Tâm linh – Tôn giáo – Lam Hồng http://lamhong.org Những nẻo đường đức tin... Sat, 21 Jan 2017 14:19:28 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=4.6.2 Tâm tình Tất niên http://lamhong.org/tam-tinh-tat-nien/ Sat, 21 Jan 2017 13:29:45 +0000 http://lamhong.org/?p=26490 TÂM TÌNH TẤT NIÊN

Thánh lễ Tất Niên 2016

Chúng ta đang ở trong một thời khắc đặc biệt, khi năm cũ Bính Thân sắp chấm dứt, năm mới Đinh Dậu sắp ló dạng. Theo tục truyền, ngày cuối năm, chính xác là cứ đến ngày 23 tháng Chạp hằng năm, ông Táo hay ông Công là “thần bếp” trong mỗi gia đình, cưỡi cá chép về thiên giới để chầu yết và báo cáo cho Ngọc Hoàng biết tất cả mọi chuyện đã xãy ra ở hạ giới, chuyện tích cực cũng như tiêu cực. Năm Bính Thân quả là một năm nhiều bất trắc, rủi ro hơn là thuận lợi đối với người dân Việt Nam do nhân tai và thiên tai xảy ra ở nhiều nơi, đặc biệt là ở miền Trung. Nên có lẽ, năm nay ông Táo không cưỡi cá chép, vì cá đã chết do bị nhiễm độc của Formosa, nhưng ông Táo đi bằng du thuyền vì giá rẻ hơn. Dù là câu chuyện có tính thần thoại, nhưng nó cũng nhắc nhở con người ý thức có một Ai đó trên cao vẫn hằng quan tâm theo dõi mọi sinh hoạt của con người hạ giới.

Đối với hầu hết mọi người Việt, những ngày tất niên là những ngày bận rộn. Người đi xa lo về quê ăn tết; chủ lo tiền công trả cho thợ; thương gia thì tranh thủ kiếm tiền; gia đình nào cũng phải mua sắm gì đó để gọi là “hương vị ba ngày tết.” Tất niên tất nhiên là tất bật! Vì tất bật nên dễ tai nạn trên đường! Nên cũng phải thận trọng khi lái xe.

Theo truyền thống văn hóa tốt lành người Việt Nam, tất niên là dịp để bày tỏ lòng biết ơn nhau, bỏ qua những thiếu sót trong năm cũ, và cầu chúc cho nhau những điều tốt lành trong năm mới. Chút tết là một nét đẹp của văn hóa. Tuy nhiên, ngày hôm nay, xem ra điều chính yếu lại trở thành điều tùy phụ. Nên người ta chép miệng: “Phong hoa, phong tục, phong thư. Trong ba phong ấy, người ta thích nhất “phong bì”…!

Đối với chúng ta, những người Kitô hữu, tất niên là dịp để chúng ta cảm tạ Thiên Chúa và tri ân mọi người vì những gì chúng ta đón nhận trong năm qua. Đồng thời đây cũng là thời khắc để cầu xin Chúa tiếp tục tuôn đổ phúc lành cho mỗi người trong năm mới.

Bởi thế, tạ ơn và chúc tụng Thiên Chúa là tâm tình chính yếu mà mỗi người Kitô hữu cần phải luôn mãi trong từng ngày sống, đặc biệt là trong những ngày Tất Niên và Xuân mới. Bởi lẽ, trong cái nhìn đức tin, chúng ta xác tín rằng tất cả là hồng ân. Nếu chúng ta có là gì cũng là nhờ ơn Đức Chúa. Theo thần học, Thánh Lễ (eucaristia) là nghi thức tạ ơn tuyệt hảo mà chúng ta dâng lên để cảm tạ Thiên Chúa. Trong ý nghĩa đó, Lời Chúa của thánh lễ Tất Niên giúp chúng ta đào sâu về tâm tình tạ ơn này.

Tiên tri Isaia trong bài đọc I nhắc nhở chúng ta hãy “dâng lời ca tụng Đức Chúa…, vì những gì Người đã thực hiện, bởi lòng Người đầy thương xót và lắm nghĩa giàu ân” (Is 63,7). Cựu Ước đã có kinh nghiệm về một vị Thiên Chúa giàu lòng thương xót, luôn hiện diện và luôn che chở mỗi người, nhưng vẫn là vị Thiên Chúa còn vô hình. Tân Ước giới thiệu với chúng ta một vị Thiên Chúa hữu hình mà chúng ta có thể tới gần, đụng chạm. Người là hiện thân lòng thương xót Thiên Chúa, Người là Con Thiên Chúa, là Đức Giêsu Kitô thành Nadarét. Nhờ Người, chúng ta đón nhận từ ơn này tới ơn khác (x. Ga 1,16).

Theo đó, trong thư 1 Côrintô, thánh Phaolô bày tỏ: “Tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa của tôi vì anh em, về ân huệ Người đã ban cho anh em nơi Đức Kitô Giêsu. Quả vậy, trong Đức Kitô Giêsu, anh em đã trở nên phong phú về mọi phương diện, vì được nghe lời Chúa và hiểu biết mầu nhiệm Người” (1 Cr 1,4).

Nhờ Đức Giêsu Kitô, chúng ta đón nhận được ơn làm con Thiên Chúa, được hưởng ơn cứu độ, được trở thành chi thể trong Nhiệm Thể Chúa Kitô, tức là Giáo Hội, được nuôi dưỡng mình bằng các bí tích, được lắng nghe Lời Chúa mỗi ngày và được hứa ban phần thưởng Nước Trời mai sau.

Chân dung của Đức Maria được thánh Luca trình bày trong Bài Tin Mừng trở thành khuôn mẫu và lý tưởng cho tất cả chúng ta. Mẹ là người đã quảng đại để cộng tác vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa khi thưa “xin vâng.” Mẹ đã vội vã mang Chúa Giêsu đến cho gia đình ông Dacaria và bà Êlisabét. Xét cho cùng lý tưởng của đời sống Kitô hữu bước theo Chúa Kitô, yêu mến Người và mang Chúa đến cho người khác. Mỗi người chúng ta được mời gọi chiêm ngắm và học hỏi Đức Maria để sống và thi hành tốt sứ vụ của mình.

Tâm tình của Đức Maria hôm nay phải là tâm tình của chúng ta mỗi ngày đối với Thiên Chúa: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa… Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả.”

Xin cho cuộc đời của mỗi chúng ta trở nên lời cảm tạ chân thành, sinh động và mạnh mẽ để trở thành chứng nhân niềm hy vọng, liên đới, phó thác, an vui… dẫu cuộc đời vẫn còn đó những khó khăn, hoạn nạn, khổ đau. Hy vọng rằng những chuyện tiêu cực, buồn phiền sẽ đi vào dĩ vãng cùng với năm cũ. Và Thánh lễ tạ ơn Tất Niên này sẽ thắp lên ngọn lửa tin yêu, đầy hy vọng, để nối dài vòng tay yêu thương của mỗi người chúng ta trong mỗi cộng đoàn và giang rộng đến tận những nơi và những ai đang cần, đang mong, đang chờ đợi chúng ta như MỘT QUÀ TẶNG HIẾN DÂNG!

Nhân dịp Tết đến Xuân về, xin gửi tới Anh Chị Em những lời chúc sau đây:

NĂM Gà xin tiễn năm Khỉ qua
MỚI đón tân xuân đến mọi nhà
CHÚC mọi người thêm nhiều hoan hỷ
MỪNG vui khắp chốn rộn lời ca
HẠNH – dung – lễ – nghĩa ngời tâm ngọc
PHÚC lộc, công, danh rạng ý Trời!

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

]]>
Đức Giêsu – Ánh Sáng chiếu soi trần gian http://lamhong.org/duc-giesu-anh-sang-chieu-soi-tran-gian/ Fri, 20 Jan 2017 12:57:18 +0000 http://lamhong.org/?p=26488 HIỆP SỐNG TIN MỪNG

CHÚA NHẬT 3 THƯỜNG NIÊN A

Is 8,23b-9,3; 1 Cr 1,10-13.17; Mt 4,12-23

ĐỨC GIÊ-SU ÁNH SÁNG CHIẾU SOI TRẦN GIAN

I. HỌC LỜI CHÚA

  1. TIN MỪNG: Mt 4,12-23

(12) Khi Đức Giê-su nghe tin ông Gio-an đã bị nộp, Người lánh qua miền Ga-li-lê. (13) Rồi Người bỏ Na-da-rét, đến ở Ca-phác-na-um, một thành ven biển hồ Ga-li-lê, thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Náp-ta-li. (14) Để ứng nghiệm lời Ngôn sứ I-sai-a nói: (15) “Này đất Dơ-vu-lun, và đất Náp-ta-li, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Gio-đan. Hỡi Ga-li-lê miền đất của dân ngoại ! (15) Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm, đã thấy một ánh sáng huy hoàng. Những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi !” (17) Từ lúc đó, Đức Giê-su bắt đầu rao giảng và nói rằng: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần”. (18) Người đang đi dọc theo biển hồ Ga-li-lê, thì thấy hai anh em kia, là ông Si-mon cũng gọi là Phê-rô, và người anh là ông An-rê, đang quăng chài xuống biển, vì các ông làm nghề đánh cá. (19) Người bảo các ông: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá”. (20) Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người. (21) Đi một quãng nữa, Người thấy hai anh em khác con ông Dê-bê-đê, là ông Gia-cô-bê và người em là ông Gio-an. Hai ông này đang cùng với cha là ông Dê-bê-đê vá lưới ở trong thuyền. Người gọi các ông. 22) Lập tức, các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người. (23) Thế rồi Đức Giê-su đi khắp miền Ga-li-lê, giảng dạy trong các hội đường của họ, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền của dân.

  1. Ý CHÍNH:

Nghe tin Gio-an Tẩy Giả bị nộp, Đức Giê-su từ Giê-ru-sa-lem lui về Ga-li-lê để tránh bị theo dõi, và hoạt động trong môi trường có nhiều dân ngoại như Ngôn sứ I-sai-a đã tiên báo. Ngươi chọn thành Ca-phác-na-um làm trung tâm truyền giáo và từ đây Người đi các nơi rao gảng Tin Mừng Nước Trời. Nội dung các bài giảng được tóm lại như sau: “Anh em hãy sám hối vì Nước Trời đã gần đến”. Đức Giê-su cũng chọn 4 môn đệ đầu tiên gồm 2 đôi anh em. Một là Si-mon Phê-rô và An-rê đang thả lưới trên biển hồ. Hai là Gia-cô-bê và Gio-an đang vá lưới trong thuyền cùng với cha và các người làm công. Nghe Đức Giê-su kêu gọi, các ông lập tức từ bỏ tất cả mà theo làm môn đệ của Người.

  1. CHÚ THÍCH:

– C 12-13: + Nghe tin ông Gio-an đã bị nộp: Thánh Mát-thêu dùng từ “bị nộp” thay vì “bị bắt” khi nói về Gio-an, giống như khi nói về Đức Giê-su (x. Mt 10,4; 17,22; 26,2). Qua đó cho thấy số phận của Gio-an giống như Đức Giê-su. Dùng từ “bị nộp” ở thể thụ động là có ý nói biến cố xảy ra là do ý của Thiên Chúa. Đức Giê-su bắt đầu rao giảng khi Gio-an chấm dứt sứ mệnh tiền hô dọn đường. + Người lánh qua miền Ga-li-lê: Khác với Gio-an Tẩy Giả, Đức Giê-su lui về Ga-li-lê là vùng đất có nhiều dân ngoại sinh sống, để khởi sự rao giảng Tin Mừng. Cũng tại Ga-li-lê, Người sẽ quy tụ các môn đệ lần cuối cùng để sai đi khắp thế gian, tiếp tục sứ mệnh mà Người khởi sự hôm nay. + Người bỏ Na-da-rét đến ở Ca-phác-na-um: Đức Giê-su đã không chọn quê hương Na-da-rét, nhưng chọn Ca-phác-na-um để bắt đầu sứ mệnh rao giảng. + Một thành ven biển hồ Ga-li-lê: Thành Ca-phác-na-um nằm trong vùng đất định cư của hai chi tộc Dơ-vu-lun và Náp-ta-li (x. Gs 19,10.32-39).

– C 14-16: + Để ứng nghiệm lời Ngôn sứ I-sai-a nói: I-sai-a tiên báo vùng Ga-li-lê thuộc hai chi tộc Dơ-vu-lun và Náp-ta-li, không những được thoát ách thống trị của quân Át-sy-ri về chính trị quân sự, mà còn được giải phóng khỏi cảnh “tối tăm sầu khổ” do bị dân ngoại chiếm cứ. + Hỡi Ga-li-lê miền đất của dân ngoại: Ga-li-lê là nơi bị khinh dể vì là vùng đất có nhiều dân ngoại sống chung với dân Do thái, và chưa có vị Ngôn sứ nào xuất thân ở đó (x. Ga 1,46). Điều này nằm trong chương trình hành động của Đấng Thiên Sai đã được Ngôn sứ I-sai-a báo trước. + Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm: Mát-thêu ứng dụng việc Đức Giê-su đến làm cho miền đất này khỏi bóng tối sự chết bằng việc rao giảng Tin Mừng Nước Trời. “Ánh sáng huy hoàng” là chính Đức Giê-su biểu lộ khi Người hiển dung trên núi cao (x. Mt 17,2), và tiếp tục chiếu rọi khi Chúa Phục Sinh hẹn gặp các môn đệ để sai họ đi truyền giáo (x Mt 28,16-20).

– C 17-18: + Từ lúc đó, Đức Giê-su bắt đầu rao giảng và nói: Đối với Mát-thêu thì đây là thời điểm Đức Giê-su bắt đầu thi hành sứ mệnh cứu thế tại Ga-li-lê. Lời giảng được Mát-thêu tóm gọn trong câu: “Anh em hãy sám hối vì Nước Trời đã đến gần”. Đây cũng là nội dung mà Đức Giê-su truyền cho các môn đệ khi sai các ông đi truyền giáo (x. Mt 10,7). + “Anh em hãy sám hối”: Câu này giống như lời rao giảng của Gio-an Tẩy Giả trước đó (x. Mt 3,2). + Vì Nước Trời đã đến gần: Nước Trời, hay cũng gọi là Nước Thiên Chúa. Vì Mát-thêu viết Tin Mừng cho người Do thái, nên tránh gọi tên Thiên Chúa để biểu lộ lòng kính trọng Thánh Danh của Người trong điều răn thứ hai: “Chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ”. Nước Thiên Chúa là một cộng đoàn do Thiên Chúa cai quản. Nước này đã tới gần trong con người và sứ vụ của Đức Giê-su. + Biển hồ Ga-li-lê: Là một biển hồ hồ hình quả trám dài 21 cây số, rộng 12 cây số, cũng có tên là hồ Giê-nê-sa-rét hay Ti-bê-ri-a. + Si-mon cũng gọi là Phê-rô: Si-mon là tên của Phê-rô trước khi theo Đức Giê-su. Đức Giê-su đã đổi tên Si-mon thành Phê-rô nghĩa là “Tảng Đá” (x. Mt 16,18).

– C 19-20: + Kẻ lưới người như lưới cá: Đức Giê-su sẽ trao sứ mệnh đánh lưới các linh hồn người ta, giống như đi chài lưới bắt cá. + Lập tức bỏ chài lưới: Đây là thái độ dứt khoát và mau mắn đáp lại lời mời gọi của Đức Giê-su: bỏ nghề cũ để theo nghề mới.

– C 21-23: + Gia-cô-bê: Đây là Gia-cô-bê Tiền nghĩa là theo Chúa trước, phân biệt với Gia-cô-bê Hậu theo Chúa sau. Gia-cô-bê với em là Gio-an cùng Si-mon Phê-rô làm thành nhóm ba người thân tín của Đức Giê-su. Nhóm này được đi theo Đức Giê-su và được chứng kiến Người hiển dung trên núi cao (x. Mt 17,1). Trong cuộc khổ nạn, ba người này cũng được theo Người vào vườn Ghết-sê-ma-ni chứng kiến Người cầu nguyện trước khi bị bắt (x. Mt 26,37-46). + Lập tức các ông bỏ thuyền bỏ cha…: Cũng như Si-mon và An-rê lập tức bỏ nghề, Gia-cô-bê và Gio-an cũng dứt khoát từ bỏ tài sản là thuyền, và từ giã người thân là cha già mà theo làm môn đệ Đức Giê-su. + Đức Giê-su đi khắp miền Ga-li-lê: Việc truyền giáo cần phải năng động. Đức Giê-su và các môn đệ đi đây đi đó khắp miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng Nước Trời. + Chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền của dân: Viêc chữa bệnh là dấu chỉ thời đại Thiên Sai đã bắt đầu (x. Mt 10,8; 11,4-5).

