Chú giải và chia sẻ Tin Mừng Chúa Nhật XXVI TN – năm B

CÁC BÀI CHÚ GIẢI VÀ CHIA SẺ TIN MỪNG CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN – NĂM B

Lời Chúa: Ds 11,25-29; Gc 5,1-6; Mc 9,38-43.45.47-48

 

MỤC LỤC

CÁC BÀI CHÚ GIẢI
1. Đức Giêsu giáo huấn các môn đệ (Lm PX Vũ Phan Long, ofm)
2. Chú giải mục vụ của Jacques Hervieux
3. Chú giải của Noel Quesson
4. Chú giải của Fiches Dominicales

CÁC BÀI CHIA SẺ
1. Nghiêm luật (Trầm Thiên Thu)
2. Thiên Chúa quy tụ tất cả (P. Trần Đình Phan Tiến)
3. Diệt trừ gương xấu (Linh Mục Inhaxiô Trần Ngà)
4. Phải Cố Gắng (Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)
5. Môn đệ Đức Giêsu: Cởi mở và bác ái (Lm. Antôn Trần Thế Phiệt, DCCT)
6. Đừng gây cớ vấp phạm (Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT)
7. Lối ứng xử của người môn đệ chân chính (Lm. Đan Vinh)
8. Khóc với kẻ khóc và vui với người vui (Giêrônimô Nguyễn Văn Nội)
9. Bè phái (JM. Lam Thy ĐVD)
10. Bạn & Thù (AM Trần Bình An)
11. Chứng nhân Tin Mừng (Lm Dom Châu Hoàng Ngọc)
12. Tin Mừng dữ dội (Lm Giuse Nguyễn Hữu An)

A. BẢN VĂN (Mc 9,38-48):

Khi ấy, Gioan thưa cùng Chúa Giêsu rằng: “Lạy Thầy, chúng con thấy có kẻ nhân danh Thầy mà trừ quỷ, kẻ đó không theo chúng ta, và chúng con đã ngăn cấm y”. Nhưng Chúa Giêsu phán: “Ðừng ngăn cấm y, vì chẳng ai có thể nhân danh Thầy mà làm phép lạ, rồi liền đó lại nói xấu Thầy. Ai chẳng chống đối các con, là ủng hộ các con. Ai nhân danh Thầy mà cho các con một ly nước vì lẽ các con thuộc về Ðấng Kitô, Thầy bảo thật các con: kẻ đó sẽ không mất phần thưởng đâu. Nhưng nếu kẻ nào làm cớ vấp phạm cho một trong những kẻ bé mọn có lòng tin Thầy, thà buộc thớt cối xay vào cổ người ấy mà xô xuống biển thì hơn.

“Nếu tay con nên dịp tội cho con, hãy chặt tay đó đi: thà con mất một tay mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai tay mà phải vào hoả ngục, trong lửa không hề tắt. Và nếu chân con làm dịp tội cho con, hãy chặt chân đó đi: thà con mất một chân mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai chân mà phải ném xuống hoả ngục. Và nếu mắt con làm dịp tội cho con, hãy móc mắt đó đi, thà con còn một mắt mà vào nước Thiên Chúa, còn hơn là có đủ hai mắt mà phải ném xuống hoả ngục, nơi mà dòi bọ rúc rỉa nó không hề chết và lửa không hề tắt”.

__________________________________________________________________

B. CÁC BÀI CHÚ GIẢI

Bài 1. Chú giải của Lm PX Vũ Phan Long, ofm: ĐỨC GIÊSU GIÁO HUẤN CÁC MÔN ĐỆ

1- Ngữ cảnh

Bản văn này dường như là một tổng hợp những chất liệu khác biệt.

Ở cc. 38-41: Ta thấy điều đó ngay khi nhìn bề ngoài nơi việc thay đôi thường xuyên các nhân vật: Gioan nói ở ngôi thứ nhất số nhiều, Đức Giêsu trả lời ngay bằng một câu ở ngôi thứ nhất số ít, rồi bằng một câu khác ở ngôi thứ nhất số nhiều và cuối cùng, ở c. 41 thì ngỏ lời với các môn đệ (hymas, “anh em”). Rồi, c. 41 nối với c. 37 thì khớp hơn là nối với cc. 38-40. Khối cc. 38-40 dường như là một đơn vị độc lập được viết nhằm giải quyết một một vấn đề cụ thể của cộng đoàn, với nội dung và cấu trúc sê-mít: c. 39 là một mệnh đề điều kiện theo kiểu Sê-mít; c. 10 có giọng văn một cách ngôn. Dường như c. 41 được ghi giữ lại trong Mt 10,42, ở dạng cổ hơn: “Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi…”; bản văn nói về đề tài “những kẻ bé nhỏ” đã được tác giả Mc chuyển thành đề tài “các môn đệ”.

Đến cc. 42-48, chúng ta cũng nhận thấy có những câu nói thuộc các thể văn khác nhau. Dường như c. 42 tiếp nối đề tài những kẻ bé mọn của cc. 37 và 41. Các câu 43, 45 và 47 có cùng một cấu trúc và lặp lại nhịp nhàng đề tài cớ làm sa ngã. Có thể nói, các tư tưởng được liên kết với nhau chỉ về mặt từ ngữ, bằng những “từ móc nối”. Điều đó đặc biệt rõ ràng trong cc. 48-50: “lửa” ở c. 48 đưa đến “lửa” ở c. 49; tại đây “(ướp bằng) muối” đưa tới “muối” ở c. 50. Nhưng trước đó, động từ “làm cớ sa ngã” làm cho cc. 42-48 được thống nhất. Và thuật ngữ “vì danh” móc nối cc. 37 (“vì danh Thầy”), 38-39 (“vì danh Thầy, “vì danh Ta [Thầy]”) và 41 (“vì lẽ anh em thuộc về Đấng Kitô” diễn tả trong hy ngữ là en onomati hoti, là một kiểu nói Sê-mít). Ngoài ra “một em nhỏ như em này” ở c. 37 móc nối với “một trong những kẻ bé mọn đang tin đây” ở c. 42 (cho dù trong hai câu ấy có hai từ khác nhau: paidion / micro).

Tuy đây là một bản văn gồm những tư tưởng được liên kết với nhau bằng những “từ móc nối”, nhưng khi đã thành một đơn vị văn chương, và đưa vào trong tác phẩm, hẳn tác giả phải có một chủ ý khi đặt nó vào một chỗ nhất định.

Đây là một cuộc chuyện trò giữa Đức Giêsu và Nhóm Mười Hai: Đức Giêsu ngồi (tư thế của vị thầy). Truyện diễn ra “ở nhà” (c. 33), một ngôi nhà ta không biết rõ ai là chủ và toạ lạc ở đâu. Ở đây, ngôi nhà được xác định là tại Caphácnaum, nhưng ta vẫn có thể gặp ở nơi khác, mỗi khi Mc cần có để diễn tả sự kín đáo thân mật trong những giáo huấn Đức Giêsu ban riêng cho các môn đệ, tách khỏi đám đông (7,17; 9,28; 10,10). Trong cuộc trò chuyện, Đức Giêsu nhấn mạnh rõ ràng đến mối nguy đe doạ cộng đoàn khi các môn đệ còn tìm cho được ăn trên ngồi trước.

Cuối cùng, Mc 9,35-50 đến sau lời loan báo Thương Khó lần thứ hai. Từ 8,31 đến 10,45, có ba lời loan báo Thương Khó, mỗi lời đều có kèm theo những mẩu chuyện minh họa tình trạng tăm tối không hiểu của các môn đệ, khiến Đức Giêsu lại có cơ hội ban một giáo huấn về tình trạng cộng đồng sinh mệnh giữa Người và các môn đệ. Riêng ở đây, sau lời loan báo lần hai, vì các môn đệ còn quan tâm đến việc “trên trước”, Đức Giêsu dạy cho họ biết đâu là đường lối của Thiên Chúa.

2- Bố cục

Tuy bản văn rất tản mạn, chúng ta có thể chia thành hai đơn vị:

1) Người ở ngoài nhóm (cc. 38-41);

2) Các cớ làm sa ngã (cc. 42-48).

3- Vài điểm chú giải

Người lấy danh thầy mà trừ quỷ… không theo chúng ta (38-40): Trong Cựu Ước, có một đoạn song song với câu truyện này, đó là câu truyện Enđa và Mêđa không đến họp mà cũng tuyên sấm (Ds 11,26-30; x. Cv 8,18; 19,13-14). Môsê đã tỏ thái độ khoan dung. Trong bài tường thuật Mc, người trừ quỷ đã sử dụng danh Đức Giêsu như một thứ khí cụ đầy sức mạnh (x. Mc 1,24; 5,7). Đức Giêsu dạy các môn đệ tỏ ra khoan dung với người ấy. Thái độ của Người dựa trên ý tưởng này là bất cứ ai đã trừ quỷ nhân danh Người, không thể ngay sau đó lại đi nói xấu Người. Hẳn là Mc đang muốn nêu ví dụ này để phê bình những khuynh hướng độc quyền trong Giáo Hội tiên khởi. Câu 9,40 là một câu tổng-quát-hoá giáo huấn trong c. 39 thành dạng châm ngôn.

