Features – Lam Hồng http://lamhong.org Những nẻo đường đức tin... Sat, 21 Jan 2017 14:19:28 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=4.6.2 Toàn văn bài phát biểu nhậm chức của tân Tổng Thống Donald Trump http://lamhong.org/toan-van-bai-phat-bieu-nham-chuc-cua-tan-tong-thong-donald-trump/ Sat, 21 Jan 2017 14:19:28 +0000 http://lamhong.org/?p=26493 Thưa Chánh án Roberts, Tổng thống Carter, Tổng thống Clinton, Tổng thống Bush, Tổng thống Obama, thưa đồng bào Mỹ, và mọi người trên thế giới: Xin cảm ơn.

Chúng ta, những công dân của nước Mỹ, hiện cùng tham gia một nỗ lực lớn của dân tộc để xây dựng lại đất nước và khôi phục những hứa hẹn của đất nước cho cả nhân dân Mỹ chúng ta.

Cùng nhau, chúng ta sẽ quyết định hướng đi tương lai của nước Mỹ và thế giới trong nhiều năm tới.

Chúng ta sẽ đối mặt với nhiều thách thức. Chúng ta sẽ đối đầu với nhiều khó khăn. Nhưng chúng ta sẽ hoàn thành nhiệm vụ.

Cứ mỗi 4 năm, chúng ta lại tụ tập trên những bậc thềm này để thực hiện tiến trình chuyển giao quyền lực trong trật tự và hòa bình, và chúng tôi xin đa tạ Tổng thống Obama và Đệ nhất phu nhân Michelle Obama về sự giúp đỡ niềm nở của họ trong suốt quá trình chuyển giao. Tổng thống và phu nhân Obama thật vô cùng tuyệt vời.

Tuy nhiên, buổi lễ hôm nay mang ý nghĩa rất đặc biệt. Bởi vì ngày hôm nay chúng ta không chỉ đơn thuần chuyển giao quyền lực từ chính quyền này sang chính quyền khác, hay từ đảng này sang đảng khác – mà chúng ta chuyển giao quyền lực từ thủ đô Washington, trở lại với quý vị, nhân dân Mỹ.

Trong thời gian quá lâu, một nhóm nhỏ ở thủ đô của đất nước chúng ta đã thu về những lợi lộc từ chính quyền trong khi người dân phải trả giá.

Washington nở rộ – nhưng người dân không được chia phần trong sự phồn vinh đó.

Các chính trị gia trở nên giàu có – nhưng chúng ta đã mất nhiều việc làm, nhiều nhà máy bị đóng cửa.

Giới quyền thế bảo vệ chính họ, chứ không phục vụ các công dân của đất nước chúng ta.

Chiến thắng của họ không phải là chiến thắng của quý vị; trong khi họ hân hoan ăn mừng ở thủ đô của đất nước chúng ta, thì nhiều gia đình gặp khó khăn trên khắp đất nước không có gì để ăn mừng.

Tất cả những điều đó sẽ thay đổi – bắt đầu tại đây và ngay trong lúc này, bởi vì thời điểm này là thời điểm của quý vị: nó thuộc về quý vị.

Thời điểm này thuộc về tất cả mọi người đang có mặt ở đây ngày hôm nay và tất cả mọi người đang theo dõi trên khắp nước Mỹ.

Đây là ngày của quý vị. Đây là lễ ăn mừng của quý vị.

Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ này là đất nước của quý vị.

Điều thực sự quan trọng không phải là đảng nào kiểm soát chính phủ của chúng ta, mà liệu chính phủ của chúng ta có phải do người dân kiểm soát hay không.

Ngày 20 tháng 1 năm 2017 sẽ được ghi nhớ là ngày mà người dân Mỹ một lần nữa nắm quyền cai trị đất nước này.

Tất cả những người, nam cũng như nữ bị quên lãng ở đất nước này, từ giờ sẽ không còn bị bỏ quên.

Lúc này mọi người đang lắng nghe quý vị.

Quý vị, hàng chục triệu người tập hợp với nhau để trở thành một phần trong một phong trào lịch sử mà thế giới chưa bao giờ từng chứng kiến trước đây.

Ở tâm điểm phong trào này là một niềm tin thiết yếu: rằng lý do tồn tại của một quốc gia chính là để phục vụ công dân.

Người Mỹ muốn có các trường học tốt cho con cái, khu dân cư an toàn cho gia đình, và công ăn việc làm tốt cho bản thân.

Đây là những đòi hỏi chính đáng và hợp lý.

Nhưng đối với rất nhiều công dân chúng ta, lại tồn tại một thực tế khác: nhiều bà mẹ và con cái lâm vào cảnh nghèo túng ở các khu nội đô; nhiều nhà máy hoang tàn nằm rải rác như những ngôi mộ trên khắp đất nước chúng ta; một hệ thống giáo dục với túi tiền đầy ắp, nhưng lại không giúp được cho giới trẻ và thành phần sinh viên tươi đẹp của chúng ta thâu thập kiến thức; tội phạm, băng đảng và ma túy đã cướp đi quá nhiều sinh mạng làm mai một biết bao là tiềm năng của quốc gia.

Thảm trạng đó sẽ chấm dứt tại đây và ngay lúc này.

Chúng ta là một quốc gia – và nỗi đau của họ là nỗi đau của chúng ta. Ước mơ của họ là ước mơ của chúng ta; thành công của họ sẽ là thành công của chúng ta. Chúng ta có chung một trái tim, một quê hương, và chia sẻ chung một vận mệnh vinh quang.

Lời tuyên thệ nhậm chức của tôi ngày hôm nay là lời tuyên thệ trung thành với tất cả mọi người dân Mỹ.

Trong nhiều thập niên, chúng ta đã làm giàu cho công nghiệp nước ngoài trong khi công nghiệp Mỹ bị thua thiệt;

Trợ cấp cho quân đội các nước khác trong khi để mặc cho quân đội của chúng ta suy yếu một cách đáng buồn;

Chúng ta đã bảo vệ biên giới các quốc gia khác trong khi không bảo vệ biên giới của chính đất nước mình;

Chúng ta đã chi hàng nghìn tỷ đôla ở nước ngoài trong khi cơ sở hạ tầng của Mỹ rơi vào tình trạng hư hại, mục nát.

Chúng ta đã giúp các nước khác trở nên giàu có trong khi sự thịnh vượng, sức mạnh và niềm tự tin của đất nước chúng ta mai một dần.

Lần lượt, các nhà máy đóng cửa và rời lãnh thổ của chúng ta, mà không mảy may nghĩ đến hàng triệu, hàng triệu công nhân Mỹ bị bỏ lại phía sau.

Tầng lớp trung lưu của chúng ta đã bị tước mất tài sản, nhà cửa, để chia lại trên khắp thế giới.

Nhưng đó là quá khứ. Bây giờ chúng ta sẽ chỉ hướng đến tương lai.

Chúng ta tập trung ở đây hôm nay và đưa ra một thông điệp gửi đến khắp mọi nơi, mọi thành phố, mọi thủ đô nước ngoài, và tại mọi trung tâm quyền lực.

Từ ngày hôm nay về sau, một tầm nhìn mới sẽ ngự trị tại đất nước chúng ta.

Từ thời điểm này trở đi, nước Mỹ sẽ được đặt lên trên hết.

Mỗi quyết định về thương mại, về thuế, về xuất nhập cảnh, về chính sách đối ngoại, sẽ được làm dựa trên những lợi ích cho người lao động Mỹ và các gia đình Mỹ.

Chúng ta phải bảo vệ biên giới của chúng ta khỏi sự tàn phá của các nước khác đang sản xuất các sản phẩm của chúng ta, cướp các công ty của chúng ta, và hủy hoại công ăn việc làm của chúng ta. Các biện pháp bảo hộ sẽ dẫn đến thịnh vượng và sức mạnh.

Tôi sẽ đấu tranh cho quý vị cho tới hơi thở cuối cùng – và tôi sẽ không bao giờ, không bao giờ làm quý vị thất vọng.

Hoa Kỳ sẽ chiến thắng trở lại, như chưa từng bao giờ chiến thắng.

Chúng ta sẽ mang về công ăn việc làm cho chúng ta. Chúng ta sẽ giành lại biên giới của chúng ta. Chúng ta sẽ giành lại sự giàu có của chúng ta. Và chúng ta sẽ khôi phục lại những ước mơ của chúng ta.

Chúng ta sẽ xây những con đường, đường cao tốc, cầu cống, sân bay, và đường hầm, và đường sắt mới trên khắp đất nước tuyệt vời của chúng ta.

Chúng ta sẽ giúp cho người dân không còn cần đến những trợ cấp và quay trở lại làm việc – xây dựng lại đất nước chúng ta với bàn tay người Mỹ và sức lao động Mỹ.

Chúng ta sẽ tuân theo hai quy định đơn giản: Mua hàng Mỹ và mướn nhân công Mỹ.

Chúng ta sẽ xây dựng tình hữu nghị và thiện chí với các quốc gia trên thế giới – nhưng chúng ta làm như vậy với ý thức rằng tất cả các quốc gia có quyền đặt lợi ích của chính họ lên trên hết.

Chúng ta không tìm cách áp đặt lối sống của chúng ta lên bất cứ ai, mà thay vào đó là tự mình thể hiện như một tấm gương cho mọi người noi theo.

Chúng ta sẽ củng cố các liên minh cũ và hình thành các liên minh mới – và đoàn kết thế giới văn minh chống chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan, chúng ta sẽ hoàn toàn tiêu diệt chúng ra khỏi Trái Đất.

Nền tảng của nền chính trị của chúng ta sẽ là lòng trung thành tuyệt đối với Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, và qua sự trung thành của chúng ta với đất nước, chúng ta sẽ khám phá lại lòng trung thành của chúng ta với nhau.

Khi quý vị mở lòng mình ra với lòng ái quốc, thì không còn chỗ cho thành kiến.

Kinh Thánh dạy chúng ta “thật tốt đẹp và dễ chịu khi con dân của Chúa trời sống với nhau trong sự hiệp nhất”.

Chúng ta phải nói ra những gì mình nghĩ một cách cởi mở, tranh luận những quan điểm bất đồng một cách thành thực, nhưng luôn luôn mưu cầu tinh thần đoàn kết.

Khi nước Mỹ đoàn kết, không có thế lực nào có thể ngăn cản nước Mỹ.

Không nên sợ hãi – chúng ta được bảo vệ, và chúng ta sẽ luôn luôn được bảo vệ.

Chúng ta sẽ được bảo vệ bởi những nam nữ quân nhân tuyệt vời phục vụ trong quân đội và các lực lượng chấp pháp của chúng ta, và quan trọng hơn cả, chúng ta được Thượng Đế bảo vệ.

Cuối cùng, chúng ta phải cởi trói suy nghĩ và mơ những giấc mơ lớn hơn nữa.

Ở nước Mỹ, chúng ta hiểu rằng một quốc gia chỉ tồn tại chừng nào đất nước đó còn phấn đấu.

Chúng ta sẽ không tiếp tục chấp nhận các chính trị gia chỉ nói suông mà không hành động – phàn nàn mà không làm bất cứ điều gì về điều đó.

Giờ đã hết lúc nói những điều trống rỗng.

Bây giờ đã đến giờ hành động.

Đừng cho phép bất cứ ai nói với quý vị rằng việc này việc kia là không thể thực hiện. Không có thách thức nào có thể đánh bại trái tim, sự đấu tranh và tinh thần của nước Mỹ.

Chúng ta sẽ không thất bại. Đất nước chúng ta sẽ phát triển mạnh và thịnh vượng trở lại.

Chúng ta đang ở giai đoạn đầu của một thiên niên kỷ mới, sẵn sàng mở khóa những điều bí ẩn trong vũ trụ, giải thoát trái đất khỏi những khổ đau do bệnh dịch, và khai thác các nguồn năng lượng, các ngành công nghiệp và công nghệ của ngày mai.

Một niềm tự hào quốc gia mới sẽ làm rung động tâm hồn chúng ta, nâng cao tầm nhìn của chúng ta, và chữa lành những chia rẽ giữa chúng ta.

Giờ là lúc nhắc lại những lời khôn ngoan từ xưa mà các quân nhân của chúng ta sẽ không bao giờ quên: cho dù chúng ta là da đen hay nâu hay trắng, tất cả chúng ta đều chung dòng máu đỏ của những người ái quốc, tất cả chúng ta đều hưởng các quyền tự do vinh quang, và tất cả chúng ta đều cùng chào lá cờ Mỹ vĩ đại.

Cho dù một em bé được sinh ra ở vùng đô thị rộng lớn ở Detroit hay ở vùng đồng bằng lộng gió của Nebraska, các em đều nhìn lên cùng một bầu trời đêm, với trái tim đầy những ước mơ như nhau, và đều được Đấng Tạo hóa truyền hơi thở cuộc sống.

Vì vậy, thưa tất cả đồng bào Mỹ, ở mọi thành phố gần xa, lớn nhỏ, trên những ngọn núi, từ bờ đại dương này đến bờ bên kia, hãy lắng nghe những lời này:

Quý vị sẽ không bao giờ bị bỏ lơ nữa.

Tiếng nói, niềm hy vọng, và ước mơ của quý vị sẽ xác định vận mệnh nước Mỹ chúng ta. Và lòng quả cảm, lòng tốt và tình yêu của quý vị mãi mãi sẽ dẫn đường chúng ta.

Cùng nhau, chúng ta sẽ làm cho nước Mỹ hùng mạnh trở lại.

Chúng ta sẽ làm cho nước Mỹ giàu có trở lại.

Chúng ta sẽ làm cho nước Mỹ tự hào trở lại.

Chúng ta sẽ làm cho nước Mỹ an toàn trở lại.

Và đúng vậy, cùng nhau, chúng ta sẽ làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại. Xin cảm ơn, Chúa ban phước lành cho quý vị, và Chúa ban phước lành cho nước Mỹ.

VOA 20/01/2017

]]>
Tâm tình Tất niên http://lamhong.org/tam-tinh-tat-nien/ Sat, 21 Jan 2017 13:29:45 +0000 http://lamhong.org/?p=26490 TÂM TÌNH TẤT NIÊN

Thánh lễ Tất Niên 2016

Chúng ta đang ở trong một thời khắc đặc biệt, khi năm cũ Bính Thân sắp chấm dứt, năm mới Đinh Dậu sắp ló dạng. Theo tục truyền, ngày cuối năm, chính xác là cứ đến ngày 23 tháng Chạp hằng năm, ông Táo hay ông Công là “thần bếp” trong mỗi gia đình, cưỡi cá chép về thiên giới để chầu yết và báo cáo cho Ngọc Hoàng biết tất cả mọi chuyện đã xãy ra ở hạ giới, chuyện tích cực cũng như tiêu cực. Năm Bính Thân quả là một năm nhiều bất trắc, rủi ro hơn là thuận lợi đối với người dân Việt Nam do nhân tai và thiên tai xảy ra ở nhiều nơi, đặc biệt là ở miền Trung. Nên có lẽ, năm nay ông Táo không cưỡi cá chép, vì cá đã chết do bị nhiễm độc của Formosa, nhưng ông Táo đi bằng du thuyền vì giá rẻ hơn. Dù là câu chuyện có tính thần thoại, nhưng nó cũng nhắc nhở con người ý thức có một Ai đó trên cao vẫn hằng quan tâm theo dõi mọi sinh hoạt của con người hạ giới.

Đối với hầu hết mọi người Việt, những ngày tất niên là những ngày bận rộn. Người đi xa lo về quê ăn tết; chủ lo tiền công trả cho thợ; thương gia thì tranh thủ kiếm tiền; gia đình nào cũng phải mua sắm gì đó để gọi là “hương vị ba ngày tết.” Tất niên tất nhiên là tất bật! Vì tất bật nên dễ tai nạn trên đường! Nên cũng phải thận trọng khi lái xe.