  1. CÂU HỎI:

1) Tại sao Mát-thêu dùng kiểu nói “Sau khi Gio-an bị nộp” thay vì “bị bắt”? 2) Gio-an Tẩy Giả rao giảng phép rửa sám hối tại miền nào, và Đức Giê-su khởi sự rao giảng Tin Mừng Nước Trời tại miền nào? 3) Đức Giê-su đã làm gì để chiếu soi ánh sáng huy hoàng của Người vào miền Ga-li-lê đang ở trong bóng tối sự chết? 4) Lời giảng của Đức Giê-su được tóm lại trong câu nào? 5) Tại sao Mát-thêu dùng từ “Nước Trời đã đến gần” thay vì “Nước Thiên Chúa đã đến gần” như Lu-ca? 6) Bạn biết gì về biển hồ Ga-li-lê? 7) Phê-rô là ai? Tên Phê-rô nghĩa là gì và ông được Đức Giê-su đổi tên khi nào? 8) Trong Nhóm 12 có mấy ông tên Gia-cô-bê ? Tại sao lại gọi là Gia-cô-bê Tiền hay Gia-cô-bê Hậu? 9) Noi gương bốn môn đệ đầu tiên, ngày nay chúng ta nên làm gì khi được Chúa mời gọi đi theo Chúa? 10) Đức Giê-su nêu gương nhiệt tình đi loan báo Tin Mừng như thế nào? Người thi hành sứ mệnh bằng những việc gì?

II. SỐNG LỜI CHÚA:

  1. LỜI CHÚA: “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,16).
  2. CÂU CHUYỆN:

1) ÁNH SÁNG HY VỌNG ĐÃ XUẤT HIỆN GIỮA ĐÊM TỐI:

Chiều hôm ấy, hai cậu bé rủ nhau vào rừng chơi. Thế rồi một trận mưa bất thần đổ xuống. Mưa dai dẳng suốt hai tiếng đồng hồ. Đến lúc tạnh thì trời đã tối. Hai cậu bé vừa lạnh lại vừa sợ. Nỗi sợ hãi càng gia tăng khi hai cậu bé không còn tìm thấy con đường dẫn về nhà. Nhưng rồi một ánh sáng bỗng xuất hiện từ xa. Hai cậu bé khấp khởi mừng thầm. Cả hai đều cố gắng vừa kêu vừa gọi. Thì ra người anh đang cầm chiếc đèn đi tìm hai cậu bé. Và cuối cùng đã đưa hai cậu bé trở về tới nhà an toàn.

2) MAU MẮN ĐÁP LẠI TIẾNG CHÚA KÊU GỌI:

Ơn gọi của Mẹ Têrêsa Calcutta là một thí dụ. Mẹ sinh năm 1910 tại Nam Tư. Năm 18 tuổi Mẹ nhập dòng Đức Bà Lorettô ở Ái Nhĩ Lan. Sau đó được cử sang Ấn Độ để vào tập viện. Mẹ đã cống hiến gần 20 năm trời cho việc dạy môn địa lý tại một trường của nhà dòng dành cho các thiếu nữ thuộc những gia đình khá giả. Nếu Chúa không lên tiếng gọi, thì chắc cuộc đời Mẹ sẽ trôi đi êm đềm bên đám học trò giàu có. Thế rồi vào một ngày nọ, nhân đi qua một đường phố ở Calcutta, Mẹ bắt gặp một người đàn bà đang hấp hối trên vỉa hè. Chuột và kiến đã kéo đến gặm nhấm con người bất hạnh đó. Mẹ liền vực người thiếu phụ tới nhà thương. Mẹ nhất định cứ đứng ở trước cổng cho đến khi người ta mở cửa đón nhận bệnh nhân sắp chết. Từ biến cố này, Mẹ cảm nhận được lời mời gọi của Chúa, muốn Mẹ hãy dấn thân cho những kẻ bị bỏ rơi. Và thế là Mẹ đã xin ra khỏi dòng, đến sống ở một khu vực tăm tối của thành phố. Chắc hẳn lúc đó, Mẹ không ngờ mình sẽ là người sáng lập nên một hội dòng mới chuyên lo việc bác ái, giúp đỡ những người nghèo khổ trên khắp thế giới.

3) THÓI THAM LAM ÍCH KỶ LÀ NGUỒN GỐC PHÁT SINH MỌI TỘI ÁC:

Chuyện kể một nhà buôn nọ rất sùng đạo. Mặc dầu vất vả làm ăn nhưng anh ta không bao giờ bỏ việc khấn vái với các thánh. Gặp thời kỳ phải cạnh tranh gay gắt trong công việc làm ăn, anh ta lại càng đi cầu khấn gấp bội.

Động lòng trắc ẩn, một hôm một sứ thần đã hiện ra với anh và nói: “Thấy con thành tâm cầu xin nên Chúa không nỡ chối từ và sai ta đến với con. Vậy bây giờ con hãy cho ta biết con ước muốn điều gì, để ta sẽ thay quyền Chúa ban cho… Đồng thời để chứng tỏ cho loài người biết lòng quảng đại của Thiên Chúa, thì hễ con nhận được một điều gì, thì Chúa nhân từ cũng sẽ ban cho các đồng nghiệp hay hàng xóm của con được gấp đôi như thế”.

Nghe sứ thần phán, lòng anh thương gia từ chỗ vui mừng hân hoan biến thành sầu buồn tức giận. Anh tự nhủ: “Nếu bây giờ mình xin một chiếc Lexus thì mấy thằng bạn… sẽ được hai chiếc. Ái dà, thế thì không được! Nhưng nếu mình xin cho được trúng số 5 triệu thì mấy nhà hàng xóm… sẽ được tới 10 triệu. Thế lại càng không được! Còn nếu mình xin được vợ đẹp con khôn thì đồng nghiệp của mình lại sẽ có vợ đẹp gấp đôi vợ mình, con khôn gấp đôi con mình. Đó là chưa nói tới chuyện chúng nó có tới hai vợ, còn mình chỉ có một… Trong thời buổi cạnh tranh thế này thì mình phải làm sao hơn bọn chúng chứ! “.

Anh nhà buôn nhíu mày suy nghĩ đắn đo. Một lát sau, chợt anh ta reo lên như vừa tìm ra điều gì thú vị. Anh đến quì xuống và thưa với sứ thần: “Lạy Sứ thần, xin cầu cùng Chúa cho con bị đui một con mắt”.

Quả là một lời khẩn cầu quái lạ! Anh ta không xin cho mình được may mắn vì sợ người khác được may lành gấp đôi. Cuối cùng anh đã xin cho mình bị rủi ro để kẻ khác bị hại gấp đôi mình,  là xin cho anh bị đui một con mắt để những kẻ kia bị mù cả hai mắt luôn. Đây thật là một con người tiểu nhân và quá nhẫn tâm !!!

4) VIỆC BÁC ÁI LÚC CÒN SỐNG ĐÁNG QUÝ HƠN SAU KHI CHẾT

Một người kia rất giàu tiền bạc của cải. Ông có lòng tốt dự định sẽ di chúc lại toàn bộ tài sản của mình sau khi chết để các tổ chức từ thiện lo phục vụ cho người nghèo. Nhưng đi đến đâu ông cũng chỉ nhận được những cái nhìn khinh thường của mọi người. Ông ta liền tìm đến một ẩn sĩ nổi tiếng khôn ngoan và hỏi: “Thưa thầy, tại sao dù tôi đã làm chúc thư để lại toàn bộ gia sản lớn lao của tôi cho các công việc từ thiện bác ái, thế mà nhiều người vẫn nghĩ tôi là loại người keo kiệt và khinh thường tôi. Vậy tôi phải làm gì để họ biết về lòng quảng đại của tôi và kính trọng tôi hơn ?”

Thay vì trả lời trực tiếp câu hỏi của người giàu có kia, vị ẩn sĩ đã kể cho ông ta nghe một câu chuyện như sau: “Có một chú heo nọ một hôm gặp chị bò sữa liền mở miệng than thở như thế này: Này chị bò, tôi và chị đều cống hiến thịt mình làm thức ăn cho loài người. Thế mà thật đáng buồn ! Tôi thấy họ tỏ ra thân thiện và âu yếm vuốt ve chị. Còn tôi thì lại bị khinh dể xa lánh ?” Ngẫm nghĩ một lát rồi chị bò cái mới ôn tồn trả lời chú heo rằng: “Quả thật cả hai chúng ta đều cung cấp cho loài người thịt để ăn sau khi chúng ta chết. Nhưng sở dĩ họ quí mến tôi hơn chú, theo tôi nghĩ có lẽ là vì ngay từ bây giờ lúc còn sống, mỗi ngày tôi đều cống hiến cho họ sữa tươi để uống chăng ?”

Câu trả lời của chị bò sữa dạy chúng ta: “Của cho không bằng cách cho” và “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Cho người khác những cái họ đang cần thì tốt hơn để lại chúc thư cho họ của cải sau khi mình chết, khi mình không thể sử dụng được nữa. Điều người khác cần nơi chúng ta không những là tiền bạc của chúng ta, mà còn là tình thương, sự quan tâm của chúng ta. Muốn được người khác quý mến kính trọng thì chúng ta phải quan tâm đến kẻ khác trước, cởi mở tâm hồn với họ, mở rộng trái tim để yêu thương và sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của họ.

5) QUẢNG ĐẠI DẤN THÂN PHỤC VỤ NGƯỜI NGHÈO:

Năm 1950, một hội nghị đại diện 17 quốc gia đã bầu ALBERT SCHWEITZER làm “người hùng của thế kỷ”. Hai năm sau (1952). Albert Schweitzer được giải thưởng Nobel hoà bình. Schweitzer được toàn thế giới tuyên dương là một thiên tài đa dạng: Ông vừa là một triết gia lừng danh, một nhà thần học nổi tiếng, một sử gia đáng kính, một nhạc công sôlô trong dàn nhạc và còn là một bác sĩ thừa sai nữa.

Nhưng điểm nổi bật nhất nơi ông là niềm tin Kitô giáo sâu sắc. Chính niềm tin này đã khiến ông thành “người hùng của thế kỷ”: Năm 21 tuổi, Schweitzer tự hứa với mình là sẽ nghiên cứu nghệ thuật và khoa học cho đến năm 30 tuổi, rồi sẽ cống hiến cuộc đời còn lại cho những người thiếu thốn bằng một hình thức phục vụ trực tiếp nào đó. Và thế rồi, vào sinh nhật thứ 30 của ông, nhằm ngày 13/10/1905, ông đến một hộp thư ở Paris gởi một số thư về cho bố mẹ và bè bạn thân thiết nhất, báo cho họ biết ông sắp sửa ghi tên vào đại học để lấy bằng y khoa, sau đó ông sẽ đi Phi Châu sống như một bác sĩ thừa sai để phục vụ đám dân nghèo.

Những lá thư của ông lập tức bị phản đối ngay. Bà con và bè bạn ông đồng loạt phản đối dự tính mà họ cho là điên rồ của ông. Họ bảo ông là một người đem chôn dấu tài năng đã được uỷ thác cho ông… Tuy nhiên, Schweitzer vẫn khăng khăng thực hiện những ý định của mình. Năm 38 tuổi, ông trở thành một bác sĩ y khoa thực thụ. Năm 43 tuổi, ông đến Phi Châu mở một bệnh viện cạnh bờ rừng của khu vực gọi là Phi Châu xích đạo. Tại đây, ròng rã suốt hơn bốn mươi năm trời, ông đã dùng hết tài năng và sức lực để đêm ngày tận tuỵ săn sóc những người dân bản xứ nghèo nàn bệnh tật, với tất cả tình yêu thương và lòng nhân ái. Sau cùng ông đã chết ở đó vào năm 1965, hưởng thọ 90 tuổi.

Thưa anh chị em, động lực nào đã khiến ông Schweitzer quay lưng lại với danh vọng và của cải trần gian để dấn thân làm việc cho đám dân cùng khổ nhất trong đám dân nghèo ở Phi Châu?

Theo lời ông, thì một trong những động cơ thôi thúc ông làm điều đó chính là do ông suy gẫm Tin Mừng của Chúa Giêsu. Ông đã lắng nghe tiếng gọi của Chúa và quyết tâm đáp lại bằng cách dấn thân phục vụ dân nghèo ở Phi Châu như có lần ông đã phát biểu: “Tôi không thể hiểu được tại sao tôi lại được phép sống một cuộc đời hạnh phúc như thế, đang khi chung quanh tôi còn biết bao người đang quằn quại trong đau khổ”.

  1. SUY NIỆM:

1) ĐỨC GIÊ-SU VỀ MIỀN GA-LI-LÊ: Khởi đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng, Đức Giêsu đã không chọn thủ đô Giêrusalem, tuy hầu hết theo đạo Mô-sê, nhưng vua chúa thì độc ác, đã từng tìm bách hại Người ngay từ khi mới sinh và gần đây còn ra lệnh chém đầu Gio-an là vị Tiền Hô dọn đường cho Người. Còn các đầu mục Do thái là các thượng tế, kinh sư, và biệt phái thì lòng chai dạ đá, không chấp nhận một Đấng Thiên Sai không theo ý mà họ đang mong chờ.

Đức Giê-su đã chọn Galilêa là vùng dân ngoại sống lẫn lộn với dân Do thái, nhưng lại sẵn sàng đón nhận Tin Mừng Nước Trời của Người. Galilêa còn là miền đất bị người Do thái khinh miệt, coi là của ngoại bang. Ngay từ ban đầu Đức Giê-su đã không đóng khung Tin Mừng Nước Trời trong Đền thờ, vì Người muốn Giáo Hội Người thiết lập phải không ngừng ra đi, đến với mọi dân tộc, ngôn ngữ, nhất là đến với những người nghèo khó, bệnh tật, tội lỗi và bị bỏ rơi.

2) ĐỨC GIÊ-SU KÊU GỌI 4 MÔN ĐỆ ĐẦU TIÊN: Đức Giê-su không làm việc một mình, nhưng Người muôn cho có nhiều người cùng hợp tác trong sứ vụ loan báo Tin Mừng. Người mời gọi hai anh em Simon Phê-rô và An-rê: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá”. Người cũng gọi hai anh em con ông Giê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an đi theo làm môn đệ của Người (x. Mt 4,19-21). Sau đó Người vào giảng dạy trong các hội đường Do thái, rao giảng Tin Mừng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền của dân (x. Mt 4,23). Người không đóng khung ở một nơi, nhưng luôn đi từ làng này sang làng khác, để thi hành sứ vụ như Người đã nói: “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa. Vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó” (Mc 1,38).

3) TIÊU CHUẨN CỦA NGƯỜI TÔNG ĐỒ THỜI CHÚA GIÊ-SU: Đức Giê-su không lựa chọn môn đệ ở trong Đền thờ, nơi có nhiều nhà thông hiểu Kinh thánh và Lề luật, nhưng chọn môn đệ là những người thuyền chài ít học, sẵn sàng từ bỏ mọi sự mà đi theo Người.

– PHẢI CÓ TINH THẦN TỪ BỎ: Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy, đang lúc đi dọc theo bờ biển, Ngài đã gọi hai ông Si-mon và An-rê: “Các anh hãy theo tôi. Tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ lưới người như lưới cá”. Liền sau đó, Ngài cũng đã gọi Giacôbê và Gioan. Thái độ của họ là lập tức bỏ chài lưới, bỏ ghe thuyền, bỏ cha già và những người làm công mà đi theo làm môn đệ Người (x. Mt 4,20.22);.

– CÁC ĐỨC TÍNH CỦA NGƯỜI TÔNG ĐỒ: Ngoài việc từ bỏ mọi sự, các ông còn cần tin Đức Giê-su chính là Đấng Thiên Sai (x. Mt 16,16) và trung thành theo Người đến cùng (x. Ga 6,67-69); Các ông phải có lòng khoan dung tha thứ lỗi lầm của kẻ khác và biết tế nhị khi sửa lỗi cho nhau (x. Mt 18,15-17); Phải có tinh thần khiêm hạ để phục vụ tha nhân noi gương Đức Giê-su (x. Mt 20,24-28); Phải có lòng mến Thầy hơn những người khác (x. Ga 21,15-17), vì lòng mến là điều kiện cần phải có để được Chúa tha tội (x. Lc 7,47) và để có thể hăng say rao giảng Tin Mừng (x. 2 Cr 5,14); Cần biết xin ơn Chúa trợ giúp: “Vì không có Thầy anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5); Phải khôn ngoan phòng tránh các cạm bẫy và luôn công minh chân thật để gây được thiện cảm với mọi người (x. Mt 10,16); Phải can đảm để làm chứng cho Chúa (x. Mt 10,23) và không chùn bước trước các đe dọa cấm cách (x. Mt 10,26-31); Phải sống yêu thương hiệp nhất với nhau, vì là dấu chỉ của người môn đệ đích thực của Đức Giê-su (x. Ga 13,34).