Công thức “vì người ấy không theo chúng ta”, chứ không phải là “vì người ấy không theo Thầy” khiến hiểu rằng nhóm các môn đệ là một thực thể khép kín và có thể lời báo cáo của Gioan phản ánh một vấn đề của cộng đoàn.

Cho anh em uống một chén nước (41): Nên nối kết lời khẳng định này với c. 37: Hai câu này soi sáng cho nhau vì ta thấy Đức Giêsu nói về em nhỏ bằng những từ ngữ thích hợp với một sứ giả, một vị thừa sai hơn. Chính truyền thống Tin Mừng đã áp dụng cho các môn đệ những lời và những cử chỉ của Đức Giêsu liên hệ đến các em nhỏ: người ta dễ dàng chuyển đi từ em nhỏ sang người môn đệ được mời trở nên bé mọn (Mt 18,2-5; Mc 9,33-37) hoặc sang “kẻ bé mọn đang tin”, nghĩa là người môn đệ yếu đuối nhất hoặc tầm thường nhất (Mc 9,42; Mt 18,6). Câu 37 liên hệ đến việc tiếp đón em nhỏ nhân danh Đức Giêsu, nghĩa là phù hợp với tinh thần và điều răn của Người, dường như nối kết hai câu được nói trong hai hoàn cảnh khác nhau, một câu (c. 37a) nói về các em nhỏ, câu kia (c. 37b) nói về những sứ giả của Đức Giêsu (x. Mt 10,40; Lc 10,16; Ga 13,20). Được diễn tả trong TM II, c. 37 này hoàn toàn phù hợp với người môn đệ được tiếp đón trong tư cách môn đệ. Nếu chén nước cho người ấy có giá trị đến thế, chính là vì Đức Giêsu tự đồng hoá với người ấy (x. Mt 25,35-45).

Nhờ những lời ấy, các Kitô hữu đầu tiên ý thức rằng họ thuộc về Đức Kitô và do đó, có những trách nhiệm: nhờ các môn đệ, Đức Giêsu tiếp tục hiện diện nơi thế gian này.

Làm cớ cho những kẻ bé mọn đang tin phải sa ngã (42): “Những kẻ bé mọn” đây chính là những Kitô hữu yếu đuối hơn hoặc ít sáng suốt hơn những người khác. Phaolô có lưu ý rằng những người hiểu biết hơn cũng có thể trở thành cớ khiến người yếu phải sa ngã (x. 1 Cr 8,7-13; 9,22; 10,24-29; Rm 14,1-23). Giọng nghiêm khắc của Đức Giêsu khiến ta hiểu phải tôn trọng phẩm giá của những kẻ ấy và phải ân cần săn sóc họ.

– ai làm cớ cho… sa ngã (43-48): Phân đoạn này có cấu trúc giống nhau (“Nếu tay … nếu chân … nếu mắt…”; x. cc. 43.45.47): nếu một chi thể nào là cớ đưa anh em đến chỗ phạm tội, thì loại nó đi để tránh được geenna (hoả ngục) và được vào Nước Thiên Chúa. Không cần phải tìm hiểu xem những tội của tay, của chân, của mắt là những tội nào. Vả lại, loại bỏ những chi thể này đâu hẳn là loại trừ được mối nguy? Chúng tượng trưng cho tất cả các dịp tội mà một Kitô hữu có thể khám phá nơi bản thân hoặc trong các quan hệ bên ngoài. Đức Giêsu chỉ muốn nhấn mạnh đến giá trị tuyệt đối của “sự sống”, của “Nước Thiên Chúa”, tiêu chuẩn tối hậu của mọi chọn lựa của con người (x. Mc 8,35-37 // 10,23-27 // Mt 13,44-45;…).

“Sự sống” thì đối lại với “hoả ngục”, được coi như nơi có những khổ hình dành cho những kẻ tội lỗi bị loại khỏi “sự sống”. Câu trích khá thoáng ở c. 48 gửi chúng ta về với bản văn Is 66,22-24 trong đó vị ngôn sứ gợi lên vinh quang của Giêrusalem, kinh đô tôn giáo của thế giới, trong khi đó ở bên ngoài thành, tử thi của những kẻ phản loạn chống lại Thiên Chúa đang bị giòi bọ rúc rỉa và lửa thiêu đốt. Đây là thung lũng (híp-ri ghê) Hinnôm (hoặc “con cái Hinnôm”: ghê-Hinnôm hoặc ghê ben-Hinnôm; Hy Lạp: ghêenna) gần các cổng thành ở phía nam. Ngôn sứ Giêrêmia đã tuyên sấm rằng đây là nơi mà dân Giuđa sẽ bị trừng phạt nặng nề, vì tội lỗi của họ (sát tế con cho thần Môlốc) đã lên tới cực độ (Gr 7,30-8,3; 19,7; 32,35). Lúc đầu, lửa và giòi bọ là những cách thế xử lý các tử thi, nay đi với nhau (Gđt 16,17; Hc 7,17) hoặc riêng rẽ (giòi bọ: G 25,5; Hc (Híp-ri) 7,17; lửa: Mt 13,42.50…), trở thành biểu tượng của số phận khủng khiếp của những kẻ không chịu đáp lại lời Thiên Chúa kêu gọi hoán cải. Viễn tượng của Mc 9,43-48 là viễn tượng cuộc phán xét chung. Không nên dựa vào những bản văn này mà suy đoán về thế giới bên kia, nhưng mà soi sáng và hỗ trợ sự chọn lựa con đường đưa đến sự sống (x. Mt 7,13-14 so sánh với cc. 24-27).

Ghi chú : C.S. Mann giữ lại một gợi ý thú vị của J.R. Harris: tác giả TM II đã lấy từ La-tinh salis (muối) ở thể accusative (đối-cách) (salem) rồi liên kết từ ấy với Híp-ri salem nghĩa là “bình an, hoà bình” (x. Dt 7,2). Kết quả là chúng ta có một lời khuyến khích các môn đệ giữ cho được sự bình an nơi chính mình và duy trì sự bình an giữa họ với nhau (Mc 9,50).

4- Ý nghĩa của bản văn

* Người ở ngoài nhóm (38-41)

Khi viết đoạn văn này, tác giả có hai mục tiêu. Trước tiên, sau 8,33-37, cách xử sự của Gioan lại cung cấp một ví dụ khác về tình trạng thiếu hiểu biết của các môn đệ và sự cần thiết phải sửa chữa. Các môn đệ không những tranh nhau về chỗ trên trước, các ông còn khoe khoang về những đặc quyền. Đó là một điểm tiêu cực cần điều chỉnh. Kế đó, cách Đức Giêsu đánh giá hoạt động trừ quỷ cho hiểu rằng Người không nhắm thành lập một nhóm khép kín để hưởng các đặc quyền đặc lợi, nhưng là một nhóm biết phục vụ bất cứ ai, trong âm thầm, khiêm tốn.

* Các cớ làm sa ngã (42-48)

Trong khi đi theo Đức Giêsu trong cuộc chiến đấu chống lại sự dữ, các môn đệ phải sẵn sàng tránh làm cớ sa ngã trong mọi trường hợp và phải sẵn sáng chấp nhận những hy sinh. Khi làm như thế, họ không nhắm đạt tới sự hoàn thiện cá nhân nhờ một việc khổ chế, hãm mình, nhưng là để củng cố sự hiệp thông giữa các thành viên. Sự hiệp thông này bị đe dọa bởi sự tranh cãi vê quyền trên trước, bởi việc tìm kiếm các đăc quyền đặc lợi, bởi các cớ làm sa ngã, bởi thái độ khinh bỉ những người thấp kém. Do đó, lệnh truyền cuối cùng là duy trì sự bình an có nghĩa là góp phần giúp người ta vượt lên trên tất cả các mối đe dọa trên (x. Dt 12,14-17).

+ Kết luận

Cho dù là tản mạn, các lời nói trên đây của Đức Giêsu luôn luôn có thể giáo huấn các Kitô hữu. Mc đã trình bày các lời này như những chỉ thị ban cho các môn đệ dấn thân trên nẻo đường đã từng đưa Đức Kitô đến những đau khổ thập giá. Toàn bộ những giáo huấn này nhắm tới lý tưởng một cộng đoàn trong đó mọi người sống hoà thuận với nhau (c. 50b) bởi vì sẵn sàng phục vụ lẫn nhau (cc. 33-35).

5- Gợi ý suy niệm

1. Đức Giêsu như đang nói: Cứ để cho những người ở ngoài nhóm trừ quỷ! Người đang khuyến khích người ta làm những việc phục vụ ít lộ liễu. Quan trọng không phải là làm những việc ngoạn mục, tạo cảm giác mạnh, nhưng là tình yêu diễn tả cách âm thầm, như đơn giản trao một ly nước cho người đang khát.

2. Lời kết án nặng nề của Đức Giêsu đối với kẻ làm cớ cho người khác sa ngã có thể hiểu như là một lời an ủi khích lệ hay một lời răn đe tùy người được nhận lời nói này. Là lời an ủi khích lệ cho những người đạo đức, để họ cứ vững vàng sống đúng tư cách dù có bị thế gian khinh bỉ. Là lời răn đe đối với những người lãnh đạo cộng đoàn: coi chừng kẻo lối ăn nói, cư xử của các ngài lại thành cớ cho những kẻ mà các ngài đã đưa vào đức tin phải mất tinh thần và buông xuôi, hoặc học lấy một cách sống không phù hợp với người môn đệ của Đức Kitô.