Theo truyền thống văn hóa tốt lành người Việt Nam, tất niên là dịp để bày tỏ lòng biết ơn nhau, bỏ qua những thiếu sót trong năm cũ, và cầu chúc cho nhau những điều tốt lành trong năm mới. Chút tết là một nét đẹp của văn hóa. Tuy nhiên, ngày hôm nay, xem ra điều chính yếu lại trở thành điều tùy phụ. Nên người ta chép miệng: “Phong hoa, phong tục, phong thư. Trong ba phong ấy, người ta thích nhất “phong bì”…!

Đối với chúng ta, những người Kitô hữu, tất niên là dịp để chúng ta cảm tạ Thiên Chúa và tri ân mọi người vì những gì chúng ta đón nhận trong năm qua. Đồng thời đây cũng là thời khắc để cầu xin Chúa tiếp tục tuôn đổ phúc lành cho mỗi người trong năm mới.

Bởi thế, tạ ơn và chúc tụng Thiên Chúa là tâm tình chính yếu mà mỗi người Kitô hữu cần phải luôn mãi trong từng ngày sống, đặc biệt là trong những ngày Tất Niên và Xuân mới. Bởi lẽ, trong cái nhìn đức tin, chúng ta xác tín rằng tất cả là hồng ân. Nếu chúng ta có là gì cũng là nhờ ơn Đức Chúa. Theo thần học, Thánh Lễ (eucaristia) là nghi thức tạ ơn tuyệt hảo mà chúng ta dâng lên để cảm tạ Thiên Chúa. Trong ý nghĩa đó, Lời Chúa của thánh lễ Tất Niên giúp chúng ta đào sâu về tâm tình tạ ơn này.

Tiên tri Isaia trong bài đọc I nhắc nhở chúng ta hãy “dâng lời ca tụng Đức Chúa…, vì những gì Người đã thực hiện, bởi lòng Người đầy thương xót và lắm nghĩa giàu ân” (Is 63,7). Cựu Ước đã có kinh nghiệm về một vị Thiên Chúa giàu lòng thương xót, luôn hiện diện và luôn che chở mỗi người, nhưng vẫn là vị Thiên Chúa còn vô hình. Tân Ước giới thiệu với chúng ta một vị Thiên Chúa hữu hình mà chúng ta có thể tới gần, đụng chạm. Người là hiện thân lòng thương xót Thiên Chúa, Người là Con Thiên Chúa, là Đức Giêsu Kitô thành Nadarét. Nhờ Người, chúng ta đón nhận từ ơn này tới ơn khác (x. Ga 1,16).

Theo đó, trong thư 1 Côrintô, thánh Phaolô bày tỏ: “Tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa của tôi vì anh em, về ân huệ Người đã ban cho anh em nơi Đức Kitô Giêsu. Quả vậy, trong Đức Kitô Giêsu, anh em đã trở nên phong phú về mọi phương diện, vì được nghe lời Chúa và hiểu biết mầu nhiệm Người” (1 Cr 1,4).

Nhờ Đức Giêsu Kitô, chúng ta đón nhận được ơn làm con Thiên Chúa, được hưởng ơn cứu độ, được trở thành chi thể trong Nhiệm Thể Chúa Kitô, tức là Giáo Hội, được nuôi dưỡng mình bằng các bí tích, được lắng nghe Lời Chúa mỗi ngày và được hứa ban phần thưởng Nước Trời mai sau.

Chân dung của Đức Maria được thánh Luca trình bày trong Bài Tin Mừng trở thành khuôn mẫu và lý tưởng cho tất cả chúng ta. Mẹ là người đã quảng đại để cộng tác vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa khi thưa “xin vâng.” Mẹ đã vội vã mang Chúa Giêsu đến cho gia đình ông Dacaria và bà Êlisabét. Xét cho cùng lý tưởng của đời sống Kitô hữu bước theo Chúa Kitô, yêu mến Người và mang Chúa đến cho người khác. Mỗi người chúng ta được mời gọi chiêm ngắm và học hỏi Đức Maria để sống và thi hành tốt sứ vụ của mình.

Tâm tình của Đức Maria hôm nay phải là tâm tình của chúng ta mỗi ngày đối với Thiên Chúa: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa… Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả.”

Xin cho cuộc đời của mỗi chúng ta trở nên lời cảm tạ chân thành, sinh động và mạnh mẽ để trở thành chứng nhân niềm hy vọng, liên đới, phó thác, an vui… dẫu cuộc đời vẫn còn đó những khó khăn, hoạn nạn, khổ đau. Hy vọng rằng những chuyện tiêu cực, buồn phiền sẽ đi vào dĩ vãng cùng với năm cũ. Và Thánh lễ tạ ơn Tất Niên này sẽ thắp lên ngọn lửa tin yêu, đầy hy vọng, để nối dài vòng tay yêu thương của mỗi người chúng ta trong mỗi cộng đoàn và giang rộng đến tận những nơi và những ai đang cần, đang mong, đang chờ đợi chúng ta như MỘT QUÀ TẶNG HIẾN DÂNG!

Nhân dịp Tết đến Xuân về, xin gửi tới Anh Chị Em những lời chúc sau đây:

NĂM Gà xin tiễn năm Khỉ qua
MỚI đón tân xuân đến mọi nhà
CHÚC mọi người thêm nhiều hoan hỷ
MỪNG vui khắp chốn rộn lời ca
HẠNH – dung – lễ – nghĩa ngời tâm ngọc
PHÚC lộc, công, danh rạng ý Trời!

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

]]>
Đức Giêsu – Ánh Sáng chiếu soi trần gian http://lamhong.org/duc-giesu-anh-sang-chieu-soi-tran-gian/ Fri, 20 Jan 2017 12:57:18 +0000 http://lamhong.org/?p=26488 HIỆP SỐNG TIN MỪNG

CHÚA NHẬT 3 THƯỜNG NIÊN A

Is 8,23b-9,3; 1 Cr 1,10-13.17; Mt 4,12-23

ĐỨC GIÊ-SU ÁNH SÁNG CHIẾU SOI TRẦN GIAN

I. HỌC LỜI CHÚA

  1. TIN MỪNG: Mt 4,12-23

(12) Khi Đức Giê-su nghe tin ông Gio-an đã bị nộp, Người lánh qua miền Ga-li-lê. (13) Rồi Người bỏ Na-da-rét, đến ở Ca-phác-na-um, một thành ven biển hồ Ga-li-lê, thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Náp-ta-li. (14) Để ứng nghiệm lời Ngôn sứ I-sai-a nói: (15) “Này đất Dơ-vu-lun, và đất Náp-ta-li, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Gio-đan. Hỡi Ga-li-lê miền đất của dân ngoại ! (15) Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm, đã thấy một ánh sáng huy hoàng. Những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi !” (17) Từ lúc đó, Đức Giê-su bắt đầu rao giảng và nói rằng: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần”. (18) Người đang đi dọc theo biển hồ Ga-li-lê, thì thấy hai anh em kia, là ông Si-mon cũng gọi là Phê-rô, và người anh là ông An-rê, đang quăng chài xuống biển, vì các ông làm nghề đánh cá. (19) Người bảo các ông: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá”. (20) Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người. (21) Đi một quãng nữa, Người thấy hai anh em khác con ông Dê-bê-đê, là ông Gia-cô-bê và người em là ông Gio-an. Hai ông này đang cùng với cha là ông Dê-bê-đê vá lưới ở trong thuyền. Người gọi các ông. 22) Lập tức, các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người. (23) Thế rồi Đức Giê-su đi khắp miền Ga-li-lê, giảng dạy trong các hội đường của họ, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền của dân.

  1. Ý CHÍNH:

Nghe tin Gio-an Tẩy Giả bị nộp, Đức Giê-su từ Giê-ru-sa-lem lui về Ga-li-lê để tránh bị theo dõi, và hoạt động trong môi trường có nhiều dân ngoại như Ngôn sứ I-sai-a đã tiên báo. Ngươi chọn thành Ca-phác-na-um làm trung tâm truyền giáo và từ đây Người đi các nơi rao gảng Tin Mừng Nước Trời. Nội dung các bài giảng được tóm lại như sau: “Anh em hãy sám hối vì Nước Trời đã gần đến”. Đức Giê-su cũng chọn 4 môn đệ đầu tiên gồm 2 đôi anh em. Một là Si-mon Phê-rô và An-rê đang thả lưới trên biển hồ. Hai là Gia-cô-bê và Gio-an đang vá lưới trong thuyền cùng với cha và các người làm công. Nghe Đức Giê-su kêu gọi, các ông lập tức từ bỏ tất cả mà theo làm môn đệ của Người.

  1. CHÚ THÍCH:

– C 12-13: + Nghe tin ông Gio-an đã bị nộp: Thánh Mát-thêu dùng từ “bị nộp” thay vì “bị bắt” khi nói về Gio-an, giống như khi nói về Đức Giê-su (x. Mt 10,4; 17,22; 26,2). Qua đó cho thấy số phận của Gio-an giống như Đức Giê-su. Dùng từ “bị nộp” ở thể thụ động là có ý nói biến cố xảy ra là do ý của Thiên Chúa. Đức Giê-su bắt đầu rao giảng khi Gio-an chấm dứt sứ mệnh tiền hô dọn đường. + Người lánh qua miền Ga-li-lê: Khác với Gio-an Tẩy Giả, Đức Giê-su lui về Ga-li-lê là vùng đất có nhiều dân ngoại sinh sống, để khởi sự rao giảng Tin Mừng. Cũng tại Ga-li-lê, Người sẽ quy tụ các môn đệ lần cuối cùng để sai đi khắp thế gian, tiếp tục sứ mệnh mà Người khởi sự hôm nay. + Người bỏ Na-da-rét đến ở Ca-phác-na-um: Đức Giê-su đã không chọn quê hương Na-da-rét, nhưng chọn Ca-phác-na-um để bắt đầu sứ mệnh rao giảng. + Một thành ven biển hồ Ga-li-lê: Thành Ca-phác-na-um nằm trong vùng đất định cư của hai chi tộc Dơ-vu-lun và Náp-ta-li (x. Gs 19,10.32-39).

– C 14-16: + Để ứng nghiệm lời Ngôn sứ I-sai-a nói: I-sai-a tiên báo vùng Ga-li-lê thuộc hai chi tộc Dơ-vu-lun và Náp-ta-li, không những được thoát ách thống trị của quân Át-sy-ri về chính trị quân sự, mà còn được giải phóng khỏi cảnh “tối tăm sầu khổ” do bị dân ngoại chiếm cứ. + Hỡi Ga-li-lê miền đất của dân ngoại: Ga-li-lê là nơi bị khinh dể vì là vùng đất có nhiều dân ngoại sống chung với dân Do thái, và chưa có vị Ngôn sứ nào xuất thân ở đó (x. Ga 1,46). Điều này nằm trong chương trình hành động của Đấng Thiên Sai đã được Ngôn sứ I-sai-a báo trước. + Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm: Mát-thêu ứng dụng việc Đức Giê-su đến làm cho miền đất này khỏi bóng tối sự chết bằng việc rao giảng Tin Mừng Nước Trời. “Ánh sáng huy hoàng” là chính Đức Giê-su biểu lộ khi Người hiển dung trên núi cao (x. Mt 17,2), và tiếp tục chiếu rọi khi Chúa Phục Sinh hẹn gặp các môn đệ để sai họ đi truyền giáo (x Mt 28,16-20).

– C 17-18: + Từ lúc đó, Đức Giê-su bắt đầu rao giảng và nói: Đối với Mát-thêu thì đây là thời điểm Đức Giê-su bắt đầu thi hành sứ mệnh cứu thế tại Ga-li-lê. Lời giảng được Mát-thêu tóm gọn trong câu: “Anh em hãy sám hối vì Nước Trời đã đến gần”. Đây cũng là nội dung mà Đức Giê-su truyền cho các môn đệ khi sai các ông đi truyền giáo (x. Mt 10,7). + “Anh em hãy sám hối”: Câu này giống như lời rao giảng của Gio-an Tẩy Giả trước đó (x. Mt 3,2). + Vì Nước Trời đã đến gần: Nước Trời, hay cũng gọi là Nước Thiên Chúa. Vì Mát-thêu viết Tin Mừng cho người Do thái, nên tránh gọi tên Thiên Chúa để biểu lộ lòng kính trọng Thánh Danh của Người trong điều răn thứ hai: “Chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ”. Nước Thiên Chúa là một cộng đoàn do Thiên Chúa cai quản. Nước này đã tới gần trong con người và sứ vụ của Đức Giê-su. + Biển hồ Ga-li-lê: Là một biển hồ hồ hình quả trám dài 21 cây số, rộng 12 cây số, cũng có tên là hồ Giê-nê-sa-rét hay Ti-bê-ri-a. + Si-mon cũng gọi là Phê-rô: Si-mon là tên của Phê-rô trước khi theo Đức Giê-su. Đức Giê-su đã đổi tên Si-mon thành Phê-rô nghĩa là “Tảng Đá” (x. Mt 16,18).

– C 19-20: + Kẻ lưới người như lưới cá: Đức Giê-su sẽ trao sứ mệnh đánh lưới các linh hồn người ta, giống như đi chài lưới bắt cá. + Lập tức bỏ chài lưới: Đây là thái độ dứt khoát và mau mắn đáp lại lời mời gọi của Đức Giê-su: bỏ nghề cũ để theo nghề mới.

– C 21-23: + Gia-cô-bê: Đây là Gia-cô-bê Tiền nghĩa là theo Chúa trước, phân biệt với Gia-cô-bê Hậu theo Chúa sau. Gia-cô-bê với em là Gio-an cùng Si-mon Phê-rô làm thành nhóm ba người thân tín của Đức Giê-su. Nhóm này được đi theo Đức Giê-su và được chứng kiến Người hiển dung trên núi cao (x. Mt 17,1). Trong cuộc khổ nạn, ba người này cũng được theo Người vào vườn Ghết-sê-ma-ni chứng kiến Người cầu nguyện trước khi bị bắt (x. Mt 26,37-46). + Lập tức các ông bỏ thuyền bỏ cha…: Cũng như Si-mon và An-rê lập tức bỏ nghề, Gia-cô-bê và Gio-an cũng dứt khoát từ bỏ tài sản là thuyền, và từ giã người thân là cha già mà theo làm môn đệ Đức Giê-su. + Đức Giê-su đi khắp miền Ga-li-lê: Việc truyền giáo cần phải năng động. Đức Giê-su và các môn đệ đi đây đi đó khắp miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng Nước Trời. + Chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền của dân: Viêc chữa bệnh là dấu chỉ thời đại Thiên Sai đã bắt đầu (x. Mt 10,8; 11,4-5).

  1. CÂU HỎI:

1) Tại sao Mát-thêu dùng kiểu nói “Sau khi Gio-an bị nộp” thay vì “bị bắt”? 2) Gio-an Tẩy Giả rao giảng phép rửa sám hối tại miền nào, và Đức Giê-su khởi sự rao giảng Tin Mừng Nước Trời tại miền nào? 3) Đức Giê-su đã làm gì để chiếu soi ánh sáng huy hoàng của Người vào miền Ga-li-lê đang ở trong bóng tối sự chết? 4) Lời giảng của Đức Giê-su được tóm lại trong câu nào? 5) Tại sao Mát-thêu dùng từ “Nước Trời đã đến gần” thay vì “Nước Thiên Chúa đã đến gần” như Lu-ca? 6) Bạn biết gì về biển hồ Ga-li-lê? 7) Phê-rô là ai? Tên Phê-rô nghĩa là gì và ông được Đức Giê-su đổi tên khi nào? 8) Trong Nhóm 12 có mấy ông tên Gia-cô-bê ? Tại sao lại gọi là Gia-cô-bê Tiền hay Gia-cô-bê Hậu? 9) Noi gương bốn môn đệ đầu tiên, ngày nay chúng ta nên làm gì khi được Chúa mời gọi đi theo Chúa? 10) Đức Giê-su nêu gương nhiệt tình đi loan báo Tin Mừng như thế nào? Người thi hành sứ mệnh bằng những việc gì?