4) HÀNH TRÌNH LOAN BÁO TIN MỪNG HÔM NAY:

Đức Giê-su đã kêu gọi các môn đệ và các ông đã mau mắn đáp trả bằng việc từ bỏ mọi sự mà đi theo, để được sống thân tình với Người, được Người sai đi thực tập truyền giáo và cuối cùng phải “Nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội” (Lc 24,46-47).

Loan báo Tin Mừng trong thế giới và trong xã hội Việt Nam hôm nay, không phải chỉ lo về số lượng là nhiều người lương chịu phép rửa tội, nhưng trước hết phải có chất lượng là thấm nhuần tinh thần Phúc Âm trong tư tưởng lời nói, cách ứng xử của mỗi tín hữu. Rồi phải lo đưa tinh thần lối sống hiệp nhất yêu thương vào trong gia đình, khu xóm và nơi làm việc của mình.

  1. THẢO LUẬN:

1) Kèm theo lời giảng, Đức Giê-su đã chữa bệnh và trừ quỷ. Theo bạn, người rao giảng Lời Chúa hôm nay cần làm gì kèm theo việc rao giảng, để dễ được người nghe đón nhận ? 2) Hôm nay, bạn sẽ đáp trả tiếng Chúa thế nào khi được mời tham gia các sinh hoạt hội họp cầu nguyện và làm công tác trong các hội đoàn tông đồ?

  1. NGUYỆN CẦU:

– LẠY CHÚA GIÊ-SU. Xin cho quê hương Việt Nam chúng con cũng được tràn ngập ánh sáng của Chúa. Xin cho chúng con trở thành những môn đệ sẵn sàng loan báo Tin Mừng cho đồng bào Việt Nam thân yêu. Rao giảng bằng lời nói và nhất là bằng chính cuộc sống chứng nhân, qua những việc bác ái cụ thể như: an ủi và xoa dịu những vết thương đau, góp phần chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền, góp phần xóa đói giảm nghèo, xua trừ tận gốc các tội phạm hình sự và tệ nạn xã hội như mê tín, sì ke ma túy, cờ bạc, và mại dâm.

– LẠY CHÚA. Hôm nay xin Chúa dạy chúng con biết chiếu ánh sáng của Chúa qua thái độ luôn tươi cười, ngay cả những lúc xem ra cuộc đời không mỉm cười với chúng con. Xin cho chúng con biết yêu mến cuộc sống, dù không phải lúc nào cuộc sống cũng là màu hồng đáng yêu. Thực ra, chúng con luôn có nhiều lý do để lo âu chán nản và muốn bỏ cuộc. Nhưng xin Chúa đừng để nụ cười bị tắt trên môi chúng con. Xin cho chúng con ý thức rằng: “Một vị thánh buồn là một vị thánh đáng buồn !”. Ước gì chúng con luôn thấy mình thật hạnh phúc vì được Chúa yêu thương. Xin cho chúng con luôn mang niềm vui của Chúa, để làm cho gia đình, khu xóm, xí nghiệp trường học con đang sống được tràn đầy niềm vui và ơn cứu độ của Chúa.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

LM. ĐAN VINH –  HHTM

]]>
Chuyện xa – gần http://lamhong.org/chuyen-xa-gan/ Fri, 20 Jan 2017 00:42:03 +0000 http://lamhong.org/?p=26478 Chuyện XA – GẦN

(Chúa Nhật III TN, năm A)

Xa hay gần là đề cập khoảng cách, có thể là về thời gian hoặc không gian. Tuy nhiên, khoảng cách chỉ là một khái niệm theo ý nghĩ của phàm nhân. Đối với Thiên Chúa không có khoảng cách, vì đối với Ngài luôn luôn là hiện tại, không có quá khứ hoặc tương lai.

Với con người, khoảng cách xa hoặc gần cũng chỉ là tương đối, tùy theo cách nghĩ của mỗi người khác nhau. Ví dụ: về thời gian, 5 năm có thể là xa (lâu) đối với người này, nhưng 10 năm có thể là gần (mau) đối với người khác; về không gian, 5 km có thể là xa đối với người này, nhưng 10 km có thể là gần đối với người khác. Các khái niệm hoàn toàn khác nhau.

Ngoài ra, cũng có nhiều loại khoảng cách khác mà mọi người đều phải nỗ lực rút ngắn: khoảng cách về vật chất, khoảng cách về tinh thần, khoảng cách về tình cảm, khoảng cách về kiến thức, khoảng cách về nhận thức, khoảng cách về yêu thương, khoảng cách về giáo dục, khoảng cách về trình độ, khoảng cách về tuổi tác,…

Để cho loài người dễ hiểu, Chúa Giêsu đã xác định: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 4:17). Tương tự, Phúc Âm theo Thánh Mác-cô cho biết: “Thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1:15). Như vậy, Thuyết Thế Mạt (Eschatology) đang ở thì tiếp diễn, đang diễn tiến, nghĩa là chúng ta thực sự đang sống trong Thời Cánh Chung, đang ở trong “khoảng thời gian” mà chính Chúa Giêsu đã đề cập.

Nước Trời đã đến gần, ai muốn đến gần Nước Trời thì phải sám hối và tin vào Tin Mừng – tức là tin vào Đức Giêsu Kitô, Đấng nhập thể và nhập thế. Người đã được rửa tội là người được tham dự vào Nước Trời, nhưng còn ở thời gian nên còn phải sám hối, sám hối không ngừng, sám hối suốt đời. Đấng Thiên Sai đến thế gian để các tội nhân chúng ta được ơn giải thoát: “Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi” (Is 9:1).

Đối với thế gian, được ra khỏi nhà tù là niềm hạnh phúc, được trắng án còn hạnh phúc hơn. Thế thì không thể diễn tả nổi niềm hạnh phúc của những người được giải thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi. Họ là ai? Là dân Israel, và cũng là chính chúng ta. Ngôn sứ Isaia cho biết: “Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ, đã tăng thêm nỗi vui mừng. Họ mừng vui trước nhan Ngài như thiên hạ mừng vui trong mùa gặt, như người ta hỷ hoan khi chia nhau chiến lợi phẩm” (Is 9:2).

Tại sao người ta lại vui mừng hoan hỷ như vậy? Cách họ thoát thân kỳ diệu do chính Thiên Chúa hành động: “Vì cái ách đè lên cổ dân, cây gậy đập xuống vai họ, và ngọn roi của kẻ hà hiếp, Ngài đều bẻ gãy như trong ngày chiến thắng quân Mađian. Vì mọi giầy lính nện xuống rần rần và mọi áo choàng đẫm máu sẽ bị đem thiêu, làm mồi cho lửa” (Is 9:3-4). Công lý đã được đòi lại, sự thật đã tỏ tường.

Giữa con người với nhau cũng có những “khoảng cách” khác nhau – cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Nề đời thường, Kinh Thánh nhận định: Chính nhân cầm quyền, dân mừng rỡ. Ác nhân cai trị, dân oán than” (Cn 29:2). Hôn quân dân khổ, minh quân dân nhờ. Nói về đạo giáo, Kinh Thánh nhận định: “Sứ giả gian manh chỉ gây nên tai họa, sứ giả trung tín là phương thuốc chữa lành” (Cn 13:17). Và còn hơn thế nữa, Chúa Giêsu đã nói rất rõ ràng: “Anh em hãy coi chừng các ngôn sứ giả, họ đội lốt chiên mà đến với anh em; nhưng bên trong, họ là sói dữ tham mồi” (Mt 7:15). Những câu nói xoáy vào óc khiến “nhức buốt” quá chừng! Thế nhưng, đúng như ông bà ta vẫn nói: “Nói gần, nói xa, chẳng qua nói thật”. Và Chúa Giêsu cũng đã xác định: “Sự thật sẽ giải thoát quý vị” (Ga 8:32).

Sự thật đó chính là Thiên Chúa, Ngài cũng chính là Ánh Sáng và Ơn Cứu Độ. Có Chúa là có tất cả, mất Chúa là mất tất cả. Tác giả Thánh Vịnh chia sẻ cảm nghiệm: “Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi, tôi còn sợ người nào? Chúa là thành lũy bảo vệ đời tôi, tôi khiếp gì ai nữa?” (Tv 27:1).

Vô tri bất mộ. Biết rồi thì không thể không yêu mến. Vì yêu mến mà người ta khao khát không ngừng: “Một điều tôi kiếm tôi xin, là luôn được ở trong đền Chúa tôi mọi ngày trong suốt cuộc đời, để chiêm ngưỡng Chúa tuyệt vời cao sang, ngắm xem thánh điện huy hoàng” (Tv 27:4). Ước mong đó không phải là ảo vọng, mơ hồ hoặc tự đánh lừa mình, mà là sự thật minh nhiên và chắc chắn: “Tôi vững vàng tin tưởng sẽ được thấy ân lộc Chúa ban trong cõi đất dành cho kẻ sống. Hãy cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào! Hãy cậy trông vào Chúa” (Tv 27:13-14).

Tin thì phải thể hiện niềm tin bằng hành động, chứ không thể nói suông. Thánh Phaolô dẫn chứng cụ thể: “Thưa anh em, nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tôi khuyên tất cả anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói, và đừng để có sự chia rẽ giữa anh em, nhưng hãy sống hoà thuận, một lòng một ý với nhau. Thật vậy, thưa anh em, người nhà của bà Khơlôe cho tôi hay tin có chuyện bè phái giữa anh em” (1 Cr 1:10-11). Có lẽ tình trạng đó cũng đã và đang xảy ra thường xuyên tại các cộng đoàn và hội đoàn ngày nay. Bề ngoài nhìn có vẻ “tâm đầu ý hợp”, nhưng bên trong là những “khoảng cách” sâu thẳm, với những “lời xì xầm” kèm theo những cái liếc mắt sắc bén hơn lưỡi lam!

Cộng đoàn Côrintô thời Thánh Phaolô đã có những luận điệu so kè, bè phái. Thánh Phaolô dẫn chứng: “Tôi muốn nói là trong anh em có những luận điệu như: Tôi thuộc về ông Phaolô, tôi thuộc về ông Apôlô, tôi thuộc về ông Kêpha, tôi thuộc về Đức Kitô. Thế ra Đức Kitô đã bị chia năm xẻ bảy rồi ư? Có phải Phaolô đã chịu đóng đinh vào khổ giá vì anh em chăng? Hay anh em đã chịu phép rửa nhân danh Phaolô sao?” (1 Cr 1:12-13). Ngày nay cũng có dạng tương tự, như người Việt có cách nói: “Thấy sang bắt quàng làm họ” hoặc “Cáo mượn oai hổ”.

Cuối cùng, ông Phaolô xác định: “Đức Kitô đã chẳng sai tôi đi làm phép rửa, nhưng sai tôi đi rao giảng Tin Mừng, và rao giảng không phải bằng lời lẽ khôn khéo, để thập giá Đức Kitô khỏi trở nên vô hiệu” (1 Cr 1:17). Nhiệm vụ làm nhân chứng của Tin Mừng và Đức Kitô không của riêng ai. Bất cứ ai đã lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy (Phép Rửa) đều được Thiên Chúa trao ba thiên chức: Vương giả (Vương đế), Tư tế và Tiên tri (Ngôn sứ).

[Xin mở ngoặc: Để dễ nhớ, chúng ta có thể thay danh từ Vương đế là Thiên tử, vì vua chúa xưa được coi là Thiên tử. Như vậy chúng ta có 6 T để mô tả ba thiên chức: Thiên tử, Tư tế và Tiên tri].

Trình thuật Mt 4:12-23 cho biết rằng khi Đức Giêsu nghe tin ông Gioan đã bị nộp, Người lánh qua miền Galilê. Sau đó Người bỏ Nadarét, đến ở Caphácnaum, một thành ven biển hồ Galilê, thuộc địa hạt Dơvulun và Náptali, để ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia nói: “Này đất Dơvulun, và đất Náptali, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Giođan, hỡi Galilê, miền đất của dân ngoại! Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi”. Giữa bóng tối và ánh sáng có một “khoảng cách bí ẩn”, một “ranh giới” đặc biệt, người ta không thể “thấy” được nếu không có niềm tin vào Đức Giêsu Kitô.

Thánh Mátthêu cho biết thêm rằng từ lúc đó, Đức Giêsu bắt đầu rao giảng và nói: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần”. Sau khi chịu Phép Rửa, sứ vụ của Chúa Giêsu bắt đầu công khai bằng một lời cảnh báo ngắn gọn mà thâm thúy, xác định với chúng ta rằng “khoảng cách” giữa Nước Trời và chúng ta đã gần rồi, nghĩa là không còn xa nữa.

Hôm đó, khi đang đi dọc theo biển hồ Galilê, Chúa Giêsu thấy hai anh em kia là ông Simôn – cũng gọi là Phêrô, và người anh là ông Anrê, đang quăng chài xuống biển, vì các ông làm nghề đánh cá. Ngài bảo các ông: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá”. Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Ngài.

Đi một quãng nữa, Ngài thấy hai anh em khác là Giacôbê và Gioan – hai người con của ông Dêbêđê. Họ đang cùng với cha là ông Dêbêđê vá lưới ở trong thuyền, và Ngài gọi các ông. Lập tức, các ông bỏ thuyền và người cha lại mà theo Ngài.

Đó là bốn môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu. Họ có điểm chung: Mau mắn và dứt khoát. Đó là động thái tích cực mà chúng ta cần áp dụng trong cuộc sống hằng ngày. Họ là những người đầu tiên cộng tác với Chúa Giêsu trong việc rút ngắn “khoảng cách” giữa nhân loài với Nước Trời. Những người càng cố gắng hoàn thiện để nên giống Đức Kitô thì càng đến gần Nước Trời hơn. Nước Trời đã đến gần, Chúa Giêsu đã tích cực rút ngắn khoảng cách cho chúng ta, nhưng chúng ta vẫn phải chủ động rút ngắn khoảng cách đó để càng gần Nước Trời hơn nữa.

Cuối cùng, Thánh Mátthêu cho biết: “Đức Giêsu đi khắp miền Galilê, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân”. Chúa Giêsu nhập thể và nhập thế, sống bình thường như chúng ta – trừ tội lỗi. Ngài không muốn có khoảng cách nào giữa Ngài và chúng ta. Còn chúng ta đối với Ngài và tha nhân thế nào?

Lạy Thiên Chúa, xin giúp con biết xác định khoảng cách nội tâm để khả dĩ nhận biết Ngài và nhận biết chính con. Xin giúp con mau mắn và dứt khoát vững bước đến với Ngài và đến với tha nhân bằng cả con người của con. Xin cho mọi khoảng cách đều được rút ngắn để mọi người gần gũi nhau hơn. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU

]]>
Hãy hối cải, vì nước Trời đã gần đến http://lamhong.org/hay-hoi-cai-vi-nuoc-troi-da-gan-den/ Fri, 20 Jan 2017 00:26:03 +0000 http://lamhong.org/?p=26476 Hãy hối cải, vì nước Trời đã gần đến

Suy niệm Chúa nhật III thường niên – Năm A

(Mt 12, 12-23 )

Bước vào Chúa nhật thứ III thường niên, chúng ta thấy Chúa Giêsu sau khi chịu phép rửa tại sông Giorđan, được Gioan giới thiệu cho mọi người biết Người là : “Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian ” (Ga 1, 29). Điều các ngôn sứ đã báo trước nay được thực hiện : “Tại Galilêa các dân tộc và dân chúng thấy một ánh sáng vĩ đại” (Is 9, 1-4  (Hr 8, 23b – 9, 3). Ánh sáng vĩ đại ấy là ai nếu không phải là Chúa Giêsu. Thật thế, Chúa Giêsu xuất hiện giữa dân chúng, như ánh bình minh rạng ngời buổi sáng, xua tan bóng tối đêm đen. Dân chúng thấy Ngài như thấy ánh sáng huy hoàng… xuất hiện cho người ngồi trong bóng tối sự chết (x.Mt 12, 16), ánh sáng ấy nay tỏ rạng công khai khi rao giảng : “Hãy hối cải, vì nước Trời đã gần đến” (Mt 12, 17).

Ánh sáng ấy là Chúa Giêsu

Matthêu giải thích, Chúa Giêsu “rời bỏ thành Nadarét, đến ở miền duyên hải, thành Capharnaum, giáp ranh đất Giabulon và Nepthali“. Với địa danh chính xác như thế, nhưng mục đích của tác giả không phải là cung cấp cho chúng ta những chỉ dẫn du lịch. Ý tưởng thần học của Matthêu được giải thích ngay : “Để ứng nghiệm lời đã phán bởi miệng tiên tri Isaia” (Bài đọc I).

