Chú giải và chia sẻ Tin mừng Chúa Nhật Lễ Thánh Gia – năm C

Các bài chú giải và chia sẻ Tin Mừng
Chúa Nhật Lễ Thánh Gia – năm C

Lời Chúa: 1 Sm 1,20-22.24-28; 1 Ga 3,1-2.21-24; Lc 2,41-52
************

MỤC LỤC

CÁC BÀI CHÚ GIẢI

1. Chú giải của Lm PX Vũ Phan Long, ofm: Đức Giêsu tại Đền Thờ
2. Chú giải và gợi ý suy niệm của Lm Inhaxiô Hồ Thông

CÁC BÀI CHIA SẺ

1. Gia đình là Hội Thánh tại gia (Giêrônimô Nguyễn Văn Nội)
2. Người đi xuống cùng Cha Mẹ và hằng vâng phục các Ngài (Fx Đỗ Công Minh)
3. Gia Đình Thánh (JM. Lam Thy ĐVD.)
4. Thánh Gia, mẫu gương gia đình hạnh phúc (Lm. Đan Vinh)
5. Chiếc nôi Hạnh phúc (Trầm Thiên Thu)
6. Con đường hạnh phúc (ĐTGM. Ngô Quang Kiệt)
7. Gia đình mẫu mực cho mọi gia đình (Lm. Ignatiô Trần Ngà)
8. Những thánh gia Nagiarét thời đại mới (Lm. Ignatiô Trần Ngà)
9. Thánh gia, gương sáng của tin yêu (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)
10. Bí Quyết Gia Đình Hạnh Phúc (AM Trần Bình An GC)
11. Vâng phục Các Ngài (P. Trần Đình Phan Tiến)
12. Mẫu gương sáng ngời (Lm Giuse Đinh lập Liễm)
13. Lễ Thánh Gia (Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái)
14. Lễ Thánh Gia Thất (Radio Veritas Asia)
15. Gia đình là mái ấm tình thương (Lm Giuse Nguyễn Hữu An)

16. Trân trọng mái ấm gia đình ( Lm.Jos Tạ Duy Tuyền)

17. Bí quyết giữ tình gia thất (Lm Phạm Quốc Hưng)

A. BẢN VĂN (Lc 2,41-52):

41 Hằng năm, cha mẹ Đức Giê-su trẩy hội đền Giê-ru-sa-lem mừng lễ Vượt Qua. 42 Khi Người được mười hai tuổi, cả gia đình cùng lên đền, như người ta thường làm trong ngày lễ. 43 Xong kỳ lễ, hai ông bà trở về, còn cậu bé Giê-su thì ở lại Giê-ru-sa-lem, mà cha mẹ chẳng hay biết. 44 Ông bà cứ tưởng là cậu về chung với đoàn lữ hành, nên sau một ngày đường, mới đi tìm kiếm giữa đám bà con và người quen thuộc. 45 Không thấy con đâu, hai ông bà trở lại Giê-ru-sa-lem mà tìm. 46 Sau ba ngày, hai ông bà mới tìm thấy con trong Đền Thờ, đang ngồi giữa các thầy dạy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi. 47 Ai nghe cậu nói cũng ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đối đáp của cậu. 48 Khi thấy con, hai ông bà sửng sốt, và mẹ Người nói với Người: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!” 49 Người đáp: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” 50 Nhưng ông bà không hiểu lời Người vừa nói.

51 Sau đó, Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Na-da-rét và hằng vâng phục các ngài. Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. 52 Còn Đức Giê-su ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta.

[về Mục Lục]

B. CÁC BÀI CHÚ GIẢI

Bài 1. Chú giải của Lm PX Vũ Phan Long, ofm: Đức Giêsu tại đền thờ

1- Ngữ cảnh

Đặt vào trong cấu trúc tổng quát của Tin Mừng về thời thơ ấu, truyện Tìm được trẻ Giêsu trong Đền Thờ bổ sung cho những truyện song song trước đây (chào đời, cắt bì, tỏ mình của Gioan và Đức Giêsu). Bản văn này có vẻ giống truyện Đức Maria đi thăm bà Êlisabét (Lc 1,39-56). Tuy nhiên, trong khi truyện Thăm viếng được liên kết chặt chẽ với những truyện loan báo các cuộc chào đời (1,5-25; 1,26-38), truyện Tìm lại Đức Giêsu trong Đền Thờ chỉ được nối kết khá lỏng lẻo. Thật ra, truyện này là một đơn vị độc lập.

Cho đến nay tác giả Lc chỉ nói đến Đức Giêsu với những động từ ở thái bị động: cuộc chào đời của Người được loan báo; Người được đặt nằm trong một máng cỏ; được đưa lên Đền Thờ; được hai cụ già bồng ẵm trên tay; được công bố và ca ngợi vì ý nghĩa Người đang mang nơi mình. Đức Giêsu không hành động, Người chỉ là một em bé yếu đuối, được người khác hành động giúp cho. Bây giờ lần đầu tiên Người tỏ ra như là nhân vật chính, và tác giả ghi nhận những lời đầu tiên của Người. Lối xử sự của Người gây ra một hoàn cảnh đau đớn. Câu nói đầu tiên của Người bắt đầu với một từ “tại sao?”, như để trả lời cho một từ “tại sao?” của mẹ Người. Trong những lời đầu tiên của Người, Đức Giêsu đã gọi Thiên Chúa là “Cha Người” và khẳng định rằng đối với Người, liên hệ với Cha quan trọng hơn tất cả mọi sự khác.

Ta cũng có thể tự hỏi vì sao tác giả Lc đã ghi lại sự cố này. Dường như có ba lý do:

a) Lý do 1 (chủ đề): Sự cố xảy ra tại Đền Thờ (2,46). Thế mà chúng ta biết rằng tác giả Lc quan tâm đến chủ đề Đền Thờ. Tin Mừng đã bắt đầu với việc thiên thần Gabriel hiện ra với Dacaria trong Đền Thờ. Rồi đến việc cha mẹ dâng Đức Giêsu trong Đền Thờ. Bằng truyện 2,41-52, tác giả Lc có thể kết thúc phân đoạn đầu bằng một lời nhắc đến Đền Thờ, cũng như sau này khi kết thúc Tin Mừng (24,53). Lời Đức Giêsu nói: “Con có bổn phận ở nhà của Cha con” , nghĩa là ở trong Đền Thờ, đưa lại cho sự hiện diện của Đức Giêsu trong Đền Thờ chiều kích biểu tượng, là cuộc trở về nhà Cha Người.

b) Lý do 2 (văn thể): Tác giả Lc cũng khác với các Tin Mừng khác ở điểm ngài muốn giới thiệu cho chúng ta một bản “tiểu sử” của Đức Giêsu đúng với các quy tắc của thể loại tiểu sử (haggada Do Thái và khoa tiểu sử Hy Lạp). Thể loại này lưu tâm đến thời niên thiếu của nhân vật. Do đó, Lc đã lấp đầy khoảng trống giữa các bài tường thuật về chào đời và các bài về đời sống công khai bằng truyện này. Nội dung của truyện được giới thiệu bằng hai câu đóng khung bài tường thuật (2,40 và 2,52): vấn đề là sự tăng trưởng của Đức Giêsu về sự khôn ngoan (sophia). Vì ngữ cảnh của Tin Mừng về Thời thơ ấu là sự tăng trưởng về khôn ngoan, ta hiểu vì sao Lc đã chọn một bản văn minh họa sự khôn ngoan của Đức Giêsu.

c) Lý do 3 (tín lý): Rất sớm trong Kitô giáo đã xuất hiện một luồng tư tưởng cho rằng Đức Giêsu là một người như biết bao người khác, chào đời từ cuộc hôn nhân của Maria và Giuse, nhưng được Thánh Thần ngự xuống trên mình, vào dịp nhận phép rửa, để trở thành vị ngôn sứ ưu việt (quan niệm của một số Kitô hữu gốc Do Thái, phái Êbiônít, một số người theo thuyết Ngộ đạo). Có thể quan niệm này xuất phát từ TM Mc (khởi đầu với phép rửa). Do đó, Lc tìm cách cho thấy rằng Đức Giêsu ý thức Người là Con Thiên Chúa ngay khi còn thơ ấu.

2- Bố cục

Bản văn có thể chia thành sáu phần:

1) Khung cảnh (2,41-42);

2) Bị lạc mất Đức Giêsu (2,43-45);

3) Tìm ra Đức Giêsu (2,46-48);

4) Câu nói của Đức Giêsu (2,49);

5) Kết luận nguyên thủy (2,50);

6) Kết luận thứ hai của Lc (2,51-52).

3- Vài điểm chú giải

– Lễ Vượt Qua (41): Lễ Vượt Qua được cử hành vào lúc mặt trời lặn đánh dấu ngày 15 Nisan, là tháng đầu năm theo lịch Babylon/Do Thái (tháng Ba/Tư; tên cũ là tháng Aviv: x. Đnl 16,1). Dịp này người ta giết chiên Vượt Qua vào chiều ngày 14 Nisan, nướng lên và ăn trong gia đình vào lúc mặt trời lặn (Lv 23,6). Tất cả những gì có men đều phải loại ra khỏi nhà trước khi giết chiên (Đnl 16,4). Không những hôm ấy, người ta phải ăn với bánh không men (Xh 12,8), mà con tiếp tục ăn như thế bảy ngày sau đó (Xh 12,17-20; 23,15; 34,18). Thời gian bảy ngày này được gọi kiểu chuyên môn là “Lễ Bánh Không Men”. Tuy nhiên, với thời gian, “Lễ Vượt Qua” trở thành tên gọi cho cả bảy hoặc tám ngày (Đnl 16,1-4; Ed 45,21-25). Dường như trước khi có Israel, lễ Vượt Qua là một lễ của dân du mục (Xh 5,1; 10,9), còn lễ Bánh Không Men là lễ của dân định cư nguồn gốc nông dân (Xh 23,15-16).

– mười hai tuổi (42): Theo Xh 23,17 và Đnl 16,16, mọi người nam ở Paléttina, không phân biệt tuổi tác, phải ra trình diện trước nhan Đức Chúa vào ba đại lễ trong năm: lễ Bánh Không Men (tức lễ Vượt Qua), lễ Mùa Gặt và lễ Lều. Nhưng truyền thống Do Thái giáo chỉ buộc một trẻ em Do Thái tham dự các cử hành phụng tự ở hội đường khi được mười ba tuổi (em được gọi là bar miswâh, “con của điều răn”; nghi thức đưa em vào tuổi giữ luật cũng được gọi như thế). Tuy thế, dường như không có liên hệ gì rõ rệt giữa nghi thức “gia nhập” hội đường và việc hành hương. Nếu tác giả cố tình ghi lại chi tiết 12 tuổi thì hẳn không chỉ để chứng tỏ rằng Thánh Gia đạo đức, tuân giữ quá Luật. Có lẽ nên nghĩ đến một ý hướng biểu tượng. Con số 12 có nghĩa là “toàn thể”, hoàn tất”. Ghi nhận rằng khi ấy Đức Giêsu được 12 tuồi chính là quy hướng tâm trí về lúc kết thúc hoạt động của Người nơi trần thế, về cái Ngày mà Người sẽ trở về với Chúa Cha. Nơi Lc, ý tưởng về “hoàn tất” này luôn được kết nối với Thương Khó – Phục Sinh (x. 12,50; 18,31; 22,37; 9,31; 22,16; 24,44…) là biến cố được coi như điểm tới và sự hoàn tất sứ mạng trần thế của Đức Giêsu (9,51). Và chính là lời loan báo ẩn giấu này về cuộc Phục Sinh là ý hướng đầu tiên của bài tường thuật.

– Xong kỳ lễ (43): dịch sát là “và khi các ngày ấy đã mãn” (NTT). Như vậy, Giuse và Maria đã ở lại Giêrusalem từ bảy đến tám ngày mừng lễ Vượt Qua và Bánh Không Men (x. Lv 23,5-6).

– Đang ngồi giữa các bậc thầy (46): Kathezomai có thể có nghĩa là “ngồi” hay là “ngự”. Các thiếu niên đến muốn học, các thầy cũng không ngăn cản. Do đó, có thể hiểu chi tiết “ngồi” (kathezomenon) này cho biết Đức Giêsu muốn học hỏi với các thầy. Tuy nhiên, hẳn là tác giả Lc không chỉ ghi lại một chi tiết chứng tỏ Đức Giêsu hiếu học. “Ngồi” cũng là cung cách của một vị thầy: như thế, động từ này hẳn là báo trước việc Đức Giêsu giảng dạy như một vị thầy (x. 5,3; 19,47–21,38). Ở đây Đức Giêsu đã chứng tỏ một trí thông minh khiến các vị thầy phải kinh ngạc. Điều này sẽ thường xuyên xảy ra vào thời gian Đức Giêsu hoạt động công khai. Nói chung, Đức Giêsu xuất hiện trong trong các TM như nhà chú giải (x. 4,32). Ở đây, Đức Giêsu tỏ ra một khả năng hiểu Kinh Thánh, một khả năng được chính các bậc thông luật nhìn nhận. Như vậy, Người là một vị thầy đáng tin cậy.

Đàng khác, theo Ml 3,3, vào Ngày của Đức Chúa, Đức Chúa sẽ vào trong Đền Thờ của Ngài và “ngồi/ngự [= hiển trị]” (kathieitai, LXX) trong tư cách thẩm phán. Ta có thể hướng tới cả nghĩa này, bởi vì toàn khối Lc 1–2 đã cho thấy bằng những nét chấm phá kín đáo tính siêu việt mà cuộc sống ẩn dật của trẻ Giêsu mạc khải ra. Sự kết nối kathezomai với “giữa các bậc thầy” khiến phải nghĩ đến nghĩa mạnh là “ngự [= hiển trị]” như trong Ml 3,3; với lại bản văn này cũng như bài tường thuật trước có gợi đến lời sấm này. Như thế, về phương diện thể lý, cho dù Đức Giêsu có ngồi bên chân các thầy thông luật, như bất cứ em bé nào, Người vẫn là tác nhân chính mà toàn cảnh phải xoay quanh. Một cách mầu nhiệm, Người đã là Con Thiên Chúa “ngự trong Đền Thờ Người”, theo lời sấm Ml 3,3.

– kinh ngạc về trí thông minh và những lời đối đáp của cậu (47): Đây là một câu được viết theo “phép thế đôi” (hendiadys), có nghĩa là: “các lời đối đáp thông minh của cậu”.

– con có bổn phận (49): Dịch sát là “cần thiết (dei) là con ở nhà của Cha con”. Từ dei không chỉ diễn tả một sự cần thiết tổng quát, nhưng là điều nằm trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa có liên can đến Đức Giêsu. Từ ngữ này được dùng 7 lần trong TM Lc, luôn được kết nối với cuộc Thương Khó như cách hoàn tất các sấm ngôn (2,49; 13,33; 17,25; 22,37; 24,7; 24,26; 24,44).

– ở nhà của Cha con (49): Câu en tois tou patros mou cũng có thể dịch là “(can dự đến) các công việc của Cha con” hoặc “ở giữa những người thuộc về Cha con”. Dịch là “ở nhà của Cha con” thì được hỗ trợ bởi các bản văn như St 41,51; Et 7,9; G 18,19 và một số bản văn ngoài Kinh Thánh. Trên môi miệng của một em bé, ý nghĩa cụ thể này dường như hợp lý hơn; đàng khác, Đền Thờ Giêrusalem được gián tiếp coi là nhà Thiên Chúa ở Lc 19,46. Với câu này, cũng rõ ràng là Đức Giêsu coi Thiên Chúa là Cha trên trời của Người.

– Nhưng ông bà không hiểu (50): Hơn ai hết, hai ông bà biết nguồn gốc siêu phàm của con mình. Nhưng ông bà không hiểu ngay được là Người nói về Cha Người trên trời theo nghĩa xác thực nhất. Nhất là ông bà không thể đoán ra được những gì nằm dưới lời nói của con trẻ: một tương lai mà ông bà hoàn toàn không thể nắm bắt được. Nếu không giải thích như thế, chúng ta sẽ khiến Lc mâu thuẫn, bởi lẽ Đức Maria đã biết tư cách Con Thiên Chúa của Đức Giêsu vào ngày Truyền Tin. Trong Lc, đề tài “không hiểu” (9,45; 18,34 và 24,25) luôn liên hệ đến các lời Đức Giêsu nói cách huyền bí về cuộc Thương Khó của Người. Vậy sự không hiểu của Maria ở đây không do lỗi Mẹ, nhưng do chỗ lời Đức Kitô loan báo về Thương Khó phải bị che giấu với những người được loan báo. Họ chỉ hiểu sau khi các lời này được ứng nghiệm.

4- Ý nghĩa của bản văn

Bằng câu truyện dâng trẻ Giêsu vào Đền Thờ, tác giả Lc cho thấy Đức Chúa đã trở lại theo các lời sấm Cựu Ước mà chiếm lấy Đền Thờ của Người. Bằng câu truyện hôm nay, tác giả cho thấy Người “ngự trị” trong Đền Thờ. Tuy nhiên các ý nghĩa này chìm dưới những truyện rất tầm thường trong đời thường.

Đức Giêsu ở lại Giêrusalem mà cha mẹ Người không hay biết. Người ở lại Đền Thờ, nghe các cuộc đối thoại của các vị thầy, đặt câu hỏi và làm người ta kinh ngạc vì sự khôn ngoan trong các câu trả lời của Người. Ở tuổi 12, khi “ngồi giữa các bậc thầy”, Người đã tự loan báo mình như là người sau này sẽ giảng dạy với uy quyền trong toàn xứ sở và ngay trong Đền Thờ (19,47–21,38). Nhưng Người cũng đang sống tư cách là “Đức Chúa hiển ngự” trong Đền Thánh của Người.

Trong khi đó, Maria và Giuse đang trên đường về Nadarét. Sau một ngày đàng, các ngài mới nhận ra là Đức Giêsu không có ở đây, các ngài rất lo lắng. Các ngài phải mất “ba ngày” mới tìm ra Đức Giêsu: ba ngày là khoảng thời gian đi từ cái chết đến cuộc sống lại của Đức Giêsu (“vào ngày thứ ba”); chính Đức Giêsu diễn tả điều đó khi nói là “cần thiết phải”, một công thức được Lc gắn liền với cuộc Thương Khó như sự hoàn tất các sấm ngôn. Khi tìm ra Người, Maria đã bộc phát nói lên một câu hỏi mà cũng là một lời than thở: “Này con, tại sao con làm thế? Này cha con và mẹ phải đau khổ tìm con!”. Đây là một phản ứng bộc phát của một người mẹ đang phải đau khổ và cho biết là bà đã phải đau khổ đến độ nào. Maria ngỏ lời với Đức Giêsu trong tư cách là con. Bà chưa bao giờ thấy và chờ đợi là con có một hành vi như thế. Đức Giêsu, trong tư cách Con Thiên Chúa, hoàn toàn độc lập với mọi người. Sự độc lập này được diễn tả qua thế tương phản giữa từ ngữ “cha con” trên môi miệng Maria và “Cha Con” trên môi miệng Đức Giêsu.

Câu trả lời của Đức Giêsu cũng gây ngạc nhiên như lối xử sự của Người vậy: “Thì tại sao tìm con? Lại còn không biết là con phải ở nơi nhà Cha con sao?” (NTT). Đức Giêsu đã gọi Thiên Chúa là “Cha Người”. Cho đến nay, trong Tin Mừng, không có một ai gọi Thiên Chúa như thế cả. Maria đã ngỏ lời với Thiên Chúa như là “Đức Chúa và Thiên Chúa” (1,46t); Dacaria gọi Thiên Chúa là “Đức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en” (1,68); Simêôn thưa với Thiên Chúa là “Đức Chúa” (2,29). Cả sau này Đức Giêsu cũng sẽ gọi Thiên Chúa là “Cha” (10,21; 22,42) và sẽ dạy các môn đệ thưa với Thiên Chúa như thưa với một người “Cha”. Nhưng thiên thần đã loan báo về Đức Giêsu như là Con Đấng Tối Cao” (1,32), Con Thiên Chúa (1,35). Người ở trong một quan hệ hoàn toàn đặc biệt với Thiên Chúa: Thiên Chúa là Cha Người và Người là Con Thiên Chúa. Hành động đầu tiên của Người mà tác giả ghi nhận là một hành động nhằm diễn tả bí mật thâm sâu đó trong cuộc đời Người. Người biết Người là Con Thiên Chúa và nhất là Người biết rằng Người được liên kết với ý muốn của Thiên Chúa. Trong tư cách là Con Thiên Chúa và trong quan hệ hết sức chặt chẽ với Thiên Chúa, được biểu lộ ra nơi sự vâng lời của Người với ý muốn của Chúa Cha, Người sẽ đi theo đường lối của Chúa Cha.

Tác giả ghi rằng Maria và Giuse không hiểu các lời ấy. Những lời Đức Giêsu nói đây là một câu nói huyền bí, chẳng giải thích gì cả, cũng chẳng phải để biện minh cho cách xử sự của Người. Những lời ấy chỉ mời Maria và Giuse vượt lên trên bình diện của những lo toan đời thường để gặp bình diện của Thiên Chúa, là nơi mà Người vẫn ở. Ngay cả hôm nay nữa cũng không dễ gì mà hiểu các lời ấy, không những trong các từ ngữ mà cả trong ý nghĩa. Điều này thúc đẩy chúng ta đặt ra các câu hỏi: Phải chăng Maria và Giuse không được đi tìm Người? Làm thế nào các ngài có thể hiểu được rằng Thiên Chúa muốn rằng Người phải ở lại trong Đền Thờ? Phải chăng Thiên Chúa lại không muốn điều này được thông tri cho các ngài? Phải chăng ý muốn của Thiên Chúa là cứ bỏ mặc các ngài ba ngày trong tình trạng lưỡng lự và để các ngài phải đi lòng vòng mà tìm Đức Giêsu? Không dễ gì mà trả lời các câu hỏi như thế. Ý nghĩa của biến cố này phải được tìm ra trong chiều hướng này: Maria và Giuse phải trải nghiệm một cách hết sức sâu xa, đau đớn và không thể quên được rằng Đức Giêsu quy phục một quyền bính cao hơn. Tương quan đặc biệt của Đức Giêsu với Thiên Chúa đưa Đức Giêsu đến một lối xử sự có vẻ cứng cỏi không sao hiểu được và có một sự chia cắt đau đớn, do chỗ nó không tương ứng với các chờ đợi của cha mẹ Người. Đức Giêsu sẽ đi theo con đường của Người, con đường đã được Chúa Cha vạch ra từ trước rồi. Kể cả Maria cũng phải chấp nhận con đường ấy như thế. Kể cả bà cũng không được mong là biết ngay mọi sự cách rõ ràng và được khai mở ngay vào mọi sự.

Bà phải làm gì khi bà không hiểu? “Mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (2,51). Ghi nhớ điều ấy và chờ đợi, tôn trọng điều ấy và kiên nhẫn, thái độ này là một hình thái đức tin, một hình thái tin tưởng vào Đức Giêsu và vào Thiên Chúa.

+ Kết luận

Sự cố này, được tác giả Lc kể trong khung cảnh những bước khởi đầu của Đức Giêsu là sự cố duy nhất qua đó ta không ghi nhận được các nét vui tươi hân hoan. Con trẻ, đã được đón tiếp với biết bao niềm vui và lời ca ngợi Thiên Chúa, sẽ đi theo con đường vâng phục đối với Chúa Cha. Niềm vui và lời ca ngợi vẫn có giá trị và ngày càng nhận được nền tảng vững chắc và lý hữu vững vàng hơn. Ở đây ta thấy Đấng Cứu thế, Đức Kitô, Đức Chúa, ơn cứu độ của Israel và của mọi dân tộc không là gì khác ngoài Con Thiên Chúa. Thiên Chúa đã chọn ở lại với chúng ta và cách tốt nhất để thực hiện điều này là sự hiện diện của Con của Người. Nơi Chúa Con, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Và không có lý do nào to lớn hơn để mà vui lên nữa. Nhưng ở đây ta cũng thấy rằng chúng ta không thể áp đặt cho Chúa Con nẻo đường Người phải theo, trái lại chúng ta phải chấp nhận con đường của Người, cho dù trong chúng ta phát sinh ra nhiều câu hỏi “tại sao”.

5- Gợi ý suy niệm

1. Ngay từ thuở niên thiếu, Đức Giêsu đã ý thức rằng Người sẽ phải trở về nhà Cha Người trên trời bằng một cái chết dữ dội, đã được Kinh Thánh tiên báo (Is 53; Tv 22; Tv 69…) và, vẫn theo Kinh Thánh (Hs 6,2; 2 V 20,5), người ta chỉ gặp lại Người (đang sống) vào ngày thứ ba. Truyện này cho thấy Người muốn cho Maria và Giuse sống cách biểu tượng mầu nhiệm Thương Khó – Phục Sinh, trước khi sống thực sự mầu nhiệm này. Thật ra mọi sự cố trong cuộc đời Đức Giêsu đều nói về mầu nhiệm trung tâm này. Chúng ta được mời gọi nhận biết rằng các biến cố thông thường của đời ta chỉ có ý nghĩa khi chúng giúp chúng ta sống mầu nhiệm Phục Sinh (Vượt Qua), nghĩa là đi từ cuộc sống này mà vào sự sống của chính Thiên Chúa.

2. Như Đức Maria đã hiểu, các cha mẹ hôm nay cũng cần phải hiểu: họ không bao giờ được chống lại ơn gọi của con cái họ, khi chúng đã nhận ra (ơn gọi linh mục, tu sĩ, hoặc ơn gọi lập gia đình). Muốn giữ con cái lại cho mình bằng mọi giá là một hình thái ích kỷ không tương hợp với tình yêu chân chính mà các cha mẹ phải có đối với con cái. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh lại: đi theo ơn gọi phải là sống một sự vâng phục đối với Đấng Cao Cả, chứ không phải là một sự đào thoát để tránh một quyền bính. Đức Giêsu vâng lời Chúa Cha, nhưng Người cũng vâng lời cha mẹ trần thế.

3. Maria và Giuse bị lạc Đức Giêsu, không do lỗi các ngài. Nhưng các ngài vẫn đi tìm vì không thể sống thiếu Đức Giêsu. Khi người ta cảm thấy mình khô khan, sầu khổ thiêng liêng, không do lỗi mình, sự ngờ vực, bóng tối hoàn toàn, thì phải xem có phải do lỗi mình không, hay là do Thiên Chúa muốn đào luyện chúng ta (x. Lc 24,28). Cứ đi tìm Người cho đến khi tìm ra Người.

4. Điều ta không hiểu, ta có thể phớt lờ đi hoặc tìm cách quên đi. Ta có thể tuyên bố rằng điều ấy chẳng có nghĩa gì và triệt để từ chối nó. Ngược lại, Đức Maria ghi giữ điều ấy và làm cho nó thành lực thúc đẩy bà kiên trì suy nghĩ (x. 2,19). Thật ra một điều gì đó có thể không nói cho tôi biết mọi sự vào lúc này. Tôi cũng chẳng có thể tự phụ cho rằng vào mọi lúc tôi hiểu tất cả những gì có một ý nghĩa. Mức độ hiểu biết giới hạn không phải là một lý do để loại bỏ hoặc xua trừ một điều gì đó.

[về Mục Lục]

Bài 2. Chú giải và gợi ý suy niệm của Lm Inhaxiô Hồ Thông

Lễ Thánh Gia nhắc nhở chúng ta những năm tháng thân mật và thầm lặng thời thơ ấu và niên thiếu của Đức Giê-su, dưới mái ấm gia đình của thánh Giu-se và Mẹ Ma-ri-a, mẫu gương của tất cả mọi gia đình.

Hc 3: 3-7, 14-17a

Nhà hiền triết Do thái, ông Si-rác, khuyên con cái phải có lòng thảo kính cha mẹ, nhất là khi các ngài đã già yếu.

Cl 3: 12-21

Thánh Phao-lô mời gọi các tín hữu Cô-lô-sê thực hành trong cộng đoàn, nhất là trong gia đình các nhân đức như là lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại, yêu thương, đó là những mối dây liên kết tuyệt hảo.

Lc 2: 41-52

Tin Mừng Lu-ca tường thuật giai thoại Đức Giê-su lên mười hai tuổi ngồi giữa các tiến sĩ Luật, trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem.

BÀI ĐỌC I (Hc 3: 3-7, 14-17a)

Vào đầu thế kỷ thứ hai trước Công Nguyên, một nhà hiền triết Do thái, ông Si-rác, mở trường dạy học và ghi lại những thành quả của những kinh nghiệm và những suy tư của ông. Tác phẩm của ông được viết bằng tiếng Do thái và được cháu của ông dịch sang Hy ngữ vào năm 150 trước Công Nguyên.