3. Những ai có tinh thần của Đức Giêsu thì phải phục vụ như Người: quan tâm đến những kẻ thấp cổ bé miệng, những người cô thế cô thân, và cứ phục vụ họ trong thái độ kín đáo, khiêm tốn. Chỉ những người đó, vì kiến tạo được sự hiệp nhất trong các cộng đoàn, mới có thể làm chứng cho thế giới thấy rằng Nước Thiên Chúa đã ở giữa loài người.

4. Thế giới và lịch sử đều những hạt giống Lời Chúa. Ở bên ngoài Hội Thánh, nơi các dân tộc khắp nơi, nơi những người đang mở ra với làn hơi Thánh Thần, hiện có thực tại phôi thai của Nước Thiên Chúa. Chức năng của Hội Thánh là làm bừng lên và kiện toàn và đưa vào trong Hội Thánh-dấu chỉ thực tại hợp nhất của bất cứ điều gì được gieo vào trong trí tuệ và trái tim con người. Mọi công cuộc phúc âm hóa tùy thuộc vào điển hình này. Lời đã được gieo vào trong trí tuệ và trái tim con người, ta có thể thấy cả nơi các cá nhân và trong các nghi thức và tập tục của các dân tộc. Lời này được Thánh Thần đưa tới chỗ hợp nhất đức tin trong bí tích Rửa tội. Tất cả mọi người đều cần được liên tục kéo đến dấu chỉ hợp nhất. Mọi người đều loan báo Tin Mừng và được loan báo Tin Mừng.

Về Mục Lục

__________________________________________________________________________

Bài 2. Chú giải mục vụ của Jacques Hervieux

HUẤN DỤ TRUYỀN CHO CỘNG ĐOÀN KITÔ HỮU (9,38-50)

Những gì chúng ta đang đọc xem ra không có liên hệ rõ ràng với diễn tiến trước đó (9,33-37). Người ta vẫn có thể nghĩ rằng Chúa Giêsu đang ngồi dạy dỗ các môn đệ. Tuy nhiên rõ ràng các vấn đề đang được bàn đến vượt quá giới hạn của vấn đề trước đó. Với tư cách một giáo lý viên giàu kinh nghiệm, Maccô đã gom góp ở đây nhiều huấn lệnh Chúa Giêsu nói với cộng đoàn Kitô hữu. Sự thu gom này được xác định bởi cách dùng một phương thức cổ xưa của các nền văn minh truyền khẩu để giúp cho dễ nhớ: đó là kỹ thuật dùng các “từ móc”. Các lời nói của Chúa Giêsu thoạt đầu không liên hệ với nhau đã được ghép lại với nhau bằng một từ, một lối diễn tả. Việc này được khởi đầu bằng lối nói: “Vì danh Thầy”. Lối nói này kết bốn câu lại với nhau: 37,38,39 và 41. Tiếp đó, một chuỗi lời nói được dệt chung quanh các từ “làm cớ cho sa ngã” mà người ta gặp bốn lần ở các câu 42,43,45 và 47. Cuối cùng hai đơn ngữ “lửa” và “muối” được dùng để làm cho ba câu 48,49 và 50 ăn khớp với nhau.

Lời giáo huấn đầu tiên của Chúa Giêsu được nói lên nhân việc can thiệp của Gioan, một trong nhóm Muời Hai (c. 38). Lời đề nghị của một trong hai anh em vừa mới được phong biệt danh “Con của Sấm Sét” (3,17) quả đáng ngạc nhiên. Nó bộc lộ cho thấy một tính cách bất bao dung nào đó nói nhóm các tông đồ. Nhóm này có khuynh hướng khai trừ những kẻ đang đứng ngoài lề, dù họ không hoàn toàn bộc lộ ra điều này. Chúa Giêsu không cổ vũ “anh thần pháo đài” (khép kín) trong Giáo Hội Ngài. Ngài nhắc nhở các môn đệ phải biết cởi mở với người anh em lân cận (c. 39). Ngài truyền họ phải rộng mở tiếp đón tối đa mọi kẻ công khai thù nghịch với họ. “Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta” (c. 40). Ta hãy nghĩ đến tầm quan trọng của những lời này đối với một Giáo Hội như Giáo Hội của Maccô hiện đang vị sự bách hại dồn vào thế co cụm, khép kín. Chúa Giêsu còn đi xa hơn với thí dụ về ly nước, dùng để giải khát và tăng sinh lực theo quan niệm Đông phương. Hành vi bác ái nhỏ nhặt nhất mà một kẻ đối nghịch làm cho một Kitô hữu trong một khu vực hết sức thú hằn với nhau, mang rất nhiều giá trị. Chúa Kitô sẽ nhớ đến hành vi ấy trong ngày chung thẩm (x. Mt 25, 31-46).

Trong các câu tiếp theo (42-47) cung giọng thay đổi và trở nên nặng nề nghiêm trọng hơn. Một chuỗi lời nói tác động vào nhau nhờ động từ tiếng Hy Lạp “làm cớ cho sa ngã” (c. 42a). Lời cảnh giác rất nghiêm trọng. Dứt khoát không được “dựng lên chướng ngại” trên con đường của những kẻ tin Chúa. “Những tín hữu bé mọn này” chính là các Kitô hữu mà đức tin phôi thai của họ vẫn còn mỏng manh. Mọi “gương xấu”, theo nghĩa mạnh có thể ví như bẫy gài dưới chân họ, đều sẽ gây tai hại trầm trọng cho lòng trung thành của họ. Phải tuyệt đối đề phòng mọi việc làm gương xấu. Vì thế mỗi anh em trong cộng đoàn phải chú tâm đến tương giao giữa mình và kẻ khác. Chúa Giêsu ra lệnh tới ba lần: “Nếu tay con… nếu chân con… nếu mắt con làm cớ cho con sa ngã”, thì hãy cắt, chặt, móc nó đi! (c. 43a; 45a; 47a). Tay, chân, mắt là những bộ phận chính của cơ thể dùng để liên lạc. Mỗi bộ phận này đều tác động đến cả thân thể. Nếu chúng là cớ gây thương tổn cho kẻ khác thì thà quẳng chúng đi. Đã có trường hợp cắt một phần chi thể bệnh hoạn có thể cứu sống toàn bộ cơ thể. Về mặt thiêng liêng, vấn đề này rất trọng yếu. Thà cụt tay, thọt cẳng, chột mắt mà được vào chốn trường sinh còn hơn là nguyên vẹn mà bị quẳng vào “hỏa ngục là nơi sâu bọ không hề chết và lửa không hề tắt” (c. 43b; 45b; 47b-49).

Các lời nói này xem ra quá cứng cỏi nếu không muốn nói là tàn bạo! Ở đây người ta gợi lên số phận của kẻ tội lỗi bằng những hình ảnh về cái chết vĩnh cửu kèm theo các nhục hình gớm ghiếc (sâu bọ và lửa). Chúng ta hãy nhìn kỹ hơn vấn đề này. Trước hết chúng ta hãy bỏ đi lối đọc theo nghĩa đen các hình ảnh được sử dụng. Không bao giờ Giáo Hội đọc thấy nơi trong Phúc Âm này lời kêu gọi hủy hoại thân thể. Đối với mỗi Kitô hữu, đây chính là lời mời gọi thúc bách họ tự thoát khỏi những gì xấu xa nơi bản thân để đảm bảo phần rỗi cho mình. Quả thế, điều này có liên quan đến sự thành công hay thất bại của cuộc sống loài người. Một bên là cuộc sống đời đời vô tận với Chúa Kitô Phục Sinh, còn một bên là “địa ngục”, từ này muốn nói lên điều gì? Đây là hình ảnh bắt nguồn từ thụ kiến bi đát về hỏa ngục xét như một tình trạng hủy diệt đớn đau những kẻ tội lỗi cứng lòng! “Địa ngục” ở đây là một thung lũng sỏi đá nằm ở mạn nam ngọn đồi của thành Giêrusalem. Vào thời Chúa Giêsu, kể từ các cuộc điều tra dân số, chốn hoang dã ấy được dùng làm chỗ xả rác công cộng của thành đô. Ở đây người ta có thể thấy hàng đống rác rưởi, thú vật hoặc cây cối bị dòi bọ đục khoét; thường xuyên người ta thiêu cả những xác người. Tóm lại, đối với những kẻ do Thầy với Chúa Giêsu, địa ngục gợi lên số phận thích đáng dành cho những kẻ khép lòng lại trước lời kêu gọi của Thiên Chúa. Thị kiến kinh khiếp này đã từng được tiên tri Isaia mô tả: “Trong khi bước ra (khỏi thành phố), người ta có thể trông thấy các thây người từng nổi dậy chống đối ta (Chúa phán). Dòi bọ rúc rỉa chúng sẽ không chết, lửa thiêu đốt chúng sẽ không tắt. Mọi xác thịt sẽ nhờm tởm chúng (Is 66,24).

