Châu Âu trong cuộc khủng hoảng văn hóa

CHÂU ÂU CỦA THÁNH BIỂN ĐỨC TRONG CUỘC KHỦNG HOẢNG VĂN HÓA
L’Europe de Benoît dans la crise des cultures
Sylvie Garoche – Nguyễn Trí Dũng chuyển ngữ

MỤC LỤC

KHỦNG HOẢNG VĂN HÓA
I. Phản tỉnh về các nền văn hóa đối kháng hiện nay
II. Ý nghĩa và những giới hạn của nền văn hóa duy lý hiện nay
III. Ý nghĩa thường trực của Đức tin Kitô giáo

QUYỀN SỐNG VÀ CHÂU ÂU
I. Tại sao không chịu khuất phục
II. Quyền của kẻ mạnh, sức mạnh của quyền
III. Cái nhìn thì quan trọng

TIN CÓ Ý NGHĨA GÌ
I. Đức tin trong đời sống hằng ngày, thái độ căn bản của con người
II. Thuyết bất khả tri có thể là một giải pháp?
III. Hiểu biết tự nhiên về Thiên Chúa
IV. Đức tin “siêu nhiên” và nguồn gốc của Đức tin ấy
V. Triển khai các vấn đề

LUẬT DÒNG THÁNH AUGUSTINE

***

KHỦNG HOẢNG VĂN HÓA

I. Phản tỉnh về các nền văn hóa đối kháng hiện nay

khunghoangChúng ta đang sống trong một thời đại của những cơ hội và thách thức lớn đối với con người, cũng là thời đại đặt ra cho chúng ta trách nhiệm nặng nề. Trong thế kỷ qua, khả năng làm chủ thế giới vật chất của con người đã phát triển một cách thật kinh ngạc. Thế nhưng, khả năng chinh phục thế giới ấy cũng gắn liền với sức mạnh hủy diệt nó đã dẫn đến những hậu quả khiến chúng ta phải kinh sợ. Người ta nghĩ ngay đến mối đe dọa của chủ nghĩa khủng bố, đó là một cuộc chiến mới không biên giới và không lộ diện. Mối lo những kẻ khủng bố có thể sở hữu vũ khí hạt nhân và vũ khí sinh học không phải không có cơ sở, nên ở các quốc gia có chủ quyền, người ta đã phải tìm đến những hệ thống an ninh có vẻ giống những hệ thống đã tồn tại trong các chế độ độc tài trước đây. Tuy nhiên, chúng ta cần ý thức rằng những biện pháp an ninh này trong thực tế không bao giờ đầy đủ, kể cả biện pháp kiểm soát ở phạm vi toàn cầu cũng không thể thỏa mãn được. Người ta cũng chú ý đến những khả năng tự hoạch định của con người, dù ít thấy nhưng không phải vì thế mà không đáng lo ngại. Con người đã tiến vào những miền sâu của hữu thể, đã khám phá những thành phần cấu tạo nên cá thể và hiện nay có thể tự “tạo dựng” nên chính mình; con người này vì thế xuất hiện không còn như tặng phẩm của Tạo Hóa mà như sản phẩm do chúng ta làm ra, sản phẩm này đến lượt nó cũng có thể được chọn lọc theo những nhu cầu phát sinh của chúng ta. Thế nên, đó không còn là hữu thể phản chiếu hình ảnh của Thiên Chúa, Đấng ban cho nó phẩm giá cao quý không thể xâm phạm, mà chỉ là thứ quyền năng thuộc con người. Không còn gì khác ngoài hình ảnh con người. Nhưng đó là con người nào? Ở đây cần kể ra những vấn nạn lớn mang tính toàn cầu: sự phân bổ không đồng đều các nguồn lợi đất đai, sự gia tăng tình trạng nghèo khổ, bần cùng, bệnh tật, đói kém, sự khai thác nguồn tài nguyên chúng đang đe dọa thế giới chúng ta, sự va chạm giữa các nền văn hóa. Tất cả những điều đó cho thấy sự phát triển khả năng của chúng ta không đi đôi với sự phát triển năng đức. Đạo đức không lớn mạnh cùng với khoa học, trái lại nó càng giảm sút hơn, bởi vì não trạng kỹ nghệ đã đẩy đạo đức vào lĩnh vực chủ quan, trong khi chúng ta đang cần một nền đạo đức chung, một nền đạo đức có thể đương đầu với những mối nguy đang đặt ra trong cuộc sống của chúng ta. Thật vậy, điều nguy hiểm nhất của thời đại chúng ta chính là sự mất cân đối giữa tiềm năng kỹ thuật và năng đức. Nền an ninh mà ta cần như sự bảo đảm cho tự do và phẩm giá của ta thì không thể đến sau việc phân tích các hệ thống kỹ thuật kiểm soát, nhưng đúng hơn chỉ có thể phát xuất từ sức mạnh đạo đức của con người: ở đâu sức mạnh ấy còn thiếu hoặc chưa đủ, thì ở đó quyền lực mà con người sở hữu sẽ luôn biến thành quyền lực phá hủy.

Đúng là ngày nay đang tồn tại một thứ chủ nghĩa đạo đức mới với những danh từ chính như công lý, hòa bình, bảo vệ sự sáng tạo, ngôn luận, chúng nhắc lại những giá trị đạo đức thiết yếu mà ta thực sự cần. Thế nhưng chủ nghĩa đạo đức này còn mơ hồ và lệch lạc trong môi trường chính trị giữa các đảng phái, điều gần như khó tránh khỏi. Thứ chủ nghĩa này trước hết là diễn văn nói về người khác chứ hiếm khi là nghĩa vụ bản thân của đời sống hằng ngày của chúng ta. Thật vậy, công lý nghĩa là gì? Ai xác định được nó? Điều gì phục vụ cho hòa bình? Trong những thập niên qua, chúng ta đã thấy trên các đường phố và các quảng trường biết bao phong trào hòa bình chuyển thành phong trào vô chính phủ và chủ nghĩa khủng bố. Chủ nghĩa đạo đức chính trị những năm 70 mà gốc rễ của nó vẫn còn sống đã lôi kéo nhiều người trẻ giàu lý tưởng. Nhưng đó là thứ chủ nghĩa đạo đức sai hướng bởi vì nó mất đi tính lý khách quan và, như sẽ phân tích sau, vì nó đặt tham vọng chính trị lên trên phẩm giá mỗi cá nhân, đồng thời cho thấy từ tham vọng đó nó có thể loại bỏ con người nhân danh những mục đích lớn lao. Nền đạo đức chính trị mà chúng ta đã và đang sống không chỉ không mở ra con đường dẫn đến sự hồi sinh nhưng còn phong tỏa con đường ấy luôn. Điều này cũng đúng với thứ giáo lý và thần học muốn giảm trừ nội dung cốt yếu của Đức Giêsu là “Nước Trời” thành “những giá trị của Nước Trời”, đồng hóa những giá trị này với những từ ngữ to tát về trật tự của chủ nghĩa đạo đức chính trị, thừa nhận chúng như một tổng hợp các tôn giáo. Bởi vậy người ta quên đi Thiên Chúa, Đấng thật sự là nguồn đích Nước Trời. Thay thế Thiên Chúa bằng những từ ngữ (hay những giá trị) to tát đều dễ dẫn đến sự lạm dụng.

Cái nhìn tóm lược về thực trạng thế giới này sẽ làm cho chúng ta suy nghĩ về thực trạng hiện nay của Kitô giáo, và về nền tảng của Châu Âu. Chúng ta có thể nói, Châu Âu này trước đây là lục địa Kitô giáo nhưng nó cũng là nơi khởi phát nền lý khoa mới vốn đem lại cho chúng ta nhiều khả năng to lớn cũng như những hiểm họa không nhỏ. Dĩ nhiên Kitô giáo không phát xuất từ Châu Âu và do vậy không thể xem như một tôn giáo Âu Châu, tôn giáo của môi trường văn hóa Âu Châu. Tuy nhiên, chính ở Châu Âu mà Kitô giáo đã tiếp nhận những ảnh hưởng văn hóa lịch sử một cách hiệu quả nhất, đồng thời để lại dấu ấn lên nền văn hóa lịch sử ấy cách đặc biệt. Mặt khác, đúng là Châu Âu, kể từ thời kỳ Phục Hưng và hơn nữa kể từ Thế kỷ Ánh Sáng, đã phát triển nền lý tính khoa học nó không chỉ đưa đến sự thống nhất thế giới về mặt địa lý, đến sự gặp gỡ các nền văn hóa và lục địa vào thời kỳ khai phá châu lục, nhưng hiện nay, nhờ văn hóa kỹ nghệ chịu ảnh hưởng khoa học một cách sâu xa nhất, nó còn ghi đậm ảnh hưởng trên toàn thế giới, và ở một vài nghĩa nào đó là chủ nghĩa đồng nhất. Tiếp nối di sản của hình thức lý tính này, Châu Âu đã phát triển một thứ văn hóa theo cách mà nhân loại chưa từng biết đến, đó là loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi ý thức cộng đồng, hoặc phủ nhận Ngài hoàn toàn, hoặc quan niệm rằng sự hiện hữu của Ngài là không thể chứng minh được, là thiếu chắc chắn, do đó chỉ thuộc vào chọn lựa chủ quan, không có ý nghĩa gì cho cuộc sống cộng đồng hết. Kiểu lý tính thuần túy chức năng này có thể nói đã gần như làm lay chuyển hoàn toàn ý thức đạo đức đối với các nền văn hóa, bởi lẽ nó chủ trương rằng điều mà người ta có thể chứng minh bằng các kinh nghiệm chỉ là thuần lý. Mà vì đạo đức thuộc phạm vi hoàn toàn khác, nên nó đã biến mất với tư cách là phạm trù tự thân, và nó cần phải được tái khám phá theo cách khác, nếu như người ta thừa nhận rằng họ cần có đạo đức. Trong một thế giới dựa trên sự tính toán thì việc tính đến những hậu quả sẽ định ra điều gì nên hay không nên được xem là đạo đức. Như thế, phạm trù cái thiện mà Kant đã chứng minh rõ ràng đã biến mất. Không có gì tự thân nó là tốt hay xấu hết, tất cả tùy thuộc vào những hậu quả do một hành động trước đó gây ra. Một mặt, nếu ở Châu Âu, Kitô giáo đã tìm được cho mình một mô hình hiệu quả nhất thì cũng phải nói rằng chính ở Châu Âu đã phát triển một nền văn hóa bao gồm toàn bộ mâu thuẫn sâu xa nhất, không chỉ riêng Kitô giáo không thôi, nhưng còn ở các truyền thống tôn giáo và đạo đức của nhân loại. Người ta hiểu rằng Châu Âu đang trải qua một thứ “thử thách nỗ lực” thật sự; người ta nhận ra khía cạnh sâu xa của những căng thẳng mà châu lục này đang phải đối phó. Nhưng nhất là cũng qua đó làm rõ trách nhiệm mà người Châu Âu chúng ta phải đảm nhận lấy: các cuộc tranh luận liên quan đến định nghĩa về Châu Âu và mô hình chính trị mới của nó không phải là cuộc chiến của đội quân hoài cổ nhưng hơn hết là trách nhiệm lớn đối với nhân loại ngày nay. Ta hãy quan sát kỹ sự đối kháng giữa hai nền văn hóa đã ảnh hưởng đến Châu Âu. Trong cuộc tranh luận về bản dự thảo Hiến Pháp Châu Âu, có sự chống đối thấy rõ về hai điểm gây tranh cãi: đề cập đến Thượng Đế trong bản Hiến Pháp và thừa nhận Châu Âu có nguồn gốc Kitô giáo. Vì ở điều 52 của Hiến Pháp, các quyền thuộc cơ cấu tổ chức của các Giáo Hội được bảo đảm, nên chúng ta có thể yên tâm, theo như điều người ta nói. Nhưng điều đó có nghĩa là trong đời sống Châu Âu hiện nay, các quyền ấy có chỗ đứng trong phạm vi thỏa hiệp chính trị, trong khi ở các lãnh vực nền tảng của Châu Âu thì nội dung các quyền ấy lại không có chỗ. Những lý do đưa ra trong các cuộc tranh luận công khai nhằm chối bỏ hoàn toàn căn tính Kitô giáo thì thật nông cạn, bởi lẽ chúng che giấu những động cơ thật sự. Việc khẳng định rằng đề cập đến căn tính Kitô giáo của Châu Âu sẽ gây tổn thương đến những người ngoài Kitô giáo là thiếu thuyết phục, bởi vì vấn đề trên hết là sự thật lịch sử mà không ai có thể phủ nhận. Dĩ nhiên sự ám chỉ lịch sử này bao hàm việc quy chiếu đến hiện tại, thời điểm mà khi đề cập đến nguồn gốc của mình, người ta thường đưa ra những thứ nguồn còn nằm trong ý hướng đạo đức của họ, những thứ nguồn làm nên yếu tố căn tính định hình Châu Âu. Nhưng ai sẽ bị tổn thương? Căn tính nào đang bị đe dọa? Những người Hồi Giáo mà người ta thường dễ dàng nhắc đến trước tiên khi đề cập đến chủ đề này thì không cảm thấy bị đe dọa bởi các nền tảng đạo đức Kitô giáo của chúng ta, nhưng bởi sự thô bạo của văn hóa thế tục nó phủ nhận chính nền tảng riêng của nó. Người Do Thái cũng không cảm thấy bị tổn thương bởi việc quy chiếu về nguồn gốc Kitô giáo của Châu Âu, bởi vì nguồn gốc này phát xuất từ núi Sinai: nguồn gốc ấy mang thứ âm hưởng nó vang vọng ở Núi Thánh, nguồn gốc ấy hiệp nhất chúng ta trong những định hướng căn bản rộng lớn mà Mười Điều Răn đã đem đến cho nhân loại. Tương tự đối với việc quy chiếu về Thượng Đế: đó không phải là đề cập đến Thượng Đế gây tổn thương cho những người thuộc các tôn giáo khác, nhưng chính là nỗ lực xây dựng cộng đồng nhân loại tuyệt đối không có Thượng Đế.

Các động cơ nói hai lần “không” ấy thì sâu xa hơn điều mà những lý lẽ cấp tiến gợi ý. Chúng ngụ ý rằng chỉ có nền văn hóa bám rễ vào thời kỳ Khai Sáng, nền văn hóa đã đạt đến sự phát triển toàn diện ở thời đại chúng ta, mới có thể làm nên căn tính Châu Âu. Các nền văn hóa tôn giáo khác nhau có thể cùng sống chung dựa vào các quyền đáng được tôn trọng của các nền văn hóa tôn giáo đó, trong phạm vi các nền văn hóa tôn giáo này phải tôn trọng nền văn hóa thời Khai Sáng và miễn là chịu lệ thuộc vào nền văn hóa thời Khái Sáng ấy. Văn hóa thời Khai Sáng về bản chất được xác định bởi các quyền tự do; nó nói đến tự do như một giá trị căn bản quy định tất cả mọi sự: tự do chọn tôn giáo, tự do ấy bao gồm luôn cả sự trung lập của Nhà Nước đối với tôn giáo; tự do bày tỏ ý kiến cá nhân miễn là ý kiến ấy có thể chấp nhận được; cơ chế dân chủ nhà nước, tức là sự kiểm soát của Quốc Hội đối với các tổ chức Nhà Nước; tự do thành lập đảng phái; sự độc lập của tòa án; và cuối cùng sự bảo vệ quyền con người, ngăn cấm sự phân biệt đối xử. Ở đây, các quy định còn đang trong giai đoạn hình thành, vì một vài quyền con người còn mâu thuẫn nhau, như ta thấy chẳng hạn trong trường hợp xung đột giữa ước muốn tự do của người phụ nữ và quyền sống của đứa trẻ sắp chào đời. Khái niệm phân biệt đối xử ngày càng mở rộng đến nỗi việc cấm phân biệt đối xử có thể được biến đổi hơn nữa thành một sự giới hạn tự do quan điểm và tự do tôn giáo. Người ta sẽ không còn khẳng định như giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo rằng đồng tính gây nên sự mất cân đối khách quan trong cách thức cấu tạo nên sự hiện hữu của con người. Việc Giáo Hội cho thấy mình không có quyền phong chức linh mục cho phụ nữ thì được một số người xem như trái với tinh thần Hiến Pháp Châu Âu. Rõ ràng nền văn hóa đến từ thời Khai Sáng này, nó còn lâu mới chấm dứt, thì chứa đựng những giá trị quan trọng mà người Kitô hữu chúng ta dù không muốn cũng không thể bỏ qua; thế nhưng cũng dễ nhận thấy rằng khái niệm tự do, nó vốn khó định nghĩa hoặc không thể định nghĩa, nó là nền tảng của văn hóa ấy, lại chứa đựng những mâu thuẫn không thể tránh khỏi; và dĩ nhiên, việc sử dụng khái niệm tự do này (dường như sử dụng cách triệt để) làm phát sinh những giới hạn của tự do mà cách đây một thế hệ chúng ta khó có thể hình dung. Một ý thức hệ sai lạc về tự do đã dẫn đến chủ nghĩa giáo điều nó ngày càng chống lại tự do hơn.

