Features – Lam Hồng http://lamhong.org Những nẻo đường đức tin... Sun, 19 Feb 2017 08:59:33 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=4.7.2 Đổi mới http://lamhong.org/doi-moi/ Sun, 19 Feb 2017 08:50:06 +0000 http://lamhong.org/?p=26595 Cuộc sống của chúng ta biến hóa không ngừng, như dòng sông âm thầm tuôn chảy. Nhờ dòng chảy mà sông luôn tự làm mới mình. Cũng nhờ dòng chảy mà sông cung cấp phù sa màu mỡ, làm phong nhiêu cho lưu vực đôi bờ. Ngay trong cơ thể chúng ta, các tế bào cũng thay đổi mỗi ngày. Một nghiên cứu chuyên ngành đã đưa ra kết luận, mỗi người chúng ta rụng đi 30 ngàn đến 40 ngàn tế bào da chết mỗi giờ, vị chi là khoảng 960 ngàn tế bào da chết mỗi ngày, và một năm mỗi người thải ra tới 4kg da chết. Một thân xác thay đổi, cũng cần đến một tâm hồn canh tân để trở nên mới mẻ, tiếp thêm nghị lực và sức sống. Nếu không chấp nhận thay đổi, tâm hồn chúng ta sẽ trở nên cằn cỗi lỗi thời. Trong cuộc sống trần gian, mỗi người trong chúng ta phải cố gắng để thăng tiến và hoàn thiện. Thăng tiến là một lộ trình lâu dài, cần kiên nhẫn bền bỉ suốt đời. Hoàn thiện là con đường khắt khe nghiệt ngã, đòi hỏi nhiều cố gắng hy sinh. Ai muốn thành đạt, đều phải chấp nhận học hỏi và thay đổi chính mình.

Mỗi chúng ta chỉ là một cá nhân trong cộng đồng nhân loại mênh mông, giống một hạt cát trong sa mạc, như một giọt nước giữa đại dương. Để sống hài hòa với môi trường xung quanh, mỗi người phải chấp nhận từ bỏ cái tôi ích kỷ. Những ý kiến chủ quan, có thể là tốt, nhưng chỉ là tốt cho cá nhân mà phương hại cho tập thể. Muốn thay đổi, mỗi người phải chấp nhận bước ra khỏi vỏ bọc của chính mình để hòa nhập với môi trường xung quanh, chân thành rộng mở tấm lòng đón nhận anh chị em, tôn trọng những khác biệt. Không thể cứ lý luận cùn: “Tính của tôi là như thế” để khư khư bảo thủ trong lối sống khép kín chủ quan của mình. Trong thực tế, có nhiều người vì lợi ích riêng tư, mà làm thiệt hại công ích và tạo nguy hiểm cho xã hội. Cách nay khoảng chục năm, có những người sống cạnh đường xe lửa đi qua, ngang nhiên xúc trộm đá hai bên đường ray về đổ bê tông nhà mình. Đường xe lửa vì mất đá, nên dần dần sụp xuống, gây tai nạn chết người và thiệt hại nghiêm trọng về tiền bạc để tu sửa. Có những công ty vô trách nhiệm và vô đạo đức, thải chất độc ra dòng sông, làm ô nhiễm nghiêm trọng môi trường, gây tổn hại đến đời sống của người dân. Có thể liệt kê nhiều ví dụ tương tự cho thấy trong xã hội chúng ta có nhiều người chưa ý thức bảo vệ công ích, chỉ biết tranh thủ làm lợi cá nhân. Trước khi bàn đến những dự tính lớn lao cao vời, hãy khởi đi bằng việc đào tạo ý thức con người. Không có con người ý thức về ích lợi của cộng đồng, sẽ chẳng bao giờ có được xã hội văn minh, nhân ái và an bình. Biết tôn trọng công ích, sống vì tha nhân, đó là một thay đổi căn bản và cần thiết nơi cá nhân mỗi người chúng ta.

Vào giữa thập kỷ 80 của thế kỷ trước, chính sách đổi mới đã đưa xã hội Việt Nam thoát khỏi chế độ bao cấp nghèo nàn. Một hạn từ được sử dụng rất phổ biến, đó là “đổi mới tư duy”. Trước đó ở nông thôn, hợp tác xã nông nghiệp là một mô hình lạc hậu, tạo nên những người lao động vô trách nhiệm, thờ ơ với công ích. Người nông dân làm việc giống như những tù nhân trong trại cải tạo, chỉ biết nghe kẻng báo là vác cuốc ra đồng làm việc, không quan tâm đến năng suất và hiệu quả lao động. Đổi mới tư duy giúp con người thoát ra khỏi những nếp nghĩ và hành động cứng nhắc máy móc, quá nặng tới ý thức hệ qua những công thức học thuộc lòng. Tiếc rằng, phong trào đổi mới không được thực hiện triệt để và thấu đáo, nên những tiêu cực vẫn còn tồn tại trong xã hội hôm nay. Trong thực tế, người ta vẫn chú trọng đến dây nhợ, con ông cháu cha hơn là tài năng; chú trọng đến lý lịch hơn đạo đức con người. Những tổ chức từ thiện và tôn giáo vẫn bị săm soi theo lăng kính chính trị. Những hoạt động từ thiện vẫn bị đổ đồng với những “diễn biến hòa bình”. Những hoạt động tôn giáo vẫn bị nghi ngờ và kiểm soát khắt khe. Bao lâu những quan điểm và hoạt động nêu trên chưa được định giá đúng mức, thì nền văn minh, dân chủ và tiến bộ vẫn còn bị hạn chế, thậm chí bị bóp nghẹt. Xã hội hôm nay rất cần có những nhận định công bằng về những hoạt động của các tổ chức tôn giáo trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, cũng như của những người thao thức với vận mệnh của dân tộc, nhằm mục đích góp phần xây dựng một xã hội văn minh, dân chủ, nhân ái và đậm tình người.

Thế giới hôm nay ngày càng rộng mở, không còn khép kín như trước đây. Ánh sáng của khoa học kỹ thuật cũng đã chiếu tỏa đến mọi hang cùng ngõ hẻm của cuộc sống. Chính vì vậy, những quan niệm cổ hủ lỗi thời cũng cần được canh tân thay đổi. Những năm gần đây, viện lý do “phục hồi những giá trị truyền thống”, nhiều hủ tục thời xa xưa mượn dịp bùng phát theo kiểu trăm hoa đua nở. Trong số đó, có nhiều lễ hội đình đám phản văn hóa, mê tín dị đoan, đưa con người trở lại thời mông muội. Một nghịch lý của xã hội chúng ta hôm nay, đó là càng ngày con người càng văn minh, thì càng ngày càng có nhiều hoạt động mê tín, ngay cả nơi một số cán bộ và công chức nhà nước là những người tự nhận là vô thần. Họ còn ngang nhiên sử dụng xe công để đi lễ ở các đền, các phủ để cầu may. Không ít người đã khuynh gia bại sản, thậm chí mất mạng, vì cả tin vào những lời phù thủy bói toán. Đổi mới não trạng để có một cuộc sống lành mạnh, dựa vào nỗ nực phấn đấu của bản thân, là một điều cần thiết để có một cuộc sống quân bình giữa niềm tin và cuộc sống.

Trong cuộc sống được mệnh danh là “hiện đại”, người ta có nguy cơ mất kiên nhẫn. Vì thiếu kiên nhẫn, nên vợ chồng dễ dàng bỏ nhau, bạn bè dễ dàng ly tán. Biết bao hậu quả tang thương do thiếu kiên nhẫn gây nên. Người ta yêu vội vàng, chia tay cũng vội vàng. Thực ra, trên đời này chẳng bao giờ có một tình yêu lý tưởng trong nhung lụa, hay một gia đình êm xuôi trọn vẹn đầy ánh hào quang như trong tiểu thuyết. Nếu chúng ta thấy có những gia đình hạnh phúc, những cặp vợ chồng sống với nhau chung thủy đến đầu bạc răng long, là vì họ biết kiên nhẫn, bao dung và vượt lên những khó khăn thử thách của cuộc sống gia đình. Hạnh phúc ngọt ngào của gia đình là kết quả của biết bao hy sinh cố gắng. Trước những khó khăn hôm nay, nhiều cặp vợ chồng trẻ đã dễ dàng chấp nhận đổ vỡ, ly tán. Để biện minh cho lý do chia tay, họ viện cớ không thể hòa hợp. Thực tế là họ ích kỷ, chỉ nghĩ đến bản thân và đã đánh mất lòng kiên nhẫn. Một triết gia người Pháp, ông Jean Jacques Rousseau, đã viết: “Sự kiên nhẫn đắng chát, nhưng quả của nó lại rất ngọt ngào”. Vâng, kiên nhẫn đòi hỏi những mất mát hy sinh và nhiều khi bị người ta coi là hèn hạ, nhưng nhờ đó, chúng ta sẽ gặt hái được những hoa thơm trái ngọt và hạnh phúc lâu dài. Thay đổi suy nghĩ để kiên nhẫn và nhận ra những khiếm khuyết của bản thân, đó là một trong những bí quyết quan trọng để duy trì hạnh phúc.

“Hãy tự giúp mình, rồi Trời sẽ giúp cho”. Câu khẳng định này muốn nhắc nhở chúng ta hãy sống bằng những nỗ lực cố gắng riêng mình, cộng với niềm cậy trông vào ơn trên. Trong cuộc sống hôm nay, có nhiều người sống dựa dẫm vào người khác, hoặc không có định hướng cho tương lai. Khá nhiều bạn trẻ buông xuôi đời mình như những con thuyền giạt trôi vào cõi vô định giữa đại dương cuộc đời mênh mông. Nhiều người khác lại ôm ấp quá nhiều tham vọng, thiếu khôn ngoan sáng suốt để chọn cho mình một hướng đi, một nghề nghiệp hay một bạn đời. Thay đổi não trạng ù lì, dựa dẫm vào người khác, đó là một điều kiện quan trọng để gây dựng cho mình một tương lai, giúp mình có một hướng đi vững chắc trong cuộc đời và hướng tới tương lại xán lạn.

Chúa Giêsu đã khởi đầu sứ vụ loan báo Tin Mừng bằng lời kêu gọi “Hãy sám hối!”. Sám hối là đoạn tuyệt với tội lỗi, chấp nhận thay đổi cuộc đời để bước sang một ngã rẽ mới. Khi chấp nhận sống theo tinh thần của Tin Mừng, mỗi người phải đổi mới và đón nhận giáo huấn của Chúa Giêsu. Sống theo Tin Mừng cũng là một chuỗi những hy sinh, bởi lẽ rượu mới cần phải đựng trong bầu da mới. Lối suy nghĩ và hành động ích kỷ hẹp hòi không còn phù hợp với giáo huấn của Chúa là Đấng kêu gọi hãy “yêu tha nhân như chính mình”. Các tác giả Tin Mừng kể lại với chúng ta, rất nhiều người đã gặp gỡ Chúa Giêsu, đã được Người tác động, nhờ đó cuộc đời của họ đã thay đổi. Trong số đó, có những người học hành uyên thâm và là thành viên Công nghị Do Thái như ông Nicôđêmô; có những người bị kỳ thị vì nghề nghiệp như ông Matthêu, nhân viên thu thuế; có những người tội lỗi như cô Mađalêna. Còn biết bao người, trong suốt bề dày của lịch sử, đã để cho lòng thương xót của Chúa chạm tới, để rồi ơn Chúa biến đổi, cảm hóa nên con người mới. Sự thay đổi này vừa đến từ ơn Chúa, vừa đến từ nỗ lực của con người, như thánh Augustinô đã nói: “Chúa dựng nên con không cần có con nhưng để cứu chuộc con, Chúa cần sự cộng tác của con”. Con người có quyền tự do để chọn lựa theo Chúa hoặc từ chối không chấp nhận Ngài. Những ai chấp nhận Ngài, sẽ tìm thấy lý tưởng cho đời mình, nhờ đó họ tìm thấy hạnh phúc và bình an. Những ai tin vào Chúa cần nỗ lực thay đổi cuộc đời để phù hợp với giáo huấn của Chúa, nhờ đó mà họ nên hoàn thiện.

Hành trình nên hoàn thiện chính là hành trình của những biến đổi để nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô. Vâng, mỗi chúng ta, hãy tâm niệm điều đó. Không chỉ tâm niệm, nhưng hãy cố gắng để cuộc sống của chúng ta hôm nay tốt hơn ngày hôm qua, và ngày mai tốt hơn hôm nay. Bởi lẽ, cuộc sống là sự biến đổi không ngừng, như dòng sông nhẹ nhàng êm trôi, để tự làm mới chính mình và cung cấp phù sa, mang lại phì nhiêu màu mỡ cho những miền đất nó đi qua. Sống Tin Mừng và góp phần làm cho sứ điệp yêu thương lan tỏa trong cuộc đời, đó chính là sứ mạng của mỗi người tín hữu chúng ta.

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

(http://hdgmvietnam.org)

]]>
Nhận biết ơn gọi http://lamhong.org/nhan-biet-on-goi/ Mon, 13 Feb 2017 08:17:13 +0000 http://lamhong.org/?p=26588 (Theo Thánh Thomas Aquinô, Thánh Inhaxiô, và Thánh Gioan Phaolô II)

Đối với người Công giáo, có 2 cách chọn đường đi trong cuộc sống. Người ta có thể bắt đầu bằng suy nghĩ về mục đích sống, và suy nghĩ về điều gì sẽ hữu ích nhất trong việc đạt mục đích đó, hoặc người ta có thể tự vấn về điều Thiên Chúa muốn mình làm trong cuộc sống. Các phương pháp này khác nhau và bổ túc lẫn nhau, nhưng chỉ khi nào sách về ơn gọi áp dụng 2 phương pháp khác nhau cơ bản này. Cuốn sách này nhằm kiểm tra 2 phương pháp cơ bản này đối với vấn đề ơn gọi, những thuận lợi và những nguy hiểm tiềm ẩn của mỗi phương pháp, và đề nghị cách nhìn đơn giản về những ơn gọi tìm cách duy trì những lợi ích của mỗi phương pháp.

