi lại để có một khoảng cách sáng suốt mà nhận định lại các bậc thang giá trị đời mình, theo tiêu chuẩn mà Đức Giêsu đưa ra : “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh mà còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra”.

- Những việc làm được Giáo Hội khuyến khích trong Mùa Chay cũng nhằm giúp chúng ta tái lập lại các bậc thang giá trị : tự ý giảm bớt ăn uống, làm chủ những khuynh hướng của mình, quan tâm tìm hiểu ý Chúa và lắng nghe Lời Chúa hơn v.v.

4. Ý muốn hướng dẫn hành động

- Ý muốn là động cơ và là sức mạnh. Bởi đó người ta nói “Ý lực”. Không có những hành động ngẫu nhiên vô tình. Mọi hành động đều đi theo sau một ý muốn dẫn dắt.

- Muốn điều đúng và tốt thì sẽ hành động đúng và cuộc đời sẽ tốt.

- Nhưng ý muốn riêng không hẳn là luôn luôn đúng và tốt. Bởi thế con cái còn khờ dại thì nên làm theo ý muốn của cha mẹ, học trò còn non kém thì tốt nhất nên theo ý hướng dẫn của thầy cô. Trong những trường hợp này, vâng lời trở thành con đường khôn ngoan nhất và tốt đẹp nhất.

- Ađam Evà đã theo ý của ma quỷ và theo ý riêng dẫn đến kết quả bi thảm cho cả loài người. Ngược lại Đức Giêsu dù là Con Thiên Chúa nhưng đã quyết luôn làm theo ý muốn của Chúa Cha và đã cứu chuộc loài người : “Chỉ vì một người không vâng lời Thiên Chúa mà muôn người bị liệt vào hạng tội nhân, thì nhờ một người đã vâng lời Thiên Chúa mà muôn người cũng sẽ được kể là công chính”.

5. Cám dỗ của Đức Giêsu và của chúng ta

Một cuốn phim đã làm xôn xao dư luận một thời (khoảng năm 1989) là phim “Cơn cám dỗ cuối cùng của Đức Kitô” (The last temptation of Christ), phỏng theo quyển tiểu thuyết cùng tên của nhà văn hy lạp Nikos Kazantzakis. Cuốn phim và quyển tiểu thuyết mô tả lúc Đức Giêsu bị treo trên thập giá. Ngài đã ngất đi và thấy mình rời bỏ thập giá để trở lại cuộc sống bình thường. Ngài đi tìm lại nàng Mađalêna, cưới nàng làm vợ. Sau đó Ngài lại tìm đến với hai chị em Matta và Maria và cũng cưới luôn hai người này. Ngài có rất nhiều con và sống rất hạnh phúc.

Báo chí và các đài phát thanh đưa tin rằng khi cuốn phim được trình chiếu lần đầu, những người có đạo đã đập phá rạp chiếu bóng tan tành, đến nỗi lần chiếu sau phải chiếu ở một rạp đặc biệt được cô lập bởi chung quanh toàn là nước để khỏi bị đập phá lần nữa.

Thực ra cốt chuyện cũng chẳng có gì xúc phạm cho lắm. Tuy tác giả có nói Đức Giêsu rời khỏi thập giá và cưới 3 người vợ, có nhiều con, nhưng đó chỉ là một cơn cám dỗ của Ngài mà thôi. Cuối cùng Ngài đã lắc đầu không theo cơn cám dỗ đó. Sau đó Ngài tỉnh lại vẫn thấy mình đang bị treo trên thập giá, và Ngài hô lớn một tiếng kêu chiến thắng “Thế là đã hoàn tất”, rồi Ngài tắt thở, hoàn tất đời mình trong tâm tình luôn trung thành với Chúa Cha. Trong đoạn mở đầu quyển tiểu thuyết của mình, Nikos Kazantzakis đã trình bày rõ ý hướng của ông : Ông tin Đức Giêsu vừa là Chúa vừa là người. Và ông muốn nhìn Ngài dưới khía cạnh làm người, vì thế ông đã tưởng tượng những cơn cám dỗ và những cuộc chiến đấu vô cùng cam go mà con người Giêsu đã phải đương đầu và đã anh dũng chiến đấu như thế nào. Mục đích là để càng thấy rõ hơn Đức Giêsu chính là mẫu mực cho con người chúng ta, để chúng ta cảm phục Ngài hơn và để khuyến khích chúng ta can đảm hơn trong khi chiến đấu với những cơn cám dỗ của chính chúng ta. Tác giả đã thổ lộ : “Trong khi viết, tôi đã cảm động đến phát khóc. Tôi chưa bao giờ cảm thấy máu của Chúa rơi từng giọt vào tim tôi với sự ngọt ngào như vậy, với nỗi đớn đau như vậy”.

6. Chuyện minh họa

Có 3 người mục tử, mỗi người coi sóc một đàn chiên.

Một đêm mùa đông vừa gió vừa mưa. Khi 3 người đang ngủ thì nghe có tiếng chó sói.

- Người thứ nhất tung chăn thức dậy định ra ngoài xem xét tình hình. Nhưng nghe tiếng mưa rơi gió rít, anh ngại ngùng và trở vào giường ngủ tiếp.

- Người thứ hai cũng thức dậy, mặc thêm quần áo mở cửa đi ra. Nhưng một đợt nước mưa quất ngay vào mặt anh làm anh bỏ ngay ý định ra ngoài. Anh cũng trở vào giường nằm xuống, kéo chăn đắp kín và ngủ tiếp.

- Người thứ ba cũng thức dậy, cũng mặc quần áo, và cũng ra ngoài. Dù gió lạnh, dù mưa ướt, anh vẫn cố chịu đựng, đi đến tận chỗ đàn chiên của anh để xem. Khi đã thấy chiên mình an toàn, anh mới trở vào nhà ngủ tiếp.

Trong 3 người đó, ai là người hiểu biết rõ nhất về sự khắt nghiệt của gió và mưa ? Dĩ nhiên là người thứ ba.

Cũng thế, người hiểu rõ nhất về cám dỗ là người đã chiến đấu và chiến thắng nó.

Vì vậy, nếu ta muốn học cách đương đầu với cám dỗ, đừng học với những kẻ tội lỗi, mà hãy học với những vị thánh.

Như trong các bài đọc hôm nay, chúng ta đừng học với dân Israel trong thời xuất hành ở sa mạc, mà hãy học với Đức Giêsu.

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

Chủ tế : Anh chị em thân mến

Mùa Chay là thời gian thuận tiện để người kitô hữu sám hối tội lỗi và quay trở về với Chúa, vì Chúa không muốn cho người có tội phải chết, nhưng muốn họ sám hối ăn năn để được sống. Với quyết tâm xa lánh tội lỗi và đổi mới đời sống, chúng ta cùng tha thiết nguyện xin.

1- Ngày xưa / Chúa đã sai ngôn sứ Giona đến kêu gọi dân Ninivê ăn năn hối cải / Ngày nay Chúa cũng bảo Hội Thánh khuyên nhủ các kitô hữu sám hối lỗi lầm / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các tín hữu / biết sống trọn vẹn tinh thần khắc khổ của Mùa Chay / để đền tội và tôi luyện xác hồn.

2- Miếng ăn / danh vọng / địa vị / tiền bạc / thú vui / nhiều khi làm đảo điên lòng người / băng hoại xã hội / xói mòn niềm tin / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi người / đặc biệt là giới trẻ chưa có kinh nghiệm sống / biết khôn ngoan tránh xa những cám dỗ bất chính / những cạm bẫy tinh vi đầy dẫy trong cuộc sống thường ngày.

3- Dù đã có nhiều cuộc tranh đấu cho sự bình đẳng giữa người nam và người nữ / nhưng trong thực tế / ở nhiều nơi trên thế giới này nay / người phụ nữ vẫn bị coi thường / nhân phẩm bị chà đạp / thân xác bị xem như một món hàng kinh doanh / thậm chí bị đày đọa / bị đối xử thô bạo ngay trong gia đình / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho những ai có trách nhiệm / biết luôn tìm cách giúp người phụ nữ sống xứng với nhân phẩm của mình.

4- Chúa Giêsu nói / “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh / nhưng nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra” / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết cố gắng sống theo lời Chúa dạy trong Tin Mừng / nhờ đó mà trở nên những công dân gương mẫu.

CT : Lạy Chúa, xin cho chúng con thấm nhuần lời Chúa dạy, để chúng con biết chế ngự những đam mê và dục vọng trần thế, nhờ đó mùa chay thánh này đem lại nhiều lội ích cho chúng con. Chúng con cầu xin…

[Mục Lục]

Bài 13. NHỮNG CƠN CÁM DỖ
ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

Có nhiều người thắc mắc: Ăn chay là gì? Phải chăng là để dằn vặt thân xác, hành khổ con người cho Chúa vui lòng? Hỏi như vậy là chưa hiểu đạo, chưa hiểu hết ý nghĩa của việc ăn chay. Chúa đâu phải quá độc ác, bệnh hoạn, vui lòng khi thấy con người chịu khốn khổ. Ăn chay một phần để hy sinh đền tội, nhưng mục đích chính của việc ăn chay là để thao luyện tâm hồn chống lại quỷ dữ.

Ngày nay người ta quên sự có mặt của ma quỷ. Nhưng ma quỷ vẫn có đó và và vẫn tích cực hoạt động nhằm phá huỷ thế giới, tiêu diệt con người. Ma quỷ rất tinh ma xảo quyệt nên người ta khó nhận ra âm mưu, dấu vết của chúng.

Nhìn vào ba cuộc ma quỷ cám dỗ Đức Giêsu, ta thấy ma quỷ rất tinh khôn. Nó có kế hoạch, có chiến thuật, tấn công nhiều đợt, nhiều bước.

Thoạt tiên ma quỷ tấn công vào những bản năng sơ đẳng nhất nơi con người: bản năng sinh tồn, bản năng thống trị, bản năng đối nghịch. Những bản năng ấy gắn liền với những nhu cầu căn bản, chính đáng của con người.

Kéo chú ý của người ta vào những nhu cầu rồi, ma quỷ tiến bước thứ hai, đó là phóng đại những nhu cầu đó lên, làm cho người ta lầm tưởng rằng, đó là những nhu cầu cấp bách, phải thoả mãn ngay tức khắc.

Khi ta đã hoàn toàn mê mẩn vì cái bẫy nhu cầu, ma quỷ mới đẩy ta đến bước thứ ba, đó là tìm thoả mãn những nhu cầu theo ý riêng mình. Cách giải quyết đó ngược lại với ý muốn của Thiên Chúa. Mục đích sau cùng của ma quỷ là xúi giục ta phản loạn, không sống tâm tình người con hiếu thảo với Chúa, chống lại Chúa và sau cùng lìa xa Thiên Chúa.

Ông bà nguyên tổ đã rơi vào bẫy của ma quỷ nên đã không sống tâm tình của người con hiếu thảo, muốn lìa bỏ cha mình, muốn ngang bằng cha mình, muốn chống lại cha mình.

Chúa Giêsu, trái lại, đã sáng suốt vạch trần âm mưu của ma quỷ và kiên quyết sống tâm tình của người con hiếu thảo.

Khi ma quỷ phóng đại nhu cầu, muốn cho Chúa Giêsu tưởng rằng con người chỉ là vật chất, chỉ sống nhờ bánh vật chất, vật chất là tất cả đời sống. Chúa Giêsu đã sáng suốt chỉ cho ta thấy vật chất không phải là tất cả, bánh vật chất của trần gian là cần, nhưng bánh tinh thần của trời cao còn cần hơn.

Khi ma quỷ thúc giục Chúa Giêsu hãy thoả mãn tức khắc nhu cầu cảu mình, Chúa Giêsu đã biết kiên nhẫn chờ đợi. Khi ma quỷ khích Chúa Giêsu dùng quyền năng riêng của mình để thoả mãn nhu cầu, Chúa Giêsu đã từ chối. Người muốn vâng phục Đức Chúa Cha, tin tưởng phó thác vận mệnh trong tay Chúa Cha, để mặc Chúa cha quyết định.

Tuy đã thắng trong cuộc đọ sức đầu tiên, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục bị ma quỷ cám dỗ trong suốt cuộc đời. Cơn dỗ khi đến từ những người tin theo Chúa, muốn tôn Chúa làm vua để được ăn no nê bánh vật chất, khi thì đến từ những người chống đối đòi xin phép lạ từ trời xuống. Có lúc ma quỷ mượng chính những người thân tín như Phêrô để ngăn cản Chúa Giêsu thực hành ý Chúa Cha. Có lúc ma quỷ dùng cái chết ghê sợ để uy hiếp tinh thần, mong Chúa Giêsu lùi bước để tìm ý riêng mình. Chúa Giêsu đã chiến thắng mọi cơn cám dỗ vì Người luôn tìm thánh ý Chúa Cha. Dù khi phải chiến đấu trong mồ hôi pha máu, Người vẫn nói: “Lạy Cha, xin đừng theo ý Con, xin vâng theo ý Cha mà thôi”.

Ma quỷ vẫn đang tiếp tục tạo nên những cơn cám dỗ. Và nhiều khi chúng ta đã mắc bẫy ma quỷ. Ta mắc bẫy ma quỷ khi mải mê đuổi theo những nhu cầu tiêu thụ quá đáng. Ta rơi vào âm mưu ma quỷ khi ta muốn có tất cả và có tức khắc. Ta hoàn toàn nằm trong vòng tay ma quỷ khi ta dùng mọi phương tiện để thoả mãn những nhu cầu, bất chấp ý Thiên Chúa.

Thay vì tuân phục ý Chúa, tôi luôn luôn bắt Chúa làm theo ý tôi. Thay vì vâng lời Chúa, tôi luôn luôn muốn sai bảo Chúa.

Mùa Chay này, Chúa kêu gọi tôi trở về với Chúa. Muốn trở về với Chúa, tôi phải chiến đấu chống lại ma quỷ. Muốn đủ sức chống lại ma quỷ, tôi phải luyện tập bỏ ý riêng mình và tìm vâng phục ý Chúa.

Hãy đặt ra cho mình một chương sống Mùa Chay bằng tăng cường hy sinh, cầu nguyện, ăn chay và làm việc bác ái.

Thiên Chúa Cha, Đấn giàu lòng thương xót đang chờ đón tôi trở về, và sẽ ban sức mạnh để tôi đủ sức chống lại mọi chước cám dỗ, nếu tôi biết sống trọn tình con thảo, tin cậy phó thác vào Người.

Lạy Thiên Chúa là Cha của con, xin đón nhận tâm hồn khiêm nhường sám hối của con.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1) Theo bạn, ngày nay ma quỷ còn hoạt động trong thế giới không? Nếu có, bạn cho một ví dụ.
2) Bạn thường thua hay thắng cuộc khi gặp phải cám dỗ. Thua, tại sao? Thắng, nhờ đâu?
3) Đâu là âm mưu của ma quỷ che dấu đàng sau những cơn cám dỗ?

[Mục Lục]

Bài 14. ĐỨC GIÊSU BỊ CÁM DỖ
Lm Giuse Đinh Lập Liễm

A. DẪN NHẬP

Chúng ta bắt đầu bước vào mùa Chay thánh. Mùa chay kéo dài trong 40 đêm ngày. Đây là thời gian chiến đấu, chiến đấu với ngọai cảnh, chiến đấu với chính bản thân mình. Thánh Kinh gọi chung là chiến đấu với sự dữ. Lịch sử đã chứng minh : Adong và Eva – những con người đầu tiên – bị ma quỉ cám dỗ và đã bị sa ngã. Hậu quả đem lại cho lòai người là mất quyền làm con Chúa, phải sống dưới quyền lực của ma quỉ và tội lỗi và sau cùng là sự chết.

Đức Giêsu – được gọi là Adong mới – cũng bị ma quỉ cám dỗ trong sa mạc, nhưng đã kiên cường chống trả và sau cùng đã chiến thắng vẻ vang. Chúng ta cũng bị ma quỉ cám dỗ vì Chúa cho phép ma quỉ cám dỗ để chúng ta trở nên con người trưởng thành và có giá trị, bởi vì như Kinh Thánh nói : “Lửa thử vàng, gian nan thử đức”. Chúa đòi chúng ta phải chiến đấu kiên cường để chống lại các chước cám dỗ.

Chúng ta phải nhận định rằng Thiên Chúa yêu thương con người, ban cho con người mọi ơn lành hồn xác, nhưng yêu thương không có nghĩa là không bị thử thách. Thử thách là điều kiện cần để làm cho con người có giá trị, mới biết rõ vàng thau, mới biết ai trung thành, ai phản bội. Thử thách đòi con người phải “lựa chọn”. Chọn lựa có thể đúng, có thể sai. Chọn đúng theo ý Chúa thì được hạnh phúc, chọn sai ý Chúa, nghĩa là theo ý mình, thì bất hạnh. Sự lựa chọn làm cho con người phải băn khoăn, đắn đo vì phải lãnh lấy hậu quả. Adong đã lựa chọn, Đức Giêsu cũng lựa chọn, nhưng ai đã chọn đúng, ai đã chọn sai ? Chúng ta hãy đọc các bài Sách Thánh để rút ra bài học thực hành.

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

+ Bài đọc 1 : St 2,7-9.

Thiên Chúa yêu thương và thánh thiện vô cùng không bao giờ cám dỗ để làm hại ai, nhưng Ngài để con người bị cám dỗ với mục đích có quyền tự do lựa chọn để con người tỏ lòng trung thành hay chống lại Ngài.

Ma quỉ đã nắm lấy cơ hội này, lấy hình dạng con rắn để cám dỗ bà Evà. Lý do đưa ra rất đơn giản : cứ ăn đi, chẳng chết chóc gì đâu vì Thiên chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra và ông bà sẽ trở nên như vị thần biết điều thiện ác. Chính sự kiêu ngạo đã thúc đẩy ông bà đến chỗ không muốn tôn trọng thánh ý Thiên Chúa mà muốn sống tự lập, không qui phục Thiên Chúa nữa.

Đúng là gieo gió thì gặt bão, ông bà đã sa ngã , phải lãnh nhận lấy trách nhiệm về việc làm của mình, hậu quả của sự sa ngã ấy là mất quyền làm con Chúa, phải mang thân phận tôi đòi dưới quyền lực tội lỗi, chịu đau khổ hồn xác, và sau cùng phải chết. Hậu quả tai hại này là do sự lựa chọn sai lầm.

+ Bài đọc 2 : Rm 5,12-19.

Thánh Phaolô so sánh Đức Kitô với Adong để nhìn thấy sự khác biệt giữa hai vị. Adong vì bất trung đã sa ngã phạm tội, làm cho mọi người trở thành tội nhân, đã đem sự chết đến cho mọi người kể cả những người không trực tiếp lỗi luật Chúa. Còn Đức Kitô nhờ sự vâng phục và sự dâng hiến mình làm cho mọi người tìm lại sự sống, hạnh phúc và tình yêu.

Thánh Phaolô ca tụng vai trò của Đức Kitô, sự hy sinh chịu chết của Ngài lớn lao hơn tất cả tội lỗi của nhân lọai. Nhờ Ngài mà nhân lọai nên công chính, được tái lập tình trạng nghĩa thiết với Thiên Chúa và được đón lại sự sống của Thiên Chúa.

+ Bài tin mừng : Mt 4, 1-11.

Thiên Chúa thì không bao giờ bị cám dỗ, nhưng Đức Giêsu với tính cách là một con người thì vẫn bị cám dỗ như thường. Ma qủi đã cám dỗ Đức Giêsu đừng thi thành thánh ý Chúa Cha hoặc thi hành sứ vụ cứu thế của mình bằng một đường lối khác với kế họach của Thiên Chúa Cha : thay cho sự khiêm hạ và khổ nạn bằng quyền lực thế gian và sức mạnh vật chất.

Qua bài tường thuật, thánh Matthêu cho biết ma quỉ đã cám dỗ Đức Giêsu xoay quanh 3 vấn đề :

a) Chuộng những thứ vật chất thỏa mãn cho nhu cầu cuộc sống thân xác mà bỏ quên lương thực nuôi dưỡng cuộc sống thần linh.

b) Đối với Thiên Chúa thì không chú ý vâng theo ý Ngài mà lại bắt Ngài phải chiều theo ý riêng của mình.

c) Không thờ phượng một mình Thiên Chúa, nhưng lại tôn thờ những vinh hoa lợi lộc của thế gian.

Đức Giêsu đã cương quyết tuân phục thánh ý Chúa Cha nên đã chiến thắng tất cả các cơn cám dỗ. Khác với Adong-Evà, Đức Giêsu, một Adong mới, đã biết lựa chọn đúng và kết quả là đem lại ơn cứu rỗi và sự sống cho lòai người.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA

Sống là lựa chọn.

I. ĐỨC GIÊSU BỊ MA QUỈ CÁM DỖ

1. Đức Giêsu vào hoang địa.

Khởi đầu sứ vụ rao giảng Tin mừng, Đức Giêsu được Thánh Thần đưa vào hoang địa. Ở đó sống trong cô tịch, ăn chay 40 đêm ngày, sau đó Ngài cảm thấy đói và nhân cơ hội này quỉ hiện ra cám dỗ Ngài.

Đức Giêsu đi vào trong hoang điïa, xa chốn kinh thành để tĩnh tâm. Hoang địa hay sa mạc là nơi trơ trọi, vắng vẻ, thiếu thốn, khác hẳn với phố thị ồn ào, tiện nghi, nơi mà con người phải đối diện với chính mình và Thiên Chúa. Nếu khám phá và phó thác nơi tình yêu Thiên Chúa, con người lại cảm nhận được tình yêu lớn lao ấy. Do đó, theo quan niệm Thánh Kinh, sa mạc hay hoang địa tiềm ẩn một giá trị thật to lớn vì giúp con người dễ “gặp gỡ Thiên Chúa”. Nhưng cũng là nơi mà con người phải chiến đấu chống các cám dỗ do ma qủi bầy ra để làm ta xiêu lòng.

Đức Giêsu ăn chay 40 đêm ngày. Đây là con số biểu tượng thường được Thánh Kinh dùng để chỉ một khỏang thời gian : 40 ngày lụt đại hồng thủy (St 7,4), 40 năm dân Do thái trong sa mạc (Xh 16,35), Maisen lên úi cầu nguyện 40 đêm ngày (Xh 24,18)… Ở đây muốn nói lên việc phải có thời gian cần thiết để huấn luyện và thử thách trước khi nhận lãnh một sứ mệnh.

