Chú giải và chia sẻ Tin mừng Chúa Nhật III Mùa Chay – năm B

A. BẢN VĂN (Ga 2,13-25):
13
Gần đến lễ Vượt Qua của người Do-thái, Đức Giê-su lên thành Giê-ru-sa-lem.14 Người thấy trong Đền Thờ có những kẻ bán chiên, bò, bồ câu, và những người đang ngồi đổi tiền.15 Người liền lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi Đền Thờ; còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ.16 Người nói với những kẻ bán bồ câu: “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán.”17 Các môn đệ của Người nhớ lại lời đã chép trong Kinh Thánh: Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi đây sẽ phải thiệt thân.

18
Người Do-thái hỏi Đức Giê-su: “Ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế? “19 Đức Giê-su đáp: “Các ông cứ phá huỷ Đền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại.”20 Người Do-thái nói: “Đền Thờ này phải mất bốn mươi sáu năm mới xây xong, thế mà nội trong ba ngày ông xây lại được sao? “21 Nhưng Đền Thờ Đức Giê-su muốn nói ở đây là chính thân thể Người.22 Vậy, khi Người từ cõi chết trỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Người đã nói điều đó, Họ tin vào Kinh Thánh và lời Đức Giê-su đã nói.
23
Trong lúc Đức Giê-su ở Giê-ru-sa-lem vào dịp lễ Vượt Qua, có nhiều kẻ tin vào danh Người bởi đã chứng kiến các dấu lạ Người làm.24 Nhưng chính Đức Giê-su không tin họ, vì Người biết họ hết thảy,25 và không cần ai làm chứng về con người. Quả thật, chính Người biết có gì trong lòng con người.

B. CÁC BÀI CHÚ GIẢI

1. Chú giải của Học viện Đa Minh

2,13: Sau một thời gian ngắn ở lại Các-pha-na-um, Đức Giêsu lên Giê-ru-sa-lem. Lễ Vượt Qua kỷ niệm biến cố dân Do thái được giải thoát khỏi cảnh nô lệ Ai cập gần 15 thế kỷ trước. Tại Lễ Vượt Qua, dân tộc phải tưởng nhớ Chiên Thiên Chúa. Đức Giêsu đã mở đầu những công bố chính thức như là Đấng Mê-si-a ở đền thờ Giê-ru-sa-lem. Ngoài ra, ở đó, sứ vụ của Người cũng kết thúc ba năm sau đó.

Từ Các-pha-na-um tới Giê-ru-sa-lem là con đường dốc, cao khoảng 1000 mét so với mặt nước biển. Theo nghĩa bóng, Giê-ru-sa-lem cũng được coi là “trên cao”. Ngôn sứ Ma-la-khi đã tiên báo rằng: Chúa mà “các người tìm kiếm” bỗng nhiên đi vào Thánh Điện của Người (Ml 3,1). Chúa khẳng định quyền của Người vượt trên Đền Thờ qua việc thanh tẩy.

2,14: Đền Thờ có ba sảnh đình: sảnh đình dành cho dân ngoại, sảnh đình dành cho dân Ít-ra-en, và sảnh đình dành cho các tư tế. Sảnh đình dành cho dân ngoại là nơi “những kẻ bán bò, chiên và bồ câu” thực hiện việc buôn bán hám lợi của họ. Người ta có thể tưởng tượng những cuộc mặc cả cùng với việc bán buôn và sự bát nháo khắp nơi.

Người tín hữu không được phép dùng đồng tiền Rô-ma dâng cúng Đền Thờ, vì đồng tiền như thế được xem là không thanh sạch. Họ phải đổi tiền nước ngoài sang tiền được thánh hóa. Đức Giêsu biết rõ rằng hình thức đổi tiền này biến thành một kiểu lừa gạt (Mt 21,13).

2,15: Hai lần thanh tẩy Đền Thờ được ghi lại. Tin Mừng Gioan ghi chép lần thanh tẩy thứ nhất khi Đức Giêsu khởi đầu sứ vụ, và Tin Mừng Nhất Lãm thuật lại lần thanh tẩy thứ hai trong tuần lễ Vượt Qua.

Hạn từ “roi” (phragellion), vốn không thấy nhắc đến trong lần thanh tẩy thứ hai, nói lên lòng nhiệt thành thánh thiện của Đức Giêsu. Việc lấy dây thừng nhỏ làm roi, cho thấy sự nóng giận chính đáng của Người, là lý do để Người khỏi mất thời gian.

Đức Giêsu xử lý với mỗi hạng người bất kính theo tính cách của họ. Người đuổi bò, chiên bằng roi. Người đổ tung tiền để chỉ cho những người đổi bạc biết rằng đầu cơ tiền bạc là “sai phạm” trong nhà Thiên Chúa. Chúa chúng ta thanh tẩy ngôi nhà vật chất như là một biểu tượng của việc thanh tẩy thiêng liêng. Hạn từ “tất cả” (pantas) giống đực, có nghĩa là những người buôn bán cũng như động vật họ mua. Đức Giêsu bày tỏ thái độ của thiên Chúa dodoiv ứoi những kẻ cản trở người khác đến thờ phượng Thiên Chúa trong Thần Khí và sự thật.

2,16: Đức Giêsu không nói: “Cha chúng tôi” (patros hemôn), nhưng Người nói “Cha tôi” (patros mou), bởi Người biết tương quan đặc biệt của chính Người với Thiên Chúa. Đức Giêsu không khoan dung với những gì liên quan đến tội lỗi. Thái độ của Người đồng nhất với quan điểm của Lề Luật. Lề Luật bày tỏ thái độ của chính Thiên Chúa, được mặc khải trên núi Sinai.

Không ai phản đối Người hành động. Lý do này có thể được cho là do uy quyền được thể hiện qua hình dáng uy nghi, qua lời nói và việc làm đầy thuyết phục của Người. Chắc chắn, một số tư tế có thể đã muốn làm điều Người làm; và số đông dân chúng đạo đức đến Đền Thờ đã phẫn nộ khi đi ngang qua một nơi giống như một cái chuồng bò để đến với một Thiên Chúa chân thật, mà bản tính và danh Người là thánh. Có lẽ, nhà cầm quyền sợ cuộc nổi loạn xảy ra nếu họ can thiệp.

2,17: Điều đáng lưu ý là các môn đệ rất quen thuộc với Kinh Thánh. Câu trích mà các môn đệ nhớ lại lấy từ Thánh vịnh 69,9. Lòng nhiệt thành của Đấng Mêsia làm cho Người bị kẻ thù ghen ghét, nhưng hẳn Người sẽ bàng quan nếu Người đã không tỏ thái độ của Thiên Chúa chống lại những lạm dụng mình.

2,18: Chúng ta có lý khi thừa nhận rằng: người lính coi đền của nhóm Lêvi đã báo cáo hành động của Đức Giêsu với sĩ quan an ninh, là người đã nhận lệnh từ các vị lãnh đạo Thượng Hội Đồng. Ngay lúc này, Đức Giêsu đã bị người Do Thái phản đối.

Xuyên suốt Tin mừng Gioan, hạn từ “Do Thái” (Ioudaioi) mang ý nghĩa đối lập và gán cho những nhà lãnh đạo Do Thái chứ không phải số đông dân chúng. Từ sự đối nghịch đơn thuần, thái độ và hành động của những nhà lãnh đạo này dẫn họ tới việc giết Đấng Mêsia.

2,19: Động từ “phá huỷ” (lusate) là lối mệnh lệnh, thì aorist (quá khứ) của động từ (luô), nghĩa là “cởi” hoặc “phá vỡ các thành phần cấu thành”, trong nhiều trường hợp có nghĩa là “phá huỷ”. Lối mệnh lệnh của động từ này là một trạng huống khả hữu chuyển dần đến một mệnh lệnh mang tính châm biếm. Nói cách khác, Đức Giêsu đang nói: “Các ông cứ phá huỷ Đền thờ này đi”. Sau này, những kẻ làm chứng gian chống lại Đức Giêsu khai rằng: Đức Giêsu đã tuyên bố Người sẽ phá huỷ Đền thờ (Mt 26,61; Mc 14,58). Lúc Đức Giêsu chịu khổ hình trên thập giá, những kẻ đi qua đã nhắc lại điều những kẻ làm chứng gian đã nói (Mt 27,40; Mc 15,29). Nhưng Đức Giêsu không nói “Tôi”; Người nói: “(các ông) cứ phá huỷ đền thờ này đi”.

Rõ ràng Chúa đang báo trước chính sự phục sinh của Người. “Trong ba ngày”, (en trisin hêmerais) có nghĩa đen là “trong” hay “suốt”, nghĩa là nội trong khoảng ba ngày.

Đức Giêsu khẳng định với tất cả uy quyền của chính Thiên Chúa rằng Người có quyền đối với sự phục sinh của chính Người. Không ai có thể tuyên bố điều này. Đức Giêsu Kitô công bố như vậy là tự với bản tính và hành động của Thiên Chúa. Đây không phải là khẳng định đơn độc, vì Người cũng đã nói Người có quyền hi sinh mạng sống và có quyền lấy lại.

2,20: “Bốn mươi sáu năm” (tesserakonta kai hex etesin) là thời gian Đền Thờ hình thành trong tiến trình được xây dựng, và công việc vẫn tiếp tục trong thời Đấng Cứu Thế. Đền Thờ này, gọi là đền thờ của Hê-rô-đê, thay thế đền thờ Zơ-rúp-ba-ben vốn được tái thiết sau Đền Thờ Sa-lô-môn và được hoàn tất năm 561 t.CN.

Người Do Thái vừa hiểu lầm vừa áp dụng sai lời Đức Giê-su. Họ cho thấy sự vô lý về việc khôi phục Đền Thờ trong ba ngày khi so sánh với 46 năm. Sự thiếu hiểu biết của họ thực sự là một cách cố ý xuyên tạc lời ngôn sứ của Đấng Mê-si-a.

2,21: Tin Mừng Gio-an làm sáng tỏ bất cứ quan niệm sai lầm nào có thể có của những nhà lãnh đạo Do Thái khi họ trình bày điều Đức Giê-su đã nói. “Đền Thờ thân thể Người” (tou naou tou sômatos autou) chỉ Đền Thờ mà Thiên Chúa thực sự ngự nơi đó. Trong thời Sa-lô-môn, Đền Thờ trở thành ngôi nhà trần thế của Thiên Chúa. Đền Thờ được được vua Zơ-rúp-ba-ben tái xây dựng đã trở nên nhà Thiên Chúa (Er 6,14). Tuy nhiên, Đền Thờ không có hòm bia, không có kê-ru-bim, không có đám mây vinh quang, và Nơi Cực Thánh hoàn toàn trống rỗng. Đền Thờ tráng lệ thời vua Hê-rô-đê cũng tương tự như vậy. Thân thể Đức Giê-su, lúc này, chính là Đền Thờ đích thực của Thiên Chúa trên trần gian.

Việc họ phá hủy Đền Thờ là thân thể Người chính là việc đóng đinh Người vào thập giá. Đức Giê-su báo trước người Do Thái sẽ giết Người. Lời tiên báo này đã được nói ngay lúc khởi đầu sứ vụ của Người.

2,22: Sự phục sinh Người Con được Chúa Cha thực hiện và Đức Giê-su nói rằng chính Người sẽ chỗi dậy. Điều Người Con thực hiện Chúa Cha cũng thực hiện…

Một Chúa hoạt động cùng nhau. Điều được gán cho một Ngôi có thể được gán cho bất kỳ Ngôi nào trong Ba Ngôi.

Nhiều giáo huấn và lời tiên báo của Đức Giê-su không được hiểu đúng, mãi tới sau biến cố Phục Sinh và Ngày lễ Ngũ Tuần. Sự viên mãn trong các hoạt động của Thánh Thần làm sáng tỏ những gì Đức Giê-su đã nói và đã làm (14,26). Đoạn Kinh Thánh có liên quan ở đây có lẽ là Thánh Vịnh 16,10. (x.Cv 2,27 ; 13,35).

Các tông đồ của Tân Ước khẳng định rằng những sấm ngôn trong Cựu Ước và sấm ngôn của chính Đức Giê-su công bố rõ rang rằng: Đức Giê-su chỗi dậy từ cõi chết (1 Cr 15,4). Sứ điệp này là điểm chính yếu của toàn bộ lời giảng Tân Ước. Sẽ không có Tin Mừng, hoặc sự sống lại của người tin, nếu không có sự sống lại của Đức Giê-su.

2,23: Phần trước, Gio-an đã nối kết việc thanh tẩy Đền Thờ với phản ứng thù nghịch từ các nhà lãnh đạo Do Thái. Cũng vậy, ông đã nói về kết quả tích cực liên quan tới môn đệ Đức Giê-su. Trong câu này, Gio-an cho thấy rõ sứ mạng của Đức Giê-su đã tác động tới những người hành hương đi dự Lễ như thế nào.

Từ “dịp” không có trong bản Hy-lạp, nhưng được các dịch giả thêm vào. Thực tế, “dịp lễ” ở đây gồm 7 ngày Lễ Bánh Không Men, ngày sau Lễ Vượt Qua. Người Do Thái coi tất cả 8 ngày như “Lễ Vượt Qua”.

“Nhiều người” (polloi) tin tưởng hoặc tín thác đến mức họ hiểu những dấu lạ có nghĩa gì. Đức Giê-su thực hiện những dấu lạ đó để chứng thực vai trò Mê-si-a của Người. Họ tin vào những dấu này như những dấu hiệu thực hiện thực sự chứng tỏ Người là Đấng Mê-si-a. Gio-an cho chúng ta biết Đức Giê-su đã thực hiện nhiều dấu lạ, mà không được ghi chép lại (21,25).

2,24: Lý do Người không tin họ được bao hàm trong câu “vì Người biết họ hết thảy” (dia to auton ginôskein pantas). Niềm tin của “nhiều người” không sâu sắc bởi vì họ dựa trên những dấu lạ, và “nhiều người” thiếu khả năng hiểu những dấu lạ đó. Chính Đức Giêsu thực sự tin sáu môn đệ đầu tiên, bởi vì sự tin tưởng của họ đối với Người đủ để Người trao cho họ những mặc khải lớn hơn về bản thân và sứ vụ của Người.

“Vì Người biết họ hết thảy” nói lên bằng chứng hiển nhiên về thượng trí vô song của Người. Tin Mừng Gioan có nhiều viên ngọc lấp lánh loại này. Cái “biết” của Chúa về Phê-rô và Na-tha-na-en nhấn mạnh cùng một chân lý đó (1.42.47-48). Đức Giêsu biết Ni-cô-đê-mô và người phụ nữ Sa-ma-ri nhiều hơn họ biết về chính họ (chương 3 và 4). Người “biết” (to auton ginoskein) họ hết thảy” bởi vì Người dựng nên và hoạt động với họ qua các thế kỷ (St chương 1 và 3; Ga 1,1-11).

2,25: Đức Giêsu thấu hiểu những sâu kín tận trong tư tưởng mỗi người. Thư gửi tín hữu Híp-ri đã diễn tả “vì Lời (logos, như trong Tin Mừng Gioan 1,1 Thiên Chúa… phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người. Vì không có loài thọ tạo nào mà không hiện rõ trước Lời Chúa, nhưng tất cả đều trần trụi và phơi bày trước mặt Đấng có quyền đòi chúng ta trả lẽ” (Hr 4,12-13). Gioan đã lặp lại chân lý này trong một số đoạn (Ga 5,42; 6,61.64; Kh 2,23). Đức Giêsu biết bản chất bên trong của Phê-rô và tính chân thật của Na-tha-na-en, nhưng Người không tìm thấy nơi đám đông trong dịp lễ một ai mà Người có thể trao phó hoặc tin tưởng. Nếu đám đông lắng nghe thêm nữa, họ có thể tin tưởng nhiều hơn. Lúc đó, Đức Giêsu có thể tin họ. Thế nhưng, để Người có thể tin những kẻ tin vào Người, cần phải có một tiến trình để họ hiểu biết về Người.

2. Chú giải của Lm PX Vũ Phan Long, ofm: ĐỨC  GIÊSU TẨY UẾ  ĐỀN THỜ

1- Ngữ cảnh

Lần đầu tiên, tác giả Gioan có một bản văn song song với các TMNL (Mc 11,15-19;  Mt 21,12-17;  Lc 19,45-48). Tuy nhiên, có những khác biệt:

– Trong khi TM IV đặt biến cố này vào đầu sứ vụ của Đức Giêsu, các TMNL lại đặt ở đầu tuần Khổ Nạn. 

– Lý do đã thúc đẩy Đức Giêsu can thiệp được gợi hứng bởi các bản văn ngôn sứ, cũng không giống nhau: “một nơi buôn bán” (Ga 2,16) thì nhắm đến chuyện mua qua bán lại, còn “sào huyệt của bọn cướp” (Mc 11,17 và //) thì hàm chứa một cáo giác về sự trộm cắp.

– Cuối cùng, cuộc cãi vã giữa Đức Giêsu và các đối thủ xảy ra ngay sau đó (theo Ga), hoặc lại vào ngày hôm sau (theo các TMNL : Mc 11,28 và //).

Trong quá khứ, người ta thường đề nghị một giả thuyết, theo chiều hướng tương phù (concordism): Đức Giêsu đã đuổi những người buôn bán khỏi Đền Thờ 2 lần, vào đầu sứ vụ (Ga) và cuối sứ vụ (TMNL). Nhưng dường như khó tin được rằng Đức Giêsu có thể lặp lại được một thách đố như thế đối với giới lãnh đạo Do Thái giáo. Đàng khác, giữa bản văn của Ga và của các TMNL có những nét tương đồng, khiến người ta phải nghĩ rằng hầu chắc các bản văn ấy đều đề cập tới một biến cố duy nhất: nơi cả hai bên, ta đều thấy cùng một cơ hội đã khiến Đức Giêsu làm cử chỉ ấy (sự hiện diện của những người buôn bán và đổi tiền trong Đền Thờ), có một lời Đức Giêsu trách mắng những người bán hàng, sự can thiệp của các thủ lãnh Do Thái, và nhất là dây liên hệ chặt chẽ giữa hành động này và cái chết của Đức Giêsu (Ga 2,17.19; Mc 11,18; Lc 19,47).

Vậy phải chọn giữa bài của Gioan và bài của TMNL: bài nào đã đặt biến cố này vào đúng thời điểm?

1. Đa số các nhà chú giải CôngGiáo và nhiều nhà chú giải Tin Lành ủng hộ bài của Gioan. Luận điểm chính nằm trong chi tiết về thời gian do 2,20 cung cấp: Công việc xây dựng Đền Thờ bắt đầu từ năm 20/19 tr CG (Fl. Josèphe, Ant XV, 380); vào lúc này là năm 28/27 CN: thời điểm này phù hợp với khởi đầu sứ vụ của Đức Giêsu hơn. Khi đó, người ta hiểu các TMNL đã đặt biến cố này vào cuối sứ vụ của Đức Giêsu, bởi vì các TMNL chỉ nói đến một chuyến đi lên Giêrusalem duy nhất và một lễ Vượt Qua duy nhất.

2. Những người nghiêng về các TMNL thì ghi nhận trước tiên rằng dây liên kết giữa thách đố này của Đức Giêsu và cái chết của Người không mấy phù hợp với thời gian khởi đầu sứ vụ của Người. Tại cuộc xử án Đức Giêsu, lời của các nhân chứng nhắc lại câu tuyên bố của Người về việc phá Đền Thờ giả thiết là sự việc mới xảy ra, nên người ta còn nhớ rõ. Nhưng luận điểm mạnh nhất, là tác giả Gioan đã đưa bài tường thuật này ra đầu sứ vụ của Đức Giêsu, vì ông trung thành với quan điểm ông đã biểu lộ trong bài tường thuật Dấu lạ Cana (Ga 2,4.11): ông muốn quy hướng toàn thể sứ vụ của Đức Giêsu ngay từ đầu về “giờ” Khổ Nạn của Người; hơn nữa, Gioan muốn rằng Do Thái giáo chính thức được chứng kiến Đức Giêsu biểu lộ tư cách Mêsia của Người ngay từ đầu, để những người Do Thái phải ở trong một tư thế bị phán xét.

Nói cho cùng, thật khó chọn bài nào, bởi vì cả hai luận đề đều có những lập luận vững chắc.

2- Bố cục

Bản văn có thể chia thành ba phần:

1) Đức Giêsu tẩy uế Đền Thờ (2,13-17);
2) Đức Giêsu nói về phá hủy và xây dựng lại Đền Thờ (2,18-22);
3) Chuyển tiếp và dẫn nhập vào truyện Nicôđêmô (2,23-25).

3- Vài điểm chú giải

– Gần đến lễ Vượt Qua của người Do Thái (13): Thời gian của dấu lạ này dĩ nhiên gợi nhớ tới lễ Vượt Qua trong đó Đức Giêsu sẽ bị xử tử. Tương quan giữa việc tẩy uế Đền Thờ và cuộc Khổ Nạn của Đức Giêsu đã được ám chỉ. Mc 11,18 và Lc 19,47t sẽ ghi nhận rằng sự can thiệp của Đức Giêsu, vì kết án cả giới lãnh đạo Do Thái giáo, sẽ khiến các thượng tế và các kinh sư quyết định “giết Người”.

– trong Đền Thờ (en tôi hiêrôi, 14): Đây là tiền đường của Đền Thờ (đối lại với naos là Đền Thờ đúng nghĩa, gần gian Thánh và gian Cực Thánh).

– Các môn đệ của Người nhớ lại (17): Sau khi Đức Giêsu sống lại, khi Thánh Thần đã ban cho các ông hiểu các dấu chỉ Thầy đã làm, các môn đệ đã hiểu biến cố hôm nay:

– Người Do Thái (18):  Trong thực tế, đây là giới lãnh đạo Đền Thờ (các tư tế, các thầy Lêvi và vệ binh), những người chịu trách nhiệm về tình trạng vừa bị Đức Giêsu kết án. Như ở khắp nơi trong Tin Mừng, tác giả Gioan không phân biệt giữa các nhà lãnh đạo và dân Do Thái đã từ chối tin vào Đức Kitô. Vậy phải nói là toàn thể hệ thống phượng tự của dân này đang được đề cập đến.

– Các ông cứ phá hủy (làm tan rã) Đền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại (sẽ đánh thức dậy) (19): Câu này có thể hiểu là một mệnh lệnh: “Các ông hãy phá hủy…”, hoặc như một câu ở thì tương lai: “Các ông sẽ phá hủy…”, hoặc như một câu giả thiết: “Cứ giả sử là các ông phá hủy…”. Thật ra, các động từ “làm tan rã” (lyô) và “đánh thức dậy” (egeirô) không phù hợp chút nào với một tòa nhà vật chất cả.

– bốn mươi sáu năm (20): Đền Thờ, với phần cung thánh và tiền đường, đã được vua Hêrôđê rộng tay chi tiền sửa sang lại thật huy hoàng. Khởi công vào năm 16 triều đại ông (x. Fl. Josèphe, Ant. jud., 15, 11, 1) vào năm 734-735 thành Rôma, là năm 20-19 tCN, các công việc đã kéo dài cho tới thời Tổng đốc Anbinô, năm 62-64 (Ant. jud., 20, 9, 7). Vào thời điểm của bài tường thuật này, chúng ta ở vào năm xây dựng thứ 46. Lấy khởi điểm là năm 20 hoặc 19, sự cố tẩy uế Đền Thờ đã xảy ra vào lễ Vượt Qua năm 27 hoặc 28. Điều này phù hợp với Lc 3,2, vì bản văn này đã xác định phép rửa của Đức Giêsu xảy ra vào năm 15 triều đại Tibêriô, tức giữa ngày 1-10-27 và 30-9-28.

– … là chính thân thể Người (21): Đền Thờ mới sẽ thay thế Đền Thờ cũ đã bị tục hóa chính là thân thể phục sinh của Đức Kitô. Với lời giải thích của thánh Phaolô (x. 1 Cr 3,16 và 12,27; Ep 2,21 và 4,12), Đền Thờ mới là Giáo Hội, thân thể vinh hiển của Đức Kitô phục sinh, và tất cả các tín hữu được kết hợp với Người.

– Vậy, khi Người từ cõi chết chỗi dậy, các môn đệ nhớ lại… Họ tin (22): Tác giả Máccô cứ đều đặn ghi nhận rằng các môn đệ không hiểu. Gioan thì nói cách tích cực rằng các môn đệ hiểu sau khi Đức Kitô đã sống lại (12,16). Chỉ khi Đức Giêsu được tôn vinh, các ông mới được nhận Thánh Thần (7,39), và Thánh Thần mới cho các ông hiểu tất cả những dấu lạ Đức Giêsu đã thực hiện (14,26; 15,26t). Vậy, đức tin của các môn đệ không được liên kết với cuộc Phục Sinh như với một bằng cớ về tính xác thực của những gì Đức Giêsu đã nói, nhưng như với nguyên do (= nguồn) ban Thánh Thần, là Đấng duy nhất cho phép hiểu.

– Họ tin vào Kinh Thánh (22): Không thể xác định rõ tác giả Gioan ám chỉ tới đoạn Cựu Ước nào. Có thể so sánh Cv 2,24t; 13,34tt, trong đó có những bản văn thường được Giáo Hội tiên khởi nhắc đến trong quan hệ với sự Phục Sinh của Đức Giêsu (đặc biệt Tv 16/15,10). Chúng ta ghi nhận rằng Kinh Thánh (Lời Thiên Chúa) và lời Đức Giêsu được đặt trên cùng một bình diện (so sánh 18,9.32) để làm nên đối tượng đức tin của các môn đệ.

– nhiều kẻ tin (23): Nhiều người tin rằng Đức Giêsu đến từ Thiên Chúa (3,2), nhưng không tin vào tất cả mầu nhiệm bản thân Người. Lòng tin của họ chỉ dựa trên các phép lạ, nên không phải là không có giá trị, nhưng bất toàn (4,48 ; 20,29).

4- Ý nghĩa của bản văn

Đức Giêsu cũng tham dự vào một đại lễ khác. Đây không phải là một lễ của một đôi vợ chồng được cử hành bởi gia đình và mọi người thân thuộc trong khung cảnh một thôn làng như Cana ở Galilê, nhưng là lễ Vượt Qua, lễ trọng nhất của Israel, khi đó toàn dân quy tụ lại Giêrusalem. Israel tưởng niệm cuộc giải phóng khỏi Ai Cập và tạ ơn Thiên Chúa, vì Người đã làm cho họ thành một dân độc lập và thành Dân Người.

* Đức Giêsu tẩy uế Đền Thờ (13-17)

Tại Đền Thờ, Đức Giêsu đã không góp phần cứu lấy và gia tăng niềm vui của ngày đại lễ, nhưng đã hòa vào cảnh sống náo nhiệt trên sân Đền Thờ. Con người đã rảo qua xứ sở cách an hòa (1,29.36) và đã ra tay cứu lễ mừng Cana cách hiệu quả, nay lại tỏ mình ra dưới một phương diện hoàn toàn khác. Là một người khách hành hương vô danh đến từ miền Galilê, Người đã gây ra một sự cố “động trời” tại Đền Thờ Giêrusalem. Theo TM IV, vào chuyến hành hương đầu tiên thuộc đời sống công khai của Người, Đức Giêsu đã bắt đầu hoạt động tại Giêrusalem như thế đó, bắt đầu từ sân dành cho Lương dân, phần ít cao quí nhất của tiền đường, phần duy nhất mà người ngoại quốc được đặt chân đến.

Truyền thống vẫn yêu cầu người ta tỏ ra trang nghiêm kính cẩn tại vùng sân này, chẳng hạn, phải tránh đi qua đó chỉ để đi tắt. Nhưng các quy định này, đặc biệt vào dịp lễ Vượt Qua, không được tuân giữ: do khách hành hương phải chuẩn bị các của lễ đúng quy định (một con bò hoặc một con chiên cho trường hợp những người giàu, một con bồ câu cho trường hợp những người nghèo), và một nửa đồng bạc Do Thái (một siklos, hoặc shéqèl bằng 4 ngày công) đóng thuế Đền Thờ, họ đã mua bán đổi chác gây huyên náo hỗn độn ngay tại đây. Các cửa hàng của những người bán bò và chiên được bố trí dưới các cổng, bàn của những người đổi bạc được đặt ngay ngoài trời, đã biến vùng sân này thành một cửa hàng tạp hóa vĩ đại. Tất cả tùy thuộc cách người ta quan niệm việc thờ phượng Thiên Chúa trong Đền Thờ. Hẳn là dân chúng nghĩ rằng có thú vật và tiền lẻ ngay tầm tay và đặt mọi sự dưới quyền kiểm soát  của giới hữu trách Đền Thờ là tiện nhất. Nhưng điều này lại không phù hợp với quan niệm của Đức Giêsu về nhà của Cha Người. Người gọi Thiên Chúa là Cha và xác định cách cư xử dựa trên ý tưởng Người có về nhà Thiên Chúa. Không phải là mọi chuyện đều có thể chấp nhận. Không phải là cứ chuyện nào tiện lợi hoặc đưa lại tiền bạc là đúng đắn. Buôn bán thú vật được dùng làm lễ hy sinh là một sinh hoạt đáng trọng, nhưng phải cách xa nơi có sự hiện diện của Thiên Chúa và nơi người ta tôn kính Ngài. Đức Giêsu thấy có những lạm dụng.

Nay đã được đặt để trong chức năng Mêsia-Con Thiên Chúa, Đức Giêsu không chỉ vào Nhà Thiên Chúa như một khách hành hương, mà còn là người quản lý và chủ nhân. Nếu Người đã làm hành vi chứng tỏ uy quyền này ngay tại Đền Thờ có lẽ là để tự mạc khải ngay giữa lòng Do Thái giáo, trước mặt các nhà lãnh đạo và đám đông đa tạp các khách hành hương, nhờ thực hiện sấm ngôn Malakhi: “Và bỗng nhiên Chúa Thượng mà các ngươi tìm kiếm, đi vào Thánh Điện của Người. Kìa, vị sứ giả của giao ước mới mà các ngươi đợi trông đang đến… Ai chịu nổi ngày Người đến? Ai đứng được khi Người xuất hiện? Quả thật, Người như lửa của thợ luyện kim… Người sẽ thanh tẩy con cái Lêvi (các thừa tác viên Đền Thờ)…” (Ml 3,1-3).

Không màng tới các rủi ro, Đức Giêsu không ngần ngại nối kết sức lực của cánh tay vào sức mạnh của lời nói để thực hiện nguyện vọng của Cha Người, được diễn tả qua miệng ngôn sứ Dacaria: “Ngày ấy, sẽ không còn lái buôn trong Nhà Đức Chúa các đạo binh nữa” (Dcr 14,21). “Nhà của Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện cho muôn dân” (Is 56,7), nhưng “Phải chăng các ngươi coi nhà này, nơi danh Ta được kêu khấn, là hang trộm cướp sao?” (Gr 7,11). Đức Giêsu đã can thiệp với biện pháp rõ ràng và dứt khoát: “Người xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi Đền Thờ; còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ. Người nói với những kẻ bán bồ câu: ‘Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây’” (2,15-16). Trong nhà Chúa Cha, Chúa Cha đang hiện diện; người ta phải suy nghĩ và hành động tương ứng với chân lý này.