Ứng nghiệm điều gì? Giabulon và Nepthali là hai vùng thuộc miền Bắc lúc ấy đang bị sát nhập vào vương quốc Asyri. Thật là hổ người khi nhớ lại quá thất bại và bị đuổi ra ngoài. Tuy nhiên, vị tiên tri với niềm tin vững mạnh đã tuyên bố : “Dân ngồi trong tối tăm đã thấy ánh sáng huy hoàng“. Nói cách khác, Isaia muốn khơi lên niềm hy vọng nơi những người tin cậy Chúa, Đấng giải thoát họ, nên ông không ngần ngại nói về ơn cứu rỗi. Đó là sức mạnh của Lời Chúa, Lời thực hiện những gì đã tuyên bố, Isaia gợi lên niềm vui đến từ đức tin : “Dân chúng vui mừng trước nhan Chúa như nhà nông vui mừng trong mùa gặt“. Thánh Vịnh một lần nữa vang lời động viên : “Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh. Hãy chờ đợi Chúa, hãy sống can trường, hãy phấn khởi tâm hồn và chờ đợi Chúa“. Niềm tin này khiến chúng ta vui mừng vì lời hứa của Thiên Chúa được thực hiện : “Chúa là sự sáng và là Đấng cứu độ tôi “. Sự sáng ấy nay cụ thể hóa nơi con người Đức Giêsu Kitô, thánh Matthêu xác định : Chúa Giêsu lui về Galilêa. Người rời bỏ thành Nadarét, đến ở miền duyên hải, thành Capharnaum, giáp ranh đất Giabulon và Nepthali, để ứng nghiệm lời đã phán bởi miệng tiên tri Isaia rằng: “Hỡi đất Giabulon và đất Nepthali, đường dọc theo biển, bên kia sông Giođan, Galilêa của ngoại bang! Dân ngồi trong tối tăm đã thấy ánh sáng huy hoàng; ánh sáng đã xuất hiện cho người ngồi trong bóng sự chết“.

Bước theo Chúa Giêsu cần phải hối cải

Ánh bình minh đã ló rạng, từ trên cao chiếu soi dân ngồi trong bóng tối là chính Chúa Giêsu Kitô. Ai bước vào trong ánh sáng ấy cần phải : “Hối cải” nghĩa là đi từ bóng tối ra ánh sáng, từ tội lỗi sang đời sống là con cái Chúa, từ tuyệt vọng đến hy vọng, từ chán nản đến vui mừng. Và Chúa muốn ánh sáng ấy chiếu soi mọi người; nên Chúa đã chọn các môn đệ như những người phụ tá.

Khi Chúa Giêsu gọi các môn đệ của mình “Hối cải“. Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta rằng, dù thuộc về Phaolô, Phêrô hay Apôlô cũng chỉ có một Đức Kitô. Mọi con mắt phải hướng về Ngài, chính Ngài cứu chuộc chúng ta. Vì thế, khi gọi các môn đệ, là để các ông trở nên những chứng nhân của Tin Mừng, nên thánh Phaolô có thể nói : “Đức Kitô không sai tôi đi rửa tội, mà là đi rao giảng Tin Mừng, không phải bằng lời nói khôn khéo, kẻo thập giá của Đức Kitô ra hư không“. Phaolô được chọn, để loan báo một Đấng Cứu Thế bị đóng đinh cho thế gian.

Ngày nay Chúa cũng mời gọi chúng ta mang vào thế giới sứ điệp sự thật và tình thương của Ngài. Chúng ta hãy sẵn sàng tham gia vào sứ mạng này và nhất là cầu nguyện xin Chúa đừng để những chia rẽ và tranh chấp giữa các tín hữu Kitô làm lu mờ khả năng chiếu tỏa của Tin Mừng.

Hối cải để hiệp nhất

Lời Chúa mời gọi chúng ta : “Hãy hối cải, vì nước Trời đã gần đến“, vẫn luôn có tính chất thời sự của Tin Mừng. Sự quyết tâm hoán cải, trở về cùng Chúa Kitô là con đường dẫn đưa Giáo Hội đến sự hiệp thông hữu hình trọn vẹn vào thời kỳ Thiên Chúa thiết định. Các cuộc gặp gỡ đại kết trong thời gian gần đây gia tăng trên thế giới là một dấu chỉ chứng tỏ điều đó.

Trước giờ Kinh Truyền Tin trưa Chúa nhật 23/1/2011, Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI đưa ra lời kêu gọi sau đây : “Ngày nay cũng vậy, để trở thành dấu chỉ và phương thế kết hiệp sâu xa với Thiên Chúa trong thế giới, các tín hữu Kitô chúng ta phải xây dựng cuộc sống trên 4 cột trụ, đó là: cuộc sống trên nền tảng đức tin của các Tông Ðồ được chuyển lại trong Truyền Thống sinh động của Giáo Hội, tình hiệp thông huynh đệ, Thánh Thể và kinh nguyện. Có thế, Giáo Hội mới được kết hiệp bền vững với Chúa Kitô và chu toàn sứ mạng của mình, dù có những chia rẽ như thánh Phaolô Tông Ðồ nói đến : “Hỡi anh em, tôi khuyên nhủ anh em tất cả hãy đồng tâm hiệp ý trong lời nói, để không có sự chia rẽ nơi anh em, nhưng hãy kết hiệp trọn vẹn trong tư tưởng và cảm thức” (1 Cr 1,10). Thực ra Thánh Tông Đồ đã biết trong cộng đoàn Kitô ở Côrintô, đã nảy sinh những bất thuận và chia rẽ; vì vậy, ngài nghiêm nghị viết thêm rằng: “Phải chăng Chúa Kitô bị chia rẽ sao?” (1,13). Ngài quả quyết mọi chia rẽ trong Giáo hội là làm xúc phạm đến Chúa Kitô, Thủ Lãnh duy nhất và là Chúa, chúng ta luôn luôn có thể tái hiệp nhất, nhờ sức mạnh vô tận của ơn thánh Chúa.

Theo giáo huấn của thánh Phaolô, chúng ta được mời gọi loại bỏ gương mù chia rẽ nơi chúng ta để mang sứ điệp của Chúa Kitô Phục Sinh cho tất cả mọi người. Chúng ta hãy cầu nguyện xin Chúa cho sớm đến ngày Giáo Hội được hoàn toàn hiệp nhất. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

]]>
Thông điệp của mùa Xuân http://lamhong.org/thong-diep-cua-mua-xuan/ Thu, 19 Jan 2017 09:53:22 +0000 http://lamhong.org/?p=26473 Mùa xuân Đinh Dậu đang về. Vẫn biết rằng, đông qua thì xuân tới, mà lòng người vẫn thấy xốn xang, khi những tín hiệu đầu tiên của mùa xuân xuất hiện. Thì ra, mùa xuân không chỉ là một khoảnh khắc thời gian tiếp nối xoay vần, mà còn là thời điểm mang nhiều ý nghĩa sâu sắc đối với cuộc sống con người. Tiết trời, thiên nhiên, lòng người đều như muốn gửi đến với chúng ta những thông điệp có ý nghĩa đối với cuộc sống hằng ngày.

Mùa xuân đến mời gọi chúng ta canh tân đổi mới. Trong suốt mùa đông, thời tiết u ám, giá lạnh. Khi mùa xuân đến, vũ trụ thiên nhiên như bừng tỉnh và khoác trên mình một chiếc áo mới, huy hoàng lộng lẫy. Mặt trời sau những ngày vắng bóng, nay trở lại sưởi ấm lòng người, chiếu soi vũ trụ. Nếu tiết đông là biểu tượng của sự chết, thì mùa xuân là hình ảnh của sự sống. Cùng với muôn loại cỏ cây, chúng ta được mời gọi canh tân cuộc đời, sang một ngã rẽ mới. Đoạn tuyệt với mùa đông, cũng là đoạn tuyệt với lối sống cũ, còn vương nhiều khiếm khuyết, để vươn tới một tương lai tươi sáng huy hoàng hơn. Bước sang xuân mới, người ta khép lại quá khứ, để sống cho hiện tại và hướng về tương lai với những dự phóng mới. Lời mời gọi canh tân là một trong những sứ điệp quan trọng của Tin Mừng. Chúa Giêsu đã khởi đầu sứ vụ bằng lời gọi sám hối vì “Nước Trời đã đến gần” (x. Mc 1,15). Sám hối canh tân luôn gắn liền với đời sống Kitô hữu, bởi con người sống giữa trần gian luôn bị giằng co giữa nhiều khuynh hướng. Có những khuynh hướng tốt đưa họ hướng thượng để gặp gỡ Đấng Tối cao, nhưng cũng có những lôi kéo làm cho con người chìm trong biển đam mê sa đọa. Giữa hai ngả đường, người khôn ngoan chọn cho mình hướng đi đem lại bình an và thăng tiến; người thiển cận lại chỉ chú ý đến những niềm vui hào nhoáng nhất thời. Mùa xuân gửi đến cho chúng ta thông điệp: hãy đổi mới cuộc đời và hãy khôn ngoan chọn lựa cho mình một hướng đi. Người tin Chúa nhận ra nơi Đức Giêsu là sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Người là Đường, là Sự thật và là Sự sống. Ai tin nơi Người sẽ tìm thấy hạnh phúc và niềm vui. Nếu người tín hữu thành tâm sám hối, là vì họ tin vào lòng thương xót của Thiên Chúa. Ngài sẵn sàng tha thứ những lỗi lầm, dù nghiêm trọng đến đâu chăng nữa, bởi Ngài là Cha nhân hậu. Thiên Chúa vui mừng khi một tội nhân từ bỏ tội lỗi. Cả triều thần thiên quốc cũng chung vui niềm vui ấy (x. Lc 15,7). Nếu chúng ta luôn sống trong tinh thần canh tân đổi mới, cuộc đời của chúng ta sẽ trở nên thánh thiện vẹn toàn, vì cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời, nhờ đó, tâm hồn chúng ta sẽ thư thái và bình an.

Những mầm non mới nhú của mùa xuân mang đến cho chúng ta thông điệp hy vọng. Ở các xứ lạnh, cây cối khẳng khiu dường như đã chết hẳn trong tiết lạnh của mùa đông, nhưng khi mùa xuân về, từ những thân cây tiêu điều ấy, lại trỗi dậy những tín hiệu của sự sống. Cuộc sống không phải lúc nào cũng êm trôi, nhưng luôn có những khó khăn thử thách. Có những người can đảm trỗi dậy sau những vấp ngã; nhưng cũng có những người bi quan chán nản buông trôi theo dòng sông định mệnh. “Lửa thử vàng, gian nan thử đức”, mùa xuân gọi mời chúng ta hãy có cái nhìn lạc quan về cuộc sống, để vươn tới tương lai. Quả vậy, phần lớn những vĩ nhân và những người thành đạt trong cuộc sống, là những người đã thất bại nhưng không chùn bước, đã vấp ngã nhưng không bi quan. Cùng với nỗ lực phấn đấu của bản thân, người tín hữu còn tin vào ơn phù trợ của Thiên Chúa. Ngài luôn che chở giữ gìn và chúc lành cho những ai trông cậy Ngài. Chúa Giêsu đã trấn an các môn đệ đang kinh hoàng lo lắng: “Thày đây,đừng sợ!” (Mc 6,50). Chúa cũng hứa: Ai xin thì sẽ được, ai tìm thì sẽ thấy và ai gõ cửa thì sẽ mở cho. Tác giả Helen Keller đã viết: “Hãy quay về hướng mặt trời, và bạn sẽ không thấy bóng tối”. “Quay về hướng mặt trời” chính là nhìn cuộc đời một cách lạc quan. Hơn nữa, mặt trời là chính Đức Kitô, Đấng đang soi chiếu và hướng dẫn chúng ta. Ai tin tưởng phó thác nơi Người sẽ không phải thất vọng.

Mùa xuân còn mang đến cho chúng ta thông điệp yêu thương. Có dịp chứng kiến bầu khí xuân ở Việt Nam, những người bạn nước ngoài rất ngạc nhiên và thán phục trước nét đẹp văn hóa của ngày tết cổ truyền. Ngày tết có ý nghĩa thiêng liêng tuyệt vời đối với người dân Việt. Những người đi làm ăn xa, dù nghèo nàn cũng cố gắng trở về sum họp hội tụ với gia đình. Sau những tháng ngày làm việc vất vả, về với người thân trong những ngày tết đến xuân về, họ quên hết mọi nhọc nhằn. Tình yêu thương hài hòa cũng được thể hiện qua thói quen kiêng cữ không làm người khác buồn trong ba ngày tết. Dịp tết đến xuân về cũng là cơ hội để hàn gắn những rạn nứt mâu thuẫn giữa các thành viên trong một dòng họ, một gia đình, hay lối xóm, để rồi, khi tiễn năm cũ, mọi người cũng “tiễn” luôn những xui xẻo, mâu thuẫn hận thù, để cùng sang một trang mới với mùa xuân. Gặp nhau trong những ngày xuân mới, mọi người đều trở nên thân thiện, cầu chúc cho những điều tốt lành và mong cho mọi người hạnh phúc. Tình yêu thương không chỉ dừng lại nơi những người còn sống, nhưng ngày cuối năm và đầu xuân mới cũng là những ngày thể hiện lòng hiếu thảo tri ân đối với những bậc sinh thành và những người đã khuất. Vì vậy, trước tết, các phần mộ của tổ tiên đều được quét dọn sạch sẽ, được trưng bày hoa nến. Với tấm lòng thành kính tri ân, người ta tin rằng ông bà cha mẹ và những người thân đã khuất luôn hiện diện với con cháu, và cùng về “ăn tết” với họ.

Nếu tinh thần của những ngày đầu xuân được trân trọng và phát huy trong suốt cả năm, thì cuộc sống của chúng ta sẽ rất tốt đẹp. Những thông điệp của mùa xuân được gửi đến chúng ta như lời mời gọi hãy làm cho tinh thần của mùa xuân lan tỏa hằng ngày và khắp nơi trong cuộc sống. Cho dù ngày mai còn nhiều khó khăn thử thách, bạn và tôi, hãy đón mùa xuân mới trong tâm tình phó thác cậy trông vào Đấng Tối Cao, vì biết rằng, không có gì mà Ngài không làm được (Lc 1,37).

Với tâm tình trân trọng quý mến, xin kính chúc quý Độc Giả một mùa xuân an lành, tràn đầy tình Chúa, thấm đượm tình người, ngàn muôn phúc lộc và may mắn bình an.

Xuân Đinh Dậu 2017

GM. Giuse Vũ Văn Thiên

(Nguồn: WHĐ)

]]>
Chiên Thiên Chúa (Chúa Nhật II TN, năm A) http://lamhong.org/chien-thien-chua-chua-nhat-ii-tn-nam-a/ Fri, 13 Jan 2017 14:06:33 +0000 http://lamhong.org/?p=26435 Có nhiều Tôn Danh được dùng để nói về Đức Giêsu Kitô, nhưng có thể nói chắc chắn rằng “nickname” được sử dụng nhiều nhất là Tôn Danh “Chiên Thiên Chúa” (Con Chiên của Thiên Chúa). Thật vậy, Tôn Danh “Chiên Thiên Chúa” được Kinh Thánh Tân Ước đề cập 31 lần – sách Khải Huyền đề cập 29 lần, và Tin Mừng theo Thánh Gioan đề cập 2 lần (với cách nói “Con Chiên”).

Thông thường, “con chiên” cũng là “con cừu” (có khi gọi là “con trừu”), loài động vật có vú. Thế nhưng tại sao người ta lại gọi là “Chiên Thiên Chúa” mà không gọi là “Cừu Thiên Chúa”? Có gì khác nhau chăng? Thưa ngay rằng “có”. Vì thế, chúng ta cần phân biệt sự khác nhau giữa “con chiên” và “con cừu”, nhất là đối với người Việt Nam, vì loài động vật này không phổ biến ở đất nước chúng ta.

Chúng ta biết rằng danh từ “cừu” dùng để chỉ chung về loài động vật này, nhưng “cừu” thường dùng để nói về những con lớn hơn một năm. Còn danh từ “chiên” dùng để nói về những con nhỏ hơn một năm. Nghĩa là người ta nói “thịt chiên” để chỉ loại thịt của những con “cừu non”, nhưng người ta nói “thịt cừu” để chỉ loại thịt của những con “cừu già”.

Người Anh dùng vài từ ngữ khác nhau để nói về giống cừu: danh từ “sheep” nói chung về loài cừu, danh từ “lamb” chỉ cừu non (dưới một năm), danh từ “ram” chỉ cừu đực, danh từ “ewes” (hoặc “yoe”) chỉ cừu cái. Do đó, chúng ta gọi là Chiên Thiên Chúa, Anh ngữ là Lamb of God (dùng chữ “lamb” chứ không dùng các chữ khác).

Chiên Thiên Chúa là Đức Giêsu Kitô, Cựu Ước đã đề cập bằng danh xưng Người Tôi Trung. Qua ngôn sứ Isaia, trong bài ca Người Tôi Trung II, Thiên Chúa đã phán: “Hỡi Israel, ngươi là tôi trung của Ta. Ta sẽ dùng ngươi để biểu lộ vinh quang” (Is 49:3). Thiên Chúa đã tiền định và có kế hoạch riêng cho mỗi người, không ai giống ai. Đó là điều quá đỗi kỳ diệu mà chúng ta không thể nào hiểu nổi.