II. SỐNG LỜI CHÚA:

  1. LỜI CHÚA: “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,16).
  2. CÂU CHUYỆN:

1) ÁNH SÁNG HY VỌNG ĐÃ XUẤT HIỆN GIỮA ĐÊM TỐI:

Chiều hôm ấy, hai cậu bé rủ nhau vào rừng chơi. Thế rồi một trận mưa bất thần đổ xuống. Mưa dai dẳng suốt hai tiếng đồng hồ. Đến lúc tạnh thì trời đã tối. Hai cậu bé vừa lạnh lại vừa sợ. Nỗi sợ hãi càng gia tăng khi hai cậu bé không còn tìm thấy con đường dẫn về nhà. Nhưng rồi một ánh sáng bỗng xuất hiện từ xa. Hai cậu bé khấp khởi mừng thầm. Cả hai đều cố gắng vừa kêu vừa gọi. Thì ra người anh đang cầm chiếc đèn đi tìm hai cậu bé. Và cuối cùng đã đưa hai cậu bé trở về tới nhà an toàn.

2) MAU MẮN ĐÁP LẠI TIẾNG CHÚA KÊU GỌI:

Ơn gọi của Mẹ Têrêsa Calcutta là một thí dụ. Mẹ sinh năm 1910 tại Nam Tư. Năm 18 tuổi Mẹ nhập dòng Đức Bà Lorettô ở Ái Nhĩ Lan. Sau đó được cử sang Ấn Độ để vào tập viện. Mẹ đã cống hiến gần 20 năm trời cho việc dạy môn địa lý tại một trường của nhà dòng dành cho các thiếu nữ thuộc những gia đình khá giả. Nếu Chúa không lên tiếng gọi, thì chắc cuộc đời Mẹ sẽ trôi đi êm đềm bên đám học trò giàu có. Thế rồi vào một ngày nọ, nhân đi qua một đường phố ở Calcutta, Mẹ bắt gặp một người đàn bà đang hấp hối trên vỉa hè. Chuột và kiến đã kéo đến gặm nhấm con người bất hạnh đó. Mẹ liền vực người thiếu phụ tới nhà thương. Mẹ nhất định cứ đứng ở trước cổng cho đến khi người ta mở cửa đón nhận bệnh nhân sắp chết. Từ biến cố này, Mẹ cảm nhận được lời mời gọi của Chúa, muốn Mẹ hãy dấn thân cho những kẻ bị bỏ rơi. Và thế là Mẹ đã xin ra khỏi dòng, đến sống ở một khu vực tăm tối của thành phố. Chắc hẳn lúc đó, Mẹ không ngờ mình sẽ là người sáng lập nên một hội dòng mới chuyên lo việc bác ái, giúp đỡ những người nghèo khổ trên khắp thế giới.

3) THÓI THAM LAM ÍCH KỶ LÀ NGUỒN GỐC PHÁT SINH MỌI TỘI ÁC:

Chuyện kể một nhà buôn nọ rất sùng đạo. Mặc dầu vất vả làm ăn nhưng anh ta không bao giờ bỏ việc khấn vái với các thánh. Gặp thời kỳ phải cạnh tranh gay gắt trong công việc làm ăn, anh ta lại càng đi cầu khấn gấp bội.

Động lòng trắc ẩn, một hôm một sứ thần đã hiện ra với anh và nói: “Thấy con thành tâm cầu xin nên Chúa không nỡ chối từ và sai ta đến với con. Vậy bây giờ con hãy cho ta biết con ước muốn điều gì, để ta sẽ thay quyền Chúa ban cho… Đồng thời để chứng tỏ cho loài người biết lòng quảng đại của Thiên Chúa, thì hễ con nhận được một điều gì, thì Chúa nhân từ cũng sẽ ban cho các đồng nghiệp hay hàng xóm của con được gấp đôi như thế”.

Nghe sứ thần phán, lòng anh thương gia từ chỗ vui mừng hân hoan biến thành sầu buồn tức giận. Anh tự nhủ: “Nếu bây giờ mình xin một chiếc Lexus thì mấy thằng bạn… sẽ được hai chiếc. Ái dà, thế thì không được! Nhưng nếu mình xin cho được trúng số 5 triệu thì mấy nhà hàng xóm… sẽ được tới 10 triệu. Thế lại càng không được! Còn nếu mình xin được vợ đẹp con khôn thì đồng nghiệp của mình lại sẽ có vợ đẹp gấp đôi vợ mình, con khôn gấp đôi con mình. Đó là chưa nói tới chuyện chúng nó có tới hai vợ, còn mình chỉ có một… Trong thời buổi cạnh tranh thế này thì mình phải làm sao hơn bọn chúng chứ! “.

Anh nhà buôn nhíu mày suy nghĩ đắn đo. Một lát sau, chợt anh ta reo lên như vừa tìm ra điều gì thú vị. Anh đến quì xuống và thưa với sứ thần: “Lạy Sứ thần, xin cầu cùng Chúa cho con bị đui một con mắt”.

Quả là một lời khẩn cầu quái lạ! Anh ta không xin cho mình được may mắn vì sợ người khác được may lành gấp đôi. Cuối cùng anh đã xin cho mình bị rủi ro để kẻ khác bị hại gấp đôi mình,  là xin cho anh bị đui một con mắt để những kẻ kia bị mù cả hai mắt luôn. Đây thật là một con người tiểu nhân và quá nhẫn tâm !!!

4) VIỆC BÁC ÁI LÚC CÒN SỐNG ĐÁNG QUÝ HƠN SAU KHI CHẾT

Một người kia rất giàu tiền bạc của cải. Ông có lòng tốt dự định sẽ di chúc lại toàn bộ tài sản của mình sau khi chết để các tổ chức từ thiện lo phục vụ cho người nghèo. Nhưng đi đến đâu ông cũng chỉ nhận được những cái nhìn khinh thường của mọi người. Ông ta liền tìm đến một ẩn sĩ nổi tiếng khôn ngoan và hỏi: “Thưa thầy, tại sao dù tôi đã làm chúc thư để lại toàn bộ gia sản lớn lao của tôi cho các công việc từ thiện bác ái, thế mà nhiều người vẫn nghĩ tôi là loại người keo kiệt và khinh thường tôi. Vậy tôi phải làm gì để họ biết về lòng quảng đại của tôi và kính trọng tôi hơn ?”

Thay vì trả lời trực tiếp câu hỏi của người giàu có kia, vị ẩn sĩ đã kể cho ông ta nghe một câu chuyện như sau: “Có một chú heo nọ một hôm gặp chị bò sữa liền mở miệng than thở như thế này: Này chị bò, tôi và chị đều cống hiến thịt mình làm thức ăn cho loài người. Thế mà thật đáng buồn ! Tôi thấy họ tỏ ra thân thiện và âu yếm vuốt ve chị. Còn tôi thì lại bị khinh dể xa lánh ?” Ngẫm nghĩ một lát rồi chị bò cái mới ôn tồn trả lời chú heo rằng: “Quả thật cả hai chúng ta đều cung cấp cho loài người thịt để ăn sau khi chúng ta chết. Nhưng sở dĩ họ quí mến tôi hơn chú, theo tôi nghĩ có lẽ là vì ngay từ bây giờ lúc còn sống, mỗi ngày tôi đều cống hiến cho họ sữa tươi để uống chăng ?”

Câu trả lời của chị bò sữa dạy chúng ta: “Của cho không bằng cách cho” và “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Cho người khác những cái họ đang cần thì tốt hơn để lại chúc thư cho họ của cải sau khi mình chết, khi mình không thể sử dụng được nữa. Điều người khác cần nơi chúng ta không những là tiền bạc của chúng ta, mà còn là tình thương, sự quan tâm của chúng ta. Muốn được người khác quý mến kính trọng thì chúng ta phải quan tâm đến kẻ khác trước, cởi mở tâm hồn với họ, mở rộng trái tim để yêu thương và sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của họ.

5) QUẢNG ĐẠI DẤN THÂN PHỤC VỤ NGƯỜI NGHÈO:

Năm 1950, một hội nghị đại diện 17 quốc gia đã bầu ALBERT SCHWEITZER làm “người hùng của thế kỷ”. Hai năm sau (1952). Albert Schweitzer được giải thưởng Nobel hoà bình. Schweitzer được toàn thế giới tuyên dương là một thiên tài đa dạng: Ông vừa là một triết gia lừng danh, một nhà thần học nổi tiếng, một sử gia đáng kính, một nhạc công sôlô trong dàn nhạc và còn là một bác sĩ thừa sai nữa.

Nhưng điểm nổi bật nhất nơi ông là niềm tin Kitô giáo sâu sắc. Chính niềm tin này đã khiến ông thành “người hùng của thế kỷ”: Năm 21 tuổi, Schweitzer tự hứa với mình là sẽ nghiên cứu nghệ thuật và khoa học cho đến năm 30 tuổi, rồi sẽ cống hiến cuộc đời còn lại cho những người thiếu thốn bằng một hình thức phục vụ trực tiếp nào đó. Và thế rồi, vào sinh nhật thứ 30 của ông, nhằm ngày 13/10/1905, ông đến một hộp thư ở Paris gởi một số thư về cho bố mẹ và bè bạn thân thiết nhất, báo cho họ biết ông sắp sửa ghi tên vào đại học để lấy bằng y khoa, sau đó ông sẽ đi Phi Châu sống như một bác sĩ thừa sai để phục vụ đám dân nghèo.

Những lá thư của ông lập tức bị phản đối ngay. Bà con và bè bạn ông đồng loạt phản đối dự tính mà họ cho là điên rồ của ông. Họ bảo ông là một người đem chôn dấu tài năng đã được uỷ thác cho ông… Tuy nhiên, Schweitzer vẫn khăng khăng thực hiện những ý định của mình. Năm 38 tuổi, ông trở thành một bác sĩ y khoa thực thụ. Năm 43 tuổi, ông đến Phi Châu mở một bệnh viện cạnh bờ rừng của khu vực gọi là Phi Châu xích đạo. Tại đây, ròng rã suốt hơn bốn mươi năm trời, ông đã dùng hết tài năng và sức lực để đêm ngày tận tuỵ săn sóc những người dân bản xứ nghèo nàn bệnh tật, với tất cả tình yêu thương và lòng nhân ái. Sau cùng ông đã chết ở đó vào năm 1965, hưởng thọ 90 tuổi.

Thưa anh chị em, động lực nào đã khiến ông Schweitzer quay lưng lại với danh vọng và của cải trần gian để dấn thân làm việc cho đám dân cùng khổ nhất trong đám dân nghèo ở Phi Châu?

Theo lời ông, thì một trong những động cơ thôi thúc ông làm điều đó chính là do ông suy gẫm Tin Mừng của Chúa Giêsu. Ông đã lắng nghe tiếng gọi của Chúa và quyết tâm đáp lại bằng cách dấn thân phục vụ dân nghèo ở Phi Châu như có lần ông đã phát biểu: “Tôi không thể hiểu được tại sao tôi lại được phép sống một cuộc đời hạnh phúc như thế, đang khi chung quanh tôi còn biết bao người đang quằn quại trong đau khổ”.

  1. SUY NIỆM:

1) ĐỨC GIÊ-SU VỀ MIỀN GA-LI-LÊ: Khởi đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng, Đức Giêsu đã không chọn thủ đô Giêrusalem, tuy hầu hết theo đạo Mô-sê, nhưng vua chúa thì độc ác, đã từng tìm bách hại Người ngay từ khi mới sinh và gần đây còn ra lệnh chém đầu Gio-an là vị Tiền Hô dọn đường cho Người. Còn các đầu mục Do thái là các thượng tế, kinh sư, và biệt phái thì lòng chai dạ đá, không chấp nhận một Đấng Thiên Sai không theo ý mà họ đang mong chờ.

Đức Giê-su đã chọn Galilêa là vùng dân ngoại sống lẫn lộn với dân Do thái, nhưng lại sẵn sàng đón nhận Tin Mừng Nước Trời của Người. Galilêa còn là miền đất bị người Do thái khinh miệt, coi là của ngoại bang. Ngay từ ban đầu Đức Giê-su đã không đóng khung Tin Mừng Nước Trời trong Đền thờ, vì Người muốn Giáo Hội Người thiết lập phải không ngừng ra đi, đến với mọi dân tộc, ngôn ngữ, nhất là đến với những người nghèo khó, bệnh tật, tội lỗi và bị bỏ rơi.

2) ĐỨC GIÊ-SU KÊU GỌI 4 MÔN ĐỆ ĐẦU TIÊN: Đức Giê-su không làm việc một mình, nhưng Người muôn cho có nhiều người cùng hợp tác trong sứ vụ loan báo Tin Mừng. Người mời gọi hai anh em Simon Phê-rô và An-rê: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá”. Người cũng gọi hai anh em con ông Giê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an đi theo làm môn đệ của Người (x. Mt 4,19-21). Sau đó Người vào giảng dạy trong các hội đường Do thái, rao giảng Tin Mừng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền của dân (x. Mt 4,23). Người không đóng khung ở một nơi, nhưng luôn đi từ làng này sang làng khác, để thi hành sứ vụ như Người đã nói: “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa. Vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó” (Mc 1,38).

3) TIÊU CHUẨN CỦA NGƯỜI TÔNG ĐỒ THỜI CHÚA GIÊ-SU: Đức Giê-su không lựa chọn môn đệ ở trong Đền thờ, nơi có nhiều nhà thông hiểu Kinh thánh và Lề luật, nhưng chọn môn đệ là những người thuyền chài ít học, sẵn sàng từ bỏ mọi sự mà đi theo Người.

– PHẢI CÓ TINH THẦN TỪ BỎ: Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy, đang lúc đi dọc theo bờ biển, Ngài đã gọi hai ông Si-mon và An-rê: “Các anh hãy theo tôi. Tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ lưới người như lưới cá”. Liền sau đó, Ngài cũng đã gọi Giacôbê và Gioan. Thái độ của họ là lập tức bỏ chài lưới, bỏ ghe thuyền, bỏ cha già và những người làm công mà đi theo làm môn đệ Người (x. Mt 4,20.22);.

– CÁC ĐỨC TÍNH CỦA NGƯỜI TÔNG ĐỒ: Ngoài việc từ bỏ mọi sự, các ông còn cần tin Đức Giê-su chính là Đấng Thiên Sai (x. Mt 16,16) và trung thành theo Người đến cùng (x. Ga 6,67-69); Các ông phải có lòng khoan dung tha thứ lỗi lầm của kẻ khác và biết tế nhị khi sửa lỗi cho nhau (x. Mt 18,15-17); Phải có tinh thần khiêm hạ để phục vụ tha nhân noi gương Đức Giê-su (x. Mt 20,24-28); Phải có lòng mến Thầy hơn những người khác (x. Ga 21,15-17), vì lòng mến là điều kiện cần phải có để được Chúa tha tội (x. Lc 7,47) và để có thể hăng say rao giảng Tin Mừng (x. 2 Cr 5,14); Cần biết xin ơn Chúa trợ giúp: “Vì không có Thầy anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5); Phải khôn ngoan phòng tránh các cạm bẫy và luôn công minh chân thật để gây được thiện cảm với mọi người (x. Mt 10,16); Phải can đảm để làm chứng cho Chúa (x. Mt 10,23) và không chùn bước trước các đe dọa cấm cách (x. Mt 10,26-31); Phải sống yêu thương hiệp nhất với nhau, vì là dấu chỉ của người môn đệ đích thực của Đức Giê-su (x. Ga 13,34).