Không như đa số những sách khác về ơn gọi, sách này không là một luận thuyết thần học hướng dẫn những người trí thức, cũng không là sách hướng dẫn ơn gọi, mà gồm những lời khuyên chi tiết về cách chọn ơn gọi. Hơn nữa, sách này tìm cách đưa ra viễn cảnh sâu xa mà đơn giản và khả dĩ tiếp cận về ơn gọi, cho cả những người tìm kiếm ơn gọi và các vị linh hướng về ơn gọi để có nền tảng vững chắc, có thể hình thành phán đoán tốt về những tình huống đặc biệt mà họ đang xử lý.

Bất kỳ phương pháp nào chúng ta áp dụng cho ơn gọi thì sự tập trung chú ý vẫn phải là tình yêu. Mỗi ơn gọi phải được tập trung xoay quanh tình yêu, vì chính nhờ tình yêu mà chúng ta được kết hiệp với Thiên Chúa, Đấng là Tình yêu, và mọi người tìm thấy sự viên mãn nơi Ngài. Do đó, đời sống chúng ta sẽ hoàn thiện hơn, tới mức mà tình yêu của chúng ta vĩ đại hơn. Yêu cầu cơ bản để sống trong tình yêu là chúng ta tuân giữ các giới răn. Thánh Gioan nói: “Yêu mến Thiên Chúa là tuân giữ các điều răn của Ngài” (1 Ga 5:3).

Thêm vào các giới răn, chúng ta được trao những lời khuyên hữu ích để phát triển trong tình yêu. Nhưng chính tình yêu phải luôn luôn duy trì tiêu chuẩn mà cách chọn lựa của chúng ta được đo lường. Yếu tố quyết định trong ơn gọi là sự hiến dâng để theo đuổi sự phát triển không ngừng trong tình yêu. Cường độ của tính kiên định của sự quyết tâm theo đuổi sự thánh thiện bằng cách dùng phương tiện chúng ta sử dụng, đó là điều rất quan trọng hơn cả phương tiện chúng ta chọn. Chẳng hạn, nên tìm kiếm sự thánh thiện trong hôn nhân toàn tâm toàn ý hơn là tìm kiếm sự thánh thiện trong đời sống tu trì toàn tâm toàn ý. Nhưng khi hiến dâng, chúng ta sẽ phát triển trong tình yêu chắc chắn hơn và mau chóng hơn nếu chúng ta sống theo cách thích hợp với việc phát triển trong tình yêu, chẳng hạn bằng cách sống theo lời khuyên Phúc âm.

Khi chọn con đường riêng để sống sẽ dẫn đến tình yêu, phương pháp của Thánh Thomas là suy nghĩ về sự tốt lành khách thể và tính khả dĩ của cách sống. Chẳng hạn, ngài nói rằng không cần phải suy nghĩ lâu dài trước khi quyết định đi tù, vì “như thế chắc chắn tốt hơn” và “vì những người đi tu không dựa vào sức mạnh riêng mình”1 nhưng tin cậy Thiên Chúa ban sức mạnh cần thiết để mình sống ơn gọi đó. Nhưng người ta phải tìm kiếm ý muốn đi tu từ Thiên Chúa, Thánh Thomas nói rằng nếu ước muốn đó chân thật, vì ý hướng tốt, đó là từ Thiên Chúa. Không thành vấn đề nếu Thiên Chúa có là nguồn trực tiếp của động thái đó hoặc tìm cách lôi kéo ai đó đi tu hay không. Thậm chí nếu chính ma quỷ là nguồn trực tiếp của ý muốn này thì chính ý muốn đó vẫn tốt, và cuối cùng vẫn từ Thiên Chúa.

Thánh Teresa Avila đã sống và hành động theo các quy luật này của Thánh Thomas. Bà thấy điều gì tốt thì nhất quyết làm. “Mặc dù tôi không tiếp tiếp tục có ý muốn làm nữ tu, tôi vẫn thấy đó là cách tốt nhất và an toàn nhất, và cứ dần dần, tôi quyết định bắt mình ấp ủ điều đó” (1). Bà tiếp tục nói về cách mà Thiên Chúa thưởng cho “sự mãnh liệt” như vậy (x. Mt 11:12) với chính điều đó (2). “Khi tôi đã quen, Thiên Chúa liền cho tôi hiểu và cách Ngài ủng hộ những người ép buộc chính mình trong việc phụng sự Ngài” (3).

Tương phản với Thánh Thomas, Thánh Inhaxiô Loyola mới đầu coi đó là “tìm kiếm Ý Chúa”. Thánh Inhaxiô đưa ra “3 cách” để người ta có thể chọn cách sống hợp với Ý Chúa: (a) Khi người ta có kinh nghiệm trực tiếp về điều chắc chắn là Ý Chúa, và điều đó hướng dẫn người ta về cách sống; (b) Khi mà nhờ nhiều kinh nghiệm và sự tìm kiếm sự tác động của Chúa Thánh Thần, người ta hiểu rằng Chúa Thánh Thần đang mời gọi hoặc lôi kéo người ta vào cách sống nào đó, hoặc ý muốn đó phát xuất từ Chúa Thánh Thần; (c) Khi bắt đầu bằng một thái độ tách biệt đối với các tạo vật, và nếu có thể, bằng sự yêu thích những gì phù hợp hơn với Ý Chúa, người ta cẩn trọng chọn cách sống đó là cách pụng sự Chúa và cứu rỗi các linh hồn.

Mỗi phương pháp này đều có thuận lợi riêng và nguy cơ riêng. Phương pháp của Thánh Thomas có thuận lợi về khách quan hơn, do đó ít có khả năng lừa dối, nhưng cũng có nguy cơ là quá trừu tượng, và do đó quá xa rời thực tế và sống kết hiệp với Thiên Chúa. Phương pháp của Thánh Inhaxiô có thuận lợi là riêng tư hơn, nhưng cũng có nguy cơ là ơn gọi sẽ được coi là gánh nặng bắt buộc (obligatory burden) bị Thiên Chúa áp đặt, không là lời mời gọi tự do sống tình yêu lớn lao hơn. Thánh Anphong Ligouri và Von Balthasar có vẻ có sự sai lầm này, vì quá nhấn mạnh vào đặc tính riêng của ơn gọi.

Nhưng dù 2 phương pháp này có những điểm khác biệt cơ bản, cuối cùng chúng vẫn tương thích. Một mặt nó khách quan tốt hơn để theo Ý Chúa hơn theo ý mình. Một mặt cho thấy khi chúng ta tìm kiếm Ý Chúa, chúng ta sẽ nhận thấy có những cái để xác định Ý Chúa không chỉ đặc biệt mà còn tổng quát và khách quan. Như vậy Thánh Anphong, theo phương pháp tổng quát của Thánh Inhaxiô, không cói các dấu hiệu của Ý Chúa là điều phải có để người ta nuôi dưỡng ý hướng tu trì; người ta chỉ cần 2 dấu hiệu như Thánh Thomas yêu cầu: Ý hướng vừa tốt lành vừa kiên định, và không trở ngại.

Nếu chúng ta áp dụng trường hợp người ta không trở ngại, và định hướng tích cực – phải thích hợp cách sống – rồi chúng ta có những điều kiện chính mà Giáo hội đòi hỏi về ơn gọi. Về yếu tố đầu tiên, ý muốn kiên định và muốn có cách sống đặc biệt (giả sử cách chọn đó hợp pháp và tốt lành), là cần thiết cho ơn gọi, mà Thánh Phanxicô Salê nói rằng ước muốn kiên định như thế chính là ơn gọi. Tuy nhiên, đối với sự kiên định của ơn gọi, chúng ta vẫn cần điều kiện thứ ba, nghĩa là sự chấp thuận của Giáo hội. Thiên Chúa không kêu gọi chúng ta tới sự thánh thiện đơn giản là những cá nhân, mà là các thành viên của Giáo hội, Nhiệm Thể Chúa Kitô. Vì thế, nhiệm vụ của Giáo hội là trắc nghiệm và phê chuẩn ơn gọi, nhất là ơn gọi tu trì và linh mục.

Các phương pháp của Thánh Thomas và của Thánh Inhaxiô không chỉ tương thích về lý thuyết, mà còn liên kết tới một mức nào đó theo phác thảo về ơn gọi của Thánh Gioan Phaolô II. Theo mô tả của ngài, ơn gọi luôn bắt đầu với Chúa Kitô, Đấng đến với mỗi cá nhân trong tình yêu, hướng dẫn người đó tìm ra cách sống thích hợp với tình yêu đó. Khi cầu nguyện đối thoại với Chúa Kitô, ngài đã kiểm tra những trường hợp riêng của ngài để tìm ra con đường sống mà ngài có thể biến nó thành tặng phẩm của mình trong tình yêu.

Phương pháp kết hợp này có thể là cách tốt nhất để suy nghĩ về ơn gọi. Mục đích cuối cùng của sự suy nghĩ cân nhắc nên đáp lại tình yêu vĩnh hằng của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Vì thế, ưu tiên việc “tìm kiếm” ơn gọi, hoặc “quyết định” cách sống, chúng ta phải cố gắng ưu tiên thanh luyện tâm hồn mình, để yêu thật và tìm kiếm Chúa trên hết mọi sự, và đưa tình yêu vào việc chọn cách sống. Chỉ khi đó chúng ta mới sử dụng tặng phẩm Thiên Chúa đã trao ban cho chúng ta – khối óc và con tim – để quyết định về cách sống.

Khi tìm kiếm ơn gọi, yếu tố này hay yếu tố khác – khối óc hoặc con tim – có thể giữ vai trò chủ đạo. Mới đầu chúng ta có thể quyết định bằng ý chí: sau khi suy nghĩ và cân nhắc các yếu tố thích hợp, chúng ta có thể biết cái gì là phương tiện tốt nhất để thực hiện tình yêu và phát triển trong tình yêu, và hãy chọn phương tiện đó. Hoặc mới đầu chúng ta có thể quyết định bằng con tim: trong vài cách có thể cái nào cũng tốt để thực hiện tình yêu và phát triển nó trong tình yêu, chúng ta có thể chọn cách mà chúng ta có khuynh hướng nhiều – không theo xu hướng thoáng qua, nhưng là khuynh hướng bền vững, nghĩa là theo tình yêu đích thực.

Khi suy nghĩ và chọn cách sống, chúng ta nên luôn nghĩ rằng con đường chúng ta chọn không là ý muốn riêng mình, mà là thiết kế của Thiên Chúa. Mỗi người trong chúng ta ở một vị trí riêng trong thế giới, cho nên chúng ta có thể chọn con đường riêng để đến với Chúa. Và như vậy, sau khi đã chọn con đường để sống, chúng ta nên tạ ơn Chúa về tình yêu của Ngài, cơ hội và lời mời gọi yêu thương mà Ngài dành cho chúng ta.

Ý muốn kiên định nên theo cách chọn lựa của chúng ta. Ý muốn kiên định này sẽ làm cho chúng ta có thể tận hiến để thực hiện việc yêu mến Chúa và tha nhân theo cách chúng ta đã chọn, và kiên trì trong mọi khó khăn. Ý muốn kiên định này là muốn phụng sự Thiên Chúa theo cách sống mà thường tạo ra sự bình an tâm hồn. Sự bình an tâm hồn liên quan cách chọn riêng là dấu hiệu kiên định của ơn gọi, và có thể được gọi là dấu hiệu của ơn gọi.

Phương pháp trực tiếp này là cách tiếp cận ơn gọi. Giữa cách của Thánh Thomas và của Thánh Inhaxiô, thực sự có nhiều cách khác mà chúng ta có thể dùng để chọn cách sống. Vấn đề là thanh tẩy tâm hồn chúng ta, chân thành sống vì tình yêu lớn lao hơn, luôn tuân phục các giáo huấn của Giáo hội và tuân theo sự cẩn trọng Kitô giáo, đồng thời cởi mở theo sự tác động của Chúa Thánh Thần, dù Ngài đưa dẫn chúng ta đi đâu. Việc tìm kiếm và theo đuổi ơn gọi không nên là máy móc hoặc xử lý lo âu, mà là sống và vui mừng với Thiên Chúa, vì “Thiên Chúa còn cao cả hơn lòng chúng ta, và Người biết hết mọi sự” (1 Ga 3:20).

JOSEPH BOLIN

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ PathsOfLove.com)

(1) St. Thomas Aquinas, Summa Theologiae II-II 189:10

(2) St. Teresa of Avila, Autobiography, Ch. 3

(3) Ibid., Ch. 4

]]>
Bốn bí quyết chống stress của Đức Phanxicô http://lamhong.org/bon-bi-quyet-chong-stress-cua-duc-phanxico/ Sun, 12 Feb 2017 07:47:55 +0000 http://lamhong.org/?p=26584 Trong một cuộc phỏng vấn với nhật báo Ý Le Corriere Della Serra, Đức Phanxicô cho vài lời khuyên chống-stress mà ngài áp dụng để có bình an.

Tương đối hóa theo kiểu Ý

Người Ý đã dạy cho Đức Phanxicô một trong các bí quyết bình tâm của họ: “Để sống bình an, phải có một liều lượng cóc cần khá tốt”. Đức Phanxicô xác nhận khi ở Buenos Aires ngài “lo âu” hơn nhiều và cuộc sống ở Vatican đúng là một “kinh nghiệm mới” của ngài. Ngài cho biết ngài cảm nhận có một “bình an sâu đậm kể từ ngày được bầu chọn”, cảm nhận này luôn đi theo ngài: “Tôi sống bình an, tôi không thể nào giải thích”.