2. Ngài bị ma qủi cám dỗ

a) Ai tiết lộ việc Đức Giêsu bị cám dỗ?

Không ai đọc câu chuyện này lại không nhớ rằng nguồn cung cấp duy nhất mọi dữ kiện này phải do từ chính Đức Giêsu. Trong hoang địa Ngài ở một mình, trong cơn chiến đấu không có ai ở bên cạnh Ngài nên không ai biết được; như vậy phải do chính Đức Giêsu kể lại cho các môn đệ Ngài nghe. Từ cuộc chiến đấu cá nhân Ngài đã vén màn để giúp chúng ta trong cuộc chiến đấu của mình.

b) Ý nghĩa chước cám dỗ

Thông thường cám dỗ có nghĩa xấu, bao giờ cũng bao hàm ý xúi giục làm điều quấy, tìm cách lôi cuốn vào đường tà. Nhưng trong nguyên ngữ “peirazein” có nghĩa là thử nghiệm (khác hẳn với cám dỗ). Một trong những truyện tích vĩ đại nhất của Cựu ước là truyện Abraham súyt phải dâng Isaac là con trai độc nhất làm của lễ : “Khi mọi việc kia đã xong thì Thiên Chúa thử Abraham” (St 22,1). Rõ ràng chữ “thử” ở đây không có nghĩa là dụ dỗ làm điều ác.

Nói rõ hơn, trong tiếng Do thái, chữ “cám dỗ” có nghĩa là “thử thách”, “thử tài”, giống như chữ “đi thi” của chúng ta ngày nay. Cám dỗ là đi thi : ai thắng cám dỗ là thi đậu. Ai sa ngã là thi rớt. Bởi thế cám dỗ là dịp tốt để ta “lấy bằng cấp”. Người qua thử thách mới có giá trị, người chưa qua thử thách chưa hẳn là người đã đứng vững :

Có gió lung mới biết tùng bá cứng,

Có lửa hừng mới biết thức vàng cao.

c) Có người hồ nghi việc Đức Giêsu bị cám dỗ

Cách cám dỗ diễn ra, có người bảo là không thể tin được. Nhưng xét ra nó rất hợp với tính tình con người. Con Thiên Chúa dám xông pha vào nguy cơ của con người hay gặp nhất để con người nhận thấy rằng Ngài ở bên cạnh mà nâng đỡ, Ngài hiểu rõ người ta khi bị cám dỗ : “Vì Ngài bị cám dỗ, Ngài có thể cứu giúp những ai bị cám dỗ”(Dt 2,18).

3. Ba chước cám dỗ diễn ra

Cũng cần nhớ sự khác biệt giữa Cựu ước và Tân ước về cám dỗ. Quan niệm trong Cựu ước là chính Thiên Chúa đã thử thách con người. Tân ước minh định tác nhân cám dỗ con người là ma quỉ. Vì thế, trong bài Tin mừng hôm nay, thánh Matthêu đã mô tả Đức Giêsu đã phải trải qua ba cơn cám dỗ.

a) Cám dỗ thứ nhất (Mt 4,3-4) “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy khiến những hòn đá này biến thành bánh”. Qua cám dỗ này, chúng ta thấy ma quỉ không có ý cám dỗ Chúa về sự mê ăn uống mà cám dỗ Ngài làm phép lạ cho đá hóa thành bánh, nghĩa là chúng muốn cám dỗ Ngài dùng sai khả năng, sai mục đích, dùng uy quyền vô lý mà biểu diễn một phép lạ không có lý do chính đáng. Nếu Ngài nghe nó mà làm phép lạ thì Ngài mắc mưu nó vì Ngài không còn tin vào sự quan phòng của Chúa nữa. Ngài đã chiến thắng và dựa vào Kinh Thánh mà bảo nó : “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra”(Mt 4,4).

b) Cám dỗ thứ hai (Mt 4,5-7). “Nếu ông là Con Thiên Chúa hãy gieo mình xuống đi”. Trong cơn cám dỗ này, ma quỉ xúi giục Đức Giêsu về sự kiêu ngạo, muốn tôn mình lên. Trong cám dỗ thứ nhất, Đức Giêsu đã dựa vào sự quan phòng che chở của Thiên Chúa để chiến thắng ma quỉ. Trong cơn cám dỗ này, quỉ lại lợi dụng sự che chở ấy để dụ dỗ Đức Giêsu đòi hỏi Thiên Chúa can thiệp để che chở cho mình (Tv 91,13). Và như vậy, con người áp đặt ý muốn của mình trên Thiên Chúa, muốn Thiên Chúa phải theo ý mình mà thực hiện một phép lạ, tức là thử thách Thiên Chúa. Đức Giêsu đã trả lời cho ma quỉ qua Thánh Kinh : “Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi” (Mt 4,7).

c) Cơn cám dỗ thứ ba (Mt 4,8-10). “Nếu ông sấp mình thờ lậy tôi”. Đây là cám dỗ mà xưa kia dân Do thái đã sai phạm. Khi con người ham mê bất cứ thứ gì đến độ lơ là , xem nhẹ bổn phận làm con Chúa là đã sa vào cám dỗ này. Đức Giêsu đã từ chối thờ ngẫu tượng để được vinh quang trần thế. Đối lại, Ngài sẽ chinh phục thế giới không phải bằng cách “sấp mình thờ lạy Satan”, nhưng bằng thập giá. Vì vậy, Ngài đã từ chối bằng câu Thánh kinh : “Ngươi phải thờ lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi” (Mt 4,10).

4. Sau cùng, Đức Giêsu đã chiến thắng

Đức Giêsu đã không thể thắng các cơn cám dỗ nếu Ngài chỉ qui hướng về mình. Ngài sẽ thua ma quỉ nếu Ngài tìm vinh danh mình khi hóa đá thành bánh. Ngài sẽ bị sập bẫy Satan khi nhảy xuống từ nóc cao đền thờ để được khen ngợi tung hô. Ngài sẽ thất bại thảm thương khi quỳ lạy ma quỉ để được vinh hoa thế gian. Nhưng không, không bao giờ Ngài làm thế, vì tinh thần chủ đạo của Ngài, vũ khí sắc bén của Ngài chính là : “Thánh ý Cha”. Ngài suy nghĩ , nói năng, hành động bất cứ điều gì cũng là để theo thánh ý Cha. Chính trong cơn cám dỗ khốc liệt nhất của Ngài trước cái chết, Ngài cũng chỉ thốt lên : “Cha ơi, nếu được, xin cho chén này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ý con, mà theo ý Cha” (Mt 26,39).

II. CHÚNG TA CŨNG BỊ MA QUỈ CÁM DỖ

1. Mọi người đều bị cám dỗ

Nếu không có bài Tin mừng hôm nay, người ta dễ dàng nghĩ rằng sở dĩ Đức Giêsu hòan tòan vô tội là vì Ngài không hề bị cám dỗ. Nhưng đọan Tin mừng này cho thấy chính Đức Giêsu – dù là Con Thiên Chúa, có bản tính thần linh hòan tòan trong sạch – cũng bị ma quỉ cám dỗ. Thật là một mạc khải bất ngờ, đáng ngạc nhiên và lý thú, đồng thời cũng là điều an ủi chúng ta, tạo động lực cho chúng ta thắng những cơn cám dỗ xẩy đến. Đức Giêsu là Thiên Chúa mà cũng bị cám dỗ, nên chúng ta vốn là người phàm, nếu có bị cám dỗ, dù nặng nề tới đâu, cũng là chuyện dễ hiểu. Điều đó có nghĩa : đã là con người thì đều bị cám dỗ.

Cám dỗ không phải là xấu. Nó có thể giúp người ta nên tốt hơn. Cám dỗ không phải là tội. Nó sẽ giúp thấy rõ hơn sự thánh thiện nơi một con người. Cám dỗ cũng không phải là hình phạt, song nó sẽ là triều thiên vinh quang cho những ai chiến thắng (W. Barclay). Kinh Thánh nói : “Lửa thử vàng, gian nan thử đức”. Có qua cám dỗ mới biết được ai là người thánh thiện, ai là kẻ đê hèn. Waterstone có viết : “Đầu hàng cám dỗ là hành động của thú tính, chiến thắng nó mới là con người”.

2. Sự cao quí của cám dỗ

Người Do thái có câu nói : “Hỡi Đấng Thánh, nguyện danh Ngài được chúc tụng, vì Chúa không hề nâng một người nào lên chức vị cao trọng cho đến chừng Ngài đã tra xét và thử nghiệm người ấy và nếu người ấy đứng nổi trong cơn cám dỗ, lúc ấy Ngài sẽ nâng người ấy lên địa vị cao trọng”.

Đây là một chân lý lớn lao và cao quí. Điều chúng ta gọi là cám dỗ không có mục đích khiến ta phạm tội mà để ta vượt thắng tội lỗi. Nó không có mục đích làm ta xấu, mà làm chúng ta trở nên tốt, không nhắm làm ta suy yếu mà để khi ta ra khỏi cơn thử nghiệm sẽ trở nên mạnh mẽ hơn. Chúng ta nên nhớ sự cám dỗ không phải là một hình phạt mà là vinh hiển, nên xem cả biến cố và kinh nghiệm này không phải là sự cám dỗ mà là cuộc thử nghiêm của Đức Giêsu.

3. Sách lược của cơn cám dỗ

Sách lược, đường lối và mưu mẹo của ma quỉ phải nói là tinh vi thâm hiểm. Nói khác đi, ma quỉ là lòai thông minh quảng bác hơn hẳn con người nhiều, nên những cách thức dụ khị con người thì thiên hình vạn trạng. Do đó, chúng không bao giờ cám dỗ con người phạm tội ngay vì làm như thế con người dễ phản ứng, nhưng chúng lại rất khôn khéo chỉ xúi giục con người phạm những lỗi nhẹ, cứ thế tăng dần lên cho đến lúc con người dễ dàng phạm tội trọng, tức là sa ngã hòan tòan vào vòng phong tỏa của chúng. Ngòai ra, ma quỉ rất kiên nhẫn chịu khó, thất bại lần này chúng sẽ bầy keo khác, không chỉ cám dỗ đôi ba lần, nhưng mãi mãi, liên tục cho đến khi đánh gục con người mới thôi. Ma quỉ nguy hiểm như thế, ai dám tự hào và coi thuờng ?

Truyện : Từ bước khởi đầu nhỏ

Hắn giết một cảnh sát viên. Bây giờ hắn phải trả bằng giá hình phạt. Người ta cột buộc hắn vào ghế điện trong nhà tù Sing Sing. Người ta buộc những miếng kim khí vào cái vòng trên đầu hắn và bắp chân hắn. Một lát nữa, dòng điện mạnh sẽ chạy qua thân xác hắn, đủ gây nên một sự mất ý thức ngay lập tức và chết luôn. Viên chức phụ trách hỏi tội nhân bị kết án xem hắn có muốn nói gì cuối cùng không ! Hắn nói buột ra với giọng điệu đau đớn cực độ :”Đây, tất cả đã khởi đầu khi tôi ăn cắp đồng năm xu ở túi áo của mẹ tôi. Rồi tôi ăn cắp hai đồng năm xu. Tôi đã bắt đầu ăn cắp đồ vật ở trường học, ở tiệm tạp hóa, tiệm thuốc. Hai đứa bạn và tôi bắt đầu tập luyện, muốn kiếm được càng ngày càng nhiều hơn. Chúng tôi quyết định cướp ngân hàng, và lần đó tôi đã bắn viên cảnh sát. Đó, tất cả bắt đầu với một đồng năm xu” (A. Tonne, Bài giảng TM Chúa nhật A, tr 39).

Chúng ta sẽ bị cám dỗ, không ai có thể thể thóat được. Khi bị cám dỗ, câu đầu tiên chúng ta phải biết nói ba chữ “không” : không chiều theo đòi hỏi của xác thịt, không chiều theo sự tự tôn tự đại và không đặt mammon lên làm Chúa tể.

4. Phương pháp chống cám dỗ

Mùa Chay là mùa dọn mình để chiến đấu với các cơn cám dỗ. Cám dỗ từ ma quỉ, từ nơi người khác, và nhất là từ ngay chính bản thân. Có bao nhiêu giác quan là có bấy nhiêu cửa ngõ cho cám dỗ đi vào. Nếu so sánh vũ khí để chiến đấu với cơn cám dỗ là “cung và tên” thì “cung”chính là lòng khiêm tốn nhận mình yếu hèn cần nhờ ơn Chúa, và “tên” chính là ý chí cương quyết nói “không” trước cơn thử thách. Trong các kế sách để thắng cám dỗ có một diệu kế mà chúng ta cần thực hiện : đó là “Đào vi thương sách”. Diệu kế này đặc biệt phải dùng khi bị cám dỗ về đức trong sạch.

Ngòai ra, chúng ta phải luôn đề cao cảnh giác, đừng xông pha vào nơi nguy hiểm, nơi dễ dẫn đến dịp tội. Hãy tránh xa những hòan cảnh có thể đưa chúng ta đến phạm tội. Cổ nhân của ta đã từng khuyên : “Cẩn tắc vô ưu” : cẩn thận đề phòng thì bớt phải ưu phiền.

Truyện : Đề phòng sụt lún

Trên một số bãi biển xứ Bretagne bên Pháp, đặc biệt quanh vùng Mont Saint-Michel, đôi khi xẩy ra những biến cố mà du khách không có kinh nghiệm gặp phải một cái chết rất đáng sợ : đó là sự sa lầy. Nhà đại văn hào Victor Hugo đã từng chứng kiến và đã mô tả lại cảnh tượng ghê rợn đó như sau : “Thủy triều xuống anh ta đi dạo trên cát không xa bờ biển bao nhiêu. Ban đầu chưa cảm thấy gì nên anh ta không để ý lắm, nhưng dần dần đôi chân anh ta dường như càng lúc càng nặng hơn. Bất thình lình anh ta lún xuống, đôi chân ngập sâu trong cát. Anh ta định rút chân quay lại thì càng lún sâu hơn. Cát đến mắt ca,ù rồi đến nửa chân. Mỗi lần cử động là mỗi lần lún xuống. Bấy giờ anh mới nhận ra anh đang bị sa lầy trong bể cát di động. Anh cầu cứu nhưng vô ích. Anh la hét. Anh khóc than. Anh cầu khẩn. Anh khua đôi tay. Càng lúc cát đến ngực, đến vai. Giờ đây chỉ còn lại cái mặt. Anh định mở miệng kêu cứu lần cuối thì cát đã lấp đầy miệng. Chỉ còn im lặng và đôi mắt trợn tròn thao láo, nhưng rồi cát cũng đóng chúng lại : thế là đêm tối và cái chết” (Quê Ngọc).

5. Cám dỗ với giới trẻ ngày nay

Xét về mặt đạo đức càng văn minh tiến bộ bao nhiêu thì hình như con người càng gặp lắm thử thách, cám dỗ bấy nhiêu. Đối với giới trẻ ngày nay thì cái từ “cám dỗ” là chuyện cổ lỗ, lỗi thời rồi… Vì cho là nó xưa mãi cái thời bà Evà trao quả cấm cho ông Adong ăn… Thời nay con người văn minh tiến bộ, bận tâm làm chi tới chuyện cám dỗ nữa ? Phải chăng vì nghĩ như thế mà tuổi trẻ hôm nay có khuynh hướng sống bất cần, tùy tiện, theo sở thích riêng – Mà sở thích của tuổi trẻ thì có mấy khi được lâu ?

Thế nên nếu bình tâm suy nghĩ chúng ta sẽ khám phá ra rằng cũng chính vì con người ngày nay “văn minh, tiến bộ” mà các cám dỗ cũng “đa dạng” và “tinh vi” hơn, thậm chí nó được núp bóng dưới các mác “văn hóa”, “nghệ thuật”, “giải trí”, “thời trang”, “vật lý trị liệu”… Trong khi thực chất chỉ vì “tiền” hoặc “các tham vọng bất chính” mà thôi ! Chúng ta chỉ cần phân tích các lọai hàng hóa, văn hóa nghệ thuật… thì chúng ta sẽ thấy nó bị động lực kim tiền khống chế đến độ nào. Mọi yêu cầu, thị hiếu… đều có thể được đáp ứng nếu chịu “chi”.

III. THÁI ĐỘ SỐNG CỦA CHÚNG TA : PHẢI LỰA CHỌN

1. Sống là lựa chọn

Người ta nói : cuộc sống là một chuỗi những lựa chọn. Con vật không có quyền lựa chọn, nó chỉ hành động theo bản năng. Con người chúng ta thì khác, Chúa ban cho chúng ta có lý trí và tự do để hiểu biết, suy tính, đắn đo rồi đi đến quyết định tự do của mình : làm hay không làm, làm thế này hay thế khác…

Lựa chọn có hai yếu tố đi liền nhau : “lựa” và “chọn”. Lựa mới là phân ra từng lọai, từng cái một để dễ so sánh. Còn chọn mới là quyết định nhận hay không nhận, nhận cái này hay cái kia, hay chọn một trong nhiều cái. Chính sự lựa chọn làm cho chúng ta phải băn khoăn, lo âu vì có những sự lựa chọn liên quan đến cả cuộc sống tương lai, ví dụ : có nên dâng mình cho Chúa trong đời sống tu trì hay không, làm Linh mục hay tu sĩ. Có nên lập gia đình hay không hoặc lập gia đình với ai.

Ngày nay người ta nói nhiều đến dấn thân. Dấn thân, nhập cuộc là thân phận của con người. Sống là lựa chọn. Mà lựa chọn là liều lĩnh vì không bao giờ ta nắm được một cách rành rọt như 2 với 2 là 4 tất cả những lý do lựa chọn và những điều tương lai dành cho sự lựa chọn của ta. Nhưng không phải vì thế mà ta không dám liều mình. Khi đã dùng trí khôn để duy nghĩ, cân nhắc như ta có thể rồi, ta có quyền hành động.

2. Thử thách và lựa chọn

Bình thường chúng ta nói rằng con người phải được thử thách để nên người hòan thiện, nó có tính cách tích cực, còn cám dỗ xem ra có tính cách tiêu cực. Nhưng trong đạo chúng ta có thể gọi thử thách là “cám dỗ” vì chính cám dỗ làm cho con người nên lành thánh hơn hay xấu xa hơn, phân biệt được ai trung thành, ai phản bội Chúa.

a) Thử thách cần thiết

Con người chỉ có giá trị khi đã được thử thách đầy đủ. Đứng về phương diện triết học, người ta đánh giá một người : không ai hỏi anh LÀ gì nhưng anh đã LÀM được một cái gì và làm được bao nhiêu. Chính cái LÀM mới đem giá trị đến cho con người chứ không phải cái LÀ. Cho nên thử thách là điều cần thiết để đánh giá con người.

- Kinh Thánh nói : “Lửa thử vàng, gian nan thử đức”.

- Chí sĩ Phan bội Châu cũng nói :

Nếu phải đường đời bằng phẳng hết,

Anh hùng hào kiệt có hơn ai.

- Thi sĩ Nguyễn công Trứ, một thi sĩ của chủ nghĩa anh hùng, một con người đã từng lên voi xuống chó, cuộc đời ông đã trải qua đầy gian nan khốn khó, đã từng nếm mùi thất bại chua cay, nhưng ông đã kiên trì chịu đựng và đã vượt qua, ông đã từng khuyên thanh niên phải sống can trường, vượt qua mọi gian nan thử thách theo châm ngôn “vô họan nạn, bất anh hùng” :

Cũng có lúc mưa dồn sóng vỗ,

Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong.

Chí những toan xẻ núi lấp sông

Làm nên đấng phi thường đâu đấy tỏ.

b) Ích lợi của thử thách.

Thử thách hay cám dỗ làm cho người ta trưởng thành hơn, nghị lực hơn, làm chủ được con người của mình. Vàng thau chỉ là đống quặng hỗn độn nhưng nhờ lửa thiêu đốt mới chọn ra được thứ vàng ròng. Chưa vượt qua gian nan thử thách, chưa ai được gọi là anh hùng :

Văn vô sơn thủy vô kỳ khí,

Nhân bất phong sương vị lão tài (Nguyễn công Trứ)

Ông Abraham đã bị Chúa thử thách cực kỳ gây cấn về lòng tin của ông vào Chúa. Bình thường không ai chấp nhận được cuộc thử thách ấy vì nó đi ngược lại với lối suy luận của con người : giết con một duy nhất đi thì làm sao có con nối dõi tông đường ? Nhưng ông đã đặt hết tin tưởng vào Chúa, để cho Chúa lo, còn ông thì cứ thực hiện theo ý Ngài… và ông đã thành công. Vì vậy, Abraham được gọi là tổ phụ của các kẻ tin (Pater credentium).

c) Phải biết lựa chọn

Trong thử thách, con người phải biết lựa chọn để đi đến quyết định : tiến hay lùi, tiếp tục hay tháo lui ? Trong thử thách, hễ không tiến là lùi, không thắng thì thua.

Truyện : thần Hercule

Theo thần thọai Hy lạp, Hercule một lần đứng giữa ngã ba đường và tự hỏi đi về đâu ? Hai người chỉ đường đến với ông. Một người nói : “Hãy theo tôi, đây là con đường thỏai mái, hạnh phúc và lối đi dễ dàng”. Người thứ hai nói : “Đây là con đường cố gắng, nỗ lực, khó khăn. Tuy là đường khó khăn, nhưng đưa tới hạnh phúc”. Hercule đã chọn con đường khó khăn. Và quả thực ông khôn ngoan vì khó khăn đưa tới vinh quang theo châm ngôn của đạo chúng ta “Per crucem ad lucem” : qua thập giá tới vinh quang.

3. Lựa chọn của chúng ta

Không ai trong chúng ta là không bị thử thách, không bị cám dỗ. Chúng ta phải biết chọn lựa, thành công hay thất bại là do lựa chọn đúng hay sai. Trong các bài đọc hôm nay, chúng ta đã có một bài học về lựa chọn đúng hay sai : Adong đã lựa chọn sai vì không chọn ý Chúa mà chọn ý mình, nên đã để hậu quả tai hại cho con cháu. Đức Giêsu – một Adong mới – đã chọn lựa đúng vì biết lựa chọn thánh ý Chúa Cha chứ không theo ý mình, nên đã dành được chiến thắng lẫy lừng và đã đem ơn cứu độ đến cho lòai người.