Tác phẩm này là sách cẩm nang đạo đức thực hành của một người Ít-ra-en muốn trung thành với đức tin của cha ông mình, không để cho mình bị ảnh hưởng bởi nền văn hóa dân ngoại chung quanh, đặc biệt là sức lôi cuốn của sự khôn ngoan Hy lạp. Sách ông bàn đến nhiều chủ đề rất đa dạng, được tô điểm bởi những thành ngữ rất dể nhớ, và rất được Do thái giáo mến chuộng. Giáo Hội sử dụng sách này đến mức sách có biệt danh là “Giảng Viên”.

Tác giả cho thấy mình rất gắn bó với Lề Luật, theo ông, việc thực hành Lề Luật là nguồn mạch của sự khôn ngoan. Trong chương 3, ông Si-rác khai triển một trong những huấn lệnh của Thập Giới, liên quan đến bổn phận của con cái đối với cha mẹ: “Ngươi hãy thờ kính cha mẹ, để được sống lâu trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi” (Xh 20: 12; Đnl 5: 16).

1. Lòng hiếu thảo mang chiều kích phổ quát:

Bổn phận thảo kính cha mẹ thuộc vào những truyền thống rất lâu đời của các nền văn hóa, được các tôn giáo và triết học ca tụng. Những lời khuyến dụ của nhà hiền nhân Ít-ra-en rất gần với những bản văn cổ của các nền văn hóa lớn, như Trung Quốc, Ấn Độ và Hy-lạp. Ở Việt Nam, lòng thảo kính của con cái đối với cha mẹ được truyền tụng trong những thành ngữ cao dao, ví dụ như: “Công cha như núi Thái Sơn; nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha; cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”. Như vậy lòng thảo kính mang chiều kích phổ quát.

2. Lòng hiếu thảo mang chiều kích siêu việt:

Huấn lệnh của Thập Giới về lòng hiếu thảo không chỉ thuộc về trật tự tự nhiên, nhưng cũng là chương trình của Đấng Tạo Hóa. Đời sống gia đình ở Ít-ra-en không chỉ nhằm lưu truyền nòi giống của tổ phụ Áp-ra-ham, nhưng cũng truyền đạt từ thế hệ này đến thế hệ khác đức tin của cha ông vào một vị Thiên Chúa duy nhất, Đấng đã tỏ mình ra. Chính vì Thiên Chúa này “làm cho người cha được vẻ vang vì con cái, cho người mẹ thêm uy quyền đối với các con” (Hc 3: 2); chính Thiên Chúa ban những lời chúc phúc cho con cái có lòng thảo kính cha mẹ mình.

3. Những ân phúc của tấm lòng hiếu thảo:

“Ai tôn vinh cha sẽ được trường thọ”: Đây là lời chúc phúc truyền thống nhất, cuộc sống trường thọ được xem là quý giá nhất vào thời đó, thời mà những niềm hy vọng ở bên kia nấm mồ đã chưa được biết đến ở Ít-ra-en. Ngạc nhiên hơn, và thuộc trật tự khác, là lời hứa: “Ai thờ cha thì bù đắp lỗi lầm”; cũng như “Ai kính mẹ thì tích trữ kho báu” (kho báu chứa đựng ơn tha thứ của Thiên Chúa). Cách diễn tả này tương tự với câu 14: “Vì lòng hiếu nghĩa đối với cha sẽ không bị quên lãng, và sẽ đền bù tội lỗi cho con”.

Trong Do thái giáo của thời hậu lưu đày, người ta rất nhạy bén với khái niệm tội lỗi và rất bận tâm đến sự thanh sạch nội tâm. Ông Si-rác thuộc vào những thế hệ này, họ suy niệm giáo huấn của các ngôn sứ; vì thế, ông cũng đề cao việc thực hành các nhân đức hơn việc tế tự bên ngoài. Về phương diện này, ông còn đi xa hơn khi gán cho việc thực hành lòng hiếu thảo của Thập Giới một giá trị hy tế xá tội; tuy nhiên, chúng ta nhận ra một sự khác biệt: trong khi các ngôn sứ đặc biệt bận lòng đến ơn cứu độ tập thể, các nhà hiền nhân quan tâm hơn đến ơn cứu độ cá nhân. Sau cùng, chúng ta cũng nên ghi nhận rằng nhà hiền nhân cẩn thận viện dẫn những nghĩa vụ không chỉ đối với cha mà còn đối với mẹ nữa. Phải nói rằng đây là một trường hợp họa hiếm trong Cựu Ước, ở đó thường là chỉ mình người cha được nêu lên.

BÀI ĐỌC II (Cl 3: 12-21)

Như thư gởi các tín hữu Ê-phê-sô, thư gởi tín hữu Cô-lô-sê được thánh Phao-lô viết khi thánh nhân bị giam cầm giữa năm 61-63 sau Công Nguyên.

1. Bối cảnh:

Thành Phố Cô-lô-sê, được định vị ở Tiểu Á, cách thành phố Ê-phê-sô 200 cây số về hướng đông, đã thấy xuất hiện một cộng đoàn Ki-tô hữu, cộng đoàn này được một người bạn đồng hành và cũng là môn đệ của thánh Phao-lô thiết lập. Những giáo lý sai lạc, những suy luận về các quyền năng của các thiên thần, những lối sống khắc khổ, cũng như những khuynh hướng Do thái giáo, gây nguy hiểm cho niềm tin của cộng đoàn non trẻ này. Thánh Phao-lô đang bị cầm tù nên không thể đích thân đến tận nơi được, vì thế ngài gởi một bức thư cho các tín hữu Cô-lô-sê. Trong thư này, thánh nhân tập trung giáo huấn của ngài vào Đức Ki-tô và quy chiếu cuộc đời Ki-tô hữu vào điểm cốt yếu: sống kết hiệp với Đức Ki-tô, noi gương Đức Ki tô, thực hành đức ái và các nhân đức thường ngày.

Vào ngày lễ Thánh Gia hôm nay, đoạn trích thư của thánh Phao-lô gởi tín hữu Cô-lô-sê này mời gọi chúng ta suy gẫm về đời sống gia đình: “Hãy có lòng xót thương, nhân hậu, khiêm nhu, hiền từ và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau”.

2. Giáo Huấn:

Đức ái Ki-tô giáo là nguồn mạch của sự hiệp nhất và bình an trong cộng đoàn, huống chi trong cộng đoàn nhỏ bé của gia đình, ở đó tình yêu phải là “mối dây liên kết tuyệt hảo”. Theo thói quen của mình, thánh nhân mời gọi các tín hữu “để tỏ lòng biết ơn, anh em hãy đem cả tâm hồn mà hát dâng Thiên Chúa những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca, do Thần Khí linh hứng”.

Đoạn trích kết thúc với vài nguyên tắc đặc thù về những bổn phận giữa vợ và chồng, và giữa cha mẹ và con cái, mà thánh Phao-lô khai triển trong thư của ngài gởi cho các tín hữu Ê-phê-sô 5: 21-32. Chúng ta nên nhớ rằng lời khuyên “người làm vợ hãy phục tùng chồng” được đặt vào trong nền văn hóa thời đại đó, như nền văn hóa cổ truyền Việt Nam chúng ta: đức hạnh của người phụ nữ Việt Nam trước đây được quy định bởi “tam tòng”: “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”.

TIN MỪNG (Lc 2: 41-52)

Giai thoại mà thánh Lu-ca kể trong Tin Mừng hôm nay chiếu soi một luồng ánh sáng trên những năm tháng cuộc đời ẩn dật của Đức Giê-su, giữa việc cha mẹ dâng tiến Ngài trong Đền Thờ vào lúc Ngài được sáu tuần lễ và việc Ngài nhận phép rửa bởi Gioan Tẩy Giả vào lúc Ngài ba mươi tuổi.

1. Cách thức đào tạo tôn giáo ở Ít-ra-en:

Được đặt trở lại vào trong khung cảnh tôn giáo và văn hóa Do thái, dáng điệu Đức Giê-su ngồi giữa các tiến sĩ Luật, ở Giê-ru-sa-lem, khi Ngài lên mười hai tuổi, không có gì là lạ lùng cả. Tất cả những thiếu niên Ít-ra-en đến mười hai tuổi đều trở thành “con cái của Lề Luật”. Từ nay, các em được tham dự các cộng đoàn phụng vụ và được dự phần vào buổi cầu nguyện chung.

Việc đào tạo tôn giáo cho con cái cốt yếu là bổn phận của cha mẹ trong gia đình, và được bổ túc bởi việc dạy dỗ ở hội đường, vào ngày sa-bát. Thường thường các kinh sư mở trường dạy học và người ta có thể nghĩ rằng họ bận lòng đào tạo những “con cái của Lề Luật” tương lại. Ở Giê-ru-sa-lem, các tiến sĩ Luật hình thành nên một loại hội đường ở bên trong Đền Thờ; họ dạy trên các hành lang. Theo truyền thống dạy dỗ kinh sư, để đối thoại với người nghe, họ khuyến khích các học viên nêu lên những câu hỏi hay tự mình đặt ra những câu hỏi cho các học viên.

Ông Flavius Josephus, sử gia Do thái (35-95 AC) kể lại một kỷ niệm thời niên thiếu của ông, giúp soi sáng đặc biệt giai thoại của Lu-ca. Khi cậu Flavius Josephus đến tuổi “con cái của Lề Luật”, cậu theo đuổi một năm đào tạo tôn giáo. Các kinh sư đòi cậu đến giữa họ để đặt câu hỏi cho cậu và tranh luận với cậu. Thật ra, cậu Flavius Josephus thuộc một gia đình danh giá chốn kinh thành Giê-ru-sa-lem, còn Đức Giê-su chỉ là một cậu thiếu niên khiêm tốn làng Na-da-rét; tuy nhiên, sự kiện chứng thực rằng các tiến sĩ Luật Giê-ru-sa-lem niềm nở tiếp đón mọi thiếu niên và lắng nghe chúng.

2. Ơn gọi được khẳng định:

Người ta có thể luôn luôn tự hỏi về mầu nhiệm ý thức mà Đức Giê-su có về ơn gọi của mình, về địa vị Con Thiên Chúa của mình: ý thức này được phát triển như thế nào? Ngài có thật sự hoàn toàn ý thức về sứ mạng của mình khi còn rất bé chứ? Dù sao ở Giê-ru-sa-lem vào lúc mười hai tuổi, Ngài vẫn cảm thấy thoải mái trong nhà của Cha Ngài như nhà của mình; Ngài bày tỏ trí thông minh và sự hiểu biết tôn giáo phi thường trước tuổi mình. “Ai nghe cậu nói cũng ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đối đáp của cậu”, nghĩa là, không chỉ những tiến sĩ luật, nhưng những học viên, và ngay cả đám đông trong sân Đền Thờ cũng dừng lại để lắng nghe cậu thiếu niên Giê-su này tranh luận với các chuyên viên Lề Luật. Sau này, sự thông hiểu của Đức Giê-su, sự quán triệt Kinh Thánh của Ngài sẽ làm kinh ngạc những vị lãnh đạo Do thái giáo: “Ông này không học hành gì, mà sao lại thông thạo chữ nghĩa như thế” (Ga 7: 15); còn dân chúng sửng sốt về lời dạy của Ngài: “Vì Người dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư của họ” (Mt 7: 28).

Giai thoại Đức Giê-su ngồi giữa các tiến sĩ Luật hàm chứa hai lời dạy: tinh thần siêu thoát đối với Đức Ma-ri-a và thánh Gtiu-se và dấu chỉ tiên báo mầu nhiệm Vượt Qua, tức là mầu nhiệm Thương Khó, đoạn mầu nhiệm Phục Sinh của Ngài vào ngày thứ ba.

3. Tinh thần siêu thoát:

Phải chăng đây là cuộc hành trình đầu tiên của Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem vào dịp cử hành một trong những đại lễ hằng năm? Người ta có thể tự hỏi điều này. Dù sao Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se vẫn để cho con trẻ nhiều tự do. Nghi lễ đã hoàn tất, đoàn hành hương đến từ Ga-li-lê lại lên đường trở về khoảng ba đến bốn ngày đường, theo từng nhóm.

Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se vất vả tìm kiếm Đức Giê-su ròng rả suốt hai ngày; đến ngày thứ ba họ mới tìm thấy Ngài. Mẹ Ngài nói với Ngài về những vất vả lo lắng trong khi tìm kiếm Ngài: “Con ơi, sao con lại cư xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!” rốt cuộc để chỉ nghe được câu trả lời của Ngài bày tỏ khoảng cách giữa họ với Ngài: “Sao cha mẹ lại tìm con?”. Ngài nhắc lại bổn phận làm con đích thật của Ngài, bổn phận này nối kết bất khả phân giữa Ngài với Thiên Chúa: “Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?”. Ngay từ lúc này, Ngài để cho thoáng thấy ý nghĩa cuộc đời Ngài: Ngài đến để mặc khải Chúa Cha; Ngài phải thi hành ý muốn của Cha Ngài. Đồng thời Đức Giê-su cũng ghi nhận những khoảng cách của Ngài đối với cha mẹ trần thế của Ngài: tình mẫu tử của Đức Ma-ri-a, tình phụ tử của thánh Giu-se phải nhường bước trước sứ mạng cao cả và mầu nhiệm hơn của người con này mà Thiên Chúa đã trao gởi cho họ. Dù “ông bà không hiểu lời Ngài vừa nói”, tuy nhiên “riêng mẹ Ngài thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng”. Với câu ghi nhận này, thánh Lu-ca chỉ cho chúng ta một trong những nguồn sách Tin Mừng của ông, hoặc từ chính Đức Trinh Nữ, nếu thánh ký đã đích thân gặp gỡ Mẹ; hoặc qua thánh Gioan, người môn đệ Chúa yêu mà Mẹ đã sống cùng (Ga 19: 25-27) và chắc chắn đã thổ lộ một số lượng kỷ niệm với người môn đệ này.

4. Dấu chỉ:

Sau hai ngày tất tả tìm kiếm, “vào ngày thứ ba” họ mới tìm thấy Ngài. Không thể không đọc thấy ở nơi những sự kiện và những lời này, một dấu chỉ báo trước những đau khổ mà Ngài sẽ phải chịu trong biến cố Tử Nạn và những lần gặp lại Ngài cũng vào ngày thứ ba sau khi Ngài sống lại. Không tác giả Tin Mừng nào tường thuật Đức Phục Sinh hiện ra với Mẹ mình. Phải chăng người ta có thể nói rằng việc ghi nhận Đức Ma-ri-a gặp lại Ngài ở đây ẩn chứa một cuộc gặp gỡ của Mẹ Ngài với Ngài khi Ngài sống lại? Hơn nữa, việc ghi nhận này được định vị ngay sau lễ Vượt Qua mà Đức Giê-su vừa cử hành ở Giê-ru-sa-lem…

[về Mục Lục]

C. CÁC BÀI CHIA SẺ

Bài 1. GIA ĐÌNH LÀ HỘI THÁNH TẠI GIA
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ

«Các gia đình công giáo được mời gọi giữ vững và củng cố ơn gọi hôn nhân Ki-tô giáo, xây dựng gia đình như Hội Thánh tại gia, cái nôi của sự sống, mái ấm của tình thương và ngôi trường đầu tiên đào tạo con người toàn diện.»

Để thực hiện Sứ Điệp của Đại Hội Dân Chúa 2010 (số 5) nêu trên, chúng ta hãy đọc và suy niệm các Bài Sách Thánh của Lễ Thánh Gia Na-da-rét, để tìm ra các phương thế hữu hiệu, nhằm duy trì và phát huy các giá trị tốt lành, thánh thiện của gia đình theo kế hoạch của Thiên Chúa và tránh thảm họa khôn lường cho các gia đình và cho cả nhân loại ngày mai.

II. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH

2.1 Bài đọc 1 (1 Sm 1,20-22.24-28): Mọi ngày đời ông Sa-mu-en sống, ông sẽ được nhượng cho Đức Chúa.

2.2 Bài đọc 2 (1 Ga 3,1-2.21-24): Chúng ta được gọi là con Thiên Chúa, mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa.

2.3 Bài Tin Mừng: Lc 2,41-52: Cha mẹ Đức Giê-su tìm thấy con đang ngồi giữa các bậc thầy.

III. KHÁM PHÁ CHÂN DUNG VÀ SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH

3.1 Chân dung Thiên Chúa (Thiên Chúa là Đấng nào?)

3.1.1 Bài đọc 1 (1 Sm 1,20-22.24-28) là câu chuyện tường thuật lại cách cư xử tuyệt vời của bà An-na, mẹ ông Sa-mu-en. Bà An-na tin rằng con của bà là do Chúa ban cho, nên bà có nghĩa vụ dâng lại người con ấy cho Thiên Chúa để người con ấy phụng sự Thiên Chúa.

Trong đoạn Sách 1 Sa-mu-en 1,20-22.24-28 trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng đáng được mọi người tôn kính và thờ phượng, vì tất cả mọi sự, mọi loài (kể cả loài người) đều do Thiên Chúa mà ra nên thuộc về Thiên Chúa. Nói cách khác vì Thiên Chúa là Chủ Tể muôn loài muôn vật nên Người có quyền trên muôn loài muôn vật.

3.1.2 Bài đọc 2 (1 Ga 3,1-2.21-24) là những lời tha thiết của Thánh Gio-an Tông đồ khi ngài truyết trình về tư cách làm con Thiên Chúa của các Ki-tô hữu. Vì yêu thương mà Thiên Chúa ban cho chúng ta ân huệ cao quý là làm con của Người. Đã là con Thiên Chúa thì các Ki-tô hữu phải sống tương xứng với tư cách làm con: giữ các giới rằn của Người, nhất là giới răn yêu thương!

Qua đoạn thư 1 Ga 3, 1-2-21-24 trên, chúng ta nhận ra Thiên Chúa là Tình Yêu cho đi, Tình Yêu cống hiến.

3.1.3 Bài Tin Mừng (Lc 2,41-52) là tường thuật về một biến cố “bất thường” đã xẩy ra trong thời niên thiếu của Chúa Giê-su. Biến cố này lại xẩy ra tại Đền Thờ Giê-ru-sa-lem là nơi phượng thờ Thiên Chúa của dân tộc Ít-ra-en, nên có một ý nghĩa đặc biệt.

Qua đoạn Phúc Âm Lc 2,41-52 này, Chúa Giê-su bộc lộ cho chúng ta biết Cha thật của Ngài là chính Thiên Chúa và vì thế mà Ngài có nghĩa vụ phải chu toàn công việc mà Cha Ngài giao phó. Biến cố này được xem như một tia chớp, hé mở cho chúng ta thấy mầu nhiệm của Chúa Giê-su. Mầu nhiệm khôn lường ấy được Con Thiên Chúa che giấu một cách tài tình bằng một cuộc sống âm thầm, ẩn dật ở Na-da-rét, vâng phục cha mẹ là Đức Ma-ri-a và Thánh Giu-se. Điều mà Phúc âm Lu-ca muốn chúng ta lưu ý là Cậu Bé Giê-su không ngừng phát triển về mọi mặt: thể lý, trí tuệ và tâm linh tức mối tương quan với Thiên Chúa và với mọi người xung quanh.

3.2 Sứ điệp Lời Chúa (Thiên Chúa muốn chúng ta làm gì?)

Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay là Con Một Thiên Chúa đã xuống thế làm người, sinh ra và lớn lên trong khung cảnh một gia đình, được nuôi dưỡng và giáo dục bởi các bậc cha mẹ đạo đức thánh thiện. Trong khung cảnh đầm ấm của gia đình và nhờ công ơn dưỡng dục của cha mẹ, Con Một Thiên Chúa lớn lên và trưởng thành trong các mối tương quan với Thiên Chúa, với tha nhân và với chính bản thân mình.

Đó là mô hình mẫu của hết mọi người con, của hết mọi gia đình Ki-tô giáo.

IV. SỐNG VỚI CHÚA VÀ THỰC THI SỨ ĐIỆP CỦA NGƯỜI

4.1 Sống với Thiên Chúa Cha là Đấng trân trọng gia đình và tin tưởng các bậc làm cha làm mẹ khi giao phó con cái của Ngài cho họ. Sống với Chúa Hài Nhi và Con Trẻ Giê-su là Đấng đã sống thương yêu và vâng phục cha mẹ, đã phát triển về mọi mặt: thể lý, trí tuệ và tâm linh, trong khung cảnh thánh gia thất Na-da-rét.

4.2 Thực thi sứ điệp Lời Chúa

Để thực thi sứ điệp Lời Chúa hôm nay, chúng ta thử nhìn lại xem chúng ta coi trọng gia đình như thế nào và chúng ta đã và đang làm gì cho các gia đình, nhất là cho các gia đình gặp khó khăn, để giúp họ chu toàn trọng trách dưỡng dục con cái mà Thiên Chúa trao cho họ.

Chúng ta cũng thử nhìn lại xem chúng ta coi trọng các bậc cha mẹ sinh thành của chúng ta như thế nào và chúng ta đã và đang làm những gì để tỏ lòng thảo hiếu với họ.

V. CẦU NGUYỆN CHO HỘI THÁNH VÀ LOÀI NGƯỜI

5.1 «Ai tuân giữ các điều răn của Thiên Chúa thì ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại trong người ấy.» Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho các dân tộc trên thế giới ngày nay, để mọi người tuân giữ các điều răn của Thiên Chúa là sống công bình và yêu thương.

Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa!
Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con!

5.2 «Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa.» Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI, cho các Hồng Y, Giám Mục và Linh Mục, để các ngài nhiệt thành rao giảng Tình Yêu của Thiên Chúa cho nhân loại.

5.3 «Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?» Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho các bậc làm cha làm mẹ, để họ biết dưỡng dục con cái thành những người con hiếu thảo đối với Thiên Chúa là Đấng Tạo Dựng và là Cha của mọi người.

5.4 «Đức Giê-su ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta.» Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho các bạn trẻ và các cháu thiếu nhi trong giáo xứ chúng ta, để các em biết noi gương bắt chước Cậu Bé Giê-su mà yêu mến vâng phục cha mẹ và lớn lên trong ơn nghĩa với Thiên Chúa và trong tình quý mến cùa mọi người xung quanh.

[về Mục Lục]

Bài 2. Người đi xuống cùng Cha Mẹ và hằng vâng phục các Ngài

Fx Đỗ Công Minh

Cùng với tòan thể Hội Thánh Chúa , chúng con hân hoan mừng lễ kính Thánh Gia thất. Mừng lễ Thánh Gia, chúng con mừng Hội Thánh bắt nguồn từ một Gia đình. Chính Chúa cũng đã có một gia đình trần thế như chúng con đây, có Cha, có Mẹ , có bà con họ hàng, có xóm giềng sớm tối, vui buồn có nhau. Giáo hội Công Giáo mừng lễ Thánh Gia là có ý thánh hóa các gia đình, mong muốn các gia đình trở nên một tổ ấm thánh thiện, chan hòa tình yêu giữa cha mẹ và đổ tràn trên con cái. Tại Việt Nam, các Đức Giám mục qua Sứ Điệp Đại Hội Dân Chúa 2011, cũng mong muốn Hội Thánh là một gia đình: Gia đình giáo phận, mỗi giáo xứ là một gia đình địa phương yêu thương, mỗi gia đình là một giáo hội thu nhỏ tại gia. Gần đây nhất, Liên hội đồng Giám mục Á Châu còn khẳng định Đức tin được chuyển giao, được loan truyền ngay từ trong các Gia đình. Có các gia đình Công Giáo mới có Hội Thánh Chúa nơi trần gian này.

Đối với xã hội, gia đình là một tế bào. Có gia đình mới có công đồng xã hội. Gia đình tốt thì xã hội tốt, mới yên vui hòa hợp. Người ta cũng nêu lên biết bao châm ngôn để xây dựng một gia đình tốt:” Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm” . Chúa cũng chúc phúc cho các gia đình khi Người đến tham dự tiệc cưới ở CaNa, hay như đến dùng cơm với chị em Mattha, ăn cơm với gia đình ông Gia-Kêu. Cuộc sống của một gia đình chính là nơi Thiên Chúa hiện diện, vì như Thánh Phao lô:”Thiên Chúa là tình yêu”

Vậy mà,

Đã không ít gia đình trong chúng con không thể hiện được tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa, không sống theo gương gia đình Nagiarét xưa. Nhiều đôi vợ chồng không biết sống vì nhau, vì con cái mà chỉ thiết sống cho bản thân mình nên sinh ra xáo trộn, ganh tỵ, thậm chí thù ghét nhau đi đến chia rẽ. Không chấp nhận nhau, phản bội lời thề hứa khi lãnh bí tích hôn phối. Không ít người con bỏ nhà ra đi vì không cảm nhận được bầu khí yêu thương trong gia đình mình. Tội ác cũng đã từng xuất phát từ trong gia đình khiến cha mẹ con cái ly tán, xã hội bất an.

Trong ngày lễ Thánh hóa các gia đình hôm nay, chúng con cảm tạ Chúa cùng với các đôi vợ chồng mừng Ngân khánh, Kim Khánh, Ngọc Khánh hôn nhân trong dịp kỷ niệm này. Xin Chúa chúc lành cho các vị đã trải qua một giai đọan dài của hôn nhân Công Giáo với ít nhiều gian truân,thử thách, vẫn giữ lòng chung thủy với nhau, trung thành với lời giao ước trước mặt Chúa và Hội Thánh khi thành hôn với nhau. Đặc biệt xin Chúa soi sáng, đổ ơn Thánh Người trên các đôi vợ chồng trẻ đang bị bao cám dỗ của đời sống hiện tại, làm giao động hạnh phúc gia đình ngày hôm nay. Xin cho các bạn luôn biết tìm đến Chúa khi vui lúc buồn để gặp được Người trong đời sống. Chắc chắn Người sẽ thêm ơn cho, giúp vượt qua những khó khăn, xáo trộn trong gia đình. Xin cho những người con luôn tìm thấy ở gia đình mình một sự tín thác, cậy trông, yêu mến, thảo kính Cha mẹ, đùm bọc lẫn nhau như lời ca: “NGUYỆN XIN GIÊSU ĐẾN TRONG NHÀ CHO ĐỜI HÒA TIẾNG CA”. AMEN.

[về Mục Lục]

Bài 3. GIA ĐÌNH THÁNH

JM. Lam Thy ĐVD.

Phụng vụ Giáo Hội đã chọn Chúa nhật trong tuần bát nhật Giáng Sinh để kính nhớ Thánh Gia Thất như một mẫu gương cho các gia đình Ki-tô hữu. Khi nói về một gia đình hạnh phúc thì phải nói đến cả 3 thành phần căn bản là Cha Mẹ và Con cái, đều có một cuộc sống biểu lộ thật rõ ràng tình tương thân tương ái, sự chung thuỷ son sắt, tính khiêm nhu nhường nhịn, đùm bọc phục vụ nhau trong mọi tình huống, suốt cả cuộc đời. Với Thánh Gia Thất thì Cha (Thánh Giu-se) và Mẹ (Đức Maria) lại là những nhân vật tương đối mờ nhạt vì Thánh Kinh không tập trung miêu tả cụ thể những sinh hoạt trong phạm vi gia đình Na-da-ret. Chỉ còn nhân vật trung tâm là Người Con Giê-su, mà muốn biết rõ Người trong vai trò làm con ở gia đình, thì cần phải hiểu rõ thời gian Người còn sống ẩn dật tại Na-da-ret, bởi khi hoạt động công khai thì hầu như không mấy khi Người có mặt tại nhà.

Hầu hết Thánh Kinh Tân Ước sau khi trình thuật biến cố Giáng Sinh, chỉ tập trung vào thời gian hoạt động công khai của Đức Giê-su, kể từ khi Người chịu phép rửa trên sông Gio-đan. Duy chỉ có Thánh Lu-ca là có trình thuật sơ lược về thời gian Đức Giê-su còn sống ẩn dật tại gia đình ở Na-da-ret. Do đó, lấy Thánh Gia làm gương mẫu cho đời sống gia đình, không phải là điều đơn giản. Phụng vụ khi chọn các bài đọc Thánh Kinh cũng đã nhận thấy điều ấy. Và để đạt được cả hai mục tiêu – vừa nói về các nhân đức gia đình, vừa nói về thời gian Chúa Giê-su sống ẩn dật ở Na-da-rét – Phụng vụ đã dùng hai bài đọc dẫn trước (1 Cựu Ước và 1 Tân Ước) chung cho chu kỳ ba năm liền (Hc 3,3-7.14-17a; Cl 3, 12-21), còn bài Tin Mừng thì thay đổi mỗi năm (A: Mt 2, 13-15.19-23; B: Lc 2, 22-24.39-40; C: Lc 2, 41-52).