Quay về với Thánh Giuse

Đức Phanxicô giải thích: “Nếu tôi có một vấn đề nào, tôi viết cho Thánh Giuse, tôi để mẫu giấy với lời cầu nguyện dưới tượng thánh Giuse, bổn mạng các gia đình, để trong phòng tôi”. Bây giờ “Thánh Giuse đang ngủ trên “tấm nệm của một lô giấy..!” Và thế là Đức Phanxicô tìm được giấc ngủ, ít nhất 6 tiếng mỗi đêm! Tôi ngủ ngon, đó là ơn Chúa.”

Một liều lượng tốt tu đức khổ hạnh

Đức Phanxicô kể, khi mới vào Dòng Tên, ngài được cho một vòng nhậm để mang ở đùi, với các móc sắt quay vào trong. Ngài giải thích chính xác: “Tu đức khổ hạnh đích thực làm cho mình cảm thấy tự do. Nếu có cái gì giúp cho mình được như vậy thì phải dùng, ngay cả dùng vòng nhậm móc sắt! Nhưng chỉ khi nào nó làm cho mình tự nguyện hơn, chứ không phải mình cần để chứng tỏ cho biết là mình mạnh.”

Không cần thuốc ngủ cho sức khỏe cũng như cho đức tin

Sau khi ngài cho biết mình “không dùng thuốc ngủ”, Đức Phanxicô nhắc lại, “Tin Mừng phải được dùng, không cần thuốc giảm đau!” Ngài cho biết mình cầu nguyện rất nhiều: “Tôi cầu nguyện theo cách của tôi. Tôi thích quyển nhật tụng và nó lúc nào cũng ở bên tôi. Tôi dâng thánh lễ mỗi ngày. Lần chuỗi… Khi tôi cầu nguyện, khi nào tôi cũng quay về Thánh Kinh. Khi đó bình an trong tâm hồn tôi lớn lên dần”. Như một đứa bé tinh nghịch, Đức Phanxicô thố lộ: “Tôi không biết đó có phải là một bí mật… Bình an của tôi là ơn Chúa. Tôi hy vọng Ngài không cất ơn này đi của tôi!”

Một trong các vật dụng hiếm hoi Đức Phanxicô mang từ Argentina qua là tượng Thánh Giuse nằm ngủ bằng gỗ, ngài để bức tượng này trên bàn trong phòng ngủ của ngài.

avie.fr/religion, Sophie Lebrun

Giuse Nguyễn Tùng Lâm chuyển dịch

]]>
Cầu nguyện với con cái http://lamhong.org/cau-nguyen-voi-con-cai/ Sat, 11 Feb 2017 07:57:26 +0000 http://lamhong.org/?p=26586 Bạn có cầu nguyện chung với con cái? Có thường xuyên? Tại sao có, tại sao không? Cầu nguyện còn hơn là một hoạt động ngoại khóa. Thực phẩm dinh dưỡng, ngủ nghỉ và không khí trong lành cần thiết cho sự phát triển thể lý của con cái, cầu nguyện cần thiết cho sự phát triển của linh hồn lành mạnh.

Có nhiều cách để nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện của con cái. Đây là 7 gợi ý:

1. Nói Về Thiên Chúa Bằng Cách Tích Cực. Mary Wurster, người mẹ có 4 con ở Vịnh Granite, California, cho rằng nên đưa Chúa Giêsu vào những câu chuyện hàng ngày. Chẳng hạn, cha/mẹ có thể hỏi con cái: “Con có biết Chúa Giêsu cũng có cha mẹ như con?”. Theo chị, hầu hết trẻ em dễ hiểu nhất về Chúa Giêsu so với khái niệm về Thiên Chúa.

2. Khởi Đầu Đơn Giản. Anh Bart Tesoriero ở Phoenix, cha của 4 đứa con từ 9 tới 16 tuổi, đưa ra lời khuyên: “Đừng cố gắng đọc hết cả chuỗi Mân Côi chung với trẻ hoặc bắt chúng chầu Thánh Thể cả giờ. Tùy theo độ tuổi và hãy cầu nguyện đơn giản”. Cứ dần dần cho chúng làm quen từ một kinh Kính Mừng tới một chục kinh Mân Côi mỗi tối. Vô tri bất mộ. Chưa quen biết nên không thể bắt chúng như người lớn.

3. Sử Dụng Ngũ Quan. Người Công giáo thích cầu nguyện bằng cách dùng các “đồ nhà đạo” (sacramentals) – như nến, nước phép, hình ảnh Chúa hoặc Đức Mẹ hoặc các thánh, và thánh ca. Chị Lita Friesen ở Minneapolis, mẹ của 2 đứa con, nói rằng dùng phương pháp thực hành (hands-on approach) rất quan trọng. Chị và chồng, anh Mickey, có nhiều hoạt động cầu nguyện theo mùa trong gia đình. Mỗi tối mùa Vọng, khi các con đã thay đồ ngủ, họ thắp nến rồi ngồi bên nhau cùng nghe bài “Đêm Thánh Vô Cùng”. Thật lòng mà nói, cha mẹ đôi khi cũng ngại đọc kinh chứ nói chi trẻ em! Ngày Thứ Năm Tuần Thánh, họ rửa chân cho nhau, rửa chân cho chó luôn. Mùa Thu, họ viết những mơ ước cho tương lai trên lá cây, rồi chôn xuống đất, và trồng những loại cây sẽ nở hoa vào mùa xuân.

4. Tạo Thói Quen Cầu Nguyện. Giờ ăn và giờ đi ngủ có vẻ là thời gian tốt nhất để gia đình cùng cầu nguyện với nhau. Chị Wurster kể rằng chị hát một bài thánh ca quen thuộc cho con nghe trước khi đặt con vào nôi. Điều này làm cho giờ ngủ trở thành thời gian tự nhiên để cầu nguyện khi các con lớn khôn.

5. Cứ Để Con Cái Ngọ Nguậy. Dù bạn dạy con cái có thái độ đúng đắn khi cầu nguyện, nhưng cũng nên nhớ rằng chúng còn nhỏ và đang học hỏi. Theo anh Tesoriero, cứ để chúng ngọ nguậy, thậm chí chúng có thể nằm xuống và cầu nguyện, chúng sẽ khó chịu khi phải quỳ gối hoặc ngồi nghiêm trang khi cầu nguyện – nhất là khi chúng còn tuổi nhi đồng.

Cứ để trẻ ngọ nguậy còn giúp trẻ tăng tính sáng tạo. Một hôm, anh Mickey Friesen bước vào phòng và thấy con gái Chloe đang múa. Anh hỏi sao lại múa, nó vui vẻ trả lời rất vô tư: “Đó là cách con cầu nguyện!”. Đúng vậy, Chloe vừa múa vừa hát cho Chúa thưởng thức mà!

6. Tận Dụng Mọi Khoảnh Khắc Để Cầu Nguyện. Các bậc cha mẹ khuyến khích con cái cầu nguyện bất kỳ lúc nào đó trong ngày. Chị Wurster nói đến việc cầu nguyện ngắn gọn cùng nhau khi gia đình nghe thấy tiếng xe cứu thương, hoặc cầu nguyện cho một đứa bé hoảng sợ, như vậy trẻ sẽ nhận ra rằng Chúa Giêsu ở với chúng khi cha mẹ vắng mặt. Đi đường, thấy có đám tang hoặc tai nạn, hãy dạy trẻ biết cầu nguyện cho những người gặp chuyện không may đó.

Anh Mickey Friesen nói rằng cha mẹ có thể nói lớn tiếng để con cái nghe khi cùng con cái ở ngoài trời: “Hôm nay trời đẹp quá! Tạ ơn Chúa!”. Khi buồn cũng cầu nguyện, chẳng hạn khi viếng mộ hoặc viếng hài cốt, khi xem cảnh thiên tai hoặc tai nạn trên ti-vi, thậm chí khi phát hiện một con thỏ chết phía sau nhà. Điều này giúp trẻ nhận ra Thiên Chúa ở với chúng ngay cả lúc khó khăn hoặc buồn chán nhất.

7. Tập Sống Im Lặng và Cô Tịch. Cha Mẹ đồng ý rằng con cái cần một chút im lặng và cô tịch để khả dĩ phát triển tâm linh. Điều này không dễ để nuôi dưỡng trong một nền văn hóa coi trọng các hoạt động ồn ào và cấp thời. Ngoài ra còn có mối quan ngại rằng con cái có thể lẫn lộn giữa sự im lặng lành mạnh với cách thỏa hiệp im lặng hoặc bị phạt phải im lặng.

Cha Mẹ nói tắt ti-vi, thắp nến, nghe nhạc nhẹ, hoặc đọc sách đạo đức (gọi là đọc sách thiêng liêng) cùng nhau là cách phát triển kỹ năng sống cô tịch. Chị Wurster nói rằng giữ một không gian im lặng trong nhà dành cho việc cầu nguyện là một cách để phân biệt 2 nơi tách biệt.

Hãy cầu nguyện riêng. Anh Tesoriero nói: “Cũng như các thánh tông đồ thấy Chúa Giêsu cầu nguyện, con cái chúng ta cũng noi gương chúng ta. Hãy cầu nguyện thật lòng chứ đừng cầu nguyện để được chú ý”. Khi con cái thấy cha mẹ đi lễ, đọc Kinh thánh, hoặc xin Chúa tha thứ, tự nhiên chúng cũng sẽ bị thu hút và thích cầu nguyện riêng.

BÀN TAY CẦU NGUYỆN:

1. Ngón Cái gần bạn nhất. Hãy cầu xin những điều gần gũi nhất với bạn. Đó là những điều dễ nhớ nhất. Hãy cầu nguyện cho những người thân yêu, như C. S. Lewis gọi đó là “nhiệm vụ ngọt ngào”.

2. Kế đó là Ngón Trỏ. Hãy cầu nguyện cho những người dạy dỗ mình, hướng dẫn mình, và chữa lành mình (cả thể lý và tinh thần). Đó là các thầy cô giáo, các giáo lý viên, các bác sĩ, các ca trưởng, các huynh trưởng, các vị hướng dẫn tinh thần,… Họ cần sự hỗ trợ và khôn ngoan để “chỉ” cho người khác đi đúng hướng. Hãy nhớ cầu nguyện cho họ.

3. Ngón Giữa là ngón cao nhất. Nó nhắc chúng ta nhớ đến các nhà lãnh đạo. Hãy cầu nguyện cho tổng thống, giám đốc, nhà quản lý,… Những người này hình thành quốc gia và hướng dẫn nhân dân. Họ rất cần được Chúa hướng dẫn.

4. Ngón kế tiếp là Ngón Đeo Nhẫn. Rất lạ vì đây là ngón yếu nhất. Giáo viên dương cầm luôn kiểm tra cách đánh đàn của ngón này. Nó nhắc chúng ta phải cầu nguyện cho những người yếu đuối, gặp khốn khó, hoặc bệnh tật. Họ cần chúng ta cầu nguyện cả ngày lẫn đêm.

5. Cuối cùng là Ngón Ut, ngón nhỏ nhất trong các ngón. Đây là nơi chúng ta cần đặt mình vào mối quan hệ với Thiên Chúa và tha nhân. Kinh thánh nói: “Những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót” (Mt 20:16). Ngón út nhắc chúng ta cầu nguyện cho chính mình. Khi đã cầu nguyện cho 4 nhóm người khác, lời cầu dành cho mình sẽ hiệu lực hơn.

Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu nói: “Dù nhặt một cây kim cũng có thể cứu một linh hồn”. Nghĩa là dù làm gì, ngay cả những việc nhỏ mọn nhất, nếu vì yêu mến Chúa và cứu các linh hồn thì việc làm ấy trở nên công trạng trước mặt Chúa vậy. Quả thật, lời cầu nguyện là sự yếu đuối của Thiên Chúa nhưng là sức mạnh của chúng ta, do chúng ta thành tâm cầu nguyện mà Thiên Chúa “mềm lòng”, vì Ngài luôn hết lòng yêu thương chúng ta!

JULIE MCCARTY

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ CatholicDigest.com)

]]>
Gợi ý giáo dục trẻ http://lamhong.org/goi-y-giao-duc-tre/ Wed, 08 Feb 2017 09:49:09 +0000 http://lamhong.org/?p=26580 Một trong những điều thách thức nhất về việc nuôi dạy con cái là BIẾT cách thức và BIẾT lúc nào cần kỷ luật. Phụ huynh (giáo viên hoặc giáo dục viên) phải làm gì khi đứa trẻ biết “nhấn nút chính xác” để thách thức tối đa và không có gì có vẻ tác dụng?

Hãy gặp Thánh Gioan Don Bosco – nhà giáo dục của Thiên Chúa.

Thánh Don Bosco biết chính xác bạn sẽ trải qua điều gì, vì ngài dành cả cuộc đời để đào tạo những “con ngựa chứng”. Ngài giáo dục chúng và tận tụy giúp chúng trở thành những người ngay chính phục vụ mục đích tốt của xã hội.

Khi nỗ lực đó phát triển, Thánh Bosco cần sự giúp đỡ của người khác. Điều này cũng có nghĩa là ngài đào tạo các giáo dục viên mới.

Trong những lá thư gởi cho các giáo dục viên, Thành Bosco cho biết chi tiết “Hệ Thống Ngăn Ngừa” của việc giáo dục để giúp các học sinh VÂNG LỜI chứ KHÔNG SỢ HÃI hoặc MIỄN CƯỠNG, nhưng bằng SỰ THUYẾT PHỤC. Trong hệ thống này, mọi sức ép phải được loại bỏ, và thay vào đó là LÒNG KHOAN DUNG.