Đức cha L. Daloz, trong cuốn Le Règne des cieux s’est approché” đã viết : “Chúng ta thấy : những cám dỗ của Đức Giêsu cũng là của chúng ta hôm nay. Chẳng có gì phải ngạc nhiên, chúng ta biết rằng nơi Đấng là Đầu, tòan Thân Mình đã chiến thắng cám dỗ. Chính nhờ cậy dựa vào Người, mà đến lượt mình, chúng ta có thể thóat được cạm bẫy của tên cám dỗ. Đức Giêsu dạy ta phải đương đầu như thế : bằng cách chạy đến với Lời Chúa. Lời Chúa soi đường chỉ lối cho chúng ta đó. Lời Chúa che chở, bảo đảm cho chúng ta khỏi bị lầm lạc. Thật là nguy hiểm nếu chúng ta để mình buông theo xu hướng tự nhiên của lòai người : ma quỉ cũng không mong gì hơn chúng ta đồng lõa với chúng như thế. Khi ấy, Lời Chúa sẽ là thành lũy bảo vệ chúng ta”(Fiches dominicales, năm A, tr 172).

Truyện : Ngọn đuốc Vân Trường

Đời Tam quốc, Quan Vân Trường bị thất thủ thảm bại ở Hạ bì. Thân đơn nhất mã, phò hai người chị dâu (tức vợ của Lưu Bị) qua nương nhờ nhà Tào Tháo. Đêm đến, Tào Tháo cho ba người ngủ chung một phòng, dụng tâm là muốn cho chị em lọan luân, chủ tôi phải thất lễ.

Quan vân Trường một dạ thẳng ngay không để tà tâm vật dục quyến rũ, tay cầm đuốc, tay cầm sách Xuân Thu đọc đến sáng.

Mọi người thấy vậy khen Vân Trường là người chính trực. Từ đó, “Ngọn đuốc Vân Trường” được dùng để ám chỉ những kẻ ngay thẳng, không để vất dục quyến rũ lòng mình (Thiên Phúc).

Con người ai cũng bị vật dục quyến rũ , đấy là một sự kiện hiển nhiên, vấn đề đặt ra là có thắng đuợc nó hay không. Dù thế nào đi nữa, cám dỗ vẫn là số phận của con người ở trần thế. Đối với người Kitô hữu, cám dỗ càng đeo đuổi họ như hình với bóng, nó chỉ buông tha khi họ đã đi hết cuộc hành trình trần gian. Tuy nhiên thành công hay thất bại cũng tùy thuộc họ chiến thắng hay đầu hàng các cơn cám dỗ. Số phận đời đời sẽ căn cứ vào việc họ đã vượt qua cuộc thử thách hay buông xuôi bỏ cuộc.

Cám dỗ nào cũng dẫn chúng ta đến một lựa chọn : hoặc chọn thánh ý Chúa hoặc chọn chính mình. Hãy để cho Lời Chúa hướng dẫn cùng với sự cầu nguyện, ăn chay, hãm mình. Tuy Chúa sẽ hướng dẫn và giúp đỡ, chúng ta cũng phải khôn ngoan tránh những dịp đưa đến cám dỗ, chớ khinh thường vì “Họa mạc đại ư khinh địch” : không có cái hại nào to bằng khinh địch (Đại học).

Chúng ta bắt đầu buớc vào mùa Chay của năm Phụng vụ. Nhưng thật ra, cuộc sống của mỗi người là một mùa chay liên lỉ, bởi vì chúng ta thường xuyên gặp cám dỗ và phải luôn chiến đấu, để sống tinh thần của Chúa Kitô. Chúng ta nhiều lúc phải cam chịu thiếu thốn, đói khát mà không sử dụng tự do, khả năng của mình để tìm thỏa mãn, phụng sự cho chính bản thân mình và sống ích kỷ. Đôi lúc chúng ta bị coi như thất thế, ngu dại và bị giới hạn, yếu đuối bởi vì chúng ta đang tôn thờ và tùng phục đường lối của Thiên Chúa. Và rất nhiều khi chúng ta phải chịu thiệt thòi, từ chối những vui thú và vinh dự của trần gian để trung thành phụng sự Chúa.

[Mục Lục]

Bài 15. NHỮNG CUỘC CÁM DỖ BẤT TẬN
R. Veritas

Khởi đầu công cuộc cứu chuộc, Chúa Giêsu đã trải qua biến cố chịu thử thách, chịu ma quỷ cám dỗ, nhưng Ngài đã chiến thắng. Những cám dỗ của Chúa Giêsu xét cho cùng cũng có thể rút về hai điểm chính, là cám dỗ về thực thể mình là ai? Đến sống trên trần gian này để làm gì?

Ma quỷ cám dỗ Chúa Giêsu về thực thể mình là Con Thiên Chúa: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy biến những hòn đá này thành thức ăn”.

Thử thách đòi có dấu lạ để trắc nghiệm xem mình có thật là Con Thiên Chúa hay không. Ma quỷ cám dỗ Chúa nghi ngờ thay đổi sứ mạng đã lãnh nhận từ Thiên Chúa Cha: “Nếu ông sấp mình thờ lạy ta, thì ta sẽ cho ông tất cả”.

Sứ mạng của Chúa Giêsu là con người trở về cùng Thiên Chúa, chứ đâu phải con người làm nô lệ cho tội lỗi để củng cố vinh quang cho riêng mình Ngài. Chúa Giêsu nhắc lại: “Con chỉ tôn thờ một mình Thiên Chúa mà thôi”.

Sống vâng phục Thiên Chúa, thi hành thánh ý Ngài đã là sứ mạng căn bản nhất của con người, của mỗi người chúng ta đã được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa và đã được Chúa Giêsu Kitô cứu chuộc để trở thành con cái Thiên Chúa, được chia sẻ sự sống Thần Linh của Thiên Chúa. Chúng ta được Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta con đường để chiến thắng những cám dỗ, và chúng ta không thể nào tránh khỏi con đường này trong cuộc sống của mình, đó là con đường vâng phục, lắng nghe Lời Chúa.

Hôm nay chúng ta bắt đầu Mùa Chay, và chúa nhật thứ nhất Mùa Chay, chúng ta dốc quyết một điều cụ thể cho đời sống của mình trong Mùa Chay này. Mỗi người chúng ta hãy nhìn về cuộc sống của mình, xem mình đã có ý thức về thực thể mình là ai và xác tín mình là con của Thiên Chúa, đã được Chúa Giêsu cứu chuộc hay không? Có ý thức rõ ràng là sứ mạng của mình trên trần gian này là sống vâng phục Thiên Chúa, sống với Thiên Chúa không?

Chúng ta hãy dốc quyết một cách cụ thể trong Mùa Chay này, đọc Lời Chúa, ít ra không đọc hàng ngày thì mỗi tuần một lần để cho Lời Chúa chỉ dẫn cuộc sống chúng ta, nhắc cho chúng ta luôn luôn nhớ mình là con cái Thiên Chúa và sống trên trần gian này bằng cuộc sống vâng phục thánh ý Thiên Chúa.

Dám nói không

Đời Tam Quốc, Quan Văn Trường bị thất thủ thảm bại ở Hạ Bì. Thân đơn nhất mã, phò hai người chị dâu (tức vợ của Lưu Bị) qua nương tựa nhà Tào Tháo. Đêm đến, Tào Tháo cho ba người ngủ chung một phòng, dụng tâm là muốn cho chị em loạn luân, chúa tôi phải thất lễ.

Quan Văn Trường một dạ thẳng ngay không để tà tâm vật dụng quyến rũ, tay cầm đuốc, tay cầm sách Xuân Thu đọc đến sáng.

Mọi người thấy vậy khen Văn Trường là người chính trực. Từ đó, danh từ “Ngọn đuốc Văn Trường” được dùng để ám chỉ những kẻ ngay thẳng, không để vật dục quyến rũ lòng mình.

Những con người anh dũng lướt thắng cám dỗ như Quan Văn Trường quả là hiếm. Càng hiếm hơn nữa, những con người không để cho vật dục quyến rũ. Vì người ta đã quen lối sống dễ dãi, thích hưởng thụ, ham khoái lạc. Cho nên, tâm trí họ lúc nào cũng là mặt đất, không đủ sức bật để vượt qua những cám dỗ thử thách, mà vươn lên những ý tưởng cao thượng, những ý nghĩ thánh thiêng.

Dù thế nào đi nữa, cám dỗ vẫn là số phận của con người. Đối với người Kitô hữu, cám dỗ càng đeo đuổi họ như hình với bóng, nó chỉ buông tha khi họ đã đi hết cuộc hành trình trần gian. Tuy nhiên, thành công hay thất bại cũng tùy thuộc họ chiến thắng hay đầu hàng các cơn cám dỗ. Số phận đời đời cũng sẽ căn cứ vào việc họ đã vượt qua cơn thử thách hay buông xuôi bỏ cuộc.

Cuộc đời Đức Giêsu không thiếu những cơn cám dỗ, có lúc nhất thời, có khi dai dẳng. Những cơn cám dỗ ấy hoặc đến từ ma quỷ, hoặc từ người ta, hay chính khi lại ngay trong bản thân Người.

Tin Mừng hôm nay thuật lại các cơn cám dỗ từ ma quỷ: Chúng dụ dỗ Người biến đá thành bánh mà ăn, vì Người đã ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày. Chúng khiêu khích Người hãy gieo mình xuống từ nóc cao đền thờ. Chúng hứa cho Người vinh hoa lợi lộc các nước, nếu Người sấp mình bái lạy chúng. Cuối cùng, Đức Giêsu đã oanh liệt chiến thắng các cơn cám dỗ ấy, nhờ trưng dẫn các câu Kinh Thánh. Thật vậy, cám dỗ nào cũng bị Người đánh bại bởi các lời Kinh Thánh.

Kinh Thánh chính là khiên thuẫn cho người tín hữu trong mọi cơn cám dỗ. Một khi lời Chúa đã thấm nhiễm vào con tim, khối óc, và toát ra trong các hành vi của người tín hữu, thì không một cơn cám dỗ nào mà họ không thể vượt qua, không một thử thách nào mà họ không lướt thắng.

Cám dỗ nào cũng dẫn chúng ta đến một chọn lựa. Hoặc là chọn thánh ý Chúa hoặc là chọn chính mình. Người không có lời Chúa hướng dẫn, thường hay chọn mình lắm: họ chọn danh vọng cho mình, giàu sang cho mình, khoái lạc cho mình. Khi “cái tôi” đã đầy ứ trong lòng thì Thiên Chúa phải đội nón ra đi.

Đức Giêsu đã không thể thắng các cơn cám dỗ, nếu Người chỉ qui hướng về mình. Người sẽ thua ma quỷ, nếu Người tìm vinh danh mình khi hóa đá thành bánh, Người sẽ bị sập bẫy Satan khi nhảy xuống từ nóc cao đền thờ để được khen ngợi tung hô. Người sẽ thất bại thảm thương khi quỳ lạy ma quỷ để được vinh hoa thế gian. Nhưng không, không bao giờ Người làm thế, vì tinh thần chủ đạo của Người, vũ khí sắc bén của Người chính là “Thánh ý Cha”. Người suy nghĩ, nói năng, hành động bất cứ điều gì cũng là để theo Thánh ý Cha. Chính trong cơn cám dỗ khốc liệt nhất của Người trước cái chết, Người cũng chỉ thốt lên: “Cha ơi, nếu được, xin cho chén này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ý con, mà theo ý Cha” (Mt 26,39).

Muốn vâng theo ý Cha, cần phải cầu nguyện và ăn chay, hy sinh và hãm mình. Trước khi chịu ma quỷ cám dỗ, Đức Giêsu đã chẳng ăn chay, cầu nguyện suốt bốn mươi đêm ngày đó sao?

Mùa chay là mùa dọn mình để chiến đấu với các cơn cám dỗ. Cám dỗ từ ma quỷ, từ nơi người khác, và nhất là từ ngay chính bản thân. Có bao nhiêu giác quan là có bấy nhiêu cửa ngõ cho cám dỗ đi vào.

Nếu so sánh vũ khí để chiến đấu với cơn cám dỗ là “cung và tên” thì “cung” chính là lòng khiêm tốn nhận mình yếu hèn cần nhờ ơn Chúa, và “tên” chính là ý chí cương quyết nói “không” trước cơn thử thách. Trong các kế sách để thắng cám dỗ chỉ có duy nhất một diệu kế. Đó là kế “Đào vi thượng sách”.

Dù bầu trời đen mênh mông bao trùm địa cầu, thì trong một bờ đá nào đó, cánh hoa mảnh mai vẫn hồn nhiên nở trong đêm khuya. Cánh hoa mỏng manh là thế mà sao dũng mạnh hơn tâm hồn chúng ta nhiều quá! Nếu hoa lá là ngôn sứ của Thiên Chúa, thì sứ điệp của chúng là: Hãy mềm mại để cho lời Chúa đưa chúng ta vượt qua đêm mưa bão của cám dỗ, thử thách. Và ngày mai trời lại sáng.

[Mục Lục]

Bài 16. SỐNG MÙA CHAY
Lm. Vũ Thái Hoà

Từ lễ Tro vừa qua, chúng ta bước vào Mùa Chay để chuẩn bị mừng lễ Phục Sinh. Mùa Chay kéo dài 40 ngày, tương ứng vời 40 ngày cầu nguyện và chay tịnh của Đức Giêsu trong sa mạc trước khi Người bắt đầu cuộc đời công khai rao giảng Tin Mừng. Tại đây, Người chịu quỷ cám dỗ ba lần: hóa đá thành bánh, làm phép lạ phi thường, cho mình là vua thiên hạ

Dân Do thái mong chờ Đấng Mêsia thực hiện những điều đó. Họ muốn Người cung cấp cho họ mọi nhu cầu vật chất, làm những điều kỳ diệu và bành trướng quyền thế của Người trên khắp địa cầu. Nhưng Đức Giêsu không làm như thế. Người chỉ thi hành ý muốn của Thiên Chúa Cha.

Trong hoang địa cũng như nhiều lần khác mà Tin Mừng đã kể lại, Đức Giêsu chống trả những cơn cám dỗ. Thí dụ: sau khi Người làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, dân chúng muốn tôn Người làm vua, nhưng Người lánh mặt, lên núi một mình (Ga 6,15); nhưng người Pharisêu muốn Người cho một dấu lạ từ trời (Mt 16,1); Người bị cám dỗ không đi Giêrusalem vì biết sẽ phải chịu nhiều đau khổ và bị giết. Chính ông Phêrô ngăn cản Người thực hiện điều đó và bị Người khiển trách: “Sa tan, lui lại đàng sau Thầy!” (Mt 16, 21-23). Tại vườn Ghếsêmani, Đức Giêsu bị cám dỗ nặng nề: “Cha ơi, nếu được, xin cho chén này rời khỏi con…” (Mt 26,39). Và trên thập giá, Người bị nhục mạ: “Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình. Hắn là vua Israel! Bây giờ hắn cứ xuống khỏi thập giá đi, thì chúng ta tin hắn liền!” (Mt 27,42)

Đức Giêsu đã thật sự bị cám dỗ, nhưng Người luôn trung thành với Chúa Cha và với sứ vụ mà Cha Người giao phó. Vào đầu Mùa Chay, Tin Mừng muốn chúng ta noi theo Đức Giêsu chống trả và chiến thắng những cơn cám dỗ này:

1/ Cám dỗ về cơm bánh hằng ngày hoặc cám dỗ về nhu cầu vật chất.

Con người cần phải ăn uống và cần phải có những nhu cầu vật chất tối thiểu để sống. Điều đó rất tốt. Nhưng chúng ta thường bị cám dỗ chỉ sống dựa vào những nhu cầu vật chất của thân xác mà thôi. Nhiều khi chúng ta lo kiếm ăn đến nỗi không còn nghĩa đến việc tìm kiếm những giá trị tinh thần và đạo đức nữa, không còn giờ để đọc kinh, cầu nguyện, suy gẫm Lời Chúa, ngay cả việc tham dự thánh lễ Chúa nhật!

Trong mùa Chay này, chúng ta hãy suy gẫm Lời Chúa: “Người ta không chỉ sống nhờ cơm bánh”

2/ Cám dỗ về sự thành công

Thành công trong cuộc sống là một điều rất tốt và phải làm. Nhưng chúng ta thường bị cám dỗ chỉ sống để thành công, muốn thành công với bất cứ giá nào, mặc dầu phải làm những chuyện không tốt như lừa dối, chà đạp người khác…; thành công để vênh vang, tự đắc, để giữ thể diện và thỏa mãn tự ái của mình

Ngay ngày đầu của Mùa Chay, Đức Giêsu mời gọi: “Khi làm việc lành phúc đức, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy… đừng cho tay trái biết việc tay phải làm… Khi cầu nguyện, anh em đừng làm như bọn giả hình… Thiên Chúa thấu suốt những gì kín đáo” (Mt 6,1-6)

3/ Cám dỗ về quyền hành hoặc tham vọng thống trị

Mỗi người trong chúng ta đều có một trách nhiệm, một quyền hành nào đó mặc dù là khiêm tốn. Có quyền hành, có trách nhiệm là để phục vụ và bênh vực công lý. Nhưng chúng ta thường bị cám dỗ là lẫn lộn giữa quyền hành và lòng tham vọng thống trị. Nếu những nhà lãnh đạo các quốc gia đều có tinh thần phục vụ dân chúng, thì bộ mặt thế giới sẽ khác hẳn!

Trong Mùa Chay này, chúng ta hãy kiểm điểm lại tinh thần trách nhiệm và phục vụ của mình trong gia đình, trong nhóm, trong cộng đoàn…

Những cơn cám dỗ mà Đức Giêsu chịu trong sa mạc cũng là những cơn cám dỗ của mỗi người chúng ta về vật chất, hào nhoáng bên ngoài và quyền hành. Đức Giêsu đã chiến thắng. Người cũng muốn chúng ta tham dự vào chiến thắng của Người bằng cách bước theo đường của Người và noi gương Người. Đó là mục đích của mùa Chay.

Kính chúc mọi người chúng ta sống Mùa chay thánh thiện và đón nhận nhiều hồng ân của Chúa.

[Mục Lục]

Bài 17. CÁM DỖ

Adong Eva được Thiên Chúa đặt ở vườn địa đàng, sống trong hạnh phúc và tình nghĩa với Chúa. Hai ông bà không biến đến đau khổ, bệnh tật và chết chóc. Trái lại hai ông bà là những người bạn,là những người con của Thiên Chúa bởi vì mỗi khi chiều xuống, Ngài thường hiện ra đàm đạo với hai ông bà. Chính vì vậy, mà quỷ đã ghen tương và muốn phá huỷ cái thế cân bằng hài hoà ấy. Nó đã cám dỗ hai ông bà về tội kiêu ngạo, muốn trở nên bằng Thiên Chúa. Và rồi hai ông bà đã nghe theo lời quyến rủ đường mật ấy, phản bội cùng Thiên Chúa qua hành động giơ tay bứt trái cấm mà ăn, để rồi phải cúi đầu nhận lãnh hình phạt của đau khổ và chết chóc. Và tệ hại hơn cả là đã làm mất đi tình nghĩa với Thiên Chúa, làm mất đi ơn thánh tức là sự sống của Ngài trong tâm hồn. Cái hậu quả thảm khốc này được truyền cho nhân loại trong suốt dòng thời gian.

Thế nhưng rất may mắn cho chúng ta, bởi vì Thiên Chúa là Đấng nhân từ và giàu lòng thương xót, Ngài không muốn để chúng ta sống trong sự đau khổ và tuyệt vọng, vì thế ngay sau khi hai ông bà sa ngã, Ngài đã hứa ban cho nhân loại một Đấng cứu thế, tức là Đức Kitô. Ngài sẽ đến để sửa lại những hậu quả thảm khốc do tội Adong gây nên, Ngài sẽ đến để nối lại nhịp cầu cảm thông giữa trời và đất, giao hoà chúng ta lại với Thiên Chúa. Bởi đó, trong đêm thánh vọng phục sinh, chúng ta đã gọi tội Adong là tội hồng phúc vì nhờ đó mà chúng ta có được Đấng Cứu thế.

Cũng trong chiều hướng ấy thánh Phaolô đã viết: Bởi một người mà tội lỗi đã đột nhập vào thế gian, và cùng với tội lỗi là sự chết. Thì cũng vậy, bởi một người mà sự công chính đã ngự trị trên thế gian, và cùng với sự công chính là sự sống. Sự sống này được chuyển thông cho hết thảy mọi người. Ba chữ “bởi một người” đã trở nên một điệp khúc được lặp đi lặp lại. Thực vậy, bởi một người mà nhân loại đã bị dẫn vào vòng tội lỗi, nhưng đồng thời cũng bởi một người mà nhân loại được dẫn vào miền đất sống. Thánh Phaolô đã đưa ra sự tương phản giữa Adong và Chúa Giêsu. Adong thì kiêu ngạo, còn Chúa Giêsu thì khiêm nhường. Adong thì sa ngã, còn Chúa Giêsu thì chiến thắng. Kết quả là Adong thì dẫn đến sự chết, còn Chúa Giêsu thì dẫn đến sự sống. Và thánh Phaolô đã kết luận: Nơi nào tội lỗi ngập tràn thì ân sủng lại càng tràn ngập hơn.

Qua đoạn Tin Mừng vừa nghe, chúng ta nhận thấy Satan đã cám dỗ Chúa Giêsu cũng với cái chiến thuật mà nó đã dùng để dụ dỗ hai ông bà nguyên tổ. Từ của ăn vật chất, đến khát vọng kiêu căng muốn thử thách Thiên Chúa và trở nên ngang hàng với Ngài.

Chúa Giêsu đã chiến thắng và nêu gương cho chúng ta. Bởi đó mỗi khi gặp phải những cám dỗ và thử thách, chúng ta hãy xin Chúa nâng đỡ, để chúng ta cũng sẽ chiến thắng, hầu nhờ đó mà trung thành với Chúa mãi mãi.