Bài đọc 1 (Hc 3,3-7.14-17a) dạy về bổn phận người con trong gia đình phải ghi nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ mà ăn ở hiếu thảo với các ngài, vì chính “Thiên Chúa suy tôn người cha trong con cái; quyền lợi bà mẹ, Người củng cố trên đoàn con” (Hc 2, 2), nên có thể nói “Ai kính sợ Chúa, thì thảo kính cha mẹ”. Đến bài đọc 2 (Cl 3, 12-21), Thánh Phao-lô đi sâu hơn vào khuyên bảo từng thành viên trong gia đình (bổn phận vợ chồng đối xử với nhau, trách nhiệm cha mẹ đối với con cái và bổn phận con cái đối với cha mẹ, thậm chí cả anh chị em cư xử với nhau nữa). Hạnh phúc gia đình chỉ có được khi có “Đời sống gia đình trong Chúa”. Điều đó cho thấy Thánh Gia Thất đã nên như một mẫu gương tuyệt hảo cho mọi gia đình Ki-tô hữu, chính là nhờ hội đủ các yếu tố dẫn trong các bài đọc 1 và 2, và còn hơn thế nữa, nhờ tính vâng phục tuyệt đối của Người Con đối với Chúa Cha kể cả với Mẹ Maria và cha nuôi Giu-se tại Na-da-ret; đồng thời cư xử với mọi người như anh em ruột thịt cùng con một Cha trên trời.

Có một điều thú vị trong bài Tin Mừng hôm nay (Lc 2, 41-52) là cậu ấm Giê-su đã làm cho cha mẹ cậu chạy xất bất xang bang, đôn đáo khắp nơi tìm con và khi gặp được con thì các ngài lại thêm một phen thất kinh hồn vía khi thấy con “đang ngồi giữa các thầy tiến sĩ, nghe và hỏi các ông. Tất cả những ai nghe Người nói đều ngạc nhiên trước sự hiểu biết và những câu Người đáp lại.” Một trẻ 12 tuổi ngồi giữa đám thượng lưu trí thức trong xã hội Do thái thời đó, mà khiến họ đồng ý cho ngồi chung đã là một chuyện lạ, không những thế còn làm họ kinh ngạc về sự hiểu biết và những câu đáp lại trôi chảy của cậu, thì không phải chuyện đùa. Cha mẹ của cậu thất kinh cũng là phải, và vì thế mới nhẹ nhàng lên tiếng trách con, thì lại được nghe một câu mà người nghe không hiểu ra sao cả (“Mà tại sao cha mẹ tìm Con? Cha mẹ không biết rằng Con phải lo công việc của Cha Con ư?”). Câu trả lời này không chỉ làm cho cha mẹ cậu bé không hiểu, mà còn khiến cho đám đông càng thêm ngạc nhiên hơn nữa (họ nghĩ rằng cậu Giê-su là con đẻ của ông Giu-se và bà Maria, vậy còn phải lo công việc cho một ông “Cha” nào nữa?).

Cha mẹ cậu Giê-su tuy không hiểu câu trả lời của cậu, nhưng không căn vặn con mình nữa, mà chỉ “ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2, 51), vì dù sao trước khi cậu bé ngự nơi cung lòng Đức Maria, thì Sứ thần của Thiên Chúa đã báo tin cho các ngài hiểu rõ Con Người cao trọng Giê-su. Vấn đề đặt ra chính ở điểm này: Thánh sử Lu-ca khi trình thuật sự kiện đã muốn dùng câu chuyện này để nói về sứ mệnh của Đức Giê-su (Tử nạn – Phục sinh cứu độ nhân loại). Còn vấn đề sống ẩn dật tai Na-da-ret, Thánh nhân chỉ lướt qua (“Sau đó, Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Na-da-rét và hằng vâng phục các ngài. Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. Còn Đức Giê-su ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta.” (Lc 2, 51-52). Dựa vào đây, có thể nói Đức Giê-su đã chu toàn cả hai phận sự đạo đời và làm gương cho chúng ta trong đời sống gia đình:

Thứ nhất là vâng phục thánh ý Thiên Chúa Cha xuống thế làm người chịu khổ hình thập giá và sống lại hiển vinh, để cứu chuộc nhân loại. Sự vâng phục tuyệt đối này mạc khải cho loài người biết rõ đến như Con Thiên Chúa mà còn vâng phục Cha của Người như vậy, vâng phục đến độ hiến cả mạng sống mình làm giá chuộc muôn người, thì nhân loại đều cùng chung một Cha trên trời, phải ý thức bổn phận con cái như thế nào cho phải phép.

Thứ hai, thông qua thời gian sống ẩn dật trong gia đình tại Na-da-ret, Đức Giê-su “hằng vâng phục cha mẹ, ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta”. Người đã trưởng thành từ thể xác tới tâm linh. Ở nơi Người, yếu tố nhân linh và thần linh, đạo và đời, không xung khắc nhưng hòa hợp. Và một bài học thật sâu sắc cho mọi Ki-tô hữu: Người là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật đã vâng phục Chúa Cha xuống thế làm người thi hành sứ vụ được trao phó, đồng thời Người lại còn hạ mình sống vâng phục như một người con ngoan trong gia đình tại thế, để từ đó “thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta”. Rõ ràng Người đã sống đúng như Lời Người giảng dạy khi bước vào giai đoạn công khai rao giảng Tin Mừng: “Yêu Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực và yêu nguời thân cận như chính mình”.

Câu chuyện Thánh Lu-ca trình thuật trong bài Tin Mừng hôm nay cho thấy là ở đâu có tình yêu, ở đấy có Chúa. Ðức Giê-su đã tỏ ra cho chúng ta thấy sự khôn ngoan của Người, để chúng ta biết Người là Thiên Chúa, nhưng là Thiên-Chúa-làm-người; Người sống đầy đủ các phận sự trong gia đình ở trần gian, nhưng đồng thời cũng chu toàn trách vụ ở nơi nhà Thiên Chúa Cha tức là nơi vinh quang của Người. Nói cách khác, Người đã “vâng phục” thánh ý Thiên Chúa Cha sống tình con thảo trong đức Mến nơi “nhà Cha” và cả trong nơi “nhà Na-da-ret”. Đó là hình ảnh gương mẫu của Thánh Gia Thất và cũng phải là hình ảnh của mọi gia đình Ki-tô giáo, những Hội Thánh tại gia đích thực. Nó giúp chúng ta nhận ra phải sống và đối xử thế nào để tình yêu thương nhau ngày càng phát triển, nhất là khi phải trải qua những giai đoạn khó khăn thử thách có thể làm rạn nứt hạnh phúc gia đình.

Tóm lại, đạo đức phải là nền tảng của đời sống gia đình. Ðó cũng là quan điểm của hai bài đọc Kinh Thánh dẫn trước. Bài trích sách Huấn ca là một bài dạy về luân thường đạo lý mẫu mực trong gia đình, nhưng có giá trị hơn hẳn các bài luân lý thông thường ở chỗ lấy Thiên Chúa làm đối tượng mà các thành phần trong gia đình (cha mẹ và con cái) phải kính yêu, học hỏi, cầu xin và trông đợi. Còn như bài trích thư Thánh Phao-lô gửi tín hữu Cô-lô-sê rõ ràng khuyên nhủ mọi người hãy mặc lấy mọi tâm tình và thái độ của chính Người Con (Con trong gia đình Ba Ngôi Thiên Chúa, đồng thời là Con trong gia đình Na-da-ret). Thánh Phao-lô – thông qua lời khuyên dạy các thành phần trong gia đình – chỉ muốn nhấn mạnh đến tính cách đặc biệt của Thiên Chúa (Chúa Cha và Chúa Giê-su) là lòng mến. Thế nên khi khuyên ai nấy hãy mặc lấy những tâm tình và thái độ của Chúa, Thánh Tông đồ nhấn mạnh: “Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái: đó là mối dây liên kết tuyệt hảo.” (Cl 3, 14)

Chúng ta cũng có thể nói một cách tương tự: Các đức tính về đời sống gia đình thật là nhiều, nhưng giềng mối nối kết tất cả nên một chỉ có thể là lòng mến. Khi lòng mến thực sự ngự trị trong lòng và trong gia đình chúng ta, thì chúng ta sẽ có tất cả mọi sự khác. Đúng như lời dạy của Thánh Tông đồ dân ngoại: “Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến” (1Cr 13, 13). Một cách cụ thể, hãy có lòng mến với Thiên Chúa và với nhau trong Giáo Hội tại gia để từ đó làm bàn đạp mở rộng ra với Giáo Hội Hoàn vũ và thế giới. Quả thật “Đâu có tình yêu thương, ở đấy có Đức Chúa Trời. Đâu có lòng từ bi, ở đấy có ân sủng Người. Đâu có tình bác ái thì Chúa chúc lành không ngơi. Đâu ý hợp tâm đầu, ở đấy chứa chan niêm vui” (TCCĐ “Đâu có tình yêu thương”). Muốn được “nên thánh giữa đời” ư? Hãy làm sao cho gia đình mình được trở nên đồng hình đồng dạng với Gia Đình Thánh Na-da-ret.

Ôi! Lạy Chúa! Chúng con đã nhiều lần lỗi đức thương yêu trong gia đình chỉ vì một chút nóng giận, một chút hiểu lầm, một chút nghi ngờ, đã gây nên bao sóng gió trong gia đình chúng con. Từ mẫu gương Thánh Gia Thất, xin giúp chúng con ý thức bổn phận phải xây dựng mỗi gia đình Công Giáo thành một tổ ấm tràn đầy yêu thương, biết hy sinh quên mình để sống vì nhau và cho nhau trọn vẹn trong Tình Yêu Thiên Chúa. Ôi! “Lạy Chúa, Chúa đã muốn đề cao Thánh Gia như tấm gương xán lạn để mọi người bắt chước. Xin làm cho chúng con cũng biết noi gương để ăn ở đúng lễ nghĩa gia phong, sống đùm bọc lẫn nhau trong tình yêu mến, hầu được chung hưởng niềm an vui vĩnh cửu trong nhà Chúa trên trời. Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ, lễ kính Thánh Gia Thất).

[về Mục Lục]

Bài 4. Thánh Gia mẫu gương gia đình hạnh phúc

LM ĐAN VINH

Muốn có hạnh phúc thì gia đình phải có Thiên Chúa là Tình Yêu ngự trị. Tình yêu chính là sợi dây bền chặt liên kết các thành viên lại với nhau.

I. HỌC LỜI CHÚA

1. TIN MỪNG: Lc 2,41-52

2. Ý CHÍNH: HAI ÔNG BÀ TÌM THẤY CON TRONG ĐỀN THỜ:

Câu chuyện Thánh Gia hành hương lên Giê-ru-sa-lem dự lễ Vượt qua đã được thánh Lu-ca ghi lại trong đọan Tin mừng hôm nay với 3 phần như sau:

– Trẻ Giê-su bị thất lạc và được cha mẹ lo lắng tìm kiếm (c.41-45).
– Cha mẹ vui mừng khi tìm thấy con trẻ trong Đền thờ. (c.46-50).
– Trẻ Giê-su nêu gương hiếu thảo vâng phục cha mẹ (c.51-52).

3. CHÚ THÍCH:

– C 41-42: + Lễ Vượt qua: Hay lễ Bánh Không Men kéo dài 7 ngày (x Xh 12,15-16). + Khi Người được mười hai tuổi: Tại Ít-ra-en, sau khi học giáo lý, đứa trẻ 13 tuổi sẽ làm lễ tuyên tín để trở thành người lớn, thành “con của Lề Luật”. Ngày đó người ta yêu cầu đứa trẻ bước lên bục giữa hội đường để đọc sách To-rah.

– C 43-45: + Xong kỳ Lễ: Luật chỉ buộc ở lại Đền thờ 3 ngày đầu. Còn Thánh gia đã ở lại cho đến hết kỳ Đại Lễ. Điều này cho thấy lòng đạo đức trổi vượt của các ngài. + Hai ông bà trở về, còn cậu bé Giê-su thì ở lại Giê-ru-sa-lem, mà cha mẹ chẳng hay biết: Trong dịp lễ này, những người ở xa Đền thờ thường tổ chức đi chung thành đoàn lữ hành. Sau khi tan lễ, họ lại nhập thành đoàn ra về. Họ có thể không đi chung mà đi riêng thành từng nhóm theo lứa tuổi, miễn là cùng dừng chân ở các quán trọ để nghỉ đêm. Vì thế khi ra về, hai ông bà Giu-se Ma-ri-a vẫn yên tâm khi không thấy trẻ Giê-su đi trong cùng một nhóm với mình.

– C 46-47: + Đang ngồi giữa các thầy dạy: Các bậc thầy (Ráp-bi ) thường ngồi khi dạy Kinh thánh ở tiền đình bên trong khuôn viên Đền thờ (x. Lc 19,47). Việc giảng dạy theo hình thức hỏi và đáp. + Ai nghe cậu nói cũng đều ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đáp của cậu: Sự thông minh và câu trả lời khôn ngoan của trẻ Giê-su khiến mọi người ngạc nhiên.

– C 48-50: + “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?”: Đức Giê-su muốn cho cha mẹ biết ngòai gia đình tự nhiên ở trần gian, Người còn có một người Cha ngự trên trời là Thiên Chúa nữa.

– C 51-52: + Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Na-da-rét và hằng vâng phục các ngài: Sau khi nói về sứ mệnh của mình phải vâng theo thánh ý Chúa Cha trên trời, trẻ Giê-su đã theo cha mẹ trần gian trở về làng Na-da-rét và vâng phục hai ông bà.

4. CÂU HỎI: 1) Lễ Vượt Qua hay lễ Bánh Không Men kéo dài bao lâu? 2) Tại sao mãi đến ngày thứ ba, hai ông bà Giu-se Ma-ri-a mới phát hiện ra con trẻ Giê-su bị thất lạc? 3) Điều gì cho thấy sự khôn ngoan vượt trổi của trẻ Giê-su khi ở lại trong Đền thờ? 4) Trẻ Giê-su muốn nói gì qua câu thưa với cha mẹ: “Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà Cha con sao?” 5) Lòng hiếu thảo của trẻ Giê-su với cha mẹ được biểu lộ thế nào?

II. SỐNG LỜI CHÚA

1. LỜI CHÚA: “Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái… Người làm vợ hãy phục tùng chồng. Như thế mới xứng đáng là người thuộc về Chúa” (Cl 3,14.18).

2. CÂU CHUYỆN: MỘT CON NGƯỜI CẦU TOÀN:

Theo chuyện cổ Hồi Giáo thì NA-TRÚT-ĐIN là hiện thân của những chàng trai độc thân khó tính. Trong một buổi trà dư tửu hậu, khi bạn bè chất vấn tại sao đến tuổi bốn mươi rồi mà anh vẫn chưa lấy vợ, Na-trút-đin đã tâm sự về tình trạng độc thân bất đắc dĩ của anh như sau:

“Tôi đâu phải là không muốn lấy vợ như các bạn nghĩ: Suốt cả tuổi thanh xuân, tôi đã đi khắp nơi để tìm cho mình một người vợ hoàn hảo như ý muốn. Tại Cai-rô, thủ đô Ai Cập, tôi đã sớm gặp được một thiếu nữ vừa đẹp người lại vừa thông minh. Nàng có đôi mắt bồ câu với con ngươi đen nhánh giống như hai hạt ô-liu. Tôi ưng ý ngay trong lần gặp gỡ đầu tiên. Nhưng chỉ vài ngày sau, tôi đã khám phá ra rằng: Nàng ta không phải là một cô gái hiền thục như tôi mong muốn. Thế là tôi liền rời bỏ Cai-rô để đến thành Bát-đa Thủ đô nước I-rắc, để tìm kiếm một người vợ lý tưởng, nghĩa là phải vừa đẹp người lại vừa phải thông minh dịu hiền nữa! Tại đây, nhờ Đức Thánh Al-lah phù hộ nên tôi đã sớm gặp được một thiếu nữ hoàn hảo, đúng như lòng hằng mong ước. Nhưng có điều chúng tôi lại bị khắc khẩu mỗi khi nói chuyện: Ít khi chúng tôi cùng chung quan điểm về bất cứ lãnh vực nào. Thế là tôi đành phải âm thầm chia tay với nàng. Từ đó, tôi liên tiếp trải qua nhiều mối tình với nhiều phụ nữ khác nhau. Nhưng người được mặt này thì lại mất mặt kia, được tính tốt này thì lại vướng phải tật xấu nọ. Đến lúc tôi sắp hoàn toàn thất vọng, tưởng như sẽ không thể tìm đâu ra được một người đàn bà hoàn hảo, thì một hôm Đức Thánh Al-lah đã sắp xếp cho tôi gặp được một thiếu nữ siêu tuyệt vời. Có thể nói: Nàng là sự kết hợp rất nhiều đức tính của một người vợ lý tưởng mà tôi hằng mong ước: Nàng vừa đẹp người, thông minh, lại vừa hiền dịu và ân cần tử tế trong giao tiếp… Ngoài ra nàng lại còn hát hay múa giỏi, nấu ăn ngon, cắm hoa đẹp, thêu thùa cắt may thành thạo… Thế nhưng các bạn có biết vì sao cho đến giờ này tôi vẫn là một chàng trai độc thân khó tính không??? Vì khi tôi mạnh dạn ngỏ lời cầu hôn với nàng, thì lập tức tôi đã bị nàng thẳng thừng từ chối, vì nàng cũng đang đi tìm một người đàn ông lý tưởng để lấy làm chồng. Mà theo đánh giá của nàng thì tôi chỉ là một gã đàn ông tầm thường, có quá nhiều thói hư tật xấu, không xứng đáng làm chồng của nàng!”.

3. SUY NIỆM:

– THÁNH GIA: MẪU GƯƠNG CỦA GIA ĐÌNH TÍN HỮU: Gia đình là nền tảng của xã hội và là tế bào của Hội thánh! Gia đình có bền vững hạnh phúc thì xã hội mới an vui và Hội thánh mới phát triển. Hôm nay Hội thánh giới thiệu Thánh Gia cho các gia đình tín hữu học tập noi gương: Trong gia đình này có thánh cả Giu-se là một người chồng lý tưởng: hết lòng yêu thương và chu tòan trách nhiệm lo cho vợ con. Còn Đức Ma-ri-a thì nêu gương cho các người làm vợ làm mẹ về tình yêu thương hết mình phục vụ chồng con. Trong gia đình này, trẻ Giê-su chính là người con hiếu thảo, luôn tôn kính vâng lời và làm vui lòng cha mẹ trong gia đình.

– GIA ĐÌNH HẠNH PHÚC PHẢI TRÊN THUẬN DƯỚI HÒA: Về phạm vi nhân lọai thì thánh Giu-se là người gia trưởng có tinh thần trách nhiệm cao, rồi đến Đức Ma-ri-a là hiền mẫu luôn biết quan tâm chăm sóc cho chồng con và cuối cùng là trẻ Giê-su luôn hiếu thảo thể hiện qua sự vâng lời và luôn làm vui lòng cha mẹ, như Tin Mừng Lu-ca viết: “Sau đó Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Na-da-rét và hằng vâng phục các ngài” (Lc 2,51a).

– GIA ĐÌNH HẠNH PHÚC PHẢI CÓ SỰ BỔ TÚC CHO NHAU: Thiên Chúa đã dựng nên hai người nam nữ tuy khác nhau, nhưng không đối kháng mà còn bổ túc cho nhau. Hai vợ chồng mỗi người đều được Chúa ban những ưu điểm phù hợp với vai trò trong gia đình như sau:

+ Nếu người chồng có sức mạnh ví như là cây cột nhà chống đỡ làm cho gia đình bền vững, thì người vợ là sợi dây yêu thương liên kết các thành viên trong gia đình lại với nhau.

+ Nếu người chồng có khả năng kiếm tiền nuôi sống gia đình, thì người vợ là nhà quản lý tài ba biết sắp xếp mọi việc và bảo vệ mái ấm gia đình.

+ Nếu người chồng được ví như vị thuyền trưởng lãnh đạo gia đình, thì người vợ phải là tài công trực tiếp điều khiển bánh lái, phối hợp chặt chẽ với thuyền trưởng để đưa con tàu gia đình đến bến bờ hạnh phúc.

+ Nếu người chồng cần tính nghiêm khắc, thì người vợ lại cần sự dịu dàng, để con cái tuy phải tuân giữ kỷ luật nhưng vẫn cảm thấy dễ chịu ở trong bầu khí yêu thương của gia đình.

+ Nếu người chồng có vai trò giám đốc tổng quát xí nghiệp thì người vợ là giám đốc điều hành lo quản lý mọi việc nhà, chứ không chỉ là người lao công lo giúp việc nhà, như lời cầu của chủ tế trong thánh lễ hôn phối: ”Lạy Cha, Cha đã đặt người nữ làm trợ tá bất khả phân ly của người nam khiến họ không phải là hai nhưng chỉ là một xương một thịt … Xin cho chú rể biết trọn niềm tin tưởng ở vợ mình, nhìn nhận vợ là người bạn bình đẳng và cùng thừa hưởng sự sống là hồng ân Chúa ban. Xin cho anh biết luôn yêu thương kính trọng yêu thương vợ như Đức Ki-tô yêu thương Hội Thánh Người”.

– GIA ĐÌNH HẠNH PHÚC PHẢI CÓ CHÚA HIỆN DIỆN: Muốn có hạnh phúc thì gia đình phải có Thiên Chúa là Tình Yêu ngự trị. Tình yêu chính là sợi dây bền chặt liên kết các thành viên lại với nhau. Thứ đến phải có Lời Chúa là ánh sáng chỉ đường, rồi còn phải có ơn Thánh Thần là sức mạnh giúp hai vợ chồng cùng nhau gìn giữ và bảo vệ hạnh phúc gia đình. Nhờ đó vợ chồng sẽ dễ dàng đồng tâm hiệp lực để cùng vượt qua các phong ba thử thách cuộc đời (x Cl 3,12-17), như người đời thường nói: “Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn”.

4. THẢO LUẬN: Gia đình hôm nay thường gặp nhiều khó khăn như: Con cái dễ bị hư hỏng vì mắc các thói hư tật xấu, vợ chồng khó giữ trọn được lời thề hứa yêu thương, tôn trọng và trọn đời chung thủy với nhau… Theo bạn đâu là nguyên nhân quan trọng nhất ảnh hưởng tới hạnh phúc gia đình và cần phải khắc phục thế nào?

5. NGUYỆN CẦU

– LẠY CHÚA GIÊSU. Xin nhìn đến những gia đình đang thiếu vắng tình yêu, hay đang thiếu những phương tiện vật chất tối thiểu, những gia đình đang buồn sầu vì vắng tiếng cười trẻ thơ, hay trái lại đang vất vả lo toan vì đàn con nheo nhóc đói khát của ăn vật chất cũng như tinh thần. Xin nâng đỡ những gia đình đã biến thành hỏa ngục vì dối trá, ích kỷ, kiêu căng, giận hờn khi luôn hành hạ và làm khổ lẫn nhau.

– LẠY CHÚA. Xin nhìn đến những trẻ em đang cần được chăm sóc và yêu thương, những trẻ em đang bị lạm dụng tình dục, đang bị bóc lột tiền bạc và trở thành những món hàng để con buôn trao đổi kiếm lời; Những trẻ em đang lạc lõng bơ vơ và không được đến trường; Những trẻ em bị cuộc đời vùi dập và đang biến dạng trở thành hư hỏng… Xin hãy biến đổi các gia đình tín hữu chúng con. Xin sai Thánh Thần đốt lên ngọn lửa tin yêu trong lòng mọi thành viên. Xin cho mỗi người chúng con biết luôn chu toàn nhiệm vu xây dựng gia đình cả về tinh thần cũng như vật chất, hầu gia đình chúng con ngày thêm hòa hợp hạnh phúc, là dấu chỉ giúp người đời nhận biết tin yêu Chúa.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.
Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

[về Mục Lục]

Bài 5. Chiếc nôi Hạnh phúc

Trầm Thiên Thu

Người ta có thể chọn lựa nhiều thứ cho mình, nhưng không ai có thể chọn cha mẹ hoặc nơi sinh. Dù cha mẹ có thế nào thì cũng vẫn là cha mẹ của mình. Cha mẹ là khởi đầu một gia đình. Mà gia đình chính là tế bào cơ bản của xã hội, được mệnh danh là Tổ Ấm, là Chiếc Nôi Hạnh Phúc. Tổ ấm nghĩa là không được lạnh, không được nóng, mà nhất thiết phải ấm. Tiếng Việt hay thật!

Phàm một tổ chức nào cũng cần có quy luật để điều chỉnh, luật vị nhân sinh, chứ nhân sinh bất vị luật. Tổ ấm cũng có nguyên tắc cơ bản làm nền tảng, gọi là Gia Phong.

Ngắm nhìn hang đá, chúng ta thấy một gia đình nghèo nhưng hạnh phúc. Nhìn vào đó, chúng ta cũng nhớ công ơn cha mẹ như biển trời lai láng, khôn ví và khôn tả. Như ca dao nói về ơn nghĩa mà cha mẹ dành cho con cái:

Ơn cha nặng lắm, cha ơi!
Nghĩa mẹ bằng trời, chín tháng cưu mang

Đặc biệt nói riêng về người mẹ:

Thương thay chín chữ cù lao
Tam niên nhũ bộ, biết bao nhiêu tình!

Tuy nói về người mẹ cũng ngụ ý nói về người cha. Không thể chỉ kính trọng Tình Mẹ mà “coi nhẹ” Tình Cha, vì người Mẹ khởi đầu cho cuộc sống, tình yêu và hạnh phúc; người Cha khởi đầu cho ý chí, niềm tin và sức mạnh. Ai cũng từng là con trẻ, và mang ơn cù lao của cả cha và mẹ. Nhưng chín đức cù lao là gì? Đó là Sinh, Cúc, Phủ, Dục, Súc, Trưởng, Cố, Phục, Phúc. Tức là sinh nở, nâng đỡ, vỗ về, dạy dỗ, cho bú, nuôi lớn, trông nom, chăm sóc, che chở (*).

Ngày qua tháng lại, bà Anna thụ thai, sinh con trai và đặt tên cho nó là Samuen, vì bà nói: “Tôi đã xin Đức Chúa được nó” (1 Sm 1:20). Ngày nay chúng ta gọi đó là “con cầu con khấn”. Thật ra ai cũng nhờ ơn Chúa mà có thể hiện hữu trên cõi đời này, nhưng có một số “hiếm hoi” thôi, trường hợp bà Anna là một điển hình. Khi đó, người chồng là Encana lên với cả gia đình để dâng hy lễ thường niên cho Đức Chúa và để giữ trọn lời khấn hứa của mình. Bà Anna không lên, vì bà nói với chồng: “Đợi cho đến khi đứa trẻ cai sữa đã. Khi đó em sẽ đưa nó đi, nó sẽ ra mắt Đức Chúa và sẽ ở lại đó mãi mãi” (1 Sm 1:22).

Con cầu tự nên phải được dâng hiến cho Thiên Chúa, mà chính vợ chồng Encana và Anna cũng đã thề hứa với Chúa nên họ muốn giữ trọn lời hứa cho phải đạo.

Sau khi cai sữa cho con, bà đưa nó lên với mình, mang theo một con bò mộng ba tuổi, hai thùng bột và một bầu da đầy rượu. Đó là theo luật Cựu ước. Ăn theo thuở, ở theo thời. Ở đâu thì âu đấy. Hai ông bà này cũng không ngoại lệ. Bà đưa con vào Nhà Đức Chúa tại Silô. Họ sát tế con bò và đưa đứa trẻ đến với ông Êli. Bà nói: “Thưa ngài, xin thứ lỗi, tôi xin lấy mạng sống ngài mà thề: tôi là người đàn bà đã đứng bên ngài, tại đây, để cầu nguyện với Đức Chúa. Tôi đã cầu nguyện để được đứa trẻ này, và Đức Chúa đã ban cho tôi điều tôi đã xin Người. Đến lượt tôi, tôi xin nhượng nó lại cho Đức Chúa. Mọi ngày đời nó, nó sẽ được nhượng cho Đức Chúa” (1 Sm 1:26-28). Lời lẽ của bà nhà quê thật chất phác, nhưng quyết liệt. Và ở đó, họ đã thờ lạy Đức Chúa.

Kinh thánh hôm nay gợi nhớ việc Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu trong Đền Thánh. Ngày nay, sau khi sinh con – nhất là mỗi khi đưa con đi lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy, các bậc cha mẹ có chân thành dâng con trẻ cho Thiên Chúa?

Tất cả đều là hồng ân, từ điều nhỏ tới điều lớn, đơn giản là mỗi chúng ta đều có không khí hít thở hằng ngày, hít thở từng giây, và lại có một gia đình – dù là nhà nghèo. Vì thế, “hãy tạ ơn Chúa, cầu khẩn danh Người, vĩ nghiệp của Người, loan báo giữa muôn dân” (Tv 105:1). Tác giả Thánh vịnh mời gọi: “Hát lên đi, đàn ca mừng Chúa, và suy gẫm mọi kỳ công của Người. Hãy tự hào vì danh thánh Chúa, tâm hồn những ai tìm kiếm Chúa, nào hoan hỷ. Hãy tìm Chúa và sức mạnh của Người, chẳng khi ngừng tìm kiếm Thánh Nhan. Hãy nhớ lại những kỳ công Người thực hiện, những dấu lạ và những quyết định Người phán ra, hỡi anh em, dòng dõi Ápraham tôi tớ Chúa, con cháu Gia-cóp được Người tuyển chọn!” (Tv 105:2-6).