Quang cảnh được hình dung ở đây tác động mạnh đến các trí tưởng tượng, nhất là từ thời Dantê (thi sĩ nổi tiếng người Ý thể kỷ XIV) đối với nhiều người hỏa ngục và lửa thiêu kinh khiếp nơi đó từ một hình ảnh tượng trưng đơn sơ đã biến thành một thực tế không thể nào chịu nổi. Vì vậy cần phải tái lập lại chân lý. Dù cho lối dùng khoáng đại của nó, Kinh Thánh cũng chỉ muốn diễn đạt một ý tưởng đơn giản đó là Thiên Chúa công bình sẽ trừng phạt tất cả những kẻ hoàn toàn khép lòng lại trước Tình yêu Ngài. Họ sẽ không được hiệp thông với Chúa, bị xa cách Chúa Kitô và các thánh. Mặc dù được Kinh Thánh xác nhận, hỏa ngục vẫn còn là một thực tại mầu nhiệm, khó dung hòa được với hình ảnh một vị Thiên Chúa Tình yêu!

Về Mục Lục

___________________________________________________________________________________

Bài 3. Chú giải của Noel Quesson

Trên con đường đi Xêdarê – Philípphê, nơi Phêrô đã tuyên xưng đức tin, xuyên qua xứ Galilê chỗ Người đã rao giảng Tin Mừng, cho đến Giêrusalem, tới nơi đó Người sẽ chết và Phục sinh, Đức Giêsu không đi một mình. Con đường của “Con Người” cũng là con đường của các môn đệ. Chính, chúng ta cũng đi trên con đường đó theo chân Đức Kitô:

– Tuyên xưng đức tin của phép rửa tội, bằng cách sống Tin Mừng cho đến cuộc vượt qua riêng của chúng ta, đó là sự chết và Phục sinh của mọi người. Trong trình thuật này, Maccô góp nhặt những lời giáo huấn của Đức Giêsu đã giảng dạy trong nhiều dịp khác nhau và bàn về nhiều vấn đề khác nhau. Phần lớn những lời giảng dạy của Đức Giêsu xoay quanh một chủ đề duy nhất: Đó là những đòi hỏi phải có khi chúng ta tin nơi Người. Tin nơi Đức Giêsu, đó là đi theo Người đến những nơi mà Người đã đi qua. Cuộc sống thực tế của các môn đệ, luân lý Kitô giáo không phải là một “luật lệ” được phép hay bị cấm đoán, mà là một sự tham dự vào cách sống của Đức Giêsu.

Ông Gioan nói với Đức Giêsu: “Thưa Thầy: Chúng con thấy có người lấy danh nghĩa Thầy mà trừ quỷ”.

Chính Gioan đã tự nhận là Người môn đệ được Đức Giêsu thương yêu (Ga 21,20). Trong số 12 môn đệ, ông có vẻ hiểu Đức Giêsu nhiều nhất, và là người thân cận nhất của Đức Giêsu.

Trên đường đi, đây là một sự kiện sống động, một “biến cố” nhỏ gây ra một phản ứng. Trong cuộc sống hằng ngày, đức tin đích thực phải được sống động qua những tình tiết ngẫu nhiên. Hôm đó, đã có gì xảy ra trên đường đi của các Ngài?

Gioan đã thấy một “người trừ quỷ” mà không thuộc nhóm của các ông. Tin Mừng ghi lại việc các môn đệ của Chúa đã thử trừ quỷ vài hôm trước, khi vắng Đức Giêsu (Mc 9,18).

Nhưng các ông đã thất bại. Và vì tiếng tăm của Đức Giêsu đã lan rộng, nên người ta cũng dễ hiểu tại sao một người trừ quỷ lạ mặt đến lượt mình cũng có thể tập trừ quỷ. Qua văn chương cổ, chúng ta cũng biết rằng, người Do Thái và ngoại đạo đã trừ quỷ cũng như những nhà phù thủy ngày nay, nhờ pháp thuật rất phổ biến vào thời Đức Giêsu (Cv 8,18).

Dĩ nhiên, ngày nay, câu hỏi của Gioan về việc trừ quỷ sẽ được đặt ra một cách khác, nhưng câu hỏi này vẫn mang tính thời sự, dù bên ngoài có vẻ trái ngược. Ngày nay, cũng như vào thời Đức Giêsu và Gioan vẫn có “những người trừ quỷ”. Những con quỷ thời nay như chúng ta biết rõ, chúng rất đông.

Thí dụ, việc đánh mất ý thức luân lý, khinh thường sự sống, khai thác những người yếu kém và nhỏ bé không tự vệ được nhưng cách đối xử phân biệt chủng tộc, sự phân chia của cải không đồng đều, những đồng lương chết đói, mất cảm thức đích thực về Thiên Chúa, tôn thờ các thần tượng. Đứng trước những “con quỷ” này, chúng ta cũng biết như Giao thời ấy, dù trẻ, già, lớn, bé… tất cả đều phải “khử trừ” sự dữ này và cố tiêu diệt nó, bằng cách làm việc theo nghề nghiệp của mình, bằng các tự nguyện dấn thân vào một phong trào.

Chúng con thấy có người lấy danh nghĩa Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta.

Những người đó không phải là Kitô hữu. Họ không thuộc nhóm chúng ta, phe phái của ta. Hãy cho xem giấy tờ? Bạn không phải là người Việt, không phải Công giáo, không phải là người sống đạo… hay bạn không thuộc nghiệp đoàn của tôi, tông phái của tôi, bạn là phe tả phe hữu, bạn là người bảo thủ, cấp tiến… Vậy thì tôi không nghe bạn nói. Nếu có thể, tôi sẽ làm bạn phải im tiếng, tôi sẽ ngăn cản không cho bạn hành động.

Quả thực, óc biệt phái vẫn chưa chết. Thái độ chia rẽ vẫn tồn tại trong Giáo Hội, cũng như đã có trong đầu óc các tông đồ. Thời đó, Nhóm Mười Hai cứ mải mê ghen tương tranh cãi nhau cách nhỏ nhen về ngôi thứ địa vị.

Đức Giêsu vừa loan báo về sự thương khó của Người. Người sẽ trở nên “kẻ sau rốt, làm đầy tớ mọi người”. Người vừa khuyên các môn đệ phải sẵn sàng phục vụ và đừng tìm kiếm chỗ nhất. Thế mà Gioan, một môn đệ được coi là thân cận nhất, bây giờ lại tỏ vẻ phản ứng. Phản ứng của ông là phản ứng muốn thống trị, muốn quyền lực, muốn nắm độc quyền. Ông muốn giữ cho riêng minh “Quyền lực của Đức Kitô”. Chúng ta không nên xét đoán các tông đồ, cũng đừng xét đoán ai cả. Chúng ta hãy nhìn vào chính bản thân mình.

Trình thuật ngắn gọn này, bề ngoài tầm thường, nhưng nội dung đề cập đến một trong những vấn đề nóng bỏng thời sự nhất: Hồng ân cứu rỗi của Đức Kitô chỉ có hiệu lực bên trong những biên giới “thấy được” của Giáo Hội hay sao?

Trước câu hỏi mang tính thời sự đó, câu trả lời của Đức Giêsu sẽ ra sao?

Đức Giêsu bảo: “Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta”.

Thưa không! Nhóm Mười Hai không phải là nhóm duy nhất nhận lãnh Thần Khí của Thiên Chúa: “Bên ngoài phòng hội của các bạn, Thần khí thổi qua, bất ngờ và tự do như gió” (Ga 3,8).

Từ thời Môsê, tinh thần ngôn sứ đã được phổ biến rộng rãi, và người ta không thể ngăn cản sự tỏ hiện này, kể cả bên ngoài “nhóm” (Ds 11,25-29). Và cả bên ngoài những kẻ “đang ở trong lều”. Và Môsê đã ước mong ân huệ của thần khí cần được ban cho tất cả. Ong đã nói: “ôi ước gì Thiên Chúa có thể đặt Thần Khí của Người trên họ, để làm cho toàn thể dân Người trở thành một dân tộc ngôn sứ. Xin Chúa cho những “người của ‘Thần Khí’ xuất hiện trên măt đất chúng con”.

Không! Người ta không thể xiềng xích Thần Khí được. Thần Khí là tự do. Thần Khí không bị ràng buộc bởi một nghi lễ nào cả. Thần Khí hành động ở bên ngoài những cấu trúc của chúng ta. “Người linh ứng cho cả những ngôn sứ ở bên ngoài” nhóm, bên ngoài Giáo Hội. Câu nói của Đức Giêsu “các con đừng ngăn cản người ấy” đã nói rõ ràng phẩm chất Giáo Hội mà sứ vụ là bảo đảm đức tin chân chính, phải tôn trọng sự bộc phát của Thánh Thần nơi mỗi người được rửa tội, và cả nơi mỗi người không nằm trong những cơ cấu hữu hình của Giáo Hội.

Chúng ta thán phục quan điểm quảng đại của Đức Giêsu, đối nghịch với óc bè phái và bất khoan dung. Thần Khí nào đang ngự trị trong chúng ta? Có phải Thần Khí của Đức Giêsu không?