Thật vậy, ngôn sứ Isaia cho biết sự quan phòng và tiền định của Thiên Chúa: “Giờ đây Đức Chúa lại lên tiếng. Người là Đấng nhào nặn ra tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ để tôi trở thành người tôi trung, đem nhà Gia-cóp về cho Người và quy tụ dân Israel chung quanh Người. Thế nên tôi được Đức Chúa trân trọng, và Thiên Chúa tôi thờ là sức mạnh của tôi” (Is 49:5). Thật hạnh phúc cho ai vâng theo Ý Chúa. Mỗi chúng ta đều được Thiên Chúa tuyển chọn và đặt vào một vị trí nhất định theo Ý Ngài, vấn đề là chúng ta có làm theo Ý Ngài hay không.

Nếu chúng ta làm tốt công việc Ngài giao phó, Ngài sẽ giao thêm vì thấy chúng ta có khả năng. Có rồi sẽ được cho thêm là thế (x. Mt 13:12; Mt 25:29; Mc 4:25; Lc 8:18; Lc 19:26). Quả thật, Người Tôi Trung làm tốt nên Ngài muốn họ làm thêm nữa: “Nếu ngươi chỉ là tôi trung của Ta để tái lập các chi tộc Gia-cóp, để dẫn đưa các người Israel sống sót trở về, thì vẫn còn quá ít. Vì vậy, này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất” (Is 49:6).

Người tôi trung là người vâng lời tuyệt đối, không phải vì miễn cưỡng mà vì tôn trọng và yêu mến. Yêu là muốn làm vừa lòng người mình yêu (vị tha), chứ không vì mình (vị kỷ). Tình yêu đôi lứa thế gian thường là vị kỷ nhiều hơn vị tha. Mọi nơi và mọi lúc, trong bất cứ hoàn cảnh nào, người tôi trung luôn một lòng vì Chúa: “Tôi đã hết lòng trông đợi Chúa, Người nghiêng mình xuống và nghe tiếng tôi kêu” (Tv 40:2).

Yêu và được yêu là hạnh phúc nhất. Vì thế, người ta không thể không im hơi lặng tiếng, sẵn sàng làm chứng về Đấng Tình Yêu để người khác cũng nhận biết Ngài: “Chúa cho miệng tôi hát bài ca mới, bài ca tụng Thiên Chúa chúng ta. Thấy thế, nhiều người sẽ kính sợ và tin tưởng vào Chúa” (Tv 40:4).

Thiên Chúa có mọi sự, Ngài không cần gì ở chúng ta, mà Ngài chỉ muốn chúng ta chân thành yêu kính Ngài hết linh hồn và hết trí khôn. Cảm nghiệm được như vậy, tác giả Thánh Vịnh thân thưa: “Chúa chẳng thích gì tế phẩm và lễ vật, nhưng đã mở tai con; lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa không đòi, con liền thưa: ‘Này con xin đến!’. Trong sách có lời chép về con rằng: con THÍCH LÀM theo thánh ý, và ẤP Ủ luật Chúa trong lòng, lạy Thiên Chúa của con” (Tv 40:7-9). Đó cũng chính là điều nói về Chiên Thiên Chúa – Đức Giêsu Kitô.

Con chiên là con vật hiền lành, dù bị xén lông rất đau đớn cũng không kêu than hoặc giãy giụa phản đối. Con Chiên của Thiên Chúa cũng vậy. Một lòng trung tín và tuân phục, Người Tôi Trung chân thành bày tỏ khúc nhôi: “Đức công chính của Ngài, con loan truyền giữa lòng đại hội; lạy Chúa, Ngài từng biết: con đâu có ngậm miệng làm thinh” (Tv 40:10). Thật đẹp thay sự quyết tâm và lòng can đảm dành riêng cho Thiên Chúa, và phúc thay cho ai hành động như vậy!

Xưa nay chúng ta đã quen với một câu nói ngắn gọn và phổ biến trong cộng đồng dân Chúa: “Vâng lời quý [trọng] hơn của lễ” (x. 1 Sm 15:22; Tv 50:8-9). Một cách nói giản dị và dễ hiểu. Và đó cũng chính là chân lý muôn đời đối với những ai tin vào Thiên Chúa.

Từ một Saolê [Saolô hoặc Saun] hung dữ trở thành một Phaolô nhiệt thành, ông bộc bạch với dân Côrintô: “Tôi là Phaolô, bởi ý Thiên Chúa được gọi làm Tông Đồ của Đức Kitô Giêsu, và ông Xốt-thê-nê là người anh em của chúng tôi, kính gửi Hội Thánh của Thiên Chúa ở Côrintô, những người đã được hiến thánh trong Đức Kitô Giêsu, được kêu gọi làm dân thánh, cùng với tất cả những ai ở bất cứ nơi nào kêu cầu danh Chúa của chúng ta, Đức Giêsu Kitô, là Chúa của họ và của chúng ta. Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, và xin Chúa Giêsu Kitô ban cho anh em ân sủng và bình an” (1 Cr 1:1-3).

Thánh Phaolô xác định rằng dân Côrintô là những người “được thánh hiến” và là “dân thánh” của Thiên Chúa, và chúng ta ngày nay cũng vậy, cũng là những “thánh nhân” trong Giáo Hội của Đức Giêsu Kitô. Như vậy, bổn phận của chúng ta là phải chân thành mến Chúa, yêu người, cùng với trách nhiệm là phải sống sao cho xứng với Đức Kitô, Đấng đã yêu thương và tin tưởng chúng ta, thế nên Ngài đã muốn chúng ta là những chứng nhân của Ngài giữa thế gian này.

Chứng nhân “gạch nối” giữa Cựu Ước và Tân Ước là ột “dị nhân” nổi tiếng đặc biệt: ông Gioan Tẩy Giả (Tiền Hô). Sau ngày ông làm phép rửa cho Đức Giêsu, lúc thấy Đức Giêsu tiến về phía mình, ông Gioan liền nói với những người có mặt ở đó: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian. Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi. Tôi đã không biết Người, nhưng để Người được tỏ ra cho dân Israel, tôi đến làm phép rửa trong nước” (Ga 1:29-31).

Ông Gioan đã mục sở thị sự việc lạ lùng tại sông Gio-đan, ông hùng hồn làm chứng về Đức Giêsu Kitô: “Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người. Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: ‘Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần’. Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn” (Ga 1:32-34).

Lời chứng của ông Gioan là sự thật, và thật hạnh phúc cho chúng ta vì chúng ta đã và đang tin vào chính Đấng mà ông Gioan đã làm chứng từ 20 thế kỷ trước.

Chiên Thiên Chúa vô cùng quan trọng và cao cả, nhưng Ngài lại tự hóa ra “không” chỉ vì yêu thương chúng ta. Người ta đã từng thấy cách sống lạ của Gioan Tẩy Giả, đến nỗi người ta đã tưởng ông là Đấng Mêsia. Nhưng Đức Giêsu còn có cách sống kỳ lạ hơn Gioan Tẩy Giả, và tất nhiên cách sống đó cũng khó áp dụng hơn. Nhưng khó không có nghĩa là không làm được. Cố gắng thì sẽ được, bởi vì chúng ta không nỗ lực một mình, mà có Thiên Chúa trợ lực.

Cách sống của Đức Giêsu khác người từ Belem tới Canvê, chính Ngài đã xác định: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20:28; Mc 10:45). Còn hơn thế nữa, vì một chỗ tựa đầu mà Ngài cũng không có (x. Mt 8:20; Lc 9:58). Còn chúng ta thì sao?

Lạy Thiên Chúa, xin giúp con biết làm chứng về Chiên Thiên Chúa theo khả năng và hoàn cảnh sống của con, xin giúp con hành động mọi sự vì vinh danh Ngài chứ không vì một thứ gì khác. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU

]]>
Đức Giêsu là Chiên Cứu Độ của Thiên Chúa http://lamhong.org/duc-giesu-la-chien-cuu-do-cua-thien-chua/ Fri, 13 Jan 2017 14:00:22 +0000 http://lamhong.org/?p=26432 HIỆP SỐNG TIN MỪNG

CHÚA NHẬT 2 TN A

Is 49,3.5-6; 1 Cr 1,1-3; Ga 1,29-34

ĐỨC GIÊSU LÀ CHIÊN CỨU ĐỘ CỦA THIÊN CHÚA

I. HỌC LỜI CHÚA

  1. TIN MỪNG: Ga 1,29-34

(29) Hôm sau, ông Gio-an thấy Đức Giê-su tiến về phía mình, liền nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian. (30) Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, vì có trước tôi. (31) Tôi đã không biết Người, nhưng để Người được tỏ ra cho dân Ít-ra-en, tôi đến làm phép rửa trong nước”. (32) Ông Gio-an còn làm chứng: “Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người. (33) Tôi không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần. (34) Tôi đã thấy nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn”.

  1. Ý CHÍNH:

Đây là lời chứng thứ hai của Gio-an Tẩy Giả về Đức Giê-su. Ông xác nhận Đức Giê-su là Con Chiên của Thiên Chúa, có sứ mệnh xóa bỏ tội trần gian. Người là Đấng mà Gioan được sai đến trước để dọn đường qua dấu chỉ Thánh Thần ngự xuống. Gio-an đã thấy Thánh Thần ngự xuống trên Đức Giê-su khi làm phép rửa cho Người tại sông Gio-đan, nên ông đã làm chứng: “Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn”.

  1. CHÚ THÍCH:

– C 29-30: + Đây là Chiên Thiên Chúa: Chiên Thiên Chúa hay Chiên Vượt Qua thời Xuất Hành (x. Xh 12,3-46). Tin Mừng Gio-an cho thấy Đức Giê-su chính là Con Chiên lễ Vượt Qua qua ba sự kiện: Một là thời gian quan Phi-la-tô xét xử Đức Giê-su vào Giờ Thứ Sáu (tức 12 giờ trưa) trong ngày lễ áp lễ Vượt Qua (x. Ga 9,14), trùng với giờ các tư tế giết chiên trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem để mừng đại lễ Vượt Qua. Hai là cành hương thảo: Người Do thái lấy một bó hương thảo, nhúng vào chậu đựng máu chiên và quét lên khung cửa nhà. Điều này giống như một tên lính đã lấy miếng bọt biển thấm giấm, buộc vào cành hương thảo đưa lên miệng Đức Giê-su nếm (x. Ga 19,29). Ba là chỉ thị của Mô-sê cấm đánh gãy xương của con Chiên bị giết trong biến cố Vượt Qua: quân lính không đánh dập ống chân của Người trên cây thập giá (x. Ga 19,34). + Về con chiên gánh tội : Trong lễ Xá Tội, người Do Thái bắt một con chiên đem đến cho Tư tế. Vị Tư Tế sẽ đọc một danh sách các thứ tội của dân và kêu gọi mọi người sám hối. Sau đó, Tư Tế đặt tay trên đầu con chiên, ngụ ý trút hết danh sách tội ấy lên đầu nó, rồi đuổi nó vào sa mạc. Người ta cử hành nghi lễ sám hối này để xin Đức Chúa xóa hết tội cho mình (x. Lv 1,4). Con chiên Vượt qua là hình bóng Đấng Cứu thế như ngôn sứ I-sai-a đã tuyên sấm: “Chính các bệnh tật của chúng tôi. Ngài đã vác. Ngài đã bị đâm vì những phản nghịch của chúng tôi. Vì tội vạ của chúng tôi, Ngài đã bị nghiền tán… Ngài đã chịu đựng, không mở miệng, như chiên con dẫn đến lò sát sinh… Thiên Chúa đã ái mộ Ngài, đã phục sinh Đấng đã làm lễ hy sinh tạ tội. Ngài đã được trường sinh bất tử(Is 53, 4-5.7.10). + Đấng xóa bỏ tội trần gian: Thay vì dùng chữ gánh tội, Tin Mừng Gio-an đã dùng chữ “xóa” theo nghĩa “làm mất đi” (x. 1 Ga 3,5). Và như vậy “xóa tội” nghĩa là giải thoát khỏi tội lỗi. Trong cuộc Vượt Qua, nhờ máu chiên được sát tế và quét lên khung cửa nhà mà các con trai đầu lòng của người Do thái khỏi bị tiêu diệt (x. Xh 12,23). Cũng vậy, nhân loại nhờ việc Đức Giê-su chịu chết sẽ được xóa bỏ tội lỗi, giống như bỏ đi gánh nặng đè trên mình họ. + Có người đến sau tôi, vì có trước tôi: Tuy về thời gian, Đức Giê-su được sinh ra sau Gio-an 6 tháng (x. Lc 1,24.26), nhưng về bản tính Thiên Chúa thì Người luôn hiện hữu cả trước khi Gio-an ra đời.

– C 31-32: + Tôi đã không biết Người: Kiểu nói “không biết” có nghĩa là Gio-an đã không nhận ra Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai. Cái “không biết” của Gio-an cũng giống như “không biết” của người Do thái trong câu “Ở giữa các ông có Đấng mà các ông không biết” (Ga 1,26). + Nhưng để Người được tỏ ra cho dân Ít-ra-en: Việc Gio-an làm phép rửa cho Đức Giê-su chính là cơ hội để Người tỏ mình là Đấng Thiên Sai cho dân Do thái. + Ông Gio-an còn làm chứng: Do những dấu chỉ “Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người”, mà Gio-an đã nhận ra thân phận của Đức Giê-su: Người thực là “Con Thiên Chúa”, là “Đấng Thiên Chúa đã tuyển chọn”. + Thánh Thần như chim bồ câu: Kiểu nói này không khẳng định Thánh Thần hiện ra dưới hình của chim bồ câu, nhưng đáp xuống trên Đức Giê-su giống như tiếng rung nhè nhẹ của loài chim ấy. + Và ngự trên Người: Việc “Thánh Thần đáp xuống như chim bồ câu và lưu lại trên Đức Giê-su” tượng trưng cho hiệu quả của việc tuôn đổ ơn Thánh Thần, là ban sự sống để thiếp lập một dân Ít-ra-en mới. Cũng vậy, trong ngày lễ Hiện Xuống, “Lưỡi Lửa” không trực tiếp tượng trưng cho Chúa Thánh Thần, nhưng tượng trưng cho việc các Tông Đồ được Thánh Thần ban cho “nói tiếng lạ” để công bố Tin Mừng khắp thế gian.

– C 33-34: + Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: Câu này được lặp lại để nhấn mạnh việc Gio-an không tự nhận biết Đức Ki-tô là Con Thiên Chúa nhưng là do chính Thiên Chúa, Đấng sai Gio-an làm phép rửa đã dạy cho ông biết. + Đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần: Làm phép rửa trong Thánh Thần là một thành ngữ ám chỉ công việc chính của Đức Giê-su là “xóa bỏ tội lỗi” bằng cách tuôn đổ ơn Thánh Thần xuống trên kẻ tin và lãnh nhận phép rửa để được tha tội (x. Ga 3,5-8). + Tôi đã thấy nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn: Gio-an xác định việc ông làm chứng “Đức Giê-su là Đấng Thiên Chúa đã tuyển chọn” là do Thiên Chúa soi sáng. “Đấng Thiên Chúa tuyển chọn” đồng nghĩa với “Con Thiên Chúa”, như lời sấm của I-sai-a: “Đây là người tôi trung Ta nâng đỡ, là người Ta tuyển chọn…” (Is 42,1). Việc Đức Giê-su được Thiên Chúa tuyển chọn gắn liền với việc Người được ban Thần Khí để chu toàn sứ mạng Thiên Sai.

  1. CÂU HỎI:

1) Nội dung lời chứng thứ hai của Gio-an Tẩy Giả về Đức Giê-su thế nào ? 2) Ba điều Tin Mừng Gio-an nêu ra chứng minh Đức Giê-su chính là con chiên cứu độ là gì ? 3) Gio-an muốn nói điều gì khi giới thiệu Đức Giê-su là “Đấng xóa bỏ tội trần gian” ? 4) Tại sao Gio-an lớn hơn Đức Giê-su 6 tháng, mà ông lại nói Người đã có trước ông ? 5) Từ “Không biết” trong câu “Tôi đã không biết Người” nghĩa là gì ? 6) “làm phép rửa trong Thánh Thần” là gì ? 7) “Đấng Thiên Chúa tuyển chọn” đồng nghĩa với “Con Thiên Chúa” trong lời sấm nào của Ngôn sứ I-sai-a ?