Dĩ nhiên chúng ta sẽ còn phải trở lại vấn đề những mâu thuẫn nội tại chứa đựng trong hình thức hiện nay của nền văn hóa thời Khai Sáng. Nhưng trước hết chúng ta phải kết thúc việc mô tả nền văn hóa ấy. Với tư cách là nền văn hóa của lý trí nó ý thức hoàn toàn về chính nó, một phần bản chất của văn hóa ấy tự đảm nhận vai trò phổ quát và được quan niệm như là tự thành tựu, không cần đến sự đóng góp của những yếu tố văn hóa khác. Hai đặc điểm này dễ thấy rõ khi câu hỏi được đặt ra là nước nào có thể trở thành thành viên của khối Châu Âu, phần lớn là trong cuộc tranh luận về việc gia nhập Châu Âu của Thổ Nhĩ Kỳ. Đây là một Nhà Nước, hay có lẽ rõ hơn đây là một môi trường văn hóa nó không có gốc rễ Kitô giáo nhưng chịu ảnh hưởng bởi nền văn hóa Hồi giáo. Ataturk đã tìm cách biến Thổ Nhĩ Kỳ thành một quốc gia thế tục, đồng thời tìm cách du nhập chủ nghĩa thế tục trong thế giới Kitô giáo của Châu Âu vào mảnh đất Hồi giáo. Người ta có thể tự hỏi liệu điều đó là khả dĩ chăng: theo luận đề của nền văn hóa thế tục Âu Châu phát xuất từ thời Khai Sáng thì chỉ những tiêu chí và nội dung của nền văn hóa thời Khai Sáng là có thể quyết định căn tính Châu Âu, nên kết quả là các quốc gia theo tiêu chuẩn ấy đều thuộc về Châu Âu. Cuối cùng, không có hề gì khi biết rằng nền văn hóa về tự do và dân chủ này đạt đến như thế là dựa vào sự pha trộn nhiều nguồn gốc được du nhập. Người ta khẳng định rằng chính vì lý do đó mà các nguồn gốc không thể đi vào định nghĩa những nền tảng của Châu Âu, bởi vì đó là những nguồn gốc chết chúng không làm nên căn tính hiện tại. Hậu quả là căn tính mới này, không kể đến việc căn tính ấy bị quy định bởi nền văn hóa thời Khai Sáng, thì cũng dẫn đến hệ lụy rằng Thiên Chúa không có liên hệ gì đến đời sống cộng đồng và các nền tảng của Nhà Nước.

Như vậy tất cả đều trở nên mạch lạc và có thể chấp nhận ở một mặt nào đó. Thế nên, chúng ta có thể ước muốn điều gì đẹp hơn nếu không phải là nền dân chủ và quyền con người được tôn trọng khắp nơi? Tuy nhiên, câu hỏi trước hết cần đặt ra ở đây là nền văn hóa thế tục thời Khai Sáng có thật là nền văn hóa thuận lý chung cho hết mọi người, nó được phát hiện như là nền văn hóa phổ quát rộng khắp không? Văn hóa lẽ ra cần được gieo trồng khắp nơi, dù dựa trên chất liệu đa dạng mang tính lịch sử và văn hóa. Điều dẫn chúng ta đến câu hỏi thứ hai là nền văn hóa này tự nó đã thật sự hoàn thiện chưa khi mà nó không cần nguồn gốc nào ngoài nó.

II. Ý nghĩa và những giới hạn của nền văn hóa duy lý hiện nay

Bây giờ chúng ta phải đương đầu với hai câu hỏi này. Vấn đề thứ nhất, đó là để nhận biết xem người ta đã đạt được một nền triết học có giá trị phổ quát và mang tính khoa học hoàn toàn hay không, một nền triết học trong đó lý lẽ diễn đạt hợp với tất cả mọi người, thì cần phải trả lời rằng người ta không còn nghi ngờ là đã đạt đến những hiểu biết trọng yếu chúng có thể định ra một giá trị chung: việc tôn giáo không thể bị Nhà Nước áp đặt cũng là việc người ta chỉ đón nhận tôn giáo trong tự do; tôn trọng các quyền căn bản của con người, các quyền giống nhau dành cho hết mọi người; sự phân quyền và giám sát quyền lực. Thế nhưng người ta không thể nghĩ rằng những giá trị nền tảng này, những giá trị mà chúng ta thừa nhận là có hiệu lực chung, lại có thể được thực hiện trong bất cứ bối cảnh lịch sử nào với cùng một cách thức. Không phải xã hội nào cũng có nền tảng xã hội cần thiết cho một nền dân chủ dựa trên các đảng phái, như trường hợp ở phương Tây; như thế, trong phần lớn những bối cảnh lịch sử, sự trung lập hoàn toàn của Nhà Nước đối với lĩnh vực tôn giáo được cho là ảo tưởng.

Tuy nhiên, chúng ta trước hết cần tìm hiểu xem toàn bộ triết học thời Khai Sáng, có thể được xem như lời chung cuộc của lý trí hợp với tất cả mọi người hay không. Các triết học này nổi bật bởi việc chúng thuộc phái thực chứng, do đó chúng chống lại siêu hình học, đến nỗi chúng không dành chỗ nào cho Thiên Chúa. Các triết học này dựa trên sự tự giới hạn của lý lẽ thực chứng nó gắn liền với lĩnh vực kỹ thuật, nhưng thực tế, ở đây người ta khái quát hóa nó, nó lại dẫn đến sự hạ giá con người. Kết quả là con người không còn chấp nhận đòi hỏi đạo đức nào ngoài những tính toán của họ, và như chúng ta đã thấy, kể cả khái niệm tự do, nó ban đầu có vẻ lan truyền một cách vô hạn, cuối cùng lại đưa đến việc hủy hoại tự do. Đúng là các triết học thực chứng chứa đựng nhiều giá trị, tuy nhiên chúng lại dựa trên sự tự giới hạn của lý trí vốn là đặc điểm của một hoàn cảnh văn hóa cụ thể – ở đây là nền văn hóa phương Tây hiện đại – nên chúng không thể được xem như lời chung cuộc của lý trí. Mặc dù các triết học này có vẻ như hợp lý, nhưng chúng không phải là tiếng nói của lý trí, chúng bị ràng buộc về mặt văn hóa, tức ràng buộc vào hoàn cảnh của phương Tây hiện nay. Do đó vấn đề không phải là triết học một ngày nào đó lẽ ra phải có giá trị khắp nơi trên thế giới. Nhưng cần phải nói trước hết rằng triết học thời Khai Sáng và nền văn hóa đồng hành với nó thì chưa thực sự hoàn hảo. Triết học ấy tự tách khỏi nguồn gốc lịch sử nên cũng mất đi sức sống mà nó thừa hưởng từ nguồn gốc ấy, tức ký ức sâu xa của nhân loại, có thể nói như thế, mà nếu thiếu đi thì lý trí sẽ mất hướng ngay. Nguyên tắc được yêu thích hiện nay là khả năng của con người trở thành thước đo của hành động. Điều gì người ta biết làm, người ta có thể làm điều đó ngay. Không còn tồn tại khoảng cách giữa “biết làm” và “có thể làm”, vì điều đó có lẽ đưa đến việc chống lại tự do nó vốn là giá trị siêu vượt tuyệt đối. Nhưng con người biết làm nhiều thứ và luôn biết làm nhiều thứ hơn nữa. Nếu cái “biết làm” này không được thực hiện trong chuẩn mực đạo đức thì nó sẽ trở thành sức mạnh phá hủy, như chúng ta đã đề cập đến ở trên. Con người biết nhân bản người và nó đang làm điều đó. Con người biết sử dụng người như những cơ quan nội tạng “thay thế” cho những người khác, và nó đang làm điều này. Con người làm điều này bởi vì tự do của nó dường như đòi hỏi làm điều đó. Con người biết sản xuất bom nguyên tử và nó đã làm, trên nguyên tắc thì nó đang sẵn sàng sử dụng các thứ vũ khí ấy. Kể cả chủ nghĩa khủng bố cũng dựa trên mô thức “tự cho phép” này của con người, chứ không phải căn cứ vào những lời dạy của kinh Coran. Việc triết học thời Khai Sáng tách khỏi gốc rễ sâu xa của nó có nghĩa là nó bỏ qua con người, như phân tích sau. Con người thực ra không có tự do nào, như khoa học tự nhiên nói cho chúng ta biết, lại thấy mình hoàn toàn mâu thuẫn với khởi điểm của mọi vấn đề. Con người không cần phải tin rằng mình không giống với những thực thể sống khác, và lẽ ra nó cần được đối xử như chúng, đây là những lời thịnh hành nhất mà chúng ta nghe được từ nền triết học hoàn toàn tách khỏi nguồn gốc ký ức lịch sử nhân loại.

Chúng ta đã tự đặt ra hai câu hỏi: triết học duy lý (thực chứng) có đúng là thuần lý, và vì vậy mà có giá trị phổ quát, có đúng là hoàn thiện hay không? Tự thân triết học đó là đủ? Triết học ấy có thể, hay cần phải xếp các gốc tích lịch sử của nó vào lĩnh vực thuần túy của quá khứ, và như thế tức là xếp vào lĩnh vực của những thứ chỉ có giá trị ở mặt chủ quan? Chúng ta phải trả lời là “không” cho hai câu hỏi này. Triết học này không diễn đạt hết được toàn thể lý trí của con người nhưng chỉ một phần nào đó mà thôi, và vì sự xuyên tạc của lý trí nên người ta không thể xem triết học đó như là triết học có lý hoàn toàn. Do đó, triết học này bất toàn và chỉ có thể sửa sai tình trạng thực tế này khi tiếp xúc trở lại với nguồn gốc của nó. Cây mà không gốc thì sẽ bị khô héo.

Khi khẳng định điều này, người ta không phủ nhận hoàn toàn điều xác thực và quan trọng mà triết học ấy nói đến, nhưng người ta cũng phải thừa nhận triết học ấy cần bổ túc thêm và hoàn thiện mặt chiều sâu. Do đó chúng ta trở lại hai điểm gây tranh cãi về lời mở đầu của bản Hiến Pháp Châu Âu. Việc giữ khoảng cách với nguồn gốc Kitô giáo không phải là cách diễn đạt sự bao dung rất mực nó lẽ ra tôn trọng các nền văn hóa theo một cách thức như nhau, và khi không muốn ưu đãi văn hóa nào hết thì trái lại, việc giữ khoảng cách ấy cho thấy ý chí muốn biến một tư tưởng hay một phương cách sống, chúng vốn đối nghịch tự căn với các nền văn hóa lịch sử khác của nhân loại, thành điểm quy chiếu duy nhất. Sự đối kháng thực sự nó là đặc tính của thế giới hiện nay thì không nằm ở sự khác biệt giữa các nền văn hóa tôn giáo, nhưng giữa một bên là sự giải phóng sâu xa của con người nó tách khỏi Thiên Chúa và gốc rễ của sự sống, bên kia là các nền văn hóa tôn giáo lớn. Nếu người ta đi đến chỗ xung đột văn hóa thì đó không phải do cuộc đối đầu giữa các tôn giáo lớn – những tôn giáo luôn kình chống nhau nhưng kết cục lại luôn biết sống chung với nhau – nhưng do cuộc xung đột giữa sự giải phóng sâu xa của con người và các nền văn hóa lịch sử lớn. Như thế, sự khước từ quy chiếu về Thượng Đế cũng không phải là cách diễn tả sự bao dung muốn bảo vệ những tôn giáo không độc thần và phẩm giá của những người vô thần hay những người theo thuyết bất khả tri, nhưng đúng hơn là cách diễn tả một thứ ý thức muốn xem Thiên Chúa bị loại hẳn khỏi đời sống cộng đồng nhân loại và bị xếp vào lĩnh vực chủ quan của các nền văn hóa còn sót lại của quá khứ. Thuyết tương đối nó là đầu mối của tất cả điều đó thì cũng trở nên giáo điều, thứ giáo điều tự cho là sở hữu được tri thức thực sự của lý trí, tự cho là có quyền xem tất cả điều còn lại đơn thuần như một mức độ mà nhân loại đã vượt qua, và do vậy thứ giáo điều đó có thể bị tương đối hóa. Thật vậy, điều đó có nghĩa rằng chúng ta cần nguồn gốc để tồn tại và chúng ta không được quên Thiên Chúa nếu như chúng ta muốn phẩm giá con người không bị mất.

III. Ý nghĩa thường trực của Đức tin Kitô giáo

Có phải đức tin là sự đơn thuần loại bỏ triết học thời Khai Sáng và tính hiện đại? Tuyệt đối không phải. Kitô giáo từ nguồn gốc của nó được hiểu như một tôn giáo của Lời, như một tôn giáo theo lý trí. Không thể cho rằng các nhà tiên phong của Kitô giáo đã gặp nhau trước tiên trong các tôn giáo khác nhưng trong các nền triết học thời Khai Sáng chúng đã giải phóng khỏi lối mòn của truyền thống để tự tìm kiếm chân lý và tự quay về sự thiện, quay về với Thiên Chúa duy nhất, Đấng ngự trên hết các thần. Là một tôn giáo của những kẻ bị bắt hại, là tôn giáo có tính phổ quát, vượt qua mọi quốc gia và các dân tộc, Kitô giáo không chấp nhận Nhà Nước được quyền xem tôn giáo như một phần hệ thống quốc gia, có như vậy mới thiết lập nên sự tự do của đức tin. Kitô giáo luôn xác định tất cả mọi người, không phân biệt một ai, đều là loài thụ tạo được Thiên Chúa dựng nên giống hình ảnh Ngài, và về nguyên tắc Kitô giáo ấy đã công bố thành lời về phẩm giá như nhau của con người, tuy vẫn còn tồn tại những giới hạn đáng kể của các thiết chế xã hội. Theo nghĩa này, triết học thời Khai Sáng bắt nguồn từ Kitô giáo và không phải ngẫu nhiên mà triết học này được sinh ra cách không thể chối cãi trong môi trường đức tin Kitô giáo. Ở đây, thật không may là Kitô giáo đã trở thành truyền thống tôn giáo của Nhà Nước, đi ngược lại bản chất của nó. Mặc dù triết học, như là cuộc tìm kiếm tính hợp lý – kể cả trọng tâm đức tin của chúng ta nữa – đã từng là tài sản riêng của Kitô giáo, nhưng tiếng nói của lý trí còn bị kiểm soát quá nhiều. Triết học thời Khai Sáng đã có công khẳng định lại những giá trị độc đáo của Kitô giáo và đã đem lại cho lý trí tiếng nói riêng biệt. Công đồng Vatican II, trong Hiến Chế về Giáo Hội của thế giới hôm nay, đã xác định rõ hơn mối quan hệ sâu xa giữa Kitô giáo và triết học thời Khai Sáng, đồng thời tìm cách đạt đến một sự liên kết thực sự giữa Giáo Hội và tính hiện đại, nó là di sản to lớn cần được bảo vệ từ cả hai phía.

Với tất cả điều đó, hai bên cần phải học cách phân tích và sẵn sàng sửa sai nhau. Kitô giáo phải luôn nhớ rằng mình là tôn giáo của Lời, tin vào Thần Khí sáng tạo mọi thực tại. Chính điều đó có lẽ trở thành sức mạnh triết học của Kitô giáo. Bởi vì vấn đề là nhận biết thế giới có đến từ sự phi lý hay không, mà như thế thì lý trí chỉ còn là “phó sản”, có lẽ tai hại, của sự phát triển thế giới, hoặc nhận biết thế giới có đến từ lý trí chăng, mà như thế thì nó có lẽ là chuẩn mực và mục đích của thế giới. Đức tin Kitô giáo nghiêng về luận đề thứ hai và sở hữu, nhìn từ quan điểm thuần túy triết học, nhiều lá bài tốt, ngay cả khi chính luận đề thứ nhất được nhiều người ngày nay xem như luận đề duy nhất “có lý” và hiện đại. Tuy nhiên thứ lý trí phát sinh từ sự phi lý mà cuối cùng chính lý trí ấy cũng phi lý thì không đề xuất được giải pháp nào cho những vấn đề của chúng ta. Chỉ có lý trí sáng tạo, lý trí được tỏ hiện như là tình yêu vào Thiên Chúa bị đóng đinh, mới có thể thực sự chỉ cho chúng ta con đường.

Trong cuộc đối thoại vốn cần thiết giữa vô thần và công giáo, người Kitô hữu chúng ta phải rất tỉnh táo để luôn giữ trung thành điều cốt yếu này: đó là sống đức tin nó bắt nguồn từ Ngôi Lời, từ Lý Trí sáng tạo và do đó nó mở ra với tất cả những gì thật sự hữu lý. Ở điểm này, với tư cách là kẻ tin, tôi muốn đưa ra một đề xuất cho những người không tin. Vào thời Khai Sáng, người ta đã tìm cách diễn đạt và xác định những chuẩn mực đạo đức thiết yếu, đồng thời cho rằng những chuẩn mực đạo đức ấy có giá trị ngay cả khi Thiên Chúa không tồn tại. Qua những niềm xác tín đối nghịch nhau, qua hình ảnh của Thiên Chúa đang bị mất dần, người ta đã tìm cách giữ lấy những giá trị cốt lõi của đạo đức mà khỏi phải gặp chống đối nào, và tìm ra được một điều hiển nhiên nó làm cho những giá trị này không phải lệ thuộc vào nhiều sự phân chia, nó làm cho những giá trị này thiếu sự chắc chắn của các triết học hay các niềm xác tín khác nhau. Người ta cũng muốn đảm bảo những nền tảng cho một cuộc sống chung, và khái quát hơn, đó là những nền tảng của nhân loại. Ở thời kỳ này, điều đó có vẻ khả thi, vì những xác tín sâu xa mà Kitô giáo tạo ra thì đa phần phản kháng lại và dường như không thể chối cãi được. Nhưng điều đó không còn đúng nữa. Việc tìm kiếm một đảm bảo chắc chắn như thế, điều có thể không cần phải bàn cãi khi nó ở bên kia mọi khác biệt, đã gặp thất bại. Kể cả nỗ lực lớn lao của Kant cũng đã không thể tạo ra điều xác thực cần thiết được chia sẻ. Kant phủ nhận rằng người ta có thể biết Thiên Chúa trong lĩnh vực lý trí thuần túy, nhưng đồng thời ông đã trình bày Thiên Chúa, tự do và bất tử như những định đề của lý trí thực hành mà nếu không có những định đề đó thì, theo ông, không có hành vi đạo đức nào khả dĩ mạch lạc. Tình trạng thế giới hiện nay chẳng phải không dẫn chúng ta đến việc nghĩ lại rằng ông có lý? Tôi muốn nói điều đó theo cách khác: mưu toan nhào nặn thực tại con người, được đẩy đến cực điểm, mà hoàn toàn không kể đến Thiên Chúa thì luôn dẫn chúng ta đến bờ vực thẳm, đến một sự gia công toàn bộ của con người. Chúng ta có lẽ cần đảo ngược tiền đề toán học của các triết gia thời Khai Sáng khi nói rằng kể cả những người chưa tìm thấy con đường chấp nhận Thiên Chúa thì lẽ ra nên tìm cách sống và định hướng cuộc sống mình như thể Thiên Chúa tồn tại. Đó là lời khuyên mà Pascal dành cho những người bạn không tin của ông; và đó là lời khuyên mà hôm nay chúng ta vẫn muốn dành cho những người bạn của chúng ta là những người không tin. Theo cách này, không ai bị hạn chế trong sự tự do của mình, nhưng chúng ta tìm thấy một sự nâng đỡ, một sự quy chiếu mà chúng ta cần gấp cho mọi thứ.