Đây là bảy gợi ý mà Thánh Gioan Bosco truyền đạt cho các giáo dục viên, các điều này vẫn phù hợp với ngày nay và có thể hữu ích đối với các cha mẹ đẽ “mệt mỏi” hoặc các giáo viên đã “thất vọng” tiếp tục phấn khởi hướng dẫn trẻ em tiến tới con đường nhân đức.

  1. TRỪNG PHẠT LÀ HẠ CẤP

Chắc chắn rằng nổi nóng dễ dàng hơn kiềm chế gấp 10 lần, hù dọa trẻ dễ hơn thuyết phục chúng. Cũng chắc chắn rằng trừng phạt trẻ dễ dàng hơn chịu đựng và tử tế với chúng. Thánh Phaolô thường than phiền về cách một số người tân tòng dễ dàng trở về với thói quen thâm căn cố đế của họ; nhưng ngài vẩn chịu đựng với sự kiên nhẫn. Đây là loại kiên nhẫn chúng ta cần áp dụng đối với trẻ em.

  1. GIÁO VIÊN PHẢI CÓ UY TÍN

Khi tiếp tục làm điều này, việc bỏ một số biểu hiện về sự tử tế là một hình phạt mà nó nhen nhóm lại sự ganh đua, khôi phục lòng can đảm và không bao giờ làm mất giá trị.

Mỗi giáo viên phải làm cho mình được quý mến, nếu muốn mình có uy tín. Giáo viên sẽ đạt được điều quan trọng này nếu nói cho rõ ràng, kể cả các động thái, để chứng tỏ sự quan tâm và sự mong ước của mình vì hạnh phúc của học sinh về tâm linh và xã hội.

  1. KHÔNG NÊN TRỪNG PHẠT CÔNG KHAI

Chúng ta nên sử dạy chúng với lòng kiên nhẫn của một hiền phụ hoặc hiền mẫu. Nếu có thể, không nên sửa dạy công khai, nên sửa dạy riêng, như người Latin có câu: “In camera caritatis” – trong căn phòng tình yêu, tức là sửa dạy khi không có người khác. Chỉ sửa dạy công khai trong những trường hợp hiếm hoi, nhằm ngăn ngừa hoặc sửa trị – đối với tội nghiêm trọng cần răn đe để làm gương.

  1. TUYỆT ĐỐI TRÁNH HÌNH PHẠT THỂ LÝ

Luật nhân đạo CẤM các hình phạt thể lý – quỳ gối, tát má, kéo tai,… và các dạng tương tự.. Các dạng như vậy làm cho trẻ tức giận, đồng thời cũng hạ giá nhân cách của giáo viên.

  1. QUY ƯỚC NGHIÊM TÚC VÀ RẠCH RÒI

Giáo viên phải biết rằng luật về kỷ luật, phần thưởng và hình phạt kèm theo, phải cho học sinh biết, để không ai có thể viện cớ là không biết điều gì được khuyên hoặc bị cấm. Nói cách khác, trẻ em cần có “biên độ” và có thể áp dụng đúng. Không ai cảm thấy an toàn nếu họ đang mù mờ, và có thể họ sẽ té ngã.

  1. KIÊN ĐỊNH VỀ NGUYÊN TẮC

Hãy chính xác khi đó là nhiệm vụ, hãy kiên quyết theo đuổi điều thiện, hãy can đảm ngăn chăn điều xấu, nhưng luôn nhẹ nhàng và cẩn trọng. Chắc chắn rằng sự thành công thực sự chỉ đến từ sự kiên nhẫn.

Giáo viên thiếu kiên nhẫn làm cho học sinh “ghê tởm” và thất vọng. Sự kiên nhẫn là liệu pháp duy nhất đối với mọi người, kể cả đối với các trường hợp bướng bỉnh nhất và ngang ngược nhất. Đôi khi có thể bạn không thành công mặc dù đã kiên nhẫn nhiều, nhưng cuối cùng thì lòng khoan dung sẽ chiến thắng. Lòng nhân hậu là liệu pháp có thể chậm tác dụng, nhưng khả dĩ triệt căn hữu hiệu.

  1. KIỀM CHẾ CÁI TÔI

Khi xử lý trẻ, cha mẹ hoặc giáo viên không được để mình bị che khuất bởi bóng tối của cơn giận. Nổi nóng hoặc tức giận bởi vì “cái tôi” vùng lên. Nếu cảm thấy không thể kiềm chế, hãy im lặng và tránh ra nơi khác. Sự kiềm chế phải kiểm soát toàn bộ trí óc, con tim và miệng lưỡi của bạn. Khi thấy trẻ phạm lỗi, hãy gợi lên lòng cảm thông và niềm hy vọng trong trong tâm trí dành cho chúng, rồi bạn mới có thể sửa dạy chúng hiệu quả và hữu ích.

Trong những lúc khó khăn, hãy khiêm nhường cầu nguyện với Thiên Chúa. Đó là cách hữu ích hơn là nổi cơn giận dữ. Trẻ sẽ không có lợi ích gì từ sự mất kiên nhẫn của bạn, và bạn cũng chỉ thiệt thòi mà thôi!

PHILIP KOSLOSKI

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ aleteia.org)

Chiều 6-2-2017

]]>
Vì sao người Do Thái phiêu bạt khắp nơi mà không có người ăn mày? http://lamhong.org/vi-sao-nguoi-do-thai-phieu-bat-khap-noi-ma-khong-co-nguoi-an-may/ Wed, 08 Feb 2017 08:57:13 +0000 http://lamhong.org/?p=26578 Trong hơn 2000 năm, người Do Thái ly biệt quê hương và tản mạn đi khắp mọi khu vực của trái đất. Mãi đến năm 1947, khi chiến tranh thế giới thứ 2 chấm dứt, người Do Thái mới trở về đất nước của mình. Nhưng mà, là một dân tộc dù phải lang bạt hơn 2000 năm, nhưng Do Thái lại là dân tộc “độc nhất vô nhị” không có người ăn mày.

Người Do Thái cho rằng: Giáo viên vĩ đại hơn cả quốc vương. Họ vô cùng kính trọng giáo viên. Dựa vào học tập, tri thức và sách, người Do Thái dù lang thang ở bất kể nơi đâu họ cũng đều có thể sinh tồn, hơn nữa còn phát triển mạnh mẽ.

Người Do Thái là một dân tộc có tín ngưỡng tôn giáo mạnh mẽ. Họ coi học tập là một phần của tín ngưỡng, học tập là một hình thức thể hiện sự tôn kính của mình đối với Thượng đế. Mỗi người Do Thái đều cần phải đọc sách.

Talmud chính là nguồn gốc trí tuệ của người Do Thái. Talmud có nghĩa là “nghiên cứu” hoặc “nghiên cứu và học tập”. Talmud cho rằng: “Học tập là thứ giúp hành vi hướng thiện, là nguồn gốc của đức hạnh. Sự thành kính, lương thiện, ôn hòa, ưu nhã của một người đều là dựa vào kết quả của giáo dục”.

Người Do Thái coi sách là bảo bối của cả đời. Giá sách không được đặt ở đầu giường hay cuối giường nếu không sẽ bị coi là bất kính với sách.

“Trí tuệ quan trọng hơn tri thức”. Như thế nào là tri thức? Tri thức chính là thực tế khách quan và chân tướng của vạn sự vạn vật. Còn trí tuệ là đem thực tế khách quan và chân tướng của vạn sự vạn vật tiến hành tổng hợp ra một phương án tốt nhất để giải quyết vấn đề.

Đối với con người, quan trọng nhất là cái gì? Là đến từ trí tuệ, mà trí tuệ lại đến từ tri thức.

Mục đích của đọc sách là để mở rộng tri thức, sau khi đã chuẩn bị được nguồn tri thức phong phú, bạn sẽ học được cách suy xét. Bạn sẽ minh bạch được đạo lý làm người hoặc là sẽ tìm được cách thức giải quyết vấn đề. Đây chính là trí tuệ! Vì vậy, trí tuệ đến từ tri thức và quan trọng hơn tri thức!

Người Do Thái ủng hộ sáng tạo cái mới. Họ cho rằng, việc sáng tạo ra cái mới chính là trí tuệ, phải dám hoài nghi, dám đặt câu hỏi bất cứ lúc nào, bởi vì tri thức càng nhiều sẽ càng sản sinh ra sự hoài nghi.

Người Trung Quốc thường hỏi con cái khi chúng tan trường là: “Hôm nay con làm bài thế nào?”. Còn người Do Thái sẽ hỏi con: “Hôm nay con có đưa ra câu hỏi nào không? Hôm nay con có gì khác hôm qua không?”.

Người Do Thái cho rằng, thông qua học tập mọi người có thể nhận thức chính mình và siêu việt chính mình.

Cách giáo dục của người Do Thái bao gồm cả đóng  và mở. Đối với nội bộ người Do Thái là cởi mở, còn đối với bên ngoài là đóng kín, để duy trì sự cạnh tranh sinh tồn của người Do Thái. Talmud là kinh thánh chuẩn, trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ 6 công nguyên, người Do Thái đã vận dụng nó 500 năm. Hơn 2000 giáo sĩ Do Thái và các nhà khoa học đã biên soạn ra cuốn sách quý này. Nó là bảo bối sinh tồn của người Do Thái.

Trên thế giới, dân tộc Do Thái là dân tộc hiểu nhất về nghệ thuật của giáo dục. Có thể nói, người Do Thái  là dân tộc thành công nhất về giáo dục.

Người Do Thái cho rằng giáo dục có thể cải biến đời người, số mệnh, cải biến hết thảy. Vì vậy, trong hơn 2000 năm lang bạt trong lịch sử, hết thảy mọi thứ của họ đều bị cướp đoạt hết chỉ có SÁCH và TRI THỨC là không thể bị cướp mất.

Người Do Thái vô cùng coi trọng giáo dục, tri thức và sách. Chỉ có tri thức là tài phú quan trọng nhất, là tài sản có thể mang theo bên mình và còn cả đời có thể hưởng dụng.

Vì thế, người Do Thái là dân tộc đầu tiên trên thế giới xóa mù chữ. Từ trước năm 1947, ngay cả một mảnh đất lãnh thổ cũng không có. Thế nhưng, trong thời kỳ trung cổ, người Do Thái đã xóa mù chữ, vì vậy tố chất chỉnh thể của dân tộc này cao hơn của các dân tộc khác một bậc.

Dù với dân số ít ỏi, nhưng Do Thái là dân tộc đã giành được rất nhiều giải thưởng Nobel, với 169 người, chiếm 17,7% tổng số người giành được giải thưởng này của cả thế giới.

Chính những yếu tố này đã khiến cho người dân Do Thái dù phải phiêu bạt khắp thế giới hơn 2000 năm, nhưng lại là một nước duy nhất trên thế giới KHÔNG CÓ ĂN MÀY.

Mai Trà biên dịch theo NTDTV

]]>
Con người và hành trình miên man của lòng tham http://lamhong.org/con-nguoi-va-hanh-trinh-mien-man-cua-long-tham/ Mon, 06 Feb 2017 10:19:04 +0000 http://lamhong.org/?p=26575 Các cộng đồng người tinh tú trên thế gian, mà ta gọi là nhà nước, Liên hiệp quốc, các tổ chức toàn cầu, nhân loại…, nếu sáng suốt thì điều thực tiễn phải làm là tìm cách kiểm soát, quản lý, điều tiết, ngăn chặn, hạn chế, lèo lái được lòng tham của con người, soạn luật chơi phù hợp với đặc tính tham của giống loài, chứ đừng kêu gọi từ bỏ, không có lòng tham, không còn lòng tham. Lòng tham, tính tham nó vẫn sừng sững mãi thôi giữa dương gian, trời đất này. Còn con người thì còn lòng tham.

“Thương thay giống loài tinh tú ấy”

Đến cọng rau con người còn nhu cầu đến vô cùng, huống gì hình thức và tiện ích cho phương tiện đi lại, bộ vó trên người, vật dụng trên tay, căn nhà ở, gái đẹp, trai sang, hay nhu cầu tự hào, danh vọng, hơn thua.

Ăn no rồi đòi ăn ngon. Mặc ấm rồi đòi mặc đẹp. Có ít rồi cần thêm nhiều. Đã đẹp lại hay thích khoe, và càng thích đẹp hơn. Và xấu thì mặc cảm. Vì mặc cảm nên phải tìm cách bù đắp, hay làm cho hết xấu. Người không đẹp, không giàu thì phải thèm khát được đẹp, được giàu. Cấp độ tăng dần vừa theo bản năng vừa theo ý thức, cảm xúc lẫn lý trí. Chỉ có trong thế giới con người mới sinh chuyện: nghèo người ta khinh, thông minh người ta ghét, xinh đẹp người ta đố kỵ (và bị tranh giành). Cứ thế, loài người trong một vòng luẩn quẩn.

Ngay sự tiên tiến, hay hội nhập cũng hình thành trên những nhu cầu, lòng tham, ganh đua, thành đạt, phân biệt, cướp đoạt. Con người vẫn muốn có nhiều căn nhà dù trong đêm người ta chỉ ngủ trong một căn và trên một giường. Con người cứ cần nhiều kho thực phẩm tích trữ ở nhiều hình thức khác nhau trong ngày dù cơ thể hấp thụ tối đa 2.000 calo (với phụ nữ), và 2.500 calo (với đàn ông) mỗi ngày.

Các loài khác không như họ. Các loài khác không tính toán như họ. Các loài khác không có khái niệm tài sản, thừa kế, trách nhiệm, của hồi môn, hay niềm tự hào về dòng họ, đẳng cấp, giàu sang, thành tựu, thành đạt.