II. SỐNG LỜI CHÚA:

  1. LỜI CHÚA: Gio-an thấy Đức Giê-su tiến về phía mình liền nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa” (Ga 1,36).
  2. CÂU CHUYỆN:

1) ĐƯỢC CỨU SỐNG NHỜ CÁI CHẾT CỦA CON CHIÊN:

Một anh thợ nề kia đang làm việc chống dột trên mái nhà thờ GUƠ-ĐEN (Werden) nước Đức. Khi anh đang đu mình trên tường để sửa lại phần mái của Nhà thờ thì sợi dây an toàn anh mang trên mình lâu ngày bị mục, không chịu nổi sức nặng của anh nên bị đứt và anh bị rơi từ độ cao 20 mét xuống sàn nhà thờ. Nhưng rất may là bấy giờ có một con chiên đang ăn cỏ trong thửa vườn ở phía sau nhà thờ, tự nhiên lại chạy tới chỗ anh thợ đang làm việc trên cao, và anh đã ngã đè lên con chiên đáng thương kia. Anh thợ may mắn thoát chết và chỉ bị gãy xương chân, nhưng con chiên bị anh té đè lên thì lại bị chết bẹp. Về sau, để tỏ lòng biết ơn con chiên đã cứu mình, anh đã nhờ người chạm trổ một bức tượng chiên bằng đá quí. Được Cha Sở cho phép, anh làm một tượng đài mang tên “Con Chiên Cứu Độ” ngay tại nơi anh bị té để tưởng niệm con chiên đã chết cho anh được sống. Nhưng thực ra Chúa Giê-su mới là Con Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian. Người đã hy sinh chịu chết để tấy xóa tội lỗi nhân loại. Nhờ cuộc tử nạn và sự phục sinh vinh quang của Người mà mọi người chúng ta được tham phần vào cuộc chiến thắng sự chết và bước vào vinh quang phục sinh với Người.

Chúa Giêsu khử trừ tội của thế gian bằng cách gánh mọi tội lỗi của nhân loại, từ tội nguyên tổ Ađam cho đến tội của hết mọi người. Với cuộc khổ nạn và sự chết đau thương tủi nhục trên cây thập giá, Người đã đền thay tội lỗi của mọi người chúng ta.

2) CHỊU ĐAU KHỔ CÁCH OAN ỨC LÀ ĐỂ ĐỀN TỘI THAY CHO KẺ GIAN ÁC:

Một cô gái đang có người yêu, nhưng một hôm chẳng may đã bị kẻ cướp hãm hiếp có thai ngoài ý muốn. Sau đó cô còn đau khổ hơn nữa khi bị người yêu ruồng bỏ và mọi người khi dể  xa lánh. Một hôm cô đến xưng tội với đức cha Fulton Sheen. Sau khi trình bày hoàn cảnh oan ức đang gặp phải, cô đã hỏi đức cha: “Tại sao con vô tội mà lại phải chịu nỗi đau khổ oan ức như thế?” Với thái độ cảm thông, đức cha Sheen đã an ủi cô gái như sau: “Con vô tội mà phải chịu nỗi đau khổ bất công như vậy là do con chịu đền tội thay cho tên cướp đã làm hại con”.

Rồi Đức Cha Sheen nói với mọi người đang nghe ngài giảng: «Nếu chỉ vì phải gánh tội cho một người mà cô gái kia đã phải chịu đau khổ như thế, thì Chúa Giê-su khi phải gánh tội của nhân loại bằng cái chết tủi nhục trên cây thập tự, còn phải chịu đau khổ biết chừng nào! »

  1. SUY NIỆM:

1) ĐỨC GIÊ-SU LÀ CON CHIÊN LỄ VƯỢT QUA:

Câu chuyện về đại lễ Vượt Qua kể lại rằng: Khi Mô-sê được Đức Chúa sai đến gặp Pha-ra-ô nước Ai-cập để thuyết phục nhà vua trả tự do cho dân Ít-ra-en, để họ được giải thoát khỏi kiếp sống nô lệ cho người Ai-cập, vào trong sa mạc để thờ phượng Đức Chúa tại núi Si-nai nơi Mô-sê đã gặp Chúa. Lúc đầu Pha-ra-ô cương quyết từ chối. Mô-sê đã phải sử dụng cây gậy Chúa ban để lần lượt thi thố 10 phép lạ chứng minh quyền năng Đức Chúa của con cháu Gia-cóp mạnh hơn các tà thần của dân Ai-cập. Nhưng chỉ đến phép lạ thứ mười là tiêu diệt các con trai đầu lòng của người Ai-cập, thì Pha-ra-ô mới chịu khuất phục và đồng ý cho con cháu Gia-cóp ra đi. Hôm ấy, Mô-sê vâng lệnh Đức Chúa truyền cho dân Ít-ra-en mỗi nhà phải giết một con chiên đực một tuổi để ăn thịt chiên với bánh không men và rau diếp đắng. Họ phải lấy máu chiên bôi trên thành cửa nhà của họ. Đêm hôm ấy, thần sứ hủy diệt của Đức Chúa đánh phạt Ai cập bằng việc giết chết các con trai đầu lòng của dân Ai-cập, còn những nhà có bôi máu chiên trên thành cửa, thì các con trai đầu lòng của họ khỏi phải chết (x. Xh 12,3-13). Thánh Phao-lô đã nói về con chiên cứu độ đó chính là Đức Giê-su như sau: “Quả vậy, Đức Ki-tô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta. Vì thế chúng ta đừng lấy men cũ là lòng gian tà và độc ác, nhưng hãy lấy bánh không men, là lòng tinh tuyền và chân thật, mà ăn mừng Đại lễ” (1 Cr 5,7-8).

2) ĐỨC GIÊ-SU LÀ CON CHIÊN HIẾN TẾ ĐỀN TỘI:

Trong Đền Thờ hai lần sáng và chiều mỗi ngày, người ta đều giết chiên dâng lên Đức Chúa làm của lễ dâng tiến để đền tội thay cho dân (x. Xh 29,31). Khi giới thiệu Đức Giê-su là Chiên Thiên Chúa, Gio-an Tẩy Giả đã làm chứng Đức Giê-su là lễ vật mới của thời Tân Ước, được dâng tiến cho Thiên Chúa trên bàn thờ thập giá, thay thế cho lễ vật là con chiên được dâng theo Luật Mô-sê của thời Cựu Ước. Về việc thay lễ vật chiên cừu cũ bằng lễ vật mới là chiên Thiên Chúa, tác giả thư Do thái đã viết như sau: “Trước hết, Đức Ki-tô nói: Hy lễ và hiến tế, lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa đã chẳng ưa chẳng thích, mà đó chính là những thứ của lễ được dâng tiến theo Lề Luật truyền. Rồi Người nói: Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài. Thế là Người bãi bỏ các lễ tế cũ mà thiết lập lễ tế mới. Theo ý đó, chúng ta được thánh hóa nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã hiến dâng mình làm lễ tế, chỉ một lần là đủ” (Dt 10,8-10). Ngôn sứ I-sai-a đã nói tiên tri về người Tôi Tớ của Chúa, một ngày kia sẽ chịu đau khổ và chết như một con chiên như sau: “Bị ngược đãi người cam nhịn nhục, chẳng mở miệng kêu ca, như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng. Người đã bị ức hiếp, buộc tội rồi bị thủ tiêu… Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, Tôi Trung của Ta, sẽ làm cho môn đệ người nên công chính, và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ” (Is 53,7.11b;x Gr 11,19).

3) ĐỨC GIÊ-SU, CON CHIÊN KHẢI HOÀN:

Trong sách Khải Huyền, Tác giả đã áp dụng tước hiệu “Chiên Thiên Chúa” cho Đức Giê-su 28 lần. Trong đó, nhấn mạnh Con Chiên ngự trên ngai vương quyền. Là Đấng chiến thắng sự chết bằng sự phục sinh vinh quang. Con Chiên được ca ngợi như sau: “Ngài đã bị giết và đã lấy máu đào chuộc về cho Thiên Chúa muôn người thuộc mọi chi tộc và ngôn ngữ, thuộc mọi nước mọi dân. Ngài cũng làm cho họ thành một vương quốc, thành những tư tế, để phụng thờ Thiên Chúa chúng ta” (Kh 5,9-10). “Tôi thấy và tôi nghe tiếng muôn vàn thiên thần ở chung quanh ngai lớn tiếng hô: Con Chiên đã bị giết, nay xứng đáng lãnh nhận phú quý và uy quyền, khôn ngoan cùng sức mạnh, danh dự với vinh quang và muôn lời cung chúc. Amen” (Kh 5,12).

Tóm lại, tước hiệu “Chiên Thiên Chúa” gợi lên ba hình ảnh sống động về ơn cứu độ của các con chiên thời Cựu Ước như sau:

– Chúa Giê-su là Con Chiên Cứu Độ: Máu Người đổ ra trên thập tự trở thành giá chuộc muôn người, giống như máu con chiên được bôi trên thành cửa đã cứu các con trai đầu lòng của dân Do thái khỏi bị hủy diệt trong ngày Vượt Qua.

– Chúa Giê-su chính là Con Chiên Gánh tội và xóa tội trần gian, khi chịu hiến tế trên bàn thờ Thập Giá để đền thay cho tội lỗi chúng ta, giống như con chiên thanh sạch phải gánh tội và xóa tội cho toàn dân trong lễ Xá Tội của đạo Do Thái.

– Chúa Giê-su là Con Chiên Thiên Chúa đã chiến thắng sự chết bằng sự phục sinh vinh quang để ban ơn cứu độ cho nhân loại như sách Khải Huyền đã ghi nhận (x Kh 5,9-10).

 Do đó, dù Đức Giê-su có nhiều tước hiệu như : “Ánh Sáng trần gian”, “Mục Tử nhân lành”, “Bánh Hằng Sống”… nhưng trong thánh lễ Giáo Hội đã dùng tước hiệu “Chiên Thiên Chúa” trong phần hiệp lễ: “Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian…”.

4) PHẢI LÀM CHỨNG CHO CHÚA THẾ NÀO NOI GƯƠNG THÁNH GIO-AN?

– Làm chứng là giới thiệu Chúa cho tha nhân: Gio-an Tẩy Giả đã tin Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai và giới thiệu Người cho môn đệ: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây là Đấng xóa bỏ tội trần gian… Tôi đã thấy nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn”. (Ga 1,29.34).

– Làm chứng là nói về Chúa và đề cao vai trò của Người: Gio-an luôn nói về Chúa cho mọi người và làm mọi việc để giới thiệu Chúa: “Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, vì có trước tôi. Tôi đã không biết Người, nhưng để Người được tỏ ra cho dân Ít-ra-en, tôi đến làm phép rửa trong nước” (Ga 1,30-31).

– Làm chứng bằng lối sống khiêm hạ để Chúa được lớn lên còn mình nhỏ bé đi: Gio-an không buồn khi thấy dân chúng bỏ mình và lũ lượt kéo đến xin Đức Giê-su làm phép rửa cho (x. Ga 3,26). Ông đã trấn an các môn đệ đang bất bình về điều này và nói cho họ hiểu về vai trò tiền hô của mình như sau: «Chính anh em làm chứng cho Thầy là Thầy đã nói : Tôi đây không phải là Đấng Ki-tô, mà là kẻ được sai đi trước mặt Người… Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi » (Ga 3,28.30).

  1. THẢO LUẬN:

1) Tước hiệu Chiên Thiên Chúa gợi lên tình yêu, sự hy sinh và sự khải hoàn. Mỗi người chúng ta sẽ làm gì để xứng đáng nhận được ơn cứu độ mà Đức Giê-su Con Chiên Thiên Chúa đã chịu chết để xóa tội chúng ta? 2) Khi bị hiểu lầm, bị vu khống cách oan uổng, chúng ta nên làm gì để kết hiệp với sự đau khổ của Chúa Giê-su là Chiên Thiên Chúa Đấng gánh tội trần gian ?

  1. NGUYỆN CẦU:

– LẠY CHÚA GIÊ-SU. Con thật cảm động khi thấy Chúa là Đấng Thánh của Thiên Chúa, mà vì yêu thương con đã tình nguyện trở thành của lễ hiến tế để đền tội thay cho loài người và giao hòa nhân loại với Thiên Chúa, hầu chúng con được tham phần vào vinh quang phục sinh của Chúa. Mỗi lần dự lễ, xin cho chúng con biết dâng lên Chúa Cha những lời cầu nguyện, dâng các việc bác ái, sự hãm mình và những điều rủi ro trái ý… để biến chúng nên lễ vật kết hiệp với lễ vật cao trọng trên bàn thờ là Chiên Thiên Chúa tiến dâng lên Thiên Chúa. Nhờ đó chúng con sẽ được tham phần vào vinh quang phục sinh với Chúa trên thiên đàng.

– LẠY CHÚA. Xin cho chúng con noi gương thánh Gio-an để giới thiệu Chúa là Đấng Cứu Thế bằng lời nói và việc làm trước mặt mọi người chung quanh. Mỗi lần dự lễ, xin giúp chúng con dâng những lời cầu nguyện, các hy sinh vất vả, các nỗi đau khổ phải chịu cách bất công và những việc tông đồ bác ái, để kết hiệp với lễ vật là Con Chiên Thiên Chúa. Nhờ đó chúng con hy vọng sẽ được Chúa thương xóa bỏ tội lỗi và được hưởng ơn cứu độ của Chúa.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON

LM ĐAN VINH –  HHTM

]]>
Chúa Cứu Thế với công trình tạo dựng http://lamhong.org/chua-cuu-the-voi-cong-trinh-tao-dung/ Sun, 08 Jan 2017 13:58:39 +0000 http://lamhong.org/?p=26407 CHÚA CỨU THẾ
VỚI CÔNG TRÌNH TẠO DỰNG

Cứ mỗi lần mừng lễ Giáng sinh, chúng ta lại được nghe lời thiên sứ hân hoan công bố với các mục đồng :

“Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời
Bình an dưới thế cho người thiện tâm”.

Mỗi người chúng ta ai cũng muốn hưởng bình an, đó là ước vọng chính đáng xuất phát từ phẩm giá và quyền căn bản của con người. Nhưng buồn thay, chúng ta đang sống trong thời buổi mà người thiện tâm cũng không được hưởng bình an. Người ta đã tước mất sự bình an của những người lương thiện. Tôi đang nói tới tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và thực phẩm nhiễm độc tràn lan. Người xưa thường dạy con cái “ăn xem nồi, ngồi xem hướng” và tránh thói “ăn trên ngồi trốc”. Thế nhưng, với những gì đang bao trùm cuộc sống ngày hôm nay, người Việt Nam chúng ta, bên cạnh những lời khuyên mang tính xã giao lịch sự nói trên, phải chú trọng một lời khuyên đặc biệt hơn về y tế, cốt sao khỏi bị ngộ độc tức thì hoặc khỏi mang hậu họa do nhiễm độc thực phẩm. Mừng lễ Giáng Sinh trong hoàn cảnh xã hội vừa kể, tôi xin trình bày với anh chị em đề tài CHÚA CỨU THẾ VỚI CÔNG TRÌNH TẠO DỰNG.

Trước hết phải khẳng định, Chúa Cứu thế là Chủ tể muôn loài, là Đấng tạo thành vạn vật. Thánh sử Gioan dạy: “Từ nguyên thuỷ đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời vẫn ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời vẫn là Thiên Chúa… Mọi vật đều do Người làm nên, và không có Người, thì chẳng vật chi đã được tác thành trong mọi cái đã được tác thành… Người vẫn ở trong thế gian, và thế gian đã do Người tác tạo” (x. Ga 1,1-10).

Là người tín hữu, dĩ nhiên không ai đặt câu hỏi nghi vấn về những lời Tin Mừng nói trên. Điều tôi muốn dừng lại lâu hơn, là các bài đọc Lời Chúa trong dịp trọng đại này gợi hứng cho chúng ta suy tư đến những vấn đề nan giải trong cuộc sống hiện tại. Ngôn sứ Isaia mô tả về triều đại của Chúa Cứu Thế: “Sói sống chung với chiên con; beo nằm chung với dê; bò con, sư tử và chiên sẽ ở chung với nhau; con trẻ sẽ dẫn dắt các thú ấy. Bò con và gấu sẽ ăn chung một nơi, các con của chúng nằm nghỉ chung với nhau; sư tử cũng như bò đều ăn cỏ khô, trẻ con còn măng sửa sẽ vui đùa kề hang rắn lục, và trẻ con vừa thôi bú sẽ thọc tay vào hang rắn độc. Các thú dữ ấy không làm hại ai, không giết chết người nào khắp núi thánh của Ta” (x. Is 11,1-10)

Đã hẳn là con người ngày nay không ai ngây thơ hiểu theo nghĩa đen những dòng chữ này. Ai cũng biết, triều đại thái bình thịnh trị đó chỉ hoàn tất sau ngày cánh chung. Thế nhưng một điều cũng không kém hiển nhiên, nước trời đang trong giai đoạn lữ hành, loài người có trách nhiệm “vun trồng và gìn giữ” vườn thế giới (x. St 2,15), và “canh tân bộ mặt trái đất” trong Thần Khí cho đến ngày hoàn tất. Vậy mà, con người ngày nay đang tàn phá thiên nhiên cách vô tội vạ.