Cử chỉ này, trực tiếp nhắm đưa Đền Thờ trở lại với sự thanh sạch vẫn có, dường như có một tầm mức biểu tượng. Bằng cử chỉ này, Đức Kitô muốn nói rằng Người sẽ truất các tư tế mất quyền điều hành Đền Thờ Thiên Chúa và sẽ loại bỏ tất cả các lễ hy sinh thú vật để thay thế bằng lễ dâng tinh tuyền mà Thiên Chúa cũng đã loan báo qua miệng ngôn sứ Malakhi: “Ta chẳng ưng nhận lễ phẩm từ tay các ngươi dâng… Và ở khắp nơi, người ta dâng lễ hy sinh và lễ vật tinh tuyền kính Danh Ta” (Ml 1,10-11). Đúng là đã tới giờ rồi.

Vào lúc ấy, hẳn là sự can thiệp cương quyết của Thầy đã khiến các môn đệ thắc mắc, nhưng nhất là khiến các ông lo sợ rằng Người sẽ phải gánh chịu những hậu quả tệ hại, từ phía những lái buôn và những thừa tác viên Đền Thờ. Khi đó, các môn đệ đã nghĩ tới tiếng kêu của tác giả Tv 69/68: “Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa mà tôi đây sẽ phải thiệt thân…”, thiệt thân vì sự nhiệt thành của mình và vì những đối thủ. Vào lúc chịu Khổ Nạn, khi tuyên bố rằng Thánh vịnh này được ứng nghiệm nơi Người (Tv 69/68,5; x. Ga 15,15), Đức Giêsu công nhận rằng các ông đã linh cảm đúng: sự nhiệt thành đã thiêu đốt Người bên trong vào lễ Vượt Qua đầu tiên, sẽ thiêu đốt Người hoàn toàn vào lễ Vượt Qua cuối cùng, để biến Người thành một lễ hy sinh “đẹp lòng Chúa hơn bò bê đủ móng đủ sừng” (Tv 69/68,32). Người chính là Đấng công chính chịu đau khổ để thanh tẩy Đền Thờ và nền phượng tự cũ hầu xây dựng một Đền Thờ mới và thiết lập một nền phượng tự mới (cc.19-21). Việc chuyển đi từ cái cũ sang cái mới sẽ được thực hiện nhờ cái chết của Đức Giêsu.

* Đức Giêsu nói về phá hủy và xây dựng lại Đền Thờ (18-22)

“Người Do Thái” đây là giới lãnh đạo Đền Thờ (các tư tế, các thầy Lêvi và vệ binh), nhưng cũng là dân Do Thái, đã hỏi: “Ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế?” (c. 18). Đây là đề tài căn bản của tất cả những xung đột sau đó giữa Đức Giêsu và giới lãnh đạo Do Thái giáo. Người đã yêu cầu trả lại phẩm cách trang nghiêm cho nhà Chúa Cha; điều này không thỏa mãn người Do Thái, cũng như tất cả những gì Đức Giêsu sẽ nói và sẽ làm cũng chẳng thỏa mãn họ (x. 5,16; 6,30; 9,16; 11,45-53). Hẳn là các nhà chức trách Do Thái cảm thấy khó chịu gai chướng bởi một sáng kiến vừa lạ lùng vừa cách mạng như thế: dù không có chức tư tế và không có nhiệm vụ gì ở Đền Thờ, Đức Giêsu vừa kết án một hệ thống được các nhà chức trách chuẩn nhận, mà như thế là tự cho mình có một uy quyền cao hơn uy quyền của họ. Thậm chí Người còn muốn nói là Người triệt tiêu nền phượng tự đã từng được Thiên Chúa thiết lập ở đấy, và như thế là tự gán cho mình có một uy quyền ngang bằng với uy quyền của Thiên Chúa mà Người gọi là “Cha Người”! Bởi vì Người cho rằng Người có một uy quyền thần linh, thì Người phải chứng minh điều ấy bằng cách làm một dấu lạ: một hành động phi thường cho thấy dấu ấn của Thiên Chúa trên sứ mạng cứu thế của Người (x. Mt 11,38; 16,1; Mc 8,11; Lc 11,16; 1 Cr 1,22).  

Đức Giêsu đáp: “Các ông cứ phá hủy (làm tan rã) Đền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại (sẽ đánh thức dậy)” (c. 19). Câu này có thể hiểu là một mệnh lệnh: “Các ông hãy phá hủy…”, hoặc như một câu ở thì tương lai: “Các ông sẽ phá hủy…”, hoặc như một câu giả thiết: “Cứ giả sử là các ông phá hủy…”. Với bối cảnh của cuộc tranh luận, Đức Giêsu dường như ám chỉ việc phá hủy và xây lại ngôi Đền Thờ bằng đá tọa lạc ngay gần bên. Người Do Thái nghĩ ngay đến Đền Thờ ấy, và cho rằng không thể được. Quả thật, phải là điên thì mới nghĩ có thể xây lại trong ba ngày; cũng phải là điên thì mới nghĩ rằng có thể đụng chạm được tới Đền Thờ này! Cứ lấy lương tri mà xét, lẽ ra người Do Thái không nên gán những ý tưởng ấy cho một người có đầu óc sáng suốt: là những người Đông phương, đã quen với giọng văn bóng bảy cũng như những câu nói hiểm hóc, hẳn là họ phải ngờ rằng ở đây có một ý hướng biểu tượng, nhất là những động từ “làm tan rã” (lyô) và “đánh thức dậy” (egeirô) không phù hợp chút nào với một tòa nhà vật chất cả. Nhưng họ cố ý xoáy vào ý nghĩa vật chất, cũng như người phụ nữ Samari khi đề cập tới nước ban sự sống (4,11-15), như những người Do Thái khi đề cập tới bánh ban sự sống (6,34) [xem lời các nhân chứng tạo tòa án (Mt 26,61; Mc 14,58) và những người qua đường (Mt 27,40; Mc 15,29)]. Dấu lạ Đức Giêsu loan báo ở đây tương ứng với câu trả lời cho người Pharisêu trong Mt 12,39t và 16,4.

Người Do Thái quy các lời Đức Giêsu nói vào ngôi Đền Thờ bằng gạch đá nên đã hiểu sai ý Người (x. 3,4). Đức Giêsu đang nói với họ: Các ông có thể giết chết tôi. Các ông có thể đẩy tôi đến thử thách lớn lao cùng cực nhất. Nhưng rồi tôi sẽ hoàn tất công trình của tôi và sẽ tự mạc khải ra vĩnh viễn.

Phần các môn đệ, sau khi Đức Giêsu sống lại, các ông mới hiểu được ý nghĩa của câu nói huyền bí ấy, và “đã tin vào lời Kinh Thánh và lời Đức Giêsu đã nói” (c. 22). Nhưng ở đây tác giả Gioan cho chúng ta được hiểu trước biến cố ấy: Đức Giêsu nói, không phải về Đền Thờ bằng gạch đá, nhưng hoàn toàn về Đền Thờ là thân thể của Người, nhân tính của Người. Các từ ngữ Người dùng phù hợp với ý nghĩa đó hơn: “Cứ làm tan rã Đền Thờ là thân thể của tôi đi (Các ông sẽ gây ra sự tan rã, cái chết, cho thân thể tôi), và trong ba ngày, tôi sẽ dựng lại (sẽ đánh thức dậy khỏi giấc ngủ ấy)”. Đàng khác, ý nghĩa hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh. Nếu các môn đệ đã linh cảm rằng lòng nhiệt thành của Đức Giêsu đối với ngôi nhà vật chất của Thiên Chúa sẽ khiến Người bị các đối thủ hãm hại (c. 17), Đức Giêsu còn biết rõ hơn các ông rằng cử chỉ này sẽ đưa Người tới cái chết. Như vậy, cái chết đối với Đức Giêsu không phải là một tai nạn bất ngờ hoặc một thất bại không thể tránh được, nhưng là một thử thách Người tự do chấp nhận, để rồi tiếp theo là một Sự Sống dồi dào phong phú hơn. Đã được báo trước như vậy, người Do Thái sẽ không thể coi đó là một chiến thắng, còn các môn đệ không thể coi đó là một cớ vấp phạm được.

Ở đây, ngay trong cuộc gặp gỡ đầu tiên này, ta đã thấy rõ các hậu quả của cuộc xung đột sẽ là thế nào và mục tiêu của con đường Đức Giêsu theo là gì: chết và sống lại. Cuộc Phục Sinh sẽ chuẩn nhận cho tư cách của Đấng đã bị đẩy đến một cái chết khốc liệt do việc làm và yêu sách của Người. Do cái chết này, Đền Thờ mới sẽ được xây lên. Đức Giêsu Phục Sinh là “nơi” vĩnh viễn có Thiên Chúa hiện diện với Dân Người và có Dân Người thờ phượng Thiên Chúa: đây là “ngôi nhà Cha” hoàn hảo. Lời tiên báo của Đức Giêsu một phần cảm hứng từ một sấm ngôn của ngôn sứ Hôsê (Hs 6,2). Theo lời hứa của Đức Giêsu cho ông Nathanaen, các môn đệ khi ấy sẽ thấy Thầy họ là “Bết-Ên” thật, là Nhà Thiên Chúa và Cửa thiên đàng (1,51). Một cách gián tiếp, Đức Giêsu mạc khải cho các thính giả rằng Chúa Cha cư ngụ nơi Người một cách viên mãn và vĩnh viễn (8,16; 10,38; 14,10;16,32) và chỉ nơi Người, các tín hữu mới có thể gặp được Chúa Cha vô hình (14,6-10).

* Chuyển tiếp và dẫn nhập vào truyện Nicôđêmô (23-25)

TM IV nổi bật với sự đối kháng giữa Đức Giêsu và các đối thủ. Ngay từ cuộc gặp gỡ đầu tiên, đã lộ rõ các yếu tố tiêu biểu của cuộc chiến đấu này: các người tranh chấp, đối tượng của cuộc tranh chấp và kết luận. Cuộc xung đột liên hệ đến quan niệm đúng đắn về Thiên Chúa: Đức Giêsu nhận biết Thiên Chúa như là Cha Người; tất cả những gì Người làm đều do Thiên Chúa gợi hứng và Người làm chứng về những điều đó; còn các đối thủ của Người lại cảm thấy bị Người gây chuyện, nên yêu cầu Người trưng ra những bằng chứng khác, và họ loại trừ Người. Phần các môn đệ, do đã để cho Người dẫn dắt, các ông đạt tới đức tin và sự hiểu biết đầy đủ. Còn đám đông bị đánh động bởi những gì Đức Giêsu thực hiện; nhưng Đức Giêsu không tin họ, nên Người giữ khoảng cách với họ. Tình trạng xung đột này sẽ đưa Đức Giêsu đến cái chết dữ dội, nhưng Người sẽ được xác nhận trọn vẹn bằng cuộc Phục Sinh.

+ Kết luận

Hôm ấy, Đức Giêsu đã vào Đền Thờ như vào “nhà Cha Người”; hôm ấy, vì  yêu thương Chúa Cha, Người đã đuổi những con buôn khỏi Đền Thờ. Vì nhiệt thành lo cho nhà của Cha, vì muốn hoàn toàn dành ngôi nhà này cho Cha, Đức Giêsu đã nổi cơn nghĩa nộ mà bảo vệ quyền lợi của Cha, trong khi vẫn làm chủ chính mình. Như thế, Đấng “có lòng hiền hậu và khiêm nhường”, là bạn của kẻ tội lỗi, cũng biết nổi giận khi cần, vì vinh quang của Thiên Chúa Cha. 

Sau này, đàng sau tấm màn bị xé rách của Đền Thờ và xuyên qua thân thể bầm dập của Đức Giêsu hấp hối, Thiên Chúa xuất hiện, bằng một tấm thân con người thật sự, đầy vinh quang thần linh. Giấc mơ của Cựu Ước, Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta, nay được thực hiện mãi mãi trong Đức Giêsu Phục Sinh.

5- Gợi ý suy niệm

1. Theo Đức Giêsu, người ta không thể chấp nhận hay nhượng bộ mọi sự. Người ta có thể thông cảm cho việc trục trặc này, chuyện không xuôi chảy kia. Nhưng khi sự việc liên hệ đến việc thờ phượng Thiên Chúa, thì không được phép có lối suy nghĩ tương-đối-hóa. Khi sự việc liên hệ đến làm chứng cho mầu nhiệm Thiên Chúa, thì không được phép nửa vời. Phần chúng ta, chúng ta có thể tự hỏi: chúng ta đang có quan niệm nào về “nhà của Cha”, hoặc về nhiệm vụ và mục tiêu mà Ngài đã ban cho con người? Chúng ta có vận dụng trọn bản thân mình cho điều đó không?    

2. Các đối thủ của Đức Giêsu cứ đòi Đức Giêsu phải trưng ra thêm các bằng chứng. Lý do không phải là để họ đạt được niềm tin tròn đầy, nhưng nói có vẻ nghịch lý, họ đòi các bằng chứng là để phủ nhận đức tin, để họ có cớ mà nói rằng họ không tin là phải. Toàn bọ TM IV là một bài học với nhiều minh họa về niềm tin như một sự phó thác vào Đấng được Thiên Chúa sai phái tới, là Đức Kitô. Trong những trường hợp nào, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đề những ranh giới dè dặt cho niềm tin tưởng của chúng ta vào Đức Giêsu, chúng ta nêu ra những điều kiện, và chúng ta đòi những đảm bảo?

3. Chứng từ của các môn đệ còn đấy: lời của Đức Giêsu có một trọng lượng như chính lời Kinh Thánh. Nhờ được Kinh Thánh thôi thúc, các ông hiểu lý do khiến Đức Giêsu phải chết; nhờ được lời Đức Giêsu soi sáng, các ông hiểu Đấng Phục Sinh chính là “nơi” vĩnh viễn có sự hiện diện và chăm sóc ân cần của Thiên Chúa. Đấy là một kinh nghiệm quan trọng được chia sẻ cho chúng ta, để hôm nay chúng ta biết tiếp tục dựa vào ánh sáng của Kinh Thánh mà khám phá thêm nữa mầu nhiệm Đức Giêsu, Con Thiên Chúa nhập thể, đã chết và đã sống lại.

4. Để thực hiện được điều này, cần nhận lấy bài học khác của các môn đệ. Các ông đã rảo qua một đoạn đường dài cùng với Đức Giêsu và đã được Người liên tục dạy dỗ, rèn luyện. Chúng ta có thể chờ đợi để được dẫn đến chỗ hiểu biết đầy đủ về con đường của Đức Giêsu và con đường của chúng ta chăng? 

 

3. Chú giải mục vụ của Alain Marchabour: DẤU LẠ CỦA VIỆC THANH TẨY ĐỀN THỜ (2,13-22)

Cả bốn Tin Mừng đều trình thuật về Đền thờ (Mc 11,15-17 và tương đương). Thế nhưng giữa ba Tin Mừng khác, có nhiều điểm khác biệt quan trọng, đặc biệt nhất là vấn đề xác định thời gian: đối với Gioan, đó là vào lúc Chúa mới bắt đầu cuộc đời công khai, đối với các sách Tin Mừng Nhất Lãm thì lại vào cuối đời sống công khai. Hơn nữa Gioan là tác giả duy nhất tường thuật dài về việc xua đuổi con buôn ra khỏi Đền thờ bằng việc người Do Thái yêu cầu một dấu lạ và Chúa Giêsu trả lời về việc phá hủy Đền thờ và xây dựng lại trong ba ngày. Chính Gioan phải chịu trách nhiệm về việc di dịch biến cố. Ông chỉ tỏ sự đoạn tuyệt với Do Thái giáo ngay từ lúc Chúa khởi đầu đời sống công khai của Chúa Giêsu (phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của Giáo Hội của mình). Từ ngữ được sử dụng xác quyết điều đó: đó là lễ Vượt Qua của người Do Thái; dung ngữ này còn lặp lại trong 6,4 và 11,55 (cũng như trong 7,2 nhân dịp lễ Lều) và làm lệch đi sự xa cách và ngay cả sự đoạn tuyệt giữa các tín hữu tiên khởi và cộng đoàn Do Thái.

DẪN NHẬP (cc. 13-14)

Phần dẫn nhập xác định quang cảnh và địa điểm. Chúa Giêsu lên Giêrusalem lần này là lần đầu tiên và Người lên đây đúng vào “lúc gần đến lễ Vượt Qua của người Do Thái”. Dụng ngữ này, lặp lại ba lần trong Tin Mừng (6,4; 11,555) xác định sự chính xác về nguồn tin của Gioan. Ba lần lễ Vượt Qua phù hợp với hai năm rưỡi đời sống công khai của Chúa Giêsu. Đem so chiếu với những đại lễ Do Thái với những đại lễ Do Thái này có một ý nghĩa khác nơi con người của Chúa Giêsu.

Con buôn bày bán dưới các hành lang trên sân Dân ngoại (tiếng Hy Lạp hieron, dịch ra ở đây là “đền”) chứ không phải bên trong Đền thờ. Ngoài ra điều đó rất khó mà tránh khỏi khi người ta muốn cho khách hành hương, nhân dịp về Giêrusalem, có thể đổi bạc để có được chiên bò dâng làm của lễ hiến tế. Chúa, vị ngôn sứ đầy nhiệt tâm trước những quyền của Thiên Chúa, xem điều đó như làm ô uế Đền thờ.

HÀNH ĐỘNG NGÔN SỨ (cc. 15-16)

Việc can thiệp của Chúa Giêsu liên kết với những hành động mà các ngôn sứ thường làm để thông truyền sứ điệp cho có hiệu quả hơn. Nó gồm một hành động và hai lời giải thích. Hành động ở đây dồi dào hơn ở trong bài trần thuật Nhất Lãm: lấy dây làm roi, có nhiều chiên bò trong Đền thờ. Thời bấy giờ dọc theo Cédron hay trên núi Olivêtê có một chợ súc vật dùng làm của lễ dâng cúng, do nhóm Sanhédrin tổ chức. Trước cảnh tục hóa như thế, Chúa Giêsu chống đối theo đường hướng của các ngôn sứ như Giêrêmia (7,14), Malakhi (3,1) hoặc Israel (65,7) đã làm trước Người. Người chứng tỏ việc tẩy uế Đền thờ được tiên liệu vào thời cánh chung hiện đang tiến hành.

Lời Người nói có hai phần: Trước hết Người yêu cầu chính đáng một tập tục bất xứng với Thiên Chúa. Lời này không hẳn là một trích dẫn Kinh Thánh, dù rằng điều đó được nói đến trong Zacaria 14,21: “Vả trong ngày đó sẽ không còn kẻ buôn bán nơi Đền thờ Chúa quân lực nữa”. Ở đây Chúa Giêsu hành xử như Người bênh vực quyền lợi của Thiên Chúa. Người vén lên bức màn về mối liên hệ duy nhất giữa Người với Chúa Cha. Sau đó, Chúa Giêsu đáp ứng yêu cầu dấu lạ bằng một lời huyền nhiệm về Đền thờ. (không phải hieron nữa, mà là naos, nghĩa là chính cung thánh).

Việc so chiếu với các sách Tin Mừng Nhất Lãm về vấn đề này sẽ làm cho dễ hiểu hơn. Ở trong Nhất Lãm có một câu gần gũi với câu trên nhưng với những điều khác biệt quan trọng: trong Nhất Lãm, lời tuyên bố về việc phá hủy Đền thờ được những kẻ làm chứng gian hiểm độc nói lại; còn trong Gioan, lời này được đặt vào trong môi miệng Chúa Giêsu. Trong Tin Mừng Maccô, việc phá hủy Đền thờ được quy cho Chúa Giêsu: “Tôi sẽ phá” (14,58); trong Tin Mừng Gioan, lời nói đó đối đáp với những người đối thoại: “Các ông cứ phá hủy Đền thờ này đi”. Ngoài ra Gioan cố ý dùng cụm từ “Tôi sẽ xây dựng lại Đền thờ này” để chỉ công việc xây dựng cũng như để chỉ sự sống lại.

GIẢI THÍCH (cc 17-22)

Như vậy không dễ gì hiểu được nền tảng lịch sử rõ ràng về bài trần thuật này. Ta có thể nghĩ đến một hành động tượng trưng chống lại các lạm dụng trong Đền thờ. Sự hiện diện của các người đổi bạc là cần thiết để khách hành hương có thể đổi những đồng bạc mang dấu ấn triều đình để lấy đồng tiền trong sạch. Cũng vậy việc buôn bán gia súc dùng làm của lễ dâng cúng là một nhu cầu. Trừ khi nghĩ đến sự phản kháng triệt để về việc thờ phượng do Chúa Giêsu… còn thì toàn thể Tin Mừng không đi theo chiều hướng đó. Chỉ cần lưu ý đến sự băng hoại nổi tiếng của gia đình Anna, thượng tế tiền nhiệm của Caipha. Bù lại, một sự công kích triệt để như thế về của lễ dâng cúng đã được cộng đoàn của Gioan nhấn mạnh, sau khi Đền thờ bị phá hủy, đánh dấu sự kết thúc việc hiến tế.

Tác giả thận trọng về các vấn đề trên: ông để tâm đến việc khác. Ông chứng tỏ điều đó bằng cách đưa vào trong bài trần thuật của mình nhiều chú thích. Chúng ta hãy ghi lại:

a. Sự liên quan mật thiết với phép lạ ở Cana. Quả vậy cả hai cảnh tượng có nhiều điểm tương đồng. Cả hai đều kể đến một sự chuyển tiếp: những chum đá rỗng không, đền thờ trống vắng. Mối liên hệ với lễ Vượt Qua được chú ý trong bài trần thuật thứ nhất: “ngày thứ ba, vinh quang”, và trong bài thứ hai: “vào dịp lễ Vượt Qua”, “nội trong ba ngày tôi sẽ xây dựng lại” (2,19), “khi Người từ cõi chết chỗi dậy”(2,22).

b. Các lời chú giải của thánh sử. Tác giả trong khi đưa vào trong bài trần thuật những suy tư của riêng mình hướng dẫn chúng ta xem xét: “Các môn đệ của Người nhớ lại…” (2,17). Thánh vịnh 69,9-10 soi dẫn cộng đoàn tiên khởi của Gioan, có đoạn sau:

“Anh em nhà kể con như người dưng nước lã
Hàng máu mủ xem con bằng khách lạ mà thôi.
Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà con phải thiệt thân.
Lời kẻ thoá mạ Ngài, này chính con hứng chịu”.

Vậy nên, Gioan hiểu được sự cô đơn của Chúa Giêsu đối với anh em của Người (và rộng hơn đối với dân tộc của Người) cũng như hiểu được số phận bị thảm của Người: nhiệt tâm lo việc nhà Chúa của Chúa Giêsu đưa Người đi đến cái chết. Thế nhưng suy tư tiếp theo của thánh sử tiến dẫn nguyên nhân của sự phục sinh. “Các môn đệ nhớ lại…và tin”.

Trong bài trần thuật này, Đền thờ mới, Chúa Kitô, chiếm vị trí của Đền thờ cũ (biến mất vào thời biên soạn Tin Mừng), ta sẽ không khỏi khâm phục tác giả đã khéo léo liên kết Kinh Thánh, các sự kiện liên quan đến Chúa Giêsu và sự suy niệm Phục Sinh.

CHUYỂN TIẾP (2,23-25)

Cảnh tiếp theo tạo nên một sự chuyển tiếp khéo léo giữa hai cảnh Cana và cảnh tẩy uế Đền thờ và cuộc đối thoại với ông Nicôđêmô. Ta có thể nhận thấy ở đó một kết luận đã tỉnh ngộ với sự cương quyết dứt khoát với Do Thái giáo được thể hiện trong bài trần thuật về Cana và hành động ngôn sứ từ việc xua đuổi những người mua bán trong Đến thờ. Đồng thời sự cảm nghiệm thất bại này chuẩn bị cuộc gặp gỡ với một nhân vật tiêu biểu của Do Thái giáo: ông Nicôđêmô, dù có thiện chí phấn đấu, vẫn được xem như không thể tiếp bước theo Chúa Giêsu với những đòi buộc của Người. Sự nghi ngờ này xảy ra ở giữa sự từ khước có hệ thống cho nhóm Do Thái chính cống và đức tin của các môn đệ. Gioan không xác định bản chất các dấu lạ Chúa Giêsu đã làm tại Giêrusalem (xem thêm 4,45).

 

4. Chú giải của Noel Quesson

Gần đến Lễ Vượt qua của người Do Thái, Đức Giêsu lên thành Giêrusalem.

Đức Giêsu là một người Do Thái nhiệt thành sống đạo. Trong Tin Mừng của mình, thánh Gioan đã bảy lần ghi lại Đức Giêsu tham dự những buổi lễ trọng phải hành hương (Ga 5,1; 6,4; 7,2; 10,22; 11,55; 12,1; 13,1), đặc biệt là Lễ Vượt qua vào Mùa Xuân và Lễ Lều trại vào Mùa Thu. Trước hết tôi chiêm ngưỡng Đức Giêsu, với tư thế là một người trần hòa lẫn trong đám đông, đang cầu nguyện ca hát trên bước đường hành hương, rồi trên sân trước của Đền thờ. Cho dù trên thực tế, Đức Giêsu đã sửa đổi rất kỹ những nghi thức phụng tự Do Thái, nhưng về mặt giáo lý Người không chủ trương bài xích. Cuốn phim “Lễ vật toàn thiêu” nhắc lại cho ta thấy sự đau khổ của dân tộc này mà Đức Giêsu là thành phần; một dân tộc luôn mang một định mệnh đặc biệt cách nhiệm mầu. Trang Tin Mừng trên đây của thánh Gioan bắt đầu bằng “Lễ Vượt Qua của người Do Thái” (câu 13), và kết thúc với “Lễ Vượt Qua của Đức Giêsu (câu 2) nhằm nhắc lại những môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu đều là người Do Thái, là những kẻ “tin vào danh Người trong dịp lễ Vượt Qua” (câu 23). Từ ‘lễ Vượt qua của người Do Thái’ đến ‘Lễ Vượt qua Kitô giáo’, luôn thể hiện cùng một mầu nhiệm khôn dò: Mầu nhiệm phá hủy một đền thờ, rồi nhờ đó lại mọc lên một đền thờ khác.

Người thấy trong Đền thờ có những kẻ bán chiên bò, bồ câu và những người đang ngồi đổi tiền. Người bèn lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi đền thờ, còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra và lật nhào bàn ghế của họ. Người nói với những kẻ bán bồ câu: “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây”.

Tranh ảnh Kitô giáo đã không bỏ sót diễn tả những cảnh này với màu sắc và hành động thật là phong phú. Đức Giêsu đang nổi giận, cầm roi trong tay, xua đuổi “phường buôn bán ra khỏi Đền thờ”. Chúng ta cần phải vượt qua giới hạn của “biến cố” trên, để tìm hiểu ý nghĩa thần học sâu xa của pha cảnh. Trong câu này, ta nhận thấy, hình như Đức Giêsu đối xử với những kẻ bán bồ câu với thái độ khác thường, tử tế hơn so với những kẻ khác: Vì bồ câu thuộc “lễ vật của người nghèo”, lễ vật của những người như Đức Maria xưa kia, đã không đủ tiền để mua những con vật lớn. Ở đây, Đức Giêsu chứng tỏ thái độ ưu ái đối với những người nghèo mà Người không ngừng biểu lộ.

Đừng biến nhà Cha Tôi thành nơi chợ búa.

Những con buôn và phường đổi tiền không nhất thiết là những người xấu. Thực ra, họ đã phục vụ đáng kể đối với các tín hữu từ xa đến, đang cần sắm sửa tại chỗ những lễ vật cần thiết để tiến dâng: Như trướng hợp Maria và Giuse, đến đền thờ trong ngày hiến dâng con mình, hẳn là rất hài lòng gặp được những người buôn bán như thế, để mua sắrn một cặp bồ câu non (Lc 2,24). Vì thế, chúng ta dễ sai lầm nếu chúng ta chỉ đọc trang Tin Mừng trên cách hời hợt, nhất là chúng ta chỉ áp dụng trang sách đó cho kẻ khác. Chúng ta rất dễ nổi giận, dễ dùng lời nói mà không sợ bị liên lụy để chống lại tiền bạc, sự mua bán trái phép, những “ồn ào của bạc tiền” chung quanh bàn thờ, xã hội tiêu thụ, đề cao lợi nhuận trong các nền kinh tế phương Tây. Đức Giêsu quả đã là một người nghèo thực sự. Người đã nổi giận trước vị trí quá lớn của tiền bạc đang ngự trị trong Đền thờ. Chắc chắn là thế! Như vậy, chính chúng ta cũng phải hoán cải về vấn đề này. Lạy Chúa, xin cứu chữa chúng con khỏi lòng dính bén với tiền bạc.

Nhưng điểm cốt yếu của trang Tin Mừng hôm nay không nằm ở đó.

Chúng ta hãy lắng nghe kỹ kiểu nói lạ thường mà Đức Giêsu sử dụng để nói về đền thờ: “Nhà của Cha Tôi”. Chúng ta quá chán với kiểu nói đó. Tuy nhiên chúng làm cho ta càng phải tìm hiểu sâu xa hơn căn tính của “con người” này, Giêsu thành Nagiarét? Trong con người đó đang ẩn chứa một bí nhiệm to lớn biết bao! Giữa Người và Thiên Chúa, có một mối tình yêu thương mật thiết biết bao! Người đang hiện diện nơi nhà mình, trong đền thánh của Giavê. Nơi thánh này, chính diện bất khả xâm phạm này, không ai được phép vào trừ vị Thượng tế, mỗi năm một lần (Dt 9,7). Đó là nơi “chí thánh”, nó “tách biệt” với tất cả “không ai được đụng chạm” đến, không ai bước vào mà không phải chết. Thế mà nói một cách hết sức tự nhiên, đó là “nhà của Cha Người”, là nhà của Người, vì Người là con. Vào lúc 12 tuổi, Người cũng nói như thế, nhưng không ai hiểu cả, ngay cả mẹ Người là Đức Maria: Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (Lc 2,49).

Vâng! yếu tố trước nhất trong việc phụng tự mà ta thể hiện với Thiên Chúa, không phải là việc làm bề ngoài (như bò, chiên, bồ câu) mà là tấm lòng con thảo ta đặt vào đó. Lạy Chúa, xin giải thoát chúng con khỏi mối bận tâm quá đề cao những nghi lễ, những hình thức bên ngoài.

Các môn đệ của Người nhớ lại lời đã chép trong Kinh thánh: “Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi đây đã phải thiệt vào thân” (Tv 69,10).

Đối với Đức Giêsu “tình yêu Chúa Cha” luôn thiêu đốt Người, nói cách văn vẻ, như ngọn lửa ngốn trọn những nhánh củi khô. Lễ vật dâng lên Chúa Cha của Đức Giêsu không theo “nghi thức”, nghĩa là những gì ở bên ngoài Người. Người sẽ dâng hiến chính bản thân mình làm lễ vật và trọn cuộc sống Người luôn là một của lễ như thế. Còn đối với tôi, việc phụng tự ra sao? Nó mang hình thức nào? Tôi ‘dự lễ’ hay tôi ‘chung phần’ vào thánh lễ? Cùng với Đức Giêsu, tôi có được Thiên Chúa khơi lửa nhiệt tình, nung đốt tình yêu và làm cho say đắm không? Ôi! lạy Cha, con cũng muốn rằng, từ giờ trở đi, nhà của Cha sẽ làm cho con phải thiệt vào thân vì yêu mến, Nếu Đức Giêsu đã phản ứng mạnh mẽ như thế, chính là vì danh dự và vinh quang của Cha Người đã bị xúc phạm trong việc “buôn bán trái phép” đó. Đức Giêsu quả là một con người say mê Thiên Chúa, sống cho quyền lợi của Thiên Chúa.