Nhưng điều chúng ta cần nhất vào thời điểm lịch sử hiện nay, đó là những con người mà qua đức tin sống động và chiếu tỏa, họ đem Thiên Chúa đáng tin cho thế giới này. Lời chứng tiêu cực của những Kitô hữu họ nói về Thiên Chúa nhưng lại sống trái ngược với Ngài đã che khuất hình ảnh Thiên Chúa và mở ra cánh cửa cho sự không tin. Chúng ta cần những người biết hướng cái nhìn của họ thẳng về Thiên Chúa, học hỏi nơi Ngài điều gì là nhân bản thật sự. Chúng ta cần những người được Thiên Chúa soi sáng trí tuệ, những người được Ngài mở lòng, để họ có thể nói điều họ hiểu biết cho người khác hiểu biết, để lòng họ có thể mở cõi lòng người khác. Chỉ qua những người được Thiên Chúa chạm đến mà Thiên Chúa mới có thể trở lại giữa con người. Chúng ta cần những người như thánh Biển Đức thành Nursie. Ở vào thời kỳ suy đồi, Người đã đi vào tận cùng cõi thinh vắng. Rồi sau mọi thanh tẩy Người phải chịu đựng, Người đã đạt tới ánh sáng, và Người trở về, đặt nền móng cho thành phố trên núi, Núi Cassin. Thành phố ấy, dựa trên đống đổ nát, đã quy tụ mọi nguồn lực mà nhờ đó một thế giới mới được hình thành. Cũng như Abraham, thánh Biển Đức đã trở thành người cha của nhiều sắc dân. Những lời căn dặn cho các tu sĩ của Người mà Người đã để ở phần cuối bản luật, là những lời chỉ dẫn chúng chỉ cho chúng ta con đường đi về phía trời cao, tức ra khỏi những khủng hoảng và đổ nát.

“Có một lòng nhiệt thành xấu xa cay đắng nó lìa bỏ Thiên Chúa và dẫn đến hỏa ngục thì cũng có một lòng nhiệt thành tốt nó xa lánh thói xấu và dẫn đến Thiên Chúa, cuộc sống vĩnh cửu.

“Chính lòng nhiệt thành này mà người tu sĩ cần phải thực hành với lửa yêu mến nồng nàn: các tu sĩ phải tự hào lẫn nhau về sự ân cần tử tế của mỗi người. Họ kiên nhẫn chịu đựng những khuyết điểm của kẻ khác, khuyết điểm về thể xác cũng như khuyết điểm về tinh thần… Giữa họ có một tình yêu vô vị kỷ, như anh em một nhà vậy. Họ kính tôn Thiên Chúa hết lòng… Họ tuyệt đối không thích điều gì nào ngoài Đức Kitô, Đấng hạ mình để dẫn đưa chúng ta đến sự sống đời đời.” (Luật của thánh Biển Đức, chương 72).

[Mục Lục]

QUYỀN SỐNG VÀ CHÂU ÂU

I. Tại sao không chịu khuất phục

Dưới cái nhìn của phần lớn ý kiến công khai chúng được cấu thành từ những giá trị truyền thống, thì quả là có vẻ phóng đại và không hợp thời – mà thực tế đúng là khó chịu – khi tiếp tục xem vấn đề tôn trọng sự sống như là vấn nạn trọng tâm nó vừa được nhận thức và vẫn còn tiếp tục phát sinh. Sau những cuộc tranh luận gây chia rẽ chúng kéo theo sự hợp thức hóa việc phá thai, nó vốn được thừa nhận suốt mười lăm năm qua ở hầu hết các nước phương Tây, chẳng lẽ từ đó trở đi người ta lại không xem vấn nạn ấy như đã xong và tránh khơi dậy những chống đối ý thức hệ già nua? Tại sao chúng ta không chấp nhận mình đã thua cuộc chiến này và không dành sức lực của chúng ta cho việc phục vụ những sáng kiến chúng có thể nhận được sự tán đồng lớn của xã hội? Khi dừng ở bề mặt các sự việc, người ta có lẽ bị thuyết phục rằng ở bề sâu, việc đồng ý cho phép phá thai đã không thay đổi gì nhiều trong đời sống riêng cũng như trong đời sống xã hội của chúng ta. Thực tế, mọi thứ có vẻ vẫn tiếp tục như trước đây. Mỗi người xử sự theo ý thức mình: ai không muốn phá thai thì không bị ép buộc làm điều đó, ai phá thai với sự cho phép của luật – theo điều người ta nói – thì dù sao chăng nữa vẫn có thể làm điều đó. Mọi sự diễn ra trong thinh lặng của phòng mổ, nó bảo đảm ít ra những điều kiện để ca mổ được an toàn: điều này giống như thể bào thai, nó sẽ chẳng bao giờ thấy bình minh, đã chẳng bao giờ tồn tại. Ai hiểu chuyện đó? Tại sao cứ tiếp tục để bi kịch này xảy ra nơi công cộng? Chẳng phải không tốt hơn sao khi để chôn vùi bi kịch ấy trong sự thinh lặng của ý thức cá nhân, những người can dự trực tiếp vào bi kích đó?
Ta bắt gặp một trang trong sách Sáng Thế nói thật ấn tượng về vấn nạn của chúng ta. Đó là sự chúc phúc mà Đức Chúa ban cho Nô-en và con cái ông sau trận hồng thủy, trong sự chúc phúc ấy, các luật này, tức duy chỉ những luật có thể đảm bảo tính sinh sinh bất nghỉ dành cho nhân loại, được tái thiết lập cho đến muôn đời. Công trình sáng tạo này, nó được hình thành một cách tuyệt đối hoàn hảo từ bàn tay Thiên Chúa, đã bị nhận chìm trong hỗn loạn và thoái hóa chúng theo sau sự sa ngã của tổ tiên chúng ta. Bạo lực và chết chóc không ngừng đã lan rộng khắp thế giới, và từ nay trở đi khó có thể đem lại cuộc sống xã hội thanh bình nó tuân theo công lý. Thì đây, sau cuộc thanh tẩy lớn của cơn hồng thủy, Thiên Chúa bỏ giận và lại bao bọc thế giới bằng lòng thương xót của Ngài, đồng thời chỉ cho thế giới thấy, vốn nhằm để cứu chuộc thế giới sau này, những chuẩn mực thiết yếu để sinh tồn: “Ta sẽ đòi mỗi con vật phải đền nợ máu các ngươi, tức là mạng sống của các ngươi; Ta sẽ đòi con người phải đền nợ máu, Ta sẽ đòi mỗi người phải đền mạng sống của người anh em mình. Ai đổ máu con người, thì máu nó sẽ bị con người đổ ra, vì Thiên Chúa đã làm ra con người theo hình ảnh Thiên Chúa.” (St 9,5-6)

Bằng những lời này, Thiên Chúa giành lại sự sống của con người như thể Ngài làm chủ sự sống ấy cách cụ thể: sự sống của con người nằm dưới sự chở che trực tiếp và tức khắc của Ngài. Đây là một điều “thiêng liêng”. Máu con người đổ ra kêu thấu tới Ngài (x. St 4,10), bởi vì con người được dựng nên giống hình ảnh của Ngài và giống Ngài. Ngài thiết lập quyền bính của xã hội và trong xã hội chính là nhằm mục đích bảo đảm sự tôn trọng quyền căn bản này, quyền bị đe dọa bởi tâm hồn xấu xa nó ở trong con người. Thừa nhận khía cạnh thiêng liêng của sự sống con người cũng như khía cạnh bất khả xâm phạm đến sự sống ấy, không ngoại lệ, thì không phải là một vấn nạn nhỏ hay một câu hỏi mà ta có thể xem như tương đối, theo đa số những quan điểm hiện hành trong xã hội hiện đại. Đoạn sách Khải Huyền hướng suy nghĩ của chúng ta đến ý nghĩa kép, nó kết nối với chiều hướng kép của những vấn đề mà chúng ta đặt ra ở trên:

1/ Không hề có những “án mạng nhỏ”: tôn trọng sự sống con người là điều kiện thiết yếu để đời sống xã hội có thể xứng đáng với danh nghĩa này;

2/ Khi ý thức con người không còn tôn trọng sự sống như cái gì đó thiêng liêng thì con người cũng không tránh khỏi việc đánh mất chính căn tính của mình.

II. Quyền của kẻ mạnh, sức mạnh của quyền

Trong các xã hội đa nguyên ngày nay, ở đó những ý hướng tôn giáo, văn hóa, ý hệ khác biệt cùng chung sống, thì càng ngày càng khó khăn cho việc thiết lập một nền tảng chung các giá trị luân lý chúng được các xã hội ấy chia sẻ, những giá trị có thể trở thành điểm tựa đủ cho chính nền dân chủ. Tuy nhiên, có thứ niềm tin khá được phổ biến thì cho rằng người ta không thể bỏ qua, dù ở mức độ nhỏ, những giá trị luân lý được thừa nhận và được thiết lập trong đời sống xã hội; nhưng vấn đề là khi quyết định những giá trị ấy bằng trò đồng thuận để cho những giá trị này đạt đến bình diện xã hội thì độ chắc chắn của chúng luôn giảm sút nhiều hơn. Chỉ có một giá trị dường như không được thảo luận và cũng không thể thảo luận được, cho đến khi nó trở thành bộ lọc cho hết mọi giá trị khác: đó là quyền tự do cá nhân cần được biểu lộ mà không cản trở, hay ít ra là tự do cá nhân không gây tổn thương đến quyền của kẻ khác.

Như thế, quyền phá thai được viện đến như một phần cấu tạo của quyền tự do dành cho phụ nữ, cho đàn ông và cho xã hội. Phụ nữ có quyền tiếp tục làm công việc của mình, bảo vệ danh tiếng của mình, gìn giữ một phong cách sống nào đó. Đàn ông có quyền chọn cho mình một mức sống, chọn nghề nghiệp, chọn vui thích với công việc mình làm. Xã hội có quyền kiểm soát tỷ lệ dân số để đảm bảo nguồn lợi chung cho dân chúng, qua việc quản lý cân đối các nguồn tài nguyên và lao động. Tất cả các quyền này là có thực và hợp pháp. Không ai phủ nhận rằng đôi khi hoàn cảnh cụ thể dẫn đến việc chọn phá thai có lẽ là bi kịch. Tuy vậy, thực tế cho thấy rằng các quyền thực sự này được đòi thi hành là để làm hại sự sống của một sinh linh vô tội, còn các quyền của sinh linh ấy thì lại được xem không đáng kể. Người ta trở nên mù lòa đối với quyền sống của kẻ khác, quyền của kẻ bé mọn yếu đuối nhất, của kẻ không có tiếng nói. Sự xác nhận các quyền của một số người thì gây nguy hại đến quyền căn bản của kẻ khác, tức quyền sống. Hợp pháp hóa việc phá thai đi kèm theo ý tưởng cho rằng chính sức mạnh làm nên quyền. Chẳng hạn như, phần lớn thời gian người ta chẳng thèm để ý tới điều đó, nhưng thực tế thì chính nền tảng của nền dân chủ đích thực vốn dựa trên mệnh lệnh pháp lý lại đang bị đe dọa. Hiến pháp của các nước Tây Âu, thành quả của một quá trình chín mùi văn hóa và các cuộc xung đột thế tục vốn phức tạp, thì dựa trên ý tưởng về mệnh lệnh pháp lý, dựa trên ý thức về sự bình đẳng căn bản của mọi người trong cộng đồng nhân loại. Các hiến pháp ấy đồng thời cũng diễn tả ý thức về sự bất công sâu xa mà những lợi ích thực sự của một số người, thay vì ở thứ yếu, lại có thể lấn lướt các quyền căn bản của kẻ khác. “Tuyên ngôn về nhân quyền” được hầu hết các nước trên thế giới ký vào năm 1948, sau thử thách khủng khiếp của đệ nhị thế chiến, thì diễn tả đầy đủ, ngay cả tiêu đề của bản tuyên ngôn, ý thức rằng các quyền con người (mà quyền căn bản nhất là quyền sống) thuộc về con người tự bản chất, ý thức rằng Nhà Nước thừa nhận các quyền ấy nơi con người, nhưng lại không cung cấp cho người ta các quyền ấy, ý thức rằng các quyền này thuộc về tất cả mọi người với tư cách là người chứ không vì những đặc tính thứ yếu khác mà những người này lẽ ra có, và ý thức rằng những người khác có quyền quyết định theo sở thích mình. Người ta thấy biết bao lần một Nhà Nước vốn tiếm đặc quyền xác định ai là hay không là chủ thể của các quyền, mà kết quả là thừa nhận quyền xâm phạm quyền sống căn bản của người khác, đã đi ngược lại lý tưởng dân chủ và xóa bỏ những nền tảng mà Nhà Nước đó dựa vào, tuy Nhà Nước ấy tiếp tục đòi hỏi lý tưởng này. Thật sự thì khi chấp nhận người ta xâm phạm các quyền của kẻ yếu thì Nhà Nước ấy chấp nhận tức khắc quyền của kẻ mạnh lấn lướt sức mạnh của quyền.

III. Cái nhìn thì quan trọng

Bên kia vấn đề pháp lý, ở mức độ căn bản nhất, ta bắt gặp vấn đề luân lý, nó lướt qua tâm hồn của mỗi người chúng ta, đi qua nơi nội tâm ẩn khuất, nơi mà sự tự do quyết định theo cái thiện hay cái ác. Ở trên, tôi đã nói rằng trong cái quyết định phá thai thì nhất thiết phải có khoảnh khắc mà người ta chấp nhận không quan tâm đến quyền sống của sinh linh nhỏ bé vừa mới thành bào thai. Bi kịch luân lý, tức sự quyết định chọn cái thiện hay cái ác, thì bắt đầu bằng cái nhìn, bằng sự chọn lựa nhìn hay không nhìn hình hài của kẻ khác. Tại sao ngày nay người ta gần như nhất trí không chấp nhận việc giết hại trẻ em trong khi người ta lại trở nên vô cảm với việc phá thai? Có lẽ đơn giản bởi vì khi phá thai, người ta không nhìn thấy hình hài của kẻ bị kết án không bao giờ được thấy ánh mặt trời. Nhiều nhà tâm lý đã tiết lộ rằng người phụ nữ có ý định phá thai thì thường dồn nén ước muốn bột phát sắp được làm mẹ, tức muốn đặt tên cho con mình, muốn hình dung khuôn mặt và tương lai sau này của đứa con… Đây đúng là những ước muốn bị ức chế chúng rất thường trở lại quấy nhiễu ý thức, giống như những cảm giác tội lỗi chưa được tháo gỡ.

Hình hài của kẻ khác được giao phó cho tiếng gọi tự do của tôi, mời gọi tôi đón nhận và chăm sóc kẻ ấy, để tôi khẳng định giá trị mà kẻ ấy đang sở hữu chứ không phải vì kẻ ấy hợp với những lợi ích của tôi. Chân lý đạo đức, như là chân lý về giá trị nhân vị độc đáo và khó diễn tả, tức nhân vị ấy được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, là một sự thật nó đòi hỏi tự do của tôi phải có trách nhiệm. Quyết định nhìn thấy chân lý ấy tận mặt, đó là quyết định hoán cải, quyết định tự chất vấn mình, quyết định ra khỏi chính mình và đặt mình vào vị trí của kẻ khác. Vì thế, điều hiển nhiên là giá trị luân lý cũng phụ thuộc phần lớn vào một quyết định kín đáo nào đó của sự tự do nó chấp nhận nhìn và như vậy chấp nhận được thúc đẩy để thay đổi.