[Mục Lục]

Bài 18. Ba cơn cám dỗ
P. Trần Đình Phan Tiến

Chúa Giêsu chịu cám dỗ là nói lên thân phận con người của nhân loại, sự cám dỗ là thước đo lòng trung thành của con người đối với Thiên Chúa. Vì nếu không có sự cám dỗ, con người không có công trạng gì trước mặt Thiên Chúa. Chúng ta thấy, một gương chịu cám dỗ tuyệt vời của ông Giop, một con người công minh chính trực, kính sợ Thiên chúa và xa lánh điều ác, thế nhưng Thiên Chúa vẫn để ông chịu quỷ cám dỗ. Như vậy chịu cám dỗ là một sự thử thách để chứng tỏ lòng trung thành với Thiên Chúa. Nên chi, chúng ta cần phân biệt, giữa bị cám dỗ và sa chước cám dỗ.

Đã mang thân phận con người không ai muốn mình bị cám dỗ, nhưng không tránh được sự cám dỗ.

Từ ngữ cám dỗ chỉ dành cho thế lực xấu, đó là quỷ, vì quỷ nó mới đi cám dỗ người khác, còn kẻ lành không bao giờ cám dỗ ai.

Vâng! Kính thưa quý vị! Đoạn Tin Mừng Thánh Luca hôm nay thuật lại ba cơn chịu cám dỗ của Con Thiên Chúa.

Câu đầu tiên là câu mở đầu quan trọng, là chìa khóa cho cả đoạn Tin Mừng hôm nay. “Đức Giêsu được ‘đầy’ Thánh Thần, từ sông Gio-đan trở về, và được Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa” (c 1). Như vậy, cho thấy sứ vụ làm “Người” của Chúa Giêsu một cách rõ ràng, từ sông Gio-đan, nơi mà Người cũng chịu phép rửa. Có nghĩa là đoạn Tin Mừng hôm nay liên kết chặt chẽ với đoạn (Lc3, 21-22). Có nghĩa là phần nhân tính của Chúa Giêsu được thể hiện trọn vẹn và làm theo hướng dẫn của Thánh Thần. Điều nầy nói lên phần Thiên Tính của Người ở trong Thánh Thần. Phần nhân tính của Người hoàn toàn chịu tác động bởi Thánh Thần.

Kinh Thánh nói rõ: “Bốn mươi ngày ,chịu quỷ cám dỗ. Trong những ngày ấy, Người không ăn gì cả, và khi hết thời gian đó,thì Người thấy đói” (c 2). Như vậy, phần nhân tính của Chúa Giêsu là hoàn toàn chính xác, cho thấy Chúa Giêsu mặc lấy sự yếu đuối của thân phận Con Người. Chính vì vậy, quỷ lợi dụng thời cơ nầy thách thức Người. Vì nó cũng biết Người là Đấng Cứu Thế, nên lời cám dỗ của nó cũng hết sức ranh ma. Nó nói với Người: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy truyền cho những hòn đá nầy trở thành bánh đi!” (c3). Nhưng Chúa Giêsu quả thật là Con Thiên Chúa, vì vậy Người không mắc mưu quỷ. Vì thế, Người đã đáp lại: “Đã có lời chép rằng: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh”. (c 4).

Vâng! Cơm bánh là phương tiện chứ không phải là cùng đích, cơm bánh chỉ mang lại sự sống tạm bợ, chứ không mang lại sự sống vĩnh cửu. Khi nói lời nầy Chúa Giêsu không chối bỏ thực tại trần thế, nhưng Người muốn dẫn chúng ta đến cuộc sống trường sinh. Vì vậy Chúa Giêsu nói Lời nầy trong lúc phần nhân tính của Người đang đói “lã”, vì theo quy luật tự nhiên, cơ thể của một người khó mà chịu đói nỗi trong một thời gian bốn mươi ngày, nhưng thực ra phần Thiên Tính của Người thì tràn đầy Thánh Thần. Điểm nầy cho thấy Lời nói của Người là hoàn toàn hữu lý, bởi vì, quả thật sự sống của con người không chỉ có phần xác, mà còn có phần hồn nữa. Phần thiên tính của con người mà có Thần Khí, có nghĩa là kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa, thì con người không thể chết được dù thân xác đói khổ, hay bệnh tật. Nhưng thiên tính của người đó thì không thể chết được, như vậy sự sống vĩnh hằng không chỉ có thân xác mà còn có ơn của Thiên Chúa nữa.

Như vậy, lương thực của thân xác là cơm bánh, nhưng lương thực của linh hồn là Lời của Thiên Chúa, vì Lời của Thiên Chúa là Lời hằng sống, bởi vì Thiên Chúa là nguồn sống. Vì cuộc sống cùng đích chính là Thiên Chúa, chứ không phải là cơm bánh. Điều nầy cũng có nghĩa là: “sự sống của thân xác con người sẽ chấm dứt bởi cái chết, nhưng quỷ nó cũng biết điều nầy, nhưng ý của quỷ là nó muốn cám dỗ Chúa thể hiện Thiên Tính của Người ra bên ngoài”. Tức là ở đây nó muốn cám dỗ Chúa về tính kiêu ngạo. Dựa vào là Con Thiên Chúa, thì muốn làm gì thì làm. Như vậy cũng chính vì là Con Thiên Chúa mà Người không mắc mưu của quỷ.

Thưa trên đây là cơn cám dỗ thứ nhất mà quỷ đã cám dỗ Chúa Giêsu.

Hai cơn cám dỗ còn lại cũng chính là tính kiêu ngạo, tính kiêu ngạo cũng chính là tính người, vì người ta kiêu ngạo là chính vì người ta bất toàn. Khi người ta dựa vào một tếh lực nào đó thì người ta kiêu ngạo. Nhưng kẻ cầm đầu kiêu ngạo chính là quỷ, vì chính nó biết rằng nó không bằng Thiên Chúa nhưng nó vẫn cám dỗ Thiên Chúa làm Người, vì nó là quỷ.

Chúng ta thấy ba cơn cám dỗ mà Chúa Giêsu là về của ăn, quyền lực và ỷ thế cậy quyền, của chính những người là Kitô hữu, là con Thiên Chúa. Nhưng thật ra là sự kiêu ngạo, vì quỷ chính là sự kiêu ngạo, muốn hơn Thiên Chúa và không muốn tôn thờ Thiên Chúa.

Như vậy, tội lớn nhất chính là tội kiêu ngạo, tội mà muốn tỏ ra mình là Thiên Chúa. Biến đá thành bánh là bất chấp quy luật tự nhiên cũng như siêu nhiên, mà một vị Thiên Chúa nhập thể không thể làm. Vì Người còn làm những việc cao siêu hơn cho nhân thế, chứ không phải đợi đến lúc tự hạ rồi biến đá thành bánh, như vậy quỷ nó quá kiêu ngạo.Tuy đã nhập thể làm Người, nghĩa là Người đã trút bỏ địa vị ngang hàng cùng Thiên Chúa, nhưng Người vẫn là Thiên Chúa thật, bởi Thiên Tính Thiên Chúa trong Người và Thánh Thần ở cùng Người. Vì vậy vương quyền và toàn năng vẫn ở cùng Người, vì thế quỷ nó thua Chúa Giêsu là phải. Điểm đáng chú ý ở bài Phúc Âm hôm nay là:

Tại sao Chúa Giêsu chịu cám dỗ?

Thưa vì Người đã mang nhân tính, dù là một Ngôi Vị Thiên Chúa, nhưng đã mang lấy thân xác hữu hình, thì Người phải chấp nhận sự nhục nhã, như một người bị bại trận, vì vậy, lợi dụng cơ hội nầy quỷ nó mới cám dỗ. Để xem Người có trỗi dậy tính kiêu ngạo hay không. Vì thế cám dỗ là chuyện thường xảy ra trong đời sống tu đức, nếu thiếu cám dỗ thì không thể nên thánh được. Vì không có cám đỗ thì không có chiến đấu, không có chiến đấu thì không có chiến thắng.

Như vậy, cám dỗ là phương tiện giúp nên thánh, nhưng sa chước cám dỗ là nghe theo quỷ bỏ Thiên Chúa. Nhờ ơn Chúa để chống lại cám dỗ là tốt, vì thế, Thiên Chúa đã để cho cám dỗ xảy ra, nhưng không quá sức ta. Nhờ cám dỗ ta biết cậy dựa vào Lời Chúa để chiến đấu. Cám dỗ là phương tiện, nhưng lướt thắng cám dỗ hay sa chước cám dỗ mới là mục đích. Phương tiện đưa tới mục đích. Vậy chúng ta rất cần ơn Chúa để chiến đấu, thì chúng ta mới giành chiến thắng được.

Lạy Chuá Giêsu, Chúa đã chiến đấu và chiến thắng quỷ dữ trong cơn cám dỗ, xin ban cho chúng con biết noi theo Chúa mà đáp trả với quỷ dữ khi phải chịu cám dỗ, để chúng con cũng gắng công chiến đấu trong mùa chay thánh, hầu trở nên môn đệ đích thực của Chúa. Amen.

[Mục Lục]

Bài 19. Chiến thắng cám dỗ
Lm Giuse Tạ Duy Tuyền

Trong những câu chuyện thường tình khi gặp nhau người ta thường hỏi nhau về cuộc sống, việc công việc làm ăn, về sức khoẻ, về gia đạo… Chúng ta luôn mong muốn cho người thân của chúng ta được bình an, được thịnh vượng. Đó chính là những ước mơ thật bình thường của con người. Và Thiên Chúa, Ngài cũng luôn chúc lành cho những ước mơ của chúng ta. Ngài luôn mong muốn con người được an khang thịnh vượng. Thiên Chúa không muốn con người đau khổ. Ngài tạo dựng con người để được sống trong hạnh phúc. Ngài cho con người trông coi và hưởng dùng gia sản thiên nhiên mà chính Ngài đã tạo dựng.

Thế nhưng, ma quỷ luôn len lỏi vào những ước mơ thật chính đáng đó để xúi giục con người loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời của mình. Ma qủy luôn khuyến dụ con người làm theo ý mình và tôn vinh chính mình. Ma qủy luôn đẩy con người đến lòng tham vô độ về danh lợi thú đến đánh mất tình liên đới với đồng loại và với Thiên Chúa. Ba cám dỗ mà Chúa Giêsu đã chiến thắng cũng là ba cám dỗ mà ma qủy vẫn tiếp tục gieo vào tâm hồn con người hôm nay.

Cám dỗ thứ nhất đó chính là của cải và cơm bánh hằng ngày. Cha ông ta vẫn nói:

“Có làm thì mới có ăn

Không dưng ai dễ mang phần cho ta”

Đó chính là sự công bằng đích thực. Có làm có hửơng. Có những ngày tháng lặn lội ngược xuôi bôn ba nơi chốn chợ hay dầm mưa dãi nắng nơi nương đồng mới có ngày nhàn hạ hưởng dùng hoa trái mình làm nên. Nhiều người đã không ý thức điều đó. Vì thói tham lam và lười biếng họ muốn “ngồi nhà mát ăn bát vàng”. Họ đang tâm làm giầu bằng thủ đoạn, bằng lừa gạt. Họ vì tiền mà đánh mất tình bạn. Họ vì miếng cơm manh áo mà đánh mất lương tri. Họ muốn biến đá thành bánh mà chẳng cần lao động cực nhọc. Lòng tham đã khiến họ quên đi phẩm giá cao đẹp của loài người là hình ảnh của Thiên Chúa, thế nên cần phải tìm kiếm những gì cao siêu hơn là những miếng bánh mau hư nát và cũng chẳng bao giờ thoả mãn lòng tham con người.

Cám dỗ thứ hai chính là tính đòi hỏi người khác phục vụ cho những đam mê sở thích của mình. Đó là lối sống hưởng thụ và thác loạn. Ngày nay người ta vẫn sợ các cậu ấm cô chiêu. Từ nhỏ đã được cha mẹ cưng phụng, chiều chuộng nên chỉ biết đua đòi, phóng khoáng. Sống ngông cuồng đến độ bất tuân phục lề luật. Sống hành xử theo ý mình, cho dù đó là những trò mạo hiểm gây hại cho bản thân và cho đồng loại như: xì kè, ma túy, mại dâm, đua xe, lạng lách… Đó chính là con đường mà ma qủy đã gieo vào lòng người: “cứ gieo mình xuống đi… và mọi sự sẽ có các thiên sứ lo liệu…”. Lời Chúa hôm nay là lời nhắc nhở họ: “chớ thử thách Thiên Chúa”. Thiên Chúa là Đấng công thẳng. Mọi việc con người làm hôm nay đều phải trả lẽ trước mặt Chúa trong ngày sau nơi toà phán xét chí công của Thiên Chúa.

Cám dỗ thứ ba chính là lòng tự mãn, kiêu căng của con người. Ma qủy luôn cám dỗ con người “coi trời bằng vung”. Họ hành động như thể không có Thiên Chúa. Họ sống theo ý mình, tệ hại nhất chính là sự nuông chiều theo những đam mê sở thích của mình. Ma qủy luôn làm cho con người cảm thấy thoả thích trong những vinh hoa phú qúy trần gian. Nó dẫn con người đi trong những đam mê bất chính, những hưởng thụ lầm lạc. Con người vì kiêu căng muốn hưởng thụ tất cả nên dễ dàng bỏ Chúa, bỏ lề luật để tôn thờ những con bò mộng, lợn vàng là danh lợi thú trần gian. Tôn thờ những tạo vật thấp hèn nên con người cũng có những lối hành xử đê tiện và thấp hèn.

Chúa Giêsu Ngài đã chiến thắng ba cám dỗ đó trên nền tảng căn tính của con người. Con người là hình ảnh Thiên Chúa và vượt xa muôn loài thụ tạo nên chẳng có vật gì đáng cho con người phải bán rẻ lương tâm để tôn thờ. Chỉ có Thiên Chúa là Đấng đã tạo dựng nên con người, mới đáng để con người phải cúi mình tôn thờ. Thế nên, chỉ khi con người sống tôn thờ Thiên Chúa, con người mới sống đúng phẩm giá của mình hơn, vì “nhân linh ư vạn vật”. Chỉ khi con người thoát ra khỏi sự ràng buộc khỏi những tham sân si, con người mới sống an bình hơn.

Ước gì Mùa chay sẽ giúp chúng ta tìm lại đúng phẩm gía cao đẹp của chính mình. Xin Chúa Giêsu là Đấng đã chiến thắng sự dữ nâng đỡ và giúp chúng ta chiến thắng những cám dỗ đang đeo đuổi và ràng buộc tâm hồn chúng ta. Xin Chúa giúp cho mỗi người chúng ta biết thanh luyện chính mình để mỗi ngày nên hoàn thiện như cha chúng ta ở trên trời là Đấng hoàn thiện. Amen.

[Mục Lục]

Bài 20. Cám dỗ
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

Cám dỗ là chuyện xưa như trái đất. Từ khi có con người, đã có cám dỗ. Hẳn ta không thể quên chuyện hai ông bà nguyên tổ sa chước cám dỗ của ma quỷ. Dân Do Thái, khi bị nô lệ dưới ách người Ai cập thì muốn được tự do. Nhưng khi lang thang 40 năm trong sa mạc, phải chịu đói khát, lại bị cám dỗ quay trở lại Ai cập để được no ấm. Nhưng có thể nói, 3 cơn cám dỗ mà Đức Giêsu phải đương đầu hôm nay gồm tóm tất cả mọi thứ cám dỗ mà ta thường gặp.

+ Cơn cám dỗ thứ nhất: thoả mãn tức khắc mọi nhu cầu.

Sau khi Đức Giêsu ăn chay 40 đêm ngày. Ma quỷ đề nghị Người biến đá thành bánh mà ăn. Thật là một đề nghị hợp lý. Đói thì phải ăn. Muốn ăn thì phải có bánh. Nhưng có bánh bằng cách nào mới là vấn đề. Không phải cứ có nhu cầu là phải thoả mãn ngay. Và nhất là không được dùng những cách không hợp đạo lý để thoả mãn những nhu cầu của mình. Cơm bánh tượng trưng cho những nhu cầu thiết yếu của con người. Nhu cầu của con người thì có nhiều và có khuynh hướng ngày càng gia tăng. Vì thế cơn cám dỗ thoả mãn nhu cầu ngày càng lớn.

+ Cơn cám dỗ thứ hai: muốn có quyền lực thống trị.

Ma quỷ biết Đức Giêsu muốn cứu độ loài người, nên đề nghị tặng Người tất cả các nước trên trần gian. Có lẽ nhiều người nghĩ rằng đề nghị của ma quỷ là hợp lý. Cứ có quyền thống trị trên hết mọi dân nước rồi nói gì người ta chẳng nghe. Chúa sẽ không phải mất công chịu đau khổ chịu chết. Chỉ cần quỳ xuống thờ lạy ma quỷ, vua quan dân chúng các nước sẽ răm rắp tuân theo. Thật là tiện lợi. Quyền lực là một cơn cám dỗ muôn đời của nhân loại. Từ ngàn xưa, vua chúa các nước đã không ngừng gây chiến để tranh giành quyền lực. Ngày nay, trong các cuộc chiến mới, người ta không còn giết nhau bằng gươm đao, súng đạn, nhưng bằng quyền lực kinh tế, khoa học, kỹ thuật. Tuy êm đềm nhưng cuộc chiến vô cùng khốc liệt. Cơn cám dỗ về quyền lực thống trị không những không suy giảm mà còn mãnh liệt hơn.

+ Cơn cám dỗ thứ ba: tìm những điều kỳ lạ.

Muốn những chuyện thần kỳ. Muốn làm được những việc kinh thiên động địa. Muốn có những thành công lẫy lừng. Cơn cám dỗ này thúc đẩy người ta đổ xô đi tìm phép lạ. Cơn cám dỗ xây tháp Ba ben từ ngàn xưa vẫn còn tiếp diễn. Xuyên qua những cơn cám dỗ ấy ta thấy ma quỷ thật vô cùng tinh khôn và hiểm độc.

Với cơn cám dỗ thứ nhất, ma quỷ muốn xô đẩy con người làm nô lệ cho dục vọng. Xúi giục con người chỉ tìm thoả mãn những bản năng thấp hèn. Giới hạn con người vào sự sống xác thịt. Đức Giêsu đã vạch trần âm mưu của ma quỷ khi Người cho biết con người không chỉ có đời sống thể lý mà còn có đời sống tâm linh. Người nâng cao phẩm giá con người khi quyết tâm chống lại cơn cám dỗ thoả mãn những nhu cầu thân xác để chăm lo cho sự sống tâm linh.

Với cơn cám dỗ thứ hai, ma quỷ muốn biến con người thành nô lệ cho tham vọng, nô lệ cho ma quỷ. Vì ham hố chức quyền, vì mưu cầu danh vọng mà đánh mất tự do của mình, cam tâm làm nô lệ cho ma quỷ. Vì tham vọng mà đánh mất chính mình. Đức Giêsu vạch trần âm mưu đen tối của ma quỷ khi cương quyết chối từ danh vọng quyền thế. Người còn chỉ cho ta con đường duy nhất phải theo đó là thờ phượng Thiên Chúa. Chỉ có thờ phượng Thiên Chúa mới đem đến cho con người tự do đích thực, tự do trong tâm hồn, không bị nô lệ một tham vọng nào.

Với cơn cám dỗ thứ ba, ma quỷ đẩy con người vào nô lệ cho cuồng vọng. Điên cuồng đến chống lại Thiên Chúa. Dùng Thiên Chúa để phục vụ cho những ước vọng ngông cuồng của mình. Không đến với Chúa trong tâm tình của người con thảo đối với Cha hiền. Đức Giêsu đã vạch trần âm mưu của ma quỷ. Người chỉ cho ta con đường của người con hiếu thảo. Người con hiếu thảo tin cậy phó thác và luôn làm theo ý Cha, chứ không bao giờ dám thách thức Cha. Người con hiếu thảo vâng lệnh Cha sai bảo chứ không bao giờ dám sai bảo Cha.

Cám dỗ của ma quỷ hiểm độc vì nó tiến từng bước: Từ hạ thấp phẩm giá con người khi khiến con người làm nô lệ cho dục vọng đến cướp mất tự do của con người khi xúi giục con người nô lệ cho ma quỷ. Và sau cùng đi đến chỗ tận cùng là chối bỏ Thiên Chúa, không coi Thiên Chúa là cha. Cám dỗ càng hiểm độc vì ma quỷ đã khéo léo học những âm mưu thâm hiểm trong lớp vỏ nhung lụa, êm ái, hợp lý và đầy quyến rũ của những nhu cầu, quyền lực và uy tín.

Ngày nay, những cơn cám dỗ của ma quỷ vẫn như những chiếc bẫy giăng ra để trói buộc con người trong vòng nô lệ. Cám dỗ càng ngày càng tinh vi và càng ngọt ngào hơn nên càng hiểm độc hơn. Muốn chống trả được những cơn cám dỗ, ta phải bắt chước Đức Giêsu dùng những vũ khí sắc bén, đó là ăn chay cầu nguyện, thấm nhuần Lời Chúa và luôn sống tâm tình của người con thảo đối với Chúa.

Lạy Chúa, xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. Amen.

Cầu Nguyện:

Lạy Chúa, xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. Amen.

[Mục Lục]

Bài 21. Suy niệm của Lm Nguyễn Bình An

Một Marylyn Moroe đẹp một hai “nghiêng nước nghiêng thành” của thập niên 60 tại Hoa Kỳ đã rơi vào cạm bẫy của thần vệ nữ và trở thành “đồ chơi” của giới trưởng giả và chính trị gia. Cái đẹp hấp dẫn, nẩy lửa và mời gọi ấy còn ám ảnh tâm tưởng nhiều cố nhân, nên dù không là anh hùng dân tộc, Monroe vẫn được sủng ái và trở thành “chim câu giao liên” tại Hoa Kỳ hôm nay.

Cái tài đảm lược “chinh đông phục tây” và “trị quốc an dân” của Caesar đã biến ông thành người kiêu ngạo khó thương và phách lối. Ông ao ước được phong thần và trở thành hoàng đế La Mã. Nguyên lão nghị viện đã ám sát ông dưới chân tượng bại tướng Pompey là kẻ thù của ông.

Các “đồ tể” và “tay sai” đâm thuê, giết mướn đã hạ sát Tổng Thống Diệm. Họ huyên hoang tự phong là “anh hùng dân tộc” hay “chính trị gia đại tài”. Họ thay nhau một thời vơ vét để “vinh thân phì gia”. Quả báo là họ đã nếm mùi cùng cực của kẻ mất chức, trốn chạy, qui hàng tủi nhục và tù tội đau thương.

