Gió

GIÓ

Truyện ngắn của Ngũlãonhân

Ông chánh Tân lấy giẻ lau qua bình xăng cái máy đuôi tôm, chuẩn bị giật máy thì chiếc tắc ráng làm bằng composite ghé sát vào. Người phụ nữ ngồi ở mũi đò nhanh nhảu, lễ phép:

–    Xin chào ông chánh ạ!

Ông chánh trố mắt nhìn:

–    Vâng, xin chào. Nhưng chị là ai tôi không nhận ra.

–    Làm sao nhận ra được? Ông chánh đã gặp cháu bao giờ đâu? Có điều còn sớm thế này, mà người dáng vẻ đàng hoàng, ăn mặc gọn ghẽ, sạch sẽ, lịch sự thế kia, lại từ trên Đài Đức Mẹ đi ra, chỉ có thể là người trong ban thường vụ hội đồng mục vụ giáo xứ nào đó thôi, phải không ạ?

Chị ta quay sang, nói với bà quản Hoan:

–    Bà là bà quản phải không? Chúng cháu từ trong kinh Mười ra, gần đến đầu kinh thì máy hết xăng, phải chèo ngược nước, mệt ơi là mệt. Hai vị làm ơn chia cho một chút xăng, một xị thôi cũng được, là đủ chạy đến cây xăng cống Tân Hiệp. Vợ chồng chúng cháu mang ơn hai vị lắm.

Bà quản đổ xăng từ cái bình hai lít vào cái ca nhựa bẩn vẫn dùng để tát nước, lượng xăng chắc chỉ non một xị, đưa cho chị. Chị đi xuống cuối đò, đưa cho chồng. Chị trả lại cái ca, cám ơn rối rít rồi đưa cho ông chánh tờ giấy bạc hai chục nghìn. Ông chánh cầm lấy như một chiếc máy, đồng thời nói cũng như một chiếc máy:

–   Thật ra thì chẳng có gì, không đáng là bao, một xị xăng, năm ngàn bạc chứ mấy. Chị cũng ở trong hội đồng mục vụ phải không? Thế thì chị biết đấy, nếu là của tôi, tôi cho không, không lấy tiền, nhưng đây là của chung, của nhà xứ, tôi không dám tự tiện. Chị hiểu cho. Nhưng mà…, nhưng mà, chúng tôi không có tiền thồi lại, để tôi lên bờ đổi tiền.

Chị ta cười khanh khách, hồn nhiên như một đứa trẻ:

–    Chẳng có gì, không đáng là bao…

Cùng lúc ấy, anh chồng khởi động máy, chạy vù đi mất.

Bà quản trách:

–  Ông chánh đổ hết xăng vào máy đi. Tới chỗ nào bán xăng, nhớ mua thêm… Người ta lỡ đường, lấy tiền của người ta làm gì? Mà một xị xăng, lấy những hai mươi nghìn, đắt nhất thế giới. Tôi không hiểu gì cả, không hiểu ông chánh tí nào cả.

Ông chánh có vẻ thẹn, vừa đổ xăng vào máy vừa đánh trống lảng:

–   Ngoài ý muốn thôi… Xong một việc ghé Đài Đức Mẹ. Việc thứ hai là đi Xẻo Dầu. Đi lối kinh Mười gần hơn, nhưng tôi không biết đường. Mình cứ nghe theo lời cha xứ cho chắc ăn.

Ông lấy ra miếng giấy học trò mà cha xứ đã vẽ sẵn sơ đồ:

–   Vào kinh Rivera, tới Ba Vàm, theo kinh Ranh giữa Cần Thơ và Kiên Giang, tới chợ Kinh Ranh, đi dọc kinh Hòa Lợi, gần tới cầu Công Binh, rẽ phải, tới ủy ban nhân dân xã Hòa An, đi thẳng qua bốn ngã tư, rẽ trái, vài trăm mét tới nhà thờ Xẻo Dầu. Với lại đường ở miệng, có gì tới đâu hỏi đó.

Trời râm mát, gió lồng lộng. Ông chánh Tân như một người tài công lành nghề, chạy đò không chê vào đâu được. Ông chạy hết ga, lại ngược gió, càng mát. Chiếc vỏ vọt lao đi vun vút. Ông hả hê:

–    Mình là con riêng của ông trời thì phải. Cả mấy tuần rồi, nắng như thiêu như đốt, bỗng nhiên hôm nay biết mình đi Xẻo Dầu trời mới dễ chịu thế này.

Khoảng hơn một tiếng đồng hồ sau, chiếc máy đuôi tôm đang ngon trớn tự nhiên khục khặc như một ông già ho lao, rồi chết máy. Ông chánh mở nắp bình xăng, trách bà quản:

–    Tôi quên, mà bà không chịu nhắc. Hết xăng, phải làm sao bây giờ?

Hai bên bờ kinh, đồng không mông quạnh, không nhà, không cửa. Hai đứa “con riêng của ông trời” đành phải chèo tay bằng một mái chèo có sẵn và một cành cây bạch đàn vớt dưới nước lên. Trời râm mát, gió lồng lộng mà mồ hôi mẹ mồ hôi con của họ đổ ra ướt như tắm. Gần một giờ sau, họ tới một cái trại. Trại ở đây là cái nhà chưa thành nhà, làm bằng vật liệu thô sơ tràm tre lá, như một túp lều dùng để chứa phân bón, thuốc trừ sâu bệnh và nông cụ: cái máy bơm, cái bình xịt thuốc sâu, cái cuốc, cái xẻng…, đồng thời là chỗ ăn chỗ ở của những người làm thuê, kiểu tá điền ngày xưa, cho những chủ ruộng ở xa. Ông chánh Tân gọi thật to:

–    Anh Hai, anh Ba gì đó ơi!