Các ông cứ phá hủy đền thờ này đi, nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại. Người Do Thái nói: Đền thờ này phải mất bốn mươi sáu năm mới xây xong, thế mà nội trong ba ngày ông xây dựng lại được sao?”

Ở đây bản văn Hy Lạp không dùng từ “đền thờ” (iéron) mà là từ “thánh điện” (naos). Và đó không phải là điều ngẫu nhiên, bởi vì trước đó, cùng trong cùng bản văn, Gioan đã sử dụng chính xác từ “đền thờ”. Người thấy trong đền (iéron) có những kẻ buôn bán; và Người xua đuổi họ ra khỏi đền thờ (iéron). Theo nghĩa này, đền thờ là toàn bộ những công trình kiến trúc, kể cả đường dạo chơi, công trường, các sân phía trước. Nhưng giờ đây Đức Giêsu đi xa hơn nhiều, khi Người nói: “Các ông cứ phá hủy thánh điện (naos) này đi”, tai hại biết bao, nếu những người dịch không tôn trọng bản văn! Thánh điện chỉ là phần kiến trúc hoàn toàn bé nhỏ, những quý giá nhất của toàn bộ đền thờ; là trung tâm điểm, nơi Thiên Chúa hiện diện (shékinah). Chúng ta đừng quên rằng, Đức Giêsu sẽ bị kết án tử hình do lời tố cáo sai lầm vì Người đã tuyên bố: “Tôi sẽ phá thánh điện này và sẽ xây cất lại” (Mt 26,6). Thực sự đó là một lời phạm thượng. Thánh điện này vẫn hoàn toàn mới mẻ, được Hêrôdê cho phép khởi công xây cất 50 năm trước đó. Đó là niềm tự hào của quốc gia, là nơi tôn kính để cầu nguyện và hành hương, mà mỗi năm hàng triệu người tới viếng thăm. Đó cũng là nơi phụng tự duy nhất” của Israel. Quả thực, con người này bạo gan mới dám nói như thế! Phát triển như thế, cũng như người nào đó tuyên bố: “Cứ phá Đền thờ thánh Phêrô ở Rôma đi hay cứ phá đền thánh Lộ Đức, nhà thờ Đức bà ở Paris hay vương cung thánh đường ở Angers…”. Thế mà, Đức Giêsu nói năng tự nhiên, không có vẻ gì của một kẻ khiêu khích cả.

Nhưng đền thờ (naos) Đức Giêsu muốn nói ở đây là chính mình Người.

Đền thờ ở đây, bản văn Hy Lạp dùng từ “thánh điện” (naos). Hiển nhiên, ta đang ở vào trung tâm của trang Tin Mừng trên. Ta thử tìm hiểu thêm, Đức Giêsu đã ý thức về mình thế nào. Người biết Người là ai. Người nói: Người là một thánh điện. Đức Giêsu tự tạo cho mình thành “nơi Thiên Chúa hiện diện”. Chính thân xác Người là “đền thờ mới”, là nơi “phụng tự mới”. Gioan Tẩy giả đã chỉ Người như Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian (Ga 1,29). Phải, Đức Giêsu đã phịu sát tế trên ngọn đồi ngoài cửa thành, hy sinh vào đúng giờ mà trong Đền thờ người ta đang sát tế nhiều chiên Vượt Qua, ngày áp lễ “Vượt Qua trọng đại” (Ga 19,31). Bằng chính thân xác mình chịu hy sinh, Đức Giêsu đến thay thế cho mọi lễ vật và làm cho Đền thờ Giêrusalem trở nên vô tích sự và màn trong Đền lúc đó có thể bị xé bỏ (Mt 27,51). Từ thân xác đó sẽ tuôn ra “con sông với dòng nước mạnh” (Ga 19,84): Nước và máu đã được ngôn sứ Edêkien báo trước, sẽ từ thánh điện chảy ra (Ed 41,l-12).

Vậy khi người từ cõi chết trỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Người đã nói điều đó.

Do đó, Lễ Vượt qua của Đức Giêsu và của các Kitô hữu đã kết thúc “Lễ Vượt qua của người Do Thái”, như đã đề cập đến đầu trang Tin Mừng trên. Đây là cuộc giải phóng phi thường và triệt để, mà cuộc giải phóng khỏi ách nô lệ Ai Cập chỉ là sự báo trước và là hình ảnh tiêu biểu. Đây là Đền thờ mới, làm vô hiệu mọi nơi thờ tự khác. Như vậy, nơi Thiên Chúa hiện diện không còn là một lâu đài nữa, mà là một Đấng nào đó: Đó là Thân mình Đức Kitô. Tất cả phụng vụ Kitô giáo chỉ được thể hiện chung quanh thân thể này. Nhưng chúng ta cần hiểu thêm, mầu nhiệm này còn đi xa biết bao? Sau này, thánh Phaolô sẽ nói với các Kitô hữu, các kẻ bốc dỡ hàng tại cảng Côrintô: “Anh ern là Thân mình Đức Kitô” (1Cr 12,27). Đó là cơ sở để xây dựng phẩm giá cao cả của con người: “Nào anh em chẳng biết rằng anh em là đền thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao? (1Cr 3,16-l7).

Như thế, không phải chỉ có “thân xác Phục sinh” của Đức Giêsu mới là Đền thờ mới, mà cả “thân xác của mỗi người đã chịu phép rửa”: “Anh em không biết rằng thân xác của anh em là Đền thờ của Thánh Thần, và Thánh Thần đang ngự trong anh em sao?” (1Cr 6,19-20). Thánh Âu Tinh cũng nói với các tín hữu của mình: “Khi linh mục nói với anh em “Mình Thánh Chúa Kitô”, anh em đáp lại: “Amen” với niềm xác tín anh em đang “hiện diện trong Đức Kitô”. Có một bản thánh ca ngợi khen mầu nhiệm này như sau: “Chớ gì chúng con trở nên mình thánh biết sung sướng tạ ơn; chớ gì chúng con trở nên mình thánh, giữ gìn Giao ước của Chúa…”.

Chúng ta tuôn có huynh hướng “ấn định chỗ ở cho Thiên Chúa”, xây dựng cho Người những “nhà tù sơn son thiếp vàng”, những “thánh điện” để cô lập Người, gạt Người ra khỏi thế giới, khỏi cuộc sống của ta. Nhưng không có nhà thờ nào, vương cung thánh đường hay đền thánh nào có thể giam giữ Thân mình Đức Kitô được? Anh em là Thân mình Đức Kitô! Tôi là Thân mình Đức Kitô! Khi nhận mình thánh Đức Giêsu, tôi “trở nên” Thân mình của Người, trở nên thánh điện.

Trong lúc Đức Giêsu ở Giêrusalem vào dịp Lễ Vượt qua, có nhiều kẻ tin vào danh Người.

 

5. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt: TẨY UẾ ĐỀN THỜ

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

“Lễ vượt qua của người Do thái gần đến”. Thời gian xảy ra dấu chỉ đây tự nhiên làm ta nghĩ tới lễ Vượt qua trong đó Chúa Giêsu sẽ bị lên án tử hình; tương quan giữa việc tẩy uế Đền thờ và cuộc Tử nạn của Chúa Kitô như thế là đã được ám chỉ. Mc 11,18 và Lc 19,47 ghi chú rằng việc can thiệp này của Chúa Giêsu nhằm lên án giới lãnh đạo Do Thái giáo, sẽ thúc đẩy các tư tế và ký lục “tìm cách hại Người”.

“Người gặp thấy trong Đền thờ”: Đền thờ gợi lên tất cả hệ thống phụng tự cổ xưa vốn tập trung hoàn toàn tại đó. Cũng tại đó, các lái buôn bán súc vật để làm lễ hy tế riêng và những người đổi tiền đổi cho bạn tiền Do thái (tiền cũ của vùng Tyrô) là thứ tiền duy nhất được chấp nhận để trả thuế Đền thờ.

“Một cái chợ”: thành ngữ này cảm hứng từ Dcr 14,21, trong khi Tin mừng Nhất Lãm, vì muốn đối chọi hoàn cảnh hiện tại (‘một hang trộm cướp’) với lý tưởng Thiên Chúa muốn (‘một nhà cầu nguyện’), nên dã trích dẫn Gr 7,11 và Is 56,7.

“Môn đồ nhớ lại”: Các môn đồ chỉ hiểu được câu chuyện này sau khi Chúa Giêsu sống lại, lúc Thần khí đã cho họ ơn thông hiểu các dấu chỉ Thầy đã làm.

“Lòng nhiệt thành đối với nhà Chúa sẽ nghiến cả mình tôi”: Thánh vịnh 69 trình bày người Công chính trị thiêu đốt bởi lòng nhiệt thành đối với sự thánh thiện của nhà Thiên Chúa, nhưng lòng nhiệt thành này khiến ông phải bị bách hại. Ga 15,25 và 19,29 cũng sẽ còn trích dẫn thánh vịnh 69, luôn luôn trong tương quan với cuộc Khổ nạn chia Chúa Kitô. Thành thử ý nghĩa của câu trích dẫn này trong văn mạch hiện tại là như sau: cũng như người Công chính đau khổ đã phải trả giá cho lòng nhiệt thành đối với Đền thờ thì Chúa Kitô, khi tẩy uế Đền thờ cũng gây nên đau khổ và cái chết cho bản thân.

Chúa Giêsu thanh tẩy Đền thờ và phụng tự cũ hầu xây dựng một Đền thờ mới cùng thiết lập một phụng tự mới (cc.19-20); việc đi từ cũ sang mới này sẽ được thực hiện nhờ cái chết của Người.

“Người Do thái”: Trong thực tế, đây là các chức sắc trong Đền thờ (tư tế, Lêvi và vệ binh) có trách nhiệm về những chuyện Chúa Giêsu kết án. Tuy nhiên, như hết mọi nơi trong Tin Mừng của ông, Gioan không phân biệt giới lãnh đạo với toàn thể dân Do thái đã từ chối tin vào Chúa Kitô. Thành thử đây là vấn đề hệ thống phụng tự của toàn dân Do thái.

“Dấu nào ông tỏ ra được cho chúng tôi?”: Qua câu này, người Do thái muốn nói tới một hành động phi thường vốn sẽ biểu lộ dấu ấn Thiên Chúa trên sứ mệnh Chúa Giêsu. Mt 12,38; 16,1; Mc 8,11 và Lc 11,16 cũng ghi lại một lời yêu cầu tương tự của Biệt phái. Dcr 1,22 bảo người Do thái hay đòi hỏi như vậy.

“Hãy phá hủy Đền thờ này đi”: Vì không tin, người Do thái sẽ trở thành dụng cụ gây nên dấu chỉ họ đòi hỏi. Về sau câu nói này của Chúa Giêsu sẽ bị nhắc lại bởi các chứng nhân trong vụ án xử Người (Mt 26,61; Mc 14,58) và bởi khách bộ hành lăng nhục Người dưới chân thập giá (Mt 27,40; Mc 15,29) Dấu chỉ Chúa Giêsu loan báo đây tương ứng với câu Người trả lời cho Biệt phái trong Mt 12,29t và 16,4: “Con Người, Người đã nói về Đền thờ thân thể Người”: Đền thờ mới thay thế Đền thờ cũ đã bị tục hóa chính là thân thể phục sinh của Chúa Kitô.Tín hữu thành Ephêsô, độc giả trực tiếp của Gioan, rất quen thuộc với một sự đồng hóa như vậy vì Dcr 3,16 và 12,27 (được viết tại Ephêsô) cũng như Ep 2,21 và 4,12 đều nói Kitô hữu vừa là Đền thờ của Thiên Chúa, vừa là thân thể Chúa Kitô, với lối giải thích này của Phaolô, Đền thờ mới chính là Giáo hội, Thân thể vinh hiển của Chúa Kitô phục sinh mà mọi tín hữu đều kết hợp vào.

“Vậy khi Người phục sinh từ cõi chết, môn đồ người nhớ lại… họ đã tin”: Maccô thường ghi nhận là các môn đồ không hiểu gì hết. Gioan thì nói cách tích cực là họ hiểu rõ sau ngày Chúa Kitô phục sinh (12,16). Bởi vì chỉ sau khi Chúa Giêsu được tôn vinh, họ mới nhận lãnh Thần khí (7,39), Đấng sẽ soi sáng cho họ hiểu các dấu chỉ Chúa Giêsu đã làm (14,26; 15,26tt). Thành thử ở đây đức tin của các môn đồ được liên kết với sự Phục Sinh không như với một bằng chứng về sự xác thực của những gì Chúa Giêsu đã bảo, song như với nguyên nhân ban ơn Thần khí, Đấng duy nhất giúp cho họ hiểu.

“Họ đã tin vào Kinh thánh”: Ta không rõ Gioan muốn ám chỉ đoạn nào trong Cựu Ước. Có thể so sánh với Cv 2,24t; 13,34tt, nơi có những bản văn thường được Giáo hội sơ khai trích dẫn đối chiếu với sự Phục sinh của Chúa Giêsu (đặc biệt là Tv 16,10). Xin lưu ý là Kinh Thánh (lời Thiên Chúa) và Lời Chúa Giêsu đều được đặt trên cùng bình diện (so sánh Ga 18,9.32) và đều là đối tượng niềm tin của các môn đồ.

Các câu 23-25 là những câu chuyển mạch nhằm chuẩn bị cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu với Nicôđêmô; chúng giải thích việc Nicôđêmô đến (3,2), niềm tin bất toàn của ông và những lời Chúa Giêsu khiển trách ông (3,11t). Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu với Nicôđêmô như thế được đặt trong một khung cảnh cụ thể. Thói quen của Gioan là vậy: để ra một vài câu để đặt các trình thuật biểu tượng và thần học của ông trong một khung cảnh lịch sử: so sánh 4,43-45; 7,1-13; 10,19-21.40-42; 11,55-57; 12,17-19.41-43.

“Lắm kẻ tin vào Danh Người”: Nhiều kẻ tin rằng Chúa Giêsu đến từ Thiên Chúa (3,2), nhưng không tin vào tất cả mầu nhiệm con người của Người. Niềm tin của họ chỉ dựa trên phép lạ mà thôi: nó không phải là vô giá trị, nhưng bất toàn (4,48; 20,29).

KẾT LUẬN

Sau bức màn bị xé toang của Đền thờ và qua thân thể bầm dập tắt thở của Chúa Giêsu Thiên Chúa đã xuất hiện trong một thân xác người đích thực, phủ đầy vinh quang thần linh. Giấc mơ của Cựu ước Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta, giờ đây được thực hiện trong Chúa Giêsu Phục Sinh mãi mãi.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1) Vì yêu Chúa Cha, Chúa Giêsu đã chắp dây thừng làm roi đánh đuổi quân buôn bán ra khỏi Đền thờ, nơi mà 20 năm về trước, Người đã vào như vào nhà thân phụ khi làm cử chỉ đầu tiên của một người Israel khôn lớn. Người đã dùng võ lực bênh vực quyền lợi của Cha, vì bị nung nấu bởi lòng nhiệt thành đối với nhà Cha, vì muốn nhà Cha được sử dụng cách xứng đáng, vì bị thúc đẩy bởi một cơn thịnh nộ. Thành thử, dù là Đấng “hiền lành và lòng đầy khiêm nhượng”, bạn bè của các trẻ nhỏ và tội nhân, Chúa Giêsu cũng là người biết nổi giận và phẫn uất. Người chẳng phải là một thượng thánh im lìm song là một con người bằng xương bằng thịt, biết phản ứng và tỏ ra kinh khủng khi phải bênh vực vinh quang Cha Người.

2) Chúa Giêsu cũng muốn dùng phương pháp trên để giải phóng tâm hồn nhân loại, biến nó thành Đền thờ đích thực của Thiên Chúa hằng sống. Người biết rõ mọi cái có nơi con người ta hơn cả những nhà tâm phân học; biết những uẩn khúc của ý thức, tiềm thức, vô thức của chúng ta, biết các con vật đang thu mình và gầm gừ trong đó. Người hết sức muốn giải phóng ra khỏi cảnh nô lệ này, khỏi sự tục hóa này cái con người đã được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, cái con người đã được mời gọi sống sự sống thần linh. “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Ngài hầu những ai tin vào Người sẽ được sống vĩnh cửu” (Ga 3,16).

3) Trong dịp lễ Vượt qua đầu tiên của đời sống công khai này, Chúa Giêsu tỏ mình như một nhà giải phóng khác với Môsê: Người thiết lập một ngày sabbat mới và một lễ Vượt Qua mới. Vì danh Cha, Người muốn có một phụng tự khác trong Thần Khí và sự thật, trong tình yêu và tự do, một phụng tự tôn thờ đích thực trong đó giới răn thứ nhất được thi hành một cách tuyệt hảo: “Ngươi hãy thờ lạy một mình Thiên Chúa và mến yêu Ngài trên hết mọi sự “.

4) “Hãy phá hủy Đền thờ này đi, và nội trong ba ngày Ta sẽ xây dựng lại”. Nghĩa là thân xác Chúa Giêsu sẽ bị đánh dập nhừ tử, sẽ bị giết chết nhưng rồi sẽ phục sinh. Trong thực tế, vào ngày thứ sáu Tuần thánh, hai nhân chứng sẽ đến lặp lại những lời này: Tên này đã nói: Ta có thể triệt hạ Đền thờ Thiên Chúa và trong ba ngày sẽ xây cất lại (Mt 26,61). Tại đồi Canvê, dân chúng sẽ lắc đầu nhạo báng Người mà rằng: “Mày định triệt hạ Đền thờ và trong ba ngày sẽ xây lại, hãy tự cứu mình đi” (Mt 27,41). Nhưng rồi cuộc Phục sinh đã khôi phục cái Đền thờ, trong đó, Chúa Giêsu đã dâng hy tế hoàn hảo, đã dâng của lễ giải phóng nhân loại. Trên thập giá, Người đã vừa dâng lễ vừa tự hiến, là tư tế và hy lễ cùng một lúc; thành thử đối với chúng ta, Đền thờ mến yêu và thờ lạy chính là thân thể Chúa Kitô, trái tim Chúa Kitô. Trong thân thể của Người, chúng ta có thể kết hợp với Chúa Kitô tư tế và hy lễ. Trong thân thể phục sinh của Người là tạo vật được giải phóng tuyệt hảo nhất, thuần tính (nguồn tự do toàn vẹn) đã chiến thắng trong thân thể phục sinh của người, Giao ước mới đã được ký kết và củng cố mãi mãi.

5) Người Kitô hữu là Đền thờ Thiên Chúa. Phạm tội là biến Đền thờ Thiên Chúa là hang trộm cắp, và như thế xua đuổi Thiên Chúa ra khỏi lòng mình. Mùa chay là lúc trùng tu, kiến thiết đền thờ tâm hồn chúng ta để xứng đáng làm nơi Thiên Chúa ngự trị.

 

6. Chú giải của Fiches Dominicales: ĐỨC GIÊSU XUA ĐUỔI NGƯỜI BUÔN BÁN RA KHỎI ĐỀN THỜ

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

1. Từ đền thờ bằng đá, nơi Đức Giêsu đuổi quân buôn bán.

Nếu Tin mừng của hai Chúa nhật trước trích từ Maccô, thì Tin Mừng của ba Chúa nhật cuối cùng Mùa Chay này trích từ Gioan.

Các thánh sử khác đã đặt câu chuyện này vào cuối thời gian rao giảng của Chúa (Mt 21,12-17; Mc 11,15-17; Lc 19,45-46). Còn Gioan chủ ý đặt biến cố này vào đầu đời công khai của Chúa. Để như vậy, nêu rõ sự đoạn tuyệt với đạo Do Thái chính thống, lúc đó đang là hoàn cảnh lịch sử của Giáo Hội, đồng thời khôn khéo nối kết Kinh Thánh, các sự kiện và cử chỉ của Đức Giêsu bằng cái nhìn sau Phục Sinh.

Câu chuyện này xảy ra trong hoàn cảnh Đức Giêsu lên Giêrusalem “bởi vì lễ Vượt Qua đã đến gần Gioan nhắc lại công thức này 4 lần trong Tin Mừng (Ga 6,4; 11,55) để chuẩn bị cho độc giả thấy lễ Phục Sinh của Kitô giáo trùng hợp với lễ Vượt Qua của Israel (X.Léon-dufour, “Lecture de L’evangile selon Jean” cuốn 1, Seuil, trang 253).

Đức Giêsu thấy “trong đền thờ có những kẻ bán chim, bò, bồ câu và những người đang ngồi đổi tiền”? Danh từ “Đền thờ” nhắc đến ở đây không phải khu vực thánh của ngôi đền, cung thánh, nơi Thiên Chúa hiện diện giữa dân Người. Những người đổi tiền ở đó, là cần thiết, bởi vì đồng tiền chính thức mang hình và ký hiệu hoàng đế Rôma không được dùng trong phụng tự, và buộc phải đổi sang một đồng tiền không dơ. Còn bọn bán chiên, bò, chim bồ câu ở đó để bán những vật cần cho việc hy tế.

Chính trong khung cảnh này mà Gioan đặt cuộc can thiệp của Đức Giêsu, một cuộc can thiệp gồm hành động và lời quở trách.

+ Cử chỉ của Đức Giêsu giống với cử chỉ của các ngôn sứ thời xưa, khi thông báo sứ điệp của các ông. Gioan đã tả hết sức tỉ mỉ với những chi tiết mà không thấy nơi các tác giả Nhất Lãm: “Đức Giêsu cầm lấy một dây thừng dùng làm roi, Người đuổi những lái buôn chiên, bò, người lật đổ bàn của người đổi tiền bạc; người xua đuổi bọn bán chim bồ câu”.

+ Lời giải thích rất ý nghĩa: “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha Tôi thành nơi buôn bán” – Lời này gợi nhớ ngôn sứ Giacaria 14,21 loan báo việc tẩy uế Đền thờ được tiên báo vào cuối đời, lúc này đã khởi sự rồi (A. Marchadour, “L’evangile de Jean”, Centurion, trang 60). Lời này tỏ cho thấy mối liên hệ đặc biệt giữa Đức Giêsu và Thiên Chúa. Khi nói về Đền thờ, Người đã không dùng từ “nhà của Chúa”, mà Người nói “nhà của Cha tôi”.

Những người chứng kiến liền phản ứng tức khắc. Mọi người đều biết lời tiên báo về việc tẩy uế đền thờ. Họ hiểu ngay rằng: Đức Giêsu không những đến như một người cải tổ, chỉ tố cáo những lạm dụng nơi Đền thờ, mà còn như một vị đến để làm cho lời tiên tri thực hiện.

Người Do Thái hỏi Đức Giêsu: “Ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế?”. Bởi vì dưới con mắt họ, quyền thiên sai mà Đức Giêsu tự nhận, cũng như những gì thuộc Đền Thờ phải được chuẩn nhận bằng một dấu lạ.

2. Đến đền Thờ mới là Thân Thể của Chúa

Bấy giờ Đức Giêsu đáp: “Các ông cứ phá Đền Thờ này đi Đền Thờ này “nos”); nội trong ba ngày tôi sẽ xây dựng lại” (từ ‘dựng lại’ là từ mà thánh ký sau này, câu 22 dùng để chỉ “sống lại) X. Léon-dufour quảng giải: “Trong câu nói long trọng mà chúng ta đang được Đức Giêsu đối chiếu đền thờ sẽ bị phá huỷ với đền thờ mà Người sẽ là kẻ xây dựng lại, (Lecture de L’evangile selon Jean”, cuốn 1, Seuil, trang 261).

Những kẻ đối thoại với Chúa càng tỏ ra bực bội và ngạc nhiên. Sự không hiểu nhau về vấn đề Đền Thờ – đây là lần đầu trong một loạt những không hiểu dẫn Người đến núi Canvê – như vậy là hết cứu chữa.

Và cuối cùng, cộng đoàn Kitô hữu đã làm gì khi đọc lại những lời này dưới ánh sáng của Đức Giêsu Phục sinh: “Khi Người từ cõi chết chỗi dậy, các môn đệ nhớ lại người đã nói điều đó. Họ tin vào Kinh Thánh và lời Đức Giêsu đã nói”.

+ Nhớ lại cử chỉ của Chúa, cộng đoàn Kitô hữu khám phá ra rằng lời Thánh Vịnh 69 đã thực hiện, lời mà họ đặt ở tương lai: “Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi đây sẽ phải thiệt thân”. Họ hiểu ra rằng, câu chuyện Đền Thờ này, mọi tiến trình đã bắt đầu để dẫn Đức Giêsu đến cái chết; rằng Đức Giêsu đã trả giá bằng chính mạng sống Người, để thực hiện lời tiên tri về việc tẩy uế Đền Thờ mà Giacaria đã loan báo.

+ Nhớ lại những lời của Chúa về Cung Thánh Đền Thờ: “Các ông cứ phá huỷ đền thờ này đi, nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại”, họ hiểu rằng người nói về thân thể Người, là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa giữa loài người; nơi mở cửa cho hết thảy mọi người, nơi gặp gỡ giữa Thiên Chúa với con người; là Đền thờ của Giao ước mới.

Và X. Léon-Dufour kết luận: “Có thể nghĩ rằng, đoạn văn đã được biên tập sau năm 70, tức là sau khi đền thờ Giêrusalem thực sự bị phá huỷ, đền thờ mà Israel coi là nơi có sự hiện diện Thiên Chúa. Bởi đó, sau khi đền thờ bị phá huỷ, câu hỏi hóc búa được đặt ra là: cung thánh đã tan tành, vậy từ nay Thiên Chúa hiện diện ở đâu? Theo thúc đẩy của đức tin, người Do Thái thời đó tin rằng: nơi mà họ gặp Thiên Chúa là Lề Luật. Còn đối với những Kitô hữu, những người còn chăm chỉ lên đền thờ cầu nguyện, câu trả lời sẽ là: Chúa Kitô sống lại hiện diện ở giữa họ khi họ tụ họp để cử hành lễ tưởng niệm Người” (Sđd, trang 266-267).

BÀI ĐỌC THÊM

1. Ơn gọi của chúng ta: làm dấu chỉ sự hiện hiện của Thiên Chúa giữa loài người

(Đức cha Daloz, trong cuốn “Nous avons vu Sa gloire”, Desclée de Brouwer, trang 38-39).

“Ngay từ những chương đầu của Tin Mừng, thánh Gioan đã nói cho chúng ta biết về cuộc hành trình lên Giêrusalem của Đức Giêsu nhân dịp lễ Vượt Qua của người Do Thái. Chính trong dịp này, ngài đề cập đến việc tẩy uế Đền thờ, trong khi những thánh sử khác thuật lại việc này sau khi Đức Giêsu long trọng vào thành Giêrusalem lần cuối. Cử chỉ của Đức Giêsu là cử chỉ của một tiên tri. Người xua đuổi những kẻ mua bán chiên bò để cúng tế và những kẻ đổi tiền ra khỏi đền thờ.

Ở đây hành vi đầy bạo lực của Đức Giêsu là hành vi của một tiên tri, chính các môn đệ của Người cũng hiểu như vậy. Họ nhớ tới lời Thánh Vịnh: “Nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi đây sẽ phải thiệt thân”. Người Do thái cũng hiểu rõ ý nghĩa của cử chỉ này. Họ đòi Đức Giêsu phải làm một đấu lạ để biện minh cho hành động của mình: “Ông lấy dấu lạ nào để chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế?” Đức Giêsu trả lời họ bằng rnột câu bí ẩn, mầu nhiệm: “Các ông cứ phá huỷ Đền Thờ này đi; nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại”. Chúa có ý nói đến tính cách tạm thời của những hy lễ trong đền thờ của giao ước cũ. Chúa nói về một đền thờ khác, đền thờ mà ở đó sẽ ký kết giao ước mới. Những đền thờ Đức Giêsu muốn nói ở đây là chính thân thể Người. Chính nơi Đức Giêsu mà từ nay Thiên Chúa bày tỏ sự hiện diện của Người. Cần chờ đến biến cố phục sinh, các môn đệ mới nhớ lại và tin vào Kinh Thánh và những lời Chúa đã nói. Chính đền thờ mới, thân thể Đức Kitô và nhà của Chúa Cha, mà tạ ngày nay cần phải gìn giữ, đừng biến nó thành nơi buôn bán. Ta cần phải hết sức cung kính đối với lễ vật của giao ước mới, đã thay thế cho lễ vật hy sinh của đền thờ ngày xưa. Ta cần phát hết lòng tôn trọng đốt với thân thể mầu nhiệm, mà Đức Giêsu là đầu, thân thể có ơn gọi làm dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa giữa nhân loại”.

2. Một đền thờ mới xây dựng những viên đá sống

(H. Denis, trong cuốn “100 mots pour dire la foi”, Desclée de Brouwer, trang 39-40).

Đức Giêsu làm một cuộc cách mạng, lật đổ cấu trúc tôn giáo. Không những người muốn cho người ta hiểu rằng những ngôi đền thờ vật chất trở nên vô dụng, mà Người còn muốn tỏ cho biết một ngôi đền thờ mới, đích thực là thân thể Người, đã chết đi và sống lại.

Đền thờ mới là chính Người, trong Người tình yêu của Thiên Chúa và của con người chuyển thông nhau trong một cuộc hiệp thông duy nhất.

Thật là một giao hoán lạ lùng. Nhưng chưa hết, Tân Ước còn thêm rằng ngôi đền thờ này mà Đức Giêsu là viên đá góc, được xây dựng bằng những viên đá sống là các Kitô hữu, và nói rộng ra là toàn thể nhân loại. Là đền thánh, bởi vì nó không được làm bằng đá, gạch hay bất cứ vật liệu cao quí nào, nhưng bằng những con người, con người được kêu gọi để thương yêu nhau, để hiến mạng sống cho nhau, nhờ đó lưu thông tình yêu vô hạn của Đức Giêsu.

3. Thánh lễ Chúa nhật: lúc dân mới kết hợp nên một thân thể hữu hình

(Thơ mục vụ của Hội Đồng Giám Mục Pháp “Lettre aux catholiques de France”, Cerf, 93-94).

Trong tiệc Thánh Thể, các cộng đoàn ý thức hơn về tầm quan trọng của mình trong đời sống của Giáo Hội. Nhưng điều tuyệt đối cần thiết là phải canh tân rộng khắp ý nghĩa của việc cử hành ngày Chúa nhật, hiểu như thời điểm mà dân mới, gồm những người đã được rửa tội, làm nên thân thể hữu hình, để đáp lại lời Đức Kitô mời gọi các môn đệ, kêu gọi họ dâng hiến sự sống kết hiệp với của lễ Đức Giêsu Kitô để thế giới được sống. Chúng ta hết thảy đều có lần cảm nghiệm những lần cử hành cởi mở, đầm ấm, khiến ta dường như cảm nhận được ơn cứu độ mà Thiên Chúa ban tặng, nhờ đó, ta được bồi dưỡng sức lực để tiếp tục lên đường. Điều đó không chỉ là một lý tưởng viễn vông đối với các cộng đoàn, nhất là nếu những cảm nhận và những truyền thống tu đức biết hoà hợp những đòi hỏi mà đôi khi người ta lầm tưởng là đối nghịch nhau, như tôn trọng truyền thống phụng vụ, kêu gọi mọi thành phần tham gia tích cực, và sự góp phần của thẩm mỹ và mỹ thuật vào phụng vụ.