Ba mươi năm ẩn dật tại Nazareth, Đức Kitô đã sống quá tầm thường và khiêm tốn. Không hơn không kém, Ngài chỉ là con bác thợ mộc nghèo khó, vất vả kiếm ăn từng ngày. Họ hàng không ai rõ, bạn bè chẳng ai hay một điểm phi thường nào nơi Giêsu. Ngài chỉ thực sự biến đổi sau cuộc gặp gỡ với Gioan Tẩy Giả bên sông Giordan. Ra khỏi nước, Chúa Cha tuyên phong Ngài là “Chiên Thiên Chúa” và Thần Linh Chúa đưa Ngài vào hoang địa lập chí. Tại đây Ngài chìm trong đắm suy tư và cầu nguyện. Cũng tại đây, Ngài hình thành chương trình giải phóng, chọn lựa phương thế tuyệt hảo để hành động và mục đích tối hậu phải nhắm tới. Đối thủ nghi vấn về con người dị kỳ và đặc biệt này. Đối thủ nhận ra những khả năng phi thường, sự khôn ngoan tuyệt đối và những nhân đức tuyệt vời của con người này. Nhưng đối thủ vẫn không nhận ra chân tướng “cứu thế” của Ngài. Đối thủ vì thế mon men đến làm quen và truyện trò.

Thánh kinh ghi lại 3 thách đố hay 3 trò chơi đối thủ đưa ra liên hệ đến tiền, danh, chức để thử Ngài hầu “tri kỷ tri bỉ, bách chiến bách thắng”. Ngài đã khôn ngoan đối đáp một là “Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra”, hai là “Đừng thử thách Chúa là Thiên Chúa ngươi” và ba là “Ngươi phải thờ lạy Chúa là Thiên Chúa ngươi, và chỉ thờ phượng duy mình Chúa mà thôi”.

Tiền Ngài không ham, danh Ngài không thích, chức Ngài không thèm. Ba cái nghiệp chướng ấy: thứ nhất đã đưa đẩy nhân loại vào đường dối trá, biển lận và tham lam; thứ hai đã biến đổi tâm tính con người từ bất lực, hẹp hòi và giới hạn thành tự đắc, kiêu căng và phách lối; thứ ba đã tạo những con người được hình thành từ bụi đất, nay còn mai mất và bất toàn nên những người lạm dụng quyền bính, bất nhân và vi phạm quyền sống, lạm dụng tự do và bình đẳng của con người.

Vương quốc của Đức Kitô lấy công bình, bác ái, và yêu thương làm phương châm và ơn cứu rỗi làm cùng đích, nên tiền, danh, chức chỉ là phương tiện: “Ai muốn làm lớn, phải làm tôi mọi người”.

Đời chúng ta vì thế dẫy đầy những cạm bẩy và mâu thuẩn cần chế ngự. Thoát cạm bẫy của “danh, lợi, dục” là được trưởng thành trong ơn thánh, trở nên vĩ nhân của Nước trời, vui sống tự do, hưởng công lý, an bình và bác ái. Như Đức Kitô, chúng ta phải sáng suốt và tự do chối từ những cạm bẫy do đối thủ giăng ra để sống thánh thiện và hy sinh tuyệt đối cho Thiên Chúa và tha nhân; để chết an bình và được tái sinh khải hoàn với Đức Kitô.

Thắng đối thủ và thoát tục là không tìm hư danh hão huyền. Sống trưởng thành là cộng tác và hy sinh cho tha nhân. Nên thánh thiện là biết thưa “Con chỉ chu toàn phận sự được giao phó”. Như thế thì danh, chức, lộc không còn ở thế thượng phong, mà chỉ là phương tiện để tín hữu yêu thương, cộng tác, thông cảm và tha thứ. Tuyệt vời thay!

[Mục Lục]

Bài 22. CON NGƯỜI TRƯỚC CÁM DỖ CỦA BA THÙ
JM. Lam Thy ĐVD.

Cũng bởi vì cám dỗ là “Khêu gợi lòng ham muốn đến mức làm cho sa ngã” (từ nguyên), nên nói đến cám dỗ là nói đến những vuốt ve nhẹ nhàng, những mời mọc hấp dẫn, cùng với những phong toả ngọt ngào, khó lòng từ chối, vượt thoát. Con người đứng trước những cám dỗ của ba thù, thường thì khó lòng cưỡng nổi, bị khuất phục là cái chắc. Chỉ cần một kẻ thù là Xa-tan cám dỗ cũng đã thấy khó lòng chống đỡ nổi, huống hồ tới ba kẻ thù cùng lúc tấn công thì làm sao tránh khỏi sa chước cám dỗ? Nhưng 3 kẻ thù đó là ai mà ghê gớm vậy? Đó chính là: 1- Dục vọng của bản thân; 2- Hấp lực của thế gian; 3- Cạm bẫy của Xa-tan. Nói con người đứng trước ba thù vây hãm cũng chẳng khác gì một thành trì bị “thù trong – giặc ngoài” hãm hại, chỉ còn nước bó tay chờ chết.

Đó là nói về con người trần thế, nhưng vấn đề đặt ra hôm nay là tại sao Đức Giê-su là Thiên Chúa mà còn bị ma quỷ cám dỗ không chỉ một lần mà tới 2 lần: Bài Tin Mừng hôm nay (CN.I/MC-A – Mt 4, 1-11) trình thuật trước khi khai mạc sứ vụ, Đức Giê-su vào hoang địa ăn chay 40 đêm ngày và chịu để ma quỷ cám dỗ. Sau đó, trước khi chính thức bước vào cuộc thương khó, Người lại bị cám dỗ tại vườn Ghết-sê-ma-ni, đến độ phải kêu lên với Chúa Cha: “Áp-ba, Cha ơi, Cha làm được mọi sự, xin cất chén này xa con.” (Mc 14, 36).

Cứ xét chuyện Đức Giê-su bị cám dỗ sẽ thấy ma quỷ rất sành tâm lý, chúng không chỉ cám dỗ về vật chất mà còn cả về tinh thần nữa: Về vật chất, chúng đem miếng ăn, sự vinh hoa phú quý trần thế làm mồi nhử; về mặt tinh thần, chúng đánh ngay vào tính tự cao tự đại của con người, lấy quyền lực siêu phàm làm mồi nhử. Với Đức Giê-su Ki-tô thì chuyện ma quỷ cám dỗ chỉ là chuyện nhỏ (bằng chứng là khi chúng đi quá lố, Đức Giê-su ngay lập tức đã đuổi thẳng: “Xa-tan kia, xéo đi!” – Mt 4, 10); nhưng sở dĩ Chúa chịu để ma quỷ cám dỗ, cũng là có ý muốn làm gương để răn dạy mọi người hãy cảnh giác trước mưu mô thâm độc của ba thù. Nói ma quỷ rất sành tâm lý, vậy tại sao chúng thất bại? Chuyện cũng dễ hiểu, ma quỷ dù biết Đức Giê-su là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa thật (bản tính Thiên Chúa), nhưng trước mắt chúng là một chàng thanh niên Giê-su bằng xương bằng thịt (bản tính loài người) như mọi người bình thường khác, vì thế chúng đem chính những thứ mà con người trần tục thường mê đắm để làm mồi cám dỗ, hầu có thể hạ gục Người.

Trước hết, chúng biết Đức Giê-su vào hoang địa ăn chay 40 đêm ngày, chắc chắn Người phải đói bụng, vậy thì miếng ăn lúc này là mồi nhử hữu hiệu nhất, bởi chính đây mới là kẻ thù đáng sợ nhất của con người trần thế: Đó là kẻ thù từ bên trong (tự thân chủ thể) – là “thù trong” chớ không phải “giặc ngoài” – kẻ thù đến từ bên ngoài (khách thể). Tuy nhiên, có một điều rất đáng lưu ý là ma quỷ không đưa bánh thật ra, mà lại đưa một hòn đá rồi bảo Đức Giê-su hoá phép cho hòn đá ấy biến thành bánh mà ăn. Cái quỷ quyệt của ma quỷ chính ở điểm này, bởi với một con người bình thường thì chúng chỉ cần đưa ra miếng bánh, nhưng đây lại là Thiên Chúa đầy quyền năng, vì thế chúng nhắm vào tâm lý kiêu ngạo, hiếu thắng, muốn chứng tỏ mình của con người, để kích động Chúa. Và nếu vì đói bụng, hoặc cũng có thể do bản tính loài người hay kiêu căng tự phụ, Chúa làm phép lạ biến đá thành bánh để ăn, thì Chúa đã mắc mưu thâm độc của chúng. Nói cách khác, nếu làm theo ý ma quỷ thì Chúa đã bị khuất phục, bị sai khiến theo ý chúng. Nhưng chúng đã thất bại, bởi đối tượng chúng cám dỗ không chỉ là một chàng thanh niên Giê-su Na-da-ret bình thường, mà còn là Con Một Thiên Chúa được sai đến để chế ngự tội lỗi, cứu độ nhân loại.

Không đánh vào cái bụng đói của Chúa được, chúng xoay qua mặt tâm linh, đó là tính kiêu ngạo. Nếu là một con người bình thường, khi biết chắc là mình có nhảy xuống từ nóc Đền Thờ cao chót vót cũng sẽ được “Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng” (Mt 4, 6), chắc chắn họ sẽ nhảy xuống liền, và như thế sẽ được hoan hô ca tụng tận mây xanh. Lòng kiêu căng tự phụ được ve vuốt, đối với con người thì còn gì hơn thế nữa? Ngay từ Nguyên tổ của loài người, chuyện này cũng đã xảy ra: Khi rắn (ma quỷ) xúi bà E-va ăn trái cấm, bà còn e ngại vì nhớ Lời Đức Chúa: “Các ngươi không được ăn, không được động tới, kẻo phải chết”, thì ngay lập tức “Rắn nói với người đàn bà: “Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác.” (St 2, 4-5). Ấy thế là Nguyên tổ phạm tội, loài người bị tội lỗi thống trị. Loài người là vậy đó, nhưng với Đức Giê-su thì vì Người là Thiên Chúa, nên Người quở mắng liền: “Nhưng cũng đã có lời chép rằng: Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi.” Sau 2 lần thất bại, ma quỷ lại xoay qua mặt phú quý vinh hoa là mồi nhử hấp dẫn nhất đối với con người. Chỉ cần quy phục, quỳ lạy chúng, sẽ được tất cả. Lần này thì Chúa đuổi thẳng: “Xa-tan kia, xéo đi! ” và ma quỷ thất bại hoàn toàn, bỏ đi một nước.

Quả thật, giặc từ bên ngoài đánh chiếm thành trì, còn có thể thấy rõ kẻ thù, may ra còn hy vọng chiến đấu; nhưng nếu đó là kẻ thù từ bên trong thì chúng đã đồng hóa với “cái tôi” trở thành vô hình vô ảnh; vậy thì làm sao chống đỡ cho nổi? Nói như vậy thì phải chăng con người luôn bị ma quỷ cám dỗ và đành thúc thủ trước những mưu mô quỷ quyệt của chúng sao? Xin thưa, nếu anh chỉ sống theo xác thịt, chiều theo thị hiếu vật chất, thì bảo đảm anh thua là cái chắc, nhưng anh còn một vũ khí rất lợi hại để có thế chống lại được ba thù, có thế chiến thắng được những cơn cám dỗ. Câu “Muốn thắng người, phải thắng được mình trước” (tục ngữ) có thể viết thành “Muốn thắng chước cám dỗ của ma quỷ, phải thắng được mình trước”. Mà cái vũ khi lợi hại để có thể thắng được mình (nhiên hậu mới nói đến thắng được cám dỗ), đó chính là: CẦU NGUYỆN.

Không tự tin quá đáng (sẽ thành tự kiêu), cũng không tự ti, mà hãy dốc lòng tin cậy vào Thiên Chúa, bởi “Nếu chỉ vì một người, một người duy nhất (là A-đam) sa ngã, mà sự chết đã thống trị, thì điều Thiên Chúa làm qua một người duy nhất là Đức Giê-su Ki-tô, lại còn lớn lao hơn biết mấy. Quả vậy, những ai được Thiên Chúa ban ân sủng dồi dào và cho trở nên công chính, thì sẽ được sống và được thống trị” (Rm 5, 17). “Được sống và được thống trị”, ấy chẳng phải là chiến thắng đó sao? Vậy thì tại sao lại không thể làm như lời dạy của Thánh Gia-cô-bê Tông đồ: “Anh em đau khổ ư? Người ấy hãy cầu nguyện. Ai vui vẻ chăng? Người ấy hãy hát thánh ca. Ai trong anh em đau yếu ư? Người ấy hãy mời các kỳ mục của Hội Thánh đến; họ sẽ cầu nguyện cho người ấy, sau khi xức dầu nhân danh Chúa. Lời cầu nguyện do lòng tin sẽ cứu người bệnh; người ấy được Chúa nâng dậy, và nếu người ấy đã phạm tội, thì sẽ được Chúa thứ tha. Anh em hãy thú tội với nhau và cầu nguyện cho nhau để được cứu thoát” (Gc 5, 13-16).

Vâng, để “Được sống và được thống trị”, xin cùng dâng lời cầu nguyện: Ôi ! Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, chính nhờ sống theo Thần Khí hướng dẫn vào trong hoang địa ăn chay cầu nguyện 40 đêm ngày, mà Chúa đã được đầy sức mạnh chiến thắng được cơn cám dỗ quỷ quyệt của ma quỷ. Để có thể chống chọi được với những mời mọc hấp dẫn, những cám dỗ ngọt ngào của xác thịt, của ma quỷ, cúi xin Chúa thương giúp chúng con thực hành theo lời Thánh Phê-rô: “Vậy anh em hãy tự khiêm tự hạ dưới bàn tay uy quyền của Thiên Chúa, để Người cất nhắc anh em khi đến thời Người đã định. Mọi âu lo, hãy trút cả cho Người, vì Người chăm sóc anh em. Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé. Anh em hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự, vì biết rằng toàn thể anh em trên trần gian đều trải qua cùng một loại thống khổ như thế” (1Pr 5, 6-9). Ôi lạy Chúa, con tín thác nơi Ngài. Amen.

[Mục Lục]

Bài 23. Cám dỗ, nguy cơ và cơ may
Lm Pietro Nguyễn Hương

Với Chúa nhật I mùa Chay năm A, phụng vụ Lời Chúa hướng sự chú ý của chúng ta tới một chủ đề chính đáng suy nghĩ đó là CÁM DỖ. Chủ đề này như là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tất cả các bài đọc. Nếu ma quỉ xuất hiện như làm một kẻ thù rất nguy hiểm của con người, thì Đức Giêsu là người chiến thắng tất cả các cám dỗ và cạm bẫy của Ma quỉ, trở thành khuôn mẫu và là Đấng cứu độ duy nhất và phổ quát của nhân loại.

Bài Đọc I từ Sách Sáng Thế (St 2,7-9. 3,1-7), kể cho chúng ta nghe lại câu chuyện sa ngã của tổ tiên chúng ta do những lời mời mọc ngọt ngào của con rắn. Adam va Eva bị cám dỗ ăn trái cấm của “cây biết lành biết dữ” (St 3,2). Họ đã sa ngã, xa rời Thiên Chúa, đánh mất sự sống và sự hiệp thông mật thiết với Thiên Chúa, Đấng là nguồn mạch của mọi sự thiện hảo. Câu chuyện này cũng nhắc nhở chúng ta về một sự kiện lịch sử là nhân loại ngay từ đầu đã phạm tội và không có khả năng giải phóng mình khỏi tội lỗi và sự giữ. Nhân loại cần đến ơn cứu độ, sự hoàn nguyên đến từ Thiên Chúa.

Thánh Phaolô trong thư gửi các tín hữu Rôma (Rm 5,12-19), cho chúng ta lời giải đáp về mầu nhiệm cứu độ của nhân loại mà Đức Kitô đã mang lại qua mầu nhiệm thương khó, tử nạn và phục sinh của Đức Kitô: «Thật vậy, cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người công chính» (Rm 5,19).

Bài Tin mừng (Mt 4,1-11) giới thiệu với chúng ta kinh nghiệm của Đức Giêsu trong sa mạc, nơi Người bị cám dỗ và chống lại Satan như thế nào.

Chúng ta hãy nhìn vào ba cơn cám dỗ của Đức Giêsu: cơn cám dỗ thứ nhất, trong lúc đói lã, Ma quỉ đề nghị Người biến những viên đá thành bánh để ăn. Đấy là cám dỗ đặc trưng về vật chất. Nhưng Đức Giêsu trả lời: «Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra» (Mt 4,4). Đức Giêsu đã từ chối cám dỗ này và sống phó thác vào Chúa Cha, vì đối với Người có một thức ăn quan trọng hơn “bánh mì” đó là Lời Chúa và thi hành theo Ý Cha.

Trong cơn cám dỗ thứ hai: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì gieo mình xuống đi!» (Mt 4,6). Đây là cám dỗ về lòng kiêu ngạo. Ma quỉ gợi lên sự ngờ vực, thách thức về Tình Yêu của Chúa Cha đối với Người, và để nghị Người sử dụng quền của mình để làm những cảnh ngoạn mục, tìm kiếm sự vỗ tay của đám đông. Trong câu trả lời: «Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi», Chúa Giêsu cho thấy Người là Con đích thực của Thiên Chúa, đã chọn một cách sống trong khiêm tốn, trong ẩn dật, và không cần phải bắt Thiên Chúa làm theo ý mình để biểu lộ tình yêu đối với mình. Cách đơn giản Người sống tin tưởng vào Cha.

Cuối cùng, Cám dỗ thứ ba liên quan đến sự khát khao quyền lực: “Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó, nếu ông sấp mình bái lạy tôi. (Mt 4,9). Một cách công khai Ma quỉ để lộ mục đích của nó: hãy thờ lạy tôi chứ không phải Thiên Chúa, bạn sẽ có tất cả. Chúa Giêsu trả lời bằng một lối sống thực sự chỉ có tôn thờ và phục vụ một mình Thiên Chúa mà thôi.

Quả thật, cả ba cám dỗ của Đức Giêsu là “ba con đường dễ dãi để không trải qua Thập Giá” (Fulton Sheen), nhưng Đức Giêsu đã chấp nhận con đường Thập Giá, với một tình yêu và lòng phó thác hoàn toàn vào Cha. Như thế, Người đã chiến thắng và như thế qua Thập Giá, Người cứu độ chúng ta.

Cũng như Đức Giêsu, ngày hôm nay chúng ta sống trong thế giới này, một thế giới đầy cám dỗ, và cám dỗ hôm nay được mặc nhiều dáng vẽ hấp dẫn và đẹp đẽ. Đằng sau những cám dỗ là Ma quỉ, kẻ thù luôn dấu mặt. Kẻ được định nghĩa bởi Gioan như là cha đẻ của sự dối trá (Gv 8,44), một kẻ thù rất nguy hiểm không bao giờ ngủ, luôn sẵn sàng để thử thách chúng ta. Và như nhà thơ Baudelaire nói: “Sự quỉ quyệt nhất của ma quỉ là làm cho con người không tin rằng nó hiện hữu”.

Chúng ta đừng có sợ hãi vì Đức Kitô đã chiến thắng Satan để giải thoát ta khỏi Satan. Chúng ta hãy học hỏi từ Đức Giêsu, để chiến đấu với Ma quỉ bằng sức mạnh của Lời Chúa, và khí cụ của việc ăn chay, cầu nguyện và việc bác ái. Hãy học nơi Người để tĩnh thức luôn, để nói KHÔNG với từng cơn cám dỗ và nói VÂNG với Thiên Chúa. Đặc biệt là như Đức Giêsu, hãy để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn cuộc đời chúng ta, hãy trở nên nhảy cảm và dễ bảo với Người. Tôi xác tín rằng, nếu chúng ta bước đi trong sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, chúng ta sẽ chiến thắng các cám dỗ, và qua những thử thách đó chúng ta sẽ trưởng thành trong Đức Tin và trong Tình Yêu với Thiên Chúa và với mọi người. Đó là tin vui và cùng với niềm vui đó chúng ta bắt đầu hành trình Mùa chay hướng về niềm vui phục sinh của Đức Kitô, Chúa Chúng ta. Amen!

[Mục Lục]

Bài 24. Cám dỗ
Lm Trần Xuân Lãm

Thánh sử Mat-thê-ô, một người Do- thái, nhắm trước hết vào các độc giả Do-thái, ông muốn nhắc nhở: dân Do Thái đã sa chước cám dỗ khi họ sống trong hoang địa 40 năm trường, còn Chúa Giê-su đã chiến thắng các cám dỗ của ma quỷ, sau khi ăn chay 40 ngày nơi rừng vắng.

Có tất cả 3 cám dỗ nặng nề:

1- Cám dỗ cơm bánh hay vật chất: Trong hoang địa, dân Do thái kêu ca vì thiếu tiện nghi và lương thực. Chúa cho manna để nuôi họ. Nhưng họ nhàm chán thứ bánh họ ăn hằng ngày. Lương thực nói đây tượng trưng nhu cầu vật chất chúng ta muốn hưởng thụ. Trong cơn cám dỗ vật chất, Chúa Giê-su đã trưng lời sách Đệ nhị luật: “Người ta sống không chỉ bởi bánh, nhưng bởi lời từ miệng Thiên Chúa”. Mặc dù Chúa Giê-su cảm thấy đói, nhưng sự đói khát nghe lời Thiên Chúa còn quan trọng hơn là nhu cầu về cơm bánh. Ngài hơn hẳn dân Do thái xưa, Ngài tìm ý Thiên Chúa hơn là tìm sự thỏa mãn cho riêng Ngài.

2- Cám dỗ về sự thử thánh quyền năng Thiên Chúa: Dân Do thái luôn yêu cầu Chúa ban những dấu lạ điềm thiêng, nhưng Chúa từ chối vì họ không thực tâm tin vào Ngài, mà đơn thuần chỉ để thách thức Chúa. Hôm nay, khi ma quỷ cám dỗ Chúa Giê-su gieo mình xuống khỏi đền thờ, Ngài đã trả lời bằng cách trưng dẫn sách đệ nhị luật: “Ngươi đừng thử thách Thiên Chúa”. Những gì dân Do Thái khiêu khích Thiên Chúa nơi hoang địa, nơi đây ta thấy Chúa Giê-su đã chẳng hề làm.