Trong phần giới thiệu cuốn sách khá nổi tiếng của nhà sinh học người Pháp Jacques Testart, “Quả trứng trong suốt” (L’oeuf transparent), triết gia Michel Serres (có vẻ là một người không tin), khi đặt vấn đề tôn trọng phôi thai người, đã hỏi câu này: “Con người là ai?”. Ông tiết lộ rằng không có những câu trả lời giống nhau và thật sự thỏa mãn trong triết học cũng như trong văn hóa. Tuy nhiên, ông lưu ý thêm là nếu chúng ta không có một định nghĩa lý thuyết rõ ràng về con người, thì bằng kinh nghiệm sống cụ thể, chúng ta biết rõ con người là ai. Chúng ta đặc biệt nhận thức về điều này khi chúng ta đối diện với một ai đó đang đau khổ, một ai đó đang là nạn nhân của quyền lực hay một ai đó không được bảo vệ và bị kết án tử: “Đây con người!” (“Ecce homo!”). Vâng, ông lấy lại chính xác câu của Philatô, người có mọi quyền hành đối với Đức Giêsu, Đấng bị lột áo, bị đánh đòn, bị đội mũ gai và bị kết án treo trên thập giá: Con người là ai? Đây đúng là kẻ yếu đuối nhất, kẻ không được bảo vệ, kẻ không có quyền lực cũng như tiếng nói để tự bảo vệ, kẻ đang sống bên cạnh chúng ta mà chúng ta làm ngơ hoặc giả như không thấy. Chúng ta có thể đóng cửa lòng mình đối với kẻ ấy khi nói rằng kẻ ấy chưa bao giờ tồn tại.

Và tự nhiên trở lại trong ký ức một trang khác của sách Tin Mừng cũng muốn trả lời cho câu hỏi gần giống vậy: “Ai là người thân cận của tôi?” Chúng ta biết rằng để nhận biết ai là người thân cận của chúng ta thì chúng ta phải sẵn sàng gần gũi, nghĩa là dừng lại, xuống ngựa, đến gần kẻ đang cần mình, chăm sóc kẻ ấy: “Điều mà anh em làm cho kẻ bé mọn nhất trong các anh em của Thầy là anh em đã làm cho chính Thầy” (Mt 25,40).

Tôi muốn đọc cho các bạn một đoạn văn của một nhà tư tưởng lớn người Đức gốc Ý, Romano Guardini: “Con người không phải linh thiêng đơn giản chỉ vì nó sống. Con vật có lẽ cũng sở hữu quyền ấy bởi vì nó có sự sống […]. Sự sống của con người thì bất khả xâm phạm bởi vì con người là một nhân vị […] Con người nhân vị không phải là một dữ kiện thuộc bản chất tâm lý nhưng là hiện sinh: về mặt căn bản, con người nhân vị không phụ thuộc vào tuổi tác, vào điều kiện tâm lý, vào những tài năng tự nhiên được nhận lãnh […]. Nhân cách có thể ở dưới ngưỡng của ý thức – như khi ta ngủ – nhưng nhân cách vẫn còn đó nên cần phải quy chiếu về nó. Nhân cách có thể chưa phát triển như khi ta là đứa trẻ, tuy nhiên ngay từ đầu nhân cách đòi hỏi sự tôn trọng luân lý. Nhân cách không bộc lộ trong các hành vi là điều có thể xảy ra, đó là khi thiếu các nền tảng tâm sinh lý, như trường hợp bệnh tâm thần […]. Sau hết, nhân cách cũng có thể tiềm ẩn chẳng hạn như trong phôi thai. Nhưng ngay từ đầu, nhân cách đã có trong phôi thai nên nhân cách có các quyền của nó. Chính nhân cách này đem lại phẩm giá cho con người. Nhân cách ấy phân biệt người và vật, đồng thời trả lại cho con người quyền chủ thể […]. Người ta xem một thứ gì đó như là đồ vật khi người ta sở hữu nó, khi người ta sử dụng nó và cuối cùng phá bỏ nó hoặc – nếu đó là con người – người ta giết con người này. “Cấm giết người, ở hình thức cao nhất của nó, là cấm đối xử với người như thể người đó là đồ vật” (Chú thích: Droits de l’enfant à naitre, in studi cattolici, tháng 05/06 1974).

Rõ ràng là cái nhìn mà tôi sẵn lòng hướng về kẻ khác cách tự do sẽ quyết định chính phẩm giá của tôi. Nếu tôi có thể chấp nhận giảm trừ kẻ khác thành đồ vật, sử dụng rồi hủy hoại vật ấy thì đồng thời tôi phải chấp nhận những hậu quả từ cách nhìn của tôi, những hậu quả chúng dội ngược lại tôi: “Bạn đo bằng đấu nào thì đấu ấy sẽ dùng để đo lại bạn”. Cái nhìn của tôi đối với kẻ khác quyết định tính người của tôi. Tôi có thể đối xử kẻ khác đơn giản như là đồ vật khi tôi quên đi phẩm giá của kẻ ấy và phẩm giá của tôi, không quan tâm tới việc kẻ ấy và tôi đều là hình ảnh của Thiên Chúa và đều giống Thiên Chúa. Kẻ khác là người bảo vệ phẩm giá của tôi. Đó là lý do tại sao đạo đức nó khởi đi từ cái nhìn về kẻ khác thì bảo đảm sự thật và phẩm giá của con người; con người cần đạo đức để trở nên chính mình và không để mất căn tính của mình trong thế giới sự vật. Và còn một bước cuối cùng, bước quyết định để hoàn tất suy tư của chúng ta, bước ấy đưa chúng ta đến đoạn văn của sách Sáng Thế mà chúng ta đã khởi đi từ đó. Làm thế nào con người có thể có cái nhìn biết đón nhận và tôn trọng phẩm giá của kẻ khác mà vẫn giữ được phẩm giá của mình? Bi kịch của thời đại chúng ta chính là không có khả năng nhìn như thế, đến nỗi cái nhìn của kẻ khác trở nên mối đe dọa nó khiến tôi phải đề phòng. Thực tế, luân lý luôn sống trong một vùng trời tôn giáo rộng lớn, vùng trời ấy tạo nên bầu khí và môi trường sống động cho đạo đức. Ra khỏi môi trường này, đạo đức sẽ ngộp thở và trở nên hình thức, nó sẽ yếu đi rồi chết. Nhận thức luân lý về đặc tính thiêng của sự sống và cam kết tôn trọng đặc tính ấy thì cần đến niềm tin vào sự tạo dựng nên vùng trời ấy: giống như đứa trẻ có thể mở lòng yêu thương hết mình nếu nó biết mình được yêu và nó có thể lớn lên nếu nó cảm nhận được cái nhìn yêu thương trìu mến của cha mẹ, chúng ta cũng có thể có cái nhìn tôn trọng phẩm giá của kẻ khác nếu chúng ta cảm nghiệm được cái nhìn yêu thương của Thiên Chúa dành cho chúng ta: “Thiên Chúa phán: Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta […]. Thiên Chúa thấy mọi sự Ngài đã làm quả là tốt đẹp” (St 1,26.31)

Kitô giáo là nhớ về cái nhìn yêu thương Thiên Chúa dành cho con người. Nơi cái nhìn ấy, sự thật viên mãn và sự bảo vệ phẩm giá của con người được đảm bảo. Mầu nhiệm ngày Giáng Sinh nhắc nhớ chúng ta rằng, trong Đức Kitô giáng sinh, toàn bộ sự sống con người, ngay từ giây phút đầu tiên, được chúc phúc và được đón nhận bởi cái nhìn xót thương của Thiên Chúa. Người Kitô hữu biết đến điều đó và luôn giữ cuộc sống bản thân dưới cái nhìn yêu thương này; họ cũng lãnh nhận sứ điệp nó thật thiết yếu cho cuộc sống và cho tương lai của con người. Ngày nay họ có thể khiêm tốn và tự hào đảm nhận việc vui mừng loan báo đức tin, nếu không có đức tin thì cuộc sống con người không tồn tại lâu. Trong việc loan báo phẩm giá con người và những nghĩa vụ tôn trọng sự sống nó phát sinh từ phẩm giá ấy, họ có lẽ sẽ là đối tượng bị chế giễu và ghen ghét, nhưng thế giới không thể sống mà không có họ. Tôi muốn kết thúc bằng những lời tuyệt vời của “Thư gửi Diognnète”, trong bức thư xưa ấy có mô tả sứ mạng không thể thay thế của người Kitô hữu trong thế giới: “Vì người Kitô hữu không phân biệt mình với người khác qua quê quán, ngôn ngữ hay trang phục […]. Họ sống tản mác trong các thành thị Hy Lạp và vùng lân bang tùy theo phần đất thuộc về mỗi người; lối sống và cách ăn mặc của họ thì khuôn theo các tục lệ địa phương, mặc dù thường phô bày những thứ luật dị thường và mâu thuẫn với đời sống tinh thần của nền cộng hòa. Họ đều có quê quán riêng nhưng lại giống như dân xứ khác đến trú ngụ. Họ làm tròn nghĩa vụ công dân nhưng lại gánh chịu mọi chi phí như dân ngoại. Mảnh đất xa lạ trở thành quê quán của họ, còn quê quán thì lại là nơi xa lạ. Họ cưới hỏi như mọi người, họ có con cái, nhưng họ không bỏ rơi những đứa con mới sinh của họ. Họ ngồi chung bàn ăn, tuy không cùng tầng lớp xã hội. Họ thuộc về xác phàm nhưng không sống theo xác phàm. Họ trải qua cuộc sống ở trần thế nhưng lại là công dân trên trời. Họ tuân thủ lề luật được đặt ra nhưng cách họ sống lại hoàn toàn thắng vượt lề luật. Họ yêu thương mọi người và những kẻ bách hại họ […]. Tắt một lời, người Kitô hữu sống trong thế giới giống như điều gọi là linh hồn ở trong thân thể […]. Linh hồn thì yêu thân xác và các chi thể, mà thân xác thì ghét linh hồn, giống như người Kitô hữu yêu những kẻ ghen ghét mình vậy. Linh hồn bị giam trong thân xác, tuy nhiên chính linh hồn gìn giữ thân xác; người Kitô hữu thì như thể bị giam trong nhà tù thế gian nhưng chính họ lại gìn giữ thế gian […]. Chỗ đứng mà Thiên Chúa đã định sẵn cho họ thì thật cao quý đến nỗi họ không được phép bỏ.”

[Mục Lục]

TIN CÓ Ý NGHĨA GÌ

Đức tin là hành vi cơ bản của đời sống người Kitô hữu.

Có một cấu trúc quan trọng của Kitô giáo được biểu lộ trong hành vi tin, để trả lời cho câu hỏi đặt ra ở đây: chúng ta có thể hoàn tất kế hoạch cuộc đời của chúng ta theo cách nào trong khi thực hiện điều gọi là nhân tính của chúng ta? Dĩ nhiên cũng có những câu trả lời khác. Các tôn giáo đều không trình bày một thứ “tin”. Chẳng hạn, trong hình thức mẫu mực của Phật giáo thì không hề thấy hướng đến hành vi tự vượt này, tức hành vi gặp gỡ với Đấng Hoàn Toàn Khác, với Thiên Chúa, Đấng nói với tôi và mời gọi tôi yêu thương. Nét đặc trưng của Phật Giáo là hành vi nội tâm hóa triệt để, đó không phải là hành vi ra khỏi mình mà là hành vi trở về chính mình, hành vi ấy cần đưa đến sự giải thoát khỏi gánh nặng của cá nhân, giải thoát khỏi ách nó được biểu hiện bằng việc trở nên một cá thể đang quay về với căn tính chung của hữu thể, một hữu thể mà khi so với kinh nghiệm chúng ta có được thì nó có thể gọi là vô thể, là hư vô, để cũng diễn tả cái khác tuyệt đối.

I. Đức tin trong đời sống hằng ngày, thái độ căn bản của con người

Chúng ta không có ý định đi vào một cuộc tranh luận như thế. Điều chúng ta quan tâm lúc này, đơn giản là hiểu rõ hơn hành vi căn bản của người Kitô hữu, tức hành vi đức tin. Khi theo con đường này, chúng ta tức khắc đụng phải một khó khăn. Thật vậy, câu hỏi được đặt ra là nhằm biết xem đức tin có phải là một thái độ đích đáng của một người trưởng thành và đang sống thời này không. Thực tế của việc “tin” xuất hiện trước mắt chúng ta như là một giai đoạn tạm thời, chuyển tiếp, mà cuối cùng có lẽ sẽ bị vượt qua, kể cả khi giai đoạn ấy thường khó tránh khỏi, chính bởi vì đây là một thái độ tạm thời: chẳng ai thật sự biết và sử dụng sự hiểu biết của bản thân, trong thời đại văn minh kỹ thuật, để áp đặt lên mọi thứ mà cuộc sống hằng ngày của chúng ta dựa vào. Có rất nhiều thực tế mà chúng ta phải chấp nhận phần lớn khi tin vào “khoa học”, hơn nữa những thực tế ấy có vẻ được mỗi người thừa nhận dựa theo kinh nghiệm chung. Tất cả chúng ta, ở những trình độ khác nhau, chúng ta sử dụng những sản phẩm của một thứ kỹ thuật mà nền tảng khoa học của thứ kỹ thuật ấy chúng ta lại không biết: ai có thể kiểm tra và tính toán độ chắc của một tòa nhà? Thế còn sự vận hành của thang máy? Đó là chưa nói đến lĩnh vực điện hay điện tử, lĩnh vực khá quen thuộc với chúng ta. Rồi nói gì đây (có lẽ đó là điều tế nhị) về tác dụng của một dược phẩm? Người ta có lẽ nhân các ví dụ lên tới vô tận… Chúng ta đang sống trong mớ chằng chịt những điều không biết, những điều chúng ta tự hào vì kinh nghiệm thực chứng. Chúng ta tin rằng tất cả điều đó không có nền tảng nên một “đức tin” như thế cho phép chúng ta vui hưởng những tiện ích từ tri thức của kẻ khác.

Nhưng niềm tin mà chúng ta thực hành thường xuyên, thậm chí chúng ta không thắc mắc nó, niềm tin nó là nền tảng đời sống hằng ngày của chúng ta, niềm tin ấy thuộc loại nào? Khoan hãy tìm cách đưa ra ngay một định nghĩa về niềm tin, chúng ta hãy giới hạn ở mức độ của điều mà người ta có thể nhận thấy cách tức khắc. Hai khía cạnh đối lập nhau của loại “tin” này đập vào mắt. Chúng ta đã nghi nhận rằng niềm tin thuộc loại này thì đáng kể đối với cuộc sống chúng ta. Trước hết vì lý do đơn giản này, trong trường hợp ngược lại thì không còn gì hoạt động nữa: mỗi trường hợp có lẽ phải bắt đầu lại từ số không. Nhưng sâu xa hơn, hiểu theo nghĩa là cuộc sống con người trở nên bế tắc khi người ta không còn tin thêm ai khác hay những người khác nữa, khi người ta không thể dựa vào kinh nghiệm bản thân, dựa vào sự hiểu biết, dựa vào điều được ban tặng cho chúng ta trước đây. Đó là một trong những khía cạnh – khía cạnh tích cực – của “đức tin”. Nhưng mặt khác, đức tin này dĩ nhiên là sự diễn tả cái vô tri, và như thế là thái độ co cụm: nếu ta có thể hiểu biết thì điều đó chắc tốt hơn.

Chúng ta cũng đã chuẩn bị sẵn một loại “cấu trúc lý thuyết giá trị” về niềm tin tự nhiên: chúng ta đã đánh giá những giá trị mà niềm tin tự nhiên này chứa đựng và chúng ta nhận thấy rằng một niềm tin như thế, một mặt là sự hạ giá so với “tri thức” nhưng mặt khác lại là giá trị căn bản của đời sống con người, là nền tảng mà không có nó thì không xã hội nào có thể tồn tại được. Chúng ta cũng có thể đề cập đến những yếu tố khác nhau chúng thuộc về cấu trúc của niềm tin đó. Có ba yếu tố. Niềm tin này luôn quy chiếu về ai đó “có biết” về vấn đề. Niềm tin ấy cho rằng những người đủ tư cách và đáng tin thì có sự hiểu biết xác thực. Thêm vào điều này, xem như yếu tố thứ hai, đó là niềm tin mù quáng của “số đông” những người khi sử dụng các đồ dùng hằng ngày, họ chỉ dựa vào kiến thức chắc chắn nó đã tạo nên những sản phẩm đồ dùng ấy. Và cuối cùng, yếu tố thứ ba, đó là cần đề cập đến một loại đánh giá tri thức dựa theo kinh nghiệm hằng ngày của chúng ta. Nếu việc thắp sáng ngọn đèn là kết quả của một quá trình dựa trên những nguyên lý về điện thì tôi có lẽ không có khả năng chứng minh điều đó cách khoa học, nhưng không phải vì thế mà tôi không thừa nhận nó, bởi vì hằng ngày các bộ phận cơ thể tôi hoạt động mặc cho tôi thiếu kiến thức.

Như vậy, không phải chính tôi am hiểu tường tận tri thức này, nhưng tôi không phản ứng theo một thứ “tin” thuần túy và thiếu nền tảng.