4) HÀNH TRÌNH LOAN BÁO TIN MỪNG HÔM NAY:

Đức Giê-su đã kêu gọi các môn đệ và các ông đã mau mắn đáp trả bằng việc từ bỏ mọi sự mà đi theo, để được sống thân tình với Người, được Người sai đi thực tập truyền giáo và cuối cùng phải “Nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội” (Lc 24,46-47).

Loan báo Tin Mừng trong thế giới và trong xã hội Việt Nam hôm nay, không phải chỉ lo về số lượng là nhiều người lương chịu phép rửa tội, nhưng trước hết phải có chất lượng là thấm nhuần tinh thần Phúc Âm trong tư tưởng lời nói, cách ứng xử của mỗi tín hữu. Rồi phải lo đưa tinh thần lối sống hiệp nhất yêu thương vào trong gia đình, khu xóm và nơi làm việc của mình.

  1. THẢO LUẬN:

1) Kèm theo lời giảng, Đức Giê-su đã chữa bệnh và trừ quỷ. Theo bạn, người rao giảng Lời Chúa hôm nay cần làm gì kèm theo việc rao giảng, để dễ được người nghe đón nhận ? 2) Hôm nay, bạn sẽ đáp trả tiếng Chúa thế nào khi được mời tham gia các sinh hoạt hội họp cầu nguyện và làm công tác trong các hội đoàn tông đồ?

  1. NGUYỆN CẦU:

– LẠY CHÚA GIÊ-SU. Xin cho quê hương Việt Nam chúng con cũng được tràn ngập ánh sáng của Chúa. Xin cho chúng con trở thành những môn đệ sẵn sàng loan báo Tin Mừng cho đồng bào Việt Nam thân yêu. Rao giảng bằng lời nói và nhất là bằng chính cuộc sống chứng nhân, qua những việc bác ái cụ thể như: an ủi và xoa dịu những vết thương đau, góp phần chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền, góp phần xóa đói giảm nghèo, xua trừ tận gốc các tội phạm hình sự và tệ nạn xã hội như mê tín, sì ke ma túy, cờ bạc, và mại dâm.

– LẠY CHÚA. Hôm nay xin Chúa dạy chúng con biết chiếu ánh sáng của Chúa qua thái độ luôn tươi cười, ngay cả những lúc xem ra cuộc đời không mỉm cười với chúng con. Xin cho chúng con biết yêu mến cuộc sống, dù không phải lúc nào cuộc sống cũng là màu hồng đáng yêu. Thực ra, chúng con luôn có nhiều lý do để lo âu chán nản và muốn bỏ cuộc. Nhưng xin Chúa đừng để nụ cười bị tắt trên môi chúng con. Xin cho chúng con ý thức rằng: “Một vị thánh buồn là một vị thánh đáng buồn !”. Ước gì chúng con luôn thấy mình thật hạnh phúc vì được Chúa yêu thương. Xin cho chúng con luôn mang niềm vui của Chúa, để làm cho gia đình, khu xóm, xí nghiệp trường học con đang sống được tràn đầy niềm vui và ơn cứu độ của Chúa.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

LM. ĐAN VINH –  HHTM

]]>
Tết tâm linh http://lamhong.org/tet-tam-linh/ Fri, 20 Jan 2017 03:15:53 +0000 http://lamhong.org/?p=26484 TẾT TÂM LINH

Quốc gia nào cũng có những ngày đặc biệt mang đặc tính của dân tộc, tôn giáo nào cũng có các nghi lễ riêng. Với người Việt, Tết là lễ hội văn hóa truyền thống lâu đời. Với người Công giáo, vui Xuân ăn tết theo phần đời và hân hoan chúc Tết nhau – đặc biệt là ông bà và cha mẹ, nhưng không thể quên phần tâm linh: Tết Thiên Chúa và Tết Đức Mẹ.

Lời chúc luôn bao hàm ý tốt đẹp và ngay lành. Có nhiều lời chúc. Tuy nhiên, chắc hẳn lời chúc tốt nhất là lời mà ông Mô-sê được nhạc phụ trao cho: “Cầu chúc Thiên Chúa ở với anh” (Xh 18:19). Và lời chúc lành nhất là điều mà Chúa Giêsu vẫn chúc các môn đệ: “Bình an cho anh em” (Lc 24:36; Ga 20:19; Ga 20:21; Ga 20:26). Có Thiên Chúa ở với chúng ta thì chúng ta luôn được bình an.

I. TẾT CHÚA

Giã từ Năm Cũ, sám hối lỗi lầm, quyết tâm trở về với Chúa Trời nhân hậu;
Chào đón Tân Niên, canh tân đời sống, thành thật tín thác nơi Lòng Chúa Xót Thương.

Thời gian cứ ngắn dần, mùa Đông lui bước để nhường chỗ cho mùa Xuân. Đó là quy luật muôn thuở.

Dân tộc nào cũng có ngày Tết riêng. Dù muốn dù không, dù trẻ hay già, dù nam hay nữ, tất cả đều cảm thấy cõi lòng rạo rực, nô nức, dù ít hay nhiều, dù chỉ là vô thức hoặc không muốn. Ngoại tại khả dĩ tác động nội tại.

Thời gian là của Chúa. Thời gian không thuộc quyền của chúng ta, nhưng chúng ta được Chúa cho phép quản lý thời gian của mình. Đó là trách nhiệm. Ai cũng có mỗi ngày 24 giờ, không hơn 1 giây, không kém 1 giây. Dùng thời gian đó làm điều tốt hay xấu là quyền của mỗi người. Nén-thời-gian Ngài đã trao và cho chúng ta hoàn toàn tự do sử dụng.

Chúa rất muốn chúng ta vui. Dân tộc nào cũng có cách vui Xuân đặc trưng. Có nhiều cách ăn tết, thế nên mỗi người đón tết cũng rất khác nhau. Có người chỉ cần một cành mai, có người muốn nếm miếng bánh chưng, có người thích ăn một miếng mứt, có người ưa ăn một miếng dưa, có người khoái sắm chiếc áo mới, có người dành thời gian đọc sách báo, nghiên cứu, hoặc làm từ thiện,… Thế nhưng có người lại cố gắng thể hiện bề ngoài cho ra vẻ tết nhất để hợp với “đẳng cấp” của mình. Mỗi người mỗi kiểu, mỗi người có quan niệm riêng và phong cách riêng.

Tết nhau cũng đa dạng, tùy theo “thần tài” nhà mình, do đó mà lễ vật cũng mỗi người mỗi vẻ, mức “nặng” và “nhẹ” cũng rất khác nhau. Các “ông to, bà lớn” rất vui khi được “bề dưới” thể hiện bản lĩnh “biết điều” sao cho đúng mức. Người nghèo cũng rất vui khi được các nhà hảo tâm tặng vài kg gạo, túi đường hoặc bịch mứt. Giá trị vật chất khác nhau, nhưng giá trị tinh thần có thể giống nhau về niềm vui mà lại không giống nhau về “ý nghĩa”. Nhiêu khê quá!

Có người nói “tết là chết trong lòng”, thật cũng hợp lý lắm!

Với con người là thế. Người ta lo tết nhau những thứ có giá trị “thực tế”, làm đẹp lòng nhau bằng vật chất. Người ta cân-đo-đong-đếm giá trị tinh thần bằng chính giá trị vật chất, người nghèo không “chết trong lòng” sao được!

Về tinh thần thì sao? Có lẽ người ta không chú trọng nhiều đến việc xin lỗi nhau, dù ai cũng có lỗi, mà Tết là dịp để gặp gỡ nhau. Dù không nói ra, nhưng chính sự gặp nhau đó ngầm hiểu là tha thứ cho nhau. Chính sự giao hòa và lòng tha thứ mới là “quà tết” giá trị nhất.

Còn với Chúa thì sao? Thực sự chúng ta chỉ là những tội đồ vô cùng khốn nạn, hoàn toàn bất túc và bất trác, nhận rất nhiều mà chẳng có gì xứng đáng để tết Chúa, như Tv 115 nói: “Con biết lấy gì dâng lại cho Chúa, để đền đáp những điều Ngài ban tặng cho con?”, thế nên chúng ta chỉ biết tiếp tục làm như Tv 115 dạy: “Con sẽ dâng Chén Cứu Độ và con sẽ kêu cầu Thánh Danh Chúa chí tôn”. Vả lại, chính Chúa cũng xác định: “Tôi muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế” (Mt 9:13), Ngài cho chúng ta tất cả: “Tôi đến để cho con người được sống và được sống dồi dào” (Ga 10:10). Thế nên Ngài không đòi hỏi gì ở chúng ta, Ngài chỉ muốn chúng ta đối xử tốt với nhau, và Ngài coi đó là làm cho chính Ngài.

Chúa không cần chúng ta tết Chúa, nhưng Ngài muốn chúng ta tết tha nhân bằng chính tấm lòng chân thành nhất: YÊU THƯƠNG NHAU. Chúa Giêsu gọi đó là Điều Răn Mới: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13:34; Ga 15:12). Đó là “dấu hiệu” chứng tỏ ai là nhân chứng đức tin: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13:35). Chúa Giêsu nhắc lại: “Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau” (Ga 15:17).

Chúa Giêsu thường nhắc đi nhắc lại: “Hãy yêu thương nhau”. Điều đó cho thấy Luật yêu cực kỳ quan trọng trong cuộc sống người Công giáo nói riêng. Và đó mới là Quà Tết đẹp lòng Chúa nhất. Chính món quà đó là những thứ Chúa muốn, nhưng không để lợi ích cho Ngài, mà là để lợi ích cho chính chúng ta và tha nhân. Tất nhiên, Quà tết đó sẽ thắm sắc màu Tin Cậy Mến:

Đầu Xuân con dâng lễ
Tết Thiên Chúa chí nhân
Quà Tết con chia sẻ
Là yêu thương tha nhân

Món quà yêu thương là Quà Tết quý giá, nhưng Quà Tết thánh đức nhất lại không gì bằng chính Con Thiên Chúa:

Bánh, rượu con dâng tiến
Xin Thiên Chúa chúc lành
Hóa thành Mình Máu Chúa
Hồn con đón Chúa Xuân

Chúa cũng sẽ rất vui chúc lành nếu chúng ta không chỉ giao hòa với Ngài mà còn cầu nguyện cho đất nước yêu dấu, tổ quốc thân thương, nơi mình đang sinh sống, với tâm tình cảm tạ:

Xuân mới đầy Ơn Thánh
Đức Chúa ban muôn người
Tình đồng loại thắm nở
Khắp nước Việt nơi nơi

Và dâng cho Chúa tất cả những nỗi niềm, lo toan, mơ ước, dự tính,… trong năm mới:

Đầu Xuân con dâng Chúa
Những mơ ước tin yêu
Rạng rỡ như hoa nở
Người luôn yêu thương nhau

Quà Tết dành cho Chúa còn là món quà “vâng lời”, như Đức Mẹ đã “xin vâng” (Lc 1:38), là thực hiện những điều Ngài dạy qua Kinh thánh: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9:23) – “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ” (Lc 6:36) – “Chính anh em hãy cho họ ăn” (Lc 9:13), vì “cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20:35) – “Anh em đừng bao giờ thốt ra những lời độc địa, nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp, để xây dựng và làm ích cho người nghe” (Ep 4:29) – Đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái (Rm 13:8).

Và còn rất nhiều “món quà” khác chúng ta phải tết Chúa hôm nay và suốt cuộc đời này…

Lạy Chúa Xuân vĩnh hằng, chúng con chỉ là những đầy tớ vô dụng (Lc 17:10), chúng con thành tâm xin lỗi Chúa, xin Ngài thương xót mà tha thứ tội lỗi cho chúng con. Xin cảm tạ Chúa về mọi ơn lành Ngài đã ban cho chúng con trong năm qua, và xin thương xót mà chúc lành cho năm mới của chúng con. Xin giúp chúng con biết sống vuông tròn Ý Ngài trong từng hơi thở của chúng con, luôn thể hiện yêu thương và khiêm nhường ngay từ trong ý nghĩ, đúng như Con Chúa đã truyền dạy. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

II. TẾT MẸ

 Chào mùa Xuân mới, mến Chúa với yêu người, quyết “xin vâng” với Đức Mẹ;
Sống vững Đức Tin, ăn năn và sám hối, thề tín thác vào Chúa Trời.

Người đời cảm nhận được Tình Mẫu Tử tuyệt vời, có Mẹ là có Mùa Xuân nên vẫn ca tụng Mẹ là Mùa Xuân. Với người Công giáo, chúng ta có một Người-Mẹ-của-các-người-mẹ là Đức Maria, một trinh nữ tuyệt vời với biết bao danh xưng cao trọng.

Với tâm tình của người con dành cho Mẹ trong ngày Xuân, cố Nhạc sư Hùng Lân đã bày tỏ lòng hiếu thảo thánh đức qua bài Thánh ca “Mẹ Là Mùa Xuân”. Ông sáng tác bài Thánh ca này năm 1946, cấu trúc là hai phần đơn giản. Phần 1 được viết ở âm thể Thứ để nói lên lòng tha thiết tôn kính dành cho Đức Mẹ, nhưng giai điệu không sầu thảm mà vẫn “sáng”; phần 2 được viết ở âm thể Trưởng thể hiện niềm hy vọng ngời sáng.

Ông là người chủ trương viết giản dị để mang tính cộng đồng, thế nhưng ca từ của ông luôn đầy chất thơ rất “đắt” và vần điệu rất chỉnh, cả tiết tấu và giai điệu đều đơn giản nhưng luôn mượt mà. Ông quả là bậc thầy về cả ca từ và giai điệu. Tôi thấy mình có chút may mắn được thụ giáo ông một thời gian, dù tôi chỉ là một trong vài học trò cuối cùng của cuộc đời ông – một người âm thầm theo Chúa và phục vụ Giáo hội bằng con đường âm nhạc.

Mở đầu, ông ca tụng Đức Mẹ là những gì tốt lành nhất: “Ôi Maria! Mẹ là Mùa Xuân Ánh Sáng, Mẹ là Cửa Son Đền Vàng, Bến Lành vào Quê Bình An. Rồi ông chân nhận thân phận phàm nhân: “Ôi Maria! Dẫu rằng đời con lầm than, bóng tội mờ che trần gian, sức hèn con ngã nhiều phen”. Kiếp người lận đận sớm chiều, tội lỗi ngập đầu, hèn yếu vô cùng. Muốn vươn lên mà cứ xập xụi mãi, Mẹ ơi!

Thân phận con người là thế, nhưng không vì vậy mà thất vọng, ngược lại vẫn một lòng tin tưởng và trông cậy và cố gắng hướng thượng: “Nhưng con luôn trông đến ngày tàn phai mùa Đông, ánh vàng Sự Rỗi reo mừng, hoa trái đau thương lựng hương. Ban ơn cho con, biết tìm ngọt trong sầu than, biết tìm mạnh trong nguy nàn, biết có Xuân trên Đông tàn”.

Ca từ đầy chất cầu nguyện và tích cực: Tìm NGỌT trong SẦU THAN, tìm MẠNH trong NGUY NÀN (nguy nan), vì biết chắc có mùa Xuân tươi đẹp trên mùa Đông tàn tạ. Hy vọng là đó, mong sống trọn kiếp nhân sinh cho hết cuộc lữ hành trần gian này.

Đức tin bừng sáng, đức Cậy vững vàng, và đức Mến nồng nàn. Có Chúa là có Mẹ, có Mẹ là có Chúa. Đó là Mùa Xuân tuyệt diệu, ai cũng khao khát khôn nguôi, hy vọng dạt dào: “Mẹ là Mùa Xuân đem sức thiêng cho cõi lòng, Mẹ là Mùa Xuân muôn kiếp muôn dân đợi trông, Mẹ là Mùa Xuân bất diệt trên cõi hằng sống, giúp con vượt đời, trông về cõi phúc vô song”.