3- Cám dỗ hạ mình thờ lạy ma quỷ: Xưa dân Do thái đã tạc tượng bò vàng và thờ lạy nó. Ngày nay, ngẫu tượng hay bò vàng chính là tiền tài, danh vọng, thú vui, vật chất, tiện nghi, sắc dục đem chúng ta xa lìa Chúa và dẫn ta đến chỗ thỏa hiệp, phạm tội. Chúa Giê-su chẳng màng bất cứ điều gì ma quỷ trưng dẫn, kể cả vương quốc nó muốn dâng tặng Ngài. Ngài đã chẳng cúi đầu thờ lạy nó, trái lại Ngài dõng dạc tuyên bố: “Ngươi chỉ thờ lạy một mình Thiên Chúa” (Đnl 6:13).

Thánh Mat-thê-ô chỉ ra rằng, trong khi dân Do thái đã ngã thua cám dỗ trong sa mạc, thì trái lại, Chúa Giê-su đã chẳng hề sa ngã. Bởi đó, Chúa Giê-su, là dân Is-diên mới, là con thật của Thiên Chúa, là thừa kế chính truyền của vương quốc Thiên Chúa. Những ai theo gương Ngài, sẽ vượt qua cám dỗ trong cuộc đời, và trở nên con cái đích thực của Thiên Chúa.

[Mục Lục]

Bài 25. Sa Tan kia, xéo đi
Fx Đỗ Công Minh

Đã mang thân phận con người, chẳng ai thoát khỏi cám dỗ. Cám dỗ tựa như tấm mạng nhện khổng lồ sẵn sàng chụp xuống để bao bọc và giết chết con mồi. Vậy cám dỗ là gì? Thưa, cám dỗ là khơi dậy lòng ham muốn đến mức làm cho sa ngã. Cám dỗ là tìm mọi cách quyến rũ làm việc không tốt. Như thế, động lực của cám dỗ là xấu, là đi ngược lại với luân thường đạo lý; và để lại những hậu quả không tốt nơi bản thân cũng như những người xung quanh. Thực vậy, cám dỗ chẳng buông tha ai (Tĩnh tâm GP Long Xuyên). Bài Tin mừng Chúa nhật thứ I Mùa Chay cho con thấy Chúa đã bị cám dỗ ba lần, mà còn hơn thế nữa.(Xem Mt 27,39-44).

Cám dỗ thứ nhất là thỏa mãn nhu cầu vật chất hàng ngày, cụ thể về ăn uống. Sau bốn mươi đêm ngày ăn chay, về bản tính con người, Đức Giêsu thấy đói. Ăn uống trở lại là việc bình thường, nhưng ma quỉ muốn thử thách phần Thiên tính của Người, thử xem Người có đói đến mức độ dùng quyền năng thực hiện những việc của kẻ phàm phu tục tử, theo cái nhìn của y: biến đá thành bánh ? Chúa đã dùng Lời Kinh Thánh để chiến thắng “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra”.

Không chịu thua, Satan cám dỗ Chúa về quyền lực mà y cho rằng, dù là Thiên Chúa, nhưng cũng như con người, mong muốn thể hiện quyền lực của mình để mọi người biết đến: “Nếu ông là Thiên Chúa Hãy gieo mình xuống đi!”. Tưởng Chúa nghe theo lời để tỏ uy quyền, nhưng Người đã phản bác: “Ngươi đừng thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa ngươi“.

Lần cuối , y chắc mẩm thế gian với vinh quang của nó và của cải vật chất, lợi lộc hẳn là đến Thiên Chúa cũng ham muốn, y tự tin đến mức: “Tôi sẽ cho ông tất cảnhững thứ đó, nếu ông sấp mình bái lạy tôi”. Đến đây thì Người phải lên tiếng một cách kiên quyết: “Satan kia, hãy xéo đi! Vì đã có lời chép rằng : Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi”.

Đức Giêsu chịu ma quỉ cám dỗ và người đã chiến thắng. Chúng đã hiển hiện là tên cám dỗ trước mặt Chúa và Người đã xua đuổi thẳng tay. Tên Quỉ đã bỏ đi và chờ đợi nhiều dịp khác. Chúa đã từng nhắc các Tông đồ “Ma quỉ sẽ sàng anh em như người ta sàng gạo“. Ngày hôm nay, con không nhận biết được hình dạng tên cám dỗ đó như thế nào? Nhưng trước những lôi cuốn từ của cải, tiền bạc, lợi lộc, quyền lực bất chính vẫn hàng ngày diễn ra trong cuộc sống của con, tên cám dỗ vẫn quanh quẩn bên con. Qua những lời rủ rê, qua những lợi lộc cho bản thân, cho gia đình; qua một vị trí, địa vị, quyền lực hấp dẫn, nấp dưới nhiều chiêu bài khác nhau đang lôi kéo con chiều theo “Những cám dỗ ngọt ngào, những vũng lầy êm ái” của nền văn minh sự chết, khiến con rời xa ơn cứu độ của Thiên Chúa, rời xa vòng tay yêu thương của Cha trên trời, của cộng đòan Hội Thánh nơi trần gian này.

Xin cho con biết tỉnh táo để nhận ra những cám dỗ trong cuộc sống hôm nay. Con biết đón nhận Lời Chúa, biết đem ra thực hành trong đời sống đạo. Đó là con đang sử dụng những khí cụ chống lại những cơn cám dỗ tưởng như nhẹ nhàng, êm ái nhưng đầy hiểm độc.

Lạy Chúa! Xin chớ để con sa chước cám dỗ. Xin cứu con qua khỏi mọi sự dữ. AMEN.

[Mục Lục]

Bài 26. Liên hệ
Lm. Vũ Đình Tường

Chương đầu sách Sáng Thế Ký tường thuật sự việc Chúa tạo dựng con người phỏng theo hình ảnh Chúa. Trình thuật cho biết từ nguyên thuỷ Chúa lấy bùn đất tạo nên con người và thở hơi vào lỗ mũi ban Thần Khí Chúa cho con người. Nhờ Thần Khí đó mà con người có sự sống.

Nguyên việc sáng tạo cũng đủ cho biết con người có quan hệ rất mật thiết với vũ trụ do Chúa tạo dựng. Đây là lí do chính giải thích tại sao con người lại có khuynh hướng yêu mến, quyến luyến trần thế.

Nguyên do

Ngoài ra, thân xác con người bởi đất mà ra. Con người nhận biết mình là bụi tro và sau cuộc đời khổ ải này sẽ trở về bụi tro. Nói cách khác thân xác con người là một phần của vũ trụ do Chúa tạo thành. Yêu thích vật chất, của cải thế gian chính là yêu thích cái cội nguồn thân xác trần thế của chính mình.

Chúa phán cho nhân loại con người hãy làm chủ chim trời, cá biển và những sinh vật trên mặt đất. Con người thi hành giáo huấn tích cực đến độ cạnh tranh, tranh nhau làm chủ và ngay cả tàn sát nhau để được quyền làm chủ trên đất, biển và không gian. Thực ra con người được mời gọi làm quản gia, chứ không phải là chủ gia. Nhiệm vụ của quản gia là bảo quản, coi sóc, bảo vệ, canh tác và hưởng thành quả của lao tác. Đòi làm chủ vượt quá quyền hạn của quản gia. Mầm mống của phản loạn chống lại chủ nhân vũ trụ, chống lại Đấng sáng tạo ra vũ trụ. Mình Chúa làm chủ tất cả. Mọi người đều là quản gia, công nhân của vườn nho Chúa.

Con người nhận biết của cải, vật chất trần thế rất thực tiễn. Hữu dụng cho cuộc sống và thoả mãn những nhu cầu con người. Chính những gì trái đất cung cấp làm con cho người trở nên thèm khát và muốn chiếm đoạt, chiều theo lòng ham muốn của cải.

Đam mê

Khuynh hướng đam mê của cải, chức tước tác động mãnh liệt cho một số thành phần vì họ khát khao có chúng. Với họ bao nhiêu vật chất cũng chưa vừa, sống bao lâu cũng chưa đủ. Vì ham của cải, vật chất trần thế nên họ chối bỏ Đấng sáng tạo vũ trụ. Đơn giản nhất là chối bỏ Ngài hiện hữu, để thay Ngài làm chủ vũ trụ. Từ đó họ tự do xưng mình là chủ mọi loài, kể cả sự sống. Tự trao trong tay quyền ban phát sự sống cho người khác. Để ai sống người đó sống, bắt ai chết người đó chết. Quả là lộng quyền, lộng ngôn. Ngày nào đó họ cũng chết, không cứu được mình. Phúc Âm vạch rõ ma quỉ cầm đầu kẻ lộng quyền, lộng ngôn khi nó hứa cho Đức Kitô vinh quang phú quí trần thế. Nó không có gì để cho ngoại trừ gian dối, lừa gạt. Chính lừa gạt, gian dối này mà nó hứa cho cả những gì nó không có. Điều ngạc nhiên là có người tin lời hứa hão huyền. Sẵn sàng gây chiến với anh em. Dùng thủ đoạn đối xử với nhau. Thủ đoạn đi chung với chém giết, thủ tiêu, khai trừ. Chết chóc, khổ đau, goá bụa, con côi, phát sinh từ lòng tham, từ đam mê làm chủ sinh ra.

Vũ trụ do Chúa tạo dựng là nơi con người sống và là nơi cung cấp nguồn thực phẩm cho thân xác. Vì thế con người cố gắng làm chủ càng nhiều của cải càng tự tin. Họ tin vật chất bảo vệ sự sống vì nó nuôi và làm đẹp thân xác. Chúa trao quyền cho con người làm chủ chim trời cá biển và mọi sinh vật trong mặt đất. Lời chúc phúc này chung cho mọi người, không riêng cho một cá nhân, tập thể nào. Mọi cố gắng tranh giành cho riêng mình, tập thể mình đều sai. Tranh chấp, bất hoà và tàn sát lẫn nhau vì của cải, vật chất; danh vọng, chức tước vì thiếu ơn Chúa và sa vào cạm bẫy, chước cám dỗ của satan.

Cám dỗ

Ma quỉ biết rõ lịch sử hình thành nhân loại ra sao. Bởi đất mà ra nên chúng dùng miếng ăn, hoa mầu ruộng đất và vinh quang phú quí trần thế cám dỗ con người. Cả ba chước cám dỗ đều có chung mục đích là lo cho thân xác: thực phẩm nuôi thân, mong nổi tiếng và lắm vàng, nhiều bạc. Vừa có tiếng vừa có miếng quả là một thách đố lớn. Tiếng và miếng đều đến từ môi miệng. Ma quỉ dậy con người quên đi con tim và nhắm vào hầu bao và bao tử. Chúng cố tình làm ngơ sự sống Chúa ban cho con người vì mục đích chúng là bóp nghẹt sự sống trường sinh.

Đức Kitô

Đức Kitô nhắc cho ma quỉ biết ngoài phần thân xác ra Chúa còn in dấu ấn tình yêu Ngài vào trong con tim ta. Nhờ dấu ấn tình yêu này mà con người có sự sống. Khi tạo dựng con người bằng bùn đất. Bùn đất đó chưa có sự sống. Sự sống chỉ xuất hiện khi Chúa thở hơi vào hình bụi đất đó. Từ đó bụi đất có sự sống do Chúa ban. Vì thế đừng quá lo lắng cho thân xác bụi đất mà hãy chú trọng vào sự sống trường sinh, cõi lòng con người. Đức Kitô nhắc con người ta sống không chỉ bởi cơm bánh mà còn do lời Chúa nữa. Cơm bánh cần cho thân xác; Lời Chúa cần cho tâm linh. Cơm bánh nuôi thân xác; Lời Chúa nuôi tâm linh.

Ngôn ngữ của môi miệng không mang lại sự sống; ngôn ngữ của con tim nối kết tình Chúa, tình người. Thiếu ngôn ngữ của con tim mọi sự sẽ trở về hư vô. Hỡi người hãy nhớ mình là bụi tro, khi qua đời thân xác cũng sẽ trở về nguồn gốc của chúng là bụi tro. Sự sống trường sinh đến từ Chúa sẽ trở về với Chúa. Vì phát xuất từ Chúa nên tâm linh ví như cành cần thường xuyên liên kết với thân là Chúa để nhận sự sống, được thánh hoá hầu sống mạnh khoẻ, tinh tuyền.

Đức Kitô xua đuổi ma quỉ và nhắc cho chúng biết Thiên Chúa có quyền bắt chúng phải tùng phục Ngài. Ngài nhắc con người cần để ý, lưu tâm đến phần tâm linh nhiều hơn vì đó là sự sống trường sinh. Thần khí đó không bao giờ chết. Một là sống thảnh thơi trong tình yêu Chúa. Hai là lạc xa tình yêu Chúa. Bị lạc nó sống trong đau khổ, khắc khoải, nửa sống nửa chết, vì nó luôn muốn tìm về cội nguồn mà không được.

[Mục Lục]

Bài 27. Chiến thắng cám dỗ
AM Trần Bình An

Thánh Bênêđictô sinh năm 480 tại Nursia, nước Ý. Thánh nhân là con trai của một gia đình người Ý giàu có. Khi còn nhỏ, Bênêđictô tới Rôma và học nơi các trường công cộng. Lúc trưởng thành, ngài cảm thấy phẫn nộ với nếp sống đồi bại của thành Rôma ngoại đạo. Bênêđictô rời bỏ thành phố và đi tìm một nơi khả dĩ được ở một mình với Thiên Chúa. Và ngài đã tìm thấy một địa điểm tốt. Đó là một cái hang ở trong núi Subiacô. Một đan sĩ tên là Rômanô đã dạy cho Bênêđictô học biết về đời sống của một ẩn sĩ và trao cho Bênêđictô một bộ tu phục. Mỗi ngày, Rômanô cũng đem đến cho Bênêđictô một ít thực phẩm.

Thánh Bênêđictô đã trải qua 3 năm sống một mình trong núi. Ma quỷ thường hay cám dỗ ngài trở về quê nhà với đời sống tiện nghi và thoải mái. Tuy nhiên, thánh nhân đã vượt qua những cám dỗ này bằng các việc cầu nguyện và đền tội. Một ngày kia, ma quỷ lại tiếp tục cám dỗ Bênêđictô nghĩ tưởng đến một phụ nữ xinh đẹp mà có lần Bênêđictô đã gặp thấy ở thành Rôma. Ma quỷ cố gắng làm cho thánh nhân trở về tìm lại bà ấy. Bênêđictô dường như sắp nhượng bộ cơn cám dỗ này. Nhưng thay vào đó, thánh nhân đã sốt sắng cầu nguyện và đền tội nhiều hơn. Và từ đó trở đi, đời sống của Bênêđictô rất bình an. Bênêđictô không còn cảm thấy những cơn cám dỗ cuồng loạn như thế nữa.

Sau ba năm, người ta nhận biết Bênêđictô sống trong hang núi và họ bắt đầu kéo đến với ngài. Họ muốn ngài chỉ cho họ cách thức nên thánh. Cũng có vài đan sĩ, mà đan phụ của họ đã qua đời, đến xin Bênêđictô làm linh hướng cho họ. Nhưng khi thánh nhân bắt họ làm việc đền tội, họ lại bực tức. Người ta nói rằng thậm chí có lần họ đã đầu độc Bênêđictô. Thánh nhân đã làm dấu Thánh Giá trên ly rượu có độc và ly rượu đã vỡ tan thành từng mảnh.

Bênêđictô rời bỏ các đan sĩ ấy và quay về lại chiếc hang của ngài. Từ đó, thánh nhân thiết lập thêm mười hai đan viện nữa. Rồi Bênêđictô trẩy tới núi Cassinô nơi thánh nhân xây cất một đan viện rất danh tiếng. Và chính tại đây Bênêđictô đã viết một bộ luật tuyệt vời cho hội dòng Bênêđictô. Thánh nhân về trời ngày 21 tháng Ba năm 547. Đến năm 1966, đức thánh cha Phaolô VI tôn tặng Bênêđictô danh hiệu thánh bổn mạng của Âu châu. (Đa Minh M. Nguyễn Phúc Lộc, CMC, dịch. Tin Mừng.net)

Thánh Bênêđictô trung kiên noi gương Đức Giêsu. Người đã chịến thắng ba cơn cám dỗ điển hình, toàn tâm toàn ý theo Thánh Ý Thiên Chúa. Thánh nhân đã học hỏi nơi Đức Giêsu bí quyết để chiến thắng những cơn cám dỗ nặng nề. Đó chính là Lời Chúa, cầu nguyện và ăn chay hãm mình.

Bí quyết I: Lời Chúa

Đáp trả lại ba cơn cám dỗ, Đức Giêsu đều viện dẫn đến Lời Chúa trong Kinh Thánh, khiến cho tên cám dỗ đành phải bó tay chào thua. Bởi chưng: “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi.” (Tv 119, 105).

Tuy nhiên tên cám dỗ cũng viện đến Lời Chúa để tấn công Người trong cơn cám dỗ thứ hai, qua Thánh Vịnh 91, 11-12: “Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ, tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá.”

Thánh Vịnh 91 vốn được gọi là Nương bóng Thiên Chúa toàn năng. Đây là một Thánh Vịnh tín nhiệm nói về Thiên Chúa là Đấng bảo vệ tín hữu của Người. Vốn gian trá chuyên lọc lừa, đánh lận con đen, như thói quen cắt xén, thêm bớt của kẻ bá đạo, tên cám dỗ đánh tráo ý nghĩa của Thánh Vịnh 91. Thay vì tung hô, ngợi khen sự quan phòng chu đáo của Thiên Chúa, thì hắn biến thành ra cái bẫy êm ái hòng tìm kiếm hư danh.

Bí quyết II: Cầu nguyện

Thánh Bênêđictô thoát khỏi những cơn cám dỗ ghê hồn chính là nhờ tận tụy noi theo Đức Giêsu chuyên tâm cầu nguyện. Điều quan trọng này, Đức Giêsu hằng thiết tha nhắn nhủ các môn đệ và cộng đoàn tín hữu. Chính Người nêu tấm gương cầu nguyện vào mỗi chiều tối, sau một ngày tận tụy giảng dạy. Người thường lui vào chỗ thánh vắng nguyện cầu. Người luôn cập nhật sự kết hợp chan hòa với Đức Chúa Cha qua lời cầu nguyện hằng ngày.

Cầu nguyện không chỉ là lắng nghe mà còn là đáp lời. Cầu nguyện không chỉ là hướng về Chúa, mà còn là đón nhận Chúa đi vào trong con người và cuộc sống. Cầu nguyện là thú nhận thân phận yếu hèn ti tiện trước mặt Thiên Chúa vô cùng cao cả siêu việt. Cầu nguyện là xác nhận chủ quyền tuyệt đối của Chúa trên ta, và ta hoàn toàn thuộc về Chúa. Cầu nguyện là sẵn sàng và quyết tâm thi hành ý muốn của Chúa, lời Chúa dạy, trong bất kỳ hoàn cảnh nào của cuộc đời. Cầu nguyện là noi gương Trinh Nữ Maria, thưa vâng với Chúa mỗi ngày trong mọi lúc, và kiên trì thưa vâng với Chúa cho đến hơi thở cuối đời. (Lm Gioan Nguyễn Như Yêng, 40 Bài Tin Mừng về Cầu Nguyện)

“Con ngạc nhiên vì sao nhiều người mất ơn Chúa gọi, mất đức tin, phản bội Hội Thánh? Trong bao nhiêu lý do, luôn luôn có một lý do chính: Họ bỏ cầu nguyện từ lâu.“ (Đường Hy Vọng, số 125)

Bí quyết III: Chay tịnh

Trong xã hội hiện nay, thiên hạ đang hô hào điều chỉnh chế độ dinh dưỡng, tránh bớt dầu mỡ, tinh bột, đường, để khỏi béo phì, những bệnh tim mạch, cũng như chăm sóc, duy trì vóc dáng cân đối xinh đẹp. Vì sức khỏe và sắc đẹp, người ta đành phải chấp nhận hy sinh thói tham ăn vô độ, thói sa đọa vô chừng. Thân xác còn đòi hỏi thế, thì tinh thần cũng đòi hỏi hy sinh vật chất, hy sinh các đam mê, cám dỗ hưởng lạc, cám dỗ hư danh, cám dỗ quyền lực, để thanh thoát hướng thượng, thăng hoa theo các giá trị muôn đời cao cả, can trường dấn thân theo Chúa.

“Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình” (Mc 8,34). Từ bỏ mình là xả kỷ vị tha, quên mình đi mà chuyên tâm phục vụ tha nhân. Là ăn chay hãm mình, là hy sinh từng phút, từng giờ, từng ngày để quyết tâm theo Đường Hy Vọng.

“Không hy sinh, không có nhân đức thánh thiện. Ai chưa”bỏ mình vác thánh giá” thì chưa “theo Thầy” được. Điều kiện tiên quyết.” (Đường Hy Vọng, số 157)

Lạy Chúa Giêsu, Người đã từng nếm trải thân phận con người mỏng dòn yếu đuối, xin thương xót, giúp chúng con chiến đấu can trường với những chước cám dỗ ngày càng nguy hiểm và tinh vi. Xin Người luôn nâng đỡ và nhắc nhủ chúng con những bí quyết chiến thắng cám dỗ, để chúng con luôn được sống trong ân nghĩa với Thiên Chúa.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ là Người chiến thắng ác xà. Mẹ đã oanh liệt đạp dập đầu tên cám dổ. Kính xin Mẹ luôn che chở, bảo vệ chúng con chiến thắng vẻ vang ba thù. Amen.

[Mục Lục]

Bài 28. Không chỉ bằng cơm bánh
Lm Nguyễn Hồng Giáo

Ngoài cơm bánh, con người còn đói khát nhiều thứ: sự thật, tình thương, phẩm giá, tự do, lòng kính trọng, kiến thức, lẽ sống, lý tưởng… Các tôn giáo sẽ làm gì trước tình trạng đạo đức xã hội chúng ta đang sa sút?