II. Thuyết bất khả tri có thể là một giải pháp?

Tất cả điều đó mở ra những viễn cảnh cho đức tin tôn giáo, đồng thời cho phép khám phá những tương đồng của cấu trúc. Nhưng khi chúng ta tìm cách đặt mình ở bình diện này thì chúng ta sẽ tức khắc đụng phải sự bắt bẻ nặng ký, nó có lẽ được trình bày bằng những từ ngữ này: có thể trong các mối tương quan của con người, mỗi người không thể “biết” tất cả những gì là cần thiết và hữu ích cho sự sống; có thể khả năng hoạt động của chúng ta dựa trên thực tế là chúng ta dự phần vào “tri thức” của kẻ khác qua thứ “đức tin”, cho dẫu luôn còn nằm trong lĩnh vực tri thức nhân loại mà về nguyên tắc mọi người tiếp cận được tri thức ấy.Trái lại, khi đó là niềm tin vào Mặc Khải thì chúng ta vượt qua những giới hạn của tri thức nhân loại nó là đặc tính của chúng ta. Kể cả trong trường hợp giả định rằng sự hiện hữu của Thiên Chúa có thể trở thành một “tri thức” thì Mặc Khải và nội dung mặc khải dù thế nào chăng nữa vẫn ở dạng đối tượng của “đức tin” cho mỗi người chúng ta, một cái gì đó nó vượt qua thực tại mà sự hiểu biết của chúng ta có thể đạt tới. Do vậy, chúng ta không thể tin tưởng vào tri thức chuyên biệt của bất kỳ ai, cũng không tham khảo tri thức ấy, bởi lẽ không ai có thể biết trực tiếp những thực tại như thế vì bản thân đã học hỏi nghiên cứu chúng. Chúng ta lại gặp nhau lần nữa, vẫn theo cách mạnh mẽ nhất khi đối diện với vấn đề này: loại đức tin nào có thể hòa giải với kiến thức phê bình của thế giới hiện đại? Con người trưởng thành của thời đại chúng ta không lẽ lại kiềm chế bày tỏ quan điểm về vấn đề này và chờ đợi ngày nào đó khoa học sẽ đưa ra những câu trả lời cuối cùng cho các loại câu hỏi ấy? Cách xem xét vấn đề này chắc chắn hợp với ý thức thông dụng của các giáo chức đại học ngày nay: thật thà tri thức và khiêm tốn đối mặt với điều không biết thì có vẻ ưa thích thuyết bất khả tri hơn thuyết vô thần rõ ràng. Thật vậy, thái độ sau thì có tham vọng biết nhiều nên rõ ràng hàm chứa yếu tố giáo điều. Không ai có thể khẳng định là “biết”, hiểu theo nghĩa riêng, rằng Thiên Chúa không tồn tại. Cùng lắm người ta có thể làm việc trên giả thuyết rằng Ngài không tồn tại, và khởi đi từ đó họ có thể tìm cách giải thích vũ trụ. Về cơ bản, khoa học hiện đại nằm trong trường hợp này. Mặc cho điều đó, phương pháp tiếp cận như thế hẳn là nhận thức được giới hạn của khoa học. Dù sao thì người ta rõ ràng không thể vượt qua làn mức của các giả thuyết, mà nếu có thì giống việc giải thích vũ trụ theo cách vô thần. vì thế cách tiếp cận ấy sẽ không bao giờ đưa đến xác quyết khoa học rằng Thiên Chúa không tồn tại. Về mặt thực nghiệm thì không ai có thể thâu tóm toàn bộ hữu thể hay toàn bộ tình trạng của hữu thể. Ở điểm này chúng ta chỉ đơn giản chạm đến những giới hạn không thể vượt qua chúng thuộc về “thân phận con người”, thuộc về khả năng nhận thức của con người như thể điều đó không chỉ liên quan đến tình trạng hiện giờ của con người mà còn theo cách thiết yếu nữa. Tự bản chất, vấn đề Thượng Đế không để cho nỗ lực tìm kiếm của khoa học quy phục, hiểu sát nghĩa của từ. Theo nghĩa này, nói về “thuyết vô thần khoa học” là một sự khẳng định phi lý, kể cả hôm qua cũng như hôm nay hay ngày mai. Nhưng liệu vấn đề Thượng Đế không vượt qua những giới hạn khả năng của con người, như thể vấn đề ấy còn cấp bách hơn, có phải là vấn đề tri thức hay không, và người ta đi đến việc tự hỏi, trong những điều kiện này, biết đâu thuyết bất khả tri lại không bày tỏ thái độ đúng đắn duy nhất dành cho con người: ý thức, để thật lòng với bản thân, đầy “lòng mến”, hiểu theo nghĩa sâu xa của từ ngữ, đầy những điều vượt qua tầm hiểu biết và tầm nhìn của chúng ta, tôn trọng những gì chúng ta không thể đạt tới được. Đây chẳng phải là hình thức mới của lòng yêu mến tri thức, nghĩa là để qua một bên điều gì nằm ngoài tầm ngắm của chúng ta và hài lòng với điều hợp với chúng ta đó ư? Ai muốn trả lời câu hỏi này bằng niềm tin đích thực thì phải đề phòng khỏi mọi sự khinh suất xảy đến. Thật vậy, đứng trước loại khiêm tốn và lòng mến này, tức khắc cần đưa ra một lời bác bẻ: niềm khát khao sự vô biên nó cơ bản thuộc về bản tính con người thì chẳng lẽ không thật sao, rồi bản chất của con người cũng không thật nữa? Những giới hạn của con người chỉ có thể là vô hạn còn những giới hạn của khoa học thì không được lẫn lộn với những giới hạn của cuộc sống chúng ta như nó là. Điều đó có lẽ chứng tỏ sự thiếu hiểu biết về khoa học cũng như về con người. Nếu khoa học mạo muội khẳng định nghiên cứu tường tận những giới hạn hiểu biết của con người thì nó sẽ tự phủ nhận chính đặc tính khoa học của nó. Tôi thấy điều đó dường như đúng, nhưng như tôi đã nói, vẫn còn sớm để đưa ra câu trả lời. Chúng ta lẽ ra phải kiên nhẫn thẩm định những giả thiết của thuyết bất khả tri để xem chúng có chính đáng không, lẽ ra phải hiểu xem thái độ này có thể tiết lộ một câu trả lời chắc chắn không chỉ cho khoa học mà còn cho đời sống con người hay không. Thật ra lý do mà thuyết bất khả tri đặt ra là tự hỏi liệu cương lĩnh của nó có thể thực hiện được hay không. Còn chúng ta là những con người, chúng ta có thể đơn thuần đặt qua một bên vấn đề Thiên Chúa, nghĩa là vấn đề nguồn gốc của chúng ta, định mệnh chung cuộc của chúng ta, và giới hạn con người của chúng ta? Liệu chúng ta có thể bằng lòng sống “như thể Thiên Chúa không tồn tại” trong khi Ngài có lẽ hiện hữu thật sự? Đối với con người, vấn đề Thượng Đế không phải là vấn đề thuần túy thần học, chẳng hạn như vấn đề muốn biết xem ngoài bảng các nguyên tố ra còn tồn tại những nguyên tố nào khác chưa được biết đến cho tới lúc này hay không. Trái lại, vấn đề Thượng Đế là một vấn đề hết sức thực tiễn, vấn đề ấy có những hậu quả trong mọi lĩnh vực đời sống của chúng ta. Ngay cả khi tôi tán đồng thuyết bất khả tri nhưng thực tế tôi buộc phải chọn một trong hai điều: hoặc sống như thể Thiên Chúa không tồn tại, hoặc sống như thể Ngài tồn tại và Ngài là thực tại quyết định của đời tôi. Nếu tôi hành động theo chọn lựa thứ nhất thì trên thực tế tôi chọn nhận vị trí vô thần và tôi làm cho một giả thiết, nó có thể sai, trở thành nền tảng đời sống của tôi. Nếu tôi quyết định theo chọn lựa thứ hai thì tôi ở trong ảnh hưởng của một niềm tin thuần túy chủ thể và người ta vì lẽ này có thể nghĩ đến Pascal, ở buổi đầu của thời hiện đại, ông có cuộc tranh luận triết học xoay quanh vấn đề này. Khi đạt đến niềm tin rằng vấn đề ấy trong thực tế không thể được giải quyết bằng tư tưởng, ông khuyên phái bất khả tri hãy liều chấp nhận chọn lựa thứ hai và hãy sống như thể Thiên Chúa tồn tại. Chỉ có trải qua kinh nghiệm – như ông đã nói – mà phái bất khả tri mới nhận ra sự chọn lựa đúng đắn của họ ở một thời điểm nào đó xảy đến. Chúng ta hãy để điểm này qua một bên vì uy thế mà giải pháp bất khả tri thừa hưởng rõ ràng là không đủ sức chịu một sự xem xét sâu xa hơn. Vì thuần túy là lý thuyết nên giải pháp này có vẻ cực kỳ sáng tỏ, nhưng tự bản chất, thuyết bất khả tri còn hơn là một lý thuyết: đó là thói quen sống. Khi người ta thử “đem ra thực hành” thuyết bất khả tri trong phạm vi hoạt động thực sự của nó thì thuyết ấy tuột khỏi tay chúng ta như cục xà phòng vậy; nó tự tan biến vì nó không thể thoát khỏi sự lựa chọn mà nó thực sự muốn tránh. Đối diện với vấn đề Thượng Đế, con người không có thời gian chần chừ. Con người chỉ có thể nói có hoặc không, chứ không bao giờ tránh khỏi những hệ lụy chúng phát sinh từ vấn đề này, ngay cả trong những chi tiết nhỏ nhặt của cuộc sống. Chúng ta cũng nhận thấy rằng vấn đề Thượng Đế là điều không thể tránh khỏi, rằng vấn đề ấy không chấp nhận thái độ đứng ngoài cuộc. Nhưng dĩ nhiên (mà làm thế nào con người có thể trở nên khác được?) những điều kiện hiểu biết của con người thuộc loại đặc biệt. Trong vấn đề như thế thì không phải là phân tích những mẩu thực tại riêng biệt mà chúng ta, một mặt nào đó, có thể chạm bằng tay, kiểm chứng qua kinh nghiệm và chế ngự chúng. Câu hỏi không liên quan đến những gì ở dưới chúng ta nhưng đến những gì ở trên chúng ta: câu hỏi ấy không nhìn vào những gì chúng ta có thể thống trị nhưng nhìn đến những gì đang áp đặt sức mạnh của chúng trên chúng ta và toàn bộ thực tại. Nếu đối diện với một cá nhân khác mà tôi không có khả năng đi sâu vào tìm hiểu tính cách cũng như tinh thần mở rộng của kẻ ấy, cũng giống như cách tôi xem xét một mẩu vật hay bất kỳ một bộ phận hữu cơ nào đó, thì theo cách này, tôi có lẽ còn lâu mới có khả năng tiếp cận nền tảng của vũ trụ. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là chúng ta tự đặt mình vào lãnh vực phi lý. Trái lại, điều chúng ta tìm kiếm chính là nền tảng của lý tính, là cách thu nhận ánh sáng của lý tính. Nếu ta muốn giải thích điểm này chi tiết hơn thì điều này vượt ra ngoài giới hạn của buổi hội thảo. Nhưng có cái gì đó căn bản mà tôi thấy rõ ràng: nơi nào có cái toàn thể và nền tảng của nó thì con người nỗ lực tìm hiểu cũng không thể tránh khỏi việc cần đến toàn bộ hữu thể của mình, cùng với năng lực nhận thức dành cho mình. Việc tìm kiếm kiến thức của con người nhất thiết phải hướng đến việc tìm cách gặt hái không chỉ nhiều chi tiết, nhưng trong khuôn khổ có thể, còn phải gặt hái cái toàn thể như nó là. Chúng ta cũng có thể khẳng định rằng có một số thái độ căn bản của con người, chẳng hạn như những giả thiết làm việc để nhận biết Thiên Chúa, thì được xem là đáng kể. Trong những thái độ ấy, chúng ta đề cập đến thái độ lắng nghe thông điệp phát xuất từ cuộc sống của chúng ta và từ thế giới nói chung; thái độ cảnh giác đối với những phát minh khám phá và kinh nghiệm tôn giáo của nhân loại; thái độ cam kết và kiên trì dấn thân, dành thời gian và sức lực nội tại của chúng ta để đương đầu với vấn đề nó liên quan đến mỗi người chúng ta ở ngôi thứ nhất.

III. Hiểu biết tự nhiên về Thiên Chúa

Bây giờ chúng ta tự hỏi liệu con người thực sự có câu trả lời nào cho câu hỏi như thế. Và chúng ta chắn chắn tới mức độ nào trong sự quả quyết đó.

Trong “Thư gửi tín hữu Rôma”, tông đồ Phaolô gặp chính xác vấn nạn này; ngài trả lời vấn nạn ấy bằng tư duy triết học nó dựa trên các sự kiện đến từ lịch sử các tôn giáo. Nơi thành đô Rôma, mệnh danh là Babylone của thời đại, ngài đụng phải tình trạng suy đồi đạo đức nó nảy sinh từ sự đánh mất hoàn toàn truyền thống: người ta bị tước đi cái điều hiển nhiên thuộc đời sống nội tâm mà ngay từ thưở ban đầu nó đã được ban tặng cho con người thông qua phong tục tập quán. Không còn gì ở trong tôi nữa, mọi thứ đều có thể, từ nay trở đi không gì là không thể. Không còn giá trị nào đủ sức nâng đỡ con người, cũng không có chuẩn mực nào là bất khả xâm phạm. Những giá trị chuẩn mực duy nhất được tính đến là cái tôi và giây phút hiện tại. Các tôn giáo truyền thống chỉ là những mặt nạ không có chiều sâu. Chỉ còn lại thái độ vô liêm sỉ trắng trợn và sống sượng. Vị tông đồ đưa ra lời giải đáp thật ngạc nhiên cho thái độ vô liêm sỉ thuộc siêu hình học và đạo đức của một xã hội thối nát nó bị thống trị cách độc đoán bởi luật của kẻ mạnh. Ngài tuyên bố rằng thực tế thì xã hội đó biết Thiên Chúa rất rõ: “Những gì người ta có thể biết về Thiên Chúa thì hiển nhiên đối với họ” (Rm 1,19). Và ngài chứng thực lời khẳng định này khi nói: “Thật vậy, từ khi tạo dựng thế giới, những gì toàn bích không thể thấy được nơi Thiên Chúa, tức quyền năng vĩnh cửu và thần tính của Ngài, thì trí khôn có thể thấy được qua những công trình của Ngài” (Rm 1,20). Sau đó Phaolô rút ra kết luận: “Họ không thể tự bào chữa được” (Rm 1,21). Theo ngài, họ có thể đạt đến chân lý nhưng họ lại không muốn, bởi vì họ chối bỏ những đòi hỏi mà chân lý dành cho họ. Vị tông đồ sử dụng lối diễn đạt này: “Họ lấy sự bất chính mà giam hãm chân lý” (Rm 1,18). Con người kháng cự lại chân lý, còn chân lý thì đòi hỏi con người phải phục tùng khi tôn vinh và cảm tạ Thiên Chúa (Rm 1,21). Theo Phaolô, sự suy đồi đạo đức của xã hội chỉ là hậu quả tất yếu và phản ánh đúng đắn tình trạng biến chất tự căn. Khi con người đặt thói ích kỷ, kiêu ngạo và tiện nghi của bản thân lên trên yêu sách đòi hỏi của chân lý thì mọi thứ xáo trộn là kết cục bình thường. Người ta không còn tôn thờ Thiên Chúa, Đấng duy nhất mà người ta phải thờ lạy. Những hình ảnh, vẻ bề ngoài, quan niệm thịnh hành thì được ưu tiên hơn con người. Sự thay đổi chung này lan rộng khắp các lãnh vực của cuộc sống. Điều phản lại tự nhiên thì trở thành chuẩn mực; con người sống nghịch lại chân lý thì cũng sống nghịch với tự nhiên. Sự sáng tạo của con người không còn dùng để phục vụ cái thiện nữa nhưng lại trở thành trò mánh khóe tinh ranh của cái ác. Mối liên kết giữa người nam và người nữ, giữa cha mẹ và con cái bị tan rã và làm nghẽn các nguồn mạch sự sống. Sự sống không còn ngự trị nữa nhưng là sự chết. Một nền văn minh sự chết hình thành (Rm 1,21-32). Phaolô đã mô tả sự suy đồi nó làm cho chúng ta, những độc giả thời nay, hết sức ngạc nhiên bởi tính thời sự của nó.

Tuy vậy, ngài không bằng lòng với việc mô tả những điều này, như người ta vẫn có thói quen làm vào thời ấy: hình thức sai lầm của chủ nghĩa duy đạo đức, trong khi nó chỉ mới đưa ra thử nghiệm, cuối cùng phải tự thỏa trong ảo tưởng. Trái lại, phân tích của vị tông đồ đưa đến một sự chẩn đoán rồi chuyển hóa thành lời mời gọi đạo đức: gốc rễ của mọi điều đó, ta gặp thấy sự phủ định chân lý nơi tiện ích hay lợi lộc. Ngay thưở ban đầu, con người đã có sự chống cự lại điều hiển nhiên này, đó là Đấng Tạo Hóa hiện diện trong tâm hồn hắn như Đấng đang ngắm nhìn và yêu thương hắn. Đối với vị tông đồ Phaolô, thuyết vô thần hay kể cả thuyết bất khả tri, trên thực tế giống như thuyết vô thần, không hoàn toàn vô can. Theo ngài, thế vô can ấy luôn phát xuất từ sự chối bỏ tri thức nó được ban tặng cho con người nhưng con người lại không chấp nhận những điều kiện của nó. Con người không bị kết án ở lại trong sự bất chắc đối với Thiên Chúa. Hắn có khả năng “thấy” Ngài nếu hắn sẵn sàng lắng nghe tiếng nói từ Hữu Thể của Ngài, tiếng nói từ công trình sáng tạo của Ngài, đồng thời sẵn sàng để cho tiếng nói ấy chỉ đường dẫn lối. Phaolô không hề biết đến trường hợp vô thần thuần túy duy tâm.