Nếu khái niệm “động vật bậc cao” và văn minh là độ đo to rộng của chỉ số lòng tham thì con người là động vật bậc cao và văn minh nhất. Các loài khác nghĩ đến việc ăn ở từng bữa, hay nói khác là chỉ tìm ăn khi bụng lép rỗng, đói. Các loài khác chỉ ăn thứ cây, hoặc con hợp với mình, mình cần, còn con người cây, con gì cũng ăn.

Các loài khác không thích mới và lạ. “Mới” và “lạ” sinh ra sự chinh phục, và sự chinh phục chính là chỗ thúc đẩy lòng tham. Tiên tiến là muốn vượt lên thêm, đạt được nhiều hơn. Được ngụy trang bởi ngôn từ nào thì tiên tiến cũng đi cùng khai thác, mà khai thác là đường đi của tội lỗi, chuyển hóa tích cực sang tiêu cực. Có một sự thực vui đến xót xa là mọi phát kiến quan trọng trên trần gian này suốt lịch sử đã qua đều bắt đầu từ nhu cầu phục vụ sự hủy diệt (chiến tranh, khống chế, cạnh tranh, chiếm đoạt, phụ thuộc, trên – dưới) mà ra, chứ không từ vì sự phúc lạc, thái hòa cho mặt đất.

Các loài khác chỉ ăn đủ no, còn con người lo trữ cho quanh năm, muôn năm, cả đời, và không cho riêng mình mà còn cho con, cháu, chắt. Con người cần của cải trong trời đất không chỉ cho cái bụng, mà cho cả cái đầu, ví như niềm tự hào, sự lo toan, hay cuộc hơn thua với bạn bè, xóm giềng, dòng họ, chủng nòi, quốc gia, dân tộc, châu lục này với châu lục kia, chủ nghĩa này với chủ nghĩa nọ, thời đại này với thời đại khác.

Từ nhu cầu bỏ bụng đến nhu cầu xa xỉ đều phải qua khai bóc thiên nhiên cả. Như cọng rau, con cá đến chiếc xe hơi, hay cái ti vi màn hình phẳng. Con người xây lâu đài vinh quang cho mình nên làm khổ mình và vạn vật, thiên nhiên bởi nhu cầu đó. Thượng đế biết vạn vật trong thiên nhiên hữu hạn, nhưng con người thì không thể biết điểm dừng của nhu cầu ở mình. Con người tự cho mình quyền đứng trên muôn loài. Và con người cũng tự cho mình quyền cứu vớt muôn loài, dù sự thật trần trụi là không loài nào biến mất mà không do con người (từ khi có con người).

Con người biết giống loài mình là loài tàn bạo, thâm hiểm, quái ác nhất. Nhưng con người cũng là loài duy nhất hay rao giảng về đạo lý trước vũ trụ, thiên nhiên, vạn vật. Họ muốn gia đình người khác, quốc gia khác xài ít thiên nhiên nhưng không chịu làm thế ở gia đình mình, quốc gia mình. Họ muốn các quốc gia khác không phát triển công nghiệp súng đạn, xuất khẩu vũ khí, sở hữu hạt nhân, nhưng không muốn thế ở quốc gia mình. Họ muốn phi hạt nhân hóa trên toàn cầu, nhưng không hủy kho hạt nhân ở nước mình, và luôn sáng tạo thêm những thứ vũ khí tối tân khác. Trước thiên nhiên, họ nhìn ngành công nghiệp sản xuất cưa máy ở chiều tiết kiệm nhân công xẻ gỗ, giải cứu sức lao động của con người, nhưng họ không chịu nhìn rừng trên mặt đất nhanh hết đường tồn tại hơn. Họ nghĩ con người luôn có ý thức, lương tâm và kiểm soát được hành vi con người. Thì ra họ không hiểu con người và quy luật không bến bờ của lòng tham.

* * *

Lòng tham là bạo chúa. Lòng tham không có nhu cầu tỉnh thức, hay hoàn lương. Lòng tham chấp nhận sự đào mồ tự chôn mình, hơn là trí tuệ, tiết chế, chuẩn mực, và lắng nghe, thấu hiểu. Nó nhìn tới chứ không nhìn lui, chấp nhận vực thẳm đang đợi ở đâu đó. Bởi đơn giản, nếu bảo đàm phán, đối thoại, thương thảo, thông hiểu nhau là con đường hay nhất, đúng đắn nhất, chính nghĩa và vì con người nhất, thì làm sao vẫn có chiến tranh, và hoài hoài, hàng ngày trên địa cầu này. Vì là con người, nên họ sẽ có cách để đưa ra lý do cần thiết phải chiến tranh, chứng minh tính tử tế, hay ho của hành động giết người, và không chịu trách nhiệm trước cái chết nào, dù con người nào cũng chỉ được một lần duy nhất có mặt ở trên đời.

Sẽ khó có loài nào ích kỷ hơn loài người (Homo Sapiens). Chung quy cũng tại lòng tham, và vì nó có trí tri, coi gia đình mình và sự thành tựu của bản thân quý quá, quan trọng. Nó đang xấu, đang hành ác ngay ở nhận thức tốt này của nó.

Nhu cầu của con người là sự lành mạnh? Đúng, nếu nó không làm tổn hại đến muôn loài, ảnh hưởng đến tương lai. Tiếc thay, bản chất nhu cầu luôn gia tăng, tha hóa, vô độ, và khó có thể tiết chế. Nhu cầu là lòng tham, nó làm khổ con người, đeo bám con người. Có khi đến lúc chết người ta còn phải tính, lo, chọn chỗ chết, nơi gửi tro xác, tiếng tăm để lại, di sản để lại, trách nhiệm để lại.

Từ sau thời hậu kỳ đá mới, sang thời kim khí, quyền sở hữu xuất hiện trong cộng đồng người, là thiên nhiên bắt đầu khốn đốn với con người, và con người bắt đầu gây đau khổ cho nhau. Và như thế, con người ngày càng thẳng tay, thủ đoạn với thiên nhiên – thiên nhiên trở thành vật thí thân cho người. Từ sự thành kính thiên nhiên đã chuyển thành kiểm soát và cưỡng bức thiên nhiên, và vô lễ tuyệt đối với thiên nhiên. Sự nương theo thiên nhiên, thuận hòa theo thiên nhiên không thể còn nữa. Thiên nhiên tròng trành, teo tóp, căng thẳng, thoi thóp, yếm thế. Lý trí thế chỗ hoàn toàn cảm xúc thuần hậu nơi con người. Con người luôn mưu tính trước thiên nhiên và trước đồng loại.

Con người thường sa lầy trong lòng tham, mà đặc tính này ở họ có tính di truyền cao, và trong giáo dục họ không bao giờ dạy con cháu từ bỏ nó. Họ rất có trách nhiệm với trực hệ, gia đình, nhưng với đồng loại mình thì họ bước qua, đua tranh quyết liệt, giành giật đến cùng.

Sẽ không bao giờ có chuyện dừng lại hay chừng mực với nhu cầu ở con người. Vì cái “ác” thường đi với sự “có trí”, nhất là cái trí không hướng vào sự thiện lành, và khi nó được vận động trên cơ sở đặc tính lòng tham cố hữu.

* * *

Trong bất cứ tôn giáo nào, điều giới luật đầu tiên đưa ra đều là từ bỏ lòng tham, tránh tham lam. Nhưng bao nhiêu tín đồ, con chiên của các Phật, của Chúa… trong hành trình làm người của mình hành sự và sống được như vậy đâu. Họ vẫn kẹt trong những tục lụy, nhu cầu thế tục, lòng tham đặc tính người ấy. Tôn giáo nào trên dương gian cũng chỉ cho con người cách thức để làm người tốt. Nhưng con người, với bản chất sinh học và bản chất phàm tục của nó vẫn cứ làm ngược lại.

Họ nghĩ con người luôn có ý thức, lương tâm và kiểm soát được hành vi con người. Thì ra họ không hiểu con người và quy luật không bến bờ của lòng tham.

Vì vậy, mà các tôn giáo có lý do để tồn tại, như suốt mấy ngàn năm qua, để nói những điều mơ ước của con người, xá tội cho con người, vỗ về con người, an ủi tội lỗi chúng sinh. Bởi con người ngày càng có vẻ tốt với nhau hơn là tốt thực với nhau. Con người ngày càng hại nhau, ác với nhau là chính.

Ngay cả trong việc quản trị nhau, con người cũng phải dùng phương thức gia tăng sự hung hãn. Ai nghĩ rằng một kiểu nhà nước như IS vẫn có thể xuất hiện trong thế giới mà ta gọi là hiện đại này, và nó vẫn quy tụ được người theo.

Phẩm giá nơi từng con người đã khó với từng người đó trong hành trình đi tới, huống gì phẩm giá cho quốc gia, đạo đức của quốc gia, nên mới có chuyện bao đời nay, quốc gia này đi xâm chiếm quốc gia khác. Tất cả đều đặt khái niệm “phẩm giá” cho lòng tự hào, tự tôn của cộng đồng riêng của họ chứ không phải “phẩm giá” trước Mẹ vũ trụ, thiên nhiên và cộng đồng khác. Những khế ước về đạo đức và lương tâm luôn thất bại, nó đu dây theo lòng tham con người, và tồn tại trên chót lưỡi, đầu môi, nghị sự, hội nghị thượng đỉnh, diễn đàn, xã giao.

Càng vào giai đoạn sau con người càng chồng chất tội lỗi với tạo hóa. Càng đi vào xã hội mà loài người gọi là “hiện đại” con người thực chất càng man rợ, tham ác hơn tiền nhân, nhưng vẫn dùng mỹ từ “văn minh” để nói về loài mình. Càng ngày con người càng hay dùng nhiều đến từ “nhân bản”, mà con người có còn biết không, rằng “nhân bản” tức là tính người gốc, bản chất thiện lành là phẩm chất mà lúc ban đầu, khởi đầu con người từng có đó thôi. “Nhân bản”, xa quá, nên nhớ. “Nhân bản”, không còn, nên cần, nhắc, khuyên, gọi, mong, đợi.

Ở cực nghiêm túc, thấu triệt, rằng chỉ khi chúng ta sòng phẳng trước trời đất và chỉ rõ bản chất tồi tệ của giống loài chúng ta thì khi ấy ta mới chân thành với tạo hóa, công bằng trước tạo hóa, và may ra mới thay đổi tâm thế và hành vi, dù về thực tiễn điều này sẽ rất khó.

Giống loài ở “bạc” nhất trên trái đất là giống loài tôi (Homo Sapiens).

* * *

Các cộng đồng người tinh tú trên thế gian, mà ta gọi là nhà nước, Liên hiệp quốc, các tổ chức toàn cầu, nhân loại…, nếu sáng suốt thì điều thực tiễn phải làm là tìm cách kiểm soát, quản lý, điều tiết, ngăn chặn, hạn chế, lèo lái được lòng tham của con người, soạn luật chơi phù hợp với đặc tính tham của giống loài, chứ đừng kêu gọi từ bỏ, không có lòng tham, không còn lòng tham. Lòng tham, tính tham nó vẫn sừng sững mãi thôi giữa dương gian, trời đất này. Còn con người thì còn lòng tham. Con người còn thì không bao giờ hết tranh chấp, chiến tranh, tham vọng, nhu cầu thành đạt, thành tựu, tự hào, tự ái, mặc cảm, kiêu hãnh. Con người còn thì không bao giờ thiên nhiên không đau khổ. Rằng con người cũng từng muốn (mới chỉ là muốn) chan hòa với nhau, hướng đến chủ nghĩa đại đồng, rồi dễ dàng quay lại liền chủ nghĩa dân tộc, xích động dân tộc chủ nghĩa, ở mọi quốc gia. Con người muốn hướng đến toàn cầu hóa, nhưng ngay đấy trỗi dậy với chủ nghĩa bảo hộ, dân tộc chủ nghĩa. Con người cứ luẩn quẩn, dối lừa nhau mãi, và chắc chắn sẽ mãi mãi như thế, vì đó là loài không thể từ bỏ lòng tham.

Vũ trụ, thiên nhiên, Thượng đế biết con người là đứa con hư, nhưng không thể bỏ nó, vẫn thừa nhận nó là một giống loài, vẫn thương nó. Con người biết hết bản chất mình, nhưng vẫn vận hành mình theo trục xấu đó, và không thể khác. Con người đau khổ, vì tính tham, lòng tham của mình. Để vào ngày tàn đời, ai trong họ cũng muốn được thanh thản, như nghe vang lên thanh âm từ bi hỉ xả, bác ái, giải thoát từ đôi lời kinh Phật, kinh Thánh, kinh Koran…

Nguyễn Hàng Tỉnh (TBKTSG)

]]>
Lá thư tâm tình của một giáo dân gửi vị linh mục http://lamhong.org/la-thu-tam-tinh-cua-mot-giao-dan-gui-vi-linh-muc/ Mon, 06 Feb 2017 09:53:13 +0000 http://lamhong.org/?p=26570 Thưa cha, xin cha hãy dịu dàng, ôn tồn nhưng cũng thẳng thắn dạy dỗ và sửa sai chúng con. Thật là diễm phúc cho chúng con khi có được những người Cha hiền lành, khiêm tốn nhưng cũng cương trực như thế…

Trong những dịp lễ phong chức, khi chúc mừng các tân chức, người ta thường hay chúc các Cha mới là “Chúc cho Cha trở nên Linh mục như lòng Chúa ước mong và lòng dân mong đợi”. Mình trộm nghĩ, “trở nên Linh mục như lòng Chúa ước mong” thì cũng dễ hiểu, (dù là rất khó thực hành, mời gọi người Linh mục nỗ lực mỗi ngày) nhưng còn “như lòng dân mong đợi” thì thật là khó.