Không tạ ơn sao được, vì “chính Đức Chúa là Thiên Chúa chúng ta, những điều Người quyết định là luật chung cho cả địa cầu. Giao ước lập ra, muôn đời Người nhớ mãi, nhớ lời đã cam kết đến ngàn thế hệ!” (Tv 105:7-8). Đó cũng chính là điều đã giao ước cùng Tổ phụ Ápraham, đã đoan thề cùng Isaac.

Thánh Gioan nói: “Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa – mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa. Sở dĩ thế gian không nhận biết chúng ta, là vì thế gian đã không biết Người” (1 Ga 3:1). Thánh nhân nói thêm: “Anh em thân mến, hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa; nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Đức Kitô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy” (1 Ga 3:2).

Đó là ngài nói về ngày cánh chung, ngày tận thế, ngày Chúa Giêsu giáng lâm. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể hiểu theo hiện tại, khi chúng ta đang sống trong Tuần Bát Nhật Giáng Sinh, được mãn nhãn khi chiêm ngưỡng Con-Thiên-Chúa-mặc-xác-phàm, hạnh phúc và bình an đang tràn ngập địa cầu.

Thánh Gioan nói một hơi dài: “Anh em thân mến, nếu lòng chúng ta không cáo tội chúng ta, chúng ta được mạnh dạn đến cùng Thiên Chúa. Và bất cứ điều gì chúng ta xin, chúng ta được Người ban cho, bởi vì chúng ta tuân giữ các điều răn của Người và làm những gì đẹp ý Người. Đây là điều răn của Người: chúng ta phải tin vào danh Đức Giêsu Kitô, Con của Người, và phải yêu thương nhau, theo điều răn Người đã ban cho chúng ta. Ai tuân giữ các điều răn của Thiên Chúa thì ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại trong người ấy. Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, đó là nhờ Thần Khí, Thần Khí Người đã ban cho chúng ta” (1 Ga 3:21-24). Có lẽ chúng ta đã quá quen với “luật yêu thương” của Chúa, thế nhưng nghe nhiều mà chẳng giữ bao nhiêu. Ngay cả những người thân trong gia đình mà chúng ta cũng chưa yêu thương đúng nghĩa. Buồn thật!

Thánh sử Luca kể: Hằng năm, cha mẹ Đức Giêsu trẩy hội đền Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua. Khi Người được mười hai tuổi, cả gia đình cùng lên đền, như người ta thường làm trong ngày lễ. Xong kỳ lễ, hai ông bà trở về, còn cậu bé Giêsu thì ở lại Giêrusalem, mà cha mẹ chẳng hay biết. Ông bà cứ tưởng là cậu về chung với đoàn lữ hành, nên sau một ngày đường, mới đi tìm kiếm giữa đám bà con và người quen thuộc. Không thấy con đâu, hai ông bà trở lại Giêrusalem mà tìm.

Người đông, đất rộng, đường xa, thế mà cha mẹ lại lạc mất Con Trẻ, thật là khổ! Lòng như lửa đốt, cha mẹ lại lội bộ ngược dòng người để tìm Con. Mà đâu phải gặp ngay, mãi sau ba ngày mới tìm thấy con trong Đền Thờ, đang ngồi giữa các thầy dạy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi. Mệt nhoài, nhưng cha mẹ vẫn có thể thở phào, vì “cậu ấm” đang đối chất với những người lớn hơn mình và giỏi hơn mình. Có lẽ lúc đó Cô Maria nói với Chú Giuse: “Anh ơi! Con mình giỏi thật!”. Chú Giuse vốn ít nói, chắc chỉ cười thôi!

Thật lạ, ai nghe cậu Giêsu nói cũng ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đối đáp sắc xảo của cậu. Khi thấy con, hai ông bà sửng sốt, và mẹ Người nói với Người: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!” (Lc 2:48). Đó lời trách yêu, cho thấy Đức Mẹ rất đau khổ khi phải xa Con, dù chỉ là một thoáng, huống chi đã ba ngày qua. Người đáp: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (Lc 2:49). Chắc hẳn hai người biết điều này, nhưng vì lạc mất Con, lo lắng quá mà quên thôi. Bản chất con người là thế, Chúa không trách mà chỉ nhắc nhở thôi.

Dù là cha mẹ của Chúa Giêsu, nhưng ông bà vẫn không hiểu lời Người vừa nói. Đúng thôi, vì cha mẹ là phàm nhân, còn Con là Thiên-Chúa-làm-người mà. Nói là nói vậy, nhưng sau đó, Người vẫn “đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Nadarét và hằng vâng phục các ngài” (Lc 2:51a). Con Thiên Chúa vẫn luôn tôn trọng, vâng lời và có hiếu với cha mẹ. Đó là Ngài đã làm gương cho chúng ta, chứng tỏ gia đình rất quan trọng đối với mọi người, không trừ bất kỳ ai, đồng thời nhắc nhở những người con phải giữ trọn chữ hiếu.

Có hai điều quan trọng: “Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. Còn Đức Giêsu ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta” (Lc 2:51b-52). Đức Mẹ luôn suy niệm, Chúa Giêsu càng khôn lớn càng kết hiệp thân mật với Thiên Chúa và được người đời yêu mến.

Mới đây, tại TP Đà Nẵng, chỉ vì mẹ la rầy mà một thanh niên 18 tuổi đã nhẫn tâm bóp cổ mẹ và đâm mẹ chết bằng mấy nhát dao oan nghiệt. Đọc báo, nghe đài, hoặc lướt web, chúng ta vẫn thường thấy có những nghịch tử đối xử tồi tệ với cha mẹ. Phải chăng đó là hậu quả của việc giáo dục không đề cao tôn ti trật tự trong gia đình, coi nhẹ gia phong lễ giáo? Ngày xưa, chương trình giáo dục có cho học bộ sách Nhị Thập Tứ Hiếu (24 Người Con Có Hiếu), ngày nay không thấy có.

Ai cũng đã và đang làm con, thế nên ai cũng có bổn phận làm con. Đó cũng là một trong Mười Điều Răn của Thiên Chúa: Thảo kính cha mẹ. Đã là giới răn thì không thể không thi hành, có vậy mới làm đẹp lòng Chúa. Bổn phận làm con không chỉ phải thực hiện đối với cha mẹ, mà còn phải đối với ông bà, người trên, người lớn tuổi.

Lạy Thiên Chúa, chúng con xin lỗi Chúa về những thiếu sót trong bổn phận làm con đối với Ngài, với ông bà và cha mẹ. Xin giúp chúng con biết noi gương Con Chúa thực hiện đầy đủ bổn phận hằng ngày đối với Thiên Chúa và đối với tha nhân. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

(*) Trong kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân, Đức Phật kể đến 10 công đức của mẹ đối với con:

1. Chín tháng cưu mang khó nhọc.
2. Sợ hãi, đau đớn khi sinh.
3. Nuôi con, đành cam cực khổ.
4. Nuốt cay, mớm ngọt cho con.
5. Chịu ướt, nhường ráo cho con.
6. Sú nước, nhai cơm cho con.
7. Vui giặt đồ dơ cho con.
8. Thương nhớ khi con xa nhà.
9. Có thể tạo tội vì con.
10. Nhịn đói cho con được no.

[về Mục Lục]

Bài 6. Con đường hạnh phúc

ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

Những tranh ảnh về Thánh Gia thường diễn tả một gia đình ấm êm hạnh phúc. Thánh Giuse làm thợ mộc trong nhà. Đức Mẹ ngồi may vá. Đức Giêsu phụ giúp Thánh Giuse. Phải chăng Thánh Gia luôn sống trong êm đềm thư thái, không hề biết đến khổ đau? Phải chăng cuộc sống gia đình thánh cứ phẳng lặng trôi như mặt nước mùa thu không gợn sóng gió? Không phải, trái lại Thánh Gia đã biết đến rất nhiều sóng gió, thử thách.

Còn thử thách nào lớn hơn cảnh nghèo. Vì nghèo mà biết bao gia đình sinh ra bất hoà, ấy thế mà Thánh Gia đã phải trải qua những kinh nghiệm đớn đau của kiếp nghèo. Bị xua đuổi, bị hất hủi đến nỗi phải trú ngụ trong chuồng bò lừa. Thê thảm hơn nữa, phải sinh con giữa bầy súc vật, không giường chiếu chăn màn.

Còn gì buồn hơn là bị thù ghét, bị săn đuổi? Thánh Gia sống hiền lành khiêm nhường, thế mà phải chịu đựng sự thù ghét của Hêrôđê. Vừa sinh ra, còn non nớt đã phải bồng bế nhau chạy trốn, xa quê hương đất nước.

Còn cảnh nào bi đát bằng cảnh vợ chồng hiểu lầm nhau? Thế mà Thánh Giuse đã hiểu lầm Đức Mẹ khi Đức Mẹ thụ thai bởi quyền phép Đức Chúa Thánh Thần. Ai đã trải qua cảnh nghi ngờ bị phản bội sẽ hiểu Thánh Giuse đã bị giày vò đau đớn đến mức nào.

Còn gì khiến cha mẹ buồn hơn khi thấy con cái không ngoan ngoãn vâng lời, bỏ nhà ra đi? Vậy mà Thánh Giuse và Đức Mẹ đã phải chứng kiến cảnh đứa con ngoan ngoãn của mình tự động ở lại Đền Thờ mà không xin phép cha mẹ. Các ngài vất vả lo âu tìm kiếm thì ít, nhưng buồn phiền đau khổ thì nhiều. Làm sao các ngài tránh khỏi buồn phiền khi nghĩ rằng người con mà các ngài rất mực yêu quý đã cãi lời cha mẹ?

Những sóng gió mà Thánh Gia đã phải đương đầu như thế có lẽ nhiều và nặng nề hơn những gia đình bình thường. Thế nhưng các ngài vẫn giữ được hạnh phúc gia đình. Nhờ bí quyết nào các ngài đã vượt qua được biết bao cơn sóng gió như thế?

Trước hết các ngài luôn tìm thánh ý Chúa. Mỗi khi gặp gian nan thử thách, các ngài không tìm ý riêng mình, cũng không tìm ý thích của người đời, nhưng luôn đi tìm ý Thiên Chúa. Tìm ý Chúa mạc khải trong Kinh Thánh, qua các biến cố xảy đến. Tâm sự với Chúa trong giờ cầu nguyện. Hỏi ý kiến Chúa nơi các vị đại diện.

Khi biết được thánh ý Chúa, các ngài lập tức mau mắn vâng lời. Đức Mẹ muốn giữ mình đồng trinh, nhưng khi biết ý Chúa muốn cho Người làm Mẹ Đấng Cứu Thế, Đức Mẹ liền thưa: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa, tôi xin vâng lời thiên sứ truyền”. Thánh Giuse đang muốn bỏ đi, nhưng khi biết ý Chúa muốn cho Người ở lại, Người đã vâng lời ngay không ngần ngại.

Sau cùng, các ngài luôn quên mình vì hạnh phúc của mọi người trong gia đình. Thánh Giuse tuy là gia trưởng, nhưng đã hết tình phục vụ Đức Mẹ và Đức Giêsu. Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, nhưng lại xưng mình là tôi tớ của Thiên Chúa. Còn Đức Giêsu là Thiên Chúa, nhưng lại trở thành người con bé nhỏ nhất trong gia đình.

Ngày nay, nhiều gia đình gặp khủng hoảng, lâm vào cảnh cơm chẳng lành canh chẳng ngọt, vì đã không biết áp dụng những bí quyết của Thánh Gia. Mỗi khi gặp khó khăn, thay vì cầu nguyện, đọc Phúc Âm để tìm ý Chúa thì lại đi tìm ý kiến ở những nơi mê tín dị đoan. Thay vì vâng lời Chúa qua các vị bề trên thì lại chỉ tìm ý riêng mình. Thay vì khiêm nhường quên mình thì lại kiêu ngạo tự ái, bắt người khác phải phục vụ mình.

Hôm nay, gia đình chúng ta hãy biết noi gương Thánh Gia: Bỏ ý riêng để tìm thánh ý Thiên Chúa; mau mắn vâng lời Chúa; và hạ mình khiêm nhường, quên mình để phục vụ người khác. Có như thế chúng ta mới hy vọng giữ được hạnh phúc gia đình, nhất là khi phải đối phó với những khó khăn ngày càng nhiều trong đời sống hiện nay.

Lạy Thánh Gia, xin nâng đỡ gia đình chúng con. Amen.

[về Mục Lục]

Bài 7. Gia đình mẫu mực cho mọi gia đình

Lm. Ignatiô Trần Ngà

Nếu có ai đặt câu hỏi: gia đình nào xứng đáng là mẫu mực cho mọi gia đình khác noi theo, thì câu trả lời không gì khác hơn là thánh gia thất Nadarét.

Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse đã cùng nhau xây nên một gia đình rất đẹp, rất thánh thiện và gương mẫu nhất đời.

Thành viên thứ nhất: thánh Giuse, người công chính

Là người công chính, thánh Giuse đã không hành động cách nông nổi điên cuồng như bao thanh niên khác khi thấy người bạn trăm năm của mình mang thai trước khi về chung sống. Ngài đã xử sự đầy bao dung, quảng đại và khôn ngoan. (Mt 1, 19)

Thánh Giuse là một người cha luôn mau mắn phục vụ gia đình không quản khó nhọc, không quản ngày đêm: “Đang đêm, sứ thần hiện ra cùng Giuse trong giấc mơ và bảo: “hãy đem Hài Nhi và Mẹ Người trốn sang Ai-cập”, thì thánh Giuse tức tốc thi hành (Mt 2, 13-14). Rồi sau khi đã an cư lạc nghiệp bên Ai-cập, sứ thần Chúa lại báo mộng cho ông rằng: “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người về đất Ít-ra-en”, thánh Giuse mau mắn thi hành không do dự. ( Mt 2, 19 # 21)

Thánh Giuse là người lao động cần cù để nuôi dưỡng gia đình. Ngài chuyên chăm làm nghề mộc đến nỗi nói đến bác thợ trong làng Nadarét thì người ta nghĩ ngay đến thánh Giuse. Khi người Nadarét gọi Chúa Giêsu là con bác thợ, ai chẳng biết bác thợ đó là thánh Giuse. ( Mt 13, 55).

Thành viên thứ hai: Mẹ Maria, một người Mẹ tuyệt vời

Một người Mẹ trổi vượt về khiêm nhường. Cho dù được sứ thần Gabrien gọi là “Đấng đầy ơn phúc” (Lc 1, 28), được bà Ê-li-sa-bét ca ngợi là người có phúc hơn mọi người nữ; (Lc 1, 42) thì Mẹ vẫn nhận mình chỉ là “nữ tì hèn mọn” (Lc 1, 48).

Một Người Mẹ đầy lòng yêu thương và phục vụ: khi vừa hay tin người chị họ cao niên được Chúa cho cưu mang con trai trong tuổi già, Mẹ tất tả lên đường tiến lên miền núi, tìm đến nhà bà Ê-li-sa-bét để chúc mừng và ở lại phục vụ người chị họ cao niên trong thời gian thai nghén và sinh nở ròng rã ba tháng trời.

Mẹ là người luôn quan tâm đến niềm vui và hạnh phúc người khác, thế nên khi dự tiệc cưới tại Ca-na, dù không phải là người nhà, Mẹ là người đầu tiên phát hiện tiệc cưới thiếu rượu và đã tìm cách chữa cháy cho sự việc nầy. (Ga 2, 3)

Là người Mẹ rất mực hiền lành, nên dù phải nôn nao, lo lắng, cực lòng tìm con suốt ba ngày ròng, khi gặp được con, Mẹ vẫn giữ được sự dịu dàng hiếm có: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!”

Thành viên thứ ba: Chúa Giêsu

Dù là Thiên Chúa Ngôi hai, Chúa Giêsu đã trở thành một người con hết lòng yêu thương và phục vụ cha mẹ trần thế. Trong ba mươi ba năm ngắn ngủi sống thân phận con người, Ngài đã bỏ ra đến ba mươi năm, tức 9/10 cuộc đời, để cùng với Mẹ Maria và thánh Giuse xây dựng gia đình Nadarét. Ngài đã đổ mồ hôi với công việc lao nhọc hằng ngày để nuôi dưỡng phục vụ Đức Mẹ và thánh Giuse cho đến tuổi ba mươi mới lên đường thi hành sứ mạng.

Dù là Thiên Chúa quyền năng nhập thể, nhưng Chúa Giêsu luôn tỏ ra là một người con hiếu thảo với cha mẹ trần gian. Thánh Luca tóm tắt cuộc sống tại gia của Ngài như sau: “Người hằng vâng phục cha mẹ… ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta” (Lc 2, 51-52)

Thiên Chúa đã thiết kế và xây dựng một ngôi nhà rất đẹp, rất ấm cúng và thánh thiện là gia đình Nagiarét. Thiên Chúa nhận thấy đây là một mẫu nhà đẹp nhất nên Ngài mời gọi chúng ta dựa trên mô hình đó để dựng xây gia đình mình y như vậy.

Xây dựng gia đình mình theo mẫu nhà Nadarét là mọi người trong gia đình phải đối xử với nhau như ba Đấng trong thánh gia nầy, cụ thể là chồng phải yêu thương và phục vụ vợ con như thánh Giuse đã yêu mến và phục vụ Đức Mẹ và Chúa Giêsu; người vợ phải yêu thương và săn sóc chồng như Mẹ Maria đã yêu mến và phục vụ thánh Giuse và Chúa Giêsu; cha mẹ phải yêu mến và chăm lo cho con cái như thánh Giuse và Mẹ Maria chăm lo phục vụ Chúa Giêsu; con cái trong gia đình phải hiếu kính mẹ cha, biết thờ cha kính mẹ, phụng dưỡng cha mẹ như Chúa Giêsu đã làm đối với Đức Mẹ và thánh Giuse.

Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II, trong tâm thư gửi các gia đình, nhắn nhủ: “Thiên Chúa đã tự đồng hoá với người cha, người mẹ, người con trong gia đình… Những gì mà các thành viên trong gia đình làm cho nhau là làm cho chính Chúa”.

Thế là phần thưởng đời đời sẽ được Chúa Giêsu ưu ái trao tặng cho các thành viên gia đình biết yêu thương phục vụ lẫn nhau.

Và thế là một phần thưởng vô cùng quý báu đang nằm trong tầm tay mọi người.

[về Mục Lục]

Bài 8. Những thánh gia Nagiarét thời đại mới

Lm. Ignatiô Trần Ngà

Có họ đạo nghèo ở vùng duyên hải miền Trung có tên gọi là Thánh Gia. Sở dĩ đặt tên như vậy là vì họ đạo nầy chọn Thánh Gia Nagiarét làm bổn mạng.

Phía bên hông nhà thờ họ đạo có một hang đá khá lớn, có bộ tượng hang đá bằng thạch cao to bằng tầm vóc người trưởng thành.

Hằng năm vào dịp lễ Thánh Gia, bổn mạng của giáo xứ, theo một truyền thống đã có từ lâu đời, sau khi lễ tan, các gia đình trong giáo xứ tập trung đông đảo chung quanh hang đá cầu nguyện với thánh gia thất và mỗi gia đình cử ra một vị đại diện tuần tự tiến lên theo hàng đôi đến trước bộ tượng hang đá, dâng lên Chúa Giêsu, Đức Mẹ và thánh Giu-se những bông hoa thắm tươi và thơm ngát để tỏ lòng tôn kính mến yêu của mình.

Thế rồi một biến cố đau lòng xảy ra trong dịp trước giáng sinh năm ấy, một nhóm trẻ tinh nghịch từ làng bên vì có thù hận với nhóm trẻ trong xóm đạo, đã kéo đến vào ban đêm đập phá bộ tượng hang đá vỡ ra nhiều mảnh.

Sự việc nầy khiến cho nhiều người hoang mang và bối rối!

Biết làm sao bây giờ, khi ngày lễ thánh gia đã gần kề? Tìm đâu ra bộ tượng ba Đấng mới thế vào bộ tượng đã bị phá tan? Nghi lễ dâng hoa cho ba Đấng vào mỗi dịp lễ Thánh Gia là một nghi lễ truyền thống đã được thực hiện xuyên suốt từ hơn trăm năm qua, không có năm nào bỏ qua, lẽ nào năm nay không tổ chức được?

Vì giáo dân trong xứ quá nghèo, Cha xứ và hội đồng mục vụ không thể huy động đủ tiền để đặt làm bộ tượng mới và dù có huy động đủ tiền cũng không thể đặt một bộ mới trong khi thời gian đã cận kề.

Trước tình thế đó, Cha Xứ có một sáng kiến táo bạo: Ngài cho mời đôi vợ chồng mới sinh đứa con trai đầu lòng được chừng tháng tuổi và mới được rửa tội mấy ngày trước, mặc y phục truyền thống thật chỉnh tề, đóng vai Đức Mẹ, thánh Giu-se và Chúa Giêsu thay cho bộ tượng hang đá bằng thạch cao đã bị hư hại. Ngài sắp xếp cho cặp vợ chồng quỳ bên trong hang đá, chầu hai bên đứa con thơ ở giữa họ và kêu mời đại diện các gia đình trong giáo xứ tiến lên theo hàng đôi dâng hoa cho ba vị nầy.

Sáng kiến nầy đã làm cho một số người trong họ đạo cảm thấy bị sốc. Họ cho rằng làm như vậy là quá đề cao gia đình người tín hữu và xúc phạm đến ba Đấng thánh.

Cha Sở cố gắng diễn giảng cho họ như sau:

Khi đề nghị gia đình anh chị Năm đóng vai Giu-se, Mẹ Maria và Chúa Giêsu thế chỗ cho bộ tượng ba Đấng bằng thạch cao bị hư, chúng ta không làm gì xúc phạm đến ba Đấng thánh, nhưng chúng ta xem gia đình anh chị Năm đây là hình ảnh rất trung thực và cao quý về Thánh Gia của Chúa Giêsu.

Lâu nay, chúng ta quen nhìn hình tượng ba Đấng bằng thạch cao, bằng xi măng hay bằng nhựa dẻo, và chưa quen nhìn hình tượng ba Đấng bằng xương bằng thịt có sự sống, có linh hồn, có lương tri, có trí tuệ như anh chị Năm đây, nên chúng ta cảm thấy bị sốc.

Nhưng xin quý ông bà hiểu điều nầy:

Thứ nhất: mỗi một người tín hữu đều có phẩm giá rất cao và được gọi là thánh. Thánh Phaolô gọi các tín hữu thuộc các giáo đoàn (nay gọi là giáo xứ) là thánh. Họ được hiến thánh nhờ bí tích thánh tẩy. Nhờ bí tích nầy họ trở thành chi thể, thành thân mình Chúa Giêsu.

Thánh Phaolô nói: “Nào Anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Đức Kitô sao?” (1Cr 6,15)

Ngoài ra, các tín hữu còn được Chúa Giêsu cho trở nên cùng một xương thịt với Người, được thông dự vào sự sống của Thiên Chúa, được thông phần bản tính Thiên Chúa nhờ đón nhận bí tích Thánh Thể.

Như vậy, không có một sản phẩm nào do tay người phàm làm ra dù bằng thạch cao, bằng gỗ, bằng đá hay bằng kim loại quý như bạc như vàng… xứng đáng được chọn làm hình ảnh của Chúa Giêsu, của Mẹ Maria, của thánh Giu-se cho bằng chính mỗi người Kitô hữu chúng ta.

Thứ hai: Hội Thánh công giáo xưa nay vẫn nhìn nhận gia đình của Kitô hữu là gia đình thánh nên Giáo Hội quen gọi đó là những hội thánh tại gia.

Chúa Giêsu còn lập bí tích hôn nhân để thánh hiến đời sống vợ chồng. Thế nên không gì thích hợp cho bằng chọn gia đình Kitô hữu làm biểu tượng cho thánh gia Nagiarét.

Sau khi hiểu được những điều cha xứ giải thích, mọi người vui vẻ dâng những đoá hoa thật đẹp thật tươi cho anh chị Năm được cử đóng vai thánh gia Nagiarét.

Rồi qua những năm sau, nhiều người trong giáo xứ đều thấy thật là thích hợp và đầy ý nghĩa khi chọn một gia đình công giáo trong họ đạo đóng vai thánh gia Nagiarét thay vì dùng bộ tượng thạch cao, nên cộng đồng giáo xứ thoả thuận với nhau rằng: đôi vợ chồng nào mới sinh con và được rửa tội sớm nhất trong tháng 12 dương lịch thì sẽ được chọn đóng vai thánh Giu-se, Đức Mẹ và Chúa Giêsu để cho giáo dân kính viếng. Và cũng từ lúc đó, thay vì dâng hoa cho ba Đấng như trước đây, người ta dâng cho em bé trong vai Giêsu những hộp sữa; dâng cho người mẹ trong vai Maria những cuộn chỉ, những chiếc kim, chiếc kéo; dâng cho người cha trong vai Giu-se những dụng cụ làm việc nho nhỏ như những chiếc kìm, chiếc búa, cái đục, cái bào…

Từ sự kiện nầy, các gia đình tín hữu trong xứ đạo đều ý thức mình là những thánh gia Nagiarét thời mới. Các đôi vợ chồng trong các gia đình luôn trân trọng và yêu quý nhau như tương quan giữa Mẹ Maria và thánh Giu-se. Cha mẹ biết chăm lo giáo dục con cái như Mẹ Maria và thánh Giu-se đã thực hiện với Chúa Giêsu năm xưa. Con cái luôn vâng phục và thảo hiếu với mẹ cha như Chúa Giêsu đã làm đối với thánh Giu-se và Đức Mẹ. Niềm vui, hạnh phúc và đời sống thánh thiện chan hoà trong các gia đình.

Ngoài ra, tương quan giữa các gia đình trong giáo xứ được cải thiện đáng kể vì ai nấy đều biết tôn trọng những gia đình khác vì xác tín rằng đó thực sự là những thánh gia.

[về Mục Lục]

Bài 9. Thánh gia, gương sáng của tin yêu

Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền

Lần giở lại những trang đầu của sách Sáng Thế Ký, chúng ta thấy gia đình đầu tiên của nhân loại đã được Chúa chúc phúc. Họ đã có những ngày tháng thật hạnh phúc bên nhau và bên Chúa. Giữa Thiên Chúa và con người không có khoảng cách, chỉ có tình thân hữu thật thơ mộng mà Thánh kinh đã diễn tả: “chiều chiều Thiên Chúa tản bộ đi cùng con người trong vườn địa đàng”. Thế nhưng gia đình đó đã bị rạn nức và bị đổ vỡ. Nguyên do của sự đổ vỡ chính là họ chối từ Thiên Chúa, hành vi Adam – Eve giơ tay lên hái trái cấm là hành vi nói lên con người muốn gạt Thiên Chúa ra bên ngoài, muốn loại trừ Thiên Chúa nên con người cũng loại trừ và kết án lẫn nhau. Adam đã kết án vợ mình: “Tại người đàn bà này mà tôi đã ăn trái cấm”. Hậu quả của việc bất tuân phục Thiên Chúa là đau khổ và sự chết đã đi vào trần gian.

Nhưng, cho dù con người có ngàn lần phản nghịch, Chúa vẫn yêu thương con người, Chúa vẫn tìm đến để cứu chuộc con người và phục hồi lại giá trị của hạnh phúc gia đình thuở ban đầu. Thiên Chúa đã mang xác phàm để ở giữa chúng ta. Ngài đã sinh ra trong một gia đình, lớn lên trong một gia đình, và chính Ngài đã thánh hoá gia đình đó trở thành gia đình thánh, mẫu gương cho các gia đình noi theo. Đó là một gia đình luôn biết tuân phục Thiên Chúa, luôn phó thác cậy trông vào Chúa. Gia đình đó có thánh Giuse đã vì Chúa mà đón nhận Maria về làm bạn mình, đã vì Chúa mà lận đận vượt trăm ngàn nguy khó để bảo vệ sự sống cho hài nhi và bảo vệ hạnh phúc gia đình. Gia đình đó có Đức Maria, một người Mẹ của cầu nguyện và hy sinh. Mẹ đã phó thác hoàn toàn cho thiên ý nhiệm mầu của Thiên Chúa. Mẹ đã tận hiến đời mình như một nữ tỳ nhỏ bé để phụng sự Thiên Chúa. Gia đình đó còn có Chúa Giê-su, một người con hằng yêu mến cha mẹ, càng lớn càng khôn ngoan, hằng đẹp lòng Thiên Chúa và người ta.