Trả lời gì đây cho điều này? Ở đây, vị tông đồ vận dụng rõ ràng thế đối nghịch giữa triết học và tôn giáo chúng đã có mặt ở thời Cổ Đại. Triết học Hy Lạp đã đạt đến sự hiểu biết về cái nền tảng duy nhất của vũ trụ, tức Thần Khí, Đấng duy nhất xứng đáng với danh xưng Thượng Đế, kể cả khi về mặt chi tiết thì vẫn chưa đầy đủ và mâu thuẫn. Nhưng cái đà nó nâng đỡ triết học này trong việc phê bình tôn giáo lại nguội đi nhanh chóng, nên mặc dù đây là đặc điểm thiết yếu nhưng triết học Hy Lạp vào thời đó dần dần được sử dụng để biện minh cho việc thờ cúng các thần và tôn thờ sức mạnh của Nhà Nước. “Chân lý” bị “giam giữ” đã trở thành một sự việc hiển nhiên. Theo nghĩa này, chẩn đoán của Phaolô là hoàn toàn có cơ sở, nếu nhìn vào tình hình lịch sử mà ngài phải đương đầu.

Nhưng phải chăng vì thế mà chúng ta có thể nói rằng sự xác quyết của ngài có một giá trị nó vượt qua sự ấn định của bối cảnh lịch sử? Dĩ nhiên cần thiết phải thay đổi những chi tiết. Dẫu thế, đối với điều gì là thiết yếu thì sự xác quyết ấy không mô tả một thời điểm nào đó của lịch sử mà mô tả tình trạng thường trực của nhân loại, của con người đối diện với Thiên Chúa. Lịch sử tôn giáo gắn kết với lịch sử nhân loại. Chúng ta biết rằng chưa bao giờ có thời nào mà vấn đề Đấng Khác Hoàn Toàn, vấn đề Thượng Đế lại xa lạ với con người. Đã từng có sự hiểu biết về Thiên Chúa. Trong lịch sử tôn giáo, chúng ta gặp thấy khắp nơi, dưới những hình thức khác nhau, mối xung đột có ý nghĩa giữa sự hiểu biết về Thiên Chúa duy nhất và sự thu hút do các thế lực khác thực hiện, những thế lực đối với con người được xem như nguy hiểm hơn, gần gũi hơn và quan trọng hơn một Thiên Chúa ở xa và bí ẩn. Toàn bộ lịch sử được đánh dấu bởi tình trạng tiến thoái lưỡng nan lạ lùng này, giữa một bên là đòi hỏi nhẹ nhàng và phi bạo lực của chân lý với bên kia là áp lực lợi lộc, là nhu cầu sống gắn bó với các thế lực chúng ghi dấu ấn lên cuộc sống hằng ngày. Và người ta luôn dự phần vào chiến thắng của lợi ích trước chân lý, mặc dù vết tích của chân lý và vết tích của sức mạnh chân lý không bao giờ biến mất hoàn toàn nhưng vẫn tiếp tục sống trong môi trường rừng rậm đầy rẫy cây cỏ độc, dưới những hình thức gây sửng sốt.

Điều đó ngày nay có còn giá trị trong một nền văn hóa hoàn toàn phi tôn giáo, trong một nền văn hóa của lý tính và quản lý kỹ thuật? Tôi nghĩ là có. Ngày nay con người chắc chắn vẫn còn đòi hỏi phải vượt qua phạm vi lý lẽ chuyên môn. Ngày nay chúng ta vẫn chưa hài lòng với câu hỏi: “Tôi có thể làm gì?” nhưng chúng ta cũng tự hỏi: “Tôi phải làm gì và tôi là ai?”. Rõ ràng vẫn còn đó những hệ thống vũ trụ luận tiến hóa chúng đưa sự không tồn tại của Thiên Chúa lên hàng lý lẽ hiển nhiên và quả quyết chứng minh rằng chân lý vững chắc là không có Thượng Đế. Nhưng loại lý thuyết tri thức mang tính tổng quát này đúng là phản bội lại, ở nhiều điểm quan trọng, phương pháp luận của nó. Những lỗ hổng lớn kiến thức của chúng ta được lấp đầy bởi một loạt những màn sân khấu huyền thoại để rồi dựa vào đó lý tính khẳng quyết là không thể đánh lừa ai. Tính hợp lý của vũ trụ nó không thể được giải thích cách có lý trên những căn cứ của tính phi lý lại là một việc hiển nhiên. Bởi đó, Lời (Logos) vốn là gốc rễ của mọi thứ còn lại, hơn bao giờ hết lại là giả thiết tốt hơn, mặc dù giả thiết ấy đòi hỏi chúng ta từ bỏ vị trí thống lĩnh và thử chấp nhận thái độ khiêm tốn lắng nghe. Người ta chỉ có thể nói rằng chứng cứ không thể lay chuyển về Thiên Chúa đã bị loại bỏ khỏi thời đại của chúng ta, nhưng cần phải thừa nhận rằng chứng cứ hiển nhiên ấy hơn bao giờ hết đã bị bạo lực làm cho lu mờ, hơn cả quyền lực và lợi ích tác động lên chúng ta. Theo cách này, về mặt cơ bản thì tình trạng hiện nay được đặc trưng bởi những xung khắc giữa những khuynh hướng đối chọi chúng xuyên suốt toàn bộ lịch sử: một mặt, tâm hồn con người mở ra với Thiên Chúa, còn mặt khác, những nhu cầu và kinh nghiệm tức khắc lại lôi kéo mạnh mẽ. Con người bị giằng co giữa hai bên. Hắn không thể hoàn toàn gạt bỏ Thiên Chúa nhưng hắn cũng không có sức để đi trên con đường hướng về Ngài; hắn không thể một mình vứt bỏ chiếc cầu nối nó cho phép hắn thiết lập quan hệ gần gũi với vị Thiên Chúa này. Cùng với thánh Tôma, người ta có thể tiếp tục xác quyết rằng không tin là chống lại tự nhiên, nhưng đồng thời phải thêm rằng con người không thể nắm bắt hoàn toàn cảnh hoàng hôn kỳ lạ nó đè nặng lên câu hỏi về thực tại vĩnh cửu, và cũng phải thêm rằng Thiên Chúa chủ động đến gặp gỡ con người, chủ động hướng về con người để thiết lập mối quan hệ thật sự với con người.

IV. Đức tin “siêu nhiên” và nguồn gốc của Đức tin ấy

Nhưng làm thế nào điều đó có thể xảy đến? Trên thực tế, câu hỏi liên quan đến những xem xét ban đầu của chúng ta về cấu trúc đức tin. Thật vậy, câu trả lời là xác quyết rằng Lời Chúa đến với chúng ta qua trung gian những người đã nghe và tiếp xúc Lời ấy, qua những người đã có kinh nghiệm cụ thể về Thiên Chúa, những người trực tiếp biết Ngài – nếu ta có thể nói vậy. Để nắm bắt được điểm này, chúng ta cần phải suy nghĩ về cấu trúc tri thức-đức tin, điều mà chúng ta đã phác thảo ở trên. Chúng ta đã nói rằng một mặt đức tin có đặc tính của tri thức phụ thuộc, nhưng mặt khác đức tin lại mang yếu tố tin tưởng lẫn nhau mà nhờ đó tri thức của kẻ khác trở thành tri thức của tôi. Nhân tố tin tưởng này đồng thời cũng chứa đựng một yếu tố gọi là dự phần: đó là tôi dự phần vào tri thức của kẻ khác qua việc tôi tin tưởng kẻ ấy. Có thể nói là khía cạnh xã hội của hiện tượng đức tin nằm ở chỗ đó. Không ai biết hết mọi thứ, nhưng tất cả chúng ta hợp lại thì chúng ta biết điều gì cần phải biết; đức tin lập nên mạng lưới phụ thuộc lẫn nhau, đó cũng là mạng lưới người này liên đới với người kia, mỗi người vừa nâng đỡ vừa được đỡ nâng. Cấu trúc nhân học cơ bản này lại xuất hiện trong mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa. Cấu trúc ấy cũng tìm thấy nơi mối tương quan này hình thức nguyên sơ mà nó xem như tâm điểm hội tụ của nó.

Sự hiểu biết của chúng ta về Thiên Chúa cũng dựa trên mối tương hỗ này, tức dựa trên niềm xác tín nó chuyển thành hành động tham dự và sau đó nó tự kiểm chứng qua kinh nghiệm sống của mỗi người. Mối tương quan với Thiên Chúa cũng đồng thời và trước hết là mối tương quan với con người; mối tương quan ấy dựa trên sự hiệp thông giữa người với người. Ta có thể nói rằng sự thông truyền dành riêng cho mối tương quan với Thiên Chúa, cũng như thế đối với sự thông truyền của con người, thì cung cấp cho nó tiềm năng sâu xa nhất, đưa nó đi từ mức độ của những lợi lộc vì lợi lộc đến mức độ của những gì là nền tảng cho cá nhân.

Rõ ràng, để tôi có thể đón nhận tri thức của kẻ khác như là tri thức của tôi, tức tri thức được ban tặng cho tôi, và để tôi có thể kinh nghiệm sự thực tiễn của tri thức ấy trong đời sống cá nhân của tôi, thì tôi cần mở lòng mình ra với Thiên Chúa. Nếu trong tôi có một cơ quan đủ khả năng lãnh nhận, thì cũng chỉ có âm thanh của Vĩnh Cửu mới có thể vang vọng đến tôi qua trung gian của kẻ khác. Theo nghĩa này, sự hiểu biết về Thiên Chúa vốn đến với tôi qua những người khác thì mang tính riêng tư hơn so với sự hiểu biết mà tôi có chung với kỹ thuật gia hay chuyên gia. Sự hiểu biết về Thiên Chúa đòi hỏi sự cảnh tỉnh bên trong, đòi hỏi nội tâm, đòi hỏi mở lòng để tự mình ý thức, trong tĩnh tâm thinh lặng, rằng có một lối trực tiếp đến với Đấng Tạo Hóa. Điều đó vẫn đúng ngay cả khi Thiên Chúa không cởi mở với từng cá thể lẻ loi, kẻ không muốn bỏ bớt tính vị kỷ: mối tương quan với Thiên Chúa gắn liền với anh chị em của chúng ta.

Chính vì vậy, có một lối đi bất ngờ được mở ra. Điều chúng ta gọi là “đức tin tự nhiên”, nhờ đó chúng ta tin vào những kết quả mà chúng ta không thể tự kiểm chứng, đã tìm được chứng lý, như chúng ta đã nói, trong tri thức của những ai biết được vấn đề hay đã kiểm soát được vấn đề ấy. Đối với đương sự, dù giữ được đặc tính đức tin thì một đức tin như thế vẫn dựa vào viễn kiến của kẻ khác. Khi đề cập đến vấn đề tôn giáo ở trên, chúng ta nghĩ rằng đây đúng là nhân tố quyết định nó bỏ qua niềm tin siêu nhiên-tôn giáo (ít ra đây là ấn tượng ban đầu của chúng ta): không ai nhìn thấy mọi thứ như chúng là, thật ra có lẽ chỉ những ai tin mới thấy được, và đây dường như là điểm đã tạo nên vấn đề đức tin tôn giáo cho chúng ta. Bây giờ chúng ta buộc phải nói ngược lại rằng mọi thứ không diễn ra như thế. Trong đức tin siêu nhiên cũng vậy, số đông sống nhờ một nhóm nhỏ và nhóm này sống vì số đông. Cũng theo cách ấy, đối với những sự việc của Thiên Chúa, chúng ta không phải là những người mù đi lần mò trong đêm tối. Đây, có những người được lãnh nhận thị kiến: “Abraham…đã thấy Ngày của tôi và ông đã hớn hở vui mừng”, Đức Kitô nói điều này khi Ngài nhắc đến người cha của đại gia đình Israel (Ga 8,56). Đức Kitô ở trung tâm của lịch sử, như một bậc có thiên nhãn, nên mọi lời của Ngài tuôn trào từ sự Ngài tiếp xúc trực tiếp với Cha. Còn đối với chúng ta, lời liên quan đến chúng ta chính là lời này: “Ai thấy Thầy là thấy Cha” (Ga 14,9). Đức tin Kitô giáo tự bản chất là sự tham dự vào viễn kiến này của Đức Giêsu. Viễn kiến của Đức Giêsu là điểm quy chiếu đức tin của chúng ta, là điểm thả neo thiết thực.

V. Triển khai các vấn đề

Các tiền đề căn bản này kéo theo một loạt hệ quả mà tôi muốn triển khai đôi chút.

Thả neo đức tin nơi viễn kiến của Đức Giêsu và các thánh

Đức Giêsu, Người trực tiếp biết Thiên Chúa, thì thấy Thiên Chúa và vì lý do này, Người là Đấng Trung Gian đích thực giữa Thiên Chúa và con người. Cái nhìn nhân loại của Người về thực tại Thiên Chúa là nguồn ánh sáng cho tất cả chúng ta. Tuy nhiên, ta không nên nhìn Đức Giêsu cách biệt lập và đặt Người ở một quá khứ lịch sử xa xôi. Chúng ta đã nói về Abraham, giờ đây chúng ta bổ sung thêm rằng ánh sáng Đức Giêsu phản chiếu nơi các thánh và qua các ngài mà lan tỏa khắp nơi. Nhưng các “thánh” không chỉ là những người đã được tôn phong. Còn có các thánh vô danh nữa, các ngài lãnh nhận ánh sáng vinh quang của Đức Giêsu qua sự hiệp nhất với Người, đồng thời các ngài sống nghiệm Thiên Chúa cách cụ thể, thiết thực.

Để định rõ điều này, có lẽ chúng ta phải dùng lại lối diễn đạt bí nhiệm mà Cựu Ước đã sử dụng khi thuật lại câu chuyện Môisen: ngay cả khi các thánh họ không thể nhìn thấy Thiên Chúa mặt đối mặt, thì dẫu vậy họ nhìn thấy Ngài, ít ra họ thấy Ngài “đằng lưng” (Xh 33,23). Giống như khuôn mặt của Môisen rạng ngời sau khi gặp Thiên Chúa, ánh sáng Đức Giêsu cũng chiếu tỏa theo cách ấy qua đời sống của những con người này. Thánh Thomas d’Aquin (Tôma) đã khởi đi từ ghi nhận này để chỉ cho thấy đặc tính khoa học của thần học. Cần lưu ý rằng (theo Aristote) các ngành khoa học đều tương quan với nhau trong một hệ thống lý giải và đều phụ thuộc nhau. Không có ngành khoa học nào chứng minh hay phản chiếu cái toàn thể; mỗi ngành khoa học, cách này hay cách khác, luôn có những chứng thực mà ngay lúc đầu đã mượn từ một ngành khoa học khác. Theo Aristote, chỉ có một khoa học là thấu tới nền tảng sự thật của toàn bộ kiến thức con người: ông gọi khoa học đó là “triết học đệ nhất” cũng vì lý do này. Mọi thứ khoa học khác ít nhiều đều giả định sẵn suy tư căn bản này nên chúng là những khoa học đệ thứ được xây dựng trên một hay nhiều ngành khoa học khác.

Thánh Tôma đã đưa lối giải thích thần học của ngài vào lý thuyết tổng quát về khoa học. Thánh nhân cho rằng thần học, theo nghĩa này, cũng là một môn “khoa học đệ thứ” nó không “thấy” cũng “không chứng minh” được nền tảng tối hậu của nó. Nói như vậy có nghĩa là thần học bám vào “khoa học của các thánh”, tức bám vào cái nhìn của các ngài: cái nhìn này là điểm quy chiếu của tư tưởng thần học, và điểm quy chiếu ấy bảo đảm cho tư tưởng thần học có được tính chính thống.

Theo đánh giá này, công việc của thần học gia là “thứ yếu”, tức là gắn bó với kinh nghiệm sống động của các thánh. Không có điểm quy chiếu này, không bám sâu vào kinh nghiệm ấy, công việc của nhà thần học không còn đặc điểm thực tế nữa. Ở điểm này nhà thần học cần xin ơn khiêm tốn… nếu không có tính thực tiễn của các thánh, nếu không có sự tiếp xúc của các ngài với thực tại liên quan thì thần học trở thành trò chơi trí tuệ trống rỗng và mất luôn cả đặc tính khoa học của nó nữa.

Kiểm chứng đức tin trong đời sống

Khi chúng ta tin vào viễn kiến của Đức Giêsu và đặt niềm tin vào Người thì chúng ta không hoàn toàn ở trong tối tăm. Tin Mừng của Đức Giêsu hợp với nỗi niềm chờ mong của cõi lòng chúng ta; Tin Mừng ấy ứng với thứ ánh sáng bên trong con người chúng ta, thứ ánh sáng nó hướng về chân lý của Thiên Chúa. Dĩ nhiên, trước tiên chúng ta là những kẻ tin “gián tiếp”. Nhưng thánh Tôma có lý khi mô tả đức tin như một tiến trình, như một con đường nội tâm: “ánh sáng đức tin dẫn đến viễn kiến”. Tin Mừng theo thánh Gioan nhiều lần lưu ý chúng ta đến tiến trình này, chẳng hạn trong chương nói về người phụ nữa Samari. Người phụ nữ kể về những gì đã xảy đến với bà khi bà gặp Đức Giêsu, làm thế nào bà đã nhận biết Người là Đấng Cứu Thế – Đấng mở ra cho bà đường lối của Thiên Chúa và dẫn bà đến sự nhận biết Ngài như là nguồn sống. Chính vì người phụ nữ này đã nói điều đó mà những người Samari ở lại lắng nghe Đức Giêsu; họ tin Người “vì người phụ nữ”; họ tin qua trung gian. Nhưng họ cũng mời Đức Giêsu lưu lại nhà họ để họ trò chuyện với Người. Cuối cùng họ có thể nói với người phụ nữ: không phải vì những lời chị nói mà chúng tôi tin, nhưng vì chính chúng tôi biết rằng Người thật là Đấng Cứu Độ trần gian (Ga 4,42). Qua cuộc gặp gỡ sống động, đức tin đã trở thành nhận biết, thành “tri thức”.