Lòng dân thì “chín người mười ý”, làm sao mà chiều cho xuể, ý là chưa kể nhiều khi sống “như lòng dân mong đợi” thì lại “không như lòng Chúa ước mong” . Tuy nhiên, mình trộm nghĩ rằng, nếu người Linh mục cứ nỗ lực mỗi ngày miệt mài sống “như lòng Chúa ước mong” thì tự nhiên cũng sẽ sống “như lòng dân mong đợi”. Cứ lo sống đẹp lòng Chúa, còn lại để Chúa lo cho.

Tuy nhiên, tìm hiểu về hình ảnh vị Linh Mục mà lòng dân mong đợi cũng là điều hữu ích.

Nhưng đâu là những điều người giáo dân mong ước nơi vị Linh mục? Mang lấy tâm tình của một người giáo dân, tôi viết một lá thư cho vị Linh Mục.

Kính thưa Cha! Trong lòng mỗi người giáo dân chúng con đều có một hình tượng về người Linh Mục rất riêng, lắm khi là đối chọi nhau nữa. Mỗi Linh mục cũng khác nhau về tính tình, sở thích, nền văn hóa… nên sẽ thật mơ hồ khi chúng con nói lên những mong ước nơi các Cha. Tuy nhiên, chúng con đều chỉ mong ước cho các Cha những điều tốt đẹp nhất hầu phục vụ cho đoàn chiên mà Chúa trao cho các cha.

Xin hãy dạy chúng con ý thức về sự linh thánh của Phụng vụ: Giữa một thế giới tục hóa như hôm nay vốn thiếu nhạy bén với những thực tại thiêng liêng, xin Cha hãy dạy chúng con về sự linh thánh của các mầu nhiệm thánh trong Phụng vụ. Linh mục hãy trở nên gương sáng cho chúng con về sự thành kính sâu xa phải có đối với Bí tích Thánh Thể. Cúi mình sâu trước Thánh Thể, tôn kính bái thờ Chúa sau khi truyền phép, tôn trọng sự thánh thiêng của tòa cáo giải, cung kính đọc các bản văn Lời Chúa… tất cả những điều đó luôn là những bài giảng hùng hồn cho người giáo dân chúng con. Chúng con biết đôi khi sự quen thuộc rất dễ dẫn đến nhàm chán, nhưng chúng con đến Nhà thờ để sống đức tin, và sự linh thánh trong Phụng Vụ sẽ giúp chúng con rất xúc động.

Xin hãy dạy chúng con khao khát Lời Chúa bằng bài giảng được đầu tư kĩ càng, súc tích, ngắn gọn và tâm tình của Cha, không phải chỉ là những kiến thức đậm chất hàn lâm hay những chuyện luyên thuyên dài dòng, nhưng là chính kinh nghiệm sống đức tin của Cha. Chúng con đến nhà thờ để tìm kiếm sự bình an mà thế gian không thể ban tặng, để nhìn lại cuộc sống mình và để sống, để tuyên xưng đức tin của mình, xin Cha hãy giúp chúng con tìm thấy ý nghĩa của đời sống đức tin qua Lời Chúa và kinh nghiệm sống đức tin của Cha. Chúng con sẽ dễ dàng nhận ra tấm lòng của Cha trong bài giảng và thao thức nên thánh của Cha, một người sống giữa đời mà không thuộc về đời, và dù có nhiều khó khăn trắc trở nhưng vẫn dạy cho người thế biết khao khát Nước Trời.

Xin cha hãy nhẹ nhàng và thông cảm cho chúng con khi chúng con đến xưng tội. Cuộc sống bôn ba vất vả với bao lo toan, là phận người yếu đuối khó lòng tránh khỏi luốc lem tội lụy, xin Cha hướng dẫn chúng con cách trở về với Chúa và sống tốt đẹp hơn, dù cho lắm khi chúng con cũng khiến Cha mất kiên nhẫn khi phải linh hướng và giải tội cho chúng con, nhưng chúng con xác tín rằng những khó nhọc ấy thật quý giá, nó sẽ là triều thiên vinh hiển Chúa đội trên đầu Cha trên Nước Trời mai sau. Cha ạ, đã có nhiều người than phiền vì bị la rầy trong Tòa Giải Tội, và có những người bỏ đạo hẳn vì một vài lời la rầy trong lúc mệt mỏi của Cha. Những điều như vậy thật là buồn và không phải là chưa từng xảy ra, xin hãy trở nên hình ảnh lòng thương xót và sự kiên nhẫn của Thiên Chúa cho trần gian, như chính Cha đã cảm nghiệm trong cuộc sống riêng tư của mình.

Xin hãy là người Cha của chúng con. Chúng con thật cảm kích khi thấy một Linh mục tốt lành, thánh thiện, thương yêu giáo dân và ân cần khi tiếp đón và giúp đỡ chúng con khi chúng con cần đến sự hướng dẫn của Cha. Xin hãy dịu dàng, ôn tồn nhưng cũng thẳng thắn dạy dỗ và sửa sai chúng con. Thật là diễm phúc cho chúng con khi có được những người Cha hiền lành, khiêm tốn nhưng cũng cương trực như thế, khác xa kiểu cách của biết bao công chức thích quát nạt hay hành sách người khác ngoài đời. Xin hãy là gương sáng cho chúng con về nhân bản, về cách đối nhân xử thế, về cách sống làm người. Đó đây có những vị Linh mục bị người giáo dân than phiền, kể cả trên mạng xã hội vì ăn nói bỗ bã, phàm tục, xưng hô thiếu mô phạm, nói năng như hàng cá hàng tôm… Thưa Cha, chúng con thật đau lòng khi thấy những điều đó. Chúng con biết rằng cái khó của người đi tu là ở chỗ làm sao “hòa đồng mà không hòa tan, vẫn giữ gìn tư cách của đời tu”, rất đơn sơ nhưng không tầm thường, rất bình dân nhưng không sa lầy. Chúng con mong ước các Cha vừa thuộc về Thiên Chúa mà không xa lạ với con người, vừa hòa nhịp với xã hội mà vẫn trung thành với đức tin. Xin hãy là mẫu gương sống tiết độ và thánh thiện để chúng con noi theo, trong cách ăn uống, cách sống, cách nói năng… Chúng con thật hạnh phúc vì có những tấm gương sáng như thế ở giữa cõi đời này vốn dĩ còn nhiều lọc lừa, bon chen, vụ lợi và giả dối.

Nếu cha không dạy chúng con, thì ai sẽ là người dạy chúng con những điều này đây?

Thưa Cha, chúng con biết sống đời tu là cả một cuộc chiến đấu và hy sinh liên lỉ. Nhân vô thập toàn, ai là con người cũng đâu thể hoàn hảo được. Sống thì có người thương người ghét. Có những người thương Cha, chia sẻ và cộng tác với Cha trong công tác mục vụ và đời sống thường ngày, nhưng cũng không thiếu những người là thánh giá của Cha phải vác. Người ta có thể chỉ trích và đả kích Cha không thương tiếc, người ta có thể chê Cha trong khi ngoài mặt vẫn nịnh hót khen ngợi Cha, người ta không thấu hiểu và thông cảm cho những khó khăn và mệt nhọc của đời Linh Mục. Nhưng vẫn còn có chúng con và những lời cầu nguyện của chúng con mỗi ngày dành cho Cha. Cha không thiếu những ân nhân âm thầm vẫn mỗi ngày cầu nguyện cho Cha, xin Cha tin chắc như vậy. Là hình ảnh của Chúa Giêsu Cứu Thế trên trần gian, kết cục của Cha cũng chẳng gì khác hơn là đi vào cuộc Thương Khó, vác Thánh Giá rồi chịu đóng đinh, chết với Thầy và như Thầy Chí Thánh, trước khi tiến vào vinh quang Phục Sinh. Chúng con cầu nguyện cho Cha mỗi ngày, để Cha trở nên hình ảnh sống động của Chúa Kitô, vị Linh Mục thượng phẩm đời đời, và của những vị Linh mục thánh thiện đã được Giáo Hội tôn vinh trên bàn thờ. Ước mong sao Cha trở thành Linh mục “như lòng Chúa ước mong”.

Con Chiên Nhỏ

(Nguồn: giaophanvinhlong.net)

]]>
Quân bình trong tình cảm http://lamhong.org/quan-binh-trong-tinh-cam/ Mon, 06 Feb 2017 09:46:54 +0000 http://lamhong.org/?p=26568 Để nói về sự liên đới người ta thường hay nói câu: “không ai là một hòn đảo”. Đúng vậy, con người là sống cùng, sống cho và sống với mọi người. Đời tu, cũng vậy, cần phải sống vì, sống cho và sống với mọi người. Chính vì lẽ đó, những người tu cũng cần có tình bạn, thậm chí cả tình yêu trong đời sống độc thân. Cái quan trọng là khái niệm và biên độ của tình yêu và tình bạn của những người tu tới đâu là đủ. 

Có những tu sĩ, đặc biệt là các soeur, rất ư là “e sợ” trong khái niệm về tình bạn và tình yêu trong đời tu. Thật vậy, một số người vẫn nghĩ rằng hễ có một tình bạn hơi sâu xa một chút là đã vi phạm lời khấn khiết tịnh rồi. Theo họ việc trao hiến con tim cho Chúa thì cho đến chết chỉ một mình họ và Chúa biết con tim đó mà thôi, họ “e sợ”  đến độ mà khi tương quan bình thường trong giáo tiếp với người khác giới họ suy nghĩ rất tiêu cực, cứ cho rằng là không tốt, là không nên. Do đó, họ không dám nói chuyện bình thường với một người nam nào thâm chí đó là một linh mục đang làm công tác mục vụ chung. 

Trái lại với thái độ “e sợ” là thái độ quá “dạn dĩ” trong tình bạn và tình yêu. Không phải là họ làm gì với hai từ “dạn dĩ” nhưng họ xem thường những tương quan “khác giới” được núp bóng dưới hình thức thiêng liêng qua việc nhận rất nhiều anh nuôi, bố nuôi, chị nuôi mẹ nuôi và cả em nuôi nữa… anh em linh tông, chị em linh tông, anh em kết nghĩa, chị em tinh thần…. Chúng ta thấy có những soeur đi đâu cũng có bố, ông nội,… mà nếu tính đời linh tông đôi khi bắn đại bác cả ngày cũng chưa tới!

Một thực tế, nếu chúng ta để ý, hình như các cha thầy có nhiều bố nuôi, mẹ nuôi, chị nuôi, em nuôi, anh em linh tông…, nhưng các soeur thì chỉ có ông nội, bố chứ không có ông bà ngoại, mẹ hay chị em linh tông! Với nhiều tình thân trong mối dây linh tông như vậy sẽ khó mà có được tình bạn và tình yêu trong sáng trong đời sống dâng hiến. Dẫu biết rằng, họ luôn ý thức đó là linh thiêng, nhưng với một người đã thưa với Chúa “con chỉ muốn yêu mình Ngài thôi” mà lại có quá nhiều mối tình thân như vậy thì sao có thể còn chỗ cho tình yêu của Thiên Chúa triển nở nơi mình? Thay vào đó là những “tình bạn đặc biệt”, những “linh tông bí mật”. Chính những mối tình thân quá khép kín và đặc biệt này đôi khi gây ra những dị nghị và cản trở cho việc phát triển trong cộng đoàn tu trì của họ.

Kết quả là không ít những tu sĩ rơi vào tình trạng “khởi sự nhờ Thần khí, nhưng kết thúc bằng xác thịt”. 

Khi bắt đầu bước vào tiểu chủng viện, để giữ được tầm hồn thanh sạch và để toàn tâm tu trì tôi đã được nhắc nhở nhiều về việc không được và không nên nhận bố nuôi, mẹ nuôi, chị nuôi và ngay cả em nuôi nữa… Và khi bước chân qua Đại Chủng Viện tôi lại được các anh lớn cùng Giáo Phận cũng nhắc nhở điệp khúc đó: “Giáo Phận mình không cho phép nhận bố nuôi, mẹ nuôi, chị nuôi…” nhưng khi ra trường tôi lại thỉnh thoảng có nghe người này người kia “khoe” “Tôi là bố nuôi, là mẹ nuôi, là chị nuôi, là anh em linh tông của Thầy này Thầy kia” và tôi thấy có cả với ông thầy mà trước kia nhắc tôi là “Giáo Phận mình không cho phép”. Từ đó có thể thấy một mối tương quan “linh thiêng” trong “bóng tối” do đó rất khó để có thể giữ mối tình này nơi “ánh sáng” cho đời sống độc thân được.

Có chuyện kể rằng: người mẹ, trước kia cũng là người đã từng đi tu, thấy con gái mình có mối quan hệ rất thân thiết với một ông thầy. Đi đâu ông thầy và cô con gái cũng đi chung. Thấy điều bất ổn như vậy, với kinh nghiệm của mình đã từng trải qua, bà mẹ nói với con gái: “Con nên cẩn thận và ý tứ trong việc tiếp xúc với ông thầy nhé!” Cô con gái đáp: “Mẹ cứ an tâm đi, chúng con là anh em kết nghĩa mà”. Bà mẹ nói: “Tiên sư bố mày, hồi xưa tao cũng vì anh em kết nghĩa nên giờ tao mới khổ như vậy nè!”.

Một tình bạn trong sáng trong đời sống độc thân là một điều người tu sĩ nào cũng mong muốn có. Nhưng điều nên nhớ là làm sao cho tình bạn triển nở trong sự tự do hoàn toàn giữa người này với người kia. 