Như vậy, việc thực hiện lễ tạ ơn không thể tách rời khỏi ý thức về thừa tác vụ được uỷ thác để ban sự sống và xây dựng cộng đoàn Giáo Hội.

 

C. CÁC BÀI CHIA SẺ

Bài 1. ĐỀN THỜ TÂM HỒN
Học viện Đa Minh

Kinh nghiệm về đền thờ của người Do Thái

Dân Do Thái vào thời các tổ phụ đã không biết tới đền thờ, cho dù họ vẫn có các nơi thánh để cầu khẩn Thiên Chúa. Rồi sau đó, trong cuộc xuất hành, họ dùng một thứ đền thờ lưu động, đó là nhà tạm với hai hòm bia giao ước. Từ đó, Thiên Chúa có thể ngự trị thường xuyên giữa dân Người. Sau khi đã định cư tại miền đất hứa, vua Đavít muốn thiết lập một đền thờ tại thủ đô Giêrusalem, thế nhưng, bước sang triều đại của vua con là Salômon, ý định của Đavít mới được thực hiện.

Dù đền thờ đã mấy lần xây rồi bị phá, nhưng đối với người Do Thái, đền thờ là trung tâm sinh hoạt tôn giáo, xã hội. Bởi lẽ đền thờ Giêrusalem là địa chỉ của sự gặp gỡ nối kết. Từ xa xưa, người Do Thái vẫn xem đền thờ Giêrusalem là dấu chỉ sự hiện diện hữu hình của Thiên Chúa ở giữa dân Người. Thứ đến, Đền thờ Giêrusalem là dấu chứng của tình yêu thương hiệp nhất. Sau nữa, đền thờ Giêrusalem còn là biểu tượng của sự thánh thiêng. Khi nói đến sự thánh thiêng, người Do Thái thường nói đến đền thờ.

Nhưng rồi qua năm tháng, ý nghĩa của đền thờ đã bị tục hóa, đền thờ ấy đã bị làm cho ô uế bằng đủ mọi thứ dối gian, trở thành nơi trục lợi, chỗ mua danh, chốn lạm quyền, v.v… Trước thực trạng đó, Đức Giêsu đã xua đuổi tất cả những kẻ làm cho đền thờ bị ô nhơ, nhằm trả lại sự thánh thiêng cho đền thờ. Đồng thời qua hành động và lời nói của mạnh mẽ của mình, Đức Giêsu muốn chúng ta nội tâm hóa đền thờ, đó là thanh luyện tâm hồn chúng ta để trở thành nơi cư ngụ xứng đáng của Thiên Chúa.

Việc thanh tẩy đền thờ đích thực

Việc thanh tẩy đền thờ của Đức Giêsu hôm nay còn liên hệ với một đền thờ khác. Đền thờ còn cao trọng hơn so với đền thờ bên ngoài. Đền thờ đó là tâm hồn mỗi chúng ta mà như thánh Phaolô đã nhắc nhở: “Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?” (1Cr 3,16). Và chính Đức Giêsu cũng đã khẳng định điều này: “Đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem… Nhưng giờ đã đến – và chính là lúc này đây – giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế.” (Ga 4,21-24).

Ngẫm lại bản thân mỗi người, nhiều lúc chúng ta nhận thấy mình đã vô tình làm dơ uế đền thờ Thiên Chúa nơi chính tâm hồn mình. Nhìn vào bản thân mỗi người, có khi ta đến nhà thờ chỉ vì bổn phận, sợ sự dòm ngó của người khác về đời sống đạo của ta, nên ta tham dự phụng vụ với tâm trạng miễn cưỡng. Đi lễ nhưng lại không dám đến gần cộng đoàn mà lại đứng xa xa, đứng ở một góc nào đó và đôi lúc cũng chẳng chú ý đến thánh lễ mà chỉ ngồi nói chuyện với nhau. Mỗi khi có thái độ như vậy là ta đã vô tình biến nhà thờ thành nơi buôn bán rồi.

Chiêm ngắm thái độ của Đức Giêsu đối với những người buôn bán trong đền thờ, ta ước sao mình có thái độ cương quyết trước những thoả hiệp, nhượng bộ chiều theo điều xấu của bản thân; cũng như không cậy vào sức riêng của bản thân nhưng biết nương tựa vào ân sủng của Thiên Chúa, để hằng ngày chúng ta thanh tẩy đền thờ tâm hồn, loại đi những gì là ô uế, đam mê, tội lỗi khỏi tâm hồn mình, để từ đây, tâm hồn chúng ta trở thành ngôi đền thờ thật sạch và đẹp cho Chúa ngự vào.

Bài 2. Thánh Ðường Mới
An Phong op

Bài Tin mừng hôm nay tường thuật biến cố Ðức Giêsu vào đền thờ Giêrusalem, đánh đuổi những người bán chiên bò ra khỏi đền thờ, hất tung tiền của người đổi bạc; đồng thời, Người tuyên bố Thân Thể Người chính là Ðền Thờ đích thực. Origène đã giải thích ý nghĩa hành vi này là : Ðức Giêsu thanh tẩy đền thờ và đổi mới cách thờ phượng Thiên Chúa; phượng tự Do Thái không còn thích hợp nữa, cần phải được thay thế bằng phượng tự Kitô giáo, đó là tôn thờ Thiên Chúa trong tinh thần và chân lý.

+ Ðối với người Do Thái, việc thờ phượng Thiên Chúa được tập trung nơi đền thờ. Nhưng việc tôn thờ Thiên Chúa không thể bị giới hạn trong nơi này hay nơi khác; vì chính Ðức Giêsu, và cộng đoàn hợp nhất với Ngài, mới là đền thờ đích thực.

Ngày nay, nhà thờ công giáo dường như có mặt khắp nơi và có đủ mọi kiểu dáng : giữa nơi đô hội hay nơi thôn xóm; khiêm tốn, đơn giản hoặc tráng lệ nguy nga…; nhưng sự khác biệt đó không quan trọng cho bằng : đền thờ có thực sự là nơi cộng đoàn kết hiệp với Ðức Kitô, để tôn thờ Thiên Chúa hay không. Ở tây phương, đã có nhiều thánh đường trở thành di tích lịch sử hay nơi tham quan du lịch rồi. Ở Việt Nam, có phải nhiều người vẫn quá để ý dáng vẻ đền thờ vật chất do con người làm ra hơn là nhận ra Ðức Giêsu hiện diện cùng với cộng đoàn phụng vụ của Hội thánh ?

Ðền thờ đích thực là nơi cộng đoàn ca hát, đối đáp, cầu nguyện và thờ phượng Thiên Chúa; nơi Ðức Giêsu đang hiện diện thực sự để cùng đồng hành với cuộc sống dân Kitô giáo.

+ Hơn nữa, một giờ hay 30 phút đi lễ…, chỉ là một khoảng thời gian ngắn ngủi biểu lộ chính ơn gọi làm “Dân Tư Tế của Thiên Chúa”. Bởi lẽ, khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội, người kitô hữu được xức dầu để làm một dân “chuyên lo việc phụng thờ Thiên Chúa”; và việc tôn thờ Thiên Chúa là cuộc sống mỗi ngày, suốt cả đời, trong toàn thể cuộc sống.

Do đó, đời sống đạo của người kitô hữu gắn liền với phượng tự: thánh lễ thường xuyên trong nhà thờ Công giáo, bổn phận tham dự thánh lễ trong ngày Chúa nhật và lễ buộc…; do đó, cuộc đời người kitô hữu là một thánh lễ miên trường, trong tâm tình tạ ơn, ngợi ca và thống hối; do đó, những lo loan tính toán mỗi ngày, những đau khổ, những thất vọng của kiếp người phải được biến nên của lễ trên bàn thờ, hiệp với lễ dâng của chính Ðức Giêsu, mà dâng lên Thiên Chúa Cha.

Con mang vác nặng quá rồi, Chúa ơi !
Con chịu đựng không nỗi nữa !
Con đường con đi, chưa dài lắm,
Nhưng quá khứ đã đủ chất chồng;
Con đã sống bao biến cố tang thương
Và nhiều lúc con xây xẩm mặt mày.
Con mang vác nặng quá rồi, Chúa ơi !
Con chịu đựng không nỗi nữa !

Nhưng hôm nay… lạy Chúa !
Có phải con mơ không ?
Con tin mình đã tìm thấy
Ðiều mà từ lâu Chúa chờ đợi nơi con.
Con tình cờ đọc được câu Thánh vịnh
được in nơi tấm hình :
“Hãy vứt bỏ những lo lắng trong Chúa
và chính ngài sẽ nâng đỡ con luôn.”
Và con tin rằng
Qua lời kinh đó,
Chúa đang thực sự nói với con.

(Michel Quoist)

 

Bài 3. Giao Ước Mới
Như Hạ op

Lời hứa có một ảnh hưởng nào trong cuộc sống ? Hôn ước cũng chỉ là một lời hứa vắn tắt, nhưng ràng buộc con người suốt đời.Thiên Chúa cũng bị lời hứa ràng buộc. Giao ước chính là lời Thiên Chúa hứa cứu độ nhân loại. Nhưng rõ ràng có một sự khác biệt lớn lao giữa Thiên Chúa và con người trong việc giữ lời hứa. Chính nhờ lời hứa, giá trị được xác định. Vì chữ tín càng cao, con người càng được mọi người kính nể. Chúng ta thử xem Thiên Chúa đã giữ lời hứa như thế nào trong khi thiết lập tương giao với nhân loại.

TƯƠNG QUAN HAI CHIỀU

Thiên Chúa đã chứng tỏ tất cả uy quyền khi thiết lập giao ước với loài người. Chính vì yêu thương, Chúa đã hạ cố đến với Môsê. Người đã dẫn ông qua những nẻo đường, đến tận núi Sinai để thiết lập giao ước với dân tộc Do thái. Mười Ðiều Răn chính là cách diễn tả cụ thể giao ước đó (Faley 1994:244). “Mười Ðiều răn thể hiện quyền bình Thiên Chúa trên chúng ta” (Disciples in Mission, Homily Guide, Lent Cycle B 1999:13). Quyền bính ấy không nhằm đè bẹp, nhưng thăng tiến con người. Con người chỉ thực sự thăng tiến khi biết rõ mình là ai trong tương quan với Thiên Chúa và tha nhân. Bởi vậy ” trước khi ban Mười Ðiều Răn cho Israel, Thiên Chúa mạc khải Người là ai. Israel khám phá mình là ai khi đáp trả lại lời Thiên Chúa mời gọi bước vào tương quan giao ước, nhờ vậy có một căn tính mới” (Disciples in Mission, Homily Guide, Lent Cycle B 1999:13). Quả thực chính nhờ giao ước, Do thái thực sự được Chúa yêu thương và trở thành người con đầu lòng của Thiên Chúa. Họ rất hãnh diện vì như chiếm được lòng ưu ái của Thiên Chúa, trong khi dân ngoại bơ vơ giữa đủ thứ thần tượng. Nhờ thực thi giao ước, họ sẽ chiếm được niềm hi vọng thiên sai.

Chính vì thế, Ðức Giêsu đã sinh ra trong dân tộc Do thái. Người đến để thực hiện tất cả những gì Thiên Chúa đã hứa qua giao ước. Thiên Chúa phải được tôn thờ là vị Thần độc nhất. Ðối với Do thái, nhận thêm một vị thần vào bảng phong thần không khó lắm. Nhưng tôn thờ Người là vị thần độc nhất, loại trừ tất cả các thần khác là cả một vấn đề. “Giới răn thứ nhất (cc.3-6) là một cách diễn tả niềm tin độc thần trong thực tế” (Faley 1994:245). Ðền thánh là lãnh vực tuyệt đối dành cho một mình Giavê mà thôi. Nếu ai đem thần ngoại bang vào đền thờ, tức là chối bỏ Giavê. Xúc phạm tới đền thánh tức là xúc phạm tới Thiên Chúa. Ðền thờ trở nên trung tâm sinh hoạt tôn giáo và chính trị của toàn dân. Ðó là biểu tượng của niềm tin và hi vọng. Dân tộc trở thành một cộng đồng qui tụ quanh đền thờ. Cộng đồng đó cần được Thiên Chúa hướng dẫn về Ðất hứa.

“Mười Ðiều Răn đã được Thiên Chúa phác họa để dẫn dân Do thái tới một cuộc sống thánh thiện trong thực tế. Trong Mười Ðiều Răn đó, họ sẽ nhìn thấy bản tính Thiên Chúa và kế hoạch Người chỉ vẽ cho dân lối sống. Mệnh lệnh và những chỉ dẫn nhằm hướng dẫn cộng đoàn gặp gỡ từng nhu cầu cá nhân một cách đầy thương yêu và có trách nhiệm” (Life Application Study Bible 1991:136). Thực hành Mười Ðiều Răn là cách duy nhất để cảm nghiệm tình yêu Thiên Chúa đối với dân Người.

Biểu tượng của tình yêu và niềm hi vọng chính là đền thờ. Bởi vậy mỗi khi nhìn đến hay hướng về đền thờ, dân Chúa vô cùng phấn khởi và hăng say giữ tất cả những gì Thiên Chúa đòi hỏi qua giao ước. Họ không cảm thấy gò bó hay miễn cưỡng khi giữ luật vì đó là “phương tiện duy nhất chu toàn luật thương yêu của Thiên Chúa” (Life Application Study Bible 1991:136). Ngày sabát là một bằng chứng. Chính vì biến phương tiện thành mục đích, người Do thái đã đánh mất nét tinh hoa cao quí nhất của lề luật. Nói khác, khi không còn là phương tiện đạt mục đích Thiên Chúa đã vạch ra, luật lệ hay đền thờ trở thành những thứ thừa thãi, vô bổ.

Chính vì thế Ðức Giêsu mới không ngần ngại nổi nóng với những lạm dụng đền thờ, cản trở việc thờ phượng. Làm sao có thể tưởng tượng nổi một Ðấng “hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11:29) lại có thể “lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi Ðền Thờ; còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế ho.” (Ga 2:15). Giữa chốn ồn ào hỗn loạn đó, chắc chắn Người đã phải quát lên : “Ðem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán” (Ga 2:16). Công cuộc thanh tẩy Ðền Thờ làm Người hầu như quên bản chất hiền lành của mình. Người sẵn sàng vượt lên trên mức thường tình để thanh tẩy Ðền Thờ. Người còn muốn cho mọi người thấy mạc khải lớn lao về bản chất đích thực. Người chính là Ðền Thờ mới thay thế Ðền Thờ cũ vào thời Thiên sai (Ml 3:1-4; Dcr 14:21). Bởi thế, “hành động của Ðức Giêsu mang tính cánh chung, thúc đẩy người Do thái thắc mắc về tư cách Thiên sai của Người” (Ga 2:18) (Faley 1994:248).

Thắc mắc đó phải đợi sau cái chết và phục sinh của Người được trả lời thỏa đáng. “Ðền Thờ ấy sẽ được một thực tại mới thay thế là Ðức Kitô tràn đầy Thần khí” (Faley 1994:248). Chính nơi Người, Thiên Chúa sẽ hiện diện cách sung mãn và sống động nhất. Người sẽ trở nên trung tâm thu hút mọi người về với Thiên Chúa. Quả thế, sau khi phục sinh, Ðức Giêsu là nơi nhân loại tìm được dung nhan Thiên Chúa và sự tôn thờ đích thực trong “thần khí và sự thật” (4:23-24). Trước đó, Người đã làm nhiều dấu chỉ chứng tỏ nơi Người, sự thật mới đạt đến độ sâu sa nhất. Vì nhờ thiên tính, Người đã đi sâu vào tận bản tính nhân loại (c.25; 1:47).

ÐỀN THỜ HÔM NAY

Ðức Giêsu cũng muốn thanh tẩy Ðền Thờ hôm nay là Giáo hội. Nếu Giáo hội không được thanh tẩy, những hoạt động trần tục sẽ che khuất dung nhan Thiên Chúa trước mắt mọi người. Nói khác, chính vì Giáo hội quá nặng nề với lỗi lầm quá khứ, những nghi lễ và luật lệ rườm rà, nhiều người đã không thể đến được với Chúa Kitô. Bởi đấy, ngày 12.3.2000, ÐGH Gioan Phaolô II đã làm một cử chỉ ngoạn mục trước mắt toàn thể nhân loại. Giáo hội đã tự thanh tẩy. Ðúng hơn, Thánh Linh đã thanh tẩy khuôn mặt Giáo hội, không phải để Giáo hội được nổi tiếng, nhưng để mọi người nhận biết Ðức Kitô là “sự thật và là sự sống” (Ga 14:6), có sức giải thoát nhân loại khỏi mọi cảnh khốn cùng hiện tại.

Trong khi rao giảng Ðức Kitô, Giáo hội nhìn nhận lịch sử Giáo hội là một chuỗi “các tội đã phạm trong khi phục vụ chân lý, các tội đã làm tổn thương đến sự hiệp nhất Kitô giáo, các tội chống lại dân tộc Israel, các tội chống lại tình yêu, hòa bình và kính trọng đối với các nền văn hóa và các tôn giáo, các tội chống lại phẩm giá của người phụ nữ và sự hiệp nhất của loài người, và các tội phạm đến các quyền cơ bản của con người” (VietCatholic 19/3/2000). Không phải vì những lầm lỗi ấy mà Giáo hội phải bị phá hủy, vì bản chất Giáo hội vẫn là thánh. Hi vọng sau lời thú tội này, Giáo hội sẽ phục vụ Thiên Chúa và con người đắc lực hơn. Mọi người có thể dễ dàng đến với Ðức Kitô qua cung cách khiêm nhường của Giáo hội. Nhân loại như bước vào “thời gian hòa giải, thời gian cứu độ cho tất cả mọi người tín hữu và cho tất cả mọi người đang tìm kiếm Thiên Chúa !” (ÐGH Gioan Phaolô II, “Ngày Xin Ơn Tha Thứ”, VietCatholic, 19/3/2000). Ðức Giáo Hoàng đã tô một nét son thật đậm vào lịch sử Giáo hội. Các Giáo hội địa phương cũng theo gương sáng đó. Chẳng hạn tại Giáo hội Hoa Kỳ, các Ðức Hồng y Roger Mahony, TGM Los Angeles, đã xin lỗi cả những người đống tính luyến ái và những tín đồ thuộc các tôn giáo khác. Người cũng xin lỗi cả những gia đình hay cá nhân về những lạm dụng tình dục của một số linh mục. Ðức Hồng y Bernard Law tại Boston cũng xin lỗi về nạn nô lệ tại Hoa Kỳ. Các Giám mục Âu châu cũng đã thú nhận người Kitô hữu đã không cố sức để cứu người Do thái trong thời Ðệ nhị thế chiến (VietCatholic 19/3/2000).

 

Bài 4. Đức Giêsu Chính Là Đền Thờ
Fr. Jude Siciliano, op

Thưa quí vị. Tôi nhớ như in vào những năm 60 của thế kỷ trước, người ta vẽ một bức tranh Chúa Giêsu khác với truyền thống. Bức tranh lập tức trở nên nổi tiếng, nhất là trong giới tuổi trẻ thời ấy. Chúa Giêsu coi phỏng chỉ 25 tuổi, miệng rộng, cười tươi, mái tóc buông dài bồng bềnh trong gió nhẹ. Ngài là một nghệ sĩ lướt sóng giỏi, vừa ra khỏi một đợt sóng to thích thú, vui mừng. Ý hẳn người ta thuê vẽ bức tranh ấy để lôi cuốn giới trẻ.

Thực ra truyền thống đã từng có tranh vẽ Chúa Giêsu với nhiều dáng điệu khác nhau chứ không chỉ duy một Chúa chịu đóng đanh hay sống lại. Thí dụ tranh vẽ suốt trong thời gian Ngài thi hành sứ vụ rao giảng. Nào là tranh Chúa Giêsu mục tử nhân lành, dịu hiền. Nào là tranh Ngài chữa khỏi bệnh tật, xua đuổi ma quỷ. Ngài nhân bánh lên nhiều trên núi hoang vắng, xanh tươi nuôi 5000 người ăn. Ngài ngồi huấn luyện các tông đồ, chúc lành cho các trẻ con. Tuỳ vào tuổi tác và tình huống chúng ta được những bức tranh khác nhau đó khích lệ và sưởi ấm linh hồn. Vô tình hay hữu ý, chúng ta lo tìm kiếm và lưu giữ những tấm tranh đó để thoả mãn nhu cầu tâm linh riêng tư. Ðó là lý do sống còn của các tiệm buôn bán vật dụng tôn giáo. Nhưng tôi thử đặt câu hỏi xem có ai dám thu thập tranh ảnh mô tả Chúa Giêsu giận dữ, cầm roi chạy khắp đền thờ xua đuổi chiên bò và những người đổi chác tiền bạc ? Chắc hẳn là không, lúc này ai mà dám đến gần Chúa ? Nếu cả gan đến gần, ăn roi là điều không tránh khỏi. Xem ra Ngài quá dữ tợn !

Trong Phúc âm của ông, thánh Gioan miêu tả Chúa Giêsu ở nhiều tình huống khác nhau, đa số là Ngài ở vị thế làm chủ được mình và hoàn cảnh, ngay cả khi Ngài chịu treo trên cây thập tự, đau đớn giẫy dụa. Hôm nay là ngoại lệ, Ngài không còn kiểm soát được chính bản thân. Tình thế thì hỗn loạn hết mức. Người chạy ngược, kẻ chạy xuôi, chiên bỏ thả rổng, bàn ghế ngổn ngang, tiền bạc vung vãi lung tung, chim câu bay khắp chốn trong nơi thờ phượng. Những tâm hồn thứ tự, đạo đức đọc đến đoạn Tin mừng này hẳn lấy làm bất mãn. Gương mù đến vậy làm sao chịu nổi ? Hoặc thử tưởng tượng coi, nếu có một du khách vô đạo bước vào thì họ sẽ nghĩ sao ? Nơi tôn nghiêm hay cái chợ đông phiên ? Trước mặt họ là một Chúa Giêsu nổi sùng, không kiềm chế được. Ngài tựa như một đứa con nít tức giận, quậy phá hết cỡ khi cha mẹ có khách đặc biệt phải tiếp vào bữa ăn trưa !

Ðúng thế Tin mừng Gioan mô tả Ngài tức giận điên cuồng. Lòng nhiệt thành việc nhà Ðức Chúa Trời thiêu đốt Ngài trong lời nói và hành động. Cũng chính lòng nhiệt thành ấy nhiều khi khiến chúng ta bồn chồn. Trước nhiều tình huống giả hình, thiếu đạo đức cũng thường làm chúng ta bất mãn. Lịch sử Giáo hội có nhiều cuộc chia rẽ, xét cho cùng cũng có nguyên do tương tự. Nhưng liệu thực tế Chúa Giêsu có dạy chúng ta như vậy không ? Chúng ta bắt chước Ngài đàn áp người khác hay chúng ta phải đàn áp chính bản thân ? Bao nhiêu dục vọng lộn xộn trong linh hồn chúng ta đã hãm dẹp chưa ? Bao nhiêu lợi dụng buôn bán ngũ quan chúng ta đã tẩy trừ ? Chân tay, thân thể, miệng lưỡi, mắt mũi nhiều khi đã cầm cố cho Satan, chúng ta đã chuộc lại ? Chứng kiến lòng nhiệt thành tôn giáo sai đường lạc lối để trở nên các tên khủng bố quốc tế trong những ngày này, người ta phải đề phòng bất cứ hành động tôn giáo quá khích nào! Ngay cả đối với chính mình. Chúng ta đã hiểu Lời Chúa ra sao ? Giải thích Lời Ngài thế nào ? Có đúng Thiên Chúa muốn chúng ta cư xử như vậy không ? Thực sự Ngài muốn điều gì nơi chúng ta ? Xin nhìn kỹ hơn vào Kinh thánh để tìm ra một vài tư tưởng đúng cho biến cố đền thờ Giêrusalem. Nó muốn nói những chi với nhân loại ?

Không giống như các Phúc âm nhất lãm, thánh Gioan đặt biến cố này vào ngay đầu sách Tin mừng của ông. Như vậy nó giúp độc giả nắm bắt được bối cảnh câu truyện và cũng giúp chúng ta hiểu được con người và sứ vụ của Chúa Giêsu. Nghĩa là Ðấng (Mêsia) đợi trông lâu đời đã đến với dân tộc Do thái. Ngài đang bừng bừng cháy lửa nhiệt thành việc nhà Thượng đế. Ngôn sứ Zacharia đã thấy trước và tiên báo: “Ngày ấy, sẽ không còn lái buôn trong nhà Ðức Chúa các đạo binh nữa.” (14,21) và các nhà chú giải đồng nhất với giải thích ý nghĩa của câu này là : Trong Israel mới, mọi sự sẽ được thánh hiến cho Thiên Chúa như sách Ezekiel 40,48 mô tả. Câu trước đó tiên tri Zacharia viết: “Ngày ấy trên lục lạc ngựa sẽ có ghi : Thánh hiến cho Thiên Chúa.” (21,20). Ðúng là những lời tiên báo đầy ý nghĩa cho biến cố hôm nay. Zacharia đã được nếm trước sự phục hưng tôn giáo của Chúa Giêsu. Thánh sử Gioan cũng đã hiểu theo ý nghĩa ấy.

Chúa Giêsu thánh hiến cho nhà Ðức Chúa trời được phản ánh trong bài đọc một trích từ sách Xuất hành. Mười giới răn quen thuộc với mọi tín hữu cũng còn được gọi là “Mười nội dung”. Không phải Thiên Chúa ưa thích bắt buộc loài người phục tùng mình, lấy sự vâng lời của họ làm điều thích thú. Ngài có mục đích khác. Mười giới răn với ba nội dung mở đầu : “Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai cập, khỏi cảnh nô lệ” nhấn mạnh đến sự liên hệ độc đáo giữa dân tộc Do thái và Thượng đế. Vào thời ấy các dân tộc chung quanh thờ cúng rất nhiều thần linh. Nhưng dân Israel chỉ có một, đó là Thượng đế hùng mạnh đã chọn họ, bảo vệ họ và đã tụ họp họ thành một dân tộc riêng rẽ cho Ngài. Ba nội dung mở đầu nhắc nhở toàn dân về ý nghĩa này, cho nên để kính thờ Ngài cho phải đạo, họ phải tuân giữ mười giới răn. Tuân giữ giới răn còn là sự thể hiện lòng biết ơn Thượng Ðế về những ân huệ Ngài đã ban cho dân tộc trong suốt dòng lịch sử. Nhờ sự vâng lời này, mà quan hệ tương giao giữa Thiên Chúa với dân tộc Do thái cũng như giữa mọi thành viên trong xã hội được luôn củng cố và bền chặt. Khi có người hỏi : Ông là ai ? Chắc chắn người Israel sẽ trả lời: “Chúng tôi là một dân tộc được Ðức Chúa Trời ban ơn đặc biệt”. Và khi hỏi thêm : “Vì lý do gì các ông tuân giữ các giới răn ?” Người Do thái sẵn sàng trả lời : “Chúng tôi tuân giữ chúng không phải vì khiếp sợ Thiên Chúa hoặc Ngài đã truyền lệnh mà chính vì chúng tôi muốn đáp trả những ơn lành Ngài đã ban cho”. Ðó là Thiên Chúa của Ðức Giêsu, hôm nay Ngài hành động vì cháy lửa kính mến Ðức Chúa Trời.

Trở lại với sự lộn xộn trong đền thờ Giêrusalem, việc đổi tiền và buôn bán súc vật xem ra là ngu xuẩn. Nơi thánh thiêng không bao giờ cho phép làm như vậy. Ngày nay trên khắp thế giới những trung tâm hành hương đều đầy dẫy những lạm dụng tương tự. Người ta cạnh tranh buôn bán các mặt hàng kỷ niệm, ồn ào, huyên náo cả một góc đất thánh, giống như người Do Thái thời Chúa Giêsu và cũng chẳng thấy một ai lưu tâm. Tuy nhiên vào thời đó, việc buôn bán có mục tiêu tôn giáo rất cụ thể, và những lái buôn lễ vật dâng cúng giữ vai trò quan trọng trong sinh hoạt tôn giáo hàng ngày. Chủ thuyết Do Thái không cho phép in hình loài người trên những đồng tiền dâng tiến Thiên Chúa, lại càng không thể chấp nhận đồng tiền La mã có in hình hoàng đế Cesar. Vì thế, các khách hành hương từ nơi xa về phải đổi tiền ngoại bang lấy đồng tiền do đền thờ phát hành. Hơn nữa họ không thể mang theo súc vật dùng cho các lễ hiến tế. Do đó họ phải mua chúng tại chỗ. Quyền bính đền thờ đã chỉ định một nơi dành riêng để điều hành việc này, ngay trong đại sảnh thánh đường. Sự lạm dụng đã làm đền thờ ra ô uế.

Có lẽ việc lạm dụng đã tồn tại khá lâu, trước cả thời Zacharia, cho nên ông đã có ước muốn thanh tẩy nhà Ðức Chúa Trời và tiên báo về một thời buổi mà hiến tế kiểu hiện tại không cần thiết nữa. Hành động của Chúa Giêsu đúng là có tính ngôn sứ. Nó loan tin thời đại Thiên sai đã xuất hiện. Ngài sẽ tẩy sạch tâm trí loài người khỏi những điều ô uế, sai lầm và làm tròn các điều Thiên Chúa hứa cho nhân loại. Thân xác Chúa Giêsu sẽ là nơi thánh thiêng để con cái loài người gặp gỡ Thượng đế. Khi thân thể này bị tội lỗi phá hủy, Ngài sẽ trỗi dậy trong ba ngày. Chính thân xác Ngài là của lễ hy sinh dâng lên Ðức Chúa trời, không cần súc vật tiền bạc nữa và cũng chẳng cần các nhân viên đổi tiền hoặc buôn bán lễ vật nữa. Trong Chúa Giêsu nhân loại sẽ thờ phượng Thiên Chúa xứng đáng và thích hợp nhất. Một phương thức phụng vụ trong sạch nhất cho nhân loại. Hành động tẩy uế đền thờ của Ngài mang lại ý nghĩ đích thực cho ngôi nhà Thiên Chúa, nơi cầu nguyện, ngợi khen Thượng đế bằng lòng yêu mến, tôn thờ. Nơi thiêng liêng Thiên Chúa gặp gỡ loài người và ngược lại loài người hội họp cùng Thiên Chúa.