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con một Thần Khí cao cả quảng đại, thông sáng, bao la như Thần Khí của Thiên Chúa, rộng mở như Thần Khí của Chúa… Thần Khí đó thổi từ bên này qua bên kia thế giới, làm vỡ đổ tinh thần cục bộ của chúng con. Xin Chúa hãy làm chúng con trở nên Công giáo đích thực, nghĩa là “những con người phổ quát”, “nhưng con người biết thông cảm những khác biệt” như Công đồng Vaticanô II đã nhắc nhở chúng con: “Chúng ta cần cổ vũ ngay trong lòng Giáo Hội sự trìu mến, tôn trọng và hãy hòa thuận với nhau, bằng sự chấp nhận mọi dị biệt chính đáng. Chúng ta cởi mở với những người anh em tuy chưa sống hiệp thông trọn vẹn với chúng ta. Chúng ta mở rộng tới những ai đang bảo tồn các yếu tố tôn giáo và nhân bản quý giá trong truyền thống riêng của họ” (GS 9,2).

Các bạn có nhớ không? Đây là sứ điệp đầu tiên của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II vào ngày ngài được tấn phong Giáo Hoàng. “Các bạn đừng sợ! Hãy mở rộng biên giới của các bạn”. Phải chăng chúng ta tự nhiên dễ lên án những ai không thuộc phe chúng ta, những ai không suy nghĩ như chúng ta? Chúng ta có thưởng thức được phần chân lý mà đối thủ chúng ta nắm giữ, nhũng điều tốt mà họ làm được, những thành công nhân bản và xã hội mà họ đã thực hiện không?

Đừng dập tắt ngọn lửa đang cháy, nó phải thiêu đốt thế gian (Lc 12,49).

Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Kitô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.

‘Một chén nước’, không có gì đáng kể. Đó là biểu tượng cho một việc phục vụ nhỏ nhất mà không có thể giúp người khác: Chỉ có một chén nước. Đó là “phàm tước” lạ thường của người môn đệ: “Người ấy thuộc về Đức Kitô”. Người tín hữu bé nhỏ nhất cũng đại diện cho Đức Kitô. Người đồng hóa mình với người Kitô hữu nhỏ bé nhất.

Thánh Matthêu sẽ lấy lại đề tài này trong diễn từ nói về ngày thẩm phán (Mt 25,31-45). “Những gì các ngươi đã làm cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”. Đó là sự lớn lao của mỗi hành vi nhỏ bé của ta, không có gì là nhỏ bé cả. Tôi đã bỏ biết bao cơ hội?

Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ mà quẳng xuống biển còn hơn.

Sau những lời khuyên luận lý tích cực (“cho một chén nước”), giờ đây là sự cảnh giác tiêu cực (“không được làm cớ cho kẻ khác sa ngã”). Nhưng thực ra, đây chỉ là một cách đối xử căn bản: Quan tâm đến kẻ khác.

Ở đây chúng ta khám phá ra một khía cạnh mới của Đức Giêsu: Ngoài tinh thần rộng mở, chúng ta cũng gặp được một sức mạnh bên trong, và khả năng sử dụng mãnh lực đó của Chúa. Thực vậy, sự khoan dung của Đức Giêsu không phải là sự lãnh đạm đối với điều ác. Nếu người khuyên chúng ta phải khoan dung đối với điều thiện được thực hiện bên ngoài nhóm của chúng ta, Người cũng lấy làm bất bình khi thấy người ta có thể lôi kéo một người khác vào sự ác.

Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi còn hơn. Thà cụt tay mà được vào cõi trường sinh, còn hơn là có đủ cả hai tay mà phải sa hỏa ngục, phải vào lửa không hề tắt.

Chỉ mình Đức Giêsu mới có quyền nói những lời phi thường này. Chỉ mình Người mới thực sự biết tội lỗi là gì. Vấn đề này thật là nghiêm trọng và bi thảm đối với Người. Cuộc sống đời đời đáng cho chúng ta dành mọi hy sinh. Chúng ta có thể chọn lựa, dứt khoát và tuyệt đối như thê không? Dù là những kiểu nói vùng Sê-mít có vẻ quá mạnh, nhưng chúng ta cũng không nên làm nhẹ bớt đi ý nghĩa của những câu đó.

Về Mục Lục

___________________________________________________________________________________

Bài 4. Chú giải của Fiches Dominicales

“Ở NHÀ”, VÀI LỜI NHẮN NHỦ ĐỨC GIÊSU GỞI ĐẾN CỘNG ĐOÀN CÁC MÔN ĐỆ

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

1. Đi theo Con Người

Chúng ta vẫn “ở nhà” tức tại Caphácnaum, nơi đây mang một ý nghĩa tượng trưng, nghĩa là nơi Đức Giêsu dạy dỗ riêng cho các môn đệ. Đức Giêsu dừng chân ở đây trên đường lên Giêrusalem. Người sẽ chịu cuộc tử nạn mà trước đây Người loan báo hai lần tại thành này.

– Đặt trong bối cảnh trên đường lên Giêrusalem, chúng ta sẽ rất dễ hiểu những lời Đức Giêsu. Trong “Tin Mừng theo thánh Maccô, B. Standaert nhận xét như sau: “Việc Maccô ghép giáo huấn luân lý của ông vào cuộc khổ nạn của Đức Kitô thật đáng suy nghĩ. Thay vì lên lớp dạy luân lý, hoặc trích dẫn luật lệ trong Kinh Thánh này nọ, ông không nhìn nhận nền tảng đời sống luân lý Kitô giáo nào khác ngoài việc noi gương bắt chước Đức Kitô. Những trình thuật lớn loan báo số phận của Con Người thật ra không phải là những lời khuyến khích, nhưng khởi đi từ thân phận Đức Kitô, ta có thể hiểu ra những việc làm cần thiết mà người Kitô hữu phải tuân giữ. Ta sẽ không còn ngạc nhiên thấy đời sống thực hành này là quyết liệt, không khoan nhượng. Thập giá hiện diện không những trong việc đảo lộn thân phận, làm cho người lớn nhất trở nên kẻ phục vụ mọi người, mà còn trong khả năng dám chặt tay, chặt chân, móc mắt bỏ đi, nếu những chi thể này làm cớ sa ngã”. (Cerf, tr. 78-79)

Những lời Chúa nói được Maccô thuật lại còn vượt ra ngoài phạm vi các môn đệ, để nhắm đến các cộng đoàn Kitô hữu. Điều này có thể làm cho óc suy luận kiểu Tây phương của ta kinh ngạc và lạc hướng. Điều quan trọng trong các những lời Đức Giêsu nói, không phải là những đề tài, mà là những từ đặt trong ngoặc kép, “nhân danh” Đức Giêsu, trong phần đầu đoạn Tin Mừng này, “kẻ bé mọn”và “làm cớ sa ngã” trong phần cuối.

2. Dẹp bỏ tinh thần bè phái

Giáo huấn đầu tiên của Đức Giêsu phát xuất từ phản ứng bè phái của Gioan, con ông Giêbêđê, có biệt danh là “con của sấm sét” (3,17). “Thưa Thầy, chúng con thấy có người lấy danh Thầy, mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta”. Đức Giêsu không đồng ý, Người cảnh giác các môn đệ về nguy cơ muốn chiếm độc quyền về đức tin và Thánh Linh J. Hervieux cắt nghĩa: “Đức Giêsu không chấp thuận cho Hội Thánh của Người có “tinh thần kín cổng cao tường” “tinh thần pháo đài”. Lệnh của Chúa là phải mở rộng vòng tay đón tiếp hết thảy những ai không ló ra thù nghịch với mình. “Ai không chống lại chúng ta, ủng hộ chúng ta”. Chắc hẳn những lời này rất quan trọng đối với một Hội Thánh như cộng đoàn của Maccô, vì lú c đó cuộc bách hại thúc đẩy họ co cụm lại, sống kín cổng cao tường”.

Chúa còn đẩy ý tưởng đó đi xa hơn, nên nêu thí dụ “ly nước lã” Một cử chỉ nhỏ bé nhất được thi hành giúp các môn đệ Người “vì lẽ anh em thuộc về Đấng Kitô” có giá trị trước mặt Chúa: “người đó sẽ không mất phần thưởng đâu”.

3. Dám liều chọn lựa hy sinh

Giọng điệu còn trở nên nghiêm trọng hơn với một chuỗi dài câu được liên kết bằng ‘từ mấu chốt’: “làm cớ sa ngã”.

Trước hết, một lời cảnh cáo nghiêm khắc cho những người dựng lên chướng ngại vật, làm cho những “kẻ bé mọn” (tức là những tín hữu mà đức tin còn non yếu) bị vấp ngã. Ta còn nhờ thánh Phaolô đã cống hiến một phần lớn thư của Người bàn về nguy cơ làm cớ sa ngã. Khi giải thích cho những Kitô hữu đang hoang mang ở Côrintô rằng họ đã được giải phóng khỏi những luật lệ Do thái giáo, thánh tông đồ liền dặn thêm: “Nhưng hãy coi chừng kẻo sự tự do của anh em nên dịp cho những người yếu đuối sa ngã… Thế là sự hiểu biết của bạn làm hư mất một người yếu đuối, một người anh em mà Đức Kitô đã chịu chết để cứu chuộc”.