Vâng, Mẹ ơi, chúng con chỉ mong có vậy thôi: Cõi Phúc Vô Song. Mẹ là nguồn cậy trông, Mẹ tuyệt mỹ, chúng con nhờ Mẹ để đến với Chúa Giêsu Con yêu Dấu của mẹ, và là Đấng Cứu Độ của chúng ta. Những sự hy sinh, những sự chịu đựng, và cả những lỗi lầm khốn nạn của chúng ta nữa, đó là Quà Xuân chúng ta có thể chân thành Tết Mẹ. Xin Mẹ thương nhận mà tha thứ và che chở chúng ta hôm nay và suốt đời.

Và còn rất nhiều “món quà” khác chúng ta cũng phải tết Mẹ hôm nay và suốt cuộc sống trần gian này…

Đức Mẹ Maria là Người Nữ can trường (Cn 31), là Người Nữ trong sách Khải Huyền (Kh 12) tiến vào cuộc chiến vĩ đại chống con rồng hoả ngục, là người không sợ hãi gì, như đạo quân sắp hàng vào trận, mang hàng ngàn thuẫn chắn (Dc 4:4; Dc 6:4).

Trong lời nguyện tại lễ bế mạc Năm Thánh kính Đức Mẹ, ngày 15-8-1988, Thánh GH Gioan Phaolô II nói: “Đức Mẹ là Người Nữ mảnh khảnh mà bền vững vô cùng làm cho lòng chúng ta vui mừng vững vàng vì chắc chắn rằng Con Rồng ấy không mạnh hơn Bà Đẹp tuyệt vời. Chúng ta hãy luôn bám chặt lấy Mẹ.

Trên Thánh Giá, Chúa Giêsu nói với Thánh Gioan: “Đây là Mẹ con” (Ga 19:27). Điều đó xác định Đức Mẹ là Mẹ của Giáo hội, Mẹ của nhân loại. Chúng ta thực sự hạnh phúc vô cùng, vì được làm con của Đức Mẹ và được Tết Đức Mẹ trong ngày tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam, đồng thời chúng ta tin tưởng sẽ được sum họp với Chúa và Mẹ trên Cõi Trường Sinh!

Lạy Mẹ là Mùa Xuân Ánh Sáng, xin giúp chúng con mến Chúa và yêu người, đồng thời luôn biết “xin vâng” như Mẹ trong mọi hoàn cảnh. Xin cảm tạ Mẹ đã ban bao ơn lành hồn xác cho chúng con trong năm qua, xin tha thứ những thiếu sót của chúng con. Xin giúp chúng con biết siêng năng lần hạt Mân Côi hằng ngày, luôn thể hiện yêu thương và khiêm nhường ngay từ trong ý nghĩ, đúng như Con Chúa đã truyền dạy. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

]]>
Ngày tết, người Công giáo bàn về Đạo Hiếu http://lamhong.org/ngay-tet-nguoi-cong-giao-ban-ve-dao-hieu/ Fri, 20 Jan 2017 01:09:58 +0000 http://lamhong.org/?p=26480
ngay-tet-nguoi-cong-giao-ban-ve-dao-hieu‘Đạo hiếu’ là một phong tục đã đâm rễ sâu trong đời sống người Việt (không phải là một tôn giáo đúng nghĩa). Truyền thống ấy được đón nhận và đi vào lối sống của người Việt Nam một cách tự nhiên, ở mọi thời và mọi nơi. ‘Đạo Hiếu’ cũng được các tôn giáo coi trọng được thể hiện qua giáo thuyết và cung cách thực hành. Cũng trong dòng chảy ấy, ‘Đạo Hiếu’ của người Công Giáo được đặt nền tảng vững chắc trên nền tảng Thánh Kinh, Truyền thống Giáo Hội, và được xem như “Hạt giống của Lời” đã và đang gieo vào dòng máu và con tim của dân Việt qua muôn vàn thế hệ. Ngày nay khi gặp được Tin Mừng soi chiếu, nó được đón nhận như một thành phần không thể thiếu được của toàn bộ đời sống của Kitô hữu.
Nhân dịp tết đến xuân về, người viết xin góp nhặt đôi điều về ‘Đạo Hiếu’ của người Công giáo, cùng các bạn trẻ ‘gạn đục khơi trong’ để có thể Phúc Âm hóa đời sống xã hội hôm nay.

Thảo kính cha mẹ

1. Khởi đi từ nền tảng Kinh Thánh như lời Thiên Chúa phán: “Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, để được sống lâu trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi…” (Xh 20,12); Theo Sách Huấn Ca, lòng hiếu thảo đối với cha mẹ đem lại nhiều lợi ích: được đền bù tội lỗi, được con cháu báo hiếu, và sẽ được Chúa nhận lời. Thánh Phaolô còn khuyên bảo: “Kẻ làm con, hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo. Hãy tôn kính cha mẹ. Đó là điều răn thứ nhất có kèm theo lời hứa: để ngươi được hạnh phúc và hưởng thọ trên mặt đất này”(Ep 6,1-3). Đặc biệt, trong Tin Mừng, Chúa Giê-su còn nhấn mạnh: “Ngươi hãy thờ cha kính mẹ; kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử” (Mt 15,4).

2. Phụng vụ Ki-tô giáo luôn nhớ đến những người đã qua đời trong mỗi Thánh lễ, từng lời kinh, nguyện ngắm. Thánh lễ nào cũng có ý chỉ cầu nguyện cho các linh hồn (ý chung và ý riêng) với lời nguyện: “Lạy Chúa, xin nhớ đến ông bà, cha mẹ, anh chị em chúng con đang an nghỉ trong niềm hy vọng sống lại và mọi người đã qua đời trong tình thương của Chúa. Xin cho các linh hồn ấy được vào hưởng ánh sáng tôn nhan Chúa” (KNTT).

3. Trong ba ngày Tết, Phụng vụ dành riêng ngày mồng 2 để kính nhớ tổ tiên và ông bà cha mẹ. Ngày này, các giáo xứ thường tổ chức Thánh Lễ rất long trọng tại Thánh địa, trong đó nghi thức Kính Nhớ Tổ Tiên được cử hành trước như đưa dẫn cộng đoàn vào tâm tình Thánh lễ, với lời nguyện nhập lễ được trích từ sách Châm ngôn: “Con ơi giữ lấy lời cha, Chớ quên lời mẹ, nhớ mà nghi tâm. Đèn soi trong chốn tối tăm, Ấy là chính những lời răn lệnh truyền. Nhớ cầu cho bậc tổ tiên, Khắc ghi công đức một niềm tri ân (Cn 6,20-23).

4. Đạo Công giáo dành riêng tuần Bát Nhật đầu tháng 11 để viếng nghĩa địa lãnh ơn toàn xá và nhường lại cho các linh hồn, dành cả tháng 11 gọi là tháng Các Đẳng, hay còn gọi ‘Mùa Báo Hiếu Kitô giáo’, để cầu nguyện cho những người đã qua đời, bằng việc đọc kinh, xin lễ và tham dự Thánh lễ.

5. Hội thánh cũng dạy các tín hữu phải chu toàn Đạo hiếu như: tôn kính, biết ơn và vâng lời ông bà cha mẹ trong những điều chính đáng như: chăm lo cho cha mẹ được đầy đủ phần xác cũng như phần hồn; khi cha mẹ qua đời phải lo việc tang ma, làm các việc thiện, cầu nguyện và xin lễ cho các ngài, đặc biệt trong những ngày các ngài qua đời cũng như trong tháng cầu hồn.

6. Người Công giáo có truyền thống xin lễ cầu hồn và tổ chức đọc kinh tại gia và dùng bữa (ăn giỗ) hiệp thông với gia đình, đi thăm mộ, sửa mộ trong các dịp: 49 ngày, 100 ngày, 1 năm, 3 năm… Ngoài ra, nhiều gia đình còn có thói quen xin lễ cho tiền nhân và thân nhân vào các dịp kỷ niệm của gia đình để nhớ về nguồn cội.

7. Trong ngày tổ chức Lễ Thành Hôn, người Công giáo đều hướng về bàn thờ để cử hành nghi lễ Gia tiên, để cảm tạ Thiên Chúa và tỏ lòng hiếu lễ với tiên tổ; đồng thời, nguyện xin các Ngài chúc phúc cho tình yêu lứa đôi được trăm năm hạnh phúc.

8. Người Công giáo luôn có thói quen nguyện tắt: Chúng con cậy vì danh Chúa nhân từ cho các linh hồn được lên chốn nghỉ ngơi…; Giêsu, Maria, Giuse, Con mến yêu, xin cứu rỗi các linh hồn; cùng với những Kinh Bổn mang đậm màu sắc cầu hồn như: Kinh Vực Sâu, Kinh cầu các thánh, Kinh Tin Kính… 

Thờ cúng tổ tiên

9. Đã từ lâu, thành kiến “theo đạo thì bất hiếu” đã ăn sâu trong lòng người Việt, lương cũng như giáo, khiến cho một tôn giáo chân thật và tốt lành bị xuyên tạc và hiểu lầm hết sức tai hại. “Theo Đạo (Công giáo) là bỏ Ông Bà”, đó là một trong những lý do khiến khá nhiều người minh chứng để từ chối hoặc do dự gia nhập đạo Công giáo.

10. Thành kiến ấy chính là hậu quả lâu dài lịch sử truyền giáo tại Việt Nam trong cách hiểu về việc thờ cúng tổ tiên, với biết bao những khó khăn và những hiểu lầm…. Cho đến nay, Giáo hội Việt Nam đã có những hướng dẫn theo tinh thần của Tòa Thánh, đặc biệt từ Công đồng Vaticano II về việc hội nhập văn hóa bản địa…. Tuy nhiên, các ngài cũng nhắc nhở các tín hữu cần áp dụng có chọn lọc, nhất là bài trừ các hình thức thờ cúng mang tính dị đoan, bói toán,…ngược với Giáo lý Đức tin tinh tuyền Công giáo.

11. Chữ “thờ” hiểu theo nghĩa của người Việt Nam là “thờ kính” cha mẹ đã có công sinh thành dưỡng dục… Tuy nhiên, người Công Giáo không thờ cúng tổ tiên như một đấng thần linh phải thờ lạy và cúng bái, hay hiểu cùng một cấp độ như “thờ phượng” Thiên Chúa. Vì thế, người Công giáo thường lập bàn thờ gia tiên dưới bàn thờ Chúa, với mục đích nhắc nhở cho con cháu về sự tồn tại của các ngài trong công trình tạo dựng của Thiên Chúa, Đấng là cội nguồn của tổ tiên loài người và mỗi chúng ta.

12. Việc tang chế của người Công giáo có nhiều yếu tố hội nhập với văn hóa bản địa như:  vái hương, trưng hoa, bày mâm ngũ quả trên bàn thờ tổ tiên vào các dịp giỗ, dịp tết,… Nhưng, người Công giáo không tin người chết sẽ hưởng dùng những hoa trái ấy, mà chỉ biểu lộ lòng thành kính, hiếu thảo của cháu con và gợi lại những sinh hoạt của người thân khi còn sống mà thôi.

Như vậy, việc ứng xử của người Công giáo Việt Nam với tục thờ cúng tổ tiên là một biểu hiện sống động nhất của quá trình hội nhập giữa Công giáo và Văn hóa Việt Nam cũng như quá trình Công giáo Việt Nam đồng hành cùng dân tộc.

Với một chút suy tư về Đạo Hiếu: cung cách Thảo Kính Cha Mẹ và quan điểm về việc Thờ Cúng Tổ Tiên như thế, mong sao các gia đình Công giáo, đặc biệt các bạn trẻ hãy gắng học hiểu, thực hành và diễn giải cho những người ngoài Công giáo mỗi khi có dịp đối thoại, để Phúc Âm không ngừng tinh luyện và nâng cao phong hóa các dân tộc, ngõ hầu mang lại những giá trị đúng đắn của Đạo Hiếu mà xưa nay nhiều người còn lầm tưởng!

Giuse Phạm Quang

Tham khảo

– Kinh Bổn và Kinh Thánh.
– Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo 1992 & Lễ nghi Rôma.
– Các văn thư và bài viết của các tác giả, từ wed: Thờ Cúng Tổ Tiên… 

(Nguồn: Báo Công Giáo)
]]>
Chuyện xa – gần http://lamhong.org/chuyen-xa-gan/ Fri, 20 Jan 2017 00:42:03 +0000 http://lamhong.org/?p=26478 Chuyện XA – GẦN

(Chúa Nhật III TN, năm A)

Xa hay gần là đề cập khoảng cách, có thể là về thời gian hoặc không gian. Tuy nhiên, khoảng cách chỉ là một khái niệm theo ý nghĩ của phàm nhân. Đối với Thiên Chúa không có khoảng cách, vì đối với Ngài luôn luôn là hiện tại, không có quá khứ hoặc tương lai.

Với con người, khoảng cách xa hoặc gần cũng chỉ là tương đối, tùy theo cách nghĩ của mỗi người khác nhau. Ví dụ: về thời gian, 5 năm có thể là xa (lâu) đối với người này, nhưng 10 năm có thể là gần (mau) đối với người khác; về không gian, 5 km có thể là xa đối với người này, nhưng 10 km có thể là gần đối với người khác. Các khái niệm hoàn toàn khác nhau.

Ngoài ra, cũng có nhiều loại khoảng cách khác mà mọi người đều phải nỗ lực rút ngắn: khoảng cách về vật chất, khoảng cách về tinh thần, khoảng cách về tình cảm, khoảng cách về kiến thức, khoảng cách về nhận thức, khoảng cách về yêu thương, khoảng cách về giáo dục, khoảng cách về trình độ, khoảng cách về tuổi tác,…

Để cho loài người dễ hiểu, Chúa Giêsu đã xác định: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 4:17). Tương tự, Phúc Âm theo Thánh Mác-cô cho biết: “Thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1:15). Như vậy, Thuyết Thế Mạt (Eschatology) đang ở thì tiếp diễn, đang diễn tiến, nghĩa là chúng ta thực sự đang sống trong Thời Cánh Chung, đang ở trong “khoảng thời gian” mà chính Chúa Giêsu đã đề cập.

Nước Trời đã đến gần, ai muốn đến gần Nước Trời thì phải sám hối và tin vào Tin Mừng – tức là tin vào Đức Giêsu Kitô, Đấng nhập thể và nhập thế. Người đã được rửa tội là người được tham dự vào Nước Trời, nhưng còn ở thời gian nên còn phải sám hối, sám hối không ngừng, sám hối suốt đời. Đấng Thiên Sai đến thế gian để các tội nhân chúng ta được ơn giải thoát: “Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi” (Is 9:1).

Đối với thế gian, được ra khỏi nhà tù là niềm hạnh phúc, được trắng án còn hạnh phúc hơn. Thế thì không thể diễn tả nổi niềm hạnh phúc của những người được giải thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi. Họ là ai? Là dân Israel, và cũng là chính chúng ta. Ngôn sứ Isaia cho biết: “Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ, đã tăng thêm nỗi vui mừng. Họ mừng vui trước nhan Ngài như thiên hạ mừng vui trong mùa gặt, như người ta hỷ hoan khi chia nhau chiến lợi phẩm” (Is 9:2).

Tại sao người ta lại vui mừng hoan hỷ như vậy? Cách họ thoát thân kỳ diệu do chính Thiên Chúa hành động: “Vì cái ách đè lên cổ dân, cây gậy đập xuống vai họ, và ngọn roi của kẻ hà hiếp, Ngài đều bẻ gãy như trong ngày chiến thắng quân Mađian. Vì mọi giầy lính nện xuống rần rần và mọi áo choàng đẫm máu sẽ bị đem thiêu, làm mồi cho lửa” (Is 9:3-4). Công lý đã được đòi lại, sự thật đã tỏ tường.