Thật là lầm lẫn nếu ta diễn tả con đường đức tin như một tiến trình phát triển không có gì trở ngai. Vì lộ trình ấy gắn liền với cuộc đời ta, có khi thăng có lúc trầm, nên ta luôn có những bước lùi; những bước lùi ấy là dịp để chúng ta làm lại cuộc khởi hành mới. Mỗi độ tuổi sống cần có sự chín chắn riêng, nếu không sẽ lại rơi về tình trạng thiếu chín chắn. Dù sao chăng nữa, ta có thể nói rằng đời sống đức tin làm gia tăng độ chín chắn đức tin rõ hơn: thực tế của đức tin chạm đến chúng ta và kinh nghiệm sống đức tin thành công đảm bảo cho chúng ta rằng Đức Giêsu đích thực là Đấng Cứu Độ trần gian. Ở điểm này, khía cạnh thứ hai mà chúng ta vừa nêu ra thì gắn liền với khía cạnh thứ nhất: trong Tân Ước, thuật ngữ “các thánh” ám chỉ toàn bộ người Kitô hữu. Những Kitô hữu này không có các phẩm chất mà ta đòi hỏi từ một vị được phong thánh. Nhưng theo cách này, khi chỉ rõ các Kitô hữu, ta diễn tả sự kiện rằng tất cả họ được gọi để trở nên, bằng chính kinh nghiệm của họ về Chúa Phục Sinh, điểm quy chiếu cho những người khác và làm cho họ tiếp cận được viễn kiến mà Đức Giêsu có từ Thiên Chúa hằng sống. Điều này ngày hôm nay vẫn còn giá trị: người tín hữu nào để cho đức tin của Giáo Hội hướng dẫn và đào tạo thì, mặc cho những khó khăn hay yếu đuối, người ấy có lẽ là khung cửa sổ mở toang đón nhận ánh sáng của Thiên Chúa hằng sống, và nếu người ấy tin thật sự thì chắc chắn người ấy trở nên ánh sáng. Người tín hữu lẽ ra phải là sức mạnh đối chọi lại các thế lực giam cầm sự thật, đập bỏ bức tường thành kiến nó ngăn không cho thấy Thiên Chúa. Theo cách bình thường nào đấy thì dức tin của những người tân tòng lúc đầu cần phải dựa vào người tín hữu. Như người phụ nữ Samari đã trở thành lời mời gọi đi theo Đức Kitô, đức tin của người tín hữu cũng theo cách ấy mà trở nên điểm quy chiếu cần thiết cho cuộc tìm kiếm Thiên Chúa trong một thế giới thù địch với Ngài.

Cái “tôi”, cái “bạn”, cái “chúng ta” của đức tin

Sự can thiệp gián tiếp của Đức Giêsu cũng như của các thánh cuối cùng tựu trung ở điểm thứ ba. Hành vi đức tin là hành vi hoàn toàn cá nhân, nó bám rễ nơi sâu thẳm nhất của con người tôi. Nhưng chính vì hành vi ấy khởi đi từ cá nhân nên đồng thời nó là hành vi “thông truyền”. Cái “tôi” tự bản chất sâu xa luôn gắn liền với cái “bạn” và ngược lại: mối tương quan đích thực nó trở thành “thông truyền” thì chỉ có thể sinh ra từ những chiều sâu nội tâm của cá nhân. Chúng ta đã nói rằng tin là dự phần vào viễn kiến của Đức Giêsu, là phó thác vào Đức Giêsu; thánh Gioan tựa vào vai Đức Giêsu là biểu tượng của những gì đức tin diễn tả. Tin là đi vào mối tương giao với Đức Giêsu và tin cũng là tự giải phóng khỏi sự lùi bước trước chân lý, tức giải phóng cái tôi khỏi chính sự co cụm của nó và làm cho tôi đáp lại tiếng Cha, đáp lại lời xin vâng yêu thương, đáp lại lời xin vâng nói về con người chúng ta, đáp lại Đấng xin vâng là Đấng cứu chuộc chúng ta và là Đấng đã chiến thắng “thế gian”.

Đức tin tự bản chất sâu xa nhất là cách thế “ở với”, là cách thế từ bỏ tình trạng khép kín của cái tôi, tình trạng khép kín cũng là căn bệnh của đức tin. Hành vi đức tin là mở ra tới chân trời xa thẳm, loại bỏ rào cản của tính chủ quan, điều mà thánh Phaolô mô tả: “không còn là tôi sống nữa, chính Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).

Cái tôi bị phá bỏ sẽ được tìm thấy trong một cái tôi lớn hơn, mới mẻ hơn. Thánh Phaolô đã mô tả tiến trình này như “một sự hồi sinh”, đó là tiến trình cái tôi thứ nhất bị phá hủy để rồi lại tỉnh giấc trong một cái tôi lớn hơn. Trong cái tôi mới này, trong cái tôi mà tôi được dìm sâu bởi sức giải phóng của đức tin, tôi không chỉ khám phá mình được kết hiệp với Đức Giêsu nhưng cũng còn kết hiệp với tất cả những ai đã đi trên cùng một con đường. Nói cách khác, đức tin là hành động của Giáo Hội. Đức tin sống và phát triển trong cái “chúng ta” của Giáo Hội, bởi vì đức tin làm cho chúng ta trở thành một điều gì đó duy nhất với cái Tôi-hiệp-thông của Đức Giêsu Kitô. Bức tường dựng lên ngăn cách tôi với tha nhân, bức tường tách biệt cái nhìn chủ quan của tôi với thế giới bên ngoài và làm cho cả hai không thể gần gũi, bức tường giữa tôi và chiều sâu của hữu thể, bức tường ấy bị sụp đổ trong chủ thể mới này.Trong chủ thể mới ấy, tôi là người cùng thời của Đức Giêsu và tất cả những kinh nghiệm của Giáo Hội cũng thuộc về tôi, những kinh nghiệm đó trở thành kinh nghiệm của riêng tôi.

Hiển nhiên sự tái sinh ấy không thể thực hiện trong tích tắc, nhưng nó kéo dài suốt chặng đường sống của tôi. Điều trọng yếu ở đây, đó là tôi không thể xây dựng đức tin cá nhân của tôi trong cuộc đối thoại riêng tư với Đức Giêsu. Đức tin hoặc sống trong cái “chúng ta”, hoặc không sống. Đức tin và sự sống, chân lý và sự sống, cái tôi và cái chúng ta thì không thể tách rời nhau. Đức tin lan tỏa cái luận lý, cái nét mặt của nó chỉ ở nơi người nào đó sống trong cái “chúng ta” của các tín hữu, trong cái “chúng ta” của Giáo Hội.

Tóm lại, vì chúng ta nhận thấy cái chúng ta ấy trong những vấn nạn của cuộc sống hằng ngày, trong mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa, nên chúng ta cũng không thể tìm ra con đường nào khác ngoài việc dự phần vào sự hiểu biết tha nhân. Trong tương quan giữa chúng ta với Thiên Chúa, những ai thấy Ngài, những ai sống kinh nghiệm ấy thì đều có mặt lúc này, nên vì đức tin của chúng ta, chúng ta có thể cậy dựa vào họ. Một cách nào đó, họ truyền cho chúng ta niềm xác tín của họ. Tuy nhiên, chúng ta là số đông nên chúng ta không phải không gặp trở ngại là mù lòa đối với Thiên Chúa. Khi chúng ta nương tựa vào những ai đã thấy, rồi dần dần chúng ta tiến về phía Ngài, thì nơi sâu thẳm lòng chúng ta sẽ bừng tỉnh ký ức Thiên Chúa, ký ức tiềm ẩn trong chúng ta, ký ức ghi dấu ấn trong tâm hồn mỗi người. Sống thân mật với Thiên Chúa luôn đem lại cho chúng ta cái nhìn: nếu chúng ta thực tập nhìn thì cái nhìn ấy sẽ trở nên lời chứng Chân Lý của Ngài cho chúng ta. Lời khuyên của Pascal dành cho người bạn theo thuyết bất khả tri thì chính xác, tuy mang dáng vẻ hoài nghi: bạn hãy bắt đầu bằng sự điên rồ của đức tin rồi sau đó bạn sẽ đạt được tri thức. Sự điên rồ này là khôn ngoan, là đường chân lý.

[Mục Lục]

LUẬT DÒNG CỦA THÁNH AUGUSTIN

I. 1. Đây là điều chúng tôi nhắn nhủ anh em tuân giữ trong tu viện.

2. Trước hết, trong tu viện, anh em hãy sống hiệp nhất, nghĩa là đồng tâm đồng lòng hướng về Thiên Chúa. Đó chẳng phải là lý do anh em quy tụ nhau sao?

3. Rồi tiếp đến, giữa anh em, đừng ai nghe nói về của cải riêng, nhưng ngược lại tất cả đều là của cải chung của anh em. Bề Cả của anh em có nhiệm vụ phân phát cho mỗi anh em các thứ để ăn và để mặc, không phải theo quy tắc bình quân, bởi vì các anh em có sức khỏe khác nhau, nhưng đúng hơn theo nhu cầu của từng người. Thật vậy, anh em đọc trong sách Tông Đồ Công Vụ thế này: “Họ có của chung” (4,32) và “Người ta phân phát cho mỗi người tùy theo nhu cầu bản thân họ” (4,35).

4. Ước gì những ai có của cải ở thế gian, thì kể từ lúc bước vào tu viện, họ sẵn sàng chấp nhận với cả tấm lòng rằng đó là của chung.

5. Đối với những anh em đã ở tu viện mà không có của cải thì ước gì tu viện không phải là nơi họ đi tìm những thứ họ đã không thể có ở ngoài đời. Dĩ nhiên không ai quên bù đắp sự thiếu thốn của họ bằng những an ủi thiết thực, ngay cả khi trước đây còn ở ngoài đời họ nghèo đến mức không có gì. Tuy vậy, hạnh phúc của họ không phải là tìm được của ăn chốn ở như những thứ mà ngoài đời họ có lẽ không thể tự chu cấp.

6. Ước gì họ cũng đừng ngẩng mặt vênh vang vì sống với những người mà lúc ở ngoài đời họ đã không dám đến gần. Ước gì họ nâng cao tâm hồn hơn để không theo đuổi những thứ phù phiếm của thế gian. Ước gì không xảy ra trường hợp các tu viện lợi dụng người giàu hơn người nghèo, nếu như trong tu viện người giàu trở nên khiêm tốn, còn người nghèo thì lại kiêu căng!

7. Nhưng mặt khác, ước gì những anh em giàu có này họ đã được kính trọng ở ngoài đời thì đừng coi thường ai đó trong số các anh em gia nhập vào cộng đoàn thánh mà xuất thân nghèo. Trái lại, ước gì họ cố gắng giành lấy thanh danh không phải từ vẻ hào nhoáng của một gia đình giàu có mà từ một tập thể các anh em sống trong nghèo khó. Ước gì họ đừng khoe khoang là họ đã mang đến một phần của cải để nuôi sống cộng đoàn. Nếu họ hiến tặng tài sản cho tu viện thì đó không phải để có được thứ kiêu căng lớn hơn thứ kiêu căng nó nảy sinh trong họ do hưởng thụ những tài sản này ở ngoài đời. Thật vậy, những khuyết điểm khác có mặt trong những hành động xấu là để cho những hành động ấy xảy ra, nhưng kiêu căng đe dọa những hành động tốt là để cho những hành động tốt ấy tàn lụi. Nếu tâm hồn nghèo khó khi coi khinh giàu có trở nên kiêu căng hơn tâm hồn chưa nghèo khó khi giàu có thì lợi ích gì khi phung phí đối với người nghèo, còn đối với bản thân lại trở nên nghèo khó?

8. Như thế, anh em hãy sống đồng tâm đồng lòng, người này tôn kính Thiên Chúa ngự trong người khác, vì tất cả anh em đã trở thành đền thờ của Ngài.

II.1. Anh em hãy siêng năng cầu nguyện theo giờ giấc hoặc thời gian ấn định.

2. Trong nhà nguyện, anh em hãy làm duy nhất việc dành cho nơi cầu nguyện và nơi ấy có ghi rõ tên. Như thế, nếu một số anh em có thời gian và ước muốn cầu nguyện ngoài giờ quy định thì họ sẽ không bị người khác quấy rầy khi người ấy nghĩ rằng lẽ ra họ phải làm việc khác.

3. Khi anh em cầu nguyện với Thiên Chúa bằng các thánh vịnh hay bằng các bản thánh ca thì ước gì anh em hãy sống trong lòng những gì miệng lưỡi anh em ca tụng.

4. Và anh em chỉ cần hát lời được ghi trong bản ca. Còn cái gì không thấy ghi để hát thì không cần phải hát.

III.1. Anh em hãy làm chủ thân xác trong khi ăn chay hoặc kiêng cữ các thức ăn thức uống tùy chừng mực sức khỏe cho phép. Có thể ai đó không sao giữ chay tới bữa tối: vậy thì người ấy hãy dùng bữa trưa, nhưng không ăn gì ngoài bữa ấy, trừ khi bị bệnh.

2. Từ đầu đến cuối bữa ăn, anh em cần nghe liên tục các bài đọc hằng ngày mà không phản đối, vì không chỉ miệng anh em nhận lãnh thức ăn nhưng còn tai anh em cũng thèm nghe Lời Chúa.

3. Có lẽ do điều kiện sống trước đây mà nhiều anh em có sức khỏe yếu kém; nếu chúng ta áp dụng chế độ ăn đặc biệt cho các anh em ấy thì đó không phải là điều khó chịu hay bất công đối với những anh em khác, họ nhờ có cách sống khác mà khỏe mạnh hơn. Những anh em khỏe mạnh này không nên nghĩ các anh em sức khỏe yếu được đối xử tốt nên hạnh phúc hơn mình; đúng ra, họ vui mừng vì họ khỏe mạnh hơn.

4. Những ai tìm đến tu viện sau một cuộc sống rất tao nhã thì họ có lẽ được cấp thức ăn, quần áo, mùng màn, chăn chiếu, những thứ mà chúng ta không cấp cho các anh em khỏe mạnh hơn và dĩ nhiên hạnh phúc hơn. Các anh em khỏe mạnh này chắc cũng nhận thấy rằng so với nhiều anh em khác, điều kiện sống của họ trong tu viện hiện giờ có khác xa điều kiện sống của họ trước đây ở ngoài đời, ngay cả khi họ chưa thể sống thanh bần như những anh em khác cũng có sức khỏe tốt. Không thể hết thảy anh em hễ thấy cấp thứ gì đó cho một vài anh em thì đều muốn những thứ ấy. Đây không phải là vấn đề ưu đãi nhưng là vấn đề bao dung. Như vậy, trong tu viện, chúng ta sẽ tránh được nghịch cảnh dễ gây hiềm khích rằng người giàu, với khả năng của họ, thì trở nên quảng đại ở ngay nơi người nghèo có lẽ làm khó tính.

5. Đối với các anh em ốm đau thì việc họ ăn ít một chút để không cảm thấy khó xử là đúng; nhưng lúc hết bệnh, họ vẫn cần được chăm sóc thích đáng để phục hồi sức khỏe cách nhanh chóng. Và điều này đúng không kém đối với những anh em khác, tức đối với những ai trước đây ở ngoài đời đã sống trong cảnh rất khốn khổ, như thể bệnh tình hiện giờ của họ đem đến cho họ thứ mà những người giàu đã quen hưởng lâu rồi. Nhưng khi các anh em ốm đau này bình phục thì họ lại quay về với thói quen rất hạnh phúc của họ: những thói quen ấy hợp với các tôi tớ của Thiên Chúa, những người bằng lòng với thứ ít ỏi. Và ước gì sau khi khỏe trở lại thì các anh em này không đòi hỏi như lúc họ bị bệnh. Họ thấy mình giàu có hơn các anh em khác, rồi những anh em khác này khi chịu đựng thiếu thốn thì tỏ ra mạnh mẽ hơn những anh em khác kia. Vì ít nhu cầu thì đáng giá hơn nhiều của cải.

IV.1. Thứ mà anh em đang mặc hẳn không làm cho anh em nổi bật, thế nên anh em đừng tìm kiếm vui thích qua trang phục mà qua những gì nơi tâm hồn anh em.

2. Khi ra ngoài thì anh em hãy đi chung, khi đến đâu thì anh em hãy ở lại chung chỗ ấy.

3. Dù anh em dạo bộ, dù anh em dừng nghỉ, bất kể cử động của anh em thế nào, thì anh em đừng làm điều gì nó có thể tạo cái nhìn thiếu thiện cảm về một chứng nhân, nhưng ước gì mọi cử chỉ đều xứng hợp với chức vị thánh của anh em.

4. Dĩ nhiên, anh em có thể bất chợt nhìn thấy một phụ nữ, nhưng không nên nhìn chăm chú một ai. Thật ra, người ta không cấm anh em nhìn phụ nữ trên đường, nhưng cấm anh em mê đắm họ, hay muốn được họ mê đắm, và đó là điều đáng trách. Vì chưng không chỉ có đụng chạm hay rung động con tim mới khơi dậy hoặc biểu lộ ước muốn của người phụ nữ mà còn cả cái nhìn nữa. Thế nên, nếu đôi mắt anh em vẩn đục thì anh em đừng nghĩ mình có quả tim trong sạch. Nếu không trao đổi ít lời thì người ta có thể dùng cái liếc mắt đưa tình để trao đổi với nhau những tình cảm thiếu trong trắng, rồi sau đó người ta có thể thỏa mãn những ước muốn xấu xa qua sự đam mê lẫn nhau. Vậy, ngay cả khi thân xác không bị tỳ ố thì khiết tịnh thật chính là khiết tịnh tâm hồn.