Cuối cùng chúng ta phải ý thức mình là người tu, trái tim được dâng hiến cho Thiên Chúa, tình cảm phải được trưởng thành và giữ được mức quân bình của người tu, tránh đi những tình bạn quá nghiêng về cảm giác, từ đó dễ dành chỗ quá lớn cho nhu cầu cần đến nhau và những khát vọng. Cần phải có một thái độ triệt để trong lãnh vực này…. Nhưng dù có vấp ngã, dù có sa ngã ta vẫn tiến lên phía trước như một người vẫn kiên vững trong quyết định của mình, cho dù thực tế vẫn còn bao yếu đuối.

Xin Thiên Chúa luôn gìn giữ và nâng đỡ để chúng ta luôn biết sống trọn con tim cho Chúa và sống quân bình trong tương quan với mọi người. 

Lm. Gioan Lê Tiến Thiện

(giaophanvinhlong.net)

]]>
Con đường phía trước http://lamhong.org/con-duong-phia-truoc/ Mon, 06 Feb 2017 03:52:49 +0000 http://lamhong.org/?p=26565 “Hãy trỗi dậy lên đường!
Đây không phải chốn nghỉ ngơi”

(Mk 2, 10)

Đời là một con đường: đường đời. Sống là bước vào một cuộc hành trình tiến về phía trước. Cái gì rồi cũng qua đi, chẳng nên nuối tiếc sầu bi hay háo hức tự mãn làm gì. Còn biết bao điều linh thiêng cao quí đang chờ đợi ta trên con đường phía trước. Đừng nặng lòng với quá khứ dù đau buồn hay vui sướng, sáng ngời hay u ám, thành công hay thất bại… Tất cả dù thế nào đi nữa thì cũng sẽ góp phần cho kinh nghiệm sống của mỗi người chúng ta. Chỉ nhìn về quá khứ với những vẻ vang sẽ làm ta mê man trong hiện tại; hoặc chỉ nhìn quá khứ với những đau thương sẽ làm ta chán chường và thất vọng về tương lai.

Cuộc sống đẹp ngời chỉ mở ra cho những ai đang khao khát sống và sống tích cực. Bình minh rực rỡ trong ngày mới chỉ ban tặng cho những bước chân phấn khởi lên đường. Thiên nhiên bao la và không gian vô tận chỉ dành cho những người muốn say mê khám phá về Thiên Chúa, con người và chính mình. Khung trời tươi sáng ở trong chính tâm hồn mình, đừng che lấp nó bằng những phản ứng tầm thường, bâng quơ và vô hồn. Hãy mở lòng ra để đón nhận cuộc sống mới bằng trái tim mới, với đôi mắt hồn nhiên đã gạn đục khơi trong.

  1. Xa rời dĩ vãng

“Dĩ vãng chỉ là một mớ tro tàn” (Carl. Sandburg). Nếu cứ mãi cay đắng và oán hận về những gì đã qua, khác gì bới lại đống tro tàn. Tại sao lại cứ phải kìm giữ mình trong thái độ đó? Ai cũng có những bất trắc và khốn đốn xảy ra trong quá khứ, nhiều khi rất đau thương và chết lịm cõi lòng. Chúng ta không giảm thiểu những tai ác đó, nhưng trên hết và bằng mọi cách không để nó thành một trở lực làm khép kín cõi lòng, mà biến nó thành một trợ lực cho cuộc sống hiện tại. Đừng bào chữa, đừng đổ lỗi, đừng hợp lý hóa và biện minh cho thái độ tiêu cực của mình. Bắt nhặt người khác hay chấp nhất nghịch cảnh thì chính mình cũng trở nên như vậy, chẳng giải quyết được gì mà còn tầm thường hóa chính mình.

Hãy tập nhìn quá khứ như một kinh nghiệm nhất thiết cần phải có trong đời mình, để phong phú hóa bản thân và kiện toàn cuộc sống. Chắc chắn đó cũng là điều Chúa muốn, để chuẩn bị cho mỗi người trong hoạch định sắp tới của Ngài, một hoạch định mà dường như không ai có thể biết trước. Chỉ biết chắc rằng đó là hoạch định của tình yêu thương, luôn mở ra cho ta những niềm vui bất ngờ, nếu ta biết đón nhận và vượt qua những chướng ngại với lòng tin tưởng và phó thác.

Trong Kinh Thánh, chúng ta tìm thấy một thái độ rất hay của vua Đavít (x. 2Sm 12, 16-23): khi con ông bị đau nặng có nguy cơ tử vong, thì ông đau buồn cực độ. Ông khóc lóc, ăn chay, nằm đất, không tắm rửa, không cạo râu, không làm gì khác, chỉ biết van xin Chúa cứu chữa con mình. Cuối cùng con ông cũng đã chết, triều thần không biết phải nói thế nào với Đavít, vì sợ ông sẽ đau buồn đến tuyệt vọng. Nhưng lạ thay, khi biết tin con mình đã chết, thái độ của ông làm cho tất cả mọi người kinh ngạc. Ông chỗi dậy, đi tắm rửa, xức dầu thơm, thay quần áo, sai người dọn bữa ăn cho ông. Quần thần thắc mắc vì sao thái độ của ông lại trái ngược như vậy? Ông đã trả lời: “Bao lâu đứa bé còn sống, ta ăn chay và khóc lóc vì ta tự bảo: Biết đâu Đức Chúa sẽ thương xót ta và đứa bé sẽ sống! Bây giờ nó chết rồi, ta ăn chay làm gì? Hỏi rằng ta còn có thể làm cho nó trở lại được không? Ta đi đến với nó, chứ nó không trở lại với ta.” (2Sm 12, 21-23).

Quả là một bài học sáng giá về đời sống đức tin cho mỗi người. Thay vì tiếp tục cay đắng hoặc buồn trách Chúa đã phụ lòng mình thống thiết kêu xin; thay vì đặt ra câu hỏi tại sao Chúa lại làm như thế với tôi tớ Ngài, thì ta cần biết đón nhận với tấm chân tình và thái độ an vui của lòng tin, vẫn hy vọng ngay trong thất vọng, mạnh dạn đứng lên sau những tang thương để khởi sắc lại cuộc sống hiện tại. Một con người luôn đặt mình ở trước mặt Chúa thì không để mình rơi vào thái độ thường tình, nông nổi, nhưng chọn lựa một cách thái hiện diện cao đẹp nhất trong mọi tình huống.

Nếu ta không rời bỏ quá khứ đau thương là tự trói buộc mình cách vô lý, là đặt mình trong tình trạng u mê, là hư vô hóa hiện tại và tương lai của mình, hoặc trong một mức độ tác hại thấp nhất đi nữa thì cũng làm cho ta không còn khả năng đáp ứng một cách hào hứng trước những cung ứng đầy tính sáng tạo và mới mẻ mà Chúa đang dành cho ta một cách rất riêng biệt.

Trong một trình thuật Kinh Thánh khác, phản ánh ngược lại với trường hợp của vua Đavít, đó là trường hợp của bà Lót. Khi sắp hủy diệt thành Sôđôma, Chúa đã căn dặn trước rằng: “Ông hãy trốn đi để cứu mạng sống mình! Đừng ngoái lại đằng sau, đừng dừng lại chỗ nào cả …” (St 19, 17). Nhưng rồi vì tò mò, hoặc vì tiếc nuối gia sản của một thời đã bao công sức làm ra, nên “Bà vợ ông Lót ngoái lại đằng sau và hoá thành cột muối.” (St 19, 26).

Đó là trường hợp bà Lót không nghe lời Chúa, nhưng chúng ta có thể coi đó như một biểu tượng đầy ý nghĩa cho những ai cứ muốn quay về quá khứ hay muốn làm sống lại dĩ vãng. Hậu quả của lối sống đó khiến tâm hồn dễ bị cứng đọng và đóng băng, không còn khả năng linh động và sức sáng tạo nhạy bén trước hiện tại.

  1. Thoát khỏi những dạng thức của quá khứ

Nhập vào dòng chảy của xã hội và luôn bị tác động bởi lối sống trần tục, ta dễ có nhiều ý tưởng sai lầm về bản thân và cuộc đời: tưởng rằng có thể đạt được tất cả những gì mình muốn; tưởng rằng chiếm hữu càng nhiều càng chứng tỏ tài năng và bản lãnh; tưởng rằng thành công là đã làm nên giá trị đời mình; tưởng rằng giá trị bản thân tùy thuộc những gì mình sở hữu, v.v… Đứng trước những quan niệm phàm tục này thánh Phêrô đã cảnh giác những tín hữu sơ khai, và nhắc cho họ biết, nhờ bửu huyết của Đức Kitô, họ đã được cứu thoát khỏi lối sống phù phiếm do cha ông truyền lại (1Pr 1, 18-19). Thay vì rập khuôn theo lối sống cũ của thế gian, họ phải vượt thoát nó để sống con người mới trong Đức Kitô (x. 1Pr 5, 17).

Đức Kitô đã giải thoát chúng ta khỏi sự lầm lạc, tối tăm, và đặt chúng ta trong sự thật. Chúng ta đã được chữa trị khỏi bệnh mê muội và ảo tưởng về chính mình và thế giới này. Trong Đức Kitô, gánh nặng quá khứ của bản thân ta cũng không còn nữa. Ta không còn đơn giản là sản phẩm lịch sử của chính mình, vì đã được Kitô hóa. Kinh nghiệm sống với Đức Kitô sẽ cho ta sức mạnh thiêng liêng khiến ta dám đối đầu với với những khó khăn để tự giải thoát mình khỏi những dạng thức của quá khứ, và mở ra những viễn tượng mới.

Nhiều người bị điều kiện hóa bởi những kiểu cách sống của gia đình, cộng đoàn, xã hội, và những người chung quanh: người ta suy nghĩ và sống như thế, nên mình cũng phải như vậy. Suy nghĩ như thế nên không dám bộc lộ tâm tư và tình cảm của riêng mình, không muốn có những cách thức và sáng kiến riêng, càng không thể thay đổi lối sống mà mình cảm thấy tốt hơn. Hơn nữa vì sợ sai lầm nên ta không dám tin vào phán đoán riêng của mình, và cứ như thế, tự hạ thấp nhân phẩm và trấn áp bản thân mình để vừa lòng người khác. Cứ tưởng như vậy là ổn thỏa, là đang sống tự do, không cần đặt lại vấn đề. Nhưng rồi một cách vô ý thức, ta lệ thuộc lối sống của người khác, không còn thể hiện được tính cách chân thật của mình. Phải chăng đó là một “thảm kịch của nhân cách”?

Nhiều khi chúng ta cũng mắc vào những lệch lạc đó ngay cả trong đời sống tôn giáo. Chúng ta muốn chu toàn ý Chúa nhưng vẫn buông mình theo những quan niệm tầm thường. Chúng ta nhận biết Chúa, tin Chúa, lắng nghe Lời Chúa, cầu nguyện với Chúa hằng ngày, nhưng vẫn sống và hành động theo lề thói và kiểu cách của người đời, theo “lối sống phù phiếm do cha ông truyền lại”. Hóa ra những việc thờ phượng và đạo đức mà chúng ta làm chỉ là hình thức và thói quen. Chỉ khi có kinh nghiệm về Chúa và thấm đậm tình yêu của Ngài, chúng ta mới dám làm cuộc cách mạng bản thân. Sống trong sự hiện diện và dưới cái nhìn của Chúa, chúng ta mới đánh giá đúng mức về thực tại, và thôi không làm nó trở nên u ám bởi những lối sống cũ kĩ của mình.

Thánh Têrêsa Avila đã cảm nghiệm rõ ràng, tình yêu Đức Kitô đã giải thoát bà khỏi những lo sợ và ưu tư trước đó. Bà không còn áy náy xem những gì mình đã tiến hành có đúng không, không còn băn khoăn xem người khác nghĩ gì về mình. Kinh nghiệm về tình yêu Đức Kitô đã dìm đắm bà trong sự bình an và tự do nội tại, không còn xao xuyến về những gì đã qua, vì bà đã không tìm kiếm điều gì khác cho mình, mà chỉ sống như mình phải sống với tất cả tình yêu. Bà sống được như vậy là vì cảm thấy Đức Kitô luôn kề cận bên mình.

  1. Tiến bước và trở thành

“Ngựa quen đường cũ”, chúng ta cũng dễ bị cám dỗ quay về với đường xưa lối cũ, nhất là khi gặp những chặng đường gay go. Nhưng cuộc sống là một sự tiến bước và trở thành. Phía sau giờ đây chỉ còn là trống vắng và hoang vu. Dĩ vãng dù có thành hay bại, được hay mất, thì Khổng Tử cũng dạy ta rằng: “Thành sự bất thuyết; toại sự bất gián; ký vãng bất cữu”: việc đã thành chớ nói lại; việc đã xong chớ can gián; việc đã qua chớ trách cứ.

Ta không thể mãi u hoài về một quá khứ đau thương, cũng không thể mãi gặm nhấm hạnh phúc của một thời sung túc đã qua. Thái độ sống đó làm ngưng trệ sự tiến bước, hoặc phải bước đi một cách nặng nề. Như vậy thì còn gì là “hưng phấn” của đời mình, một cuộc đời đang tiến bước trở thành, đầy vui mừng và hy vọng. Hãy rời bỏ lối sống tiêu cực và thụ động đó để mặc cho mình một tính cách mới. Hãy tích cực đứng lên và chủ động trở thành con người mà Chúa muốn trên con đường hoàn thiện. (x. Mt 5, 43-48). Đừng tìm cách tránh né và rút lui trong những tình cảnh mà Chúa muốn ta vượt qua. Đã được lãnh nhận một cuộc sống trong đức tin do lòng thương xót Chúa, chúng ta chỉ có đường tiến, không có đường lui. Dù có lui cũng là để tiến. Bất cứ một sự lùi bước hay thất vọng nào đều là một từ chối ân ban và lừa dối chính mình. Cứ mở rộng lòng để đón nhận tất cả những gì Chúa ban cho ta trong mọi thời khắc, dưới mọi hình thức dù thuận lợi hay bất lợi, và tìm cách kiện toàn nó trong mức độ tốt nhất có thể.