Giữa con người với nhau cũng có những “khoảng cách” khác nhau – cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Nề đời thường, Kinh Thánh nhận định: Chính nhân cầm quyền, dân mừng rỡ. Ác nhân cai trị, dân oán than” (Cn 29:2). Hôn quân dân khổ, minh quân dân nhờ. Nói về đạo giáo, Kinh Thánh nhận định: “Sứ giả gian manh chỉ gây nên tai họa, sứ giả trung tín là phương thuốc chữa lành” (Cn 13:17). Và còn hơn thế nữa, Chúa Giêsu đã nói rất rõ ràng: “Anh em hãy coi chừng các ngôn sứ giả, họ đội lốt chiên mà đến với anh em; nhưng bên trong, họ là sói dữ tham mồi” (Mt 7:15). Những câu nói xoáy vào óc khiến “nhức buốt” quá chừng! Thế nhưng, đúng như ông bà ta vẫn nói: “Nói gần, nói xa, chẳng qua nói thật”. Và Chúa Giêsu cũng đã xác định: “Sự thật sẽ giải thoát quý vị” (Ga 8:32).

Sự thật đó chính là Thiên Chúa, Ngài cũng chính là Ánh Sáng và Ơn Cứu Độ. Có Chúa là có tất cả, mất Chúa là mất tất cả. Tác giả Thánh Vịnh chia sẻ cảm nghiệm: “Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi, tôi còn sợ người nào? Chúa là thành lũy bảo vệ đời tôi, tôi khiếp gì ai nữa?” (Tv 27:1).

Vô tri bất mộ. Biết rồi thì không thể không yêu mến. Vì yêu mến mà người ta khao khát không ngừng: “Một điều tôi kiếm tôi xin, là luôn được ở trong đền Chúa tôi mọi ngày trong suốt cuộc đời, để chiêm ngưỡng Chúa tuyệt vời cao sang, ngắm xem thánh điện huy hoàng” (Tv 27:4). Ước mong đó không phải là ảo vọng, mơ hồ hoặc tự đánh lừa mình, mà là sự thật minh nhiên và chắc chắn: “Tôi vững vàng tin tưởng sẽ được thấy ân lộc Chúa ban trong cõi đất dành cho kẻ sống. Hãy cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào! Hãy cậy trông vào Chúa” (Tv 27:13-14).

Tin thì phải thể hiện niềm tin bằng hành động, chứ không thể nói suông. Thánh Phaolô dẫn chứng cụ thể: “Thưa anh em, nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tôi khuyên tất cả anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói, và đừng để có sự chia rẽ giữa anh em, nhưng hãy sống hoà thuận, một lòng một ý với nhau. Thật vậy, thưa anh em, người nhà của bà Khơlôe cho tôi hay tin có chuyện bè phái giữa anh em” (1 Cr 1:10-11). Có lẽ tình trạng đó cũng đã và đang xảy ra thường xuyên tại các cộng đoàn và hội đoàn ngày nay. Bề ngoài nhìn có vẻ “tâm đầu ý hợp”, nhưng bên trong là những “khoảng cách” sâu thẳm, với những “lời xì xầm” kèm theo những cái liếc mắt sắc bén hơn lưỡi lam!

Cộng đoàn Côrintô thời Thánh Phaolô đã có những luận điệu so kè, bè phái. Thánh Phaolô dẫn chứng: “Tôi muốn nói là trong anh em có những luận điệu như: Tôi thuộc về ông Phaolô, tôi thuộc về ông Apôlô, tôi thuộc về ông Kêpha, tôi thuộc về Đức Kitô. Thế ra Đức Kitô đã bị chia năm xẻ bảy rồi ư? Có phải Phaolô đã chịu đóng đinh vào khổ giá vì anh em chăng? Hay anh em đã chịu phép rửa nhân danh Phaolô sao?” (1 Cr 1:12-13). Ngày nay cũng có dạng tương tự, như người Việt có cách nói: “Thấy sang bắt quàng làm họ” hoặc “Cáo mượn oai hổ”.

Cuối cùng, ông Phaolô xác định: “Đức Kitô đã chẳng sai tôi đi làm phép rửa, nhưng sai tôi đi rao giảng Tin Mừng, và rao giảng không phải bằng lời lẽ khôn khéo, để thập giá Đức Kitô khỏi trở nên vô hiệu” (1 Cr 1:17). Nhiệm vụ làm nhân chứng của Tin Mừng và Đức Kitô không của riêng ai. Bất cứ ai đã lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy (Phép Rửa) đều được Thiên Chúa trao ba thiên chức: Vương giả (Vương đế), Tư tế và Tiên tri (Ngôn sứ).

[Xin mở ngoặc: Để dễ nhớ, chúng ta có thể thay danh từ Vương đế là Thiên tử, vì vua chúa xưa được coi là Thiên tử. Như vậy chúng ta có 6 T để mô tả ba thiên chức: Thiên tử, Tư tế và Tiên tri].

Trình thuật Mt 4:12-23 cho biết rằng khi Đức Giêsu nghe tin ông Gioan đã bị nộp, Người lánh qua miền Galilê. Sau đó Người bỏ Nadarét, đến ở Caphácnaum, một thành ven biển hồ Galilê, thuộc địa hạt Dơvulun và Náptali, để ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia nói: “Này đất Dơvulun, và đất Náptali, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Giođan, hỡi Galilê, miền đất của dân ngoại! Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi”. Giữa bóng tối và ánh sáng có một “khoảng cách bí ẩn”, một “ranh giới” đặc biệt, người ta không thể “thấy” được nếu không có niềm tin vào Đức Giêsu Kitô.

Thánh Mátthêu cho biết thêm rằng từ lúc đó, Đức Giêsu bắt đầu rao giảng và nói: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần”. Sau khi chịu Phép Rửa, sứ vụ của Chúa Giêsu bắt đầu công khai bằng một lời cảnh báo ngắn gọn mà thâm thúy, xác định với chúng ta rằng “khoảng cách” giữa Nước Trời và chúng ta đã gần rồi, nghĩa là không còn xa nữa.

Hôm đó, khi đang đi dọc theo biển hồ Galilê, Chúa Giêsu thấy hai anh em kia là ông Simôn – cũng gọi là Phêrô, và người anh là ông Anrê, đang quăng chài xuống biển, vì các ông làm nghề đánh cá. Ngài bảo các ông: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá”. Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Ngài.

Đi một quãng nữa, Ngài thấy hai anh em khác là Giacôbê và Gioan – hai người con của ông Dêbêđê. Họ đang cùng với cha là ông Dêbêđê vá lưới ở trong thuyền, và Ngài gọi các ông. Lập tức, các ông bỏ thuyền và người cha lại mà theo Ngài.

Đó là bốn môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu. Họ có điểm chung: Mau mắn và dứt khoát. Đó là động thái tích cực mà chúng ta cần áp dụng trong cuộc sống hằng ngày. Họ là những người đầu tiên cộng tác với Chúa Giêsu trong việc rút ngắn “khoảng cách” giữa nhân loài với Nước Trời. Những người càng cố gắng hoàn thiện để nên giống Đức Kitô thì càng đến gần Nước Trời hơn. Nước Trời đã đến gần, Chúa Giêsu đã tích cực rút ngắn khoảng cách cho chúng ta, nhưng chúng ta vẫn phải chủ động rút ngắn khoảng cách đó để càng gần Nước Trời hơn nữa.

Cuối cùng, Thánh Mátthêu cho biết: “Đức Giêsu đi khắp miền Galilê, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân”. Chúa Giêsu nhập thể và nhập thế, sống bình thường như chúng ta – trừ tội lỗi. Ngài không muốn có khoảng cách nào giữa Ngài và chúng ta. Còn chúng ta đối với Ngài và tha nhân thế nào?

Lạy Thiên Chúa, xin giúp con biết xác định khoảng cách nội tâm để khả dĩ nhận biết Ngài và nhận biết chính con. Xin giúp con mau mắn và dứt khoát vững bước đến với Ngài và đến với tha nhân bằng cả con người của con. Xin cho mọi khoảng cách đều được rút ngắn để mọi người gần gũi nhau hơn. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU

]]>
Hãy hối cải, vì nước Trời đã gần đến http://lamhong.org/hay-hoi-cai-vi-nuoc-troi-da-gan-den/ Fri, 20 Jan 2017 00:26:03 +0000 http://lamhong.org/?p=26476 Hãy hối cải, vì nước Trời đã gần đến

Suy niệm Chúa nhật III thường niên – Năm A

(Mt 12, 12-23 )

Bước vào Chúa nhật thứ III thường niên, chúng ta thấy Chúa Giêsu sau khi chịu phép rửa tại sông Giorđan, được Gioan giới thiệu cho mọi người biết Người là : “Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian ” (Ga 1, 29). Điều các ngôn sứ đã báo trước nay được thực hiện : “Tại Galilêa các dân tộc và dân chúng thấy một ánh sáng vĩ đại” (Is 9, 1-4  (Hr 8, 23b – 9, 3). Ánh sáng vĩ đại ấy là ai nếu không phải là Chúa Giêsu. Thật thế, Chúa Giêsu xuất hiện giữa dân chúng, như ánh bình minh rạng ngời buổi sáng, xua tan bóng tối đêm đen. Dân chúng thấy Ngài như thấy ánh sáng huy hoàng… xuất hiện cho người ngồi trong bóng tối sự chết (x.Mt 12, 16), ánh sáng ấy nay tỏ rạng công khai khi rao giảng : “Hãy hối cải, vì nước Trời đã gần đến” (Mt 12, 17).

Ánh sáng ấy là Chúa Giêsu

Matthêu giải thích, Chúa Giêsu “rời bỏ thành Nadarét, đến ở miền duyên hải, thành Capharnaum, giáp ranh đất Giabulon và Nepthali“. Với địa danh chính xác như thế, nhưng mục đích của tác giả không phải là cung cấp cho chúng ta những chỉ dẫn du lịch. Ý tưởng thần học của Matthêu được giải thích ngay : “Để ứng nghiệm lời đã phán bởi miệng tiên tri Isaia” (Bài đọc I).

Ứng nghiệm điều gì? Giabulon và Nepthali là hai vùng thuộc miền Bắc lúc ấy đang bị sát nhập vào vương quốc Asyri. Thật là hổ người khi nhớ lại quá thất bại và bị đuổi ra ngoài. Tuy nhiên, vị tiên tri với niềm tin vững mạnh đã tuyên bố : “Dân ngồi trong tối tăm đã thấy ánh sáng huy hoàng“. Nói cách khác, Isaia muốn khơi lên niềm hy vọng nơi những người tin cậy Chúa, Đấng giải thoát họ, nên ông không ngần ngại nói về ơn cứu rỗi. Đó là sức mạnh của Lời Chúa, Lời thực hiện những gì đã tuyên bố, Isaia gợi lên niềm vui đến từ đức tin : “Dân chúng vui mừng trước nhan Chúa như nhà nông vui mừng trong mùa gặt“. Thánh Vịnh một lần nữa vang lời động viên : “Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh. Hãy chờ đợi Chúa, hãy sống can trường, hãy phấn khởi tâm hồn và chờ đợi Chúa“. Niềm tin này khiến chúng ta vui mừng vì lời hứa của Thiên Chúa được thực hiện : “Chúa là sự sáng và là Đấng cứu độ tôi “. Sự sáng ấy nay cụ thể hóa nơi con người Đức Giêsu Kitô, thánh Matthêu xác định : Chúa Giêsu lui về Galilêa. Người rời bỏ thành Nadarét, đến ở miền duyên hải, thành Capharnaum, giáp ranh đất Giabulon và Nepthali, để ứng nghiệm lời đã phán bởi miệng tiên tri Isaia rằng: “Hỡi đất Giabulon và đất Nepthali, đường dọc theo biển, bên kia sông Giođan, Galilêa của ngoại bang! Dân ngồi trong tối tăm đã thấy ánh sáng huy hoàng; ánh sáng đã xuất hiện cho người ngồi trong bóng sự chết“.

Bước theo Chúa Giêsu cần phải hối cải

Ánh bình minh đã ló rạng, từ trên cao chiếu soi dân ngồi trong bóng tối là chính Chúa Giêsu Kitô. Ai bước vào trong ánh sáng ấy cần phải : “Hối cải” nghĩa là đi từ bóng tối ra ánh sáng, từ tội lỗi sang đời sống là con cái Chúa, từ tuyệt vọng đến hy vọng, từ chán nản đến vui mừng. Và Chúa muốn ánh sáng ấy chiếu soi mọi người; nên Chúa đã chọn các môn đệ như những người phụ tá.

Khi Chúa Giêsu gọi các môn đệ của mình “Hối cải“. Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta rằng, dù thuộc về Phaolô, Phêrô hay Apôlô cũng chỉ có một Đức Kitô. Mọi con mắt phải hướng về Ngài, chính Ngài cứu chuộc chúng ta. Vì thế, khi gọi các môn đệ, là để các ông trở nên những chứng nhân của Tin Mừng, nên thánh Phaolô có thể nói : “Đức Kitô không sai tôi đi rửa tội, mà là đi rao giảng Tin Mừng, không phải bằng lời nói khôn khéo, kẻo thập giá của Đức Kitô ra hư không“. Phaolô được chọn, để loan báo một Đấng Cứu Thế bị đóng đinh cho thế gian.

Ngày nay Chúa cũng mời gọi chúng ta mang vào thế giới sứ điệp sự thật và tình thương của Ngài. Chúng ta hãy sẵn sàng tham gia vào sứ mạng này và nhất là cầu nguyện xin Chúa đừng để những chia rẽ và tranh chấp giữa các tín hữu Kitô làm lu mờ khả năng chiếu tỏa của Tin Mừng.

Hối cải để hiệp nhất

Lời Chúa mời gọi chúng ta : “Hãy hối cải, vì nước Trời đã gần đến“, vẫn luôn có tính chất thời sự của Tin Mừng. Sự quyết tâm hoán cải, trở về cùng Chúa Kitô là con đường dẫn đưa Giáo Hội đến sự hiệp thông hữu hình trọn vẹn vào thời kỳ Thiên Chúa thiết định. Các cuộc gặp gỡ đại kết trong thời gian gần đây gia tăng trên thế giới là một dấu chỉ chứng tỏ điều đó.

Trước giờ Kinh Truyền Tin trưa Chúa nhật 23/1/2011, Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI đưa ra lời kêu gọi sau đây : “Ngày nay cũng vậy, để trở thành dấu chỉ và phương thế kết hiệp sâu xa với Thiên Chúa trong thế giới, các tín hữu Kitô chúng ta phải xây dựng cuộc sống trên 4 cột trụ, đó là: cuộc sống trên nền tảng đức tin của các Tông Ðồ được chuyển lại trong Truyền Thống sinh động của Giáo Hội, tình hiệp thông huynh đệ, Thánh Thể và kinh nguyện. Có thế, Giáo Hội mới được kết hiệp bền vững với Chúa Kitô và chu toàn sứ mạng của mình, dù có những chia rẽ như thánh Phaolô Tông Ðồ nói đến : “Hỡi anh em, tôi khuyên nhủ anh em tất cả hãy đồng tâm hiệp ý trong lời nói, để không có sự chia rẽ nơi anh em, nhưng hãy kết hiệp trọn vẹn trong tư tưởng và cảm thức” (1 Cr 1,10). Thực ra Thánh Tông Đồ đã biết trong cộng đoàn Kitô ở Côrintô, đã nảy sinh những bất thuận và chia rẽ; vì vậy, ngài nghiêm nghị viết thêm rằng: “Phải chăng Chúa Kitô bị chia rẽ sao?” (1,13). Ngài quả quyết mọi chia rẽ trong Giáo hội là làm xúc phạm đến Chúa Kitô, Thủ Lãnh duy nhất và là Chúa, chúng ta luôn luôn có thể tái hiệp nhất, nhờ sức mạnh vô tận của ơn thánh Chúa.