“Người ta sống không nguyên bằng cơm bánh mà thôi…”

Đức Giêsu, người đã nói ra câu đó, không phải là một kẻ mơ hồ hoặc sống toàn bằng những lý tưởng cao đẹp hoặc đã có dư ăn dư mặc để có thể dễ dàng lên mặt dạy đời về sự tầm thường của vật chất. Ngài hiểu rõ giá trị của đồng tiền bắt gạo và đã khó nhọc làm ăn, nuôi mình và nuôi gia đình mình. Ngài biết rằng có thực mới vực được đạo, bằng chứng là có lần Người đã phải cho ăn một đám đông đói khát sau những ngày tìm kiếm đến với mình để nghe thuyết pháp. Ngài cũng biết nữa rằng bần cùng sinh đạo tặc bởi đã thường xuyên lui tới với đám người khốn khổ nhất của xã hội, biết rõ hoàn cảnh sống của họ. Nhưng Đức Giêsu nhất định không để cho nhu cầu ăn uống, dù là một nhu cầu thiết yếu căn bản, ngự trị trên các nhu cầu khác của con người; Ngài nhất định không coi của cải vật chất là tất cả, đến nỗi đã phải bất cứ cách nào cho có được.

“Người ta sống không nguyên bằng cơm bánh…”

Có một thời cách đây không xa lắm, chúng ta không khỏi ngạc nhiên tự hỏi tại sao thanh niên Âu Mỹ lại chán chường, hoặc nổi loạn phá phách, hoặc làm những chuyện điên rồ, có vẻ vô nghĩa khi mà họ đã có thừa mứa mọi thứ tiện nghi hưởng thụ, và xã hội đồng loã xoá cho họ nhiều thứ rào cản về mặt luân lý hoặc luật lệ (như tự do quan hệ tình dục trước hôn nhân, phá thai…). Người ta giải thích cho chúng ta rằng sở dĩ như thế là vì lớp thanh niên đó có mọi thứ nhưng lại thiếu lý tưởng, thiếu lẽ sống, thiếu cái gì đó cao cả để vươn tới… Thời ấy chúng ta nghe, nhưng vẫn cảm thấy đó là điều hơi xa lạ, viễn vông.

Bây giờ nhìn thấy một lớp tuổi trẻ sống vô lý tưởng, sống thực dụng, bất chấp đạo nghĩa, đặc biệt những con ông cháu cha ngay trong xã hội Việt Nam, chúng ta mới thực sự thấm thía. Và trước viễn ảnh xã hội mở cửa ngày càng rộng rãi, chính chúng ta bắt đầu biết lo, biết sợ. Do đó mà có phong trào “trở về nguồn” và “bảo vệ văn hoá dân tộc”.

“Người ta sống không nguyên bằng cơm bánh…”.

Cha ông ta vẫn hiểu điều đó khi nói, chẳng hạn:

- Tốt danh hơn lành áo

- Chết vinh hơn sống nhục

- Ở đời muôn sự của chung,

hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi…

Và điều đó, hẳn là mọi người có lương tri cũng đều hiểu. Bởi thế tôi đã gần như bàng hoàng khi nghe một cô giáo trường B. T. X ở Tp Hồ Chí Minh kể lại rằng: hồi ấy, nhân dịp học sinh tới nhà cô chơi, cô ta kể cho học sinh câu chuyện về Cha Maximilien Kolbe đã tình nguyện chết thay cho một người cha gia đình con trẻ, bị Đức Quốc Xã giam cùng trại với cha, vì cha nói: “Tôi già rồi, nếu có sống cũng không có ích và cần thiết bằng người cha gia đình này”. Nghe xong, một nam học sinh đã phê phán một câu sâu sắc như nhát chém: “Đồ ngu!”. Tôi lại sửng sốt khi đọc báo trong báo Thanh Niên số tân niên (tháng 2/92) ý kiến cô Tố Loan, 18 tuổi, làm nghề chiêu đãi viên và “đã có quan hệ tình dục với nhiều người”. Loan chẳng lo lắng gì về sự lựa chọn này. Vẫn vui vẻ và có ý định tiếp tục. Loan cũng không mong gì hơn là có thật nhiều tiền, “có tiền người ta không khinh mình”, cô nói. Hôn nhân đối với Loan không quan trọng. Ở được với nhau trăm năm thì ở, không thì chia tay cũng được, không việc gì phải nặng nề (tr. 21).

“Người ta sống không nguyên bằng cơm bánh…”

Ngoài cơm bánh, con người còn đói khát rất nhiều thứ: sự thật, tình thương, phẩm giá, tự do, lòng kính trọng, kiến thức, lẽ sống, lý tưởng… Có lẽ hơn bất cứ tổ chức xã hội nào, các tôn giáo chân chính hiểu rõ điều đó vì tôn giáo chân chính nào cũng nhằm đưa con người vươn lên, vươn lên khỏi chính mình, và cứ vươn xa hơn mãi, cao hơn mãi, hướng tới cái Toàn Chân, Toàn Thiện, Toàn Mỹ…

Các tôn giáo sẽ làm gì trước tình trạng đạo đức xã hội chúng ta đang sa sút?

[Mục Lục]

Bài 29. HÃY CẢNH GIÁC TRƯỚC CÁM DỖ
Jos. Vinc. Ngọc Biển

Chúng ta đã cùng với toàn thể Giáo Hội bước vào Mùa Chay Thánh hôm thứ Tư lễ Tro vừa qua. Khởi đầu Mùa Chay Thánh với việc xức tro. Cử chỉ bỏ chút tro lên đầu và vị chủ sự mời gọi: “Hãy ăn năn sám hối và đón nhận Tin Mừng”, Giáo Hội muốn mời gọi con cái của mình khiêm tốn và ý thức thân phận con người chẳng là gì cả, chỉ là bụi tro mà thôi.

Hôm nay, với Chúa Nhật I Mùa Chay, bài Tin Mừng thánh Mátthêu trình thuật cho chúng ta thấy việc Đức Giêsu vào hoang địa ăn chay và sau đó bị Ma Quỷ cám dỗ, nhưng Ngài đã chiến thắng.

Qua đó, Giáo Hội muốn nhắc cho con cái của mình là: hãy sám hối để bắt đầu bước vào hành trình tập luyện và chiến đấu thiêng liêng. Trong hành trình ấy, mẫu gương của Đức Giêsu trong sa mạc hôm nay được hiện lên như một động lực, điểm tựa cho mỗi chúng ta.

1. Ma Quỷ cám dỗ Đức Giêsu

Khi đón nhận thánh ý Thiên Chúa Cha qua việc vâng lời tuyệt đối khi nhập thể và nhập thế, Đức Giêsu đã trở nên Cứu Chúa của nhân loại. Vì thế, khởi đầu cuộc sống công khai, Ngài đã vào hoang địa ăn chay 40 đêm ngày, để tìm thánh ý Thiên Chúa Cha, hầu chu toàn ý định của Người. Sau khi chay tịnh, Đức Giêsu cảm thấy đói, vì thế, nhân cơ hội này, Ma Quỷ đã tiến đến và cám dỗ Ngài.

Cám dỗ đầu tiên mà Ma Quỷ tấn công Đức Giêsu chính là cám dỗ về của ăn nuôi thân. Lợi dụng lúc Đức Giêsu đói, Ma Quỷ đã không bỏ lỡ cơ hội ngàn năm có một này, nên hắn đã tiến lại gần và nói: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì truyền cho những hòn đá này hóa bánh đi!” (Mt 4, 3). Ma Quỷ thật tinh vi, nhưng Đức Giêsu đã không bị những thứ lương thực chóng tàn, mau hết làm cho Ngài sa ngã, vì thế, Ngài đã chiến thắng ngay từ cơn cám dỗ đầu tiên khi nói cho chúng biết lương thực của Ngài chính là làm theo ý Thiên Chúa Cha. Ngài nói: “Ðã có lời chép rằng: ‘Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra’” (Mt 4,4).

Cơn cám dỗ thứ hai mà Ma Quỷ muốn tấn công chính là đề nghị Đức Giêsu sử dụng quyền lực. Vì thế, nó đã nói: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì gieo mình xuống đi! Vì đã có lời chép rằng: ‘Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá’” (Mt 4,6).

Tuy nhiên, Ma Quỷ đã lầm khi tưởng rằng Đức Giêsu  sẽ sử dụng quyền lực theo kiểu thế gian, để trổ tài theo ý của nó bằng những cú nhảy đẹp mắt, những pha ngoạn mục. Nhưng lại thêm một lần nữa chúng thất bại và chịu tác dụng ngược lại khi Đức Giêsu cho chúng biết rằng:  “Ngươi chớ thử thách Ðức Chúa là Thiên Chúa của ngươi” (Mt 4, 7). Khi cám dỗ Đức Giêsu như thế, Ma Quỷ nghĩ rằng Đức Giêsu sẽ mắc bẫy để sử dụng ý riêng của Ngài thay cho thánh ý Thiên Chúa Cha. Nhưng không! Đức Giêsu đã đi theo con đường khiêm tốn mà Chúa Cha muốn nơi Ngài. 

Thất thế lần hai, Ma Quỷ vẫn chưa chịu thua, chúng tấn công lần thứ ba. Lần này chúng nhắm tới danh vọng. Ma Quỷ đã nịnh hót Đức Giêsu, và “đem Người lên một ngọn núi cao, và chỉ cho Người thấy tất cả các thế gian, và vinh hoa lợi lộc của các nước ấy, và bảo rằng: ‘Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó, nếu ông sấp mình bái lạy tôi’” (Mt 4, 8-9). Nhưng lần cuối cùng này chúng vẫn thất bại và chịu sự quở trách nặng nề của Đức Giêsu, đồng thời Ngài cũng xác định danh giới của chúng khi nói:  “Xatan kia, xéo đi! Vì đã có lời chép rằng: ‘Ngươi phải bái lạy Ðức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi’” (Mt 4, 10).

Qua câu nói này, Đức Giêsu khẳng định thật rõ Ngài là Con Thiên Chúa, nên chỉ có bổn phận  phục quyền và tôn thờ một mình Thiên Chúa mà thôi.

Như vậy, cả ba lần cám dỗ, chúng đều lãnh nhận những thất bại. Nếu chúng tập trung vào: thú, lợi, danh, để hy vọng hạ gục được Đức Giêsu, để Ngài phải phục quyền chúng, và nhất là nó muốn phá vỡ chương trình cứu độ của Thiên Chúa Cha. Tuy nhiên, ý định đó đã không thành, vì Đức Giêsu đã lựa chọn con đường Thiên Chúa Cha muốn, đó là con đường tự hủy nhờ đức vâng lời.

2. Ma Quỷ cám dỗ chúng ta

Cơm, áo, gạo, tiền, vinh hoa, phú quý, quyền cao, chức trọng luôn gắn liền với thực tại của con người. Con người luôn hướng chiều về những điều đó vì mục đích sinh tồn của bản năng nơi loài thụ tạo. Vì thế, người ta chấp nhận và làm mọi cách để đạt được những mục đích trên.

Ma Quỷ là loài tinh quái, xảo quyệt. Nó đánh trúng tim đen của con người. Nó biết rất rõ nhu cầu và điểm yếu của chúng ta. Thực vậy, những nhu cầu như ăn uống, danh vọng, địa vị, chức quyền và sau cùng là tự phụ, khoe khoang, kiêu ngạo luôn theo sát mỗi người từ lúc sinh ra đến lúc nhắm mắt xuôi tay.

Cái quỷ quyệt của chúng là đưa ra những chiêu thức rất hấp dẫn, toàn là màu hồng để quyến rũ con người. Nhưng thực ra, những điều mà chúng cám dỗ ta chỉ là nửa sự thật mà thôi, chứ không phải sự thật tuyệt đối. Một khi con người sa lầy trước cám dỗ của nó, con người mới ngỡ ra là nó đã đưa mình vào những ảo vọng hão huyền.

Cách thức của chúng dùng chính là qua một trung gian, một cơ hội hay một sự vật:

Qua trung gian là con người, chúng tìm cách để người nào đó rủ rê dần dần ta phạm tội. Lúc ban đầu chỉ là những chuyện lặt vặt, nhỏ bé hằng ngày. Tuy nhiên, dần dà lâu ngày thành quen. Tội nhẹ, rồi dẫn đến tội trọng. Nay ăn cắp quả ổi là chuyện bình thường; ngày mai ăn chộm con gà cũng chẳng sao; ngày mốt lấy con trâu, rồi cuối cùng giết người cướp của.

Từ chuyện rất nhỏ, nhưng nó làm cho con người trai lỳ lương tâm và mất dần cảm thức về tội, nên chúng ta không lạ gì khi thấy nhiều người cứ nhởn nhơ trong vũng lầy tội lỗi mà vẫn tự hào mình là người tốt. Những người như thế, thường tìm mọi cách để ngụy biện cho hành vi sai trái của mình. Họ dùng những phương tiện xấu để biện minh cho mục đích tốt. Họ sẵn sàng làm từ thiện để che lấp những tội ác như tham nhũng, bóc lột và buôn gian, bán lậu. Hay nói cách khác, họ dùng hình thức rửa tiền để che đậy những việc làm mờ ám của mình.

Thật vậy, là con người, ai cũng muốn có cơm no, áo ấm, rồi dần dần dẫn đến tình trạng ăn ngon mặc đẹp, tiếp theo chính là thỏa mãn xác thịt, ăn chơi trác táng và cứ như thế, chẳng mấy mà dẫn đến “Cực lạc sinh bi ai?”.  Đây chính là cơn cám dỗ đầu tiên mà Ma Quỷ đã cám dỗ Đức Giêsu.

Cơm cám dỗ thứ hai mà trước kia Ma Quỷ cám dỗ Đức Giêsu, thì ngày nay, nó cũng không buông tha chúng ta. Thật vậy, nó tấn công chúng ta về quền lực, vinh quang, phú quý để làm cho ta ra mê muội và tìm mọi cách để đạt được những điều ta muốn dù là bất chính.

Cám dỗ cuối cùng mà nó tấn công Đức Giêsu là tham lam, danh vọng. Ngày nay, nó vẫn thường cám dỗ chúng ta như thế. Nó đánh đúng sào huyệt tham sân si của con người, rồi sau đó, con người phải tôn thờ nó. Xin nhắc rằng, Ma Quỷ nó làm được nhiều thứ để cám dỗ con người, nhưng chỉ có một điều mà nó không làm được, đó là không cho con người được hạnh phúc thật và sự sống đời đời mà thôi.

Như vậy, Ma Quỷ đã cám dỗ Đức Giêsu về 3 điểm, đó là: thú, lợi, danh. Đến lượt chúng ta, nó cũng không ngừng tấn công chúng ta về những điểm trên.

Nhưng, như Đức Giêsu đã chiến thẳng, còn chúng ta ngày nay thì sao? Mỗi khi đứng trước cám dỗ, chúng ta phải làm gì?

3. Khi bị cám dỗ ta phải làm gì?

Mỗi khi cám dỗ đến với chúng ta, xin hãy nhớ lại lời Đức Giêsu cảnh báo để thêm sự cẩn trọng, hầu không vì kiêu ngạo mà mắc vào cạm bẫy của chúng:  “Anh em hãy canh thức và cầu nguyện, để khỏi lâm vào cơn cám dỗ” (Mt 26, 41).  Hay Đức Giêsu nói với Phêrô về sự nguy hiểm của chúng: “Simon, Simon ơi, kìa Xatan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo” (Lc 22,31). Và khi thánh Phêrô đã cảm nghiệm rõ nguy hiểm của Ma Quỷ, nên ngài đã cất lên lời khuyên nhủ: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì Ma Quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tiìm mồi cắn xé” (1Pr 5,8). 

Nhiều người quá coi thường chúng nên dần đi vào con đường mà chúng vạch ra cho lúc nào không hay.

Thật vậy, có nhiều người vì ích kỷ, nên sinh ra cố chấp với anh chị em trong cộng đoàn, rồi kết cục bỏ Chúa và không tham gia sinh hoạt đoàn thể vì tính kiêu ngạo của mình. Những người như vậy, họ theo đạo vì ông này bà nọ, chứ không phải vì Chúa. Bởi vậy, khi họ có chuyện khúc mắc với anh chị em thì họ bỏ luôn Chúa, vì đâu biết rằng những người kia, họ chỉ là phương tiện, là cầu nối để ta gặp được Chúa, chứ không phải họ là Chúa. Đây là cách mà Ma Quỷ thường hay tấn công vào những người thiếu sự khiêm tốn, cố chấp.

Lại có những người luôn nghĩ mình là tốt lành, thánh thiện, nên không sợ gì sa ngã vào con đường tội lỗi, vì thế, họ không ngần ngại khi được bạn bè rủ rê đi vào chốn ăn chơi trụy lạc vì nghĩ rằng: tướng Quỷ cũng không bao giờ quyến rũ được mình. Tuy nhiên, biết bao người đã trở thành nô lệ của chúng chỉ sau vài cuộc ăn chơi. Riết thành quen, không đi thấy nhớ. Hay cũng có những người nghĩ rằng mình cũng cần phải thâm nhập thực tế để cứu giúp những người tội lỗi ra khỏi cuộc sống bê bối của họ, nhân danh việc tốt để dẫn đưa anh chị em thoát khỏi vòng tội lỗi, tuy nhiên, cũng lại không ít người đã thay đổi vai trò. Từ người cứu giúp chuyển dần sang thành người đi theo và cùng nhau phạm tội. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là chúng ta coi thường mối nguy hiểm của công việc và coi thường sự sự khôn ngoan, tinh xảo của Ma Quỷ.

Thấy được sự nguy hiểm này, nên Đức Giêsu mới dạy các môn đệ cầu nguyện trong kinh Lạy Cha: “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ”, và trong kinh Ăn Năn Tội cũng có câu: “Nhờ ơn Chúa thì con sẽ tránh xa dịp tội”. Trong dân gian, trải qua cuộc sống, người ta đúc kết thành kinh nghiệm và khuyên: nếu lượng sức mà không vượt qua được thì hãy “đào vi thượng sách”.

Thực vậy, sức con người thì giới hạn, vì thế, không thể nào chống trả được những cơn cám dỗ. Nếu muốn chiến thắng, chúng ta phải cậy dựa vào ơn Chúa. Nói như thánh Phaolô: “Với Ðấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết” (Pl 4,13).

Khi chúng ta cậy dựa vào ơn Chúa và đi theo con đường của Chúa, chúng ta dùng chính võ khí của Đức Giêsu để chiến đấu. Võ khí đó là gì? Thưa! Đó là sự khiêm tốn và vâng lời, đơn sơ, chân thật. Mọi sự sẽ qua đi, chỉ có Chúa là tồn tại, vì thế, phải cẩn trọng trong việc lựa chọn trước những trào lưu tục hóa như ngày nay. Đứng trước sự lựa chọn, thánh Phaolô đã cho chúng ta một kiểu mẫu: “Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi truyệt vời, là được biết Ðức Kitô Giêsu, của tôi, vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như đồ bỏ, để được Ðức Kitô”  (Pl 3, 8). Ăn chay, cầu nguyện và bố thí chính là xác định thật rõ về sự giới hạn của chúng ta với Đấng Tuyệt Đối. Ăn chay để hãm dẹp nết xấu và ý thức được thân phận mong manh của mình. Cầu nguyện chính là xin Chúa trợ giúp và cùng đồng hành với chúng ta để chúng ta chiến đấu chống lại Ba Thù. Bố thí chính là vượt ra khỏi sự ích kỷ vốn là mầm mống của tội lỗi, để sống hiệp thông, liên đới với anh chị em.

Lạy Chúa Giêsu, xưa kia Chúa đã chiến đấu và chiến thắng Ma Quỷ. Giờ đây, xin giúp chúng con chiến thắng được Ba Thù, để thuộc trọn về Chúa như Chúa thuộc trọn về Thiên Chúa Cha. Amen. 

[Mục Lục]

Bài 30. PHƯƠNG CÁCH CHỐNG TRẢ CÁM DỖ CUA MA QUỶ
Lm. Đan Vinh

I. HỌC LỜI CHÚA

1. TIN MỪNG: Mt 4,1-11

2. Ý CHÍNH:

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Đức Giê-su như một Mô-sê Mới, lãnh đạo một cuộc Xuất Hành Mới. Người còn là hiện thân của dân Ít-ra-en Mới vào sa mạc để sống lại kinh nghiệm của dân Ít-ra-en xưa trong sa mạc và trên núi Xi-nai (x Đnl 8,2-4). Có điều khác với Ít-ra-en xưa đã vấp ngã trước cám dỗ của ma quỷ khi trải qua sự đói khát, kiêu ngạo và tôn thờ tà thần, Đức Giê-su đã qua các cơn thử thách cám dỗ mà vẫn trung thành với sứ mạng của mình. Người muốn nêu gương cho chúng ta hôm nay về phương cách chống trả các cơn cám dỗ thế nào.

3. CHÚ THÍCH:

- C 1-4: + Được Thần Khí dẫn vào hoang địa: Thần khí đã ngự xuống trên Đức Giê-su, giờ đây lại hướng dẫn Người vào nơi hoang vắng, có lẽ là một hang núi gần thành Giê-ri-cô. + Để chịu quỷ cám dỗ: Cám dỗ đồng nghĩa với sự thử thách do ma quỷ thực hiện. Khi bị cám dỗ mà chiều theo thì mới phạm tội. Còn nếu bị cám dỗ mà chống trả được thì lại có công. Đức Giê-su cũng trải qua sự thử thách, nghĩa là phải lựa chọn giữa tốt và xấu. Thần Khí đã đặt Đức Giê-su vào một hoàn cảnh để Người tự khẳng định lập trường và chứng tỏ là Con hiếu thảo luôn làm đẹp lòng Chúa Cha. + Bốn mươi đêm ngày: Cũng như Mô-sê trước khi nhận hai bia đá Giao ước, đã lên núi bốn mươi ngày đêm, ăn chay cầu nguyện (x. Đnl 9,9), và sau đó lại ăn chay thêm bốn mươi ngày đêm để nài xin Đức Chúa nguôi giận mà tha tội cho dân Ít-ra-en đã vi phạm Giao ước khi đúc tượng bê vàng mà thờ lạy (x. Đnl 9,18). Ngoài ra con số bốn mươi trong Thánh Kinh nhằm để ám chỉ một thời gian khá dài như: lụt đại hồng thủy suốt bốn mươi ngày đêm, dân Ít-ra-en đi trong hoang địa bốn mươi năm, Vua Đa-vít cai trị bốn mươi năm, bốn mươi ngày giữa lễ Phục Sinh và lễ Thăng Thiên… Sở dĩ Đức Giê-su có thể ăn chay nhịn đói suốt bốn mươi ngày đêm là nhờ ơn Chúa nâng đỡ. + Nếu ông là Con Thiên Chúa: Tước hiệu này thuộc nội dung các lời hứa về Đấng Mê-si-a con vua Đa-vít (x. Tv 2,7; 89,27). Ngoài ra tước hiệu này nới Đức Giê-su còn mang ý nghĩa về Thần tính của Người. + Hãy truyền cho những hòn đá này hóa bánh đi: Ma quỷ xúi giục Đức Giê-su hãy biến các viên đá cuội thành bánh mì mà ăn. Chúng hy vọng có thể do bị đói khát, Người sẽ quên vai trò Đấng Mê-si-a để làm theo ý riêng hơn là vâng theo thánh ý Thiên Chúa. + Đã có lời chép: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh…”: Đây là lời trong Sách Đệ Nhị Luật (8,3) mà Đức Giê-su đã chọn để sẵn sàng vâng phục Thiên Chúa, nhờ đó Người đã chiến thắng cơn cám dỗ của ma quỷ. Sau này Người cũng nói: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy” (Ga 4,34).