Đứng trước việc thiên nhiên bị bóc lột cách tồi tệ kéo theo sự biến đổi khí hậu toàn cầu mà hậu quả là thiên tai, bệnh tật không kể xiết, người tôi tớ của Thiên Chúa, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã ban hành thông điệp Laudoto Si, nêu lên tình trạng tồi tệ của sự ô nhiễm và biến đổi khí hậu (20-26), rác rưởi và văn hóa gạt bỏ (20-22), vấn đề nước uống (27-31), đánh mất sự đa dạng sinh học, suy giảm phẩm chất đời sống con người và suy thoái xã hội (43-47), bất công hoàn cầu, sự dửng dưng và phản ứng yếu ớt trước tai họa [53-59], ngài kêu gọi mọi người “săn sóc căn nhà chung” các thụ tạo.

Mở đầu thông điệp, Đức Giáo hoàng lấy lại Bài ca Tạ ơn của Thánh Phanxicô thành Assisi. Trong bài thánh ca tươi đẹp này, Ngài nhắc cho chúng ta nhớ, ngôi nhà chung của chúng ta phải được xem như người chị của chúng ta, mà chúng ta được chia sẻ cuộc sống, và như người mẹ ôm lấy chúng ta. (1)

Đáng buồn thay, “người chị, người mẹ này đang kêu gào vì sự hủy hoại do chúng ta, vì việc sử dụng vô trách nhiệm và bóc lột các tài nguyên. Vì cứ đinh ninh rằng, chúng ta chính là chủ nhân và sỡ hữu chủ, nên được quyền tận dụng mặc ý… Vì thế, giữa những người nghèo bị bỏ rơi và bị đối xử tàn tệ nhất, chúng ta sẽ thấy trái đất của chúng ta bị bóc lột và bị tàn phá”.(2)

Sự tàn phá môi sinh của con người dẫn tới tình trạng biến đổi khí hậu: “Những thay đổi khí hậu là một vấn đề hoàn cầu với những hệ lụy trầm trọng về môi trường, xã hội, kinh tế, phân phối và chính trị, và chúng là một trong những thách đố chính hiện nay đối với nhân loại” (25).

Hậu quả là “Mỗi năm có hàng ngàn loại thực vật và động vật biến mất mà chúng ta không có thể biết chúng nữa, các con cháu chúng ta không thể thấy chúng nữa, chúng biến mất vĩnh viễn do sự thay đổi khí hậu” (26).

Theo cái nhìn của bà Sally Axworthy, đại sứ Anh về nền ngoại giao Vatican : “Đức Phanxicô có cái nhìn ngôn sứ táo bạo, nhất là khi ngài tố cáo nạn tham nhũng”.

Vào ngày 18-6-2015, Đức Giáo Hoàng Phanxicô ban hành thông điệp Laudato Si’. Ngài nói: ” ‘Ngôi nhà chung’ của chúng ta đang đổ nát, và gây tổn thương đến tất cả mọi người, đặc biệt là những người nghèo nhất trong chúng ta”. Chưa một lần đến Việt Nam, nhưng phải chăng cái nhìn ngôn sứ của vị Cha Chung đã muốn đưa ra lời cảnh báo cho con dân đất Việt ? Quả vậy, chỉ hơn 9 tháng sau đó, ngày 6 tháng 4 năm 2016, cá chết hoàng loạt ở vùng biển 4 tỉnh miền Trung đã mở đầu cho một đại thảm họa chưa từng có trong lịch sử, kéo hàng triệu người Việt tới chỗ khốn cùng, và có thể còn gây tai họa cho các thế hệ con cháu. Điều đáng nói là những phân tích của Đức Giáo Hoàng trong thông điệp đã trùng khít lạ lùng khi đối chiếu với thảm trạng tại Việt Nam.

Theo ngài, ngày nay người ta quá đề cao kỹ thuật, và vì hám lợi mà loại dần yếu tố con người, ngài đưa ra lời canh báo: “Từ khước không đầu tư vào con người, để được lợi nhuận ngay tức khắc, đó thực là một lối kinh doanh tệ hại nhất cho xã hội” (128).

Quả vậy, không đầu tư cho con người để được lợi nhuận tức khắc là những dự án đủ loại ở Việt Nam. Cứ nhìn xem những ngôi làng tái định cư theo kiểu đem con bỏ chợ sống chết mặc bay; cứ nhìn bao nhiêu người rơi vào cảnh thất nghiệp vì các dự án lớn nhỏ, những vụ “xả đập đúng quy trình” thì biết. Điều này không phải chứng minh, vì đã được phơi bày nhan nhản trên mặt báo.

Cũng vì muốn lợi hưởng lợi tức khắc, loại ra một bên yếu tố con người, nên chúng ta và con cháu dang vùng vẫy trong một môi sinh tồi tệ. Thảm họa cá chết hàng loạt ở vùng biển 4 tỉnh miền Trung chỉ là giọt nước làm tràn li, hậu quả của một quá trình sản suất kinh doanh tồi tệ, bóc lột thiên nhiên một cách bất nhân. Cá không chỉ chết dưới biển mà chết cả nơi sông ngòi, hồ đập, dường như ở đâu có cá là ở đó có nguy cơ cá chết hàng loạt. Đây không phải là yếu tố giảm tội cho Formosa mà là tình trạng bi đát có hệ thống, một sự ô nhiễm toàn diện. Rác độc hại không chỉ bị thải dưới biển mà còn vung vãi khắp nơi trên đất liền và trong mọi ngõ ngách của cuộc sống.

Thực phẩm ôi thối hóa thành tươi sau khi được ‘xử lý” bằng hóa chất độc hại, bánh phở trộn phóc-mon, trái cây ngâm trong hóa chất, lợn nuôi bằng hóa chất tăng trọng độc hại, rau muống tưới nhớt thải, rượu pha thuốc sâu, tai heo tẩm nhựa thông, cá biển ướp urê, thuốc tây giả… Tất cả những điều gian dối và tồi tệ trên đây dẫn tới đại thảm họa mà Đại biểu Trần Ngọc Vinh mô tả là: ‘Con đường từ dạ dày đến nghĩa địa chưa bao giờ ngắn thế’.

Đức Giáo hoàng Phanxicô phân tích tình trạng bê bối này như sau: “Đặc biệt, việc nghiên cứu ảnh hưởng của một dự án mới về mặt môi sinh đòi có những tiến trình chính trị minh bạch và có sự đối thoại, trong khi nạn tham ô che đậy ảnh hưởng thực sự về môi sinh của một dự án để đổi lấy những ân huệ, nó thường đưa tới những hợp đồng mơ hồ, trốn tránh nghĩa vụ thông tin và một cuộc thảo luận sâu rộng (182)… Nhiều người có nhiều tài nguyên và quyền lực kinh tế hoặc chính trị hơn, dường như chỉ chú tâm tới việc che đậy vấn đề hoặc dấu nhẹm những triệu chứng”.

“Che đậy vấn đề và dấu nhẹm triệu chứng” là tình trạng quá rõ ràng tại Việt Nam chúng ta hiện nay. Ngay khi phát hiện đại thảm họa về môi trường biển, các báo chí đưa tin khá khách quan trong tuần đầu. Sau đó báo chí lề phải được định hướng đưa tin theo chiều có lợi cho Formosa, một số quan lớn còn đưa ra những kết luận nhằm lèo lái dư luận cách gượng gạo theo kiều lấy thúng úp voi và bị người dân nhạo cười. Dư luận cười ra nước mắt khi truyền tụng với nhau rằng : cá chết vì không biết bơi, cá chết vì thất tình tự tử. Có nhiều sự thật về y tế và mức độ ô nhiễm đã không được nói ra. Trong lúc đó, những ai dám nói ra sự thật thì bị quy chụp là bị kẻ xấu lợi dụng, hoặc tiếp tay cho phản động. Những người biểu tình chống Formosa lại bị đàn áp.

Tôi chọn đề tài CHÚA CỨU THẾ VỚI CÔNG TRÌNH TẠO DỰNG, còn vì sự thôi thúc của bài đọc I, lễ Chúa Giáng Sinh đêm nay, ngôn sứ Isaia mô tả cảnh thái bình thịnh trị của triều đại Đấng Cứu Thế:

Ngài không xét đoán theo như mắt thấy, cũng không lên án theo điều tai nghe, nhưng Ngài sẽ lấy đức công bình mà xét xử những người nghèo khó, và lấy lòng chính trực mà bênh đỡ kẻ hiền lành trong xứ sở.

Ngài sẽ dùng lời như gậy đánh người áp chế, và sẽ dùng tiếng nói giết chết kẻ hung ác” (Is 11: 1-10).

Ngược lại với những điều mô tả ở trên, thời nay không ít những người làm chính trị, thay vì lấy đức công bình, lòng chính trực mà phục vụ nhân dân thì lại cai trị dân bằng ý thức hệ và lợi ích phe nhóm; thay vì minh bạch thì lại tung hỏa mù, quy kết, chụp mũ. Nhiều ông quan lớn của chủ nghĩa vô thần cho là không có Trời, họ có thể “vắt đất ra nước, thay trời làm mưa”. Mà đã không còn Trời, Phật thì cũng chẳng còn thiên đàng hòa ngục, chẳng còn quả báo, luân hồi hay hóa kiếp nào hết. Đã thế, không ít kẻ còn tự cho mình cái quyền ngồi trên luật pháp, trong lúc “cái lồng để nhốt quyền lực” của ông Tổng Bí thư dường như chưa đan xong, và những kẻ này vần dùng quyền lực để phá hoại môi trường và làm khổ người yếu thế.

Chuyện kể rằng, vào thời Nhà Trần, có tướng Trần Khánh Dư lắm tài mà nhiều tật, bị tố cáo lên tận Triều đình mà ông còn ngạo mạn tuyên bố : “Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ?”.

Phát biểu động trời của một kẻ độc tài cách đây 6 thế kỷ, kể cả hồi đó nhà vua đã không thể chấp nhận luận điệu này, còn ngày nay thì sao ? Phải chăng vì vẫn còn tư tưởng dân là vịt, nên bao nhiêu công trình xây cất, bao nhiêu dự án lớn nhỏ, ý iến người dân bị bỏ qua, hậu quả thì người dân phải chịu? Không ít trường hợp, nguyện vọng của người dân được đáp trả bằng bạo lực!

Hậu quả của tình trạng này là gì? Đức Giáo hoàng Phanxicô chỉ rõ :

“Những gì làm thương tổn tình liên đới và tình thân hữu của dân chúng cũng đều gây hại cho môi trường” (142)… “Không có hai cuộc khủng hoảng riêng rẽ, một cuộc khủng hoảng môi trường và một cuộc khủng hoảng xã hội, nhưng chỉ có một cuộc khủng hoảng duy nhất và phức tạp về xã hội và môi trường” (139).

Quả vậy, vì sự thiếu minh bạch, vì những bao che cho kẻ gây ra thảm họa và vì sự hù dọa, đàn áp những người đòi công lý mà gây nên một cuộc khủng hoảng về mặt xã hội và môi trường. Ngoài những bức xúc và phản ứng tiêu cực bằng bạo lực đáng tiếc xảy ra ở vài nơi, nhìn chung xã hội đang rơi vào một cuộc khủng hoảng. Ngoài sự phẫn uất và thất vọng là tình trạng khủng hoảng niềm tin: không biết tin vào ai, không biết ăn gì cho khỏi nhiễm độc, không biết uống thuốc nào, mua sắm đồ gì tránh được đồ giả. Người ta có thể xây dựng một xã hội lành mạnh trong đó niềm tin không tồn tại chăng ?!

Kính thưa anh chị em, những điều trình bày trên đây cũng được gợi hứng bởi lời dạy của Đức Giáo hoàng Phaxiccô trong thông điệp nói trên : “Giáo Hội không chủ trương giải quyết các vấn đề khoa học, cũng không thay thế chính trị, nhưng tôi mời gọi thảo luận chân thành và minh bạch, để những nhu cầu đặc thù hoặc các ý thức hệ không làm thương tổn công ích” (188).

Đây là một trong những phần đóng góp của người công giáo cho sự lành mạnh của xã hội, đó cũng là trách nhiệm mà Đức Giáo hoàng đã nhắn nhủ : “Loại thế giới nào chúng ta muốn chuyển lại cho những người đến sau chúng ta, cho các trẻ em đang lớn lên… Chúng ta đến trần thế này để làm gì? Chúng ta hoạt động và tranh đấu với mục đích nào? Tại sao trái đất lại cần chúng ta?… Nếu chúng ta không đặt những câu hỏi căn bản ấy, thì tôi không tin rằng những quan tâm của chúng ta về môi trường có thể có những hiệu quả quan trọng”.

Một vấn nạn được đặt ra là nếu Chúa Cứu Thế là chủ các công trình tạo dựng thì tại sao ngài lại để những điều tồi tệ xảy ra ?

Sau vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 tại New York và Oasinton, một ký giả phỏng vấn cô thiếu nữ, con của một thuyết trình viên nổi tiếng nước Mỹ rằng: “Nếu có Thiên Chúa thì tại sao Ngài để cho những điều khủng khiếp như thế xảy ra?” Cô thiếu nữ điềm tĩnh trả lời: “Tôi nghĩ rằng trước sự kiện này Thiên Chúa buồn lắm – ít ra là buồn bằng chúng ta – còn tại sao Ngài lại để nó xảy ra thì phải hỏi chúng ta. Chúng ta đã mời Thiên Chúa ra khỏi Quốc hội, khỏi chính trị, chúng ta đã mời Thiên Chúa ra khỏi trường học, khỏi chợ chúa, khỏi công sở, chúng ta đã mời Thiên Chúa ra khỏi gia đình. Khi được mời như thế thì Ngài buộc lòng phải lịch sự làm theo lời mời của chúng ta. Và chúng ta đang tự do tạo một môi trường không có Thiên Chúa. Trong môi trường không có Thiên Chúa thì mọi điều xâu xa, tồi tệ có thể tự do xảy đến”.

Mọi người được mời gọi quan tâm, đặt câu hỏi dẫn đến hành động vì một thế giới tốt đẹp hơn. Trước những thách đố lớn lao của thời đại, Đức Giáo hoàng vẫn tin tưởng : “Nhân loại còn có khả năng cộng tác để xây dựng một căn nhà chung” (13); “con người còn khả năng can thiệp tích cực” (58); “không phải tất cả đã bị mất, vì con người, tuy có khả năng thoái hóa tột độ, nhưng vẫn còn có thể tự vượt thắng, tái chọn lựa điều thiện và tái tạo” (205).

Xin Chúa Giêsu Cứu thế thương hoán cải tâm hồn mọi người, thức tỉnh lương tâm trách nhiệm của họ, để ai nấy gắng lo cho thế giới này phát triển bền vững và thân thiện với môi trường hơn, để không hổ thẹn với tiền nhân và khỏi mang tội với hậu thế.

Lm. Pet. Nguyễn Văn Vinh

Ghi chú: Phần trích dẫn Tông huấn LAUDATO SI lấy từ bản tóm lược chính thức của Hội Đồng Tòa Thánh “Công lý và Hòa bình” do Lm. Trần Đức Anh, OP dịch.

]]>
Ánh vinh quang (Lễ Hiển Linh) http://lamhong.org/anh-vinh-quang-le-hien-linh/ Sat, 07 Jan 2017 09:04:55 +0000 http://lamhong.org/?p=26400 hqdefault

Lễ Hiển Linh trước đây được gọi là lễ Ba Vua. Tuy nhiên, sự thật họ không phải là những ông Vua mà là các chiêm tinh gia, các đạo sĩ đến từ Đông phương, cũng không phải chỉ có ba ông mà nhiều ông. Với con mắt “nhà nghề”, họ đã nhận biết đó là Ánh Sao Lạ, ngôi sao này kỳ lạ đến nỗi họ đã phải tức tốc lên đường đi tìm, nghĩa là họ đã được Ơn Chúa tác động, nhưng điều quan trọng là họ mau mắn làm theo linh hứng của Chúa Thánh Thần.

Hiển linh là Thiên Chúa tỏ cho nhân loại biết và nhân loại đã nhận biết Hài Nhi Giêsu là Thiên Tử, là Đấng Thiên Sai. Lời cầu nguyện “xin cho Danh Cha cả sáng” đã hiện thực.

Ngôn sứ Isaia nói: “Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu toả trên ngươi. Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân; còn trên ngươi, Đức Chúa như bình minh chiếu toả, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi” (Is 60:1-2). Ánh Sáng đó là vinh quang Thiên Chúa, Ánh Sáng đó là Đức Kitô giáng sinh tại Belem, và từ nay, Ánh Sáng đó luôn chiếu tỏa khắp nơi, bóng tối phải lùi bước ở bất cứ nơi nào có Ánh Sáng.