Theo giáo huấn của thánh Phaolô, chúng ta được mời gọi loại bỏ gương mù chia rẽ nơi chúng ta để mang sứ điệp của Chúa Kitô Phục Sinh cho tất cả mọi người. Chúng ta hãy cầu nguyện xin Chúa cho sớm đến ngày Giáo Hội được hoàn toàn hiệp nhất. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

]]>
Thông điệp của mùa Xuân http://lamhong.org/thong-diep-cua-mua-xuan/ Thu, 19 Jan 2017 09:53:22 +0000 http://lamhong.org/?p=26473 Mùa xuân Đinh Dậu đang về. Vẫn biết rằng, đông qua thì xuân tới, mà lòng người vẫn thấy xốn xang, khi những tín hiệu đầu tiên của mùa xuân xuất hiện. Thì ra, mùa xuân không chỉ là một khoảnh khắc thời gian tiếp nối xoay vần, mà còn là thời điểm mang nhiều ý nghĩa sâu sắc đối với cuộc sống con người. Tiết trời, thiên nhiên, lòng người đều như muốn gửi đến với chúng ta những thông điệp có ý nghĩa đối với cuộc sống hằng ngày.

Mùa xuân đến mời gọi chúng ta canh tân đổi mới. Trong suốt mùa đông, thời tiết u ám, giá lạnh. Khi mùa xuân đến, vũ trụ thiên nhiên như bừng tỉnh và khoác trên mình một chiếc áo mới, huy hoàng lộng lẫy. Mặt trời sau những ngày vắng bóng, nay trở lại sưởi ấm lòng người, chiếu soi vũ trụ. Nếu tiết đông là biểu tượng của sự chết, thì mùa xuân là hình ảnh của sự sống. Cùng với muôn loại cỏ cây, chúng ta được mời gọi canh tân cuộc đời, sang một ngã rẽ mới. Đoạn tuyệt với mùa đông, cũng là đoạn tuyệt với lối sống cũ, còn vương nhiều khiếm khuyết, để vươn tới một tương lai tươi sáng huy hoàng hơn. Bước sang xuân mới, người ta khép lại quá khứ, để sống cho hiện tại và hướng về tương lai với những dự phóng mới. Lời mời gọi canh tân là một trong những sứ điệp quan trọng của Tin Mừng. Chúa Giêsu đã khởi đầu sứ vụ bằng lời gọi sám hối vì “Nước Trời đã đến gần” (x. Mc 1,15). Sám hối canh tân luôn gắn liền với đời sống Kitô hữu, bởi con người sống giữa trần gian luôn bị giằng co giữa nhiều khuynh hướng. Có những khuynh hướng tốt đưa họ hướng thượng để gặp gỡ Đấng Tối cao, nhưng cũng có những lôi kéo làm cho con người chìm trong biển đam mê sa đọa. Giữa hai ngả đường, người khôn ngoan chọn cho mình hướng đi đem lại bình an và thăng tiến; người thiển cận lại chỉ chú ý đến những niềm vui hào nhoáng nhất thời. Mùa xuân gửi đến cho chúng ta thông điệp: hãy đổi mới cuộc đời và hãy khôn ngoan chọn lựa cho mình một hướng đi. Người tin Chúa nhận ra nơi Đức Giêsu là sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Người là Đường, là Sự thật và là Sự sống. Ai tin nơi Người sẽ tìm thấy hạnh phúc và niềm vui. Nếu người tín hữu thành tâm sám hối, là vì họ tin vào lòng thương xót của Thiên Chúa. Ngài sẵn sàng tha thứ những lỗi lầm, dù nghiêm trọng đến đâu chăng nữa, bởi Ngài là Cha nhân hậu. Thiên Chúa vui mừng khi một tội nhân từ bỏ tội lỗi. Cả triều thần thiên quốc cũng chung vui niềm vui ấy (x. Lc 15,7). Nếu chúng ta luôn sống trong tinh thần canh tân đổi mới, cuộc đời của chúng ta sẽ trở nên thánh thiện vẹn toàn, vì cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời, nhờ đó, tâm hồn chúng ta sẽ thư thái và bình an.

Những mầm non mới nhú của mùa xuân mang đến cho chúng ta thông điệp hy vọng. Ở các xứ lạnh, cây cối khẳng khiu dường như đã chết hẳn trong tiết lạnh của mùa đông, nhưng khi mùa xuân về, từ những thân cây tiêu điều ấy, lại trỗi dậy những tín hiệu của sự sống. Cuộc sống không phải lúc nào cũng êm trôi, nhưng luôn có những khó khăn thử thách. Có những người can đảm trỗi dậy sau những vấp ngã; nhưng cũng có những người bi quan chán nản buông trôi theo dòng sông định mệnh. “Lửa thử vàng, gian nan thử đức”, mùa xuân gọi mời chúng ta hãy có cái nhìn lạc quan về cuộc sống, để vươn tới tương lai. Quả vậy, phần lớn những vĩ nhân và những người thành đạt trong cuộc sống, là những người đã thất bại nhưng không chùn bước, đã vấp ngã nhưng không bi quan. Cùng với nỗ lực phấn đấu của bản thân, người tín hữu còn tin vào ơn phù trợ của Thiên Chúa. Ngài luôn che chở giữ gìn và chúc lành cho những ai trông cậy Ngài. Chúa Giêsu đã trấn an các môn đệ đang kinh hoàng lo lắng: “Thày đây,đừng sợ!” (Mc 6,50). Chúa cũng hứa: Ai xin thì sẽ được, ai tìm thì sẽ thấy và ai gõ cửa thì sẽ mở cho. Tác giả Helen Keller đã viết: “Hãy quay về hướng mặt trời, và bạn sẽ không thấy bóng tối”. “Quay về hướng mặt trời” chính là nhìn cuộc đời một cách lạc quan. Hơn nữa, mặt trời là chính Đức Kitô, Đấng đang soi chiếu và hướng dẫn chúng ta. Ai tin tưởng phó thác nơi Người sẽ không phải thất vọng.

Mùa xuân còn mang đến cho chúng ta thông điệp yêu thương. Có dịp chứng kiến bầu khí xuân ở Việt Nam, những người bạn nước ngoài rất ngạc nhiên và thán phục trước nét đẹp văn hóa của ngày tết cổ truyền. Ngày tết có ý nghĩa thiêng liêng tuyệt vời đối với người dân Việt. Những người đi làm ăn xa, dù nghèo nàn cũng cố gắng trở về sum họp hội tụ với gia đình. Sau những tháng ngày làm việc vất vả, về với người thân trong những ngày tết đến xuân về, họ quên hết mọi nhọc nhằn. Tình yêu thương hài hòa cũng được thể hiện qua thói quen kiêng cữ không làm người khác buồn trong ba ngày tết. Dịp tết đến xuân về cũng là cơ hội để hàn gắn những rạn nứt mâu thuẫn giữa các thành viên trong một dòng họ, một gia đình, hay lối xóm, để rồi, khi tiễn năm cũ, mọi người cũng “tiễn” luôn những xui xẻo, mâu thuẫn hận thù, để cùng sang một trang mới với mùa xuân. Gặp nhau trong những ngày xuân mới, mọi người đều trở nên thân thiện, cầu chúc cho những điều tốt lành và mong cho mọi người hạnh phúc. Tình yêu thương không chỉ dừng lại nơi những người còn sống, nhưng ngày cuối năm và đầu xuân mới cũng là những ngày thể hiện lòng hiếu thảo tri ân đối với những bậc sinh thành và những người đã khuất. Vì vậy, trước tết, các phần mộ của tổ tiên đều được quét dọn sạch sẽ, được trưng bày hoa nến. Với tấm lòng thành kính tri ân, người ta tin rằng ông bà cha mẹ và những người thân đã khuất luôn hiện diện với con cháu, và cùng về “ăn tết” với họ.

Nếu tinh thần của những ngày đầu xuân được trân trọng và phát huy trong suốt cả năm, thì cuộc sống của chúng ta sẽ rất tốt đẹp. Những thông điệp của mùa xuân được gửi đến chúng ta như lời mời gọi hãy làm cho tinh thần của mùa xuân lan tỏa hằng ngày và khắp nơi trong cuộc sống. Cho dù ngày mai còn nhiều khó khăn thử thách, bạn và tôi, hãy đón mùa xuân mới trong tâm tình phó thác cậy trông vào Đấng Tối Cao, vì biết rằng, không có gì mà Ngài không làm được (Lc 1,37).

Với tâm tình trân trọng quý mến, xin kính chúc quý Độc Giả một mùa xuân an lành, tràn đầy tình Chúa, thấm đượm tình người, ngàn muôn phúc lộc và may mắn bình an.

Xuân Đinh Dậu 2017

GM. Giuse Vũ Văn Thiên

(Nguồn: WHĐ)

]]>
Như Táo chầu Trời http://lamhong.org/nhu-tao-chau-troi/ Thu, 19 Jan 2017 09:25:03 +0000 http://lamhong.org/?p=26471 Xuân sang thì Tết đến, điều tất nhiên – dù muốn hay không. Nhưng trước ngày Tết, 23 tháng Chạp, dân gian có tục lệ “đưa Táo về Trời” để trình báo sự đời cho Ngọc Hoàng. Kitô giáo không có “tục lệ” này, nhưng việc Táo về Trời gợi cho Kitô hữu chúng ta nhớ tới Nước Trời, Thiên Đàng – nơi mà ai cũng mong ước.

Về Trời là mục đích cuối cùng của người Công giáo – và các Kitô hữu, tức là NÊN THÁNH theo lệnh truyền của Đức Kitô: “Hãy nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5:48). Nếu không hoàn thiện, không thể NÊN THÁNH, không thể VỀ TRỜI, như vậy là phụ tình Chúa, lãng phí giá Máu cứu độ của Đức Kitô.

Chúa Giêsu đã về trời, Đức Mẹ đã về trời, các thánh đã về trời, các linh hồn nơi luyện hình chắc chắn cũng sẽ về trời. Mục đích cuối cùng của chúng ta là VỀ TRỜI. Động từ “về” cho thấy rằng Trời thực sự là Nhà của chúng ta, chứ không phải là nơi chúng ta ghé vô chơi, du lịch hoặc tham quan.

Trước khi về trời thì phải từ biệt trần gian. Thánh Gióp cầu nguyện: “Xin Ngài nhớ cho: Ngài đã tạo ra con bằng đất sét, rồi lại đưa con trở về cát bụi” (G 10:9). Thiên Chúa nói với phàm nhân: “Hỡi người trần thế, trở về cát bụi đi!” (Tv 90:3).

Dù phàm nhân chúng ta chẳng là gì, nhưng lại vẫn may mắn lắm. Thánh Phaolô cho biết: “Chúng ta đã mang hình ảnh người bởi đất mà ra [Adam] thì chúng ta cũng sẽ được mang hình ảnh Đấng từ trời mà đến [Đức Giêsu Kitô]” (1 Cr 15:48).

Tết nhất mà đi nói chuyện “chết chóc”, về với cát bụi, xem chừng “lạc quẻ” chăng? Không. Ai cũng một lần hóa thành cát bụi, nhưng không mãi là cát bụi mà sẽ được “lên trời” hoặc “về trời”, nghĩa là “chầu trời” – kiểu giống như… Ông Táo vậy.

Xuân về, vào những ngày giáp Tết, người ta thường nhắc tới Táo Quân – cũng gọi là Ông Công. Đặc biệt là ngày 23 tháng Chạp Âm Lịch. Người Việt không xa lạ với “sự kiện” Táo Quân đi “chầu trời”. Đó là thông lệ, mỗi năm Táo Quân chầu trời một lần để báo cáo với Ngọc Hoàng về những việc xảy ra trong năm cũ. Bản tường trình chi tiết của Táo Quân có dạng văn vần như vè, thường là 4 chữ, quen gọi là “Sớ Táo Quân”.

Táo Quân [Trung ngữ: 灶 君 (Táo quân), Zào jūn], Táo Vương (灶 王) hay Ông Táo trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam và Trung quốc được xem là vị thần cai quản việc bếp núc trong mỗi nhà. Táo (灶) nghĩa là bếp. Việt Nam và Trung quốc có những truyền thuyết về Táo Quân khác nhau.

Trung Hoa có những truyền thuyết về Táo Quân như sau:

– Theo Lã Thị Xuân Thu: Chúc Dung là thần quản lý lửa do Viêm Đế mang tới, khi chết người dân thờ làm thần lửa.

– Theo Ngũ Kinh Di Nghĩa: Táo Quân tên Tô Cát Lợi, vợ là Vương Thị.

– Theo Dũ Dương Tạp Trở: Thần lửa trông như một cô gái đẹp, tên là Ổi hay Trương Đan, tên chữ là Tử Quách, những ngày không trăng thường lên trời tâu về việc người nào có lỗi.

– Theo Hoài Nam Tử: Viêm Đế (tức Thần Nông) mang lửa đến cho dân, khi chết được thờ làm Thần bếp.

Về giới tính, người dân Phúc Kiến (Giang Tây) cho rằng Táo là nữ thần, gọi là “Táo Quân Lão Mẫu” hoặc “Táo Quân Thái Thái”. Theo Thái Bình Ngũ Lãm trích từ Ngũ Kinh dĩ nghĩa, Trịnh Huyền cho Táo Thần là “lão phụ”, tức một bà già. Hứa Thận, nhà ngôn ngữ đời Đông Hán, cho rằng: “Táo Thần họ Tô, tên Cát Lợi, phu nhân của Táo Thần họ Vương tên Bác Giáp”, và hình tượng Táo Thần là người đàn ông. Nhưng người vùng Ninh Hóa và một số vùng khác thì vẫn tôn thờ nữ thần, có thể do họ chịu ảnh hưởng của Trịnh Huyền hoặc cho Táo Thần chuyên lo việc bếp núc, điều tra tội nhỏ, công việc của nữ giới.

Người Trung Quốc cho rằng, trước kia, mỗi tháng vua bếp lên trời một lần vào ngày tối trời (cuối tháng âm lịch) để báo cáo về từng người trong mỗi gia đình nhưng sau này, mỗi năm vua chỉ lên trời một lần vào ngày 23 tháng Chạp. Vào ngày đó, người Trung Quốc bày bàn thờ gần bếp, cúng vua bếp với thịt, cá, rượu nếp, bánh kẹo. Ngoài ra còn có nước và cỏ khô cho ngựa của vua bếp “ăn” để bay và chở vua lên trời.

Táo Quân trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam có nguồn gốc từ ba vị thần: Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ của Lão giáo Trung quốc, nhưng được Việt hóa thành huyền tích “hai ông, một bà” – thần Đất, thần Nhà, thần Bếp. Tuy vậy, người dân vẫn quen gọi chung là Táo Quân hoặc Ông Táo, do kết quả của tính chất Tam vị Nhất thể (Trinity, Chúa Ba ngôi). Bếp là nguyên bản của nhà khi người nguyên thủy có lửa, và đều dựa trên nền móng là đất.

Ở Việt Nam, sự tích Táo Quân được truyền khẩu, rồi được ghi chép, do đó có những sự khác nhau về chi tiết. Nội dung chính như sau:

Trọng Cao có vợ là Thị Nhi ăn ở với nhau đã lâu mà không con, nên sinh ra buồn phiền, hay cãi cọ nhau. Một hôm, Trọng Cao giận quá nên đánh vợ. Thị Nhi bỏ nhà ra đi, sau đó gặp và bằng lòng làm vợ Phạm Lang. Khi Trọng Cao hết giận vợ, nghĩ lại mình cũng có lỗi nên đi tìm vợ. Khi đi tìm, vì tiền bạc đem theo đều tiêu hết, Trọng Cao đành phải đi ăn xin.