Hôm nay từ miệng Đức Giêsu, chúng ta cũng đón nhận giáo huấn đó. Vào lúc, Đấng Mêsia-Tôi Tớ, đi lên Giêrusalem để trao nộp mạng sống vì yêu thương, Người long trọng tuyên bố: Trong cộng đoàn các môn đệ, phải hết sức tôn trọng người nhỏ bé nhất trong số các anh em của Người.

Kế đó là ba lời cảnh giác đối với ba chi thể của ta, vì chúng có thể lôi kéo người môn đệ sa ngã: “Nếu tay anh… Nếu chân anh… Nếu mắt anh…”.

M. Quesnel tự hỏi: “Sao chỉ có ba chi thể đó? Chắc hẳn vì chúng tiêu biểu cho những gì loài người thường vi phạm, đó là trộm cướp, bạo lực, ước muốn xấu” (Mc 7, 21-22). Ngoài ra, tay mắt và chân là thứ mà ta có từng đôi, mà nếu mất đi một thì cũng không đến nỗi tàn phế. Việc hài tên chúng lần lượt từng cái một là một kiểu nói hùng biện có tác dụng mạnh đối với người nghe.

Thật ra cách nói khoa trương cũng không phải là không có trong những câu có hình thức mâu thuẫn này. Hội Thánh không bao giờ giải thích theo nghĩa đen; ngôn ngữ thì đầy hình ảnh và có tác dụng là nhờ những câu đối lập nhau. Géhenne là thung lũng sâu khó xuống được, nằm ở phía dưới thành Giêrusalem, là nơi người ta đốt những rác rưởi, đồ phế thải, nên ở đó luôn xông lên mùi nồng nặc kinh khủng, như vậy, Géhenne đối lập với sự sống hay Nước Thiên Chúa. Mọi người cần tránh xa nó, vì đó là nơi tiêu huỷ tận diệt. Trái lại, sự sống và Nước Thiên Chúa là một thách thức đáng cho ta tận dụng mọi nỗ lực để đạt tới. Tất cả những gì làm ta tách xa sự sống và Nước Thiên Chúa đều xấu xa. Sự sống và Nước Thiên Chúa ấy đáng cho ta quyết tâm lựa chọn, dù có phải thiệt mất một phần thân thể. (Comment lire un évanglie Marc, Seuil, trang 170).

Về Mục Lục

___________________________________________________________________________________

BÀI ĐỌC THÊM

1. Rừng cấm

Mọi câu lạc bộ ưu tuyển, dòng tộc, giáo phái hoặc ghettô, dù chúng thuộc dòng tu hay triều, thường gây ra và nuôi dưỡng những cơn ganh tị. Mọi cộng đoàn hoặc nhóm khép kín, co cụm, đều ra sức bám víu vào những đặc quyền, đặc lợi đã có.

Sách Dân số cung cấp cho ta một thí dụ điển hình. Khi Giosuê ganh tị, bực tức thấy có hai người nói tiên tri, mặc dầu họ không được uỷ quyền, cũng không được “thụ phong”. Họ là những tay săn trộm trong rừng cấm.

Đây cũng là một cơn ghen thực sự mà Gioan, đại diện cho Nhóm Mười Hai, mắc phải. Hãnh diện vì thuộc về nhóm tông đồ tuyển chọn và được quyền xua trừ các thần dữ nhân danh Giêsu, các ông thấy đặc quyền của mình bị đe dọa bởi ‘một người không đi theo Đức Giêsu mà làm được các phép lạ’. Các ông giận dữ, chống đối, tố cáo, đòi lên án. Khốn cho tên cạnh tranh bất lương!

Phản ứng và câu trả lời của Môsê cũng như của Đức Glêsu, tuy rất vắn gọn, nhưng mang cùng một ý nghĩa và một giáo huấn trong sáng có thể đưa đến những kết quả khôn lường. Các anh la lối tức giận vì thấy một điều thiện, một điều tốt được thực hiện bởi một người không công khai, chính thức thuộc về nhóm “ưu tuyển”, hoặc thuộc về cộng đoàn của Đức Kitô sao? Trái lại, nào các anh không nên vui mừng vì thấy Thần Khí Chúa tỏ mình, và thấy thần dữ bị xua trừ sao? Các anh lấy quyền gì để hạn chế Thiên Chúa can thiệp; tự mình đặt ra những biên giới, những điều kiện bắt Thiên Chúa phải tuân theo? Các anh nghĩ rằng Thiên Chúa của Apraham, của Isaac, của Giacóp và của Đức Giêsu, Đấng Thiên Sai, là tư hữu độc quyền của một dân tộc, một Giáo Hội, một đường lối tu đức, hoặc một đường lối mục vụ sao?

Trong lúc họp nhau cử hành Thánh Thể, ta ý tứ đừng tạo ra một “nhóm người sạch”, và hãy áp dụng cho ta lời Thánh Vịnh: sai có thể nhận ra những lầm lỗi của mình? Lạy Chúa, xin thanh tẩy con khỏi những tội con không hay biết. Xin gìn giữ tôi tớ Người khỏi tính kiêu căng: xin cho nó đừng bao giờ chiếm giữ lòng con”.

2. Cạm bẫy của ngôn từ “xin” và “cho”

Chúng ta thường bị mắc kẹt bởi cách dùng ngôn từ: cho và xin. Ta tự nghĩ mình, và chỉ có mình, là những người cho, vì mình có các bí tích, như thể chúng ta tạo ra và phân phát các ơn lành do bí tích ban. Nhưng phải nhìn nhận rằng cả chúng ta cũng chỉ là những người xin khi lãnh nhân hoặc ban các bí tích. Vì lý do thần học, có một điều ta không dám nêu lên trong lãnh vực mục vụ bí tích, đó là Chúa Thánh Linh đã hoạt động trong tâm hồn con người trước chúng ta, và rằng Nước Thiên Chúa luôn vượt ra ngoài ranh giới của Giáo Hội hữu hình. Nhờ hoạt động của mình, Thánh Linh thực hiện tác vụ ngôn sứ nơi những người nhận lãnh, để mạc khải cho ta công trình Thiên Chúa thực hiện nơi họ. (..) Nói cách khác, chúng ta cần học hỏi nơi những người đến với ta hoặc ta đến gặp họ: đó là học để biết nhìn họ với con mắt khác, để tìm ra một điểm gặp gỡ khác, chứ không chỉ qua các bí tích. Phải chấp nhận để Thánh Linh được tự do nói với ta qua họ, về Thiên Chúa và về cách khám phá ra Người.

Vì những lý do này, mục vụ bí tích không chỉ là mục vụ đức tin hoặc khai mở đức tin. Nó còn là mục vụ tình thương vô vị lợi, biết đón tiếp và biết lắng nghe. Chúng ta có thể cải hoá bản thân mình nhờ điều mà những người này nói với ta về cuộc sống của họ, hoặc nhờ những câu họ hỏi về Thiên Chúa, về Hội Thánh, nhất là khi lòng họ bị tổn thương, oán giận hoặc những ước muốn mơ hồ.

Đón tiếp luôn đi đôi với cố gắng để nhận định những mong muốn thầm kín thường được che giấu bởi một đòi hỏi trực tiếp.

3. Tự do của Thiên Chúa

(Các Giám mục Pháp, trong “Lettre aux catholiques de France”, Cerf, trang 76-77).

Kinh nghiệm về việc Phúc âm hoá ngày nay giúp ta có nhận xét sơ khởi này: ngày nay trong xã hội chúng ta, có một số nơi đang mong đợi điều gì đó từ Hội Thánh, và họ có thể bày sự mong đợi đó khi tiếp xúc với Hội Thánh bằng cách này hay cách khác: hoặc đến xin lãnh bí tích rửa tội, hôn phối; hoặc vào lúc, những biến cố vui mừng hay thử thách xảy ra trong đời họ; hoặc do tình cờ họ gặp một cộng đoàn Kitô hữu, một nhóm nào hoặc cũng có thể họ gặp một phong trào có tổ chức, giới thiệu cho họ con đường khai tâm dẫn tới Tin Mừng, tuỳ theo hoàn cảnh sinh sống của họ.

Ta không công nhận rằng: những gặp gỡ như vậy thường chất vấn ta và đẩy lùi kiểu lô-gíc truyền giáo đã in sâu trong tâm trí ta đó sao? Bởi vì theo lô-gíc thương mại, hoặc lô-gíc chức năng, chúng ta tưởng rằng muốn truyền giáo, Giáo hội cần phải giữ một thứ luật cung cầu, nghĩa là Giáo Hội ở phía người cung, còn những kẻ khác, những người mong đợi, ở phía người cầu.