- C 5-7: + “Hãy gieo mình xuống đi”: Ma quỷ xúi Đức Giê-su thử thách quyền năng Thiên Chúa khi gieo mình từ trên cao rơi xuống để buộc Thiên Chúa phải ra tay làm phép lạ cứu cho khỏi chết. + Có lời chép rằng: “Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn…”: Ma quỷ đã nêu ra câu Thánh Vịnh này theo nghĩa đen (Tv 91,11-12). + Nhưng cũng đã có lời chép rằng: Ngươi chớ thử thách…”: Đây là câu lời Chúa trong sách Đệ nhị luật: “Anh em đừng thách thức Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, như anh em đã thách thức ở Ma-xa” (Đnl 6,16). Trái với dân Ít-ra-en xưa đã đòi Đức Chúa phải làm dấu lạ để chứng minh quyền năng của Ngài, còn Đức Giê-su hoàn toàn tin cậy và không thử thách quyền năng của Chúa Cha bằng việc đòi Ngài phải làm dấu lạ bề ngoài (x. Ga 6,30-33).

- C 8-11: + Đem Người lên một ngọn núi rất cao, và chỉ cho Người thấy tất cả các nước thế gian…: Câu này nhắc lại sự kiện xưa kia Mô-sê lên núi Nê-bô và đã được Đức Chúa cho nhìn thấy tất cả Miền Đất Hứa (x. Đnl 31,1-4). Nay ma quỷ cũng tác động làm cho Đức Giê-su tưởng tượng ra mình đang ở trên núi và nhìn thấy những của cải châu báu để cám dỗ Người hãy thờ lạy nó như chúa tể để được nó ban cho của cải trần gian. + Xa-tan kia, xéo đi!: Xa-tan nghĩa là “tên cám dỗ”. Sau này Đức Giê-su cũng xua đuổi Phê-rô giống như thế khi ông cám dỗ Người đừng chấp nhận con đường thập giá theo ý Chúa Cha (x. Mt 16,23). + Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi: Đây là câu trích trong sách Đệ nhị luật (6,4.13), cho thấy chỉ duy có một Thiên Chúa độc nhất mà mọi người đều phải tôn thờ phụng sự Ngài.

4. HỎI ĐÁP:

1) HỎI: Cám dỗ là gì? Bị cám dỗ thì đã phạm tội chưa? Ta cần làm gì để khỏi sa chước cám dỗ của ma quỷ, thế gian và xác thịt mình?

ĐÁP:

- Cám dỗ là việc ma quỷ xúi giục một người phạm tội chống lại Thiên Chúa khi cố tình không vâng lời Chúa dạy để vi phạm các giới răn Ngài truyền.

- Mỗi cơn cám dỗ thường có ba giai đoạn: Một là ma quỷ gợi lên một hình ảnh, một tư tưởng xấu trong tâm trí người ta. Hai là ma quỷ xúi người ta thỏa mãn đam mê dục vọng ấy bằng sự ưng thuận. Ba là sự chọn lựa tự do: nếu chiều theo ma quỷ tức là phạm tội và làm Chúa buồn. Còn nếu từ chối không nghe theo ma quỷ, họ sẽ được Chúa chúc phúc và sẽ làm cho Chúa vui.

- Để khỏi sa chước cám dỗ của ma quỷ, chúng ta hãy noi gương Chúa Giê-su: Năng hãm mình và ăn chay để tập làm chủ bản năng của mình, siêng năng học sống Lời Chúa, vì Lời Chúa sắc bén như thanh gươm hai lưỡi có thể chiến đấu với ma quỷ như Đức Giê-su đã nêu gương (x. Mt 4,4.7.10), năng cầu xin ơn Chúa ban ơn trợ giúp và luôn làm theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần như Đức Giê-su đã luôn theo sự hướng dãn của Thần Khí (x.Mt 4,1).

2) HỎI: Đức Giê-su bị ma quỷ cám dỗ trong tâm trí hay trong thực tế?

ĐÁP: Việc quỷ đặt Đức Giê-su lên nóc Đền thờ, đem Người lên một ngọn núi cao và chỉ cho Người xem tất cả vinh hoa lợi lộc của các nước trên thế gian… cho thấy Đức Giê-su có bị ma quỷ cám dỗ, nhưng chúng chỉ cám dỗ Người trong tâm trí, chứ không thực sự đem Người từ nơi này đến nơi kia.

3) HỎI: Đức Giê-su trải qua cơn cám dỗ của ma quỷ nhằm mục đích gì?

ĐÁP: Sau khi chịu phép Rửa của Gio-an và được Thần Khí hiện xuống xức dầu thiêng liêng tấn phong làm Đấng Ki-tô, Đức Giê-su đã được Thần Khí dẫn vào hoang địa ăn chay 40 đêm ngày và chịu ma quỷ cám dỗ. Sở dĩ Người chịu ma quỷ cám dỗ là nhằm ba mục đích như sau:

- Một là để trải qua những sự thử thách của nguyên tổ A-đam E-và xưa trong vườn địa đàng (x St 3,1-24), và của dân Ít-ra-en trong cuộc Xuất Hành (Đnl 8,2-4). Vì Người là A-đam Mới và là Ít-ra-en Mới của Thiên Chúa trong thời Tân Ước (x Rm 5,18-19).

- Hai là để nêu gương ăn chay cầu nguyện cho các tín hữu, nhờ đó chúng ta sẽ làm chủ được bản thân và sẽ dễ dàng chiến thắng ma quỷ cám dỗ chúng ta hưởng thụ các lạc thú bất chính (x Mt 17,21; Mc 9,29).

- Ba là để nêu gương vâng theo sự hướng dẫn của Thần Khí hay Chúa Thánh Thần: Nếu chúng ta biết nghe theo sự hướng dẫn của Thần Khí qua việc siêng năng học sống Lời Chúa, chúng ta sẽ luôn vâng lời Chúa phán hơn là nghe theo ma quỷ để làm theo ý mình, như Đức Giê-su có lần đã quở trách ông Si-mon Phê-rô (x Mt 16,21-23).

 

II. SỐNG LỜI CHÚA

1. LỜI CHÚA: Đức Giê-su liền nói: “Xa-tan kia, xéo đi! Vì đã có lời chép rằng: Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi” (Mt 4,10).

2. CÂU CHUYỆN: TAM THẬP LỤC KẾ: ĐÀO VI THƯỢNG SÁCH

Ở núi Phong Khê đất Thục có một giống đười ươi có bộ mặt giống như người. Chúng biết nói cười và máu của chúng được người ta dùng làm thuốc nhuộm quần áo rất tốt, nên các thợ săn thường tổ chức săn bắt chúng. Biết được loài đười ươi này thích uống rượu và đi guốc, thợ săn đã đem rượu và guốc đến bày la liệt trên một cánh đồng trống để nhử chúng, rồi ẩn núp ở nơi kín đáo chờ đợi. Dù sống sâu trong rừng, nhưng loài đười ươi lại có khứu giác rất nhậy nên chúng đã ngửi thấy mùi rượu thơm liền kéo nhau tìm đến cánh đồng uống rượu. Tuy các con già đời đoán biết đó là bẫy của bọn thợ săn, nên đã nhắc nhở cho cả bầy rằng: “Hãy cảnh giác, đừng khờ dại uống rượu đi guốc kẻo bị mắc mưu của bọn người độc ác kia đó”. Cả bầy nghe vậy liền buồn bã bỏ đi. Nhưng rồi một con bị mùi rượu thơm hấp dẫn không thể cưỡng lại, liền tỏ ra bất chấp lời khuyên khôn ngoan kia và rủ đồng bọn quay trở lại. Rồi “quen mui thấy mùi ăn mãi”, chúng tranh giành nhau chí choé nốc cạn hết bầu rượu này đến bầu rượu khác. Đến lượt các con già cả khôn ngoan tuy biết là nguy hiểm, nhưng không thể cưỡng được sự hấp dẫn của rượu, cũng lao vào uống no say. Sau đó chúng xỏ chân vào guốc bên cạnh bước tới bước lui ngả nghiêng trông thật tức cười. Bấy giờ bọn thợ săn liền hò nhau từ chỗ ẩn nấp, nhất tề xông đến vây bắt. Thấy bọn thợ săn, bầy đười ươi đáng thương liền bỏ chạy tán loạn. Nhưng chân đi guốc không quen, bị té nhào vào nhau và bị bọn thợ săn bắt gọn không sót một con.

Than ôi! Biết rõ người ta đặt bẫy hại mình, mà vẫn lao vào ăn uống đến nỗi tất cả đều bị mất mạng thì thật ngu dại hết sức! Đối với nhiều người hôm nay thì rượu chè, cờ bạc, trai gái, hút chích sì-ke ma túy… là những thứ làm mất nhân tính, biến mình trở thành những kẻ bất lương trộm cướp giết người, rồi còn có thể bị lây nhiễm HIV-AIDS. Thế mà vẫn có không ít người nhắm mắt lao mình vào những đam mê chết người đó thì không phải khờ dại lắm sao ?

Đối với các cơn cám dỗ về đam mê sắc dục và ma túy, thì đừng bao giờ nghĩ rằng mình có đủ bản lãnh để chống trả lại được, và cần phải theo lời cổ nhân dạy: “Tam thập lục kế: Đào vi thượng sách” (Ba mươi sáu phương thế thì chạy trốn là phương thế hay nhất). Đừng bao giờ thử hút chích sì ke ma túy, thử đi bia ôm, thử đánh số đề một lần… Vì nếu thử dù chỉ một lần mà thôi thì đã bắt đầu trở thành con nghiện và là người xấu thuộc về ma quỷ rồi vậy !

3. SUY NIỆM:

Sống là một cuộc chiến đấu không ngừng: Chiến đấu với thiên nhiên để tồn tại, chiến đấu với kẻ thù để khỏi bị tiêu diệt, chiến đấu với xác thịt để trở nên người tốt. Hôm nay Giáo Hội còn dạy chúng ta phải chiến đấu với một loại kẻ thù vô hình nguy hiểm là ma quỷ. Chính Đức Giê-su đã chiến đấu và chiến thắng ma quỷ để nêu gương cho chúng ta. Vậy ngày nay ma quỷ thường cám dỗ chúng ta về những vấn đề gì? Và chúng ta phải làm gì để chiến thắng nó?

1) CÁM DỖ XƯA VÀ NAY: Cũng như xưa, ngày nay ma quỷ thường cám dỗ chúng ta về ba phương diện như sau:

+ Một là về THÚ VUI: Ma quỷ xúi Đức Giê-su biến các viên đá cuội trở thành bánh mì mà ăn, tức là dùng quyền năng Thiên Chúa để thỏa mãn các nhu cầu vật chất thể xác, giống như dân Ít-ra-en trong hoang địa ngày xưa đã kêu trách Đức Chúa và Mô-sê khi họ bị đói khát và thèm thịt thà và các thứ rau thơm mà họ đã từng ăn khi còn ở Ai cập (x. Xh 16,3). Ngày nay ma quỷ cũng thường cám dỗ chúng ta tìm thỏa mãn các đam mê xác thịt bất chính như ăn chơi sa đọa, rượu chè say xỉn, chơi cờ bạc số đề và hút chích sì-ke ma túy…

+ Hai là về DANH VỌNG: Ma quỷ xúi Đức Giê-su nhảy từ nóc Đền thờ xuống để được người đời khen ngợi và để thử thách đòi Thiên Chúa phải chứng tỏ quyền năng bằng việc ra tay làm phép lạ cứu ngài thóat chết (x. Lc 23,35). Ngày nay ma quỷ cũng thường cám dỗ chúng ta thử thách quyền năng Thiên Chúa khi đòi Ngià làm phép lạ trái với định luật tự nhiên do Ngài an bài chung trong vũ trụ thiên nhiên để chiều theo sở thích cá nhân riêng tư của chúng ta !

+ Ba là QUYỀN LỢI: Ma quỷ xúi Đức Giê-su sấp mình thờ lạy nó để được nó ban cho quyền hành trên muôn nước và được hưởng các thứ lợi lộc giàu sang (x. Xh 32,6). Ngày nay ma quỷ cũng thường cám dỗ chúng ta chối bỏ Thiên Chúa và tôn thờ sức mạnh của tiền tài, chọn làm những việc bất chính miễn là có nhiều tiền như: buôn bán sì ke ma túy, mở quán bia ôm, cà phê tươi mát, tin theo thầy bói, đồng bóng, cầu cơ, buôn lậu, tham nhũng, sản xuất hàng nhái…

2) PHƯƠNG THẾ ĐỂ CHIẾN THẮNG MA QUỶ CÁM DỖ:

Đức Giê-su đã chiến thắng các cơn cám dỗ của ma quỷ bằng các phương thế như sau:

+ ĂN CHAY CẦU NGUYỆN: Người đã vào hoang địa ăn chay cầu nguyện suốt 40 đêm ngày. Ma quỷ đã đánh thẳng vào điểm yếu của Đức Giê-su là tình trạng bị đói để xúi Người biến đá thành bánh ăn. Nhưng nhờ nội lực mạnh mẽ do ăn chay cầu nguyện, mà Người đã chiến thắng ma quỷ. Sau này Người cũng dạy các môn đệ phải dùng phương thế chay tịnh cầu nguyện như sau: “Giống quỷ ấy chỉ trừ khử được bằng lời cầu nguyện thôi” (Mc 9,29).

+ HỌC SỐNG LỜI CHÚA: Để đáp lại sự trích dẫn Lời Chúa của ma quỷ, Đức Giê-su cũng dùng Lời Thánh Kinh để bắt chúng phải câm miệng. Lời Chúa chính là ánh sáng chỉ đường và là nguyên tắc ứng xử của Đức Giê-su. Chẳng hạn: Đáp lại lời xúi biến đá thành bánh, Đức Giê-su nêu cao Lời Chúa trong Sách Thánh: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh” (Đnl 8,3). Đáp lại cám dỗ thờ lạy ma quỷ để được hưởng quyền hành lợi lộc của nó, Đức Giê-su nêu ra Lời Chúa trong Sách Thánh: “Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và thờ phượng một mình Người mà thôi” (x. Đnl 6,13). Đáp lại cám dỗ gieo mình từ nóc Đền thờ xuống, Đức Giê-su đưa ra Lời dạy của Chúa trong Sách Thánh: “Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi” (x. Đnl 6,16).

3) ÁP DỤNG CỤ THỂ:

a) Bị thử thách cám dỗ là thân phận của con người: Ðức Giê-su tuy là Con Thiên Chúa nhưng Tin Mừng cho thấy Người cũng đã trải qua cơn cám dỗ của ma quỷ. Người chịu cám dỗ để nêu gương chiến đấu và chiến thắng các chước cám dỗ của ma quỷ cho loài người chúng ta học tập noi theo. Qua việc bị ma quỷ cám dỗ, Đức Giê-su cho thấy Người cũng là một con người giống như chúng ta mọi đàng nên sẽ thông cảm với sự yếu đuối cũng như tội lỗi của chúng ta như tác giả thư Do thái đã viết: “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Ðấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội” (Dt 4,15). Tuy nhiên dù bị cám dỗ như ta, nhưng Người đã chiến thắng ma quỷ cám dỗ để nêu gương sáng cho chúng ta.

b) Phân biệt giữa cám dỗ và phạm tội:

Thực ra cám dỗ không nhất thiết là điều xấu, và có thể lại còn cần thiết nữa. Thật vậy, bị ma quỷ cám dỗ chính là dịp để chứng tỏ tình yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa và tha nhân và chứng tỏ sự vâng phục của ta. Vì loài người chúng ta không thể chứng tỏ lòng yêu mến, vâng phục nếu không bị thử thách, nghĩa là chưa có cơ hội để có thể không vâng lời và không yêu mến như lời Thánh Kinh: “Lửa thử vàng, gian nan thử người công chính” (Cn 17,3).

Đối với người bình thường thì hay gặp cám dỗ chọn lựa giữa hai điều tốt xấu, qua đó sẽ chứng tỏ họ thuộc loại người nào. Còn đối với những người ở trình độ cao hơn, thì cám dỗ là sự lựa chọn giữa hai điều đều tốt, và họ phải chọn điều nào tốt hơn, để chứng tỏ quyết tâm lên bậc thánh thiện hơn. Thiên Chúa cũng muốn ta chứng tỏ rằng ta coi tình yêu của Ngài giá trị hơn nhà cửa, ruộng vườn, của cải, thậm chí hơn cả tình cảm anh em, cha mẹ, vợ con của ta, bằng cách cho ta có dịp chọn giữa Ngài và những giá trị ấy.

3. Chọn điều nào khi bị cám dỗ giữa hai điều tốt:

a. Ứng với cám dỗ thứ nhất của Ðức Giê-su là nhu cầu sự sống: Chẳng hạn giữa tình yêu Thiên Chúa và mạng sống của mình, các thánh tử đạo đã chọn tin yêu Thiên Chúa và sẵn sàng chấp nhận chịu chết. Trong cuộc đấu tranh cho công lý, mục sư Martin Luther King đã coi công lý, tình yêu đối với người bị áp bức hơn sự an toàn và mạng sống. Cuối cùng ông đã chết và được cả thế giới ngưỡng mộ tôn vinh. Những người nói trên đã chọn về phía đấu tranh cho công lý và tình thương những kẻ bị áp bức. Ngược lại, nếu vì muốn được an toàn, muốn bảo vệ nồi cơm hay sự thoải mái đang có mà chọn im lặng trước sai trái bất công, đồng nghĩa với sự lõa với điều xấu là chúng ta đã chịu khuất phục trước sự cám dỗ của quỷ dữ.

b. Ứng với cám dỗ thứ hai của của Ðức Giê-su là nhu cầu muốn được nổi danh: Thực ra chuộng danh thơm tiếng tốt để gia tăng uy tín và là người có sĩ diện… đều là những giá trị cao quí, như Nguyễn công Trứ đã viết: ”Ðã mang tiếng ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông”. Nhưng vẫn có những giá trị cao hơn công danh, uy tín nói trên… Đó là những giá trị về tâm linh. Nếu để được thăng tiến bản thân mà “thượng đội hạ đạp” là ta đã coi những giá trị tự nhiên cao hơn giá trị tâm linh. Tội lỗi phát sinh từ sự lựa chọn không chính đáng ấy.

c. Ứng với cám dỗ thứ ba của Ðức Giê-su là nhu cầu quyền lực, muốn mọi sự xảy ra theo ý của mình: Trong xã hội, cũng cần phải có chính quyền như lời thánh Phao-lô. Nếu tranh giành quyền lực bằng phương thế chính đáng để có thể phục vụ lợi ích xã hội thì là điều đáng khuyến khích. Nhưng nếu tranh giành quyền hành vì vụ lợi ích kỷ thì lại không tốt, như ông kinh sư đã phát biểu hợp ý Đức Giê-su: “Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ “ (Mc 12,33). cám dỗ chính là dịp để chứng tỏ lòng “mến Chúa yêu người” của các tín hữu chúng ta.

4. Phương cách chống trả cơn cám dỗ: Ngày nay khi bị cám dỗ, chúng ta cần chống trả bằng những phương cách như sau:

+ “Đào vi thượng sách”: Tránh tò mò truy cập các trang phim ảnh xấu trên mạng internet

+ Tránh ở không: Chăm chỉ làm việc bổn phận và tránh ở không, vì “Sự lười biếng là cha của mọi thói hư tật xấu”.

+ Năng đọc kinh Lạy Cha để cầu xin Chúa: “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ”.

+ Xin ơn Chúa Trợ giúp khi bị cám dỗ: Làm dấu thánh giá và kêu cầu ơn Chúa như thánh Phê-rô xưa: “Thưa Ngài, xin cứu con với!” (x. Mt 14,30-32); Dứt khoát xua đuổi ma quỷ noi gương Đức Giê-su: “Xa-tan kia, xéo đi ! Vì đã có lời chép rằng: “Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi !” (Mt 4,10).

+ Chọn một việc hợp sở thích như đọc sách, xem phim truyền hình, đi bơi lội hay chơi một môn thể thao lành mạnh, thăm bạn bè, tham gia hội đoàn Công giáo Tiến hành để cùng “hiệp sông Tin Mừng” hằng tuần và chu toàn công tác tông đồ truyền giáo được cấp trên trao phó.

4. THẢO LUẬN: Bạn nên chọn ơPhương thế nào hiệu quả và dễ áp dụng nhất trong các phương thế trên để chiến thắng ma quỷ cám dỗ trong Mùa chay này?

5. NGUYỆN CẦU:

- LẠY CHÚA GIÊ-SU. Hôm nay con rất cảm phục thái độ cương quyết không khoan nhượng của Chúa khi đương đầu với ma quỷ cám dỗ. Chính nhờ ăn chay cầu nguyện suốt bốn mươi đêm ngày, mà Chúa đã được gia tăng nội lực tinh thần. Chính nhờ luôn vâng theo sự hướng dẫn của Thần Khí, mà Chúa đã luôn chọn làm theo thánh ý Chúa Cha và cương quyết xua đuổi ma quỷ cám dỗ: “Xa-tan kia, xéo đi!”.

- LẠY CHÚA. xin giúp con biết nghe theo lời khuyên của thánh Phê-rô: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé. Anh em hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự” (1 Pr 5,6-9). Nhờ đó, con sẽ trở nên con ngoan hiếu thảo, luôn làm đẹp lòng Chúa Cha, noi gương Chúa khi xưa.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A
Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

[Mục Lục]

 

Chuyên mục: Features, Suy niệm Lời Chúa