Khi Trọng Cao đến ăn xin nhà Thị Nhi, hai người nhận ra nhau. Thị Nhi đưa Trọng Cao vào nhà, hai người hàn huyên tâm sự, rồi Thị Nhi tỏ lòng ân hận vì đã trót lấy Phạm Lang làm chồng.

Lúc đó, Phạm Lang trở về. Sợ chồng bắt gặp Trọng Cao thì khó giải thích nên Thị Nhi bảo Trọng Cao ẩn trong đống rơm ngoài vườn. Phạm Lang về nhà rồi ra đốt đống rơm để lấy tro bón ruộng. Trọng Cao không dám chui ra nên bị chết thiêu. Thị Nhi trong nhà chạy ra thấy Trọng Cao đã chết bởi sự sắp đặt của mình nên nhào vào đống rơm đang cháy để chết theo.

Phạm Lang gặp tình cảnh quá bất ngờ, thấy vợ chết không biết tính sao nên cũng nhảy vào đống rơm đang cháy để chết theo vợ.

Linh hồn của ba vị được gặp Thượng đế. Thượng Đế thấy ba người đều có nghĩa, nên sắc phong cho làm Táo Quân, gọi chung là: Định Phúc Táo Quân (定 福 灶 君), nhưng mỗi người giữ một việc: Phạm Lang làm Thổ Công, trông coi việc bếp núc, danh hiệu là Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân; Trọng Cao làm Thổ Địa, trông coi việc nhà cửa, danh hiệu là Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần; Thị Nhi làm Thổ Kỳ, trông coi việc chợ búa, danh hiệu là Ngũ Phương Ngũ Thổ Phúc Đức Chánh Thần.

Người Việt quan niệm rằng ba vị Thần Táo định đoạt phúc đức cho gia đình, do việc làm đúng đạo lý của những người trong nhà. Bàn thờ thường đặt gần bếp, trên có bài vị viết bằng chữ Hán. Hằng năm, đúng ngày 23 tháng Chạp là ngày Táo Công lên chầu trời, có nơi gọi ngày này là “Tết Ông Công”, lễ cúng có cá chép – vì người Việt cho rằng ông Táo cưỡi cá chép lên trời.

Ngoài ra người Việt còn quan niệm rằng Táo Quân lên trời và thưa với Ngọc Hoàng Thượng Đế về những sự kiện xảy ra trong năm vừa qua ở dưới trần gian. Vì thế, người Việt làm lễ tiễn ông Táo rất thịnh soạn, với mong muốn những điều tốt đẹp nhất sẽ được thưa với Ngọc Hoàng, còn những điều không may mắn hoặc không tốt sẽ được báo cáo nhẹ đi. Tương truyền như thế.

Truyền thuyết Táo Quân thực ra là phản ảnh giai đoạn tín ngưỡng Vật Linh Giáo (animism) trong lịch sử nhân loại. Bài sớ thường gồm những câu 4 chữ, có vần điệu như vè, nội dung phản ảnh tóm tắt về tình hình, hoàn cảnh ở phạm vi lớn hay nhỏ trong xã hội.

Người Công giáo không có “thói quen” cúng Táo Quân nhưng cũng vẫn biết truyền thuyết này và cũng nhắc tới khi trò chuyện vào những ngày cuối năm.

Nói đến chuyện Ông Táo lên chầu trời, chúng ta cũng nhớ tới hai điều:

  1. Việc Chúa Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa (Mc 16:19; Lc 24:51; Cv 1:9). Thánh Gioan nói: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” (Ga 3:13).
  1. Việc chúng ta phải “trình diện” Thiên Chúa khi chúng ta từ giã trần gian để về Trời làm công dân Thiên quốc. Ông Táo chầu trời rồi lại về trần gian, còn chúng ta thì một đi không trở lại. Đặc biệt là chúng ta phải trình diện Chúa mà không cần báo cáo, vì mọi sự đều tỏ bày rõ ràng.

Là phàm nhân, ai cũng chết, đó là hậu quả của tội lỗi: “Phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét” (Dt 9:27). Nhưng chúng ta không bi quan, nếu chúng ta sống khiêm nhường: “Anh em hãy hạ mình xuống trước mặt Chúa và Người sẽ cất nhắc anh em lên” (Gc 4:10).

Thánh Gioan căn dặn: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của tôi, tôi viết cho anh em những điều này, để anh em đừng phạm tội. Nhưng nếu ai phạm tội thì chúng ta có một Đấng Bảo Trợ trước mặt Chúa Cha: đó là Đức Giêsu Kitô, Đấng Công Chính” (1 Ga 2:1). Thật may mắn và hạnh phúc cho những tội nhân chúng ta!

Tuy nhiên, trách nhiệm và bổn phận của chúng ta là phải sinh lời tùy theo số “nén bạc” mà Thiên Chúa đã giao cho chúng ta quản lý (x. Lc 19:11-27; Mt 25: 14 -30). Cuối cùng, ai cũng phải tổng kết cuộc đời khi Thiên Chúa bảo chúng ta vĩnh biệt trần gian này.

Thật hạnh phúc nếu chúng ta được đứng bên những người lành và được Chúa chào mừng: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han” (Mt 25:34-36).

Nhưng thật khốn nạn nếu chúng ta phải đứng bên những kẻ dữ và bị Chúa nguyền rủa: “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng” (Mt 25:41-43).

Chúng ta hoàn toàn câm họng, chẳng nói được gì mà tự biện hộ, vì tất cả được phát hình và phát thanh chính xác từng chi tiết của cuộc đời của mỗi chúng ta.

Ngày Hăm ba, tháng Chạp
Táo quân phải chầu Trời
Rồi sẽ đến lượt tôi
Về trình diện Thiên Chúa

Lạy Thiên Chúa từ bi và nhân hậu, xin xót thương tội-nhân-con, xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ, và lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con (Tv 51:14), xin mở miệng con để con cất tiếng ngợi khen Ngài (Tv 51:17), và xin toả ánh tôn nhan Ngài trên con (Tv 4:7). Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Thiên Chúa cứu độ nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU

]]>
Mười cách thế để kiếm tìm sự kết hiệp đích thực với Chúa giữa thời đại hỗn mang http://lamhong.org/muoi-cach-the-de-kiem-tim-su-ket-hiep-dich-thuc-voi-chua-giua-thoi-dai-hon-mang/ Wed, 18 Jan 2017 15:31:08 +0000 http://lamhong.org/?p=26467 Có phải mối tương quan với Thiên Chúa đang dần mất đi trong cuộc sống náo động của bạn? Hãy thử với những lời khuyên này!

web-city-people-walking-blur-unsplash-pd

Gần đây, một linh mục mà tôi biết, đã bình luận về những gương mặt lạnh lùng, tăm tối mà thỉnh thoảng ông thấy khi ông nhìn xuống cộng đoàn trong Thánh lễ. Ông đã nói đùa rằng: ‘Vài người nói Công đồng Vaticano II đã lấy những bức tượng ra khỏi các nhà thờ nhưng… chúng vẫn còn đó trên các băng ghế dài’.

Dĩ nhiên, vị linh mục chỉ nói đùa, nhưng ông cũng đã chỉ ra một thực tế nghiêm trọng. Trong những lời khác, những sự thực hành tôn giáo bên ngoài, không luôn luôn mang lại sự biến đổi bên trong, cùng với sự bình an, niềm vui và thánh thiện.

Không có công thức nào cho sự thánh thiện trong cuộc sống nội tâm, cũng như không có công thức cho một cuộc hôn nhân hoàn hảo, tình bạn hay bất cứ mối quan hệ nào. Chắc chắn là có những ‘cách thực hành tốt nhất’ có tính quyết định cho sự thánh thiện (như là: tham dự Thánh Lễ, lãnh nhận các Bí tích, lần hạt Mân Côi, …). Nhưng để thực sự tìm ra sự kết hiệp với Chúa, mỗi người phải có ý thức trau dồi và duy trì mối tương quan nội tâm với Ngài.

Đây là những thái độ then chốt và những thực hành có thể giúp mỗi người tìm ra sự kết hiệp với Chúa (Cám ơn tới các sơ trong cộng đoàn cho những gợi ý này).

Những thái độ then chốt

  1. Lắng nghe

Khi chúng ta lắng nghe Chúa, chúng ta đặt mình dưới sự hiện diện của Chúa. Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã viết rằng: khi một người lắng nghe Chúa, anh ấy hay cô ấy nhận ra mình có “một vị trí đặc biệt dưới cái nhìn của Thiên Chúa”. Kết hiệp với Chúa bắt đầu từ việc đặt mình dưới cái nhìn yêu thương của Thiên Chúa Cha và lắng nghe lời Ngài.

  1. Kiên cường can đảm

Việc nuôi dưỡng một đời sống nội tâm thiêng liêng quả rất khó khăn. Thật dễ dàng và ít phiền muộn để sống một cuộc sống “bên ngoài” hơn là chọn đi vào chiều sâu bên trong. Nhưng điều đó cũng ít nhiều có ích! Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã viết rằng “sự kiên cường can đảm” thì cần thiết cho người muốn “dấn thân trên hành trình nội tâm, nơi dẫn chúng ta băng qua những bóng tối của tội lỗi để đến với sự thật tối hậu”.

  1. Sẵn sàng để làm việc chăm chỉ

Thánh Phanxicô Salê, trong một lần đã kể với vài người rằng, ngài đã làm việc với sự khiêm tốn và quyết tâm trong vòng 20 năm và sự quyết tâm khiêm nhường trong vòng 21 năm. Cuộc sống tinh thần của chúng ta đòi hỏi sự cam kết, mong muốn, hoạt động và sự nỗ lực liên tục. Nếu chúng ta muốn dần dần trở nên gần gũi hơn với Chúa, chúng ta phải giữ bản thân luôn hướng lên và hướng lên mãi và đừng để trở nên uể oải trong cuộc chiến thiêng liêng của mình.

  1. Có được sự không ngừng tìm kiếm Thiên Chúa

Chúng ta có thể dễ dàng lạc mất Chúa trong sự huyên náo của cuộc sống chúng ta. Đức Maria và Thánh Giuse đã từng để lạc mất Chúa Giêsu trong sự hỗn loạn của Jêrusalem ngày xưa. Sự trưởng thành trong đời sống nội tâm bao gồm việc tìm kiếm Chúa Giêsu trong những lần mà chúng ta thường lạc xa Ngài. Để làm được điều này, chúng ta phải thường xuyên chất vấn bản thân “Có phải tôi đã lạc mất Chúa Giêsu? Điều gì tôi có thể làm trong những ngày tới để tìm ra Ngài?”

  1. Khiêm nhường

Chân Phước Giacôbê Alberione đấng sáng lập Gia đình Phaolô đã viết “Thiên Chúa, muốn chúng ta trải nghiệm chiều sâu sự đau khổ của chúng ta, như thế chúng ta biết rằng chính Ngài là Đấng thánh hóa chúng ta”. Khiêm nhường không có nghĩa là đánh phạt bản thân. Nhưng khi chúng ta nhận ra cách thật sự, bản chất tội lỗi của chúng ta, chúng ta mở tâm hồn mình ra trước hồng ân của Chúa. Khiêm nhường cũng giúp chúng ta can đảm chấp nhận những sai lầm khó có thể tránh khỏi trong cuộc sống tinh thần của chúng ta và tiếp tục cố gắng.

Những thực hành

  1. Dành thời gian và không gian cho Chúa

 Sự thánh thiện không chỉ xảy đến vì chúng ta mong muốn. Chúng ta còn phải tạo ra những thay đổi trong chương trình sống để dành cho Chúa một sự ưu tiên trong thời gian và không gian sống của chúng ta. Nếu chúng ta muốn trở nên gần gũi với Chúa, chúng ta phải dành cho Ngài thời gian. Sự cầu nguyện chiếm mất vị trí của những điều khác mà lẽ ra chúng ta có thể thực hiện. Chúng ta cần phải sẵn sàng bỏ lại những thứ khác để dành ưu tiên cho mối tương quan giữa chúng ta với Chúa Giêsu.

  1. Lời nguyện hay câu nguyện

 Truyền thống thường gọi “những ý nguyện”, đây là những câu trong Kinh Thánh hay chỉ là lời hay câu mà bạn có thể lặp đi lặp lại suốt ngày sống của bạn. Tôi có một vài câu như “Xin giúp đức tin yếu đuối của con”, “Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con”, “Lạy Chúa Giêsu xin kiên nhẫn với con”. Những câu này có thể giúp chúng ta luôn nhớ đến sự hiện diện của Chúa trong mọi thời khắc của cuộc đời chúng ta.

  1. Gửi thông điệp tới Chúa

Giống như chúng ta trò chuyện với những người bạn của chúng ta, chúng ta cũng có thể gửi vài thông điệp tới Chúa Giêsu. Một xơ trong cộng đoàn của tôi đã chia sẻ rằng, xơ có một cuốn sổ ghi chú trong điện thoại. Bất cứ khi nào xơ nghĩ về điều gì đó mà xơ muốn chia sẻ với Chúa Giêsu, xơ viết vào cuốn sổ đó. Tuy nhiên, chúng ta chọn hiệp thông với Chúa qua suốt ngày sống của chúng ta, khi chúng ta cố gắng “cầu nguyện không ngừng” như Thánh Phaolô khuyến khích chúng ta, chúng ta sẽ bắt đầu tìm Chúa trong mỗi giây phút của chúng ta (1Tx 5,17).

  1. Những điểm mốc cầu nguyện

Nhiều người thường than vãn họ không có thời gian cho việc cầu nguyện, nhưng có nhiều cách đơn giản để đưa việc cầu nguyện vào trong nhịp sống hằng ngày của chúng ta mà không mất nhiều thời gian. Ví như chọn một vài điểm mốc cách linh hoạt hay trong chính nhịp sống hằng ngày của bạn và có thể tạm dừng lại khi đi qua đó. Đó có thể là một cánh cửa, một lối thoát của xa lộ, một con sông hoặc một chiếc thang máy. Nhưng khi bạn thấy điểm mốc đó, đừng nhìn vào điện thoại, ngừng suy nghĩ những việc khác, bỏ chiếc tai nghe xuống. Những điểm dừng ngắn như thế trong ngày, có thể làm nên điều kỳ diệu cho đời sống cầu nguyện của chúng ta.

  1. Sốt sắng lãnh nhận các Bí tích

Đức Giáo Hoàng Bênêdictô đã viết “tình yêu chân chính và tình bạn đích thực được nuôi dưỡng bằng việc dành cho nhau những sự quan tâm lẫn nhau cách đặc biệt, sự thinh lặng hùng hồn đầy tôn trọng và yêu mến … nếu chiều kích này bị thiếu đi, sự hiệp thông Bí tích có thể trở nên như một cử chỉ hời hợt và thứ yếu của chúng ta. Có một sự khác biệt giữa việc đón nhận Bí tích Thánh Thể trong khi đang nghĩ về trận cầu sắp tới và việc đón nhận Bí tích Thánh Thể với một lòng mến nồng nàn và một tâm hồn rộng mở. Chúng ta mở ra hơn đối với ân sủng, khi chúng ta đón nhận các Bí tích, giống như cách chúng ta sẵn sàng đón người bạn tốt nhất vào nhà mình.

Bạn có thái độ hay cách thực hành chính yếu nào mà bạn đem áp dụng để trở nên kết hiệp gần gũi hơn với Chúa?

Sr. Têrêxa Aletheia Noble / http://aleteia.org/2017/01/17/10-ways-to-find-true-union-with-god-amid-the-chaos/

Mary Vượng Nguyễn chuyển ngữ

]]>