Trong hoàn cảnh thực tế cũng như trong kinh nghiệm thực tiễn mà Giáo Hội có qua sự gặp gở những người này, điều gì đã thực sự xảy ra và con đường dẫn tới đức tin đã diễn tiến như thế nào? Không được phép coi những người mong đợi này như những khách hàng của Giáo Hội luôn sẵn sàng tiêu thụ điều mà chúng ta bày ra, theo kiểu lô-gíc thương mại. Trước hết, ta nên nhở, họ là những người nam hoặc nữ, do lòng mong đợi và sự tìm kiếm, họ làm chứng cho sự tự do của Thiên Chúa và công việc của Chúa Thánh Linh, Đấng có thể khơi dậy nơi mọi người ước muốn vượt lên trên những gì họ đang sống. Bằng cách thế, đôi khi gây sửng sốt, họ nhắc nhở ta rằng địa chỉ hàng đầu cho Phúc âm hoá chính là cuộc sống con người, rằng sẽ không có Phúc âm hoá nếu không có đối mặt thực sự giữa Tin Mừng Đức Kitô, mạc khải của Thiên Chúa và sự mong đọi thẳm sâu nơi mỗi người. Nhưng đối lại, khi hiểu được mong đợi của con người và đáp lại lòng mong đợi ấy, Giáo Hội có trách nhiệm phải bày tỏ cho thấy, Giáo Hội không chỉ muốn đáp lại những mong đợi tức thời của họ, mà còn có sứ mạng đã lãnh nhận từ Đức Giêsu, sứ mạng đó là trình bày và mở đường dẫn họ đến với Người.

Trong nhiều cộng đoàn và các nhóm khác nhau, Giáo Hội được mời gọi không những phải đón tiếp rộng rãi và vô vị lợi rnà còn phải tỉnh thức tích cực, để nhận ra những dấu chỉ bất ngờ của Chúa qua vô số những đòi hỏi của con người thời nay, đồng thời cũng hiểu rằng những đòi hỏi này kêu gọi có một cuộc khai tâm kéo dài dẫn đến mầu nhiệm Đức Kitô, Lời Người, các bí tích và sự sống mới mà Người là nguồn mạch”.

Về Mục Lục

C. CÁC BÀI CHIA SẺ

Bài 1. Nghiêm luật
Trầm Thiên Thu

Thuận ngôn nghịch nhĩ. Lời thật mất lòng. Thế nhưng hiếm có người muốn nghe lời thật – lời của sự thật, lời của chân lý.

Ca dao nói: “Mật ngọt nên mới chết ruồi – Những nơi cay đắng là nơi thật thà”. Thật vậy, người nịnh ta là kẻ thù của ta, người khen ta mà khen đúng là bạn của ta, người chê ta mới là thầy của ta. Khó nghe quá! Khó chịu lắm! Nhưng đó lại là sự thật! Sự phục thiện rất quan trọng. Phải tâm niệm “mất lòng trước, được lòng sau” thì mới là người chính trực.

Cái ác càng ngày càng hoành hành, tự tung tự tác. Thậm chí chỉ nhìn thấy “ngứa mắt” mà kẻ thủ ác không ngại rút dao lụi cho một cú, dù người bị hại không hề có lỗi gì. Đúng như tiền nhân nói: “Nhân dục thắng, thiên lý vong” [Ham muốn của con người thắng thì lẽ công (trời) sẽ bị mất]. Cũng vậy, ngạn ngữ Trung quốc nói: “Con cưng chiều khó giữ cơ nghiệp, vợ quay quắt khó giữ cửa nhà”.

Cái gì cũng có hệ lụy tất yếu: Gia luật bất minh, con cái hư hỏng; quốc pháp bất nghiêm, đất nước suy vong.

TƯ TƯỞNG DẪN TỚI LỜI NÓI

Lời nói là kết quả của tư tưởng. Vì phản ứng não quá nhanh, nhanh như chớp, chúng ta không thể nhận ra điều đó, nhưng quả thật là vậy!

Sách Dân Số kể: Đức Chúa ngự xuống giữa đám mây và nói chuyện với ông Môsê. Người lấy một phần Thần Khí đang đậu trên ông mà đặt trên bảy mươi kỳ mục. Khi Thần Khí đậu xuống trên các ông thì các ông bắt đầu phát ngôn, nhưng việc đó không tái diễn nữa. Bấy giờ có hai người ở lại trong trại, một người tên là En-đát, một người tên là Mê-đát. Các ông đã được ghi trong danh sách kỳ mục, nhưng đã không đến Lều. Thần Khí đậu xuống trên các ông và các ông bắt đầu phát ngôn trong trại.

Một người thanh niên chạy đi báo tin cho ông Môsê: “Ông En-đát và ông Mê-đát đang phát ngôn trong trại!” (Ds 11:27). Ông Giôsuê, con ông Nun, từng theo hầu ông Môsê từ hồi còn nhỏ, lên tiếng nói với ông Môsê: “Thưa thầy, xin thầy ngăn cản họ!” (Ds 11:28). Nhưng ông Môsê trả lời: “Anh ghen dùm tôi à? Phải chi Đức Chúa ban Thần Khí trên toàn dân của Người để họ đều là ngôn sứ!” (Ds 11:29).

Lời nói có thể chỉ là “lời theo gió bay”, nhưng lời nói vẫn quan trọng: “Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy”. Một lời nói ra, bốn ngựa cũng không đuổi kịp. Thế mà người ta không chịu “uốn lưỡi 7 lần” nên mới “nói nhịu” hoặc “lỡ lời”. Sự thật là chính Thần Khí mới tạo nên sự sống, vì có sống thì mới nói được. Mọi người đều được Thiên Chúa trao trách nhiệm làm ngôn sứ cho Ngài, nghĩa là ai cũng phải dùng lời nói mà tuyên xưng và loan báo Thiên Chúa nhân lành vô cùng.

Luật vị nhân sinh, nhân sinh bất vị luật. Luật có sau con người nên luật phải vì con người, chứ con người không vì luật. Bởi con người không còn “nhân chi sơ tính bổn thiện” nên phải có luật, như hàm thiếc tra cho con ngựa chứng, nếu không thì mọi tôn ti trật tự đều bị đảo lộn. Thật vậy: “Ở đâu không có Lề Luật, thì cũng không có vi phạm” (Rm 4:15). Phàm cái gì cũng phải có luật: Luật giao tế, luật kinh tế, luật kinh doanh, luật quốc gia, luật quốc tế, luật đời, luật tôn giáo, luật đoàn thể, luật gia đình,… Ngay cả chuyện giản dị như ăn và nói cũng có luật. Nhưng tất cả đều phải dựa vào Luật Chúa, gọi là Thánh Luật, vì Chúa Giêsu xác định: “Trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành” (Mt 5:18).

Thánh Luật là Ý Chúa: “Luật pháp Chúa quả là hoàn thiện, bổ sức cho tâm hồn. Thánh Ý Chúa thật là vững chắc, cho người dại nên khôn” (Tv 19:8). Luật đời có thể khiến người ta khổ sở, nhưng Luật Chúa luôn làm người ta hạnh phúc. Ai yêu mến Chúa thì chuyên chăm thi hành Thánh Luật, luôn miệt mài tìm kiếm Ý Chúa để vâng theo: “Lòng kính sợ Chúa luôn trong trắng, tồn tại đến muôn đời. Quyết định Chúa phù hợp chân lý, hết thảy đều công minh” (Tv 19:10). Tác giả Thánh vịnh nói thay chúng ta: “Tôi tớ Ngài đây xin ra công học hỏi; ai giữ những điều này sẽ được nhiều lợi ích. Nhưng nào ai thấy rõ các lầm lỗi của mình? Xin Ngài tha các tội con phạm mà chẳng hay. Xin cũng giữ cho tôi tớ Ngài khỏi kiêu ngạo, đừng để tính xấu này thống trị con. Như thế con sẽ nên vẹn toàn không còn vương trọng tội” (Tv 19:12-14). Chúng ta chỉ là những tội nhân, thế nên rất cần Luật Chúa để cải thiện cách sống, và đó mới là hạnh phúc đích thực mà các tôi trung của Chúa hằng mơ ước: “Hạnh phúc thay ai sống đời hoàn thiện, biết noi theo luật pháp ChúaTrời” (Tv 119:1).

LỜI NÓI DẪN TỚI HÀNH ĐỘNG

Thánh Giacôbê khuyên một lèo: “Giờ đây, hỡi những kẻ giàu có, các người hãy than van rên rỉ về những tai hoạ sắp đổ xuống trên đầu các người. Tài sản của các người đã hư nát, quần áo của các người đã bị mối ăn. Vàng bạc của các người đã bị rỉ sét; và chính rỉ sét ấy là bằng chứng buộc tội các người; nó sẽ như lửa thiêu huỷ xác thịt các người. Các người đã lo tích trữ trong những ngày sau hết này. Các người đã gian lận mà giữ lại tiền lương của những thợ đi cắt lúa trong ruộng của các người” (Gc 5:4a). Vì thế, “tiền lương ấy đang kêu lên oán trách các người, và tiếng kêu của những thợ gặt ấy đã thấu đến tai Chúa các đạo binh” (Gc 5:4b).

Thánh nhân nói quá tỉ mỉ, quá rõ ràng, không hề bóng gió. Những lời đó hẳn chúng ta rất “chói tai” khi nghe, hoặc “xốn” mắt khi đọc. Sự thật mất lòng là thế! Ngài còn nói thêm: “Trên cõi đất này, các người đã sống xa hoa, đã buông theo khoái lạc, lòng các người đã được no đầy thoả mãn trong ngày sát hại. Các người đã kết án, đã giết hại người công chính, và họ đã chẳng cưỡng lại các người” (Gc 5:5-6). Càng đọc/nghe, chúng ta càng thấy tự hổ thẹn với lương tâm của chính mình. Dù chúng ta có đấm ngực bao nhiêu lần mà không thay đổi cách sống, không bớt hung ác mà thêm tốt lành, không bớt ngu mà thêm khôn, thì cũng chỉ là vô ích!