Vì thế, “chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước. Đưa mắt nhìn tứ phía mà xem, tất cả đều tập hợp, kéo đến với ngươi: con trai ngươi từ phương xa tới, con gái ngươi được ẵm bên hông” (Is 60:3-4). Trong số chư dân đó có chúng ta, những con dân nước Việt bé nhỏ, thế mà lại được làm con của Thiên Chúa, vì Ánh Sáng Đức Kitô đã và đang chiếu sáng dọc suốt đất nước hình chữ S thân yêu của dân Việt chúng ta. Thật kỳ diệu biết bao! Đúng như ngôn sứ Isaia đã tiên báo: “Trước cảnh đó, mặt mày ngươi rạng rỡ, lòng ngươi rạo rực, vui như mở cờ, vì nguồn giàu sang sẽ đổ về từ biển cả, của cải muôn dân nước sẽ tràn đến với ngươi. Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà Ma-đi-an và Ê-pha: tất cả những người từ Sơ-va kéo đến, đều mang theo vàng với trầm hương, và loan truyền lời ca tụng Đức Chúa” (Is 60:5-6).

Toàn thể nhân loại hân hoan qua lời cầu nguyện: “Tâu Thượng Đế, xin ban quyền bính Ngài cho vị Tân Vương, trao công lý Ngài vào tay Thái Tử, để Tân Vương xét xử dân Ngài theo công lý, và bênh vực quyền lợi kẻ nghèo hèn” (Tv 72:1-2). Công lý rất cần, có công lý mới khả dĩ có hòa bình đích thực, có công lý thì người nghèo mới được tôn trọng nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền. Chính Chúa Giêsu đã đến thực hiện công lý. Vì thế, chắc chắn “triều đại Người đua nở hoa công lý và thái bình thịnh trị tới ngày nao tuế nguyệt chẳng còn. Người làm bá chủ từ biển này qua biển nọ, từ Sông Cả đến tận cùng cõi đất” (Tv 72:7-8). Đó là vương quốc hòa bình, mỗi công dân đều sống trong hạnh phúc.

Từ khắp nơi, không trừ nơi nào, ngay cả những vùng sâu vùng xa nhất, từ “các hải đảo xa xăm, hàng vương giả sẽ về triều cống Ngài, những vua chúa cũng đều tới tiến dâng lễ vật, mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng, muôn dân nước thảy đều phụng sự” (Tv 72:10-11). Đức Kitô là Vua Công Lý, “Ngài giải thoát bần dân kêu khổ và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương, chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo. Mạng sống dân nghèo, Người ra tay tế độ” (Tv 72:12-13). Đó là điều mà Giáo hội đang rất quan tâm, được trình bày qua Giáo huấn Xã hội Công giáo, nhất là từ Công đồng Vatican II.

Thánh Phaolô nói: “Hẳn anh em đã được nghe biết về kế hoạch ân sủng mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho tôi, liên quan đến anh em. Ngài đã mặc khải để tôi được biết mầu nhiệm Đức Kitô như tôi vừa trình bày vắn tắt trên đây” (Ep 3:2-3). Tông truyền là một trong bốn đặc tính của Giáo hội Công giáo, và đó cũng là mối dây liên kết các chi thể trong Nhiệm Thể Đức Kitô, đồng thời cũng là tình liên đới với nhau – kể cả với người không cùng tôn giáo.

Thánh Phaolô giải thích rõ ràng: “Mầu nhiệm này, Thiên Chúa đã không cho những người thuộc các thế hệ trước được biết, nhưng nay Ngài đã dùng Thần Khí mà mặc khải cho các thánh Tông Đồ và ngôn sứ của Ngài. Mầu nhiệm đó là: trong Đức Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do-thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa” (Ep 3:5-6). Vì thế, chúng ta không có lý do gì để “chảnh” hoặc kỳ thị người khác, dù người đó là ai.

Thánh sử Mátthêu kể: Khi Đức Giêsu ra đời tại Bêlem, miền Giuđê, thời vua Hêrôđê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giêrusalem, và hỏi: “Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người” (Mt 2:2). Nghe tin ấy, vua Hêrôđê mới tá hỏa tam tinh, như bị sét đánh ngang tai, vì tâm bất chính nên ông bối rối, và cả thành Giêrusalem cũng xôn xao. Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Kitô phải sinh ra ở đâu. Họ đều trả lời: “Tại Bêlem, miền Giuđê”. Đúng như trong sách ngôn sứ có chép rõ ràng: “Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ítraen dân Ta sẽ ra đời” (Mt 2:6).

Bấy giờ vua Hêrôđê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện, rồi vua phái các vị ấy đi Bêlem và dặn: “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Ngài” (Mt 2:7). Nghe chừng tử tế quá! Miệng nam mô mà bụng một bồ dao găm. Đây là loại “đểu thật” chứ không “đểu giả”, lọc lừa và mánh khóe một cách tinh vi, người khác khó có thể nhận ra, khi biết bị lừa thì “chuyện đã rồi”. Động thái của vua Hêrôđê cũng nhắc chúng ta xem lại lời ăn tiếng nói và hành động của mình có “lệch pha” hay không, vì ai cũng có thể nói hay về mình, muốn chứng tỏ mình “tốt lành” nhưng thực ra lại đang mưu mô thâm hiểm.

Nghe nhà vua nói thế, họ ra đi, vì họ ngay lành nên cứ tưởng ông vua này cũng tốt lành. Thực ra vua Hêrôđê chẳng dễ dãi cho họ đi như vậy đâu, ông ta tính “đường dài” hơn, chơi “nước cờ” cao hơn thôi. Chứ nếu ông ta không tính xa thì ông ta đã bỏ tù họ hoặc lệnh cho họ bị “cẩu đầu trảm” rồi.

Ra khỏi hoàng cung, ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, rồi mới dừng lại. Lạ thật! Trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. Vào trong hang đá, thấy Hài Nhi với thân mẫu là Cô Maria, họ liền sấp mình thờ lạy Hài Nhi.

Thấy một Em Bé ngọ nguậy, thế mà họ sụp lạy. Lạ thật! Đó là đức tin của họ. Nếu là chúng ta, liệu chúng ta có tin và sụp lạy Hài Nhi như họ? Có lẽ “hơi bị khó”. Nhưng mấy chiêm tinh gia kia không đắn đo, không tính toán, không ngập ngừng, thấy và sụp lạy ngay. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến.

Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, nên họ đã đi lối khác mà về xứ mình. Họ lại nhận được ơn Chúa. Chắc lúc này họ mới nhận thấy mình thực sự may mắn vì thoát khỏi “nanh vuốt” của ông vua dã tâm Hêrôđê. Việc Chúa làm thật là kỳ diệu!

Lạy Thiên Chúa chí minh và chí thiện, xin giúp chúng con sống ngay lành, tâm địa tốt lành, biết nghĩ tốt cho người khác chứ không suy đoán theo thiên kiến. Tất cả vì sáng danh Chúa chứ không vì vinh danh chúng con hoặc tư lợi. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế. Amen.

TRẦM THIÊN THU

]]>
Thiên Chúa tỏ mình qua Con Chúa (Lễ Hiển Linh) http://lamhong.org/thien-chua-to-minh-qua-con-chua-le-hien-linh/ Sat, 07 Jan 2017 03:54:15 +0000 http://lamhong.org/?p=26397 Lễ Chúa Hiển Linh

(Lời Chúa Is 60,1-6 ; Ep 3,2-3a.5-6 ; Mt 2,1-12)

Thiên Chúa tỏ mình qua Con Chúa

Hôm nay, chúng ta cử hành Chúa Nhật Lễ Hiển Linh, hay Lễ Ba Vua. Từ truyền thống cổ xưa, Giáo Hội gọi lễ này là ‘lễ Ánh Sáng” để nói lên rằng Con Thiên Chúa ra đời là Ánh Sáng cho muôn dân. Ngày nay, phụng vụ gọi lễ này là lễ Chúa Hiển Linh. Từ “hiển linh” được dịch từ tiếng Hy Lạp là Epiphania, có nghĩa là sự tỏ mình ra, sự bày tỏ vinh quang. Quả thật, việc Ngôi Hai Thiên Chúa làm người là biến cố Thiên Chúa tỏ mình ra với nhân loại. Người bày tỏ tình yêu, ơn cứu độ và vinh quang của Người qua mầu nhiệm tự hạ, tự hủy và tự hiến của Ngôi Lời nhập thể, Người là Đấng Cứu Độ mà nhân loại trong chờ. Bởi thế, Lời Chúa hôm nay giới thiệu với chúng ta về Hài Nhi Giêsu chính là Đấng Cứu Độ của muôn dân qua việc Chúa tỏ mình cho Ba Vua biết và đến thờ lạy Người. Đồng thời Lời Chúa mời gọi chúng ta cũng phải lên đường như Ba Vua để gặp gỡ và thờ lạy Chúa.

  1. Đấng Cứu Độ của muôn dân

Trong lịch sử cứu độ, Thiên Chúa tỏ mình cho nhân loại chúng ta qua nhiều hình thức và các trung gian khác nhau. Như thánh Phaolô nói: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử” (Dt 1,1). 

Quả thế, Trong Cựu Ước Thiên Chúa đã mặc khải chính mình và ý định cứu độ của Người cho loài người qua công trình sáng tạo, qua các trung gian con người. Thiên Chúa ban Lề Luật cho con người qua Môisen. Thiên Chúa ký kết giao ước với loài người qua tổ phụ Abraham. Thiên Chúa ban Lời Chúa và giáo huấn của Người qua các tiên tri.

Đến thời Tân Ước, thời kỳ viên mãn, Thiên Chúa mạc khải mình qua Chúa Con, Ngôi Lời nhập thể và được sinh ra bởi Đức Maria. Người là Thiên Chúa thật và là người thật. Qua Đức Giêsu, Thiên Chúa trực tiếp hiện diện một cách hữu hình và trực tiếp với nhân loại. Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Độ duy nhất và phổ quát của muôn dân. Người là Ánh Sáng của muôn người. Đứng như lời tiên báo: “Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối thăm đã nhìn thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi” (Mt 4,16). Bởi thế, ai thấy Chúa Giêsu Kitô là nhìn thấy Thiên Chúa. Ai tin vào Chúa Giêsu Kitô thì sẽ được ơn cứu độ.

Chúng ta biết rằng thời đó người Do Thái quan niệm rằng chỉ có họ là Dân Riêng, mới được hưởng ơn cứu độ của Thiên Chúa. Nhưng qua biến cố Chúa Giêsu tỏ mình ra cho Ba Vua là đại diện cho tất cả dân ngoại, chúng ta nhận thấy rằng ý định của Thiên Chúa là muốn cho mọi người được cứu độ và tin nhận Đức Giêsu Kitô như là Đấng Cứu Độ của muôn dân. Bởi lẽ, ơn cứu độ mà Chúa Kitô mang lại mang tính phổ quát, không giới hạn một quốc gia, chủng tộc, màu sắc, ngôn ngữ nào nhưng là cho tất cả mọi người không loại trừ một ai.

  1. Theo ánh sao chỉ đường

Khi nhận ra “ngôi sao lạ” xuất hiện, Ba Vua từ Phương Đông đã lên đường tìm đến Bêlem để triều bái Người (Mt,2,7). Hành trình đức tin của họ chắc chắn gặp nhiều khó khăn và thử thách. Như ngạn ngữ nói: “Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi, nhưng khó vì lòng người ngại núi e sông”. Dù đường đi khó vì ngăn sông cách núi, nhưng Ba Vua đã không ngại núi e sông, không nản chí oải lòng. Họ đã vượt qua những chặng đường dài, đồi núi, sông ngòi, và đã đến gặp Chúa ở cuối hành trình và tôn thờ Chúa. Đối với họ, ngôi sao lạ này là biểu tượng của niềm vui, hy vọng và bình an. Nhưng ngôi sao chỉ là một phản chiếu bé nhỏ từ Nguồn Ánh sáng của thế giới là Chúa Kitô. Khi gặp Chúa Hài Đồng, họ dâng lên Chúa vàng, nhủ hương, mộc dược. Đây là những tặng phẩm quý giá nói lên niềm tin, niềm hy vọng và lòng mến của họ. Các Giáo phụ cho rằng những tặng phẩm này mang nhiều ý nghĩa niềm tin mà họ muốn tuyên xưng: “Dâng hương để nhân Người là Chúa, dâng vàng để nhận Người là Vua, và dâng mộc dược để loan báo Người sẽ chết” (thánh Phêrô Kim Ngôn). Tuy nhiên, ngày nay có người lại giải thích ý nghĩa của ba lễ vật này như sau: Vàng tượng trưng cho Đức Tin vào Thiên Tính của Đấng Thiên Sai; Nhũ hương tượng trưng cho Đức Cậy là lời cầu nguyện như hương trầm bay lên để tôn vinh Chúa; Mộc dược tượng trưng cho Đức Mến là sự hy sinh và sự từ bỏ ý riêng để vâng theo ý Chúa.

Như thế, Ba Đạo Sĩ quả là những con người nhạy bén với dấu chỉ thời đại, không ngại khó, can đảm để lên đường để tìm gặp Đấng Cứu Thế. Họ quả là những con người có một đức tin mạnh mẽ và một lòng mến nồng nàn dành cho Chúa Hài Đồng. Thánh Matthêu cho biết: sau khi đã gặp Đấng Cứu Thế, họ không trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, nhưng đã đi lối khác mà về xứ mình (Mt 2,12). Chi tiết này mang ý nghĩa biểu tượng. Nghĩa là sau khi họ đã gặp Chúa Giêsu, họ đã thay đổi hướng đi, thay đổi suy nghĩ, từ bỏ con đường cũ, và đi vào con đường mới; họ có tầm nhìn mới, suy nghĩ mới và cuộc sống mới. Vì thế, họ là những mẫu gương sáng chói cho mỗi người chúng ta trong hành trình tìm kiếm Chúa và phụng sụ Chúa.

  1. Trở nên những ánh sao cho con người hôm nay

Bài học trước hết mà chúng ta học được từ mẫu gương của ba Đạo Sĩ đó là lòng khát khao, thiện chí và có hy sinh, dấn thân để lên đường tìm kiếm Thiên Chúa để thời lạy Người. Nếu chúng ta không có khát khao, tìm kiếm và dấn thân tìm Chúa, chúng ta sẽ không bao giờ gặp Chúa và yêu Chúa. Nếu không có những cố gắng này, chúng ta chỉ là những kitô hữu “hữu danh vô thực”, theo danh nghĩa thôi. Sống trong xã hội mà con người chạy theo vật chất, tiện nghi và hưởng thụ, chúng ta được mời gọi phải là những con người biết nhìn xa hơn, khát vọng lớn hơn, nhất là biết khát khao, tìm kiếm và thợ lạy Thiên Chúa.

Cũng như các Đạo Sĩ đã nhìn thấy ngôi sao lạ và họ đã lên đường tìm Vị Cứu Tinh theo ánh sao đó, để tìm Chúa và gặp Chúa, chúng ta có những ánh sao dẫn đường đó là Lời Chúa và Thánh Thể, hãy bước theo sự hướng dẫn Lời Chúa và hãy đến với Thánh Thể, để gặp Chúa và tôn thờ Chúa. Cũng như Ba Vua, chúng ta hãy dâng cho Chúa Hài Đồng những lễ vật: vàng đời sống là sự lòng yêu mến của chúng ta cho Chúa; trầm hương đời sống là lời cầu nguyện sốt sắng, lòng biết ơn dâng lên Chúa để tạ ơn Người; và mộc dược đời sống chính là sự hy sinh, cố gắng phục vụ của chúng ta cho Người.

Ngày hôm nay con người vẫn còn đang sống trong bóng tối của đau khổ và lầm lạc, bởi vì nhiều người vẫn chưa nhận biết và tôn thờ Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ và chưa được lắng nghe Lời Chúa. Chúng ta được mời gọi trở thành những “ánh sao dẫn đường’ đưa họ đến gặp Chúa và thờ lạy Chúa như Lời Chúa dạy: “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,14); “Giữa một thế hệ sa đọa, Anh em hãy chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời” (Pl 2,15). Chúng ta hãy chiếu sáng như những vì sao dẫn đường bằng chính cuộc sống thánh thiện và đạo đức, bằng thái độ sống hòa bình, tôn trọng, thân thiện đối với người khác, và bằng chính những hành vi bác ái đối với mọi người, nhất là đối với những người đau khổ.

Lạy Chúa, Chúa đã tỏ mình ra cho Ba Đạo Sĩ nhận biết và đến thờ lạy Chúa qua ánh sao lạ dẫn đường. Xin cho chúng con luôn tin nhận và tôn thờ Chúa là Đấng Cứu Độ của muôn dân và là của mỗi người chúng con. Đồng thời, xin giúp chúng con cũng trở thành những ánh sao dẫn đường cho người khác tìm gặp và tôn thờ Chúa như Chúa đáng được tôn thờ. Amen!

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

]]>