Và cho đến hôm nay, mỗi khi chúng ta thấy có những người cha, người mẹ biết sống tôn thờ Thiên Chúa là họ đang để cho Chúa canh tân, gìn giữ gia đình. Họ đang vui với phận mình trong niềm tín thác vào sự quan phòng của Chúa. Họ có thể nghèo khó nhưng tấm lòng họ lại thanh thoát, không gian tham của người. Họ có thể lam lũ, một nắng hai sương nhưng tấm lòng họ lại thanh cao như đóa sen “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Họ vì Chúa mà đón nhận nhau trong yêu thương tha thứ, không chỉ một lần mà trải rộng mọi ngày cho đến suốt cuộc đời. Họ là những gia đình thánh gia cho thời đại hôm nay. Họ vẫn tiếp tục nêu gương sáng trong bổn phận, trong đời sống thanh cao và giầu lòng quảng đại.

Song le, giữa giòng đời hôm nay vẫn còn đó những người chồng, người cha đang bê tha rượu chè, đang ngoại tình lang chạ, đang đánh mất niềm tin với Thiên Chúa nên cũng bỏ bê gia đình. Giữa giòng đời hôm nay vẫn còn đó những người vợ đang bất tín, bất trung, đang thiếu trách nhiệm và hy sinh cho gia đình, vì họ không còn niềm tin nơi Chúa nên cũng chẳng còn hy sinh cho nhau. Giữa giòng đời hôm nay, vẫn còn đó những người con đang lao vào những danh lợi thú trần gian mà lãng quên tình Chúa nên cũng xem thường tình cha, nghĩa mẹ.

Thực vậy, nếu trong cuộc đời này không còn ai tin tưởng vào Thiên Chúa, không còn ai tin vào đời sau, có lẽ sẽ chẳng còn ai dám hy sinh cho gia đình, hy sinh cho tha nhân. Không có đời sau thì người ta sẽ sống vì mình, vì hạnh phúc của mình, vì đam mê của mình mà chà đạp người khác và thiếu trách nhiệm với tha nhân.

Nguyện xin Thánh gia nâng các gia đình đang gặp những khó khăn thử thách. Xin cho các gia đình công giáo biết noi gương thánh gia để sống hy sinh cho nhau và cùng nhau xây dựng và bảo vệ hạnh phúc gia đình. Amen.

[về Mục Lục]

Bài 10. Bí Quyết Gia Đình Hạnh Phúc

AM Trần Bình An GC

Một đôi vợ chồng người Anh sống ở Herefort đã được nhận giấy chứng nhận từ sách Guinness thế giới về hôn nhân bền vững nhất thế giới. Đó là cụ ông Percy 105 tuổi và cụ bà Florence Arrowsmith 100 tuổi.

Vào ngày 1/6/2005, hai cụ kỷ niệm 80 năm ngày cưới. Cụ bà Arrowsmith hóm hỉnh nói: “Chúng tôi rất hạnh phúc khi gắn bó với nhau suốt 80 năm. Điều quan trọng nhất đến giờ chúng tôi vẫn yêu nhau… Từ năm 1925 đến nay, tôi cảm thấy thất vọng, nếu ngày nào ổng không nói với tôi những lời âu yếm.”

Trả lời về bí quyết hôn nhân bền vững của mình, cụ bà Arrowsmith cho biết: “Chúng tôi ít khi cãi nhau, đôi bên không bao giờ ngại nói lời xin lỗi” (Theo BBC & Telegraph).

Tình yêu và sự tôn trọng đã nuôi dưỡng đời sống hôn nhân mỹ mãn của ông bà Percy và Arrowsmith. Hôm nay chúng ta mừng lễ Thánh Gia, trình thuật Tin Mừng Luca phác họa đầy đủ chân dung Gia Đình Thánh còn đằm thắm, chứa chan hạnh phúc hơn nữa.

Chia sẻ & Hiệp Nhất

Theo Luật Do Thái, mỗi năm phải đi hành hương Đến Thánh ba lần, Thánh Gia cũng đã tuân thủ giữ điều này thật nghiêm chỉnh. Khi Chúa Giêsu lên mười hai tuổi, tức là tuổi trưởng thành về mặt tôn giáo theo Do Thái giáo, Người cùng theo Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse lên Đền, như người ta thường làm trong ngày lễ.

Hình ảnh đó nêu lên sự hiệp nhất thân mật trong gia đình, cùng nhau khuyến khích chia sẻ việc đạo, cùng nhau vâng phục và tuân giữ lề luật, và nhất là cùng nhau sốt sáng thờ phượng Thiên Chúa, tôn kính, ngợi khen và cảm tạ.

Yêu thương & Trung tín

Hồn nhiên và hiếu động, Cậu Giêsu tung tăng trong đoàn lữ hành, khiến hai ông bà Thánh Gia, vốn luôn tin cậy nhau, cứ đinh ninh nghĩ Cậu Giêsu đi cùng với đám bà con, hay người quen thuộc. Nên sau một ngày đường, ông bà mới biết lạc mất người con yêu dấu. Tình mẫu tử và phụ tử đã dẩn hai ông bà trở lại Đền Thánh Giêrusalem.

Lo lắng, đôn đáo tìm kiếm, ba ngày sau ông bà mới tìm thấy Cậu Giêsu đang ngồi thảo luận, đối thoại về đạo lý cùng các thầy kinh sư, tại tiền đình trong khuôn viên Đền Thờ. Một hình thức giảng dạy rất gần gũi, bình dân, thân thiện và hiệu quả, mà sau này Người vẫn áp dụng khi đi rao giảng Tin Mừng.

Tình yêu và lòng trung tín là điều kiện tiên quyết xây dựng và củng cố gia đình vững chãi, an vui và hạnh phúc. Đức Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse đã thể hiện lòng yêu thương vô bờ bến với Chúa Giêsu, qua tinh thần trách nhiệm, sự trìu mến, cùng quan tâm, chăm sóc. Thánh Gia hạnh phúc vì luôn có Chúa ở cùng.

Vâng theo Thánh Ý Chúa

Mẹ Maria sửng sốt khi tìm thấy Cậu Giêsu. Mẹ không hề bực bội, nóng giận, hay buồn phiền, la mắng, mà chỉ nhẹ nhàng thắc mắc về hành động bất ngờ của con: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!” Người đáp: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (Lc 2, 48 – 49).

Nhân dịp này, Chúa Giêsu đã mặc khải thiên tính của Người trước Mẹ Maria, Thánh Cả Giuse và các thầy kinh sư. Người đặt mối quan hệ với Đức Chúa Cha bên trên mối quan hệ gia đình. Người vâng theo Thánh Ý Chúa, để rao giảng Tin Mừng.

Sau này Người còn giải thích rõ ràng về mới quan hệ đặc biệt ưu tiên này: “Phải, ai làm theo ý Cha Ta trên trời người ấy là anh em, chị em và là mẹ Ta vậy” (Mt 12. 50) Và “Mẹ Ta và anh em Ta là những ai nghe và thực hành Lời Thiên Chúa” (Lc 8. 21).

Theo như Thánh Gia, một gia đình bình an và hạnh phúc là gia đình có Chúa luôn hiện diện từng giây phút. Cùng nhau hiệp thông thờ phượng và vâng phục Thánh Ý Thiên Chúa, cùng nhau hiệp nhất và chia sẻ mọi sự. Cùng nhau yêu thương và trung tín trong mọi lúc và trong mọi hoàn cảnh.

Gia đình Công giáo làm tông đồ bằng “chứng tích”. Phải chứng minh rằng các con được gọi nên thánh và các con có thể sống một đời hôn nhân đẹp lòng Chúa. Các con chia sẻ với các gia đình khác: ân sủng, hạnh phúc, Chúa đã ban cho gia đình các con.

Nhìn vào gia đình các con, thiên hạ phải đặt câu hỏi: “Tại sao họ có thể sống hiệp nhất, yêu thương, trung thành với nhau như thế?” (Đường Hy Vọng, 501)

Lạy Cha yêu quý, xin hãy giúp chúng con biến đổi gia đình chúng con thành một Nazareth khác, nơi mà tình yêu, bình an và niềm vui ngự trị. Xin cho gia đình con biết suy niệm nhiều, biết yêu quý Thánh Thể, và rạng rỡ niềm vui.

Xin giúp chúng con sống chung với nhau, trong lúc vui cũng như lúc buồn qua việc cầu nguyện chung.

Xin dạy chúng con nhận biết Chúa Giêsu hiện diện trong mỗi người chúng con, nhất là trong sự đau khổ được ẩn giấu của Ngài.

Xin Thánh Thể Thánh Tâm của Chúa Giêsu biến đổi tâm hồn chúng con nên hiền từ và khiêm tốn như tâm hồn Ngài và giúp chúng con gánh vác trách nhiệm gia đình trong phương cách thánh thiện.

Xin giúp chúng con yêu thương nhau như Thiên Chúa yêu thương chúng con mỗi ngày một hơn; và tha thứ lỗi lầm của nhau như Chúa tha tội cho chúng con.

Xin Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria, là nguồn vui của chúng con, cầu cho chúng con. Xin Thánh Giuse cầu cho chúng con. Xin Thiên Thần Bản mệnh hãy ở với chúng con, xin hướng dẫn và bảo vệ chúng con. Amen (Mẹ Têrêsa Calcutta)

[về Mục Lục]

Bài 11. VÂNG PHỤC CÁC NGÀI

P. Trần Đình Phan Tiến

Lễ Thánh Gia là lễ của lòng khiêm nhường , của sự vâng phục. Vâng! Thật thế! Thiên Chúa muốn giáo huấn con người bằng sự khiêm nhường, nên Ngài đã sai Con Một đến trần gian. Một sự khiêm nhường đáng giá, muốn nhận lấy sự hữu hình, sống kiếp phàm nhân, Đấng cứu thế hoàn toàn vâng phục Thiên Chúa Cha, mặc lấy thân xác hữu hình, Người phải có cha me. Và hôm nay, kinh Thánh thuật lại việc Chúa Giêsu cùng Mẹ Maria Và Thánh cả Giuse lên Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua.

Câu chuyện diễn ra cũng hết sức bình dị, gồm có 3 phần: phần I) Thánh gia đi lên Thành Thánh dự lễ và Chúa Giêsu ở lại trong Đền thờ. Phần II) Đức Mẹ và Thánh Cả Giuse gặp lại Chúa Giêsu sau ba ngày tìm kiếm.Phần III) Chúa Giêsu cùng cha mẹ trở về và hằng vâng phục các ngài cho đến lớn trong ân nghĩa Thiên Chúa và được lòng mọi người.

Như vậy, đoạn Tin Mừng (Lc 2,41-52) hôm nay cho thấy trình thuật của câu chuyện mang tính gia đình, nhưng gia đình của một Vị Thiên Chúa làm Người, được gọi là Thánh Gia.

Vâng! Thánh gia là một gia đình Thánh, một gia đình gương mẫu cho tất cả mọi gia đình. Chúng ta thấy sự hữu hình làm Người của Con Thiên Chúa có những điểm khác biệt trong những điểm bình dị.

Đó là việc đi mừng lễ là việc bình thường của một người như bao người khác, để thể hiện sự phụng thờ Thiên Chúa là Cha, Đấng toàn năng. Nhưng đó là chu toàn phần nhân tính của Chúa Giêsu, còn phần Thiên tính của Người thì vượt xa tất cả, bởi vì Người là Thiên Chúa, việc Người tranh luận trong đền thờ giữa các người luật sĩ minh chứng cho thấy điều ấy, vì một cậu bé mới mười hai tuổi, làm sao có thể hiểu được những mầu nhiệm về chân lý, trong khi đó những người kinh sư là thầy dạy về kinh thánh, về tuổi tác và kinh nghiệm thì chắc chắn hơn hẳn cậu bé mười hai tuổi, như ngày nay người ta thường nói, đó là thần đồng. Vâng! Chúa Giêsu chính là thần đồng về kinh thánh, bởi vì Người là Thiên Chúa.

Nhưng khi chứng kiến sự kinh ngạc nầy, Đức Mẹ đã lấy làm sửng sốt, nhưng Mẹ đã hiểu ngay và nhận ra những điều kỳ diệu nơi Chúa Giêsu là Thiên Chúa và đồng thời là Con của Mẹ.

Tuy vậy, nhưng khi bị lạc Con, Đức Mẹ rất đau xót, Đức Mẹ không dửng dưng, không bỏ mặc, mà Đức Mẹ cùng Thánh Giuse đã trở lại tìm kiếm Chúa Giêsu. Chúng ta thấy ở điểm nầy là tình mẫu tử thiêng liêng cao quý, nhân tính biểu lộ nơi Thánh gia, dẫu Đức Mẹ biết Người là Con Thiên Chúa đấy, nhưng bằng nhân tính nơi Đức Mẹ, Đức Mẹ cũng hết sức bảo bọc và chu toàn cho Đấng làm Người.Nhưng điểm quan trong ở đây là sự vâng phục, Thiên Chúa đã hạ mình xuống để vâng phục con người, nên chi, những người được chọn cũng phải biết vâng phục Thiên Chúa. Đoạn Tin Mừng hơm nay, tuy lời văn diễn đạt rất bình dị, nhưng ý nghĩa thần học rất sâu sắc. Đó là sự vâng phục, vâng phục trong những biến cố nhỏ nhất trong cuộc đời nhân thế của Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa làm Người. Vâng! Nếu như không có sự vâng phục đó, thì sẽ đảo lộn vai trò Cứu Thế của Thiên Chúa. Chúng ta thử tưởng tượng xem, nếu Chúa Giêsu khong vâng phục Thiên Ý, thì Người không xuống thế làm Người. Khi Người ở lại trong đền thờ, thì sau đó Người cũng có thể bay về mà không cần Cha mẹ tìm kiếm.Nhưng Chúa Giêsu không phải là tề thiên, Người đã vâng phục các ngài… Còn Người ngày càng khôn lớn trong ân sũng Thiên chúa trước mặt mọi người (c 51-52).

Lạy Chúa Giêsu, Chúa hằng vâng phục Thiên Chúa trong mầu nhiệm làm Người, và như tếh Chúa đã vâng phục Đức Mẹ và Thánh Giuse trong mọi trường hợp. Xin ban cho chúng con noi theo đức khiêm nhường đích thực trong mọi hoàn cảnh mà vâng theo Thánh ý Chúa trong mọi sự. Amen./.

[về Mục Lục]

Bài 12. MẪU GƯƠNG SÁNG NGỜI

Lm Giuse Đinh lập Liễm

A. DẪN NHẬP

Hằng năm, lễ Thánh gia được tổ chức vào Chúa nhật sau lễ Giáng sinh để nêu lên một tấm gương sáng chói cho các gia đình noi theo. Sách Tin mừng thuật lại rất ít sự kiện có liên quan đến lễ này. Tuy nhiên, chúng ta cũng gặp thấy những gương nhân đức của từng thành phần trong gia đình thánh gia như : các nhân đức âm thầm của Đức Maria, đức tin phó thác của thánh Giuse và sự vâng phục của Đức Giêsu.

Đấy là những mẫu gương sán lạn, những bài học quí giá cho chúng ta. Nếu mỗi thành phần trong gia đình thực hành được những nhân đức ấy thì gia đình sẽ trở nên một cộng đoàn yêu thương, sống đùm bọc lẫn nhau, trong cảnh trên thuận dưới hòa, trong ấm ngoài êm.

Ngày nay các gia đình trên thế giới nói chung, và gia đình Công giáo nói riêng, đang trên đã xuống dốc: ly dị lan tràn khắp nơi, gia đình tan vỡ ly tán, gây ra cho xã hội biết bao cảnh thương tâm. Nếu mỗi thành phần trong gia đình biết noi gương Thánh gia mà xây dựng gia đình, cố gắng trung thành thi hành nhiệm vụ của mình một cách hoàn hảo thì gia đình sẽ thành một cộng đoàn hạnh phúc, một “Giáo hội tại gia” đúng nghĩa.

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

+ Bài đọc 1 : Hc 3,3-7.14-17a.

Sách Huấn ca hôm nay dạy con cái phải thảo kính cha mẹ. Thảo kính cha mẹ không phải chỉ là một tình cảm tự nhiên mà còn là ý muốn của Thiên Chúa: “Thứ bốn thảo kính cha mẹ”. Việc thảo kính cha mẹ sẽ đem lại nhiều ơn ích:

– Đền bù các tội lỗi đã phạm.

– Khi cầu xin, sẽ được Thiên Chúa nhận lời.

– Nếu ai hiếu thảo với cha mẹ thì sau này sẽ dược con cháu thảo hiếu lại vì như người ta nói: “sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đấy”.

+ Bài đọc 2: Cl 3,12-21.

Trong thư mục vụ gửi cho tín hữu Colossê và Eâphêsô, thánh Phaolô rất chú trọng đến đời sống gia đình. Theo đó, trong đời sống gia đình phải có những đức tính như: từ bi, nhân hậu, khiêm cung, ôn hòa, chịu đựng lẫn nhau và tha thứ cho nhau.

Trong các đức tính ấy, thánh Phaolô đặc biệt chú trọng đến việc tha thứ. Ngài khuyên: “Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em hãy tha thứ cho nhau”. Nhưng muốn thực hiện được các đức tính trên, cần phải có một nhân đức nền tảng: đó là đức bác ái yêu thương.

+ Bài Tin mừng: Lc 2,41-52.

Theo lối giải thích của các thầy rabbi thì dường như luật buộc phải đi hành hương Giêrusalem mừng lễ Vượt qua hằng năm chỉ bắt đầu áp dụng lúc 13 tuổi và chỉ bắt buộc các nam nhân. Lễ Vượt qua kéo dài 7 ngày, nhưng luật buộc chỉ phải dự 3 ngày đầu thôi. Tuy thế, Đức Maria và thánh Giuse tham dự cho đến cuối: “Khi lễ đã chấm dứt…”. Như vậy, Thánh gia đã giữ luật rất chín chắn hơn cả mức đòi hỏi của luật.

Sau kỳ lễ chấm dứt, các Ngài ra về nhưng Đức Giêsu còn ở lại Giêrusalem. Sau ba ngày đi tìm Đức Giêsu thì cha mẹ Ngài mới tìm thấy Con và các ngài hết sức bỡ ngỡ khi thấy Con mình đàng ngồi đàm đạo với các tiến sĩ luật. Được hỏi lý do thì Đức Giêsu chỉ trả lời với cha mẹ : “Con có bổn phận ở nhà của Cha Con”. Câu trả lời như thế khiến hai ông bà chưa hiểu hết ý nghĩa của nó.

Dù là người con ngoan, vào lúc 12 tuổi, Đức Giêsu đã làm một cuộc “thoát ly gia đình” để ưu tiên sống cho một Đấng mà Ngài gọi là “Cha” bằng một giọng thân thương nhất. Qua thái độ và lời nói này, Đức Giêsu muốn chuẩn bị cho cha mẹ Ngài biết và chấp nhận rằng Ngài còn có bổn phận đối với Chúa Cha. Tuy thế, Ngài luôn là người con có hiếu với cha mẹ : “Sau đó, Ngài cùng cha mẹ trở về Nazareth và hằng vâng phục các Ngài” (Lc 2,52).

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA

Xây dựng gia đình hạnh phúc.

I. LÝ DO CỦA NGÀY LỄ THÁNH GIA

Phong trào “gia đình Công giáo” đã có từ thế kỷ 16, nhưng đến cuối thế kỷ 19, Đức Giáo hoàng Lêô XIII cổ vũ mạnh và đặt ra “Lễ Thánh Gia” nhằm thúc giục mọi người theo gương thánh gia thất mà sống trên thuận dưới hòa để tạo lập những gia đình hạnh phúc.

Năm 1994 Liên hiệp quốc cũng như Giáo hội chọn làm năm quốc tế về gia đình. Gia đình đang gặp cơn khủng hoảng, đang trên đà xuống dốc một cách trầm trọng. Gia đình là nền tảng của xã hội, mà nền tảng hư hỏng thì xã hội cũng sụp đổ.

Do đó, Giáo hội muốn cho ta tổ chức lễ kính Thánh gia là để đề cao vai trò của gia đình và đưa ra mật mẫu gương tuyệt vời cho mọi người bắt chước, hầu củng cố lại gia đình và giúp cho xã hội thêm vững chắc.

II. SỰ QUAN TRỌNG CỦA GIA ĐÌNH

Chúng ta thấy mối liên hệ giữa gia đình và Hội thánh rất sâu sắc và nhiều đến nỗi có thể gọi gia đình công giáo là “Giáo hội tại gia” (Lumen gentium, số 11). Vì thế, công đồng Vatican II nói : “Sự lành mạnh của con người cũng như của xã hội tự nhiên và Kitô giáo liên kết chặt chẽ với tình trạng tốt đẹp của cộng đoàn hôn nhân và gia đình” (MV số 47).

Trong tông huấn về gia đình “Familiaris Consortio”, Đức giáo hoàng Gioan-Phaolô II đã khẳng định:”Gia đình là “trường học đầu tiên” dạy các đức tính xã hội mà không đoàn thể nào khác có thể vượt qua” (Gđ số 3).

III. PHÂN NHIỆM TRONG GIA ĐÌNH

1. Gia đình Thánh gia

Nhìn vào gia đình Thánh gia, theo bài Tin mừng hôm nay, ta thấy Đức Maria và Đức Giêsu không làm gì cả. Nói đúng ra, hai Đấng không làm gì khác ngoài việc làm theo sự chỉ đạo của thánh Giuse; còn thánh Giuse thì không làm gì khác ngoài việc làm theo sứ thần Thiên Chúa. Đúng như người ta nói : “Kim chỉ phải có đầu” (Tục ngữ).

Có sự thuận ý từ trên xuống : Thiên Chúa điều khiển thánh Giuse, thánh Giuse lại điều khiển Đức Maria và Đức Giêsu mà không có điều gì trục trặc, các ngài đã thực hiện chữ thuận vì người ta thường nói :

Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn” (Tục ngữ).

Theo đó, các Ngài đã thuận vợ, thuận chồng và cả con cũng thuận nữa. Tất cả đều hài hòa để qui hướng về một mối là “Thuận Thiên”như người ta nói : “Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong”, nhờ đó, gia đình có thể vượt qua được mọi sự khó khăn chủ quan cũng như khách quan.

2. Gia đình chúng ta

Gia đình Thánh gia là một mô hình tuyệt vời trong sự phân công các thành viên trong gia đình cho có lớp lang thứ tự, hợp tình hợp lý để tạo nên sự hài hòa trong các thành phần.

Trong việc giáo dục gia đình, Đức Khổng Tử đã đưa ra một công thức giáo dục rất hay, đó là : quân, thần, phụ, tử, nghĩa là vua phải sống cho ra vua, tôi phải sống ra tôi, cha phải sống xứng với vai trò của cha, và con phải sống theo bậc làm con; bậc nào phải sống theo bậc ấy, đừng bao giờ đảo lộn. Trong gia đình có ba cấp thành viên : cha, mẹ và con cái. Chúng ta sẽ phân tích từng thành viên.

a) Người cha trong gia đình.

Người ta nói : Kim chỉ phải có đầu. Vậy ai nên làm chủ gia đình ? Đương nhiên là người cha và người mẹ là hai vai trò quan trọng nhất. Còn nếu so sánh người cha với người mẹ thì có lẽ vai trò người cha quan trọng hơn vì người cha đồng thời cũng là người chồng; và theo thánh Phaolô thì “Người chồng là đầu của người vợ cũng như Đức Kitô là đầu của Hội thánh”(Ep 5,23). Tại sao vậy ? Vì người cha có khả năng tốt hơn, có cái nhìn bao quát hơn, cả trong gia đình lẫn ngoài xã hội, có uy tín hơn để hướng dẫn các con. Gia đình nào có người cha tốt thì hầu như mọi sự trong nhà đều dễ trở nên tốt, vì người cha là cột trụ cho cả nhà dựa vào, là vị chỉ huy điều khiển mọi người, là người cầm lái đưa cả gia đình theo một hướng. Nếu ngược lại, thì người ta bảo : “nhà dột từ nóc”, gia đình bị hư hỏng từ đầu : “cá thối từ đầu” (Piscis a capite vivit et a capite faetet”. Hậu quả sẽ xẩy ra như người ta nói :

Người trên ở chẳng chính ngôi,
Làm cho kẻ dưới chúng tôi hỗn hào.
(Ca dao)

Nói thế không phải là một mình người cha điều khiển gia đình, vẫn có sự tham gia của người mẹ một cách rất nhẹ nhàng mà người ta không ngờ. Đôi lúc vì người cha thiếu khả năng nên người mẹ đã lấn át vai trò của người cha.

Truyện vui : Hư danh

Con chạy về hỏi cha :

– Ba ơi, Ba giảng cho con thế nào là “hư danh”.

Người cha trả lời :

– Hư danh hả ? Ví dụ như má con giới thiệu Ba là chủ gia đình !!!

Hoặc truyện khác :

Đôi tân hôn chưa sống với nhau được bao lâu, người chồng hiền lành, điệu bộ có vẻ cù lần, nhưng vợ tinh anh sắc xảo, cần phải có tác phong bảo vệ quyền bính, nhất là con nhà có đạo phải dựa vào Kinh Bổn mới có nền tảng vững chắc, kẻo người nội trợ lấn át quyền gia trưởng.

– Thứ nhất dựa vào Kinh :

Một hôm gặp cơ hội bị chị vợ lấn át, anh ta mới dõng dạc tuyên bố : Mày phải biết ngày chịu phép Hôn phối, cha giảng : chồng là gia trưởng, là chủ , chồng giữ địa vị thánh Giuse trong nhà Nazareth. Mày không nhớ trong kinh cầu ông thánh Giuse : thánh Giuse làm đầu thánh gia. Thế tao là đầu trong nhà, thay địa vị thánh Giuse, mày phải nhận điều đó mới được.

– Thứ hai, sách Bổn dạy làm sao ?

Sách bổn dạy : “Cha mẹ phải săn sóc con cái, chồng phải coi sóc vợ, chúa nhà phải coi sóc đầy tớ : bấy nhiêu “Đấng ấy” phải coi sóc kẻ thuộc về mình, hầu bằng cha mẹ phải săn sóc con cái vậy, chả gì tao cũng vào số “các đấng”. Đừng có mà khinh tao”.

(Nguyễn duy Phượng, Thực chuộng vâng phục, 1969, tr 241-242)

b) Người mẹ trong gia đình

Thiên Chúa đã dựng nên người nam nữ có bản chất riêng, khác nhau mà không dẫm chân lên nhau. Dường như trong gia đình đã vốn sẵn có một sự phân nhiệm tự nhiên cho hai người :

– Nếu người chồng là rường cột chống đỡ gia đình, thì người vợ là sợi dây thân ái ràng buộc mọi người trong yêu thương hạnh phúc.

– Nếu người chồng là người đứng mũi chịu sào, đặt kế hoạch, tạo điều kiện kinh tế cho gia đình, thì người vợ lại là người quản lý tốt, quán xuyến sắp xếp mọi công việc trong nhà và bảo vệ tổ ấm gia đình hơn mọi người khác.

– Nếu người chồng là lý trí, là khối óc sáng suốt để chỉ huy, hướng dẫn gia đình như một ông thuyền trưởng chỉ huy con tầu, thì người vợ chính là người tài công khéo léo điều động con tầu đến mục tiêu đã định.

– Nếu người chồng là biểu tượng của quyền uy, nghiêm nghị và cứng cỏi, là khuôn mẫu, là kỷ luật, thì người vợ là sự dịu dàng, mềm mỏng cởi mở để con cái được thoải mái, dễ chịu trong khuôn khổ gia đình.

– Và sau cùng, nếu cần phải đối phó với một xã hội, một cuộc sống đa đoan, phức tạp, muôn mặt, khi sự cứng rắn và sức mạnh của người chồng không đủ đáp ứng, thì đã có sự khôn ngoan, tế nhị, mềm mỏng của người vợ bổ sung vào để đạt được kết quả.

Quan niệm “Phu xướng phụ tùy” của xã hội ta ngày xưa không còn phù hợp nữa. Nếu chồng là giám đốc thì vợ phải là quản lý hay phụ tá giám đốc chứ không phải là tôi tớ :”Cha đã đặt người nữ làm trợ tá bất khả phân ly của người nam… Xin cho anh biết trọn niềm tin tưởng ở chị, nhìn nhận chị là người bình đẳûng và cùng được thừa hưởng sự sống là hồng ân Chúa ban”(Lời cầu lễ Hôn phối).

Truyện : Tài tử Galicopter và người vợ

Một trong những ngôi sao điện ảnh nổi tiếng nhất trong thập niên 50 là nam tài tử Galicopter. Ôâng nổi tiếng không những vì tài nghệ diễn xuất mà còn vì cuộc sống hôn nhân mẫu mực của ông. Vào khoảng cuối đời, quằn quại trong thể xác, ông đã nói về Rochi người vợ đã chung sống với ông trong gần 30 năm như sau :

Rochi là một người đàn bà tuyệt vời. Nàng là một người vợ đã biết thích nghi với tính khí và công việc của tôi. Nàng cũng biết cảm thông với những lỗi lầm của tôi. Nhất là nàng đã biết ở cạnh tôi khi nàng có thể, mỗi khi tôi cần đến n àng. Nàng là người vợ đích thực”.