Mùa chay là thời thuận tiện để xem xét lại cách thức chúng ta tiến bước vào thánh đường giáo xứ. Có đúng như Chúa Giêsu ao ước hơn hai ngàn năm qua không ? Ngài vẫn luôn xua đuổi, quét sạch những nhơ nhớp, ngu xuẩn, hình thức trong linh hồn mỗi tín hữu và giữa lòng Hội thánh toàn cầu. Chúng ta đồng quan điểm đồng ý với Ngài hay chồng chất thêm nhơ bẩn, uế tạp cả về vật chất lẫn tinh thần ? Chúng ta chỉ có thể bày tỏ ước vọng đổi mới và thanh sạch hoá bằng cách dấn thân nhiều hơn cho lời nguyện cầu, thánh ca và thánh vịnh. Lòng nhiệt thành nhân loại suông không đủ, nó chẳng giúp ích gì cho việc canh tân tâm hồn, phải nhờ ơn thánh.

Vậy lời nguyện cầu khẩn thiết nhất của chúng ta phải là xin hơi thở của Ðức Chúa trời, Ðấng làm sống lại tinh thần bại liệt của nhân loại bấy lâu trong việc thờ phượng Thượng đế tối cao. Hôm nay Ngài bước vào “đền thờ” và quyết định tẩy sạch mọi nhơ uế, bẩn thỉu làm cho nó nên trong sạch và đổi mới tinh thần tôn giáo nơi mỗi tín hữu trong cộng đồng nhân loại. Thiên Chúa của mười điều răn luôn dùng lời lẽ trong sách Xuất hành nhắc nhở chúng ta : Ta là Ðức Chúa, thượng đế của ngươi, Ðấng đã đưa ngươi ra khỏi Ai cập lầm than, ngươi chớ có “thần” nào khác đối nghịch với Ta. Amen.

Ý đẹp: Tôi chưa bao giờ được xem thấy tượng khóc, bàn tay rướm máu lỗ đinh, nhưng đã được ngắm nhìn vẻ đẹp Tháp Cầu Vồng (Utah, Mỹ), ngồi bên người can đảm chết, nghe bà già nói sự thật với quyền bính, đọc sách báo khoa học về thân thể con người, kinh nghiệm tình yêu hôn nhân, vui buồn của cuộc sống. Ðối với tôi, những thứ ấy đã đủ là phép lạ. (Rich Heffern trong “Celebration” tháng 4, 2003 trang 158).

 

Bài 5. Tâm hồn con được dọn sạch để đón Chúa
Lm. Jude Siciliano, OP (
Chuyển ngữ FX Trọng Yên, OP)

Anh chị em thân mến,

Vì có dịp đi nhiều nơi, tôi thường nhìn thấy hình ảnh Chúa Kitô trong các nhà thờ, trường học, nhà tĩnh tâm, nhà ở v.v.. Trong số hình ảnh đó, tôi hiếm khi nhìn vào hai lần vì có vẻ giả tạo. Tôi không hiểu tại sao những hình đó lại có thể gây những vấn đề thắc mắc cho giới chức trong và ngoài tôn giáo thời ấy. Trong những hình đó, Chúa Giêsu có vẻ dễ mến lắm. Vậy sao lại có người muốn giết Ngài ? Tuy Ngài là người đã phải đối đầu với Xatan trong sa mạc, và Ngài đã thắng. Trong Phúc âm hôm nay, Ngài vào Đền Thờ  đuổi những người buôn bán, lật đổ bàn đổi tiền. Thật không hiểu được, vì Ngài có vẻ là một người hiền hậu như các hình tượng mô tả.

Hôm nay, tôi muốn suy ngẫm về các hình ảnh của Chúa Giêsu, khi nhìn vào các ảnh tượng đó để thấy được sự giận dữ của Ngài phát xuất tận trong đáy lòng. Đây là người như các Ngôn sứ của sách thánh Do Thái, và người tiền hô là Gioan Tẩy Giả. Là một người mà do lời nói và việc làm của mình lại bị án tử hình. Vậy tại sao Chúa Giêsu lại giận dữ đến thế?

Những người buôn bán và đổi tiền vào trong đền thờ để làm ăn. Đó là những khu vực được phép kinh doanh, nhất là trong những dịp đặc biệt tựa như trong dịp lễ Vượt Qua này. Nhiều người hành hương từ xa đến dự lễ. Đáng lý họ phải mang con vật từ nhà đến để hiến tế nhưng họ lại đến đó để mua cho tiện. Những người đổi tiền rất quan trọng, bởi lẽ những người hành hương phải đổi tiền của đất nước họ, làm sao họ có thứ tiền của Đền Thờ, vì tiền này chỉ nhận ở Đền Thờ mà thôi. Tiền Hy lạp và tiền La-mã có hình và chữ ghi là César là Chúa, vì thế không được chấp nhận trong việc tế lễ ở Đền Thờ. Bởi vậy mới có người đổi tiền và bàn đổi tiền, một dịch vụ hết sức quan trọng. Vậy điều gì đã tạo thành vấn đề phức tạp ở đây?

Trước kia, những chỗ buôn bán và đổi tiền ở ngoài đền thờ, trong cánh đồng Kirdron gần núi Olive. Sau này họ được phép dọn ngay vào đền thờ để buôn bán, trao đổi. Việc buôn bán này thịnh vượng lắm, nhưng Chúa Giêsu đã tức giận, có lẽ là vì họ gian lận với những người hành hương. Chúa Giêsu đuổi những người buôn bán và đổi tiền một cách giận dữ, nhưng Ngài lại tử tế hơn với những người bán chim bồ câu, anh chị em có thấy vậy không? Với những người này Chúa nói: “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán”. Bồ câu là vật người nghèo cần mua để tế lễ, tạ tội và thánh hiến (Lv. 5:7). Vì thế Chúa Giêsu tử tế với người nghèo.

Đến đây tôi lại để ý đến những trò chơi có tính bài bạc ở vài nhà thờ để gây quỹ cho giáo xứ. Có những bảng quảng cáo trò chơi Bingo (như chơi lô-tô ở VN), còn lớn hơn bảng tên nhà thờ nữa. Có người gọi giáo xứ đó là “giáo xứ thánh Bingo”.

Hiện giờ tôi đang giảng tại một giáo xứ, và tôi đưa quan điểm về những trò cờ bạc trên để hỏi ý kiến cha xứ. Cha xứ nói : khi người giáo dân bước chân vào nhà thờ, họ phải thấy ngay những dấu chỉ của nhà thờ, họ không thể thấy được một dãy bàn để chơi bạc hay để bán vé số. Cha xứ công nhận là phải gây quỹ cho giáo xứ, nhưng ở giáo xứ này thì những việc đó được làm ở ngoài nhà thờ. Cha cũng nghĩ là không nên để nhiều quảng cáo quá, phải dẹp bớt đi. Giáo dân phải cảm thấy được chào đón khi họ đến nhà thờ. Cha đang tổ chức một số người trong giáo xứ đứng trước cửa nhà thờ để chào đón người đến dự lễ, họ không phải là những người xin tiền. Và hơn nữa, theo ngài, người nghèo cũng được đón tiếp như những người khác.

Trong việc dọn dẹp Đền Thờ, Chúa Giêsu thực hiện việc mà các Ngôn Sứ đã nói trước kia. To-bia (14:7-10) và Za-ca-ria (14:1-20) đã nói: Sẽ có ngày không còn buôn bán trong đền thờ. Người Do Thái đi hành hương lên Đền Thờ để làm lễ rửa sạch chân tay mặt mày trước khi dự lễ Vượt Qua. Giờ đây, Chúa Giêsu đến quét dọn sạch Đền Thờ, làm cho Đền Thờ nên mới để gặp Thiên Chúa. Chúa Giêsu chính là “Nhà của Thiên Chúa”, và lời hứa đã được thực hiện trong Ngài.

Trong Phúc âm thánh Gioan, ta thường thấy những đoạn nói đến “Nhà Cha Ta”. Trong việc này, Chúa Giêsu chứng tỏ sự liên hệ của Ngài với Thiên Chúa. Câu nói đó chứng tỏ Ngài là vị Cứu Thế, ai tin ở Ngài sẽ được đến cùng Thiên Chúa và được hưởng sự sống vĩnh cửu (Ga 14:2). Như vậy, Chúa Giêsu khi đề cập đến mình như là đền thờ mới, Ngài nói “Các ông cứ phá hủy Đền Thờ này đi, trong ba ngày tôi sẽ xây dựng lại”(Ga 2:19)

Dọn dẹp Đền Thờ là một việc quan trọng, vì trong bốn Phúc âm đều nói đến. Thánh Gioan đổi ngày giờ của sự việc để đặt vào phần đầu sứ vụ của Chúa Giêsu. Ba Phúc âm kia đặt vào phần sau câu chuyện Chúa Giêsu khải hoàn vào thành Jerusalem. Trong Phúc âm thánh Gioan thì Chúa Giêsu vừa làm phép lạ nước hóa rượu (Ga 2:1-11), và bây giờ Ngôn Sứ Giêsu vào Đền Thờ và tự xưng mình chính là Đền Thờ. Và trong lúc nói về sự chết của Ngài, Ngài nói sẽ “xây” lại Đền Thờ trong ba ngày. Khi đặt việc dọn dẹp Đền Thờ vào đầu Phúc âm, thánh Gioan giới thiệu, đề tài sẽ liên tục diễn biến dưới hình thức văn kể chuyện. Người đọc Phúc âm sẽ thấy hành động của Chúa Giêsu nhằm chứng tỏ Ngài thực hiện các lời Ngôn sứ từ chuyện trong Đền Thờ đến các câu chuyện khác. Chúng ta sẽ thấy Chúa Giêsu làm cho con người được thấy ánh sáng (là tạo vật đầu tiên); Ngài tha tội (tha tội cho tổ tiên loài người đã xa rời Thiên Chúa); Ngài ban nước hằng sống cho những kẻ tin Ngài (Ngôn sứ Ezekiel trông thấy nước chữa lành chảy ra từ bên phải Đền Thờ (47:1-3). Ngài làm cho Lazarô sống lại, và Ngài sẽ chết cũng như sẽ sống lại ngày thứ ba như Ngài đã nói trong Đền Thờ.

 Chúa Giêsu bày tỏ sự tức giận của Thiên Chúa khi mọi sự tốt đẹp mà Chúa đã làm để giúp loài người, bị lòng tham lam của con người phá hoại. Nhưng lòng thương xót luôn còn đó đối với những ai muốn được thương xót. Tuy vậy chúng ta vẫn không quên sự tức giận của Chúa Giêsu mổi khi Ngài thấy sự bất công, hay chứng kiến những việc làm ngăn cản những kẻ muốn tìm đến Thiên Chúa. Thí dụ như một người nghèo có thể không đủ sức dâng của lễ vào Đền Thờ. Trong lúc họ vẫn được vào Đền Thờ, và người đó vẩn cảm thấy mình thấp hèn, bất xứng để  nghe lời Chúa không như những người khác quanh họ. Thật ra, đối với Chúa Kitô, người nghèo và những người tận cùng của xã hội là những người có nhiều ơn phước nơi bàn tiệc Chúa. Họ là những kẻ được đón chào bởi Chúa Kitô và trong “Nhà của Thiên Chúa” 

 

Bài 6. Vì Nhiệt Tâm Với Việc Nhà Chúa
G. Nguyễn Cao Luật op

Không được buôn bán ở đây

Trong cuộc đời công khai của Ðức Giêsu, câu chuyện Người xua đuổi những kẻ buôn bán ra khỏi Ðền Thờ là một trong những chuyện được biết đến nhiều nhất. Cả bốn sách Tin Mừng đều thuật lại câu chuyện này. Nhiều nhà điêu khắc và hoạ sĩ cũng trình bày biến cố này theo nhiều phong cách khác nhau.

Từ trước đến nay, và mãi về sau vẫn thế, Ðức Giêsu vốn được nhìn nhận là nhà giảng thuyết về tình yêu. Trong câu chuyện này, Người bước vào khuôn viên Ðền Thờ, tay cầm roi, mặt bừng bừng giận dữ. Người xua đuổi những kẻ bán bồ câu, bò và chiên ; Người đổ tung tiền của những người đổi bạc, và lật nhào bàn ghế của họ. “Ðừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán.”

Cách đây không lâu, bên bờ hồ, cũng chính Người đã công bố các mối phúc thật, trong đó có mối phúc : Phúc thay những ai hiền hoà …

Ðức Giêsu là một người bạo động hay bất bạo động?

Tại sao Ðức Giêsu lại nổi giận như thế ? Thánh Gioan trích lại một câu Thánh vịnh như là chìa khoá : Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa… Như thế, ở đây là một cảnh nói về sự ghen tương của Thiên Chúa. Kinh Thánh vẫn thường mô tả về một Thiên Chúa hay ghen, Người không chấp nhận sự chia sẻ. Cơn giận của Ðức Giêsu diễn tả mối ghen tương này : Người không cầm mình được khi nhìn thấy người ta xúc phạm, làm ô uế ngôi nhà nơi Thiên Chúa gặp gỡ dân Người.

Hãy thử tìm hiểu ý nghĩa của câu chuyện, vì trong đó bao hàm nhiều ý nghĩa trái ngược nhau.

Trước hết, Ðức Giêsu không xử với những người buôn bán như là những người buôn bán. Người không tố cáo họ làm ăn bất chính, nhưng Người tố cáo họ, vì họ không tôn trọng nơi được gọi là nhà của Thiên Chúa.

Cũng cần phải hiểu về ý nghĩa của Ðền Thờ lúc bấy giờ. Ðây không phải là một đền thờ trong số muôn ngàn đền thờ. Ðây là Ðền Thờ duy nhất, nơi dành riêng để thờ phượng Thiên Chúa, một nơi mà mỗi năm, người Do-thái phải hành hương để dâng của lễ và nộp thuế.

Ðền thờ Giêrusalem thực sự là trung tâm mọi sinh hoạt của người Do-thái. Chỉ vì một lý do duy nhất là dân Do-thái phải tản mác khắp nơi nên các hội đường mới được xây dựng càng lúc càng nhiều để họ có nơi thờ tự.

Chính vì vậy người ta thấy được ý nghĩa sâu xa của trình thuật này, ý nghĩa vượt lên trên cả không gian lẫn thời gian. Khi nói về Ðền Thờ, Ðức Giêsu gọi là “nhà Cha tôi”, và như thế Người là Con. Người còn cho biết, nếu người ta phá huỷ Ðền Thờ này đi, thì trong ba ngày Người sẽ xây dựng lại.

Nhưng đền thờ đó là đền thờ nào ? Chắc chắn Ðức Giêsu không có ý nói về đền thờ Giêrusalem : đền thờ này sẽ bị phá huỷ hoàn toàn ít năm sau đó, nhưng Người muốn nói về chính thân xác Người.

Sau này các môn đệ sẽ hiểu rằng đây là lời báo trước về Phục Sinh. Cuộc phục sinh của Ðức Kitô sẽ chứng tỏ rằng Người có quyền để cải tổ việc thờ phượng, đổng thời cũng cho thấy mối nhiệt tâm của Người dành cho nơi Thiên Chúa ngự.

Có lẽ chỉ ngay sau khi Ðức Giêsu ra khỏi Ðền Thờ, những người buôn bán sẽ tiếp tục hoạt động của mình. Tuy nhiên câu chuyện là một lời tiên tri về các hoạt động của Ðức Giêsu. Dưới ánh sáng phục sinh, Người sẽ bày tỏ dung mạo Tin Mừng của việc thờ phượng Người đã thiết lập : từ nay con người của Ðấng Phục Sinh sẽ là nơi gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người. Ðó là sức mạnh tiềm ẩn trong những hành vi mà bên ngoài xem như là không có hiệu quả. Những hành vi này khơi dậy và làm vang lên lời mời gọi của Thiên Chúa, chúng mời gọi con người hướng tới tự do, tới những điều mới mẻ, tới điều không thể được.

Con người là Ðền Thờ

Thay vì minh chứng những cơn giận thánh của Thiên Chúa và con người, thay vì những nhận định với mục đích trấn an về tâm lý nhân loại của Ðức Giêsu, có lẽ việc suy niệm về ý nghĩa của Ðền Thờ phải là trọng tâm của phần lời Chúa trong Chúa nhật hôm nay.

Ðền Thờ – nhà tù

Nếu người ta coi Ðền Thờ là nơi duy nhất để tế tự, thì chuyện những người buôn bán có mặt ở đây là điều bình thường. Họ cung cấp các loại thú vật, đèn nến dành cho việc tế tự như luật định. Họ phục vụ cho những người đến Ðền Thờ để chu toàn bổn phận của mình.

Thế nhưng, vấn đề đặt ra ở đây lại khác : Thiên Chúa ở đâu ? Ai đã đặt Người ở bên ngoài cuộc sống, trong vòng rào của những nơi thờ tự, ai đã giam hãm Người trong vai trò một người chỉ để đón nhận các nghi thức ? Thưa chính con người.

Ai đã vạch ranh giới giữa hai vùng đất, đất thánh (Ðền Thờ) và đất phàm ? Ai đã chia cắt Thiên Chúa ra khỏi dân Người, là nơi mà trước đây, Người vẫn dạo chơi – theo cách nói của vua Ða-vít – ? Cũng chính là con người.

Những người buôn bán trong Ðền Thờ là hình ảnh minh hoạ mối tương quan đã bị hiểu sai lạc giữa con người và Thiên Chúa, được coi như một thứ thuế giữa miền đất của con người và vương quốc của Thiên Chúa. Chính vì vậy Ðức Giêsu đã cầm roi để xua đuổi họ. Người muốn trả lại cho Ðền Thờ ý nghĩa nguyên thuỷ và cao cả.

Con người – Ðền Thờ

Cũng thật là sai lạc khi muốn giải trừ Thiên Chúa vào kinh nghiệm thiêng liêng của đời sống cá nhân. Ðặt Thiên Chúa quá ở bên ngoài hay quá ở bên trong cũng là một thứ áp dụng quyền bính trên Thiên Chúa. Ðây chính là cám dôỵ lớn nhất kể từ thời Sáng thế cho đến khi Ðức Giêsu chịu cám dôỵ trong sa mạc.

Việc Ðức Kitô nhập thể là một dấu chỉ tuyệt vời về Ðền Thờ của Thiên Chúa. Ðền thờ ấy là một con người với cả thể xác lẫn tinh thần. Một hiện hữu toàn diện trở thành nơi gặp gỡ với Thiên Chúa.

Ðức Giêsu Kitô, Thiên Chúa trở thành xác phàm, trao ban chính thân thể Người làm của ăn, và máu Người làm của uống, tức là Người trao tặng sự sống của Người để trở thành sự sống của nhân loại. Trong Ðức Giêsu, Thiên Chúa tìm lại được vị trí đích thực của Người.

Mỗi người là một đền thờ

Từ những suy nghĩ trên, chúng ta còn phải đi xa hơn. Ðức Kitô vẫn đang sống trong Thánh Thể. Và thân thể này, cũng chính là Hội Thánh. Thánh Phao-lô viết cho các tín hữu Cô-rin-tô : “Anh em là thân thể Ðức Kitô” (1 Cr 12,27), “Anh em là Ðền Thờ của Thiên Chúa” (1 Cr 3,16).

Như vậy, trong thực tế, Ðền Thờ của Thiên Chúa là mỗi người chúng ta. Mỗi người cần phải xua đuổi, phải khử trừ tất cả những gì làm cho đền thờ này ra ô uế, không còn xứng đáng với danh hiệu nhà của Thiên Chúa. Những người buôn bán trong Ðền Thờ sẽ không còn là những người trao đổi hàng hoá trong khuôn viên Ðền Thờ để mưu sinh, nhưng là chính chúng ta, mỗi người chúng ta, từ nơi sâu nhất của chính mình, ngổn ngang vì những mối bận tâm đầy ích kỷ, gian dối và giả trá.

Như thế, đền thờ cần phải được thanh tẩy chính là tâm hồn chúng ta, ngõ hầu đền thờ ấy xứng đáng với sự hiện diện của Thiên Chúa chứ không phải là hang trộm cướp. Tâm hổn chúng ta phải được thanh tẩy khỏi mọi thứ chướng khí và mọi thứ lừa đảo, bởi vì đó phải là nơi gặp gỡ với Thiên Chúa, phải là đền thờ không gì đáng chê trách, phải là nhà để cầu nguyện.

Theo lời thánh Phê-rô, Ðền thờ của Ðức Giêsu được xây dựng bởi những “viên đá sống động”. “Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, ở giữa họ” (Mt 18,20). Ðó chính là thân thể Ðức Kitô đang lớn lên giữa lòng nhân loại. Ðó chính là một đền thờ với những khuôn mặt, những bàn tay, những trái tim, mà chất xi-măng để gắn lại là sự gặp gỡ, chia sẻ, cùng đón nhận Tin Mừng và cùng tạ ơn …

Hội Thánh được xây nên nhờ những con người, trước khi là một ngôi nhà bằng đá. Khi nghĩ đến câu nói của Ðức Giêsu về ngày sa-bát, người ta có thể thêm : “Các nhà thờ được xây dựng nên vì con người, chứ không phải con người vì các nhà thờ.” Ðền thờ của Thiên Chúa vẫn sống động khi cộng đoàn Kitô hữu sống động. Ðền thờ của Thiên Chúa vẫn đang sống khi mỗi con người để cho chất men Tin Mừng hoạt động trong đời của mình.

Thiên Chúa ngự trong Ðền Thờ nhưng không bị giam hãm trong đó. Chính Người đã dẫn dân Ít-ra-en về Ðất Hứa, nhưng Người cũng yêu thích ngọn gió lay động các căn lều, Người cũng yêu thích những cuộc lên đường vào buổi sớm mai. Ðức Giêsu đã rảo khắp các nẻo đường, từ thôn quê tới thành thị, và Người tuyên bố Người là Ðường. Từ nay, Ðền Thờ có mặt khắp nơi, rất tế vi và không thể nắm bắt được – giống như ánh sáng. Và điều bí nhiệm để Người xây dựng nên Ðền Thờ ấy, chính là sự Phục Sinh.

 

Bài 7. Thanh tẩy đền thờ
Giacôbê Phạm Văn Phượng op

Đền thờ Giêrusalem đầu tiên được vua Salômôn xây dựng rất đồ sộ, vĩ đại và cũng rất nguy nga, tráng lệ, đây là một công trình quý giá vào bậc nhất thời bấy giờ, phải huy động mỗi ngày cả trăm ngàn công nhân và bảy năm mới hoàn thành, đền thờ này đứng vững được 400 năm thì bị Na-bu-cô, vua nước Babylon, phá hủy vào năm 587 trước Công Nguyên. Sau thời gian lưu đầy Ba-by-lon, Giô-rô-ba-ben kiến thiết lại đền thờ, nhưng thô sơ thôi. Đến thời Hê-rô-đê đại vương, ông cho trùng tu lại toàn bộ đền thờ, rất vĩ đại và nguy nga lộng lẫy, mỗi ngày có 18.000 thợ làm việc, không thể ước tính được số kinh phí, khởi công từ năm 20 trước Công Nguyên mãi đến năm 63 sau Công Nguyên mới xong, đền thờ này cũng bị tàn phá bình địa vào năm 70 do tướng Ti-tô của Rôma tấn công.

Đền thờ rất vĩ đại, chia ra từng khu cho từng loại người : ngoài cùng là khu dành cho người ngoại giáo đến tham quan đền thờ, rồi đến khu dành cho phụ nữ, rồi đến khu dành cho nam giới, khu thiêu sinh các của lễ, khu dành cho tư tế, rồi đến bàn thờ dâng hương, trong cùng là nơi cực thánh, đặt hòm bia 10 điều răn, tượng trưng sự hiện diện của Thiên Chúa ở đây.

Đối với người Do Thái, đền thờ là trung tâm tôn giáo của dân tộc, vừa cụ thể hóa sự hiện diện uy nghiêm của Thiên Chúa vừa chính thức hóa việc phụng tự của cả dân tộc, bởi đó, đền thờ là nơi Thiên Chúa ngự, là nhà cầu nguyện cho muôn dân, và không ngừng mang tính chất linh thiêng thánh thiện. Nhưng dần dà người ta đã ngang nhiên biến một phần của nơi thánh thiện ấy thành nơi buôn bán và trao đổi tiền bạc, dĩ nhiên với lý do tốt đẹp bên ngoài là để phục vụ việc tế tự. Quang cảnh ấy đã làm Chúa Giêsu khó chịu, nổi giận, Ngài yêu cầu mọi người trả lại cho đền thờ sự thánh thiêng phải có.

Bài Tin Mừng kể lại việc Chúa Giêsu xua đuổi những người buôn bán và trao đổi tiền bạc ở đền thờ Giêrusalem, hành động này của Chúa được gọi là hành động thanh tẩy đền thờ, nhưng làm cho giới lãnh đạo Do Thái giáo khó chịu và hạch hỏi Chúa, nhân cơ hội này Chúa dạy bảo cho họ biết một điều rất quan trọng về cái chết và sự phục sinh của Ngài.

Từ khi lên 12 tuổi và suốt thời gian sống ẩn dật, hàng năm Chúa Giêsu đều lên đền thờ Giêrusalem dự lễ, tại sao Ngài không đuổi những người buôn bán trong đền thờ mà lại làm bây giờ, khi sắp kết thúc cuộc đời trần gian của Ngài ? Vì bây giờ Ngài vào nhà Thiên Chúa không phải với tư cách một người hành hương nhưng với tư thế của một Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa, Ngài vào đó và chính thức can thiệp với tư cách quản lý và chủ nhân. Dĩ nhiên trong những lần hành hương trước, chắc chắn Chúa Giêsu đã lấy làm chướng tai gai mắt cái cảnh buôn bán, biến nơi cầu nguyện thành chợ búa, ồn ào, thành hang trộm cướp, bây giờ chính thức lãnh lấy trách nhiệm chu toàn công việc của Chúa Cha, Ngài phải chấm dứt ngay cảnh lộn xộn đó. Lòng nhiệt thành vì Cha đã khiến Ngài dùng mọi phương thế hữu hiệu nhất để thanh tẩy đền thờ, Ngài không sợ nguy hiểm khi phải ra tay dẹp loạn hầu thể hiện thánh ý Chúa Cha là đền thờ phải là nơi tôn nghiêm, thánh thiện.

Hành động thanh tẩy đền thờ của Chúa Giêsu chắc chắn làm cho các trưởng tế khó chịu, bực tức, họ cho Ngài là một kẻ phản động, vì Ngài không có chức tư tế, cũng chẳng có nhiệm vụ nào trong đền thờ. Chúa Giêsu đã kết án cách tổ chức của các trưởng tế và gán cho mình một uy quyền trên họ, Ngài đã bãi bỏ việc phụng tự do Thiên Chúa thiết lập, và còn gán cho mình có quyền bằng Thiên Chúa, Đấng mà Ngài gọi là Cha, nếu vậy thì phải làm một phép lạ từ trời, nghĩa là từ Thiên Chúa để làm bằng chứng, vậy Chúa Giêsu đã làm phép lạ nào ?

Chúa trả lời : “Cứ phá hủy đền thờ này đi, trong ba ngày tôi sẽ xây dựng lại”. Các người Do Thái đã nghĩ ngay đến đền thờ bằng gạch đá, nhưng Chúa Giêsu không có ý nói đến đền thờ bằng gạch đá mà là đền thờ thân thể Ngài. Nghe Chúa nói thế, các trưởng tế tỏ vẻ khó chịu ra mặt, họ biết đền thờ đã được vua Hê-rô-đê sửa sang, xây dựng mất 46 năm mới xong, thế mà bây giờ Chúa bảo phá hủy đi và xây dựng lại chỉ trong ba ngày, họ không tin lời Chúa nói mà còn cho là Chúa phạm thượng, nên khi Chúa bị đưa ra tòa xét xử, họ đã đưa điều này ra để tố cáo Chúa. Thật ra ở đây Chúa muốn báo trước cho mọi người biết : Ngài sẽ bị giết chết nhưng ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại, Ngài dùng đền thờ làm hình ảnh để nói về thân thể Ngài là đền thờ đích thực của Thiên Chúa, lời tiên báo của Chúa đã xảy ra đúng như vậy.

Mỗi người chúng ta đều là đền thờ của Thiên Chúa ngự trị, nhưng có thể Thiên Chúa đã mất chỗ, nghĩa là tội lỗi đã chiếm mất chỗ của Chúa, vậy chúng ta phải trả lại chỗ cho Chúa bằng việc tẩy trừ tội lỗi. Chúa muốn chúng ta sống hiên ngang như đền thờ Giêrusalem, Chúa muốn chúng ta sống tự do độc lập hoàn toàn với tội lỗi, bởi vì phạm bất cứ tội gì, có tính hư tật xấu nào, mắc một đam mê nào là chúng ta làm nô lệ cho những thứ đó, như Chúa Giêsu đã nói : “Ai phạm tội là nô lệ cho tội”. Muốn độc lập với tội lỗi chúng ta phải đến với Chúa Giêsu, ăn năn sám hối, xin Chúa tha thứ, để được sống trong tự do của con cái Chúa.

 

Bài 8. Nhà Cha Ta Là Nhà Cầu Nguyện
Thánh Thể Và Lời Chúa

Như người con trở về nhà cha mình, hôm nay Chúa vào đền thờ để cầu nguyện. Đền thờ lẽ ra là nơi để cầu nguyện, là nơi gặp gỡ Chúa, gặp gỡ nhau, để chia sẻ niềm tin và đời sống đức tin cho nhau, vậy mà người ta đã biến thành nơi để buôn bán, kinh doanh. Chúa đã trách mắng họ, cũng là trách mắng thái độ hờ hững của họ đối với nhà Chúa, đối với chính Chúa Cha, nổi giận vì họ đã lợi dụng Thiên Chúa như một cơ hội, phương tiện hỗ trợ cho việc buôn bán, mưu sinh. Qua đó, Chúa đã cảnh tỉnh chúng con về thái độ cần có khi đến với nhà Chúa, trả lại chức năng thực sự cho đền thờ như Chúa phán : “Nhà Cha Ta là nhà cầu nguyện.”

Ngày nay, Chúa ban cho chúng con những ngôi nhà thờ nguy nga lộng lẫy, được trang bị nhiều tiện nghi giúp chúng con thoải mái khi nguyện kinh, dâng lễ. Ân huệ này giúp chúng con dễ dàng nâng tâm hồn lên tới Chúa, kết hợp với Chúa. Tuy không còn có cảnh buôn bán trong nhà thờ nhưng lắm lúc vì quá quan tâm đến hoa, đèn, lễ vật,… mà chúng con ganh tị với nhau, làm mất đi bầu khí thanh tịnh, ấm cúng trong nhà Chúa, quên luôn cả Chúa. Có những thánh lễ chúng con tổ chức rình rang, hoành tráng để loè thiên hạ, điều đó không những bất kính với Chúa, mà còn gây gương mù gương xấu cho những người khác.

Lạy Chúa, đền thờ đích thực Chúa muốn là chính chúng con. Xin cho chúng con biết tôn trọng chính mình khi bước vào nhà thờ với lòng yêu mến, cung kính, qua cách đi đứng nghiêm trang, ăn mặc lịch sự. Xin cho chúng con cũng biết tôn trọng nhau, vì mỗi người đều là một ngôi nhà tạm cho Chúa ngự, mỗi người là hình ảnh đích thực của Thiên Chúa. Chúa đã mời gọi chúng con trở nên đền thờ cho Chúa mỗi khi chúng con rước Mình và Máu Thánh vào lòng. Chúng con xin được biến đổi từ bề ngoài qua cách nói năng, ăn mặc lịch sự đến thái độ bên trong bằng một tâm hồn thanh thản, thay đổi cách nhìn nhận và đánh giá người khác cách nhân ái hơn. Biến đổi là thay đổi cách đánh giá người khác không chỉ nhìn qua bề ngoài nhưng biết dành cho nhau một tấm lòng, vì Chúa muốn chúng con yêu thương nhau.