Đừng để quá khứ thống trị hiện tại và xác định tương lai, dù đó là một quá khứ vẻ vang. Dựa vào đó để đề cao mình trong hiện tại là tự mãn một cách ấu trĩ; hoặc dựa vào đó để định giá cho mình một tương lai thì quả là ảo tưởng. Giây phút nào thì ở vào giây phút đó. Mỗi giây phút qua đi, mỗi sự kiện diễn ra đều mang tính đặc thù và ý nghĩa thiêng liêng. Nó đánh dấu cho từng giai đoạn cuộc đời theo kế hoạch của Chúa. Không thể lấy giờ phút này để xác định cho giờ phút kia. Mỗi khoảnh khắc đều mới trước cái nhìn và cách thức hành động của Chúa trên cuộc đời ta, mời gọi ta luôn thức tỉnh để nhận biết và hoàn thiện mình trong từng giây phút hiện tại. Đành rằng, cuộc đời ta hôm nay là đặt trên nền móng những gì mình đã làm nên trong quá khứ, nhưng nếu chỉ có thế thì vẫn còn dở dang. Mọi dự phóng vẫn đang ở phía trước. Nếu không rời bỏ những cái cũ thì Chúa không thể đem đến một cái gì mới được. Cuộc sống là một tiến trình hoàn thành, “cho đến khi đạt tới tình trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn của Đức Kitô.” (Ep 4, 13).

Léo Buscaglia, một con người tràn đầy sức sống và tình yêu, cũng đã nêu lên nhận định: “Sống là một tiến trình năng động. Vì thế, nó chào mừng bất cứ ai đón nhận lời mời để trở nên một thành phần năng động của nó. Điều mà chúng ta gọi là bí quyết hạnh phúc chung qui chỉ là thái độ chúng ta sẵn lòng chọn lựa sự sống”. Nhận định này đã đi vào qui luật của đời sống: để tồn tại và phát triển đến mức độ cao nhất, đòi buộc người ta phải thực hiện một tiến trình đổi mới. Điều này không chỉ ứng dụng vào con người, mà còn nhất thiết ở nhiều loài vật. Chẳng hạn, khi theo dõi đời sống con chim ưng, người ta khám phá như sau:

Chim ưng có thể sống tới 70 năm. Nhưng để đạt tới tuổi này, nó phải tiến hành một quyết định rất khó khăn. Vì vào năm 40 tuổi, các móng vuốt dài của nó và dẻo của nó không còn có thể quắp lấy con mồi. Hơn nữa, chiếc mỏ dài và sắc bén của nó đã bị cong lại, còn đôi cánh già nua và nặng nề do bộ lông quá dày đã dính vào ngực, khiến nó bay rất vất vả.

Trước tình trạng đó, chim ưng chỉ còn hai lựa chọn: hoặc chịu chết, hoặc làm một tiến trình thay đổi đau đớn kéo dài 150 ngày. Để chọn lựa sự sống, đòi buộc nó phải bay lên một đỉnh núi cao và ngồi vào tổ của nó để thực hiện công việc trẻ hóa chính mình:

Trước tiên, chim ưng gõ mỏ vào tảng đá cho tới khi mỏ bị gãy ra. Sau đó, nó phải chờ một thời gian để mọc ra cái mỏ mới. Tiếp theo đó, nó bắt đầu bẻ gãy các móng vuốt, và lại tiếp tục chờ cho các móng vuốt mới mọc ra. Cuối cùng, chim ưng nhổ đi tất cả các lông lá già cỗi, để chờ thay thế bằng bộ lông mới. Sau 5 tháng đã hoàn toàn đổi mới, chim ưng bay lượn chào mừng cuộc tái sinh của chính mình, và sống thêm 30 năm nữa.

Có thể sự sống tinh thần của chúng ta đã già nua, cằn cỗi, nặng nề, và càng ngày càng bị bít kín trên chính mình. Có thể đời sống tâm hồn chúng ta đã bị lão hóa và do bị xói mòn qua các biến cố và thời gian. Những suy thoái đó khiến cuộc đời chúng ta như đang chết dần mòn. Để chọn lựa sự sống và trẻ hóa tâm hồn, chúng ta phải can đảm loại bỏ ký ức tăm tối, lối sống thủ cựu, những thói quen già cỗi, những tư tưởng lạc hậu, những tập tục vô hồn, v.v… Chỉ khi đã thoát khỏi những khối nặng của quá khứ, chúng ta mới có thể tiến bướctrở thành. Hiện tại đang mở ra trước mắt chúng ta, là chính sự hiện diện của Chúa, Đấng đang tiếp sức và làm nên sự đổi mới sau cùng của mỗi người. Nhưng tất cả lại tùy thuộc vào chính mình.

4. Tất cả tùy thuộc vào chính mình

“Người ta chỉ có thể bị tổn thương bởi chính mình” (Épictète). Thánh gioan Kim Khẩu cũng đã viết một bài mang tựa đề: “Không ai có thể bị tổn thương, nếu không phải do chính mình”[1]. Quả  nhiên,  những  tư  tưởng  lớn  thường  gặp  nhau. Thật ra, ta không thể tránh những tổn thương do người khác gây nên cho mình khi còn nhỏ, vì lúc đó ta không có khả năng tự vệ. Nhưng điều bất ổn về sau là mỗi khi ta nhớ lại những điều đó, thì lại nhức nhối tâm can. Đừng quên rằng, hiện tại mình vẫn có khả năng làm hòa với chúng và có thể tự giải thoát mình khỏi tâm trạng bị tổn thương.

Theo thói thường, người ta hay có xu hướng nuôi dưỡng những tổn thương đó, cứ tự coi mình là nạn nhân của hoàn cảnh và người khác. Sống như thế là tự trói buộc mình vào quá khứ cách oan uổng, và rồi sẽ dẫn đến những hệ lụy oan khiên. Theo định luật tâm lý, vì đã không thu nhận và giao hòa với những đau khổ của mình, nên ta sẽ chuyển dịch chúng sang những người khác, bắt họ chịu những gì mà ta đã chịu, và nhiều khi cứ hành hạ người khác mà chẳng biết vì lý do gì.

Khi một người đã hoàn hoàn toàn là mình, đã tìm thấy thế quân bình của mình, thì không ai có thể làm tổn thương người ấy. Đây là thái độ sống cụ thể phát xuất từ một tâm hồn thuần phát, ngay chính, trong một sự tự do nội tâm, đến nỗi cả sự chết cũng không gây tác hại trong mình. Chính Socrate đã thể hiện thái độ sống đó cách bình thản: “Về phần tôi. Anytos và Melitos có thể giết chết tôi, nhưng họ không thể gây thiệt hại cho tôi”. Điều này khiến ta nhớ lại lời Chúa Giêsu: “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác, mà sau đó không làm gì hơn được nữa” (Lc 12,4).

Ta dễ bị khống chế bởi những ý niệm mà ta có về các biến cố, nên phát sinh những phản ứng hỗn loạn. Không phải cái chết là khủng khiếp, nhưng là điều mà ta hình dung về nó. Cũng không phải chiếc bình bạch ngọc bị đánh vỡ gây tổn thương cho ta, nhưng là do ta coi chiếc bình đó như vật tối cần thiết, đến độ liên kết với căn tính của mình. Càng không phải lời chỉ trích của thiên hạ khiến ta đau đớn, nhưng là do ta đặt danh giá của mình lệ thuộc vào sự bình phẩm của người khác. Nếu ta biết suy nghĩ sâu hơn và tạo cho mình một ý niệm đúng đắn về sự việc, ta sẽ vô hiệu hóa mọi va chạm và tấn công của thế giới chung quanh. Sự bình tâm trong Chúa sẽ giải thoát ta khỏi quyền năng của thực tại bên ngoài để đi vào thực tại bên trong, là thành phần chính yếu của phẩm giá con người.

Mỗi cá nhân là duy nhất, phải nhận ra chỗ đứng và vai trò mà Thiên Chúa đã phân định cho mình trong thế giới với mọi tình trạng của nó. Biết như vậy ta mới định hướng được mọi biến cố đời mình. Hơn nữa, mỗi người đều mang Thiên Chúa trong mình, được thông phần vào bản tính Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô. Nếu thiếu ý thức về điều đó, ta sẽ làm dơ bẩn Ngài với những tư tưởng bất chính và những hành động bất hảo. Do đó, mọi phản ứng và khát vọng của ta phải phù hợp với ước muốn của Thiên Chúa, và trở nên điều mà Ngài chờ đợi nơi ta.

Sự phù hợp với thánh ý Chúa làm cho ta thực sự tự do và đem lại phẩm giá cho mình. Ta không xây dựng đời mình dựa trên sự mong mỏi hay đánh giá của người khác, nhưng dựa vào chính Thiên Chúa: là cái nhìn và ý muốn của Ngài. Hãy để cho Ngài đặt ta vào bất cứ tình huống nào mà Ngài cho là tốt; hãy để Ngài dẫn ta đi bất cứ nơi nào mà Ngài thấy là cần thiết; và hãy để cho Ngài mặc cho ta bất cứ chiếc áo nào mà Ngài thấy là đẹp. Như vậy, dù quá khứ hay hiện tại, dù bấp bênh hay bóng tối, dù bao nhiêu thay đổi, ngay cả tội lỗi cũng không làm ta nao núng, ngã lòng, vì ta luôn đặt mình tùy thuộc hoàn toàn vào Chúa. Sức mạnh và sự vững vàng của ta là ở nơi Ngài trong chính tâm hồn ta.

  1. Thái độ hiện sinh

Quá khứ và tương lai chỉ có ý nghĩa thâm trầm khi ta biết qui chiếu về hiện tại. Ở lại trong quá khứ hay mất hút trong tương lai đều cướp mất sức sống của chúng ta. Quá khứ của ta phải được nhìn lại từ nhãn giới của hiện tại. Bất cứ vấn đề gì còn tồn đọng, chưa giải quyết, ta phải giải quyết ngay một cách ổn thỏa. Tương lai cũng thế, cần phải được phác họa trong bối cảnh thực tế của hiện tại. Bất cứ điều gì xảy đến cho ngày mai, đều tùy thuộc phần lớn vào những gì ta xây dựng hôm nay: “Ngày mai đang bắt đầu từ ngày hôm nay”, dù đường đời không luôn bằng phẳng:

       “Ví thử đường đời bằng phẳng cả
Anh hùng hào kiệt có hơn ai.”
(Nguyễn Trãi)

Con đường phía trước có những dốc cao làm ta ngần ngại; có những khúc ngoặt làm ta sợ hãi. Đôi khi ta thấy mình phải đến nơi mình không muốn. Con đường phía trước không có nghĩa là con đường tươi sáng và hoan lạc theo cái nhìn của thế gian, nhưng nó được định hình theo đường lối của Thiên Chúa, có thể thế này, có thể thế khác. Đức Giêsu đã trải qua kinh nghiệm đó khi Ngài kiên quyết lên đường đi Giêrusalem, dù biết có những nguy hiểm đang rình chờ. Ngài đã phải cố gắng để thắng vượt nỗi sợ hãi và do dự để tiến về phía trước, vì đó là con đường Cha muốn Ngài đi. Với tình yêu hiến dâng, Ngài đã biến nỗi lo sợ thành sức mạnh hiên ngang để tiến bước, và nói lên tâm nguyện của Ngài với các môn đệ rằng: “Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất!” (Lc 12, 50).

Đó mới thật sự là con đường tươi sáng, vì nó hoàn thành ý định của Thiên Chúa nơi Đức Kitô để đem lại ơn cứu độ cho loài người. Vì thế, ta cần phải hiểu con đường phía trước theo kế hoạch của Thiên Chúa đặt định, chứ không theo cách thức và tầm nhìn của con người. Điều gì Thiên Chúa muốn, thì Người sẽ ban ơn cho ta có đủ năng lực và khôn ngoan để hoàn thành. Có điều chúng ta có dám tin tưởng và phó thác hoàn toàn cho Chúa định liệu không? Hay lại muốn mở ra con đường phía trước theo toan tính của mình?

Khi một môn đệ than vãn về nỗi đường dài và những trắc trở của nó, Đức Thích Ca đã trả lời: “Này con, đường dài và khó khăn bởi vì con cứ muốn đến nơi trước thời hạn. Mục tiêu đích thực của con đường không phải là đến nơi, nhưng là cứ đi…”.

Lời nguyện   

Lạy Chúa, Chúa là Đường, để con tin tưởng bước đi.

Từng chặng đường đi qua trong cuộc đời con đều được bao bọc bởi lòng từ bi và ân sủng của Chúa.

Dù có những thành công hay thất bại, đau thương đổ vỡ hay mừng vui hạnh phúc… thì cũng đã qua rồi. Con không hối hận điều chi, cũng chẳng tiếc nuối điều gì.

Tất cả đều phải được xảy ra như thế, để làm nên cuộc sống của con hôm nay, để con biết ý thức thanh lọc và kiện toàn đời sống mình.

Điều quan trọng trong giây phút này, là con phải tích cực và hăng say dấn thân trên con đường đi tới, để góp phần xây dựng một thế giới mới, trước tiên ở trong chính tâm hồn mình.

Cuộc sống nào cũng là một ơn gọi hoàn thiện, là con đường chung cho mọi người để tiến tới đích điểm là chính Chúa, nhưng lại cũng rất riêng biệt trong cuộc đời mỗi người chúng con cho Chúa.

Xin soi dẫn và đưa bước con đi. Với Chúa, con không còn phải đắn đo lo sợ gì. Amen.

Lm. Thái Nguyên

(gpcantho.com)

]]>