Những lời khen tặng trên đây của tài tử Galicopter là một khẳng định rằng : người nắm giữ hạnh phúc gia đình, người nắm vai chủ động trong việc xây dựng hạnh phúc hôn nhân chính là người vợ. Dĩ nhiên sự thành công của hôn nhân là do sự hợp tác của hai vợ chồng. Nhưng người vợ vẫn giữ vai trò chủ yếu : “Đàn ông dựng nhà, đàn bà xây tổ ấm”(Tục ngữ).

c) Con cái trong gia đình.

Còn Đức Giêsu trong gia đình Nazareth đã được thánh Luca mô tả vài nét trong Tin mừng: “Và Ngài đã xuống với ông bà về Nazareth. Và Ngài hằng tùng phục hai ông bà. Còn Mẹ Ngài thì giữ kỹ hết các điều trong lòng bà. Và Đức Giêsu cứ tấn tới thêm về khôn ngoan, vóc dáng và ân sủng trước mặt Thiên Chúa và trước mặt người ta”(Lc 2,51-52).

Đức Giêsu tuy là Thiên Chúa, nhưng với cương vị làm con, Ngài vẫn phải vâng phục thánh Giuse và Đức Maria với tâm tình con thảo. Sách Huấn ca hôm nay dạy ta : “Ai kính sợ Thiên Chúa thì hiếu thảo với cha mẹ, ai thờ cha kính mẹ thì sẽ bù đắp lỗi lầm và sẽ được đền bù tội lỗi”.

Hiếu thảo đối với cha mẹ không phải là một tình cảm tự nhiên mà còn là một điều luật của Chúa: “Ngươi phải hiếu thảo với cha mẹ, như Thiên Chúa ngươi đã truyền dạy, để được sống lâu và được hạnh phúc trên phần đất Thiên Chúa dành cho ngươi”(Đnl 5,16).

Ngày xưa khi cắp sách đi học, các em nhỏ đã được đọc trong sách Quốc văn giáo khoa thư một bài học căn bản về đạo làm con :

Công cha như núi Thái sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho trọn chữ hiếu mới là ĐẠO CON.

Không thiếu gì những bậc danh nhân trên thế giới đã làm gương cho chúng ta về lòng thảo hiếu đối với cha mẹ, ngay khi các ngài còn ở bậc cao trong danh vọng.

Truyện : Nhà bác học Louis Pasteur

Ngày 14.07.1883, hội đồng thành phố Dole quyết định đặt tấm đồng ghi danh trên cửa nhà mà Pasteur đã sinh ra. Hôm ấy, trong bài đáp từ cao thượng, nhà bác học trứ danh đã để lòng trào ra trên nỗi biết ơn cha mẹ :

Ôi ! hỡi cha con, mẹ con ! Ôi, hỡi những người thân yêu đã chết ! Các ngài đã sống bình dị quá trong căn nhà nhỏ bé này, con đã chịu ơn tất cả bởi các ngài. Những nhiệt tình của người, hỡi mẹ can đảm của con, mẹ đã chuyển nó cho con. Nếu con bao giờ cũng đã nối kết vinh quang khoa học vào vinh quang tổ quốc, chính là vì con đã thấm nhuầãn những cảm tình mà mẹ phấn khích ở trong con. Và còn người, hỡi cha thân yêu, mà đời sống cũng nặng nhọc như nghề nghiệp, cha đã tỏ cho con biết đức kiên nhẫn trong cố gắng lâu dài có thể làm được những gì… Con chúc tụng cả hai, hỡi cha mẹ thân yêu, cho cuộc sống con người, và xin để cho con hướng về các ngài cái vinh hạnh mà người ta hiến lên căn nhà này ngày hôm nay” (Bùi Đức, Vinh quang bà mẹ, 1959, tr 59-60)

IV. TRUNG THÀNH TRONG HÔN NHÂN

Còn một vấn đề rất quan trọng trong hạnh phúc hôn nhân mà ngày nay người ta đã coi thường, đó là trung thành trong đời sống hôn nhân. Ngày xưa người ta chỉ chú trọng vào sự chung thủy của người phụ nữ màø không đề cập đến đàn ông. Người ta đã có một cái nhìn thiên lệch về phụ nữ với quan niệm “chồng chúa vợ tôi”. Người đàn bà trong lễ giáo Khổng Mạnh phải tuyệt đối chung thủy với chồng mình. Họ phải giữ cái đạo “Tam tòng” :

Tại gia tòng phụ
Xuất giá tòng phu.
Phu tử tòng tử

Nghĩa là : người con gái ở nhà thì theo cha, đi lấy chồng thì theo chồng, chồng chết thì theo con.

Chữ “chung thủy” của người xưa thật đáng ca tụng, nhưng tôi thấy nó rất thiên lệch và không công bằng. Lễ giáo của Khổng Mạnh đã áp đặt chặt chẽ trên người đàn bà, trong khi đó thì người đàn ông được thả lỏng :

Trai thì năm thê bảy thiếp.

Trong khi đó thì :

Gái chính chuyên chỉ có một chồng.

Và nếu có một vợ một chồng thì theo sự diễn tả một cách châm biếm, đó là :

Nhất phu nhất phụ
Mỗi mụ mỗi nơi.

Còn thời nay thì sao ? Đối với xã hội Tây phương thì chữ “chung thủy” thời nay đã biến mất. Người ta thay vợ đổi chồng như thay áo theo phương châm “Hay thì ở, dở thì đi”. Có nơi số đôi hôn phối ly dị lên tới 50% hay hơn nữa. Các hôn ước không còn giá trị nữa. Chính vì thế mà gia đình bị lung lay tận nền tảng, tận gốc rễ để rồi đi đến chỗ đổ vỡ vì những lý do không đâu.

Truyện : Trên chuyến xe đò

Có một lần trên chuyến xe đò đi Sàigòn, tôi được nghe mẩu tâm sự vụn giữa mấy bà mấy cô với nhau. Bà thì than rằng chồng của mình bê bối. Bà thì bực tức thấy ông nhà đèo bòng mà chẳng làm gì được. Nói ra thì xấu thiếp hổ chàng, còn để vậy thì ấm ức trong lòng. Sau cùng, có một bà kết luận : chỉ có mấy bà công giáo là sướng. Đạo của họ cấm chỉ việc lang bang. Dù sao chăng nữa, thì họ cũng vẫn một lòng một dạ với nhau.

Nghe mẩu tâm sự ấy, tôi cũng thấy mừng vì từ xưa và cho đến nay, sự chung thủy, một vợ một chồng vốn dĩ đã là nét son của hôn nhân công giáo. Vì ai cũng biết hôn nhân công giáo là một khế ước song phương được ký kết giữa hai người nam và nữ. Do đó, hôn nhân của công giáo có hai đặc tính là “đơn nhấtvĩnh viễn”. Không ai có thể hủy bỏ hôn ước khi cả hai người còn sống vì “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mc 10,9).

Nếu chúng ta đòi buộc người bạn đời phải tuyệt đối trung thành với mình, thì chúng ta cũng phải có bổn phận phải tuyệt đối trung thành với người bạn đời như thế. Chúng ta không thể nào chấp nhận những chia sẻ trộm vụng của người bạn đời thì chúng ta cũng không được chia sẻ tình yêu một cách thầm lén cho kẻ khác không phải là bạn đời của mình. Nếu như hành vi thầm lén vụng trộm của chúng ta bị đổ bể, bởi vì “đi đêm lắm có ngày gặp ma”… thì lúc bấy giờ chắc chắn dư luận sẽ không buông tha chúng ta và gia đình ta chắc chắn sẽ gặp nhiều sóng gió.

Để kết luận, chúng ta hãy dâng lên Thánh Gia lời cầu xin cho các gia đình :

Lạy Chúa Giêsu,/ chúng con xác tín rằng: / Hôn nhân và gia đình là công trình sáng tạo của Thiên Chúa,/ công trình của yêu thương,/ khôn ngoan và thanh thiện./ Chúng con tin rằng,/ Chúa muốn và Chúa luôn ban ơn,/ để hôn nhân được hạnh phúc,/ trong sự duy nhất và bền bỉ,/ trong việc truyền sinh và phát huy sự sống.

Lạy Chúa,/ Chúa đã yêu thương mà nâng hôn nhân lên hàng Bí tích./ Xin Chúa cho các đôi vợ chồng sống trung thành với nhau,/ cho cha mẹ biết ý thức trách nhiệm giáo dục con cái,/ cho con cái biết vâng phục và yêu mến cha mẹ./ Xin Chúa làm cho các thế hệ trẻ,/ tìm được nơi gia đình sự nâng đỡ chắc chắn cho giá trị làm người của ho,/ và được trưởng thành trong Chân lý và Tình thương.

Lạy Thánh gia Nazareth,/ là gương mẫu của đời sống thánh thiện,/ công bình và yêu thương./ Xin cho gia đình chúng con,/ trở nên nơi đào tạo nhân đức,/ trong hiền hòa,/ phục vụ và cầu nguyện./ Xin cho chúng con xây dựng gia đình thành mối an ủi cho cuộc đời đầy thử thách./ Xin cho chúng con biết làm cho mọi người trong gia đình,/ đều được thăng tiến để góp phần vào việc phát triển xã hội,/ và cộng tác trong việc xây dựng Giáo hội.

[về Mục Lục]

Bài 13. LỄ THÁNH GIA

Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái

I. Dẫn vào Thánh lễ

Con Thiên Chúa đã sinh ra làm người và sống trong một gia đình. Gia đình của Ngài gồm có Thánh Giuse, Đức Mẹ Maria và Ngài. Một gia đình rất thánh thiện, gương mẫu. Hôm nay dâng lễ mừng kính Thánh Gia, chúng ta hãy học nơi các Ngài những đức tính cần có trong cuộc sống gia đình, và chúng ta xin các Ngài ban ơn cho gia đình chúng ta.

II. Gợi ý sám hối

– Chúng ta hãy ăn năn sám hối vì những thiếu sót của chúng ta đối với những người trong gia đình mình.

– Chúng ta hãy ăn năn sám hối vì chưa dành chỗ xứng đáng cho Chúa trong gia đình mình.

– Chúng ta hãy ăn năn sám hối vì những gương xấu mà gia đình mình đã gây ra cho những gia đình chung quanh.

III. Lời Chúa

1. Bài đọc I: 1 Sm 1,20-22.24-28

Vợ chồng Anna và Elqana son sẻ, nhờ cầu xin Chúa nên cuối cùng sinh được đứa con trai, đặt tên là Samuel.

Vì ý thức rằng con cái là ơn ban của Chúa, cho nên vừa sinh con thì hai ông bà đã đem nó dâng cho Chúa.

2. Đáp ca: Tv 83

Đây là một Thánh Vịnh hành hương. Điều đáng chúng ta lưu ý là mặc dù hôm nay là lễ Gia đình, nhưng Phụng vụ đã chọn đọc một Thánh vịnh hành hương “Lạy Chúa Tể càn khôn, cung điện Ngài siết bao khả ái. Mảnh hồn này khát khao mòn mỏi, mong tới được khuôn viên đền vàng… Phúc thay người ở trong Thánh điện”. Nghĩa là: ngoài ngôi nhà gia đình, chúng ta còn một ngôi nhà khác, đó là Nhà Chúa.

3. Tin Mừng (Lc 2,41-52)

a/. Tường thuật chuyện Thánh gia hành hương lên Giêrusalem dự lễ Vượt qua:

– Luật hành hương chỉ buộc những “nam nhân”, tức là người nam và từ 13 tuổi (tuổi được luật pháp công nhân là trưởng thành) trở lên. Thế mà cả Đức Mẹ và Chúa Giêsu năm đó mới 12 tuổi cũng đi.

– Lễ Vượt qua kéo dài 7 ngày. Nhưng luật chỉ buộc dự 3 ngày đầu thôi, những ngày sau tuỳ ý. Thánh gia đã dự cho đến “xong kỳ lễ”.

– Như thế, Thánh Gia đã giữ luật đạo rất chín chắn, hơn cả mức đòi buộc của Luật.

b/. Sau khi kỳ lễ đã xong, trong khi mọi người ra về thì Chúa Giêsu còn ở lại trong Đền thờ. Khi cha mẹ tìm gặp Ngài thì Ngài đáp “Con có bổn phận ở nhà của Cha con”. Qua thái độ và lời nói này, Chúa Giêsu muốn chuẩn bị cho cha mẹ Ngài biết và chấp nhận rằng Ngài còn có bổn phận đối với Chúa Cha.

c/. Nhưng Chúa Giêsu không phải là một đứa con bất hiếu, bởi vì Tin Mừng thuật tiếp rằng “Sau đó Ngài cùng cha mẹ trở về Nadarét và hằng vâng phục các ngài”.

4. Bài đọc II: 1 Ga 3,1-2.21-24

Thánh Gioan lưu ý rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa. Vì thế hãy mạnh dạn đến với Thiên Chúa là Cha chúng ta, mặt khác hãy tuân giữ các giời răn của Ngài, nhất là giới răn yêu thương nhau.

IV. Gợi ý giảng

* 1. Những bài học từ Lời Chúa hôm nay

a/ Từ bài đọc I: (1) Con cái là ơn ban của Chúa: Vợ chồng Anna và Elqana ý thức rằng đứa con của họ là ơn ban của Chúa, vì thế nên vừa sinh con ra thì họ đã đem lên Đền thờ dâng hiến cho Chúa. (2) Ý hướng của đứa con: Khi lớn lên cậu bé Samuen đã từ giã gia đình vào đền thờ Silô dâng mình cho Chúa. Cha mẹ nào cũng có những ý định cho tương lai con cái. Nhưng cha mẹ không thể thay con cái mà sống cuộc đời của nó. Vì thế Cha mẹ cũng phải tôn trọng chọn lựa của con. (3) Ơn gọi của đứa con: Chúa đã gọi Samuel, cậu đã đáp lời, cha mẹ cậu chẳng những không ngăn cản mà còn đưa con vào sống trong đền thờ để tạo điều kiện thuận lợi cho cậu đáp lời Chúa gọi.

b/ Từ bài Tin Mừng: (1) Chuyện trẻ Giêsu ở lại Đền thờ khiến Thánh Giuse và Đức Mẹ lo lắng cho thấy dù là đối với một gia đình tốt lành thánh thiện đến mức nào đi nữa, vẫn không tránh khỏi những buồn phiền, va chạm. Tuy nhiên gia đình thánh thiện biết giải quyết và vượt qua những lúc u tối đó bằng cách làm theo ý Thiên Chúa. (2) Ta thường nói rằng trẻ Giêsu bị lạc mất trong Đền thờ. Thực ra Chúa Giêsu không đi lạc vào một nơi xa lạ, mà Ngài đến ở trong Nhà của Cha Ngài. Điều này cho chúng ta thấy ngoài ngôi nhà ở gia đình, chúng ta còn một ngôi nhà khác nữa, là Nhà Thờ, Nhà của Cha trên trời. Nhiều kẻ vô phúc không nhà không cửa đã tìm được hạnh phúc khi đến với Chúa trong Nhà thờ; nhiều người ngột ngạt khổ sở ở nhà mình đã tìm được an ủi và sức mạnh trong Nhà thờ.

c/ Từ bài đọc II: Thánh Gioan nhắc nhở rằng: cũng như Chúa Giêsu vừa là con của Thánh Giuse và Đức Mẹ, vừa là con của Thiên Chúa, thì chúng ta cũng thế. Đừng quên mình là con Thiên Chúa nên hãy sống thân mật với Ngài và sống theo giới luật yêu thương Ngài dạy.

* 2. “Mất con”

Tiến trình lớn lên của đứa con có thể khiến cho cha mẹ cảm thấy như mình dần dần bị mất con. Câu chuyện Tin Mừng hôm nay giúp ta hiểu thêm nhiều khía cạnh tâm lý về vấn đề này:

– “Xong kỳ lễ, hai ông bà trở về, còn cậu bé Giêsu thì ở lại Giêrusalem mà cha mẹ chẳng hay biết”: Không phải Chúa Giêsu vì mãi chơi mà ở lại. Ngài cố ý ở lại. Các nhà tâm lý giáo dục lưu ý rằng khi một đứa con cứ quấn quít mãi bên cạnh cha mẹ thì đó là dấu hiệu không tốt, cho thấy rằng dù tuổi nó đã lớn nhưng nó vẫn cảm thấy không an toàn nên không dám tự lập. Còn khi đứa con đã an tâm về tình thương của cha mẹ thì nó dám rời xa cha mẹ để đi khám phá thế giới của nó. Cha mẹ đừng buồn vì chuyện đó, cũng đừng vì thế mà giảm bớt yêu thương. Thật là dễ khi yêu thương đứa con lúc nó còn nhỏ cứ bám víu lấy mình. Nhưng khi nó lớn, bắt đầu rời xa vòng tay che chở của mình mà mình vẫn yêu thương nó thì tình thương đó phải lớn hơn và khéo léo hơn nhiều.

– “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?”: Có lẽ thánh Giuse và Đức Mẹ – cũng như mọi cha mẹ khác – vẫn coi Chúa Giêsu là một đứa trẻ và mãi mãi là một đứa trẻ. Lời Chúa Giêsu nhắc nhở hai Đấng rằng Ngài đã lớn, Ngài có cuộc đời riêng của Ngài và Ngài có bổn phận phải sống ơn gọi riêng ấy. à Khi đứa con bắt đầu có những suy nghĩ riêng và những dự định riêng của mình, cha mẹ đừng vội rầy là hay phản đối kẻo bóp chết đi đà phát triển của nó. Khôn ngoan hơn, hãy lắng nghe và nếu thấy đúng thì hãy khuyến khích, tạo điều kiện.

– “Mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng”: Thánh Giuse và Đức Maria không rầy la, nhưng im lặng và suy nghĩ. à Im lặng, lắng nghe và tìm hiểu con cái, đó là điều mà nhiều cha mẹ không biết; cha mẹ không lắng nghe và không tìm hiểu, đó cũng là điều mà nhiều đứa con trách cha mẹ mình; và cũng là mấu chốt khiến mối liên hệ giữa cha mẹ với con cái càng thắm thiết hơn hay càng ngày càng xấu đi.

– “Sau đó, Người đi xuống cùng với cha mẹ trở về Nadarét và hằng vâng phục các ngài”: Sau biến cố này, Chúa Giêsu càng thấy rõ hơn tình thương, sự lo lắng và sự tôn trọng của cha mẹ đối với mình, nên Ngài càng yêu mến, tôn kính và vâng phục hai đấng. Hạnh phúc gia đình không phải vì gia đình không gặp sóng gió. Hạnh phúc gia đình là do cha mẹ con cái hiểu nhau, yêu thương nhau và tôn trọng nhau. Những sóng gió, va chạm nhiều khi còn làm cho người ta hiểu nhau và thương nhau hơn, do đó hạnh phúc gia đình càng được củng cố thêm.

* 3. Gia đình Nadarét và gia đình chúng ta

Thánh Gia Nadarét là một gia đình như hầu hết các gia đình khác nhưng lại khác hẳn tất cả những gia đình khác.

Như hầu hết các gia đình gia đình Nadarét:

– Nghèo

– Vì nghèo không có vốn đầu tư kinh doanh, gia đình Nadarét phải lấy sức mình ra làm việc để sinh sống: thánh Giuse làm thợ mộc, Đức Maria làm nội trợ suốt ngày bận rộn với những việc nấu nướng, giặt giũ, may vá, quét dọn… Chúa Giêsu khi còn nhỏ thì phụ giúp cha mẹ, lớn lên nối nghiệp thánh Giuse làm nghề thợ mộc. Đây là một gia đình lao động, tay chân.

– Lao động tay chân thì vất vả: đổ mồ hôi, tay chân chai sạm, quần quật suốt ngày…

– Mặc dù quần quật suốt ngày nhưng cũng chỉ đủ ăn không dư giả. Trong Tin Mừng ta tìm thấy hai bằng chứng về tình trạng không dư dả của gia đình Nadarét: Khi đem con đầu lòng dâng vào Đền Thờ cùng với lễ vật theo luật định, những gia đình khác người thì dâng tiền, người thì dâng chiên cừu, còn gia đình của thánh Giuse chỉ dâng có một đôi chim câu là thứ lễ vật của những người nghèo. Khi đi Bêlem, hai ông bà không có tiền thuê nhà trọ nên đành phải trú chân trong hóc đá, chỗ làm nơi tạm trú cho súc vật. Gia đình này không dư dả.

– Vì không có dư giả nên dĩ nhiên cũng có những lúc túng thiếu, những ngày lo âu vì miếng cơm manh áo.

– Vì túng thiếu nên dĩ nhiên cũng không được người đời coi trọng mà còn bị khinh chê. Ta nhớ lúc Chúa Giêsu đã đi rao giảng mà vẫn còn có người nhận xét về Ngài bằng một giọng khinh chê “Con ông thợ mộc như thế mà là Đấng Cứu thế cái nỗi gì!”

Nhưng gia đình Nadarét lại khác tất cả các gia đình khác:

– Khác ở chỗ tự ý chọn cuộc sống: lao động chân tay nghèo nàn, là Con Thiên Chúa, Chúa Giêsu có thể chọn sinh ra trong một gia đình giàu có nhưng Ngài đã chọn sinh ra trong một gia đình lao động nghèo nàn như thế.

– Khác ở chỗ mặc dù nghèo nhưng những người trong gia đình này không lục đục với nhau như thường thấy trong các gia đình chúng ta: khi túng thiếu chúng ta sinh ra bực bội, gắt gỏng, gia đình hay cãi và xung đột với nhau.

– Khác ở chỗ dù nghèo nhưng không gian tham, trộm cắp như thường thấy trong nhiều gia đình khác.

Tóm lại gia đình Nadarét dù nghèo, dù làm lụng vất vả nhưng rất hạnh phúc rất thánh thiện.

Gia đình Nadarét của thánh Giuse, Đức Mẹ và Chúa Giêsu thật là:

– một niềm hãnh diện cho các gia đình lao động nghèo nàn.

– một nguồn an ủi khích lệ cho các gia đình lao động nghèo nàn.

– Và là một tấm gương sáng cho chúng ta noi theo. Nhìn vào nếp sống gia đình này ta có thể học được rất nhiều bài học quý giá.

1/ Bài học thứ nhất là: trong gia đình, mọi người đều phải làm việc.

Thánh Giuse làm thợ mộc, Đức Mẹ làm nội trợ, Chúa Giêsu khi nhỏ giúp cha giúp mẹ và lớn lên cũng làm nghề thợ mộc. Người nào việc ấy, người mạnh làm việc nặng, người yếu làm việc nhẹ, người chưa rành thì phụ giúp những người khác, ai cũng có công việc theo khả năng của mình.

Cổ nhân đã nói “nhàn cư vi bất thiện” ở không thì sinh ra hư đốn làm điều không tốt. Những gia đình giàu có ở không riết rồi chồng thì say sưa, ngoại tình, vợ thì cờ bạc, ngồi lê đôi mách, con cái thì đua đòi, chơi bời lêu lỏng, tập tành nhiều thói xấu. ngay cả những gia đình nghèo nhưng không biết thu xếp công việc, cho con cái đi chơi suốt ngày thì chúng cũng hư: làm biếng, trộm cắp, ăn nói sàm sở, chửi thề nói tục, đủ thứ…

Một số gia đình tổ chức công việc rất khéo: con cái những đứa còn nhỏ thì giao cho chúng những việc nhỏ, như quét nhà, rửa chén, giữ em; những đứa lớn hơn thì tập cho chúng may vá, nấu cơm, nuôi heo, làm gia công những đồ tiểu thủ công nghiệp… Giờ nào học thì học, còn những giờ khác thì làm việc, ai cũng có việc nấy. Dần dần thành nếp, mọi người đều cần cù siêng năng, biết dùng thời giờ của mình làm việc hữu ích, biết giá trị của đồng tiền và nhờ đó biết tiết kiệm không hoang phí, cũng không có những thói xấu như chơi bời lêu lỏng, ngồi lê đôi mách, trộm cắp gian tham…. Những gia đình biết thu xếp như vậy tuy nghèo nhưng không đến nỗi thiếu thốn vì ai cũng siêng năng và biết xoay sở.

Ngược lại trong một số gia đình chúng ta, cha mẹ thì làm ăn rất là vất vả nhưng con cái thì lại không tập cho chúng làm, để chúng đi chơi hầu như suốt ngày. Chúng vừa chẳng giúp gì cho gia đình, vừa là một gánh nặng cho gia đình, lại vừa lây nhiễm đủ thứ thói xấu ngoài xã hội.

b/ Bài học thứ hai là ta phải nên thánh ngay trong những việc lao động hằng ngày của chúng ta.

Có rất nhiều người than rằng vì bận rộn làm ăn nên đạo hạnh bê trễ. Đây là một quan niệm sai lầm, tách đời ra khỏi đạo, chia cách việc làm với đạo đức. Dĩ nhiên người bận rộn làm việc thì không có nhiều giờ để đọc kinh, để đến nhà thờ. Nhưng mỗi sáng dành ra vài phút để cầu nguyện, mỗi tối dành vài phút cầu nguyện nữa, Chúa nhật thu xếp đi lễ khoảng hơn 1 tiếng đồng hồ, như vậy đâu phải là nhiều. Và thậm chí nếu mình quá bận rộn thực sự để không thể làm những việc đó thì Chúa cũng không bắt tội chúng ta, Chúa chỉ bắt tội lười không có thể làm mà không làm thôi. Vả lại sống đạo đâu phải chỉ là đọc kinh cầu nguyện, mà là đem tinh thần đạo vào chính cuộc sống của mình.

– Người sống đạo thật không đợi đến lúc tới nhà thờ mới nhớ tới Chúa, nhưng họ luôn dâng mọi việc họ làm hằng ngày cho Chúa, kết hợp với Chúa trong chính công việc của mình.

– Người sống đạo thật cố gắng tránh những cám dỗ trong khi làm việc: cám dỗ làm cẩu thả, gian dối, cám dỗ lười biếng, cám dỗ trộm cắp. Như vậy vừa làm việc họ vừa rèn luyện đạo đức và lập công trước mặt Chúa.

– Người sống đạo thật biến việc làm hằng ngày thành những công nghiệp, những lễ vật dâng lên Thiên Chúa và họ nên thánh bằng chính những công việc họ làm.

Chúa Giêsu đã dùng 30 năm trong số vỏn vẹn 33 năm ở trần gian để sống trong gia đình Nadarét, để làm việc lao động chân tay cực nhọc. Điều đó rất có ý nghĩa: Chúa muốn cho chúng ta thấy giá trị thánh thiện của việc lao động hằng ngày và Chúa muốn nêu gương cho chúng ta. Chúng ta hãy nhớ dạy cho con cháu mình biết làm việc cần cù siêng năng, và chúng ta hãy tự thánh hóa đời mình bằng chính những công việc hằng ngày.

4. Những cánh cửa mở ra phía nhân loại

Ánh sáng soi cho các dân tộc.

Thánh Luca là người Hy lạp. Ngài loan báo tin mừng cho đồng bào mình và đôi khi ngài phải chống lại những Kitô hữu gốc Do thái cứ muốn bắt những tân tòng người nước ngoài phải tuân giữ luật lệ và lễ nghi Do thái. Khi trình thuật sự kiện “Đức Bà dâng Con trong đền thờ”, thánh Luca có dụng ý cho ai nấy hiểu rằng, sứ điệp tin mừng không chỉ dành riêng cho dân Israel, mà được gởi cho hết mọi người đàn ông, mọi người phụ nữ trên toàn thế giới.

Vì vậy mà việc “dâng con” thay vì chỉ là việc riêng của gia đình diễn ra trong vòng ấm cúng thân mật, lại trở nên một biến cố có liên quan đến cả loài người mọi nơi mọi thời. Cái nghi thức theo truyền thống chỉ là nghi thức thanh tẩy người mẹ, lại trở thành cuộc biểu dương sứ mệnh đặc biệt của người con, như nói với cả thế giới rằng: Đây là Đấng Thiên Sai sắp khai trương một thời đại mới. Hai cụ già Simêon và Anna tượng trưng cho các thế hệ mòn mỏi chờ mong Đấng Cứu Thế.

Cha mẹ Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse là những người miền Bắc, người Nadaréth và lễ cung hiến người con lại diễn ra tại Giêrusalem, trong Đền Thờ. Đó là những chi tiết mang nhiều ý nghĩa. Giêrusalem là thành Thánh có Đền Thờ làm trung tâm. Chính tại Đền Thờ, Chúa Giêsu nhận được tước hiệu là Cứu Chúa muôn dân, là ánh sáng soi cho các dân ngoại, là sự biểu hiệu của Thiên Chúa vô hình.