Ngày ấy, Chúa Giêsu vào đền thờ để dâng lên Chúa Cha những người đói nghèo, bệnh tật, những lao động vất vả, cầu nguyện cho những người bị hất hủi, bị ruồng bỏ. Hôm nay, Người cũng mời gọi mỗi người cầu nguyện cho người thân, bạn bè và cả những người mình không ưa. Hãy đến với đền thánh Chúa bằng tâm tình của người con thưa với Cha về tất cả những lo toan, những vất vả, những hận thù, và để ca ngợi, tạ ơn.

Lạy Chúa, trong Mùa Chay Thánh này, xin cho chúng con biết quí trọng đền thờ, biết khuyến khích, rủ nhau : “Nào ta lên đến thánh Chúa” để cầu nguyện, dâng lên lời cảm tạ với tấm lòng sám hối, khiêm cung và dâng lên Cha của lễ hy sinh, lòng bác ái cùng với lễ vật duy nhất là Mình và Máu thánh Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con. Amen

 

Bài 9. Xin Thanh Luyện Tâm Hồn Con
Giuse Trần Văn Đông op

Mùa chay là mùa sám hối, ăn năn. Mùa mà Giáo Hội đã kêu gọi con cái của mình luôn ý thức thân phận tro bụi qua nghi thức xức tro.

Bước vào mùa chay, mỗi người chúng ta cũng phải ý thức rằng, đây là mùa tập luyện thiêng liêng, tập luyện các nhân đức để chiến đấu chống lại các đam mê tội lỗi, bỏ đi những gì là chưa phù hợp với vai trò của người môn đệ Đức Kitô.

Trình thuật Tin mừng của thánh Gioan hôm nay cho ta thấy được rằng: Đức Giêsu đã có thái độ cứng rắn với những người buôn bán, những người đã sử dụng đền thờ, nơi trang nghiêm, để làm chợ, làm nơi trao đổi hàng hóa. Với những việc làm của họ như vậy, họ không còn ý thức được sự hiện diện của Thiên Chúa.

Trong cuộc sống hàng ngày của ta cũng vậy, có biết bao lần ta đến nhà thờ, đến để thờ phượng Thiên Chúa. Thế nhưng ta vẫn chưa có được một tâm hồn thực sự sẵn sàng, mà trái lại ta lại dùng nhà thờ làm nơi để ta ngồi suy tính chuyện làm ăn của ta, ta dùng nhà thờ làm nơi để ta lên kế hoạch cho những công việc mang lại lợi ích cho ta, mà ta quên mất rằng Thiên Chúa đang hiện diện trước mặt, Ngài đang mời gọi ta đến tâm sự với Ngài, dâng lễ thật sốt sắng để tôn thờ Ngài.

Có khi ta đến nhà thờ chỉ vì bổn phận, sợ sự dòm ngó của người khác về đời sống đạo của ta, nên ta đi lễ với một tâm trạng miễn cưỡng. Đi lễ nhưng lại không dám đến gần cộng đoàn mà lại đứng xa xa, đứng ở một góc nào đó và đôi lúc cũng chẳng chú ý đến các phần trong thánh lễ mà chỉ ngồi nói chuyện với nhau.

Có khi ta đến nhà thờ để dâng lễ, nhưng lại không biết rằng những người bên cạnh ta cũng đang muốn có được một môi trường nghiêm trang sốt sắng để dâng lễ. Vì vậy mà ta đã sẵn sàng để con em mình đùa giỡn, ồn ào gây ra sự chia trí cho người khác, làm chia trí cho cả cộng đoàn.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin giúp chúng con, để mỗi khi chúng con đi tham dự thánh lễ, luôn mang theo một sự chuẩn bị sẵn sàng đến gặp Chúa. Để trong thánh lễ, chúng con biết tôn thờ Chúa cho phải đạo làm con. Đồng thời chúng con cũng biết mang theo của lễ đời mình là cuộc sống hàng ngày, những công việc và những lo toan để hiệp với của lễ tinh tuyền là Mình – Máu Thánh Chúa dâng lên Thiên Chúa Cha.

Ngoài ra, tâm hồn ta là đền thờ của Thiên Chúa, nơi đó ta phải có trách nhiệm gìn giữ cho thật trong trắng. Thế mà ta lại không để cho Thiên Chúa ngự trị, mà lại chất ở nơi đó đầy những ô uế, đam mê, tội lỗi khiến cho Thiên Chúa không thể ở lại đó được. Ta đã không đón tiếp Chúa, ta không nói hoặc xua đuổi Chúa ra khỏi tâm hồn ta, nhưng chính những hành động, những suy nghĩ của ta về điều xấu đã lấp đầy tâm hồn, khiến cho Chúa không còn vị trí nào nơi đền thờ của tâm hồn ta nữa.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con trong mùa chay thánh này biết tìm đến với Chúa bằng một tấm lòng thành, biết thật tâm quay trở về với Chúa, trở về để nhận ra sự yếu đuối của mình mà biết cậy dựa vào tình yêu Chúa. Đồng thời cùng với ơn Chúa, chúng con biết loại đi những gì là ô uế, đam mê, tội lỗi khỏi tâm hồn mình, để từ đây, tâm hồn chúng con thành ngôi đền thờ thật sạch và đẹp cho Chúa ngự vào. Amen.

Bài 10. ĐỀN THỜ CỦA THIÊN CHÚA
Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT

Ngày xưa Giêrusalem là Nhà thờ lớn, là nơi hành hương, là nơi muôn dân qui tụ về dâng lễ, cầu kinh. Ngày nay, mọi Đền thờ đều là nhà của Thiên Chúa, là nơi để cầu nguyện. Tin mừng của thánh Gioan hôm nay, cho chúng ta thấy thái độ của Chúa Giêsu đối với những kẻ làm ô uế Đền thờ và Ngài chỉ ra Ngài chính là Đền thờ…

Lần đầu tiên chúng ta thấy Chúa Giêsu nổi giận đối với những người buôn bán nơi Đền thờ Giêrusalem như đang buôn bán chiên, bò, bồ câu và đặc biệt Chúa Giêsu lật đổ bàn ghế của những người đổi tiền bạc. Đây là cơn giận thánh của Chúa Giêsu bởi vì Ngài vẫn nói với các môn đệ: “Hãy học nơi Ngài sự hiền lành và khiêm nhượng”. Chúa Giêsu luôn bình thản trước những lời vua oan cáo vạ Ngài, trước những sự phản bội trắng trợn Ngài. Ngày hôm nay, Chúa Giêsu tức giận, tỏ thái độ nghiêm khắc với những kẻ buôn bán, đổi chác tiền bạc dù rằng những ấy chỉ diễn ra nơi tiền đình Đền thờ, nhưng Chúa Giêsu vẫn cương quyết chống đối lại những người này vì Ngài cho rằng nó gây ồn ào, bất kính đối với Đền thờ, nơi Ngài cho là nhà của Cha Ngài. Ngài luôn tôn kính Đền thờ và Ngài không muốn con người xúc phạm đến Đền thờ, đến Nhà của Cha Ngài, nơi đây người ta hành hương, đi dâng lễ cầu kinh và cầu nguyện. Chúa Giêsu không chấp nhận việc con người làm cho Đền thờ ra ô uế. Chúa Giêsu thấy cần phải thanh tẩy Đền thờ dù rằng Ngài biết việc ấy sẽ gây nguy hại cho tính mạng của Ngài. Ngài nói: “Hãy đem tất cả những thứ này ra khỏi đây” (Ga 2, 16). Đem tất cả những thứ ấy ra khỏi nơi thờ phượng bởi vì chúng xúc phạm đến Cha của Ngài, xúc phạm đến chính thân xác, đến con người của Chúa Giêsu. Ngài muốn nơi thờ phượng phải là nơi tôn nghiêm, nơi tĩnh lặng, nơi thanh vắng, nơi con người, nhân loại gặp gỡ Thiên Chúa.

Người Do Thái lúc đó đâu có hiểu Ngài, đâu có nhận ra Ngài là Thiên Chúa, Đấng Cứu Thế, Đấng Cứu Độ trần gian. Do đó, họ vặn lại Ngài, nhưng Chúa Giêsu đã nói thẳng thừng với họ: “Cứ phá hủy Đền thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại” (Ga 2, 19). Chúa Giêsu ám chỉ đến cái chết và sự sống lại của Ngài, nhưng nào đâu họ có hiểu! Và Đền thờ ở đây, Đền thờ Ngài nói tới là chính thân xác của Ngài, thân xác sống lại của Ngài sẽ là Đền thờ mới, nơi toàn thể nhân loại sẽ thờ phượng cách đích thực.

Chúa Giêsu thanh tẩy Đền thờ Giêrusalem, nhưng đồng thời Ngài cũng muốn thanh tẩy tâm hồn mỗi người chúng ta và thanh tẩy các nhà thờ, các nơi thờ phượng của chúng ta bởi vì tâm hồn chúng ta là Đền thờ của Chúa Thánh Thần, nhưng nhiều khi chúng ta đã để chúng ra ô uế, do tội lỗi, do những bất xứng chúng ta xúc phạm đến Chúa. Nhiều nơi thờ phượng, nhiều nhà thờ chúng ta xây dựng hoành tráng, to tát bên ngoài nhưng việc đạo đức nhiều khi không đúng ý Chúa. Nhiều nơi tổ chức linh đình bề ngoài nhưng bề trong lại xa Chúa. Do đó, Chúa muốn chúng ta thanh tẩy nội tâm, thanh tẩy những gì bề ngoài không phù hợp với ý của Chúa v.v…

Mỗi thánh lễ nơi một nhà thờ nào đó, chúng ta hiệp dâng cùng với linh mục. Chúng ta hiểu rõ rằng qua bí tích rửa tội chúng ta được tháp nhập vào trong Hội Thánh, và như thế, chúng ta được hội nhập, được tháp nhập vào một Đền thờ mới là chính thân xác phục sinh của Chúa. Nhà thờ là nơi thờ kính, là nơi cầu nguyện, là nơi tôn kính Chúa Cha qua Đức Kitô. Nhà thờ này còn quý giá hơn cả Đền thánh Giêrusalem xưa vì Đền thờ bây giờ chính là Con người Chúa Giêsu đã kinh qua cái chết và phục sinh.

Chúng ta luôn phải hiểu rõ rằng Đền thờ, nơi Thờ phượng hằng ngày chúng ta lui tới là nơi Chúa Giêsu ngự, là nơi Ngài qui tụ chúng ta lại và là nơi Ngài gặp gỡ chúng ta và ngược lại chúng ta được diễm phúc gặp gỡ Ngài. Nhà thờ còn là nơi có những mối quan hệ mật thiết với mỗi Kitô hữu hơn bất cứ nơi nao bởi đó là nơi có những kỷ niệm êm đềm nhất từ lúc chúng ta sinh ra cho đến khi chúng ta lìa đời. Nhà thờ là di sản quí báu của tổ tiên, cha ông chúng ta để lại.Nhà thờ là nơi qui tụ, họp mặt mọi người ta xứ họ để cảm tạ Thiên Chúa và xin ơn với Ngài. Chính vì thế, chúng ta phải gìn giữ, bảo vệ và thanh tẩy Nhà thờ sao cho đẹp lòng Chúa và hợp với ý của Chúa.

Chúa đã phán:

“Khi Danh Ta hiển thánh nơi các ngươi,
Ta sẽ tập trung các ngươi lại

Từ khắp mọi nơi trên mặt đất.

Trên các ngươi, Ta sẽ rảy nước trong ngần,

Và mọi vết nhơ của các ngươi sẽ được tẩy sạch,

Ta sẽ đặt thần trí mới vào lòng các ngươi”
(Ed 36, 23-26).

Lạy Chúa là Đấng rất từ bi nhân hậu, Chúa đã từng chỉ dạy chúng con cách chữa lành những vết thương tội lỗi: là ăn chay hãm mình, siêng năng cầu nguyện và chia cơm sẻ áo cho kẻ khó nghèo. Này chúng con nhận biết mình yếu hèn lầm lỗi, và hết lòng sám hối ăn năn; xin Chúa thương đoái nhìn chúng con và đưa tay nâng đỡ. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con. Amen.

 

Bài 11. Những Ðền Thờ
Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

Suy niệm: Những Ðền Thờ

Trong dịp lễ Vựơt qua của người Dothái năm 28, Chúa Yêsu xuất hiện ở đền thờ Yêrusalem. Hằng năm, Người vẫn có thói quen trẩy lễ nơi đây như những người Dothái đạo đức khác. Ta còn nhớ cũng tại đây, lúc lên 12 tuổi, Người đã long trọng công bố: “Tôi phải ở tại nhà Cha tôi, để lo việc Người trao phó” (Lc 2,49). Chính lòng nhiệt thành đối với nhà Thiên Chúa đã thôi thúc Người xua đuổi các con buôn đang mải miết làm ăn nơi tôn nghiêm thánh thiện (Yn 2,17). Lần này Người công bố một lời khác, cũng long trọng và hàm chứa nhiều ý nghĩa: “Hãy phá đền thờ này và sau 3 ngày Ta sẽ xây dựng lại” (Yn 2,19). Nhưng đền thờ nào phải phá? Ðền thờ nào phải xây?

1. Những Ðền Thờ Ngẫu Tượng

Chúa Yêsu tự ví thân xác mình như một đền thờ, nhưng là một đền thờ phải phá đi, vì Người sẽ chết để sống lại vinh quang. Thân xác phục sinh của Người chính là Ðền thờ vĩnh cửu, nơi mà loài người phải thờ phượng Chúa Cha một cách chân thật trong Thần Trí.

Người Dothái không nghĩ được ý nghĩa sâu sắc của lời Chúa Yêsu nói. Họ chỉ nghĩ tới ngôi đền thờ bằng đá do đại vương Hêrôđê đã khởi sự xây lại từ 46 năm trước đó. Chính các môn đệ cũng chưa hiểu liền. Sau biến cố Phục sinh, họ nhớ lại và nhờ suy niệm trong lòng, nhờ tìm kiếm trong Thánh Kinh, họ mới dần dà đi sâu vào mầu nhiệm của Thầy Chí Thánh, như một Yoan và một Phaolô đã làm. Chúa Kitô muốn rằng: chúng ta cũng phải vượt qua bình diện hữu hình của cái nhìn nhân loại, để vươn tới những thực tại thiêng liêng của mầu nhiệm Thiên Chúa.

Lòng trí con người vốn có xu hướng tôn thờ ngẫu tượng là những cái hấp dẫn và có lợi trước mắt, làm cho nó dễ mù quáng. Lời Chúa Yêsu nói và việc Người làm trong năng lực Thánh Thần nhằm giải thoát chúng ta khỏi sự mê hoặc ấy của ngẫu tượng. Trước tiên Thần Trí Người thúc bách chúng ta phá đổ đền thờ ngẫu tượng lý trí.

Không phải chỉ có người Hylạp xưa, mà cả chúng ta hôm nay vẫn khó chấp nhận sự điên rồ của Thập giá. Ðó là một nhục nhã cho trí óc (1C 1,24). Ðối lại, thánh Phaolô khẳng định rằng: Ðức Kitô chịu đóng đinh trên Thập giá là một bằng chứng cho sự khôn ngoan tuyệt đỉnh của Thiên Chúa, vì sự điên rồ tột độ của cái chết ấy nói lên tình yêu tột độ của Thiên Chúa đối với loài người (1C 1,24). Chỉ có đức tin Kitô giáo mới hiểu và chấp nhận nổi điều nghịch lý đó. Quả vậy, thực tâm tin vào Ðức Yêsu Kitô chết treo trên Thập giá, có nghĩa là chấp nhận cái nhìn ngược đời của Thiên Chúa và sống một nếp sống không rập theo khuôn thói thế gian phản nghịch với Người. Chính đó là khôn ngoan đích thực, một đức khôn ngoan vượt qua giới hạn của lý trí và đem lại ơn cứu độ cùng với sự sống đời đời, giống như ánh sáng Phục sinh đã xuất hiện từ trong bóng tối sự chết và thắng vượt sự chết.

Ðứng trước cái thế giằng co giữa đức tin và lý trí, tuy chúng ta phải nghĩ như thánh Anselmô rằng: “Ðức tin cũng cần được lý trí lĩnh hội”, nghĩa là tôi phải biết tôi tin ai, tôi tin gì và vì sao tôi tin; nhưng câu nói của thánh Augustinô còn đúng một cách sâu sắc hơn nữa: “Tôi tin để tôi hiểu”, vì đức tin làm cho tôi thấy ý định cứu độ của Thiên Chúa trong lịch sử loài người. Như thế đức tin đem khoa luận lý siêu nhiên của tình yêu và hy vọng bổ túc cho khoa luận lý tự nhiên của lý trí hay suy tính, và đức tin làm cho lý trí chấp nhận rằng Thiên Chúa có thể biến cái nghịch lý thành phương tiện cứu rỗi.

Chúa Kitô còn muốn người ta phá đổ một đền thờ ngẫu tượng khác: đó là ngẫu tượng “Vị Thiên Sai vinh quang trần thế”. Ða số người Dothái thời bấy giờ, kể cả những môn đệ của Người, đã mơ ước một Ðấng Cứu thế có quyền năng đem lại thịnh vượng vật chất và vẻ vang thế tục cho họ, để họ đua đòi với thiên hạ. Họ muốn rằng: Người phải là Vị cứu tinh đó. Nhưng Người đã quyết liệt khước từ, vì Nước Người không ở trần gian và sứ mạng của Người tiên vàn không phải là xây dựng đời sống vật chất, mà là đổi mới tâm hồn nhân loại. Chúa Kitô muốn rằng chúng ta phải hoán cải, phải thay đổi kiểu nhìn và lối sống cho phù hợp với đức công chính và luật thương yêu là đòi hỏi của Chúa Cha. Ðấng giải hòa chúng ta với Người trong Con Một yêu dấu. Sự hoán cải nội tâm và giải hòa với Thiên Chúa bằng tình yêu như thế chắc chắn sẽ có những âm hưởng xã hội trong tương quan giữa con người với con người và đóng góp hữu hiệu vào việc xây dựng một thế giới nhân đạo, huynh đệ và hạnh phúc hơn. Do đó người ta có thể nói: Nước Trời lành-mạnh-hóa và củng cố Nước trần gian từ bên trong. Sứ mạng của Chúa Kitô cũng như các tín hữu đối với thế giới, trước tiên là một sứ mạng tinh thần, dùng sức mạnh của tình thương và ánh sáng của Thánh Thần để biến đổi và nâng cao phẩm chất đời sống loài người. Tính háo danh và óc vụ lợi của người Dothái ngày xưa cũng như chúng ta hôm nay là một ngẫu tượng đã và đang ngự trị trong lòng ham muốn và ý chí thống trị của tâm thức nhân loại. Ta phải phá đền thờ ngẫu tượng ấy, cũng như Chúa Kitô đã đánh tan hình ảnh sai lạc mà dân Dothái phác họa về sứ mạng Thiên Sai của Người. Người đã cho họ thấy một thực tế phũ phàng là: Ðấng Cứu thế phải chết trên Thập giá – một cớ vấp phạm không thể chấp nhận đối với người Dothái (1C1,24). Nhưng chính cái chết ô nhục ấy đã đem lại cho ta: vinh dự được làm con Thiên Chúa và được cứu độ muôn đời.

Cõi lòng con người chưa được cứu độ quả là một đền thờ chứa đầy ngẫu tượng: ngẫu tượng dị đoan mê tín, gắn liền với sai lầm và dối trá, ngẫu tượng hận thù, ngẫu tượng hưởng thụ, ngẫu tượng tiền tài, ngẫu tượng tự mãn. Ðạo Chúa cấm tôn thờ các ngẫu tượng ấy, như bảng Mười Ðiều Răn của Giao Ước Sinai đã công bố (Xh 20,1-17). Chỉ có một Ðấng duy nhất đáng tôn thờ: đó là Cha Ðức Yêsu Kitô và cũng là Cha chúng ta ở trên trời. Ðền thờ Người không phải là những ngôi nhà bằng đá, nhưng là những tâm hồn sống động xây quanh Người Con yêu dấu của Người: Ðức Yêsu Kitô, đền thờ của Giao Ước mới.

2. Phụng Tự Mới, Ðền Thờ Mới

“Hãy phá đền thờ này và sau 3 ngày, Ta sẽ xây dựng lại” (Yn 2,19). Người Dothái, khi nghe lời đó, đã hiểu theo nghĩa đen và nghĩ rằng Chúa Yêsu có ý định phá ngôi đền thờ bằng đá, trung tâm phượng tự của dân tộc họ. Vì thế họ chất vấn Người tại chỗ, và sau này trước tòa án công nghị, họ sẽ tố cáo Người và đòi xử án tử hình cho Người (Mc 14,58). Quả thực trung tâm phượng tự ấy bị thu hẹp bởi ranh giới quốc gia và chủng tộc, và nơi đây người ta sát tế chiên bò để làm lễ đền tội. Ðền thờ ấy, từ nay, trong chế độ Tân Ước, đã hết ý nghĩa, vì thế phải được thay thế bởi một đền thờ mới, để thờ phượng Chúa Cha trong Thần Trí và Sự Thật. Việc phượng tự mới không dành riêng cho một dân tộc nào, nhưng mở rộng cho cả loài người, quy tụ trong Ðức Kitô. Tế vật không còn phải chiên bò nữa, nhưng chính là Con Thiên Chúa.

Theo thần học của thánh Phaolô, Ðức Kitô đã trở thành tội vì ta, trong thân phận xác thịt tội lỗi của ta (Rm 8,3). Người chấp nhận để cho thân xác Người bị phá hủy hầu đền tội thay ta và kết án tội thế gian ngay nơi thân xác Người. Một khi Người đã tự nguyện để cho thân xác mình bị dập nát và hạ xuống lòng đất, thì đền thờ ngẫu tượng không có quyền đứng ngạo nghễ trong lòng ta nữa. Phải phá nó đi để xây dựng lại đền thờ Thiên Chúa như một công trình sáng tạo mới, trong đà mạnh mẽ vươn lên cõi sống.

– “Hãy phá đền thờ này, đền thờ do bàn tay loài người làm ra” (Mc 14,58). Cái tôi tội lỗi trong ta phải chết đi với các đam mê của nó, để con người mới sống lại với tinh thần của Thiên Chúa. Việc phượng tự hẹp hòi và bị giới hạn bởi các nghi thức bề ngoài của lề lối cũ, phải được thay thế bằng việc phượng tự nội tâm, thiêng liêng là cách thờ phượng chân thật, vì được thôi thúc bởi Thần Trí của Ðức Kitô Phục sinh và dựa theo ánh sáng của mạc khải tròn đầy trong Con Thiên Chúa.

– “Sau ba ngày, Ta sẽ xây dựng lại một đền thờ không do bàn tay loài người làm ra” (Mc 14,58; Yn 2,19). Ba ngày là thời gian Người sẽ chết trước khi chỗi dậy trong năng lực Thánh Thần. Từ đó Người trở nên đền thờ thiêng liêng, nơi phát xuất nguồn nước hằng sống (Yn 7,37-39; 19,34). Thân xác đã chịu chết và sống lại của Người chính là dấu chỉ bí tích nền tảng, làm phát xuất Ơn Thánh mà ta đã lãnh nhận qua bảy bí tích, nhất là bí tích Rửa tội và bí tích Thánh Thể. Nhờ đó ta thờ phượng Chúa Cha cách xứng hợp và được nuôi dưỡng bởi Thân Mình Chúa Kitô đã bị sát tế vì ta. Khi ta được sát nhập vào Thân Mình Ðấng Phục sinh, ta thực sự trở nên đền thờ của Chúa Thánh Thần (1C 3,16; 6,19). Và cả Giáo Hội là một đền thờ rộng lớn (Ep 2,19-21), trong đó phụng vụ được cử hành để thờ phượng, tôn vinh Chúa Cha.

Việc phượng tự mới của chúng ta cũng phải tuân theo định luật Vượt qua của mầu nhiệm Chúa Cứu thế: đền thờ cũ với các ngẫu tượng phải phá đi. Con người cũ với các tội lỗi, phải chết đi. Như thế Ðức Kitô Phục sinh sẽ hoạt động trong ta, và xây dựng lại ngôi đền thờ mới ngay giữa lòng ta, nơi mà Thần Trí Người sẽ ngự trị, sẽ khơi dậy tâm tình nghĩa tử và làm phát lên lời cầu nguyện thiết tha: “Abba, lạy Cha yêu dấu” (Yn 4,6; Rm 8,15). Ðó chính là thờ phượng Chúa Cha trong Thần Trí và Sự Thật (Yn 4,23).

Giảng Lễ

Có lẽ không bao giờ chúng ta thấy Chúa Yêsu có thái độ như trong bài Phúc Âm hôm nay. Dường như khi bước vào đền thờ Yêrusalem, Người không còn tự chủ được nữa. Người đi vào nơi cầu nguyện, thế mà trước mắt chỉ có cảnh chợ búa mua kém bán hơn, ồn ào lủng củng. Nhà của Cha Người không còn là nơi gặp gỡ giữa tâm hồn đạo đức và dân đã được tuyển chọn với Chúa Cả trời đất và Chúa của dân Israel nữa! Người ta đã tụ họp lại đây, đâu còn giống như ngày trước, khi ở chân núi Sinai, lúc Chúa ban 10 điều răn như bài đọc Cựu Ước hôm nay còn kể lại. Thay vào quang cảnh phụng vụ của buổi lễ ký kết giao ước xưa, nay chỉ còn cảnh buôn bán bóc lột nhau. Chịu làm sao nổi một cảnh tượng như vậy! Ðấng được Chúa Cha sai xuống trần thế tái lập giao ước, không dẹp cảnh khốn nạn kia đi sao được! Lòng nhiệt thành đối với Nhà Chúa, đối với Giao ước nung nấu tâm can Người. Người phải nhào vào, đánh đuổi những kẻ buôn thần bán thánh, thanh tẩy đền thờ cho Cha Người, rửa lại bộ mặt cho tôn giáo giao ước. Làm như vậy, Ðức Kitô đã tỏ ra là Cứu thế, là Ðấng thánh hóa các tâm hồn, là vị phải đến để đưa tôn giáo vào con đường chính đáng.

Nhưng đó chỉ là hành động tượng trưng. Việc xua đuổi hạng con buôn ra khỏi đền thờ chỉ thành công trong một lúc, cùng lắm trong một ngày. Phúc Âm không nói có một sức kháng cự nào. Nhưng liền sau đó, Ðức Kitô đã gặp ngay phải não trạng của người Dothái. Chính đầu óc tội lỗi này đã đẻ ra cảnh chợ búa ở ngay trong đền thờ. Họ chạy lại hạch Chúa Yêsu: “Ông tỏ ra có uy quyền gì mà dám làm như vậy? Nghĩa là: Ông lấy quyền đâu mà dám đi ngược lại thứ tôn giáo của chúng tôi?” Câu hỏi thật bất ngờ và sâu sắc. Nó diễn tả đúng não trạng của người Dothái luôn luôn đòi dấu lạ. Phải có những phép lạ tương đương với các công cuộc kỳ diệu mà xưa kia Chúa đã làm cho cha ông họ, mới làm họ tin được. Sách Thánh nhắc nhở cho họ biết Chúa đã làm vô vàn kỳ công cho dân tộc này. Họ hãnh diện nhưng đồng thời lại trở nên cứng lòng. Họ tin vào mình và vào truyền thống, đến nỗi không còn gì nhạy cảm nữa đối với những lời tinh thần. Vì còn có thể có lời tinh thần nào nữa ở ngoài đầu óc của họ, bởi lẽ họ là dòng dõi của người con tinh thần là Isaac? Họ trở thành biệt phái, kỳ thị đối với hết mọi người cư xử khác họ. Thế nên có lần họ dám kể Chúa Yêsu vào hàng ngũ Bêelzêbút. Muốn diễn tả nôm na, thì đã có lần họ gọi Người là đồ quỷ! Thái độ của họ làm ta có thể liên tưởng tới một vài thái độ hằng gặp ở nơi chính chúng ta, để chúng ta nên biết đó là thái độ có thể đi đến chỗ giết Chúa và bóp nghẹt chân lý.

Chúa Yêsu đã phản ứng thế nào trước một thái độ như vậy? Có thể nói, Người đã chẳng biết phải đáp lại thế nào. Lời nói như đã đứng nghẹn ở nơi cổ Người, để cuối cùng thốt ra thành một câu thật đầy ý nghĩa: “Cứ phá đền thờ này đi, ba ngày sau Ta sẽ xây lại”. Dĩ nhiên, những người Dothái kia đã chẳng hiểu gì. Nói đúng hơn, họ đã hiểu theo chiều hướng cố hữu của mình: Ông Yêsu này thật là lộng ngôn phạm thượng. Làm náo loạn trong đền thờ chưa đủ, ông ta còn muốn phá đổ đền thờ này đi, để xây một đền thờ khác. Ông ta khinh bỉ và thù nghịch đền thờ của ta đến như vậy! Họ ghi thêm một tội nữa vào bảng cáo trạng sau này dùng vào việc lên án Chúa. Nhưng đó không phải là ý Người.

Ðối với Người, các ngôi đền thờ bằng gạch đá không phải là điều quan trọng. Người đã nói thẳng với người phụ nữ thành Samaria: kẻ tôn thờ chân thật, phải thờ phượng trong tinh thần và trong chân lý. Người đến để tìm những con người như vậy. Mà Người là Chân lý, là Sự thật, là Lời-Thiên Chúa nhập thể. Ai muốn thờ phượng trong chân lý, phải nghe tiếng Người, phải giữ Lời Người, như nhiều lần Người đã quả quyết với dân Dothái. Chính Chúa Cha cũng đã tuyên bố: Người là Con yêu dấu, và chúng ta phải nghe Lời Người, như ta đã đọc thấy trong bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần trước. Nhưng người Dothái cứng đầu, họ không vâng lời. Họ không để Lời Chúa giáo dục họ đi trong Giao ước 10 điều răn. Nên đền thờ của họ đã trở nên nơi buôn bán; tôn giáo của họ đi đến chỗ vụ hình thức và pháp luật. Chúa Cứu thế phải cải tạo não trạng này, chứ không cần thanh tẩy đền thờ. Người thánh hóa đền thờ để nói rằng Người sẽ cải tạo những tâm hồn mà Người biết rõ đang sống trong tội lỗi.

Chính đền thờ các tâm hồn mới cần được thanh tẩy. Và đối với những tâm hồn chai đá, phải đập nát để xây dựng lại hầu trái tim mọi người trở thành trái tim thịt biết yêu mến và biết nghe lời.

Nhưng làm thế nào? Ðức Kitô đã chấp nhận gánh lấy tội lỗi của mọi người trên vai. Người đã mặc lấy thân xác của loài người. Người bằng lòng để thân xác mình chịu đóng đinh vào thập giá. Thân thể Người sẽ bị tan nát trong đau thương, để từ đó sống lại với sức mạnh thánh thiện của thần tính, thân xác Người trở thành đền thờ mới cho người ta cầu nguyện.