Một anh thanh niên độ chừng hai mươi lăm tuổi, da ngăm đen, tóc quăn đen, môi dày đỏ, hẳn là một người Khơ-me, đi ra, giọng nói lơ lớ:

–   Ai “kiêu” chi “dzậy”?

Ông chánh hỏi:

–   Từ đây tới chợ Kinh Ranh còn xa không, anh?

–   Hai cây chín, ba cây chi đó.

Bà quản Hoan lấy tay áo lau mồ hôi trán, than một câu não nuột:

–    Lạy Chúa tôi! Ba cây số nữa cơ à?

Ông chánh trổ tài thương thuyết, nói nhái theo kiểu người bình dân Nam Bộ:

–    Anh mần ơn chia cho tụi tui miếng xăng, lấy nhiêu trả nhiêu.

Anh thanh niên khoe hàm răng trắng ơn ởn:

–   Ở đây, máy bơm nước chạy dầu, máy đò chạy dầu. Dầu đê ô thì nhiều vô thiên lủng, mấy can ba chục lít lận. Nhưng còn xăng thì không có giọt nào hết trơn hết trọi.

Thất vọng, ông chánh và bà quản dù đã mệt rã rời cũng đành phải chèo đi. Được khoảng ba trăm mét, họ nghe có tiếng gọi lớn lẫn trong tiếng máy dầu nổ chan chát:

–    Ê! Ê! Chờ chút, chờ chút.

Anh chàng người Khơ-me đuổi kịp, đưa cho ông chánh cái máy cắt cỏ cầm tay:

–    Hên quá trời quá đất luôn. Hồi nãy, tui quên mất tiêu. Trong đó còn gần nửa lít xăng, ông đổ hết qua máy của ông đi.

Ông chánh, cả bà quản nữa, mừng hơn bắt được của. Như một cái máy, ông chánh lấy ra tờ giấy hai chục ngàn:

–   Cám ơn, cám ơn nhiều lắm. Anh cho tôi gởi tiền.

Anh ta cười tươi:

–   Chẳng có gì, không đáng là bao. Nay người mai ta, ai cũng có lúc kẹt mà. Tui cũng bị kẹt hoài à! Lòng dạ nào lấy tiền của ông bà kia chớ.

Ông chánh áy náy:

–   Chúng tôi có mấy chai rượu kinh Năm mang vô Xẻo Dầu, tặng anh một chai, chiều lai rai, nhâm nhi đỡ buồn.

–   Tui không có uống rượu bao giờ. Thiệt mà.

–   Anh hút với tôi điếu thuốc được không?

–   Tui đâu có biết hút, đắng nghét à, chịu gì nổi.

–   Vậy chúng tôi cám anh nhiều lắm.

Bà quản thêm vào:

–    Xin Ơn Trên trả công cho anh.

Anh thanh niên cười hồn nhiên:

–    Công xá chi? Chẳng có gì, không đáng là bao.

Ông chánh Tân khởi động máy, tiếp tục cuộc hành trình. Ông lơ đễnh nhìn những bông lúa hai bên bờ kinh đã cong trái me, bắt đầu gục mặt. Gió về. Bát ngát cánh đồng vàng chanh dập dờn như sóng biển cuồn cuộn. Ông giật mình nhận ra gió đang thổi làm cho cánh đồng trở thành một biển sóng lúa. Trong một phút giây liên tưởng, ông nhận ra rằng Gió cũng đang thổi trong tâm hồn những kẻ nghèo nàn, lam lũ, vất vả, vô danh, tốt bụng (ít nhất cũng tốt bụng hơn ông) như anh chàng người Khơ-me kia, nơi những xó xỉnh xa xôi này. Gió đã thổi, lúa đã chín, đầy đồng, thợ nào sẽ gặt? Ông nói với bà quản Hoan, như một lời sám hối:

–    Ai có thể cầm tù được Gió? “Gió muốn thổi đâu thì thổi” (Ga 3, 8), phải không? Bao giờ những con người lòng thiện đã chín muồi như họ, cùng với chúng ta trở về một giềng một mối, nhỉ? Chuyện xị xăng hôm nay làm tôi xấu hổ quá; xấu hổ với đôi vợ chồng trẻ sáng nay, với bà quản, với anh nông dân người Khơ-me kia, nhất là với chính lương tâm mình, và trên hết là với Chúa. Tôi phải xét mình lại thôi. Đời thuở nào mình là chánh trương, chủ tịch ban thường vụ hội đồng giáo xứ của một xứ đạo danh tiếng, mà lại cư xử thua xa một anh nông dân người Khơ-me vùng sâu, vùng xa… 

Bà quản hình như đọc được suy nghĩ của ông chánh:

–    Chúa Thánh Thần đã dùng một xị xăng, mượn anh chàng người Khơ-me ấy để dạy dỗ ông và tôi một bài học về đức khiêm nhường và lòng vị tha. Cao tít trên trời mây bay, trên những ngọn bạch đàn rung rinh kia, dưới thấp sát mặt nước này, bốn phương tám hướng, khắp nơi, đâu đâu gió cũng vẫn thổi. Và Gió cũng đã và đang thổi trong lòng người muôn dân thiên hạ, nhất là trong lòng những kẻ thật thà, đơn sơ, bé mọn, phải không ông chánh?

Và bà chép miệng nói bỏ lửng:

–    Còn chúng ta…

————

lãongu

Share This Post