Ơn cứu độ không thể bị cất giấu trong một đền thờ duy nhất cho dù đền thờ ấy có uy thế lẫy lừng cách mấy. Mà cả vũ trụ sẽ là đền thờ. Đền Thờ sẽ là tấm lòng của bất cứ người nào đón nhận Lời của Thần Khí. Thánh Luca cho biết, Đức Mẹ và thánh Giuse rất đổi ngạc nhiên. Mà các ngài ngạc nhiên cũng phải, vì các ngài lên đền thờ chỉ để cử hành một nghi thức gia đình, vậy mà lại vỡ lở ra thành lời tụng ca của muôn người muôn thế hệ.

Trong niềm vui được tin Đấng Thiên sai đến, lại có lẫn nỗi lo âu. Đấng có sứ mạng gom các dân tộc về một mối, một dân tộc duy nhất gồm những người anh em, thì lại nên dấu chỉ cho sự chia rẽ.

Bởi vì những kẻ từ chối Đấng Thiên Sai phổ quát (cho cả loài người, chứ không riêng dân Israel) sẽ nổi lên chống lại Ngài. Những người cứ khăng khăng không muốn thoát ra khỏi những cái khung suy nghĩ hẹp hòi, những cái khung đức tin và cuộc sống thiển cận, cũng sẽ nổi lên chống lại ngài, chứ không muốn theo chân Ngài đi gặp gỡ mọi người, thuộc mọi tiếng nói mầu da, chủng tộc, để sống với nhau trong tình anh em.

Ngày nay, những hình thái mới của đời sống xã hội, đặc biệt là trong lao động và giải trí, đang khiến các gia đình lung lay.

Mừng lễ Thánh Gia Thất, liệu chúng ta sẽ đón nhận Đấng Thiên sai của thời mới, Đấng có những lời lẽ phát minh và sáng tạo? Lễ này cho chúng ta biết rằng gia đình theo Chúa Giêsu có những cánh cửa mở ra phía gia đình nhân loại bao la rộng lớn (CgvDt, số đặc biệt Giáng sinh ’99)

5. Gia đình là trường học

Thầy Mạnh Tử, thuở nhỏ nhà ở gần nghĩa địa, thấy người đào, chôn, lăn, khóc, về nhà cũng bắt chước đào, chôn, lăn, khóc. Bà mẹ thấy thế, nói: chỗ này không phải chỗ con ta ở. Rồi dọn nhà ra gần chợ.

Thầy Mạnh Tử ở gần chợ, thấy người buôn bán điên đảo, về nhà cũng bắt chước cách buôn bán đảo điên. Bà mẹ thấy thế, lại nói:

“Chỗ này cũng không phải chỗ con ta ở. Bèn dọn nhà đến ở cạnh trường học.

Thầy Mạnh Tử ở gần trường học, thấy trẻ đua nhau học tập lễ phép, về nhà cũng bất chước học tập lễ phép. Bấy giờ bà mẹ mới vui lòng nói: “Chỗ này là chỗ con ta ở đây.

Một hôm, thầy Mạnh Tử thấy nhà hàng xóm giết lợn, về hỏi mẹ: “Người ta giết lợn làm gì thế. Bà mẹ nói đùa: “Để cho con ăn đấy”. Nói xong, bà nghĩ lại, hối rằng: “Ta nói lỡ mồm rồi. Con ta thơ ấu, tri thức mới mở mang mà ta nói dối nó, thì chẳng ra ta dạy nó nói dối hay sao!”. Rồi bà đi mua thịt lợn, đem về cho con ăn thật.

Lại một hôm thầy Mạnh Tử đang đi học, bỏ học về nhà chơi. Bà mẹ đang ngồi dệt cửi, trông thấy, liền cầm dao cắt đứt tấm vải đang dệt trên khung, mà nói rằng: “Con đang đi học, mà bỏ học, thì cũng như mẹ đang dệt tấm vải này mà cắt đứt như vậy”. Từ hôm đó, thầy Mạnh Tử học tập rất chuyên cần. Về sau thành một bậc đại hiền. Thế chẳng là nhờ công giáo dục quí báu của bà mẹ hay sao?

Thánh Gia Thất là mẫu gương giáo dục tuyệt vời cho các gia đình cũng như cho các cộng đồng tu viện.

Thánh Gia Thất là trường huấn luyện cho Chúa Giêsu, chuẩn bị ngày lãnh nhận sứ mạng Chúa Cha giao phó.

Thánh gia thất là chuẩn mực chính xác nhất cho các người cha, người mẹ và con cái trong gia đình.

Giuse đích thực là một người cha: Sáng ngời trong đức tin mạnh mẽ, nêu cao niềm phó thác cậy trông và tận tình chăm lo cho trẻ Giêsu cùng mẹ thánh Người. Người làm chủ gia đình với tinh thần đầy trách nhiệm, và siêng năng cần cù lao động, trong làng quê nghèo Nadarét.

Maria chính là người mẹ: Gương mẫu trong đời sống nội tâm, và sâu lắng trong tâm tình cầu nguyện. Mẹ chính là người nội trợ đảm đang, chu toàn công việc gia đình, và chăm sóc dạy dỗ con trẻ Giêsu.

Chúa Giêsu là người con thảo hiếu: “Hằng vâng phục cha mẹ” Giuse và Maria, lớn lên mỗi ngày trong sự khôn ngoan và nhân đức, nhất là luôn lo việc “bổn phận ở nhà Cha”.

Gia đình là nền tảng của xã hội. Gia đình có thuận hoà, thì xã hội mới an vui. Lễ Thánh Gia chính là lễ của mọi gia đình. Noi gương Thánh Gia Thất, các gia đình chúng ta luôn sống có trật tự trên dưới, liên đới trong tình hiệp thông, và chăm lo cho nhau trong tình yêu thương đầm ấm.

Con Thiên Chúa chỉ ra giảng đạo có ba năm, nhưng đã phải chuẩn bị ở mái trường Nadarét suốt ba mươi năm. Nadarét là trường dạy cầu nguyện dạy lao động, dạy yêu thương. Nadarét là một vùng quê hẻo lánh, nhưng lại mang một mái ấm tình thương. Mái ấm Nadarét rất đỗi bình thường, nhưng cũng lại rất khác thường.

Một mái ấm luôn chan hoà bầu khí yêu thương và đạo hạnh.

Một mái ấm luôn ngập tràn tiếng cười vui vì hạnh phúc.

Một mái ấm mà các thành viên luôn để ý quan tâm cho nhau

Muốn có hạnh phúc trong mái ấm gia đình, trước tiên phải có Chúa hiện diện.

Mái ấm Nadarét luôn hạnh phúc vì lúc nào cũng có Chúa ở giữa Giuse và Maria. Nếu mỗi gia đình chúng ta đều mời được Chúa đến ở trong gia đình thì chính Người sẽ là dây liên kết để chúng ta yêu thương nhau, là sức mạnh để chúng ta vượt thắng mọi sóng gió, là mẫu gương để chúng ta nhẫn nhịn và tha thứ cho nhau.

Muốn có hạnh phúc trong mái ấm gia đình, mỗi người chúng ta cũng hãy sống cho đúng cương vị của mình là cha, là mẹ, là chồng là vợ, là con cái. Thánh Phaolô khuyên: “Hỡi các bà vợ, hãy phục tùng chồng trong Chúa cho phải phép. Hỡi những người chồng hãy thương yêu vợ mình, đừng đay nghiến nó. Hỡi những người con, hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự. Vì đó là đẹp lòng Chúa ” (Cl 3,21)

*

Lạy Chúa, là nguồn mọi tình yêu, chúng con cảm tạ Chúa đã cho chúng con tấm gương Thánh Gia Thất, làm khuôn mẫu cho mọi quan hệ giữa vợ với chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị em trong gia đình. và giữa cộng đoàn tu viện với nhau.

Xin cho chúng con biết kính trọng và yêu thương Nhau, không phán xét khi hồ nghi, không kết án khi chưa tường, không phụ rẫy khi còn cứu vãn được, nhưng thông cảm và tìm hiểu, nâng đỡ và tha thứ, và trên hết luôn tìm sống theo thánh ý Chúa. Amen (TP)

6. Hy sinh cho con cái

Có câu nói “Một người mẹ có thể chăm sóc cho 10 đứa con. Nhưng 10 đứa con không chăm sóc nổi một người mẹ”. Chúng ta hãy suy nghĩ xem câu nói này đúng không.

Một con chim mẹ có một con chim con. Chim mẹ thương yêu chim con vô cùng. Mùa đông đến, các loài chim phải rời xứ lạnh để bay đến những xứ ấm áp hơn. Chim mẹ biết chim con còn yếu không bay xa nổi nên cõng con trên lưng. Ban đầu chim mẹ còn khoẻ nên bay khá nhanh. Nhung sau một đoạn đường dài, chim mẹ mệt và cảm thấy đứa con trên lưng mình ngày càng nặng, nhưng vẫn cố bay. Tuy nhiên một ngày kia chim mẹ đuối sức nên đành phải đáp xuống nghỉ. Trong lúc nghỉ ngơi, chim mẹ hỏi chim con: “Con ơi, hãy nói thật cho mẹ nghe nhé. Sau nay khi mẹ đã già, không còn sức bay về phía nam ngang qua những đại dương bao la thì con có cõng mẹ trên lưng như mẹ đang làm cho con bây giờ không?” Chim con trả lời: “Con e rằng không mẹ ạ!”. Chim mẹ ngạc nhiên hỏi tiếp: “Sao vậy?”. Chim con lại đáp: “Vì khi đó, con phải cõng con của con”.

Câu trả lời của chim con gợi cho ta thấy hai điều:

a/ Một sự thật phũ phàng: Cha mẹ nào cũng hết lòng thương con và hy sinh tất cả vì con. Nhưng con cái thì đáp lại không được bao nhiêu. Ca dao Việt Nam có câu: “Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng, con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày”.

b/ Một quy luật tự nhiên: Cũng có câu “Nước luôn chảy xuống”. Cũng như dòng nước luôn chảy xuống thấp chứ không chảy lên cao. Chảy xuống là chảy xuôi, còn chảy lên là chảy ngược. Cha mẹ yêu thương con cái và hết lòng chăm sóc con cái là quy luật tự nhiên.

Trước hai điều hiển nhiên trên, chúng ta phải làm sao? Một mặt, chúng ta hãy làm tất cả những gì có thể làm được để đền đáp công ơn trời biển của cha mẹ; và mặt khác chúng ta hãy hết lòng chăm sóc con cái chúng ta. Hết lòng chăm sóc con cái mình cũng là một cách để đền đáp công ơn cha mẹ trước đây đã hết lòng chăm sóc mình vậy.

7. Chuyện minh họa

a/ Làm thế nào chịu thế ấy

Một Cha sở ở miền núi trước khi lên giường ngủ quỳ xuống quay mặt về hướng nghĩa địa và cầu nguyện. Đêm yên lặng, những nấm mộ chập chờn trong bóng tối, những cây thánh giá lô nhô trong nghĩa địa. Tất cả những cái đó làm cho ngài cầu nguyện thật sốt sắng. Một đêm kia ngài nghe có tiếng chân người và tiếng đá rơi. Trong bóng tối ngài thấy một hình người đang trèo lên thành nghĩa địa và đi giữa những nấm mồ. Một kẻ trộm? Một tên điên? Qua đêm thứ tư, ngài núp sau một cây, ngài thấy rõ người lạ mặt đến quỳ trước ngôi mộ và khóc than thảm thiết: “Cha ơi, cha có tha cho con không? Cha nói đi, cha nói đi”

Cha sở nhìn kỹ và biết đó là một người bổn đạo trong họ. Người này đã ngỗ nghịch làm cho người cha phiền muộn quá đến chết đi.

– Ồ con, con còn bị cắn rứt không thể nào ngủ được sao?

Người bổn đạo khiếp sợ quá nhưng khi nhận ra tiếng cha sở thì định thần lại nói:

– Thưa cha, con không được bằng an chút nào cả. Hình ảnh cha con đang tức giận luôn theo dõi con.

– Con biết con đã xử tệ với cha con, con cái của con cũng sẽ xử tệ với con như vậy. Ngày mai con hãy đem con cái đến đây và xin chúng đừng bắt chước gương xấu của con đã làm.

10 năm sau, người bổn đạo đó chết và được chôn cất trong nghĩa địa ấy. Trong khi cha sở đang làm phép mộ, con cái ông ta lên tiếng nhạo báng và chửi rủa. Ôi các bạn trẻ, đừng bao giờ quên truyện này. (Trích “Phúc”)

b/ Không phải khách

Một bé gái 5 tuổi. Sau khi làm dấu ăn cơm, được mẹ dậy nên em thường nói: “Lạy Chúa Giêsu, xin dùng cơm với gia đình chúng con!” Lần đó, em đột ngột ngó mẹ, nói:

– Mẹ ơi, con không muốn Chúa là khách nhà mình.

– Sao vậy con?

– Vì khách thỉnh thoảng mới đến. Con muốn Chúa ở luôn đây cơ!

c/ Bận lắm!

Một thiếu niên phải ra trước vành móng ngựa vì tội làm bạc giả. Vị thẩm phán biết rõ gia đình em. Bố em là một luật gia nổi tiếng, từng viết nhiều bài báo nói về “Sự thật”. Vị thẩm phán hỏi:

– Cháu có nhớ bố mình không? Người bố mà cháu đã bôi nhọ thanh danh của ông.

– Có, cháu nhớ ông ấy rất rõ. Nhưng mỗi khi cháu muốn lại gần xin bố chỉ dạy, bố cháu thường mắng: “Nhóc con, cút đi, tao bận lắm!” Bố cháu thường dành hết thời giờ cho công việc, ít quan tâm đến cháu, nên giờ cháu mới ra thế này.

Vị luật gia thường viết về sự thật, nhưng lại quên mất sự thật lớn lao nhất là con mình. Thật là sai lầm.

V. Lời nguyện cho mọi người

1. Ngày hôm nay có rất nhiều trẻ em bị tổn thương tình cảm vì cha mẹ ly dị / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các vị mục tử / luôn quan tâm và tìm mọi cách nâng đỡ những trẻ em bất hạnh này.

2. Nhiều gia đình tan vỡ vì gặp cảnh hiếm muộn / hoặc đôi khi niềm tin bị lung lay vì cái chết của đứa con yêu quý / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các bậc cha mẹ xác tín rằng / Chúa luôn yêu thương hết thảy mọi con cái của Người.

3. Một trong những tội ác làm thiệt hại cho đời sống hôn nhân và gia đình / đó là vấn đề đồng tình luyến ái / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa / thức tỉnh những ai đang sống trong tình trạng sai trái này.

4. Để tình yêu được bền vững / và hạnh phúc gia đình được bảo đảm / việc học hỏi giáo lý hôn nhân là một việc làm hết sức cần thiết / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các thanh niên nam nữ trong giáo xứ chúng ta / biết tích cực chuẩn bị trước khi kết hôn.

Chủ tế: Lạy Chúa, xin ban thêm ơn trợ giúp cho các bậc làm cha làm mẹ, để giữa muôn vàn thử thách trong đời sống hôn nhân và gia đình, các ngài vẫn có thể luôn chu toàn bổn phận giáo dục nhân bản và đức tin cho con cái của mình. Chúng con cầu xin.

[về Mục Lục]

Bài 14. LẾ THÁNH GIA THẤT

Radio Veritas Asia

Cổ tích vùng Rotal mạn Bắc nước Pháp có kể lại một câu chuyện sau đây:

Có một gia đình nọ gồm cha mẹ và một người con sống rất hiệp nhất yêu thương nhau. Nhưng một đêm kia, đang lúc mọi người ngủ say, một trận giông bão to lớn chưa từng thấy, chỉ trong mấy giờ đồng hồ cả vùng đều lụt lớn, nhà cửa sập cả, thây người và vật trôi bồng bềnh. Người cha của gia đình cõng vợ trên vai mình và bà vợ tay bế đứa con. Nước càng lúc càng dâng cao, chẳng bao lâu ngập đầu của hai vợ chồng. Dù ngộp thở và vô cùng mệt mỏi, bà mẹ cố giơ cao hai cánh tay nâng cao đứa con lên khỏi mặt nước để đứa bé khỏi chết ngộp. Hai vợ chồng sẵn sàng chờ chết, nhưng chỉ mong có ai cứu được đứa bé khỏi chết. Vừa lúc đó, có một thiên thần bay ngang qua, trông thấy cái đầu bé tí nhô khỏi mặt nước, vội cầm lấy kéo lên và dính chùm theo là cả cha mẹ đứa bé. Thế là nhờ yêu thương hiệp nhất mà cả gia đình được thoát nạn.

Có lẽ chưa bao giờ gia đình lại khủng hoảng trầm trọng trong thế giới như chúng ta đang sống hiện nay. Rất nhiều gia đình trong xã hội là những gia đình què quặt, tan nát, nạn ly thân, ly dị và phá thai, và những gia đình chia ly vì chiến tranh, bạo lực, áp bức của các chế độ vô nhân. Những gia đình bất hòa vì nạn thất nghiệp, vì nạn kinh tế khó khăn, eo hẹp hay vì nạn cờ bạc rượu chè, ma túy, thuốc sái và ham mê buông thả trong lạc thú. Vì thế, những người phải trả giá mắc mỏ nhất cho hậu quả của các cuộc khủng hoảng này là con cái, là trẻ em và giới trẻ.

Làm sao con người có thể hạnh phúc tươi vui khi phải sống trong các gia đình như thế? Làm sao thế giới có thể an bình thịnh vượng khi các tế bào nòng cốt của xã hội bị bệnh hoạn như vậy?

Qua ngày lễ Thánh Gia, Mẹ Giáo Hội kêu mời chúng ta suy tư nghiêm chỉnh trở lại ý nghĩa cuộc sống gia đình và đề nghị với chúng ta một mẫu gương, đó là mẫu gương của tổ ấm gia đình Nazareth xưa, gia đình của Chúa Giêsu, Đức Mẹ và thánh Giuse.

Chương ba sách Đức Huấn Ca là một bài quảng diễn điều răn thứ Tư của Mười Giới Luật, dạy con cái phải thảo hiếu cha mẹ. Ngoài những lý do luân lý tự nhiên như câu ca dao Việt Nam nêu lên:

“Công cha như núi thái sơn,
nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ kính mẹ cha,
cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.

Tác giả sách Đức Huấn Ca còn nhấn mạnh đến lý do tôn giáo nữa. Đó là thái độ sống hiếu với cha mẹ, với những người đã dày công mang nặng đẻ đau, sinh thành, dưỡng dục chúng ta. Thiên Chúa sẽ nghe lời những người con hiếu thảo khi họ kêu khấn lên Ngài.

Suy tư trên đây là một thí dụ điển hình cho thấy người sống đạo, người đạo đức như tác giả sách Đức Huấn Ca, biết nhìn ra ý nghĩa sâu thẳm siêu việt nằm trong chính cái nhân loại tầm thường của cuộc sống mỗi ngày. Thiên Chúa không xa vời đối với Chúa Giêsu nhưng Ngài luôn hiện diện ngay trong cái tầm thường nhất của mỗi ngày sống chúng ta. Bởi vì Ngài đã đến sống giữa con cái loài người, đồng hành với con người, chia sẻ mọi buồn vui, mọi âu lo khó nhọc của cuộc sống con người. Khi biết nhìn thực tại bằng đôi mắt của lòng tin thì mọi sự trong thế giới hữu hình này đều được biến đổi và nói lên được sứ điệp mà Thiên Chúa muốn nhắn gởi chúng ta: một gia đình trong đó mọi thành phần biết kính sợ Thiên Chúa, biết yêu thương tôn trọng lẫn nhau, hy sinh cho nhau, sống cho nhau và sống vì nhau thì sẽ là một gia đình được tràn đầy phúc lành và sức sống thiên linh của Thiên Chúa.

Sự thật này được nêu bật trong Thánh Vịnh 28. Đây là bí quyết tạo hạnh phúc cho gia đình, nhưng rất tiếc cũng là điều rất thiếu sót trong các gia đình của xã hội chúng ta ngày nay. Làm sao gia đình có thể hài hòa hạnh phúc nếu mỗi người chỉ ích kỷ, sống và tìm hưởng thụ cho riêng mình mà không muốn yêu thương, không muốn chia sẻ, không muốn dâng hiến, trao ban và lo lắng cho những người khác. Tình yêu đích thực bao giờ cũng đơm hoa kết trái, và gia đình chỉ là gia đình khi cha mẹ, con cái xum vầy bên nhau.

Một tình yêu không sinh hoa trái là một thứ tình yêu cằn cỗi, què quặt, bất bình thường. Một gia đình không có con cái là một gia đình buồn tẻ và không trọn vẹn. Dĩ nhiên, vì những lý do ngoài ý muốn, gia đình có thể thiếu vắng thành phần này hay thành phần khác, nhưng tình yêu là nhân tố nòng cốt không thể thiếu được. Một cuộc hôn nhân không tình yêu là một cuộc hôn nhân lầm lẫn, bởi vì chỉ có tình yêu chân thành sâu đậm được chăm bón vun xới mỗi ngày mới khiến cho gia đình trở thành tổ ấm hạnh phúc. Còn lấy nhau vì tiền của, vì lợi lộc, lấy nhau vì chức tước và địa vị thì sẽ không bao giờ tạo hạnh phúc cho con người và hôn nhân sẽ đi đến chỗ đổ vỡ. Nhưng tình yêu không chân thành, không thôi thúc cũng chưa đủ để đảm bảo hạnh phúc cho gia đình mà cần phải có những nhân đức Kitô và nhân đức xã hội.

Trong chương III thư gởi tín hữu Côlôsê, thánh Phaolô khuyên các tín hữu chu toàn các đòi buộc của lòng tin trong cuộc sống thường ngày. Trước khi đề cập đến bổn phận của các thành phần khác trong gia đình, thánh nhân nhắc cho mọi người biết một số các bổn phận căn bản phát xuất tự lòng tin Kitô: Là những người được chọn làm con cái Thiên Chúa, là thành phần sống động của xã hội và là công dân Nước Trời, hơn ai hết người Kitô hữu phải noi gương Chúa Giêsu sống tình yêu thương bác ái trọn vẹn cao độ đến sẵn sàng hy sinh mạng sống vì người khác. Bởi vì, chính thái độ sống yêu thương là thái độ sống nền tảng cho người Kitô hữu, giúp họ thực sự trở nên giống Thiên Chúa, và là nền tảng của mọi nhân đức khác, đặc biệt là các nhân đức xã hội, nhân bản.

Do đó, thánh Phaolô thôi thúc chúng ta hằng ngày biết mặc lấy tâm tình của lòng thương xót, nhân từ, khiêm tốn, dịu hiền và kiên nhẫn. Tất cả các nhân đức này đều giúp chúng ta duy trì được bầu khí hài hòa trong nội tâm, trong gia đình và giữa cộng đoàn. Bởi vì khi có lòng thương xót và nhân từ, chúng ta sẽ cảm thông với những lỗi lầm thiếu sót và yếu đuối của nhau, và dễ tha thứ cho nhau hơn bắt đầu bằng các thành phần trong gia đình mình, vợ chồng, con cái, họ hàng, bạn bè. Khi khiêm tốn, chúng ta cũng biết nhận ra những tội lỗi, những khuyết điểm, những yếu hèn và thiếu sót của chúng ta chứ không luôn luôn cho mình là phải, là hay, là giỏi, là nhất, và hung hăng chỉ trích lên án và kết tội người khác.

Khi khiêm tốn, chúng ta dễ châm chước cho người khác, vì biết rằng mình cũng như họ thôi, hay đôi khi còn tệ hơn họ nhiều và chúng ta sẵn sàng xin lỗi, sẵn sàng làm hòa, sẵn sàng đền bù sửa chữa. Khi hiền dịu và khiêm tốn, chúng ta không nóng nảy gay gắt với người khác, mà biết chịu đựng mọi thiếu sót, sơ xuất của họ, đồng thời ý thức được rằng người khác cũng đang phải kiên nhẫn chịu đựng những thiếu sót và sai quấy của mình.

Lời Chúa mà chúng ta tâm niệm và cùng với ơn thánh Chúa ban cho mỗi ngày, chúng ta có thể tập được các nhân đức trọn lành này. Sau khi khuyến khích mọi người mỗi ngày hãy mặc lấy tâm tình và tìm sống các nhân đức trên đây, thánh Phaolô đem nguyên tắc xem ra đơn sơ, nhưng thực hiện được cho đúng quả thật không dễ. Đó là mỗi thành phần trong gia đình hãy cố gắng sống bổn phận riêng trong cương vị của mình một cách phù hợp với ý Chúa muốn: “Vợ hãy phục tùng chồng và chồng hãy yêu thương vợ, đừng gắt gỏng với nàng. Còn con cái hãy thảo kính cha mẹ và vâng phục các ngài. Cha mẹ hãy biết khoa sư phạm và rành tâm lý theo kiểu cách dạy dỗ, cư xử với con cái, đừng quá khắt khe đòi hỏi kẻo chúng chán nản ngã lòng”.

Có người coi cái tôn ti trật tự của cuộc sống gia đình như thánh Phaolô trình bày là bất công, kỳ thị và lỗi thời. Vì trong xã hội nam nữ bình quyền, đặc biệt ngày nay trong liên hệ giữa vợ chồng với nhau họ được bình đẳng. Nhưng nếu chúng ta để ý đến nguyên tắc lấy tình yêu thương làm nền tảng cuộc sống thường ngày như thánh Phaolô đã nêu bật thì sẽ không có vấn đề nữa. Bởi vì trong yêu thương thì tất cả mọi người đều như nhau, không có phân chia ngôi vị. Nói như thế không có nghĩa là cuộc sống gia đình sẽ không bao giờ gặp khó khăn hay khủng hoảng, nhưng có nghĩa là cho dù có gặp những khủng hoảng, khó khăn trầm trọng đến thế nào đi nữa, nếu mỗi thành phần gia đình đều có tình yêu thương đích thật thì tất cả đều được san bằng trong yêu thương hợp nhất. và nếu sống tình yêu thương đó cách cụ thể thì sóng gió nào rồi cũng sẽ êm và con thuyền tổ ấm gia đình tiếp tục tiến tới. Sống yêu thương chân thành quảng đại vô vị lợi không phải là chuyện dễ, nhưng là điều có thể làm được và cần phải làm nếu chúng ta muốn tạo dựng hạnh phúc cho chính mình và cho người khác.

Sự thật này được minh chứng trong trình thuật Phúc Âm thánh Luca chương II: Sự thường mười hai tuổi vẫn là lứa tuổi thiên thần dễ thương và dễ mến nhất. Trong dịp cả gia đình đi hành hương ở Jérusalem hôm ấy, Chúa Giêsu đã khiến cho thánh Giuse và Mẹ Maria một lần phải rụng rời tay chân, khi Chúa Giêsu tự ý ở lại trong đền thờ mà không nói gì với hai người. Sau ba ngày hớt hải kiếm tìm và hỏi han khắp nơi, hai ông bà cảm thấy con đang đàm đạo đối chất với những tiến sĩ luật trong đền thờ.

Câu trách móc nhẹ nhàng của Mẹ Maria cho thấy tất cả tình yêu thương hiền dịu của Mẹ và của Thánh Giuse đối với Chúa Giêsu là một lời trách móc đầy yêu thương kính trọng. Sự im lặng của thánh Giuse thật vô cùng ý nghĩa: nó vừa tỏ nỗi lo âu một cách thầm kín, vừa cho thấy thái độ của thánh nhân tôn trọng tự do của Chúa Giêsu và biết chấp nhận sự kiện không thể giải thích được. Bởi vì thánh nhân biết chắc phải có lý do nào kín ẩn lắm mới khiến cho một người con ngoan ngoãn tuyệt diệu như Chúa Giêsu có thái độ hành xử này.

Câu trả lời lạ lùng của Chúa Giêsu giải thích cho hành động bất thường ấy đã minh chứng cho thấy tuy còn nhỏ tuổi, Chúa Giêsu đã ý thức được sứ mệnh và nguồn gốc của mình. Chúa Giêsu thuộc về một thế giới và có sứ mệnh phải chu toàn mà ít người có thể hiểu nổi, kể cả Mẹ Maria và thánh Giuse. Tuy không hiểu được câu trả lời của Con, Mẹ Maria ghi nhớ kỹ mọi sự và suy niệm trong lòng. Cuộc suy gẫm ấy sẽ lâu dài và đau đớn, và Mẹ chỉ hiểu được mầu nhiệm đó khi đứng dưới chân Thập Giá của Người Con trong ngày Chúa Giêsu tử nạn vì yêu thương.

Sau biến cố kể trên, Chúa Giêsu lại theo Cha Mẹ về Nazareth, lớn lên trong khôn ngoan, tràn đầy ơn thánh, yêu thương tuân phục các Ngài cho tới ngày công khai rao giảng Tin Mừng cứu độ.