Ðó là con đường Người đã đi. Không có đường lối cứu độ nào khác. Người mời ta đi vào con đường ấy trong mùa Chay này. Gương Người chịu chết để tiêu diệt tội lỗi cho ta, khuyến khích ta trong những tuần lễ này phải kết hiệp với Người mà thanh tẩy tâm hồn và đời sống. Bảng 10 điều răn ta đọc hôm nay nhắc nhở chúng ta kiểm điểm lại đời sống. Biết đâu tâm hồn và đời sống ta hiện nay không như đền thờ Yêruselem ngày trước. Phải đuổi, phải xua những gì không phù hợp với tín ngưỡng và Phúc Âm ra khỏi đời sống của mình. Nhất là phải diệt cho đến tận gốc của tội lỗi, là sự chai lì đối với Lời Chúa. Không còn nhạy cảm khi nghe Phúc Âm nữa, mà như người Dothái, dường như phải chờ thấy phép lạ mới sửa đổi đường lối sống đạo hiện nay. Chúa Yêsu đã trả lời cho người Dothái rồi: cứ phá đền thờ này đi, ba ngày sau, Người sẽ xây dựng lại; Dân này đòi dấu lạ, nhưng họ sẽ chẳng được thấy dấu lạ nào khác ngoài dấu lạ như Yôna thuở xưa. Ông đã ở trong bụng cá ba ngày, thì Con Người cũng sẽ sống lại sau ba ngày nằm trong lòng đất. Và dấu lạ này đòi người ta phải tham dự. Mọi người có bằng lòng chết với Ðức Kitô, họ sẽ mới cùng Người được sống lại. Chẳng có phép lạ nào khác có thể thay đổi được não trạng và đời sống tội lỗi của con người, ngoại trừ chính việc người ta phải cùng Ðức Kitô đóng đinh tội lỗi vào Thập giá.

Chúng ta đang tham dự Thánh lễ. Chúng ta muốn kết hiệp với Ðức Kitô trong mầu nhiệm Thánh Thể là mầu nhiệm chết và sống lại của Chúa.

Chúng ta chỉ thành tâm tham dự Thánh lễ này, nếu giờ đây ta cùng nhau dứt khoát đem ý chí muốn tiêu diệt tội lỗi lên bàn thờ, để ta dâng mình với Ðức Kitô trong mầu nhiệm hy tế, hầu ơn sống lại của Người sẽ khiến ta đổi đời và canh tân đời sống sau khi bước ra khỏi nhà thờ này. Như vậy ta mới thật sự kết hiệp với Chúa trong mầu nhiệm thanh tẩy đền thờ là chính tâm hồn và đời sống của ta.

Bài 12. HOẶC LÀ ĐỀN THỜ HOẶC LÀ NƠI BUÔN BÁN
Lm Trịnh Ngọc Danh

Hôm nay, chúng ta được chứng kiến một sự việc khác thường: Chúa Giêsu nổi giận: “Ngài chắp giây thừng làm roi, đánh đuổi tất cả bọn cùng với chiên bò ra khỏi đền thờ, Ngài hất tung tiền của những người đổi bạc, xô đổ bàn ghế của họ và bảo những người bán chim câu rằng: ‘Hãy đem những thứ này đi khỏi đây. Đừng làm nhà Cha Ta thành nơi buôn bán’”.

Câu nói cuối cùng của Chúa Giêsu cho chúng ta thấy hai môi trường sinh hoạt khác nhau: Nhà Cha Ta, tức đền thờ và nơi buôn bán tức chợ búa.

Đền thờ Giêrusalem

Đó là một thánh đường nguy nga, với những dãy cột đồ sộ bằng cẩm thạch muôn màu óng ả; những cây cột này được dát vàng trên chóp và đỡ nâng một mái lớn cũng dát vàng.

Sau khi qua một khu đất gồm nhiều dãy hành lang rất đẹp, ta phải leo lên một cái thang mười bốn cấp rồi qua một trong 9 cửa, đó là cửa Đẹp, cửa chính để vào Sân phụ nữ. Qua Sân phụ nữ, bước lên mấy bậc, ngang qua cửa Nicanor lộng lẫy, ta sẽ vào Tiền đường Israel rộng 300 thước vuông, chứa được một ngàn người. Tiến vào trong nữa là Sân các tư tế. Từ sân ấy, leo lên 12 bậc nữa là đến Nội điện. Trong thâm cung Nội điện, chìm mờ trong ánh sáng mờ nhạt là một căn phòng hình chữ nhật dài 20 thước, rộng 10 thước. Đây là Cung thánh, giữa nổi lên một bàn thờ bằng vàng, ngày đêm nghi ngút khói hương. Bên hữu bàn thờ, là một chân nến bằng vàng 7 ngọn cung kính đứng đối diện với một bàn thờ nhỏ dát vàng ở bên tả, trên có 12 chiếc bánh không men tượng trưng cho 12 chi tộc Do Thái.

Cung Thánh là nơi tôn nghiêm thánh thiện, chỉ có chủ tế mới được vào mỗi ngày hai lần để dâng hương, ngoài ra không ai được lai vãng. Nhưng chính trong Cung Thánh, còn một nơi trang nghiêm hơn nữa, quen mệnh danh là Nơi Cực Thánh. Một tấm màn lớn mỗi bề 6 thước ngăn Nơi Thánh và Nơi Cực Thánh này. Xưa kia, đây là chỗ đặt Hòm bia và cây gậy nở hoa của Aaron; bây giờ chỉ còn trơ lại một phiến đá đã dùng làm bệ đỡ. Ngoài ra, không còn đồ vật nào khác. Vì nó biểu hiệu nơi Đấng Tối Cao ngự trị một cách đặc biệt, nên chỉ mình vị Thượng Tế mới được diễm phúc mỗi năm một lần vào đó để tế lễ mà thôi (ĐHV số 246).

Chợ đền thờ

Hàng năm, vào những dịp đại lễ như Lễ Vượt Qua, lễ Ngũ Tuần… theo tập tục đã trở thành như một luật buộc các tín hữu khi đến đền thờ dự lễ phải dâng vào đền thờ một lễ vật nào đó như là của lễ dâng lên Thiên Chúa.

Người giàu có thì dâng chiên, bò; người nghèo thì chim bồ câu hay những thứ khác… Vì gần đền thờ không có chợ, nên các tư tế đã lợi dụng những dịp này để làm ăn trục lợi. Những người được buôn bán các thứ lễ vật trong đền thờ là chính các tư tế hay người nhà của họ hoặc những con buôn đã nộp thuế cho họ. Như thế việc buôn bán trong đền thờ là đặc quyền, đặc lợi dành cho hàng tư tế, và nó đã trở thành một thông lệ: Một hình thức Hội chợ ngày xưa! Một thứ chợ phiên vào những ngày đại lễ!

Và cũng theo luật buộc, mỗi năm, những người trưởng thành phải nộp một nửa đồng Xêken, tức là một nửa đồng tiền Do thái; đây là một thứ thuế nghiã vụ phải nộp bằng tiền Do thái chứ không bằng thứ tiền nào khác, tuy vào thời ấy, tiền Rôma và tiền Hy lạp rất thông dụng, vì những thứ tiền ấy in hình vua ngoại đạo, nên cấm lưu hành trong khu vực đền thờ. Vì thế, những người đến dự lễ phải có tiền Do thái để nộp cho đền thờ; những bàn đổi tiền, những dịch vụ đổi tiền phát sinh từ đó.

Đền thờ và Chợ đời

là hai môi trường sinh hoạt thuộc hai lãnh vực khác nhau, có những mục đích khác nhau thậm chí còn trái nghịch nhau.

Khác với các siêu thị ngày nay, ở đây hàng hóa đã có giá sẵn, người mua không cần phải kỳ kèo trả gía, thích thì mua không thì thôi… Chợ là nơi buôn bán hàng hóa, trao đổi tiền bạc. Chợ có người bán và người mua. Người bán thì tìm đủ cách để kiếm lời. Không có lợi nhuận thì chẳng ai bỏ công kinh doanh, không đủ doanh thu thì lấy tiền đâu mà đóng thuế… do đó người bán tìm đủ mọi cách để kiếm lời và cũng từ đó sinh ra nhiều mánh khóe lừa lọc. Buôn bán thật thà chỉ có mà thua thiệt!; ngược lại người mua thì mong mua được hàng hóa tốt, giá cả rẻ, không bị hớ, không bị lừa. Mua rẻ, bán đắt!

Chợ, một nơi sinh hoạt ồn ào, bát nháo, tham lam, lọc lừa…

Trái lại, đền thờ là nơi trang nghiêm, tôn kính, là nơi linh thiêng thánh thiện, là nơi biểu tượng cho sự hiện diện của Thiên Chúa, là nơi các vị tư tế dùng để giảng dạy về Thiên Chúa, về giáo huấn của Ngài.

Thánh Mathhêu, thánh Máccô và thánh Luca đều nhắc lại lời khẳng định của Thiên Chúa: Nhà Ta là nhà cầu nguyện, và Ngài đã khiển trách những ai đó “các ngươi” đã biến nó thành “hang trộm cướp”, thành: “sào huyệt bọn cườp”. Trong Phúc âm của thánh Gioan, chính Chúa Giêsu nói lên vị thế của đền thờ và mối quan hệ giữa Ngài và Chúa Cha: “Đừng biến nhà Cha Ta thành nơi buôn bán”.

“Nhà Ta” hay “Nhà Cha Ta” là nhà cầu nguyện, không ai được biến nó thành “ sào huyệt của bọn cướp, thành hang trộm cướp, thành nơi buôn bán”.

Như thế, dứt khoát hoặc là đền thờ hoặc là chợ. Không được nhập nhằng giữa hai ông chủ như lời Chúa đã cảnh báo: “Không ai có thể làm tôi hai chủ: vì hoặc nó sẽ ghét người này và yêu mến người kia, hoặc nó chuộng chủ này và khinh chủ nọ. Các con không thể làm tôi Thiên Chúa và tiền của được” (Mt. 6: 24).

Đền thờ vật chất và đền thờ tâm hồn

Người ta đã biến “Nhà Cha Ta” thành nơi buôn bán đổi chác, đã biến đền thánh thành cái chợ! Vì thế, Chúa Giêsu đã nổi giận,

Trước thái độ quyết liệt và đứt khoát của Chúa Giêsu, người Do thái đã thắc mắc bất bình: Ông lấy tư cách gì để làm như thế. Và Ngài đã trả lời với họ: “Các ông cứ phá hủy đền thờ này đi; nội trong ba ngày tôi sẽ xây dựng lại”. Đền thờ mà Chúa thách thức người ta phá đi và sẽ xây dựng lại trong ba ngày: đó là  chính thân thể của Ngài.

Mỗi người trong chúng ta cũng là chi thể của Chúa Kitô, là đền thờ của Chúa Thánh Thần như lời Thánh Phaolô đã nhắc bảo: “Anh em không biết thân xác anh em là là chi thể của Chúa Kitô sao?… Anh em không biết thân xác anh em là đền thờ Chúa Thánh Thần, Đấng ngự trong anh em mà anh em đã nhận lãnh nơi Thiên Chúa, và anh em không còn thuộc về chính mình nữa sao?” (1 Cor 6: 15,19)

Mỗi người Kitô hữu được coi như là một đền thờ của Thiên Chúa; nhưng chúng ta có biến nó thành một nơi cầu nguyện, một noi xứng đáng để Thiên Chúa ngự đến hay lại biến nó thành một nơi trưng bày đủ thứ hàng hoá vật chất như tham lam, ích kỷ, hận thù, gian dối, lường lọc…? Không biết Thiên Chúa có chiếm được chỗ nào trong tâm hồn chúng ta hay không, hay những cái xấu, tội lỗi… đã chiếm hết chỗ trong đền thờ tâm hồn của chúng ta!

Vì thân xác chúng ta là “đền thờ Chúa Thánh Thần”, “hãy lánh xa dâm dật. Mọi tội lỗi người ta phạm đều ngoài thân xác, những kẻ tà dâm thì phạm trong thân xác mình.”

Và còn trầm trọng hơn nữa như lời Chúa đã khuyến cáo:“ Tôi bảo cho các ông: Mọi tội lỗi và mọi lời phạm thượng đều được tha thứ cho loài người, còn tội phạm thượng đến Chúa Thánh Thần sẽ không được thứ tha. Và kẻ nào nói lời chống đối Con Người, sẽ được tha thứ; còn kẻ nào nói lời chống đối Chúa Thánh Thần, sẽ không được tha thứ ở đời này và đời sau” (Mt. 12: 31-32).

Lời Thiên Chúa phán trong sách Xuất hành: “Ngươi đừng lấy danh Chúa, Thiên Chúa ngươi mà làm những việc bất xứng, vì Chúa không dung tha kẻ dùng danh Người một cách bất xứng”, phải chăng đây cũng là một lời cảnh cáo đối với những ai “làm tôi hai chủ”, những người buôn thần bán thánh, những người lợi dụng lòng tin của dân chúng để mưu cầu lợi ích riêng tư!

Bài 13. Thanh tẩy tâm hồn
Phó Tế Phêrô Đặng Phi Hùng

Qua Bài Tin Mừng hôm nay chúng ta nghe biết việc Chúa Giêsu vào đền thờ Giêrusalem đánh đuổi những người buôn bán súc vật và những người đổi tiền trong khuôn viên đền thánh. Thánh Gioan cho biết Chúa làm việc nầy vào những ngày đầu tiên giảng đạo trong khi theo ba thánh sử “nhất lãm” Matthêu, Marcô và Luca, Chúa lại làm việc nầy trong ngày thứ hai tuần thánh sau Lễ Lá, vào những ngày cuối đời trước lúc phó mình chịu chết trên Thánh Gía. Có lẽ Thánh Gioan muốn nhấn mạnh để mọi người nhớ đến lời tiên báo của hai Tiên Tri Malachi và Zechariah về việc Chúa thanh tẩy đền thờ. Cả hai tiên tri hứa chắc rằng “trong ngày đó, không còn việc buôn bán, đổi chác trong nhà Chúa.”

Cho dù là vào đầu năm thứ nhất như Gioan viết, hay vào cuối năm thứ ba như các tác giả nhất lãm, chúng ta cũng phải công nhận một điều là Chúa Giêsu đã rất kiên nhẫn trước khi hành động. Theo Kinh Thánh, hằng năm Chúa vẫn theo cha mẹ lên đền thánh. Lúc Chúa lên 12 tuổi Thánh Giuse và Đức Mẹ để lạc mất con và sau 3 ngày, họ tìm thấy Chúa ngồi giảng dạy cho các luật sĩ trong đền thờ. Những lần lên đền thờ với cha mẹ, chắc chắn Chúa đã quan sát và nghe thấy rõ sự việc “ngứa tai, gai mắt” nầy từ khi Ngài còn thơ ấu. Thế mà mãi đến hơn mấy chục năm sau, Chúa Giêsu hôm nay mới hất tung “bàn ghế” của luật lệ, xua đuổi hết “phường buôn bán” của nền luân lý đạo đức giả, nói mà không làm của các kinh sư, tư tế. Không thể nào trì hoãn được nữa nên Chúa phải ra tay hành động. Chúa muốn thay thế não trạng con người cho rằng việc thờ phượng Thiên Chúa chỉ ở trong các đền thờ là việc chính, bằng việc sống trong sạch trong tâm hồn là đền thờ của Chúa Thánh Thần. Chúa muốn việc làm thay vì chỉ nói “Lạy Chúa, lạy Chúa” bằng môi miệng. Chúa thách thức và kêu mời con người chúng ta qua các thời đại đừng để vật chất trên tâm linh. Hãy vững tin vào Đức Kitô, là Con Một của Thiên Chúa, là Đấng Thiên Sai, là cũng là Thiên Chúa. Là Thiên Chúa nên Chúa Con có khả năng biết lòng người ta. Ngài không cấn ai làm chứng vì tự nơi Ngài đã là chứng thực. Ngài đến từ Chúa Cha và luôn luôn kết hiệp cùng Chúa Cha.

Nhưng Chúa Giêsu cũng có bản tính hoàn toàn con người, ngoại trừ tội lỗi. Vì thế Thiên Chúa trong con người Giêsu, đã trở nên một người phàm như chúng ta. Ngài cũng có thân xác, cũng sống, ăn uống, ngủ nghỉ và cũng có tiếng nói của loài người. Chúa cũng biết thế nào là yêu thương, là nhu cầu, là đau khổ, là thua thiệt, là lo sợ v.v… Chúa hiểu thế nào là thất vọng khi bị bỏ rơi bởi bạn bè. Chúa cũng cảm nghiệm được thế nào là hiểu lầm, thế nào là bị khước từ, bị phản bội. Trên hết, Ngài còn cảm nhận được niềm đau khi tình nguyện chối bỏ ý định riêng tư của mình để chấp nhận hy sinh mạng sống cho kẻ khác. Chúa chúng ta hiểu rõ mọi sự, mọi hoàn cảnh mà con người đang sống ở đời.

Vì thế, là con người, chúng ta đừng sợ hãi khi đến gần Chúa Giêsu. Ở đâu có sự hiện diện của Chúa, nơi đó sẽ không tìm thấy giận hờn hay ganh ghét. Nơi Ngài, chúng ta sẽ tìm thấy “ách” êm ái và “gánh” nhẹ nhàng, tìm thấy an bình và niêm vui của sự yêu thương. Sự yêu thương đó sẽ là động lực thúc đẩy mỗi chúng ta trở nên ngày càng tốt hơn trong thế giới của sự tốt lành thánh thiện nơi Chúa Kitô, Đấng mà chúng ta tin theo.

Hành động nóng giận của Chúa Kitô hôm nay chỉ có thể hiểu được nếu chúng ta nhớ lại lời của tác giả TV 68:10: “Lòng nhiệt thành với nhà Chúa nung náu tôi.” Sự bất kính đối với nhà Cha của các con buôn làm Chúa Con đau lòng nổi cơn thịnh nộ. Trong Tin Mừng của Thánh Gioan chúng ta đọc thấy tới 27 lần cụm từ “nhà Cha Ta” khi Chúa Giêsu nói đến sự sống đời đời trên Thiên đàng, nơi mà Kitô hữu chúng ta chung sống với Thiên Chúa, Đấng cho phép chúng ta làm con cái và chúng ta gọi Ngài là Abba, là Father, là Bố, là Cha.

Thưa bạn, Kitô hữu chúng ta có bổn phận vận dụng sức mạnh tinh thần cũng như thể xác để luôn luôn bảo vệ nhà thờ là nơi linh thiêng thờ phượng Thiên Chúa. Nơi mà mọi giáo hữu cùng nhau tề tựu mỗi ngày, mỗi tuần để tuyên xưng niềm tin của mình. Chúng ta cũng phải sống trong sạch trong tâm hồn là đền thờ của Thiên Chúa ngự trị. Sống đúng với lương tâm ngay lành, tử tế với người khác với tinh thần của Mùa Chay thánh. Xua đuổi mọi tính hư tật xấu ra khỏi tâm hồn để dành chỗ cho bác ái và phục vụ.

Bài 14. Thánh luật
Trầm Thiên Thu

Bất cứ một quốc gia nào, một tổ chức nào, một gia đình nào, một nhóm nào, dù chỉ là một “nhóm” vài người,… cũng đều phải có luật lệ, nội quy để bảo đảm trật tự – ở phạm vi lớn gọi là an ninh, ở phạm vi thế gới gọi là hòa bình.

Luật vị nhân sinh – luật vì con người, chứ con người không lệ thuộc luật, bởi vì luật có sau con người nên luật được lập ra cốt để phục vụ con người, giúp xã hội tốt hơn. Còn lề luật của Thiên Chúa là Thập Giới, tức là Mười Điều Răn. Luật Chúa là Thánh luật, là Thánh chỉ, là luật giao ước, là Ý Chúa.

THẬP GIỚI

Thiên Chúa đã tạo dựng con người, cho con người tự do, vì chính Ngài “đưa dân Chúa ra khỏi đất Ai Cập, để thoát khỏi cảnh nô lệ” (Xh 20:2). Thoát khỏi nô lệ là được tự do. Tự do rất cần, mà Thiên Chúa đã cho con người tự do, nhưng đồng thời Ngài cũng có luật đòi hỏi con người phải thực hành: “Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta. Ngươi không được tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao, cũng như dưới đất thấp, hoặc ở trong nước phía dưới mặt đất, để mà thờ” (Xh 20:3-4).

Phúc âm nhất lãm lặp lại Giới răn thứ nhất: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi” (Mt 22:37; Mc 12:30; Lc 10:27), hoặc như tiên tri Samuel xác định: “Hãy phụng thờ Đức Chúa hết lòng” (1 S 12:20). Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất (Mt 22:39). Theo kinh Mười Điều Răn, chúng ta quen đọc là “thứ nhất, thờ phượng và kính mến Người trên hết mọi sự”.

Rồi Thiên Chúa nói tiếp: “Ngươi không được phủ phục trước những thứ đó mà phụng thờ: vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi” (Xh 20:5a). Ngài không ngần ngại tự nhận Ngài là “một vị thần ghen tương” (Xh 20:5b), và Ngài nhấn mạnh: “Đối với những kẻ ghét Ta, Ta phạt con cháu đến ba bốn đời vì tội lỗi của cha ông” (Xh 20:5c). Có phải vì Thiên Chúa đã “ấn định” như vậy nên ngày xưa người ta cũng có luật “tru di tam tộc” chăng?

Nghe cách nói của Chúa có vẻ “gay gắt” nhưng thực ra không phải vậy. Ngài không độc đoán, vì Ngài luôn yêu thương và hứa chắc chắn: “Những ai yêu mến Ta và giữ các mệnh lệnh của Ta thì Ta trọn niềm nhân nghĩa đến ngàn đời (Xh 20:6). Ngài rất tâm lý và công bằng, Ngài “bắt buộc” cái này thì Ngài lại “thưởng công” cái khác. Công lý là thế. Chính tác giả Thánh vịnh đã xác định: “Chúa giữ gìn những ai thành tín, nhưng thẳng tay trừng trị người ăn ở kiêu căng” (Tv 31:24). Thiên Chúa còn giải thích rõ ràng: “Ngươi không được dùng danh Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, một cách bất xứng, vì Đức Chúa không dung tha kẻ dùng danh Người một cách bất xứng” (Xh 20:7). Đó chính là Giới răn thứ hai: “Chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ”.

Sách Xuất hành, chương 20, câu 9-17 “liệt kê” các Giới răn từ thứ ba tới thứ mười: “Ngươi hãy nhớ ngày Sa-bát, mà coi đó là ngày thánh. Trong sáu ngày, ngươi sẽ lao động và làm mọi công việc của ngươi. Còn ngày thứ bảy là ngày Sa-bát kính Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi. Ngày đó, ngươi không được làm công việc nào, cả ngươi cũng như con trai con gái, tôi tớ nam nữ, gia súc và ngoại kiều ở trong thành của ngươi. Vì trong sáu ngày, Đức Chúa đã dựng nên trời đất, biển khơi, và muôn loài trong đó, nhưng Người đã nghỉ ngày thứ bảy. Bởi vậy, Đức Chúa đã chúc phúc cho ngày Sa-bát và coi đó là ngày thánh. Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, để được sống lâu trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi. Ngươi không được giết người. Ngươi không được ngoại tình. Ngươi không được trộm cắp. Ngươi không được làm chứng gian hại người. Ngươi không được ham muốn nhà người ta, ngươi không được ham muốn vợ người ta, tôi tớ nam nữ, con bò con lừa, hay bất cứ vật gì của người ta”.

VUI, BUỒN VÌ LUẬT

Vô tri bất mộ – không biết nên không yêu thích. Càng hiểu biết thấu đáo điều gì thì người ta càng yêu quý. Tác giả Thánh vịnh đã vui mừng thốt lên: “Luật pháp Chúa quả là hoàn thiện, bổ sức cho tâm hồn. Thánh Ý Chúa thật là vững chắc, cho người dại nên khôn” (Tv 19:8). Luật pháp khiến người ta “sáng mắt” để khả dĩ phân biệt đâu là đúng và đâu là sai. Còn Luật Chúa khiến “người dại hóa khôn”. Chính các “huấn lệnh Chúa hoàn toàn ngay thẳng” có thể “làm hoan hỷ cõi lòng” và “mệnh lệnh Chúa minh bạch” để làm cho “đôi mắt rạng ngời” (Tv 19:9). Tác giả Thánh vịnh chân nhận “quyết định Chúa phù hợp chân lý, hết thảy đều công minh” nên thực sư “quý báu hơn vàng ròng muôn lượng” và “ngọt ngào hơn mật ong nguyên chất” (Tv 19:10-11). Như vậy, luật làm cho người ta hạnh phúc hơn chứ không làm cho người ta bị gò bó, lệ thuộc, hoặc đau khổ. Luật phải hợp lòng dân, phải bắt nguồn từ yêu thương chứ không vì tư lợi, nếu không thì đó chỉ là ác luật để hành dân, là luật không hợp lý, và luật đó khiến người dân khổ sở. Tất nhiên luật đó trái với Ý Chúa. “Quan nhất thời, dân vạn đại”, người ta thường nói vậy.

Cuộc sống luôn có những điều trái ngược, như người ta thường nói: “Chín người mười ý”, và đôi khi có những tình huống rất khó xử. Không ai chịu nghe ai, nếu không có nghiêm luật thì xã hội sẽ rối loạn. Thánh  PhaoLô nói: “Người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan (1 Cr 1:22). Hai thái cực khác nhau. Còn những người tin yêu Chúa, như thánh Phaolô, thì “lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ” (1 Cr 1:23). Người ta chỉ theo những người có uy tín – dù “uy tín” đó chỉ là vàng bạc, chức tước, địa vị, quyền hành,… chứ ai lại ủng hộ người “nghèo rớt mồng tơi”, không có cục đất chọi chim? Người ta còn “chửi xéo” là kẻ “thừa nói thiếu ăn”! Những người “chịu” theo Chúa chắc chắn cũng bị người ta cho là “tâm thần”, là “ngu xuẩn”, là “dại dột”, hoặc chí ít cũng là “khờ khạo”. Tuy nhiên, “đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do Thái hay Hy Lạp, Đấng ấy chính là Đức Kitô, sức mạnhsự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1 Cr 1:24).

Thiên Chúa với những động thái “ngược đời”, hoàn toàn khác loài người. Trong xã hội cũng vậy (cả đạo lẫn đời), những người có tư tưởng “mới” là những người “đi trước thời đại”, có khả năng “nhìn xa, nhìn rộng”, nhưng họ thường bị coi là cấp tiến, bị xa lánh, bị cô lập, bị ghét bỏ, thậm chí là bị hại. Thức tế cho thấy đã có những người chỉ được chấp nhận là vĩ nhân sau khi họ đã chết lâu rồi – đơn vị thời gian có thể tính bằng thế kỷ. Thật là buồn! Những người có tư tưởng mới mà “yếu bóng vía” sẽ ái ngại rồi có thể “bỏ của chạy lấy người”. Còn những người “dị ứng” với những tư tưởng mới thì chỉ là những người không theo kịp thời đại, thậm chí có thể là “tiểu nhân”, hoặc không muốn người khác hơn mình!

Riêng thánh Phaolô, sau lần ngã-ngựa-chí-tử, ngài chợt nhận ra cái “ngược-đời-xem-chừng-nghịch-lý” kia, và đã can đảm xác nhận: “Cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1 Cr 1:25). Cũng có lần Thiên Chúa đã nói: “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta. Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy” (Is 55:8-9).

THỰC HÀNH LUẬT

Thánh sử Gioan kể: Gần dịp lễ Vượt Qua, Đức Giêsu lên thành Giêrusalem, Ngài hết sức ngạc nhiên khi thấy trong Đền Thờ có những kẻ bán chiên, bò, bồ câu, và những người đang ngồi đổi tiền. Ngài liền lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi Đền Thờ; còn tiền của những người đổi bạc, Ngài đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ.

Ngài nói thẳng với những kẻ buôn bán: “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha Tôi thành nơi buôn bán” (Ga 2:16). Lúc đó, các môn đệ “giật mình” nhớ lại lời đã chép trong Kinh Thánh: “Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi đây sẽ phải thiệt thân” (Ga 2:17; Tv 69:10). Thấy Chúa Giêsu “nổi nóng” và dám chê họ sai, người Do Thái ấm ức hỏi: “Ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế?” (Ga 2:18). Đức Giêsu thản nhiên đáp: “Các ông cứ phá huỷ Đền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại” (Ga 2:19). Đền Thờ Giêrusalem phải mất 46 năm mới xây xong, thế mà Chúa Giêsu nói có thể xây lại chỉ nội trong 3 ngày. Đối với họ thì đúng là Chúa Giêsu sinh sống gần kho đạn, “nổ” hết mức, hoặc là “tâm thần” thật. Tuy nhiên, Ngài muốn nói về chính thân thể Ngài mà họ không thể nghĩ kịp tư tưởng của Ngài. Ngay cả các môn đệ, dù đã từng rong ruổi với Ngài khắp nơi, cùng chia ngọt sẻ bùi với Ngài, hẳn là phải hiểu Ngài, thế mà các ông cũng đã “miệng chữ A, mắt chữ O” khi nghe Sư phụ mình nói như vậy!

Mãi đến khi Chúa Giêsu từ cõi chết trỗi dậy, các môn đệ mới “tá hỏa tam tinh” mà nhớ lại điều Ngài đã nói thì mới đủ tin vào Kinh Thánh và lời Ngài nói. Trong lúc Ngài ở Giêrusalem vào dịp lễ Vượt Qua, có nhiều người tin Ngài vì đã chứng kiến các dấu lạ Ngài làm. Thế nhưng chính Đức Giêsu chưa đủ tin họ, vì Ngài biết rõ có gì trong lòng con người.

Chúng ta cũng chẳng hơn gì người Do Thái, thấy cái gì lạ thì tin ngay, nhưng rồi “đâu lại vào đấy”, xin và được ơn thì tin lắm, xin không được thì “nhăn mặt” và nghĩ: “Kỳ vậy ta?”. Thậm chí, đôi khi chúng ta cầu nguyện mà kỳ thực chúng ta đang “ngã giá”, “hối lộ” hoặc “mua chuộc” chính Chúa và các vị thánh mà chúng ta cho là “thiêng lắm”! Thật đáng để chúng ta phải trầm tư suy nghĩ nhiều với câu hỏi của Chúa: “Cho đến bao giờ nữa quý vị từ chối, không tuân giữ các mệnh lệnh và luật lệ của Tôi?” (Xh 16:28).