5. Ai chăm chú nhìn một người phụ nữ và cảm thấy thích thú được người phụ nữ ấy nhìn thì không thể nghĩ là không ai thấy mình làm điều đó. Dĩ nhiên anh ta sẽ bị để ý bởi những người mà anh ta không nghĩ họ biết mình. Nhưng giả sử chúng ta cho là tất cả đều được giấu kín và không người nào nhìn thấy điều đó, vậy anh ta sẽ nói sao về Đấng Quan Sát từ trời cao, Đấng biết mọi thứ được giấu kín? Hay anh ta sẽ phải nghĩ rằng Đấng ấy không thấy gì, Đấng ấy khôn ngoan biết tạm cho qua để nhắm đến điều Thiện Hảo? Người dâng mình cho Chúa cần phải sợ mất lòng Chúa; ước gì anh ta không mắc tội khi muốn làm vui lòng một người phụ nữ. Ước gì anh ta nghĩ rằng không có chi giấu được cái nhìn của Thiên Chúa; ước gì anh ta không mắc tội khi chăm chú nhìn một người phụ nữ. Trong tình huống này cũng vậy, chúng ta cần khắc sâu sự kính sợ Thiên Chúa bằng lời này: “Chúa ghét con mắt nào nhìn chòng chọc” (Cn 27,20, bản dịch Bảy Mươi).

6. Do đó, khi anh em tụ họp ở nhà thờ hay ở một nơi nào đó có nhiều phụ nữ thì anh em hãy giữ gìn đức khiết tịnh cho nhau. Thiên Chúa ngự trong mỗi anh em, nên theo cách này, Ngài cũng sẽ bảo vệ anh em qua chính mỗi anh em.

7. Và nếu anh em để ý thấy ai trong số anh em có cái nhìn bất nhã thì hãy cảnh báo người ấy ngay, tức không nên kéo dài thời gian, mà cần phải sửa tính xấu của anh ta từ lúc đầu.

8. Nhưng nếu sau khi cảnh cáo mà anh em thấy người anh em mình lại phạm lỗi này, có lẽ vào một ngày nào khác, thì kể từ lúc ấy chúng ta cần cho người anh em ấy biết là anh ta giống như một bệnh nhân cần được chữa trị; và bổn phận này có liên quan đến các anh em, không trừ một ai. Tuy nhiên, trước hết cần phải có hai hoặc ba anh em khác chú ý đến anh ta, để anh ta có thể bị bối rối vì hai hoặc ba anh em này làm chứng mà nghiêm túc quay về với bổn phận bản thân. Và anh em đừng nghĩ rằng tố giác lỗi phạm này là ác ý. Anh em chắc là không vô can hơn nếu như anh em có thể chỉ ra lỗi phạm cho người anh em mình sửa chữa nhưng lại im lặng để mặc người anh em ấy lún sâu tội lỗi. Vì nếu ai đó trong anh em khổ sở do vết thương trên thân thể nhưng lại muốn giấu bởi sợ phải chịu đựng sự chăm sóc, thì về phần anh em, chẳng lẽ anh em câm nín là không nhẫn tâm, còn anh em tố giác người anh em ấy là không thương xót? Trách nhiệm của mỗi anh em lớn bao nhiêu khi tố giác người anh em mình để tránh ung nhọt thối rữa tệ hại hơn: tâm hồn thối rữa?

9. Nhưng nếu người anh em ấy chối cãi, thì trước tiên nên nói cho các anh em nào có khả năng thuyết phục anh ta; nếu sau khi nghe khuyến cáo mà anh ta làm ngơ không chịu tu sửa thì cần phải trình báo cho Bề Cả. Có lẽ Bề Cả sẽ gặp trực tiếp anh ta để phê bình, làm thế là tránh cho các anh em khác biết chuyện của anh ta. Nhưng nếu anh ta cứ chối cãi thì cần phải nhờ những em anh khác làm chứng, tức những anh em mà anh ta không biết, để chống lại anh ta; lúc đó, chuyện của anh ta mọi người đều biết, anh ta không còn bị quy lỗi bởi một người làm chứng nữa, nhưng lỗi của anh ta sẽ được hai hoặc ba người chứng chỉ ra. Khi cảm thấy hổ thẹn, anh ta phải chấp nhận hình phạt dành cho bản thân để trở nên tốt hơn, đúng theo quyết định của Bề Cả hay vị linh mục có trách nhiệm với tất cả anh em. Nếu anh ta không chấp nhận tuân phục quyết định ấy nhưng lại không chịu ra khỏi cộng đoàn thì chúng ta buộc anh ta phải rời cộng đoàn. Làm thế là tốt chứ không phải khắt khe vì e rằng anh ta có thể tiêm nhiễm thói hư cho phần đông anh em.

10. Điều tôi vừa nói liên quan đến những cái nhìn không quyến luyến thì cần được áp dụng cách kỹ lưỡng và trung thành đối với các tội khác: đó là phải phát hiện tội lỗi, tránh xa tội lỗi, lên án tội lỗi, vạch rõ tội lỗi và trừng phạt tội lỗi, tất cả việc làm đó khởi nguồn từ tình yêu mỗi cá nhân, từ sự ghét bỏ tội lỗi.

11. Có ai đó trong số anh em đã đi đến mức nhận lén lút thư hay món quà nhỏ nào đó từ một người phụ nữ? Nếu anh ta tự nhận là của mình thì không cần phải khiển trách anh ta nhưng hãy cầu nguyện cho anh ta. Còn nếu anh ta ngạc nhiên và nếu lỗi phạm của anh ta được chứng thực thì anh ta phải nghiêm túc sửa mình sao cho hợp với quyết định của vị linh mục hay quyết định của Bề Cả.

V.1. Anh em hãy để quần áo trong cùng một tủ và tin tưởng giao phó cho một hoặc hai người quản lý chúng vì quần áo sẽ cần phải phủi dọn để tránh khỏi chấy rận. Cũng như người ta lấy thức ăn từ nhà bếp cho các anh em thế nào thì quần áo của anh em cũng được lấy ra từ cùng một tủ thế ấy. Nếu có thể thì anh em đừng bận tậm đến quần này áo nọ mà người ta lấy từ tủ ra để cho anh em mặc theo mùa. Điều quan trọng đối với anh em là mỗi người nhận được thứ quần áo mà anh em đã bỏ chung trong tủ hay nhận được một thứ khác mà một ai đó có lẽ đã mặc? Tuy kể từ đó ai cần thứ gì thì người ta đều cấp cho. Có điều chuyện này thể nào cũng làm nảy sinh giữa anh em những tiếng xì xầm, những xung khắc. Giả sử anh em nào than phiền vì đã nhận được loại quần áo kém chất lượng hơn so với thứ anh ta đã nhận trước đó, thì tự lòng anh ta cảm thấy không đáng mặc thứ quần áo mà có lẽ một anh em khác trước đó đã mặc. Ở đây, anh em hãy đánh giá xem bên trong con người anh em thiếu gì, vì điều đó chạm đến thói quen thánh thiện của tâm hồn anh em, rồi sau đó anh em hãy tranh cãi về chuyện trang phục cho thân xác anh em. Tuy nhiên, nếu người ta chấp nhận sự yếu đuối của anh em mà trả lại cho anh em những thứ anh em đã góp chung, thì anh em hãy để thứ mà anh em góp chung ấy ở một nơi thôi, đồng thời tin tưởng trao thứ ấy cho một số ai đó cùng giữ.

2. Tắt một lời: đừng có ai trong số anh em làm bất cứ điều gì vì lợi ích bản thân, nhưng anh em hãy thực hiện các việc của anh em vì ích chung; điều đó cộng với lòng hăng say nhiệt thành thì lớn hơn và bền vững hơn là nếu mỗi anh em quan tâm đến chuyện cá nhân và theo lợi ích riêng. Thật vậy, người ta nói về lòng bác ái thế này: “Bác ái thì không tìm lợi ích riêng” (1 Cr 13,5). Điều đó có nghĩa là bác ái đi từ lợi ích chung rồi sau đó mới tới lợi ích riêng, chứ không phải đi từ lợi ích riêng rồi đến lợi ích chung. Và vì lý do này mà anh em sẽ chắc chắn đạt được nhiều tiến bộ, đó là anh em sẽ chăm lo cho lợi ích chung hơn lợi ích riêng. Ước gì việc sử dụng thích đáng các thứ của cải chóng qua như vậy sẽ được chế ngự bởi lòng bác ái trường tồn.

3. Do đó, ngay cả khi người ta muốn mang thứ gì đó, quần áo hay thứ đồ đáng giá, cho con cái họ ở tu viện hay cho những ai họ có liên hệ gần gũi, thì quà tặng này không nên được nhận kín đáo. Tốt hơn nên đưa món quà ấy cho Bề Cả để Bề Cả đưa vào của chung hoặc để Bề Cả cấp món quà ấy cho anh em nào sẽ cần dùng.

4. Anh em hãy tự giặt quần áo của anh em hoặc hãy mang quần áo đến giặt ở chỗ thợ tẩy. Điều này cần được thực hiện theo quy định sắp xếp mà Bề Cả đặt ra để tránh việc anh em làm bẩn tâm hồn bằng ước muốn quá mức là sạch bề ngoài.

5. Liên quan đến nhà tắm chung: nếu sức khỏe của anh em nào đó buộc anh ta đi nhà tắm chung thì anh ta không nên tránh đến nơi ấy, trái lại anh ta đến đó theo hướng dẫn y học chứ không phản đối. Ngay cả khi anh ta không hài lòng nhưng theo lệnh của Bề Cả, anh ta vẫn phải thực hiện việc cần thiết cho sức khỏe bản thân. Ngược lại, nếu anh ta mong muốn điều ấy, mà có lẽ điều đó không ích lợi gì, thì anh ta không nên chiều theo ước muốn bản thân. Thật vậy, kể cả khi không có gì là tốt nhưng chúng ta tin rằng cái gì dễ chịu thì sẽ làm thoải mái.

6. Tóm lại, nếu người tôi tớ của Thiên Chúa cảm thấy đau nhức trong cơ thể và biểu lộ ra cơn đau mình phải chịu thì chúng ta tin lời anh ta nói. Tuy nhiên, nếu chúng ta không chắc chắn rằng thứ làm cho người tôi tớ ấy dễ chịu là thứ có công hiệu chữa trị cơn đau thì chúng ta cần phải tham vấn bác sĩ.

7. Nếu đi đến nhà tắm chung hoặc tới nơi nào đó cần thiết thì không nên đi dưới hai hay ba người. Ai cần đi dạo thì không nên ra ngoài với những anh em mà tự họ chọn, nhưng với những anh em mà Bề Cả chỉ định.

8. Việc chăm sóc các anh em bị bệnh, các anh em đang hồi phục hay các anh em tuy không cảm cúm nhưng mệt mỏi xuống sức, thì cần được giao phó cho một ai đó trong số anh em. Chính người ấy sẽ xem coi thứ gì cần thiết cho anh em này cũng như cho anh em khác.

9. Những ai chịu trách nhiệm về giờ kinh, về quần áo, về sách vở, thì phải phục vụ anh em mình mà không kêu ca.

10. Còn về sách vở thì chúng ta cho mượn vào giờ cố định mỗi ngày. Chúng ta không đưa sách cho những anh em yêu cầu ngoài giờ quy định.

11. Trái lại, những ai chăm lo về quần áo hay giầy dép thì không nên để cho anh em mình đang cần quần áo hay giầy dép phải đợi.

VI.1. Anh em đừng có tranh cãi, hoặc nếu có thì cũng nên kết thúc cãi cọ càng sớm càng tốt. Nếu không, cơn giận có thể phát triển thành thù hận, cọng rác biến thành cái đà, và làm cho linh hồn trở thành sát nhân. Thật thế, anh em đọc thấy: “Ai ghét anh em mình thì người ấy là kẻ sát nhân” (1 Ga 3,15).

2. Bất cứ ai đã hại anh em mình bằng những lời nói hành nói xấu hay vu cáo nghiêm trọng thì khi biết kịp thời xin lỗi, người ấy sẽ không quên khắc phục hậu quả mà mình đã gây ra. Đối với ai bị tổn thương thì ước gì người ấy tha thứ mà không nói gì thêm. Nếu cả hai người đều gây thương tổn cho nhau thì họ cần tha thứ những lỗi lầm của nhau: không có lý do gì họ đọc rất chính xác lời cầu nguyện mà anh em lập đi lập lại quá thường nhưng họ lại không nhớ tới lời ấy. Có người thì thường nổi giận nhưng lại vội xin lỗi kẻ mà mình đã xúc phạm; có người thì lâu mới nóng giận nhưng xin tha thứ lại là một quyết định khó khăn. Tuy nhiên, ai cho rằng mình không bao giờ làm điều đó, hoặc không làm điều đó tự đáy lòng thì người ấy không có chỗ trong tu viện, kể cả khi người này không bị loại khỏi tu viện. Vì thế anh em hãy hà tiện những lời nặng nhọc. Và nếu miệng lưỡi anh em đã thốt ra những lời ấy thì anh em đừng ngại khắc phục lỗi lầm bằng chính miệng lưỡi nó gây tổn thương.

3. Những yêu cầu kỷ luật có lẽ thúc ép ai đó trong số anh em phải nói những lời nặng nhọc để buộc các anh em trẻ quay về với bổn phận của bản thân. Trong trường hợp này, chúng ta không đòi hỏi ai là người phải xin lỗi các anh em trẻ này, kể cả khi chúng ta nghĩ là quá mức. Bổn phận của các anh em ấy là chịu phục tùng. Thế nên, anh em đừng làm mất uy nghiêm do khiêm tốn quá vì có lẽ nhờ uy nghiêm mà các anh em trẻ tìm được hướng đi. Nhưng dù sao vẫn phải xin lỗi Đấng là Chúa của tất cả anh em, Đấng biết anh em có lòng khoan dung với các anh em trẻ này kể cả khi anh em có lẽ sửa lỗi quá gắt. Tuy vậy, tình thương yêu giữa anh em không phải thuộc về đất nhưng phát sinh từ Thánh Thần.

VII.1. Chúng ta hãy vâng lời Bề Cả như vâng lời người cha, nghĩa là chúng ta luôn tôn trọng ngài vì ngài gánh nặng trách nhiệm, để rồi chúng ta không xúc phạm đến Thiên Chúa, Đấng ở trong ngài. Còn vâng lời vị linh mục coi sóc tất cả anh em thì lại đáng giá hơn.

2. Trước hết, Bề Cả có trách nhiệm chăm lo thực hành những giới luật này, không để vi phạm điều gì do chểnh mảng, dẫu còn uốn nắn và sửa chữa điều có lẽ chưa được tuân giữ. Dù sao thì Bề Cả vẫn báo cho vị linh mục, ngài có quyền hành hơn quyền hành của bất cứ ai trong số anh em, biết về những vấn đề chúng vượt quá sức và phương tiện của bản thân.

3. Ước gì với quyền hành của mình, Bề Cả của anh em đừng đặt hạnh phúc bản thân vào việc ra lệnh cho người khác nhưng vào việc yêu thương phục vụ mà ngài đem đến cho họ. Nhờ vinh dự trước mặt anh em nên ngài là đầu của anh em; nhờ sợ hãi trước mặt Thiên Chúa nên ngài tự xem như bàn chân của anh em. Ước gì đối với tất cả anh em, ngài trở nên mẫu người của các việc tốt, tức cố gắng sửa lỗi những anh em dễ lung lạc, cố gắng khơi dậy can đảm cho nhiều anh em, cố gắng nâng đỡ những anh em yếu đuối và cố gắng kiên nhẫn với tất cả anh em. Ngài vui vẻ tuân giữ các luật này, đồng thời ngài buộc phải tôn trọng những luật ấy. Và dù hai thái độ ấy là cần thiết, nhưng ngài sẽ tìm cách chiếm cảm tình của anh em hơn là làm cho anh em sợ hãi, đồng thời ngài luôn suy tính sẽ phải làm gì để đưa anh em về với Thiên Chúa.

4. Đó là lý do tại sao khi càng vâng phục, anh em không chỉ tỏ ra thương bản thân anh em nhưng còn thương ngài nữa. Thật thế, ở với anh em, ngài cảm thấy ngài có một chỗ còn nguy hiểm hơn so với chỗ cao nhất.

VIII.1 Xin Chúa ban cho anh em ơn tuân giữ các điều dạy này trong yêu thương, giống như những người yêu mến cái đẹp tâm linh, tức là qua cuộc sống của anh em, anh em làm lan tỏa hương thơm của Đức Kitô; vì chúng ta được dựng nên trong ân sủng nên chúng ta tuân giữ các điều dạy ấy cách tự do chứ đừng tuân giữ cách máy móc, như thể chúng ta vẫn còn ở dưới lề luật.

2. Để anh em có thể nhìn thấy bản thân trong cuốn sách nhỏ này như anh em nhìn thấy mình trong gương, để anh em không chểnh mảng điều gì do quên, người ta sẽ đọc cho anh em nghe mỗi tuần một lần. Nếu anh em thấy mình tuân giữ các điều được ghi chép trong sách này thì anh em hãy cảm tạ Chúa, Đấng ban phát mọi điều thiện hảo. Nhưng khi ai đó trong anh em thấy mình bỏ sót một vài điều nào đó, thấy mình tiếc nuối quá khứ và dè chừng đối với tương lai, thì người anh em ấy hãy cầu nguyện để lỗi của mình được tha thứ, để mình không bị lừa vào cám dỗ.

[Mục Lục]

(nguoitinhuu.com)

Share This Post