[về Mục Lục]

Bài 15. GIA ĐÌNH LÀ MÁI ẤM TÌNH THƯƠNG

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Thư Mục Vụ Năm Đức Tin HĐGMVN hướng dẫn các gia đình: “Trong suốt lịch sử mấy trăm năm của Giáo hội Công giáo tại Việt Nam, gia đình vẫn là cái nôi thông truyền đức tin cho con cái, là trường dạy giáo lý đầu tiên cho thế hệ trẻ, là nơi đào tạo những Kitô hữu vững mạnh trong đức tin và gương mẫu trong đời sống đạo đức. Ngày nay, dù phải đối diện với nhiều lo toan trong cuộc sống, xin anh chị em cố gắng duy trì và phát huy truyền thống tốt đẹp này của gia đình công giáo. Hãy xây dựng gia đình mình thành ngôi nhà thờ phượng Chúa, trường dạy đức tin, và mái ấm tình thương. Đây là phương thế cụ thể và hữu hiệu nhất để anh chị em góp phần vào công cuộc Tân Phúc Âm hoá mà Chúa Giêsu đã trao phó cho Giáo Hội và từng người chúng ta.” (số 9).

Từ mẫu gương Thánh Gia, mỗi gia đình Công Giáo “hãy xây dựng gia đình mình thành ngôi nhà thờ phượng Chúa, trường dạy đức tin, và mái ấm tình thương”.

1. Mẫu gương Thánh Gia

Phúc Âm Lễ Thánh Gia kể chuyện: gia đình Thánh Giuse, Mẹ Maria và Chúa Giêsu đi hành hương về Giêrusalem. Hai ông bà là người sùng đạo, tuân giữ lề luật cách trung tín. Theo luật quy định, người Do thái phải hành hương về Đền Thánh “mỗi năm ba lần mọi người nam phải trình diện trước Đấng toàn Năng là Đức Chúa”. Họ đi bộ về Nhà Chúa phải mất một tuần lễ. Vừa đi vừa hát “thánh vịnh lên đền” : tôi vui sướng biết bao khi người ta nói với tôi rằng nào ta tiến về Nhà Chúa.

Chúa Giêsu lên 12 tuổi, cùng cha mẹ và đoàn hành hương tiến về Đền Thờ theo tập tục ngày lễ. Đối với người Do thái, 12 tuổi là tuổi trưởng thành. Chúa Giêsu bộc lộ sự khôn ngoan trước các bậc thông thái. Sau khi dự lễ vượt qua, Người ở lại Đền Thờ tranh luận với các tiến sĩ luật “mọi kẻ nghe Ngài đều sửng sốt về trí thông minh và các lời Ngài đối đáp”.

Sau đó cả gia đình trở về Nazareth. “Chúa Giêsu hằng vâng phục hai ông bà”. Con Thiên Chúa làm người và thuộc về một gia đình, một mái ấm có cha có mẹ. Con Thiên Chúa đã lớn lên trong bầu khí gia đình. Mái nhà là trường học đầu tiên. Cha mẹ là thầy cô căn bản. Đức Giêsu lớn dần về mọi mặt trong Thánh Gia đạo hạnh. 30 năm sống dưới mái nhà Nazareth, Đức Giêsu đã thành một người chín chắn và trưởng thành, sẵn sàng lãnh nhận sứ vụ Chúa Cha trao phó. Đức Giêsu đã học nơi Thánh Giuse tinh thần lao động miệt mài, tâm tình tín thác và luôn thi hành thánh ý Thiên Chúa, lòng nhiệt thành chu toàn trách nhiệm đối với gia đình. Đức Giêsu học nơi Đức Mẹ nét đẹp hiền lành đơn sơ tế nhị, tận tụy phục vụ, tin tưởng phó thác, cầu nguyện thâm trầm.Nếp sống đạo đức của cha mẹ đã ảnh hưởng sâu xa đến cuộc đời Đức Giêsu. Người thừa hưởng nơi cha mẹ lòng yêu mến lề luật, gắn bó với Đền Thờ, thói quen siêng năng nghe và đọc Lời Chúa. Người học nơi cha mẹ tâm tình vâng phục thánh ý Chúa, thái độ hiền lành khiêm nhường, tinh thần phục vụ quên mình, chuyên chăm làm việc, ân cần âu yếm đối với con cái. Gia sản quý báu từ Thánh Gia bàng bạc trong những lời Người giảng dạy, trong đời sống của Người.

2. Gia đình “ngôi nhà thờ phượng Chúa”

Công Đồng Vaticanô II đã ví “gia đình như một Hội Thánh nhỏ” (Hiến chế Ánh sáng muôn dân số 11).Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã định nghĩa : “gia đình là Hội Thánh tại gia” (Tông huấn đời sống gia đình số 11).

Gia đình là Hội Thánh tại gia, bởi lẽ:

– Chúa Giêsu đã sinh ra và lớn lên trong gia đình Nazareth,có Thánh Giuse và Đức Mẹ.Thánh gia là mẫu mực cho mọi gia đình.

– Gia đình Công giáo là trường học đức tin đầu tiên,là môi trường sống các bí tích và thực hành các nhân đức Kitô giáo. “Gia đình Công Giáo trở thành nơi gặp gỡ đặc biệt, có sức thánh hoá với tình yêu của Đức Kitô” (Tông Huấn Kitô Hữu Giáo Dân số 15).

– Cha mẹ là những nhà giáo dục đầu tiên và chính yếu của con cái.

– Gia đình là cộng đoàn thờ phượng Thiên Chúa. Qua đời sống cầu nguyện, lãnh nhận các bí tích,gia đình toả sáng sự bình an, trổ sinh nhiều hoa trái thánh thiện.

Để trở thành Hội Thánh tại gia, mỗi thành viên phải ý thức về căn tính cao cả và chức năng quan trọng của mình. Mỗi ngày, thể hiện rõ nét hơn những tính chất căn bản của Hội Thánh tại gia như hiệp thông, liên đới, yêu thương, thuận hoà, tôn ti trật tự, kinh nguyện sáng tối, sống phục vụ, làm chứng nhân Tin mừng.

3. Gia đình “trường dạy đức tin”

Gia đình là nơi trẻ em và thanh thiếu niên hấp thụ nền giáo lý chân chính từ cha mẹ.Công đồng Vaticanô II mong muốn các bậc cha mẹ là những người đầu tiên ”dùng gương lành và lời nói,truyền dạy đức tin cho con cái”. (Hiến chế tín lý về Giáo hội số 11).Gia đình chu toàn được sứ mệnh cao cả này nhờ yêu thương,cùng nhau học hỏi và cầu nguyện để hạt giống đức tin được triển nở.(Sắc lệnh tông đồ giáo dân số 11).

Cha mẹ chăm lo giáo dục nhân bản và giáo dục tâm linh cho con cái.

Với con cái, cha mẹ là những sứ giả đầu tiên của Chúa (GLTC # 2225). Hạt giống đức tin nơi trẻ em được gieo và chăm sóc trong môi trường gia đình sẽ phát triển thành cây đức tin.Gia đình là vườn ươm, là thửa đất tốt. Dạy giáo lý như cung cấp chất dinh dưỡng. Tuỳ theo mức độ hấp thụ, tuỳ theo thời điểm, cây đức tin nơi đứa trẻ sẽ phát triển và đơm bông kết trái. Dạy giáo lý tại gia đình, cha mẹ góp phần với Hội Thánh trong sứ vụ đào tạo đức tin cho con cái.

Những yêu cầu của giáo lý tại gia

– Giáo lý đơn giản: Giáo lý tại gia mang tính đơn sơ dễ hiểu,không bài bản nhưng lại rất hiệu nghiệm vì nó có sức tác động đúng thời điểm phát triển thể lý và tâm linh của một con người.

– Giáo lý cơ hội: Giáo lý tại gia có tính uyển chuyển,tuỳ dịp,tuỳ việc.Dựa vào những việc tự nhiên xảy ra trong gia đình mà dẫn con cái tới chân lý tôn giáo.

– Giáo lý kinh nghiệm: Giáo lý tại gia mang tính cụ thể và thiết thực vì dựa trên những kinh nghiệm xảy ra ở gia đình và xã hội.Giải đáp những vấn đề quan trọng do trẻ em gợi ra.Những câu hỏi “tại sao” thường xuyên của trẻ thường gợi lên nhiều vấn đề nhân sinh quan trọng mà cha mẹ không thể né tránh,viện cớ trẻ chưa hiểu.

Một vài việc cụ thể của giáo lý tại gia

– Dạy con từ thuở còn thơ: Phải giáo dục đức tin cho con cái từ những năm đầu của tuổi thơ nhi. Dạy dạy giáo lý trong gia đình luôn đi trước,đi kèm và phong phú hoá các hình thức giáo lý khác.Cha mẹ có sứ mạng dạy cho con cái biết cầu nguyện và khám phá ra ơn gọi làm con Thiên Chúa ( GLCG # 2226).Những kinh đọc vắn tắt mà trẻ nhỏ bập bẹ sẽ là khởi điểm cho một cuộc đối thoại đầy tình yêu mến với Thiên Chúa mà sau này nó sẽ bắt đầu nghe lời. (Tông huấn dạy giáo lý, số 36).

– Dạy con cầu nguyện: Những giờ đọc kinh cầu nguyện là những giờ giáo lý sống động nhất vì bản chất và mục đích của việc dạy giáo lý là truyền đạt sức sống Tin Mừng và đưa đến đối thoại,gặp gỡ chính Đức Kitô;và như vậy đọc kinh cầu nguyện là thể hiện chiều kích hàng dọc này (GLCG # 2685).

– Dạy con làm quen với Lời Chúa: Cha mẹ kể chuyện Thánh Kinh,chuyện về Đức Giêsu,chuyện các Thánh,chuyện người tốt việc tốt để chúng làm quen với Lời Chúa.Có thể lợi dụng nhiều cơ hội để kể chuyện Phúc Âm,giảng giải Lời Chúa một cách đơn sơ,ấm cúng và đầy ý vị.

– Dạy con học giáo lý: Thiếu nhi học giáo lý ở các lớp học, chúng cũng cần được bồi dưỡng, nhắc nhở để những điều đã học được thông hiểu và ghi vào ký ức.Những dịp con cái được nhận lãnh bí tích (Xưng Tội,Rước Lễ,Thêm Sức), cha mẹ cần lưu tâm đến giáo lý nhiều hơn và tích cực giúp chúng nhận lãnh bí tích cách sốt sắng.Giáo lý tại gia không những nhắm đến con cái mà chính các bậc cha mẹ cũng phải học hỏi trau dồi giáo lý.Cha mẹ là người hướng dẫn chăm sóc cho con cái biết Chúa Kitô nhưng đồng thời cùng với con cái,cha mẹ cũng là những người cần được học hỏi để yêu mến Chúa Kitô hơn.

4. Gia đình “mái ấm tình thương”

Gia đình là cộng đoàn hiệp thông và liên đới chặt chẽ giữa các thành viên với nhau, bình đẳng về phẩm giá, về ơn gọi trước mặt Chúa và trước mặt nhau. Nhờ đó gia đình trở nên mái ấm với cuộc sống an hoà, yêu thương đầm ấm, chia sẽ, giúp đỡ, hy sinh quên mình vì hạnh phúc của nhau.

Gia đình là cộng đoàn phục vụ yêu thương. Luật yêu thương thúc đẩy gia đình Công Giáo gắn bó chặt chẽ với Hội Thánh là dân Tư Tế, Ngôn Sứ và Vương Đế, để phụng sự Thiên Chúa và phục vụ tha nhân, cùng cộng tác với Hội Thánh trong sứ mạng truyền bá đức tin. Noi gương Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường, hiến thân phục vụ mọi người.

Từ “GIA ĐÌNH” bao gồm người cha, người mẹ và con cái. Trong Anh ngữ, gia đình là “FAMILY”, từ này có một ý nghĩa rất sâu đậm, được diễn đạt như sau: Family = (F)ather (A)nd (M)other, (I) (L)ove (Y)ou ! Nghĩa là: “Cha Và Mẹ Ơi, Con Yêu Thương Cha Mẹ.”

Hãy gìn giữ mái ấm gia đình. Hãy đặt ưu tiên cho hạnh phúc gia đình.

Ngày nay, trong xã hội tiêu thụ, vì bận rộn với công việc kiếm tiền, một số cha mẹ không gần gũi, không dành thời giờ cho con cái. Vì thế, chúng cảm thấy bị bỏ rơi, thiếu tình thương. Theo mức độ, con cái sẽ lâm bệnh chán nãn, buồn phiền, không thích học nữa, lỳ lợm, xấc láo, ích kỷ, vô cảm, đua đòi thiếu suy nghĩ.Một số phụ huynh chỉ mong con mình học giỏi, thành đạt, kiếm được nhiều tiền. Họ ít quan tâm đến đời sống đạo đức của con, không lo giáo dục đức tin cho con. Có cha mẹ quan niệm, lo cho con được Xưng Tội, Rước Lễ, Thêm Sức là đủ rồi; vì thế có em sau khi Thêm Sức là bỏ nhà thờ. Sự đa dạng của vi tính và internet quá hấp dẫn lôi kéo con cái chúng ta ra khỏi thực tế rồi đi vào thế giới ảo. Lối sống hiện đại cũng dễ đánh mất bầu khí mái ấm. Mỗi người có một phòng riêng, một thế giới riêng nên mọi người ít quan tâm đến nhau, ít giúp đỡ nhau. Hãy nhớ gia đình là thiêng liêng cao quý, còn công việc chỉ là vật chất tầm thường. Mọi thành viên có thể hy sinh công ăn việc làm cho mái ấm gia đình.

Tình yêu từ mái ấm sẽ làm trổ sinh hoa trái cho đời sống gia đình.

Lòng bác ái: Trên mọi đức tính hãy có lòng bác ái, đó là mối giây liên kết tuyệt hảo (Col 3,14). Bác ái là tình yêu rộng lớn; là tình yêu mạnh hơn tội lỗi, sự dữ, khổ đau và cái chết. Tình yêu mãnh liệt như thế mới liên kết mọi sự và mọi người lại với nhau. Chính Thiên Chúa đã gieo vào lòng chúng ta lòng bác ái đó.

Là tình yêu được tiếp sức bởi tình yêu của Thiên Chúa, lòng bác ái giúp mọi người gắn bó với nhau làm nên mái ấm gia đình. Lòng bác ái làm cho mọi người chấp nhận nhau, chịu đựng lẫn nhau, tha thứ hy sinh cho nhau, chia sẻ cho nhau, ban tặng cho nhau bản thân mình.(Col 3,12-13).

Niềm vui: Hạnh phúc là niềm vui của mỗi người và mọi người trong gia đình chung sống với nhau. Niềm vui của chồng vợ, con cái cháu chắt. Niềm vui đời thường, niềm vui nhỏ làm thành hạnh phúc.Niềm vui từ tình yêu làm cho gia đình thành mái ấm.

Bình an trong gia đình: Tâm hồn bình an là tâm hồn đạo đức. Chúng ta được bình an khi hòa giải với Chúa, tin và yêu Chúa. Chúng ta được bình an khi hòa giải với chính mình, khi hòa giải với những người sống chung quanh. Chúng ta được bình an khi tâm hồn không chất chưa tham vọng, không chất chứa oán hờn ganh ghét. Chúng ta được bình an khi tâm hồn không bị xáo trộn bởi đam mê bất chính. Chúng ta được bình an khi là con người tự do đích thực và tôn trọng người khác. Đó là bình an Chúa Kitô ban tặng cho chúng ta.

Thật đúng như nhận định của thư HĐGMVN: “Gia đình vẫn là cái nôi thông truyền đức tin cho con cái, là trường dạy giáo lý đầu tiên cho thế hệ trẻ, là nơi đào tạo những Kitô hữu vững mạnh trong đức tin và gương mẫu trong đời sống đạo đức”.

Gia đình thật quan trọng. Chính gia đình quyết định tương lai của trẻ thơ. Gia đình là vườn ươm. Hạt giống tuổi thơ lớn mạnh được là nhờ vườm ươm có đầy đủ nước, phân bón và sự ân cần chăm sóc.Gia đình là bầu khí quyển. Bầu khí có trong lành thì trẻ thơ mới phát triển được mọi mặt. Gia đình là con đường. Đường có ngay thẳng có định hướng thì tương lai trẻ mới tươi sáng không đi vào ngõ cụt cuộc đời.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II hằng nhắc nhở về sự thánh thiêng của gia đình khi Ngài gọi gia đình là nền tảng của Giáo Hội. Đức Thánh Cha Phaolô VI gọi gia đình là Cung Thánh của Giáo Hội, là trường học đầu tiên của con cái mà cha mẹ là thầy cô.

Đức Cố Hồng Y FX Nguyễn Văn Thuận cũng từng viết: “Chủng Viện thứ nhất, Đệ Tử Viện thứ nhất, trường Sư Phạm thứ nhất là Gia Đình Công Giáo. Không vị giám đốc tài ba nào, hay chuyên môn đến đâu có thể làm thay cha mẹ được. Nếu cơ sở bậc nhất ấy bị hỏng, tương lai Hội Thánh và xã hội cũng rung rinh sụp đổ”.

Từ mái ấm gia đình, cha mẹ con cái siêng năng tham dự Thánh Lễ, chuyên chăm Kinh Nguyện tại gia, biết dùng Lời Chúa làm ánh sáng soi đường chỉ lối, luôn sống hoà thuận yêu thương nhau, thì “Đây là phương thế cụ thể và hữu hiệu nhất để anh chị em góp phần vào công cuộc Tân Phúc Âm hoá mà Chúa Giêsu đã trao phó cho Giáo Hội và từng người chúng ta”.

Năm Đức Tin, theo gương Thánh Gia, mỗi gia đình hãy nỗ lực thi lời mời gọi của HĐGMVN : “Ngày nay, dù phải đối diện với nhiều lo toan trong cuộc sống, xin anh chị em cố gắng duy trì và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Công Giáo”.

[về Mục Lục]

Bài 16. Trân trọng mái ấm gia đình
Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

Hôm nay lễ thánh gia thất. Nói đến thánh gia là nói đến một gia đình hạnh phúc. Một gia đình luôn đồng cảm với nhau, chia sẻ vui buồn với nhau và cùng dìu nhau đi qua những thăng trầm của dòng đời. Gia đình thánh gia nơi có thánh Giuse, một người cha luôn là lá chắn chở che cho gia đình. Gia đình thánh gia, nơi có Mẹ Maria luôn sống âm thầm, tận tuỵ trong công việc của mình. Và nhất là có Chúa Giê-su luôn kính trọng và vâng lời cha mẹ.

Chính các ngài đã tạo nên một mái ấm gia đình. Các ngài đã làm cho gia đình trở thành thiên đường tại thế khi mỗi thành viên đều sống có trách nhiệm với gia đình và cùng nhau vun trồng hạnh phúc cho gia đình. Nhất là các ngài luôn tìm kiếm ý Chúa và thực thi trong cuộc đời.

Là người ai trong chúng ta cũng có một gia đình. Gia đình là chỗ chúng ta tựa nương. Gia đình là thành trì vững chãi cho cuộc đời chúng ta. Gia đình mang lại cho chúng ta niềm vui, tiếng cười. Gia đình là chiếc nôi êm ái cho cuộc đời chúng ta. Thế nên, khi xa gia đình, chúng ta vẫn luôn cảm thấy mất mát, trống vắng trong cõi lòng.

Có một lời bộc bộc bạch của một người con vừa chập chững bước chân vào đời đã tâm sự: “Em nghĩ tới mẹ em lúc em đi học về, lúc em đói bụng. Nghĩ hồi trước về nhà, đi học về, có mẹ nấu đồ ăn, có cơm sẵn cho mình ăn. Bây giờ, đi học về, ngồi gặm bánh mì thui thủi một mình hay nấu mì gói.

Em nhớ mẹ trong lúc đi làm, khi bị người ta nói này nói kia. Mình nghĩ lúc ở nhà, ba mẹ la mình thì mình giận, nghĩ là không thương mình. Rồi bây giờ, đi ra ngoài đi làm, người ta khó khăn với mình thì mình cũng phải chịu thôi, không nói lại được. Nên nghĩ lại thấy thương nhớ cha mẹ.”

Lời tâm tình này cũng là tâm sự của nhiều bạn trẻ – những chú chim non vừa bay ra khỏi tổ, tự một thân một bóng phải vật lộn, chống chọi lại mọi thứ để tồn tại trong khoảng không gian bao la vô tận mà trước đây bầu trời xanh trong với những ước mơ bay bổng từng thu hút và đầy quyến rũ để các chú chim luôn khao khát mau được bay ra khỏi tổ một cách tự do, độc lập.

Chính vì thế mà có nhiều bạn trẻ khi va vấp những khó khăn trong cuộc sống mới giật mình xót xa:

“Có đôi lúc,
Mải mê quay với dòng đời ồn ã
Những đô hội thị thành
Những phương trời lạ
Chợi giật mình tỉnh giấc nhớ mẹ cha.”

Có một sự thật là khi còn trong mái ấm gia đình chúng ta lại sống dửng dưng. Chúng ta luôn muốn thoát ra khỏi sự ràng buộc của gia đình. Chúng ta muốn tự do, tự tại, tự hành xử theo ý mình. Nhưng, đường đời đâu mấy khi bằng phẳng, dòng đời đâu mấy khi bình yên, đã giúp chúng ta nhận ra không ở đâu bình yên cho bằng gia đình, không ở đâu có tình yêu chân thành cho bằng tình cha mẹ yêu con. Lúc này, kẻ xa quê mới cảm thấy xót xa:

“Giữa bể đời, bao la rộng lớn.
Con bơ vơ, phố xá đông người.
Tìm lối về, mênh mông bóng tối.
Con khóc nhiều, số phận thương đau.
Cuộc đời con, cần một hạnh phúc.
Mái ấm gia đình, buổi cơm chung.
Cùng nhau sum vầy, ba ngày tết.
Mười bảy năm rồi. Có được đâu!”

Hôm nay là lễ thánh gia, ngày thánh hoá các gia đình. Chúng ta xin ơn Chúa thánh hóa từng gia đình chúng ta và ban cho chúng ta một mái ấm gia đình hạnh phúc yêu thương. Xin cho mỗi thành viên trong gia đình biết trân trọng những ngày tháng bên những người thân yêu nơi gia đình, biết hy sinh, biết sống nhường nhịn và thân ái với nhau. Xin cho chúng ta cũng biết xây dựng gia đình mình hạnh phúc bằng việc chu toàn bổn phận và sống có trách nhiệm với gia đình. Xin đừng xúc phạm đến nhau khi đang được cùng sum họp trong một mái ấm gia đình. Và xin cho mỗi thành viên biết lắng nghe tiếng Chúa và đáp lại thánh ý trong cuộc sống hằng ngày. Amen./.

[về Mục Lục]

Bài 17. Bí quyết giữ tình gia thất
Lm Phạm Quốc Hưng

Trong chương trình tình yêu cứu chuộc dành cho nhân loại, Thiên Chúa đã quan phòng cho Chúa Giêsu được sinh ra và lớn lên trong khung cảnh một gia đình-Thánh Gia Thất. Chúa Giêsu không những chọn Đức Maria Vô Nhiễm làm Mẹ, nhưng Người còn chọn Thánh Giuse Đồng Trinh làm Cha nuôi của Người nữa. Cùng với Đức Mẹ và Thánh Cả Giuse, Chúa Giêsu đã để lại cho chúng ta mẫu gương một gia đình hạnh phúc thánh thiện tuyệt hảo để chiêm ngắm và noi theo.

Bí quyết để gìn giữ tình yêu gia đình chính là sự hiệp thông trong Chúa giữa các thành viên trong gia đình. Lời đáp ca trong Phụng Vụ hôm nay cho thấy bí quyết để đem lại hạnh phúc cho mỗi người cũng như mỗi gia đình chính là lòng kính sợ Chúa và sống theo Lời Chúa và Luật Chúa: “Phúc thay những bạn nào tôn sợ Thiên Chúa, bạn nào ăn ở theo đường lối của Người” (Tv. 127:1). Tác giả sách Huấn Ca trong bài đọc một cho thấy với những người làm con, lòng kính sợ Chúa phải được diễn tả qua việc thực hành đức hiếu thảo đối với cha mẹ (3:3-7, 14-17a). Trong thư gửi tín hữu Côlôxê trong bài đọc hai, Thánh Phaolô Tông Đồ đã dạy họ phải sống ơn gọi Kitô hữu cách thiết thực trong đời sống hôn nhân gia đình. Họ phải sống “như những người được chọn của Thiên Chúa, những người thánh thiện và được yêu thương” (3:12) và “trên hết mọi sự, anh em hãy có đức yêu thương, đó là dây ràng buộc điều toàn thiện” (Cl 3:14) để cư xử với nhau. 

Tôi thích diễn tả sự hiệp thông-bí quyết để gìn giữ và phát triển tình gia thất-trong mấy câu nói ngắn gọn, dung dị nhưng thật quý giá của đời thường trong tiếng Anh như sau: “I love you” (Anh thương em), “Thank you” (Cảm ơn em), “Im sorry” (Anh xin lỗi), “Please…” (Làm ơn…) và “Let us pray!” (Chúng ta hãy cầu nguyện).

Lời yêu thương “I love you” là lời người ta mong muốn được nói và được nghe hơn cả khi thực sự thương nhau. Câu nói này bao gồm ý nghĩa tình yêu là sự sống; vì thế tình yêu cần được gìn giữ, chăm nom, nuôi dưỡng, bảo vệ và canh tân liên lỉ. Thiếu sự quan tâm săn sóc, tình gia thất sẽ yếu nhược và chết dần! Lời yêu ấy phải được diễn tả không phải chỉ bằng môi miệng nhưng bằng cả con người và cuộc sống hy sinh quên mình vì hạnh phúc của người thân yêu.

Lời cảm ơn “Thank you!” quý giá chừng nào vì tình yêu là quà tặng vô giá người ta dành cho nhau. Nhà văn Duyên Anh trước đây đã viết một tiểu thuyết với tựa đề thật dễ thương: “Cảm ơn em đã yêu anh!” Hai chữ “ân tình” diễn tả thật tuyệt sự cần thiết của lòng biết ơn trong tình gia thất. Thánh Phaolô trong Phụng Vụ hôm nay cũng nhắc nhở chúng ta: “Anh em hãy cảm tạ Thiên Chúa” (Cl 3:15). Trung tâm đời sống Công giáo là Thánh Thể, mà nguyên ngữ Hy Lạp của Thánh Thể là Eucharistia, nghĩa là tạ ơn! Chúng ta phải tập sống đời tri ân ở trần gian để được đời đời tạ ơn Thiên Chúa trên Thiên Quốc mai sau.

Lời xin lỗi “Im sorry” cần thiết chừng nào trong đời sống con người bất toàn của chúng ta. Đó chính là chiếc phao cứu nguy, là thuốc hồi sinh cho tình gia thất, là hình ảnh thật đẹp của tình yêu cứu chuộc. Chúng ta cần khiêm tốn để nhận lỗi và xin la, cũng như cần quảng đại để thứ tha. Đây chính là điều Thánh Phaolô cũng nhắc nhở chúng ta trong Phụng Vụ hôm nay: “hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau nếu người này phải có chuyện oán trách người kia” (Cl 3:13). Đó chính là điều Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta trong Kinh Lạy Cha, khi Người chúng ta xin Chúa “tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”.

Lời yêu cầu lịch duyệt “Please…” nhắc nhở sự kính trọng chúng ta phải có với nhau, vì mỗi người chúng ta là hình ảnh của Chúa, là con Thiên Chúa. Sự thân mật trong tình gia thất phải được gắn liền với lòng kính trọng đối với nhau. Cha ông chúng ta thật khôn ngoan khi nói: “tương kính như tân”. Thiếu kính trọng tình yêu dễ trở thành tầm thường, nhàm chán!

Lời mời gọi nhau cầu nguyện “Let us pray!” phải là lời giúp chúng ta cùng nhau quy hướng về Thiên Chúa là nguồn mạch sự sống, tình yêu và hạnh phúc của chúng ta. Lời cuối này phải được coi là cần thiết nhất, hữu ích nhất và cao trọng nhất, vì nó giúp chúng ta đạt được mọi ơn cần thiết để chu toàn ơn gọi trong tình gia thất. Cha Peyton-vị linh mục nổi tiếng về việc truyền bá Kinh Mân Côi-đã để lại một câu nói bất hủ: “Gia đình cầu nguyện-Gia đình bền vững!” Trình thuật Đức Mẹ tìm lại Chúa trong Đền Thờ trong Tin Mùng hôm nay cho thấy Thánh Gia Thất luôn đặt việc thờ phượng Chúa làm trung tâm và tột đỉnh của đời sống gia đình.

Lạy Mẹ Maria là Nữ Vương Các Gia Đình, xin Mẹ chúc phúc cho từng gia đình và cộng đoàn chúng con, để mỗi gia đình và cộng đoàn chúng con trở thành một mái ấm yêu thương hạnh phúc thánh thiện noi gương Thánh Gia Thất,  đúng như lòng Chúa mong muốn. Amen.

[về Mục Lục]

_________________________

Share This Post