Lạy Chúa, chúng con chợt thấy mình như những kẻ bơ vơ, lạc hướng trong thế giới ngày nay, vì khó tìm được người đáng tin cậy, trong khi xung quanh chúng con có nhiều thần ô uế, thần bạc tiền, thần nhục dục, thần danh vọng, thần địa vị, thần quyền lực,… Đôi khi chúng con còn mắc những bệnh trầm kha trong cách nhìn, trong nếp nghĩ, và trong lối sống, thế nên chúng con vẫn bỏ mặc những người sống bên lề xã hội, mặc họ bị bóc lột, bị áp bức, bị khinh miệt, bị tước đoạt nhiều thứ… Chúng con xin lỗi Chúa. Xin Ngài thương giúp chúng con nhận ra chính mình để có thể nhìn rõ tha nhân mà chạnh lòng thương họ bằng chính trái tim của Đức Kitô, đồng thời giúp chúng con dám chấp nhận mọi thứ dù phải thiệt thân. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

 

Bài 15. Thanh tẩy đền thờ nơi thân xác chúng ta
Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Chúa Giê-su rất hiền lành và Người cũng là mẫu mực của sự hiền lành như lời Người mời gọi: “Hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhượng trong lòng”. (Mt 11, 29) 

Khi Chúa Giê-su và các môn đệ bị người dân xứ Sa-ma-ri-a ngăn chặn không cho đi qua làng của họ để tiến về Giê-ru-sa-lem, hai môn đệ Gia-cô-bê và Gioan nổi giận đùng đùng, đòi khiến lửa trời thiêu đốt làng mạc của chúng. Thế nhưng Chúa Giê-su liền quở trách Gia-cô-bê và Gioan vì đã tỏ ra không bao dung cũng chẳng có chút nhân từ. (Lc 9, 54)

Khi bị người đời phê phán là người mất trí (Mc 3, 21), là kẻ nói phạm thượng (Mt 9, 3), là người lấy phép của tướng quỷ mà trừ quỷ (Mt 9, 34), là người bị quỷ ám (Ga 7,20), là người dại dột… Chúa Giê-su vẫn bình thản như không.

Nhất là trong cuộc thương khó, dù bị lăng nhục và hành hạ đủ điều, bị chế nhạo đủ cách, Chúa Giê-su vẫn nín lặng và thản nhiên. Khi chịu đóng đinh vào thập giá với những đớn đau khủng khiếp, Chúa Giê-su chẳng những không oán hận mà lại còn cầu xin Chúa Cha tha thứ cho kẻ hành hạ và đóng đinh Người.

Tóm lại, Chúa Giê-su là Đấng rất dịu hiền và rất bao dung khiến ta nghĩ rằng Người không bao giờ nổi giận.

Dù rất hiền lành, Chúa Giê-su cũng không thể khoan dung với việc tục hoá đền thờ

Vậy mà khi vào đền thờ Giê-ru-sa-lem, thấy người ta làm ô uế đền thờ thì Người không thể nào chịu nổi. Người nổi giận thật sự. Tin Mừng Gioan ghi lại: “Người thấy trong Đền Thờ có những kẻ bán chiên, bò, bồ câu, và những người đang ngồi đổi tiền. Người liền lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi Đền Thờ; còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ. Người nói với những kẻ bán bồ câu: “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán.” (Gioan 2, 14-16)

Thật không ngờ! Một Chúa Giê-su rất hiền lành khiêm nhượng. Đấng mà ‘cây lau bị giập, Người không đành bẻ gãy, tim đèn leo lét, chẳng nỡ tắt đi’ (Mt 12,20) giờ đây đã nổi trận lôi đình, phải dùng roi vọt và biện pháp cứng rắn đối với những người xúc phạm đến sự linh thánh của Đền Thờ Giê-ru-sa-lem.

Điều đó chứng tỏ rằng đối với Chúa Giê-su, việc làm ô uế Đền Thờ là một xúc phạm nặng nề mà Người vốn rất nhân từ và bao dung cũng không thể nào chịu đựng nổi!

Thân thể chúng ta là đền thờ của Thiên Chúa

Thế nhưng còn một đền thờ khác còn cao trọng hơn đền thờ Giê-ru-sa-lem xưa. Đó là đền-thờ-thân-xác chúng ta. Thánh Phao-lô khẳng định: “Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao? (I Cor 3,16), hoặc: “Anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao? (I Cor 6, 19)

Chúa Giê-su cũng dạy rằng mỗi người chúng ta là đền thờ cho Ba Ngôi ngự trị: “Ai yêu mến Thầy và tuân giữ lời Thầy, thì Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy và Chúng ta (tức Ba Ngôi Thiên Chúa) sẽ đến ngự trong người ấy”. (Ga 14, 23)

Chính vì yêu quý đền-thờ-thân-xác chúng ta quá đỗi nên Chúa Giê-su sẵn sàng chuộc lại bằng giá máu của Người, đã thánh hoá nó bằng Lời hằng sống và hiến ban Thịt Máu Người trong bí tích Thánh Thể để bồi bổ nó nên vạn lần cao đẹp.

Điều đó chứng tỏ rằng đối với Thiên Chúa thì thân xác con người là đền thờ vô giá!

Vì thế, nếu hôm xưa người Do-thái làm ô uế đền thờ Giê-ru-sa-lem khiến Chúa Giê-su đau lòng một phần, thì hôm nay, nếu có ai làm cho đền thờ cao quý là thân xác các môn đệ Người ra nhơ uế thì Người đau xót gấp trăm. Thế nên, Người nghiêm khắc lên án những người nầy: “Ai làm cho một kẻ nhỏ tin vào Thầy vấp phạm, (tức là làm hư hại đền-thờ-thân-xác người khác), thì thà lấy cối đá cột vào cổ người ấy rồi xô xuống biển còn hơn.”  (Lc 17, 1-2)

Thánh Phao-lô cũng quả quyết: “Ai phá huỷ Đền Thờ Thiên Chúa, thì Thiên Chúa sẽ huỷ diệt người ấy.Vì Đền Thờ Thiên Chúa là nơi thánh, và Đền Thờ ấy chính là anh em.” ( Icor 3, 13-17)

Hãy sớm thanh tẩy đền thờ thân xác mình

Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta hãy nhìn thật sâu vào nội tâm kín ẩn của mình để truy tìm những điều làm cho chúng ta ra nhơ uế và quyết tâm thanh tẩy tâm hồn, vì “từ trong lòng phát xuất những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian và vu khống. Đó mới là những cái làm cho con người ra ô uế.” (Mt 15, 19-20)

Ngoài ra, chúng ta phải tôn trọng thân xác chúng ta là đền thờ Thiên Chúa, được Chúa Giê-su cứu chuộc, được xức dầu thánh hiến bằng Thánh Thần, được Ba Ngôi Thiên Chúa vui thích chọn làm nơi ngự trị. Phải trang điểm đền thờ thân xác chúng ta bằng những đức tính tốt; phải nâng cấp bản thân bằng rèn luyện cho mình những phẩm chất cao đẹp cho xứng với danh hiệu đền thờ cao quý của Thiên Chúa Ba Ngôi.

Bài 16. CƠN THỊNH NỘ HIẾM CÓ
JM. Lam Thy ĐVD.

Thật hiếm khi được chứng kiến Đức Giê-su bộc lộ cơn thịnh nộ như trong bài Tin Mừng hôm nay (“Người thấy trong Đền Thờ có những kẻ bán chiên, bò, bồ câu, và những người đang ngồi đổi tiền. Người liền lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi Đền Thờ; còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ. Người nói với những kẻ bán bồ câu: “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán.” – Ga 4, 14-16). Chỉ cần nhìn theo con mắt trần gian cũng đã thấy được Đức Giê-su là một mẫu người rất hiền lành và có một tấm lòng bao dung độ lượng không ai sánh kịp. Còn nhìn theo lăng kính siêu nhiên thì vì Người là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật, nên bản tính của Người là nhân từ bác ái (“Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.” – Mt 11, 29-30). Với một châm ngôn “Ta cần lòng nhân chớ không cần lễ tế”, Người luôn dạy dỗ các môn đệ một tình yêu vô bờ bến (yêu đến độ sẵn sàng hy sinh cả mạng sống cho người mình yêu, yêu cả kẻ thù,…), một tấm lòng khoan dung độ lượng bao la (ai tát mình má trái, thì hãy đưa cả mà phải cho họ tát tiếp; tha thứ cho anh em đã xúc phạm đến mình không chỉ 3 hay 7 lần, mà là bảy mươi lần bảy…) và một đức tính khiêm nhương tuyệt đối (Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường, hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình; Thầy là Thầy là Chúa mà còn quỳ xuống rửa chân cho anh em thì anh em hãy rửa chân cho nhau…). Vậy mà lần này Người đã nổi cơn thịnh nộ dữ dội như vậy là vì sao ?

Đền thờ là biểu tượng ngôi nhà của Thiên Chúa, cũng là nơi dân Chúa tập trung để bày tỏ lòng tôn kính phụng thờ Đấng Toàn Năng hằng hữu. Vì thế, Đền thờ Giê-ru-sa-lem vào những ngày Sa-bát, nhất là những ngày đại lễ như lễ Vượt Qua, lễ Ngũ Tuần, người Do Thái ở các nơi tề tựu hành lễ rất đông. Trong những dịp đó, dân chúng thường phải đổi tiền và mua các con vật như chiên, bò, bồ câu để dùng làm lễ vật dâng tiến theo nghi thức Do Thái Giáo thời đó. Tuy nhiên, người ta đã lợi dụng dịp này, biến Đền Thờ thành chỗ buôn bán, đổi chác để kiếm lời, biến nơi linh thiêng thành chốn ô uế.  Vấn đề đặt ra ở đây không phải là quy lỗi cho những người buôn bán, mà là đối với những người trông coi đền thờ – bọn luật sĩ kinh sư Pha-ri-sêu. Họ đã làm ngơ để những bọn con buôn vào buôn bán, mà vì sao họ làm ngơ? Tất nhiên là vì lợi nhuận do đám người buôn bán đóng thuế. Không đóng thuế, chắc chắn không thể làm ăn gì được. Vì thế, nói đám người kinh sư luật sĩ làm ngơ còn là nhẹ, mà phải nói là họ đã cố tình để xảy ra tình trạng bát nháo trong đền thờ nhằm trục lợi cá nhân. Cơn thịnh nộ của Chúa là điều tất yếu vậy.

Hành động của Chúa Giê-su không chỉ đơn thuần là xua đuổi các con buôn, đụng chạm đến quyền lực và lợi nhuận của hàng tư tế, nhưng sâu xa hơn, đó là Người phủ nhận hoàn toàn cung cách thờ phượng đã biến chất (chẳng khác gì cảnh buôn thần bán thánh diễn ra nhan nhản ở thế kỷ XXI này). Ngoài ra, Chúa Giê-su – thông qua vịêc tẩy uế đền thờ được xây dựng bằng vật chất – còn giời thiệu ngôi đền thờ đích thực là tâm linh (như Lời Người trao đổi với người phụ nữ Sa-ma-ri: “Này chị, hãy tin tôi: đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem. Các người thờ Đấng các người không biết; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do-thái. Nhưng giờ đã đến – và chính là lúc này đây – giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật.” – Ga 4, 21-24).

Cũng đã có nhiều người cho rằng khi trả lời người phụ nữ Sa-ma-ri, Đức Giê-su đã phủ nhận những đền thờ xây dựng bằng vật chất, vậy tại sao Người lại nổi giận xua đuổi người buôn bán ra khỏi đền thờ Giê-ru-sa-lem và nói đó là “nhà Cha tôi”? Đức Giê-su không phủ nhận, vì – hơn ai hết – Người hiểu rất rõ Đền thờ xây dựng bằng vật chất là một biểu tượng không thể thiếu cho lòng tôn kính thờ phương của loài người đối với Đấng Tối Cao. Loài người với nhãn quan và tâm lực trần tục, thường thì phải có một điểm tựa, một điểm xuất phát hiện thực, để từ đó hướng tâm hồn lên cõi siêu linh. Đức Ki-tô nổi cơn thịnh nộ là nhằm xác định tầm quan trọng của nơi thờ phượng Thiên Chúa, nhiên hậu Người mới dẫn mọi người tới ngôi Đền thờ đích thực là nơi cung lòng mỗi người và cuối cùng là đích điểm: “Đền Thờ Đức Giê-su muốn nói ở đây là chính thân thể Người” (Ga 2, 21).

Rõ ràng là Đức Giê-su Ki-tô đã một lần nữa nhắc lại Lời dạy đừng chú trọng hình thức bên ngoài mà phải coi trọng cái cốt lõi, cái chân lý đích thực ẩn kín bên trong. Đừng khua chiêng gõ mõ khi làm việc thiện, đừng đứng ở ngã ba ngã tư lải nhải khi cầu nguyện; cũng vậy, việc thờ phượng Thiên Chúa không cứ ở núi này núi nọ, đền nọ miếu kia, mà phải là “thờ phượng Thiên Chúa trong Thần Khí và sự thật”. Và cũng chính điều đó khiến đám luật sĩ đặt câu hỏi: “Ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế?” và được Đức Giê-su trả lời: “Các ông cứ phá huỷ Đền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại” (Ga 4, 18-19). Đền thờ Giê-ru-sa-lem là một công trình xây dựng ròng rã 46 năm mới xong, vậy mà phá bỏ đi, chỉ cần ba ngày là Đức Giê-su sẽ xây lại được! Ai nghe cũng thấy là chuyện không tưởng, nên chẳng lạ khi thấy đám “Người Do-thái nói: “Đền Thờ này phải mất bốn mươi sáu năm mới xây xong, thế mà nội trong ba ngày ông xây lại được sao?” (Ga 4, 20). Đến như vậy mà đám người Do Thái  vẫn chưa sáng mắt thì làm sao mà sáng lòng cho nổi! Chỉ đến khi Sự Thật phơi bày, mới đấm ngực thốt lên: “Quả thật người này là Con Thiên Chúa” (Mt 27, 54). Lời tiên báo của Chúa đã thành hiện thực: Ngôi Đền Thánh Giê-su Ki-tô bị dân Do Thái phá huỷ tan tành, thì ngày thứ ba đã khôi phục hoàn toàn, tráng lệ hơn, sáng láng hơn: Chúa đã phục sinh vinh hiển.

Đối với Ki-tô hữu ngày nay thì sao? Tất cả những sự kiện và Lời dạy của Chúa đã được lịch sử chứng minh rất cụ thể và được trình thuật lại trong Kinh Thánh thật chi tiết, không còn cảnh như mấy người Do Thái ngơ ngác tự hỏi “xây một Đền thờ hoành tráng như thế mà chỉ trong 3 ngày thôi ư?” Tuy nhiên, có một điều mà nhiều người vẫn chưa  ý thức được, đó là ngôi Đền thờ do chính Đức Giê-su xây dựng là Giáo Hội cho đến nay, đã hơn 2000 năm trôi qua, tuy rằng rất nguy nga lộng lẫy, nhưng vẫn thực sự chưa được tẩy uế như mong muốn của Người đã xây dựng nên. Thật thế, những lầm lỗi khiếm khuyết của Giáo Hội xuyên qua lịch sử 20 thế kỷ, cũng không phải là it. Bởi vậy ngày 12/3/2000, ĐGH Gioan-Phaolô II đã chính thức thanh tẩy Giáo Hội vì “các tội đã phạm trong khi phục vụ chân lý, các tội đã làm tổn thương đến sự hiệp nhất Ki-tô giáo, các tội chống lại dân tộc Israel, các tội chống lại tình yêu, hòa bình và kính trọng đối với các nền văn hóa và các tôn giáo, các tội chống lại phẩm giá của người phụ nữ và sự hiệp nhất của loài người, và các tội phạm đến các quyền cơ bản của con người” (theo “VietCatholic –19/3/2000”). Không những chỉ là dịp này, mà trong suốt triều đại, ĐGH Gioan-Phaolô II đã đề ra phương châm và cùng với Giáo Hội thực hiện một cách cụ thể và hữu hiệu: “canh tân và sám hối”.

“Lầm lỗi là bản tính của con người”, chuyện đó không có gì đáng trách, nhưng nó sẽ thật sự đáng trách phạt nếu người lầm lỗi không nhìn ra được mà ăn năn hối cải để xin ơn tha thứ như Chân Phước Gioan-Phaolô II đã làm. Ngoài ngôi đền thờ chung là Giáo Hội, mỗi Ki-tô hữu còn là ngôi Đền thờ của Chúa Thánh Thần. Muốn thờ phượng Thiên Chúa trong Thần Khí và sự thật, thì xuất phát điểm phải là Đền thờ Thánh Linh nơi cung lòng mỗi người phải luôn được thanh tẩy hàng ngày hàng giờ. Khi nhắc đến công việc tẩy uế ngôi Đền thờ Thánh Linh trong cung lòng mỗi Ki-tô hữu, có người thì cho rằng “Chuỵên nhỏ! Chỉ cần đến toà hoà giải là mọi chuyện xong xuôi hết!”; nhưng cũng không ít người thì cho rằng khi “bàn tay đã chót nhúng chàm” khó lòng tẩy sạch, thì chi bằng nhúng chàm luôn cả thân mình cho yên chuyện. Cả 2 thái độ cực đoan ấy (một bên thì lạc quan tếu, còn một bên thì bi quan thái quá) đều không thể chấp nhận. Anh đến toà hoà giải là để xin ơn tha thứ, Chúa luôn sẵn sàng “cho” nhưng anh có biết dọn dẹp cung lòng và mở rộng cửa đón “nhận” hay không. Đến toà hoà giải lấy lệ và theo luật, mà cửa lòng cứ khép kín, cung lòng không tẩy uế, thì cũng chẳng khác gì xua đuổi hơn là đón tiếp, liệu Chúa có vào cung lòng anh được không? Còn anh bi quan thái quá cũng không được. Anh nên nhớ ngôi đền thờ Chúa Thánh Thần nơi con người anh là do chính Thiên Chúa tạo dựng, không lý gì Người lại bỏ rơi anh, dù ngôi đền ấy có rác rưởi dơ dáy đến đâu chăng nữa. Điều quan trọng là bản thân anh  có thực lòng muốn và quyết chí thanh tẩy hay không mà thôi. Nếu lòng anh đã mở, chí anh đã quyết, Thiên Chúa sẽ ban Thần Khi và anh sẽ được sạch.

Nói tóm lại, ngôi Đền Thánh Linh cá vị mỗi Ki-tô hữu cũng như ngôi Đền Giáo Hội đều rất cần được thanh tẩy. Tất nhiên, với ngôi đền Giáo Hội thì không thể chỉ ỷ lại vào một mình Đức Gíao Hoàng, cũng như ngôi Đền Thánh Linh cá vị chỉ trông cậy vào vị Mục tử đại diện Chúa Ki-tô nơi toà hoà giải. Các ngài không thể làm gì được nếu không có sự đồng lòng, quyết tâm nơi mỗi Ki-tô hữu cũng như toàn thể Giáo Hội. Ôi ! Lạy Chúa ! Cúi xin Chúa hãy ban Thần Khi cho chúng con để chúng con vững lòng tin cậy, biết tôn trọng bảo vệ sự trong sáng ngôi đền thờ Giáo xứ, Giáo họ, Giáo phận và Giáo Hội toàn cầu, đặc biệt biết sửa sang dọn dẹp ngôi Đền thờ tâm hồn của chúng con để Chúa yêu thương ngự trị. Amen.

Bài 17. NHIỆT TÂM LO VIỆC NHÀ CHÚA
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ       

Người Mỹ có châm ngôn “sự thất bại nặng nề nhất của con người là đánh mất lòng nhiệt thành.” Với Thánh Phao-lô Tông đồ dân ngoại thì lòng nhiệt thành là điểm nổi bật nhất trong đời sống tâm linh và rao giảng Tin Mừng của ngài. Với Đức Giê-su Na-da-rét thì còn hơn thế nữa: vì nhiệt thành bảo vệ sự tinh tuyền của Đền Thánh Giê-ru-sa-lem là nhà của Thiên Chúa mà Đức Giê-su không ngại đương đầu với những kẻ thù ghét tìm cách ám hại Người (đọc bài Tin Mừng).

Mùa Chay là mùa hoán cải nên các chúng ta cũng cần nhìn lại tình yêu và lòng nhiệt thành của chúng ta đối với Đạo Chúa và đối với những gì có liên quan tới con người vì những gì thật sự có liên quan tới con người thì cũng liên quan tới Thiên Chúa.

II. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH

2.1 Trong bài đọc 1 (Xh  20,1-17): Lề Luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Mô-sê.

(1) Ngày ấy trên núi Xi-nai, Thiên Chúa phán tất cả những lời sau đây: (2) “Ta là Đức  Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ.  (3) Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta. (4) Ngươi không được tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao, cũng như dưới đất thấp, hoặc ở trong nước phía dưới mặt đất, để mà thờ. (5) Ngươi không được phủ phục trước những thứ đó mà phụng thờ: vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, là một vị thần ghen tương. Đối với những kẻ ghét Ta, Ta phạt con cháu đến ba bốn đời vì tội lỗi của cha ông. (6) Còn với những ai yêu mến Ta và giữ các mệnh lệnh của Ta, thì Ta trọn niềm nhân nghĩa đến ngàn đời. (7) Ngươi không được dùng danh Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, một cách bất xứng, vì Đức Chúa không dung tha kẻ dùng danh Người một cách bất xứng. (8) Ngươi hãy nhớ ngày sa-bát, mà coi đó là ngày thánh. (9) Trong sáu ngày, ngươi sẽ lao động và làm mọi công việc của ngươi. (10) Còn ngày thứ bảy là ngày sa-bát kính Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi. Ngày đó, ngươi không được làm công việc nào, cả ngươi cũng như con trai con gái, tôi tớ nam nữ, gia súc và ngoại kiều ở trong thành của ngươi. (11) Vì trong sáu ngày, Đức Chúa đã dựng nên trời đất, biển khơi, và muôn loài trong đó, nhưng Người đã nghỉ ngày thứ bảy. Bởi vậy, Đức Chúa đã chúc phúc cho ngày sa-bát và coi đó là ngày thánh. (12) Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, để được sống lâu trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi. (13) Ngươi không được giết người. (14) Ngươi không được ngoại tình. (15) Ngươi không được trộm cắp. (16) Ngươi không được làm chứng gian hại người. (17) Ngươi không được ham muốn nhà người ta, ngươi không được ham muốn vợ người ta, tôi tớ nam nữ, con bò con lừa, hay bất cứ vật gì của người ta.”

2.2 Trong bài đọc 2 (1 Cr 1,22-25): Chúng tôi rao giảng Đấng bị đóng đinh, điều mà người ta coi là ô nhục, nhưng đối với những ai được kêu gọi, thì đó là sự khôn ngoan của Thiên Chúa.

(22) Thưa anh em, trong khi người Do-thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy-lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, (23) thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Ki-tô bị đóng đinh, điều mà người Do-thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. (24) Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do-thái hay Hy-lạp, Đấng ấy chính là Đức Ki-tô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa. (25) Vì cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người.

(3) Trong bài Tin Mừng (Ga 2,13-25): Cứ phá hủy đền thờ này đi; nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại.

(13) Gần đến lễ Vượt Qua của người Do-thái, Đức Giê-su lên thành Giê-ru-sa-lem. (14) Người thấy trong Đền Thờ có những kẻ bán chiên, bò, bồ câu, và những người đang ngồi đổi tiền. (15) Người liền lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi Đền Thờ; còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật ngược bàn ghế của họ. (16) Người nói với những kẻ bán bồ câu: “đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán.” (17) Các môn đệ của Người nhớ lại lời đã chép trong Kinh Thánh: Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi đây sẽ phải thiệt thân.

(18) Người Do-thái hỏi Đức Giê-su: “Ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế?” (19) Đức Giê-su đáp: “Các ông cứ phá hủy Đền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại.” (20) Người Do-thái nói: “Đền Thờ này phải mất bốn mươi sáu năm mới xây xong, thế mà nội trong ba ngày ông xây lại được sao?” (21) Nhưng Đền Thờ Đức Giê-su muốn nói ở đây là chính thân thể Người. (22) Vậy, khi Người từ cõi chết trỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Người đã nói  điều đó, họ tin và Kinh Thánh và lời Đức Giê-su đã nói.

(23) Trong lúc Đức Giê-su ở Giê-ru-sa-lem vào dịp lễ Vượt Qua, có nhiều kẻ tin vào danh Người bởi đã chứng kiến các dấu lạ Người làm. (24) Nhưng chính Đức Giê-su không tin họ, vì Người biết họ hết thảy, (25) và không cần ai làm chứng về con người. Quả thật, chính Người biết có gì trong lòng con người.

III. KHÁM PHÁ CHÂN DUNG & SỨ ĐIỆP CỦA THIÊN CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH

3.1 Chân dung của Thiên Chúa:

(1°) Nếu chúng ta chỉ đọc cách hời hợt bài đọc 1 (Xh 20,1-17), chúng ta sẽ chỉ thấy mười giới răn khô khẳng khó nuốt; Còn nếu chúng ta đọc nó với cả tấm lòng, chúng ta sẽ khám phá ra tấm lòng đầy tình thương của Thiên Chúa. Thật vậy nền tảng và động lực của mười điều răn là Giao Ước. Nguyên do của Giao Ước là Tình Thương của Thiên Chúa. Vì yêu thương dân Ít-ra-en và nhân loại, nên Thiên Chúa muốn cho họ được hạnh phúc. Để giúp dân Ít-ra-en và mọi người tìm được hạnh phúc, Thiên Chúa ban mười điều răn như những nẻo đường, những phương thế thích hợp. Chúng ta thấy Thiên Chúa hết lòng với Ít-ra-en và mong Ít-ra-en toàn tâm toàn ý với Thiên Chúa. Tình Yêu chỉ được đáp lại bằng Tình Yêu! Tấm lòng cần được đón nhận và hồi đáp bằng tấm lòng!

(2°) Thánh Phao-lô Tông đồ, trong bài đọc 2 (1 Cr 1,22-25), cho thấy ngài sốt sáng nhiệt thành như thế nào trong việc rao giảng Chúa Ki-tô bị đóng đinh thập giá. Đó là điều mà con người – dù văn minh và khôn ngoan như người Hy-lạp hay đạo đức thánh thiện (được chọn là dân riêng, được các ngôn sứ dạy dỗ qua các thời đại) như người Do-thái – chẳng sao hiểu nổi, bởi vì câu chuyện thập giá là câu chuyện tình của Thiên Chúa toàn trí, toàn năng và chí ái. Deus Caritas est! Thiên Chúa là Tình Yêu! Người phàm làm sao hiểu được Thiên Chúa, hiểu được Tình Yêu của Người!

(3°) Thánh Gio-an, trong bài Tin Mừng (Ga 2, 13-25), tường thuật lại một sự kiện nổi bật trước những ngày cuối cùng của Chúa Giê-su ở trần thế: tẩy uế Đền Thờ. Sự việc này chẳng khác gì “đổ dầu vào lửa” trong bối cảnh có nhiều người Do-thái đang tìm cách loại trừ Chúa Giê-su. Phải nhìn nhận rằng đây là lần đầu tiên trong Phúc âm chúng ta thấy Chúa Giê-su nổi giận, trước cảnh “trái tai gai mắt” đang diễn ra trong khu vực xung quanh Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Thánh Gio-an miêu tả Chúa Giê-su như một ngôn sứ đang bốc lửa xông vào cuộc chiến để bảo vệ quyền lợi của Thiên Chúa và sự tinh tuyền của nơi thờ thờ Người. Lửa bốc trong lòng, lửa tràn ra lời nói và hành động của Chúa Giê-su! Vì nhiệt tâm với Nhà Chúa (Cha) mà Chúa Giê-su sẽ bị bắt, bị đánh đập tàn bạo, bị kết án dã man và bị giết chết tàn bạo trên thập giá. Nhưng ngọn lửa Tình Yêu ấy đã biến Người thành Của Lễ Toàn Thiêu đẹp lòng Thiên Chúa Cha và đem lại Ơn Cứu Rỗi cho muôn người.

3.2 Sứ điệp của Lời Chúa:

Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay là tấm lòng, là tình yêu cháy bỏng của Thiên Chúa, nhất là của Thiên Chúa Ngôi Lời nhập thể đối với Thiên Chúa Cha và đối với loài người.

Vậy chúng ta hãy tin và đón nhận tình yêu ấy cũng như hãy để cho tình yêu ấy đốt cháy chúng ta.

Nói cách khác hãy đáp lại tình yêu ấy bằng một tình yêu cháy bỏng!

IV. SỐNG VỚI CHÚA VÀ THỰC THI SỨ ĐIỆP CỦA LỜI CHÚA HÔM NAY

4.1 Sống với Thiên Chúa là Đấng đã chọn ký kết giao ước Xi-nai và ban mười giới răn cho dân Ít-ra-en để họ sống theo đường lối của Người. Người cũng là Đấng Thiên Chúa đã sai Con Một là Đức Giê-su Ki-tô xuống trần gian để tỏ lòng yêu thương con người và cứu chuộc con người bằng cái chết trên cây gỗ.

4.2 Thực thi sứ điệp Lời Chúa hôm nay là chúng ta là nuôi dưỡng một tâm hồn sốt mến, một lòng nhiệt thành, một tình yêu cháy bỏng đối với Thiên Chúa là Tình Yêu và với công cuộc cứu độ của Người.

Kiểm chứng:

* Tâm hồn tôi có “rạo rực” mỗi khi nghĩ/nghe/nói về Chúa không?

* Tâm tư tôi có “thao thức” trước nỗi thống khổ của con người, nhất là của những người thấp cổ bé miệng, bị khinh khi miệt thị và loại trừ không?

* Lương tâm tôi có “day dứt” trước cảnh đói nghèo, bất công, tham nhũng, quan liêu và trước các tệ nạn xã hội không?

* Chọn lựa của tôi có là “dũng cảm” bênh vực công lý và lẽ phải, – bằng lời nói và việc làm – dù bị thiệt thòi cách này cách khác, hay là “im lặng đồng lõa và thỏa hiệp” để được yên thân? yên chỗ?

V. CẦU NGUYỆN CHO HỘI THÁNH VÀ THẾ GIỚI

5.1. «Còn với những ai yêu mến Ta và giữ các mệnh lệnh của Ta, thì Ta trọn niềm nhân nghĩa đến ngàn đời». Chúng ta hãy cầu xin Thiên Chúa hãy vì giao ước Người đã ký kết với loài người mà thương yêu tha thứ cho loài người, nhất là cho những người thành tâm thiện chí, sống theo giới răn của Chúa hay lương tâm của mình.

 5.2. «Vì nhiệt tâm lo việc Nhà Chúa, mà tôi sẽ phải thiệt thân». Chúng ta hãy cầu nguyện cho các Ki-tô hữu, nhất là cho Đức Thánh Cha Bê-nê-đi-tô XVI, cho các Hồng Y, Giám Mục, Linh Mục, Phó Tế và Tu Sĩ Nam Nữ, để mọi thành phần Dân Chúa, sống hết lòng hết sức với Đạo Chúa và đồng loại là anh chị em của mình.

 5.3. «Thưa anh em, trong khi người Do-thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy-lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Ki-tô bị đóng đinh, điều mà người Do-thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ». Chúng ta hãy cầu nguyện cho mọi người thuộc giáo xứ chúng ta, nhất là cho những người tham dự Thánh Lễ này, càng ngày càng thấu hiểu cung cách hành động của Thiên Chúa mà yêu mến và ngưỡng mộ.

 5.4. «Người nói với những kẻ bán bồ câu: «đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán». Chúng ta hãy cầu nguyện cho những người phục vụ các cơ sở tôn giáo và các lễ nghi phụng tự, để họ gìn giữ sự tinh tuyền thánh thiện của các nơi và các việc ấy.

Share This Post