Một hôm, ông Gioan tâm sự với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta” (Mc 9:38). Đức Giêsu bảo: “Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta” (Mc 9:39-40). Ôi, Sư phụ Giêsu “dễ ghét” quá chừng! “Không chống lại là ủng hộ”, Ngài nói vậy chứng tỏ Ngài quá chừng dễ thương, vì Ngài chẳng đòi hỏi chi cả.

Ngài không đòi hỏi điều chi lớn lao, thậm chí chỉ một hành động nhỏ cũng được Ngài ghi công: “Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Kitô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu” (Mc 9:41). Tuy nhiên, Ngài cũng thẳng thắn cảnh báo: “Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn” (Mc 9:42). Cách so sánh rất thật, tất nhiên cũng rất… “chói tai”. Ngài tiếp tục so sánh cụ thể hơn: “Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một tay mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai tay mà phải sa hoả ngục, phải vào lửa không hề tắt. Nếu chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một chân mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai chân mà bị ném vào hoả ngục. Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã, thì móc nó đi; thà chột mắt mà được vào Nước Thiên Chúa còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào hoả ngục, nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt” (Mc 9:43-48). Nghe mà giật thót mình như sét đánh. Nhưng đó là nghiêm luật của Chúa, không bao giờ lay chuyển. Ngài là Đấng trung tín và công minh, hễ NÓI là LÀM. Chúng ta không thể biện minh bằng bất kỳ lý do nào!

Thế mà chúng ta thấy ai không “hợp ý” mình hoặc không theo phe mình, chúng ta liền tìm mọi cách gièm pha, lườm nguýt, “hạ bệ”, hoặc trù dập. Tất nhiên Thiên Chúa biết rõ chúng ta là gì và thế nào, chỉ là cát bụi và tội lỗi, ích kỷ và kiêu ngạo. Nhưng chúng ta cũng đừng quá thất vọng, mà hãy luôn nhớ rằng lòng thương xót của Ngài còn lớn hơn mọi tội lỗi của cả thế gian này, như Thánh Giám mục Phanxicô Salê nói: “Đừng bao giờ lo buồn vì sự bất toàn của mình, nhưng phải luôn luôn can đảm đứng dậy sau khi vấp ngã”. Vế thứ hai trong câu nói của thánh nhân rất quan trọng!

Đặc biệt là Chúa Giêsu đã hứa: “Tôi muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9:13). Đó là niềm hy vọng và niềm an ủi đối với chúng ta. Ngài không chỉ muốn chúng ta sống mà còn phải được sống dồi dào (Ga 10:10). Nhưng Ngài cũng bắt chúng ta tự vấn lương tâm: “Nếu các ông hiểu được ý nghĩa của câu này: Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế, ắt các ông đã chẳng lên án kẻ vô tội” (Mt 12:7).

Kiêu ngạo dẫn đến cố chấp. Đó là tội “siêu trọng”, tội nặng nhất, tội phạm đến Chúa Thánh Thần: “Mọi tội, kể cả tội nói phạm thượng, cũng sẽ được tha cho loài người, chứ tội nói phạm đến Thần Khí sẽ chẳng được tha. Ai nói phạm đến Con Người thì được tha; nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần sẽ chẳng được tha, cả đời này lẫn đời sau” (Mt 12:31-32).

Lạy Chúa, xin giúp chúng con luôn biết cẩn trọng mọi thứ ngay từ trong ý nghĩ để chúng con đêm ngày tìm kiếm Thánh Ý Ngài và hết lòng thi hành Thánh Luật. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

Về Mục Lục

___________________________________________________________________________________

Bài 2. THIÊN CHÚA QUY TỤ TẤT CẢ
P. Trần Đình Phan Tiến

Bài Tin Mừng CN 26 hôm nay còn nằm trong phần b) của Đoạn (Mc 9) “Giáo Huấn về Phục Vụ” của Chúa Giêsu. Như vậy mạch văn của bài Phúc Âm hôm nay là phần tiếp theo của tuần trước. Chủ đề chính là “THIÊN CHÚA QUY TỤ TẤT CẢ”.

Quả thật, không có điều thiện hảo nào dưới trần gian mà không do quyền năng của Thiên Chúa, có nghĩa là không có sự tốt lành, thánh thiện nào khác với sự thiện hảo của Thiên Chúa.Vì không có kẻ nào chống lại Thiên Chúa, mà lại làm được điều thiện hảo như Thiên Chúa. Nói cách khác, mọi sự tốt lành đều do bởi Thiên Chúa mà ra. Như vậy, Lời giáo huấn của Chúa Giêsu hôm nay, cho thấy Thiên Chúa không có kẻ thù. Hiển nhiên, Thiên Chúa chỉ có hai yếu tố dứt khoát. Một là không thuộc về Thiên Chúa, chống lại Thiên Chúa, hai là thuộc về Thiên Chúa, nhưng chưa nhận ra Đấng Thánh của Thiên Chúa là Chúa Giêsu. Ý nghĩa nầy hết sức thực tế cho đến hôm nay. Nhưng không dựa vào điều nầy mà gây chia rẽ. Vì con đường cứu độ ngắn nhất và trực tiếp là Chính Đức Giêsu Kitô. Tuy nhiên, quan điểm thì nhiều, nhưng ơn cứu độ chỉ có một mà thôi. Bởi vì không có giáo huấn nào thuộc về chân lý mà không có giáo huấn của Chúa Giêsu ở trong đó.

Vì lẽ đó, trong phần giáo huấn về phục vụ của Người, mà đoạn Tin Mừng Mc9 CN 25 TN tuần trước, cho chúng ta một sự giáo huấn hết sức đặc biệt là: Thiên Chúa đã đồng hóa với sự thơ ngây trong sáng như trẻ thơ (c 37). Nghĩa là nơi Thiên Chúa không có hận thù, ghen tỵ, tranh chấp, dối trá, lừa lọc.Vì vậy ,ai đón tiếp tinh thần của trẻ nhỏ vì Danh Người ,thì như đón tiếp chính Thiên Chúa vậy. Rõ ràng Chúa Giêsu đã dạy cho chúng ta một chân lý rất cao siêu bằng một hình ảnh đơn sơ, nhỏ bé, là hình ảnh của trẻ em. Định nghĩa: “trẻ em là người lớn chưa trưởng thành, hay là người lớn còn nhỏ”. Như vậy, Thiên Chúa thích sự nhỏ bé, chứ không thích sự lớn lao, vì Ngài là Đấng toàn năng (c37b).

Chúa Giêsu đã dùng một minh họa cụ thể, gần gũi, để minh chứng về Nước Trời. Theo đó, Nước Trời chỉ có trẻ con. Ý nghĩa mà Chúa Giêsu muốn đưa ra là, phàm nhân muốn có được Nước Trời thì phải trở nên nhỏ bé (Lc18,16-17). Nhỏ bé về mọi phương diện, ngay cả những người muốn làm đầu, vì “làm đầu phải hầu thiên hạ” (c 35b). Vì nếu không trở nên nhỏ bé, thì làm sao có tư tưởng phục vụ tha nhân, vì muốn phục vụ thì phải quên mình. Phục vụ là yêu thương thật, vì nếu yêu thương mà không có phục vụ, thì cũng như đức tin không có việc làm. Sự yêu thương và phục vụ của Chúa Giêsu đã dẫn đưa Người đến mầu nhiệm Tử Nạn, là hiến dâng mạng sống mình làm giá cứu chuộc mọi người và như vậy, không có tình yêu nào cao cả hơn sự phục vụ trọn vẹn nơi Chúa Giêsu- Kitô đối với nhân loại.

Như vậy, mầu nhiệm Tử Nạn là hoa trái của sự yêu thương và phục vụ. Nhưng mầu nhiệm Tử Nạn là phương tiện của ơn cứu độ, chứ không phải là chóp đỉnh của ơn cứu độ. Vì Thiên Chúa là Đấng Hằng Sống, nên chi mầu nhiệm Phục Sinh mới là chóp đỉnh của ơn cứu độ. Vì vậy Thánh giá là biểu tượng của ơn cứu độ, là cứu cánh của người có niềm tin, chứ không phải là chóp đỉnh của ơn cứu độ. Thánh giá là niềm tin yêu và hy vọng, chứ không còn là sự bi lụy, ảm đạm và sầu thương. Nhưng con người muốn đạt đến ơn cứu độ, thì chỉ có con đường duy nhất đó là Thánh giá. Vì không thể không có Thánh giá mà có ơn cứu độ, cũng như không thể có ơn cứu độ mà không có vinh quang phục sinh. Nên chi đối với người Kitô hữu, không ai là không có Thánh giá trong cuộc đời, vì đó là phương thế cần thiết cho sự sống hữu hình, nhưng họ vẫn có một niềm hy vọng quang trọng đó là vinh quang phục sinh. Vì cuộc đời người Kitô một khi đã sống kết hợp với Thánh giá một cách trung tín, thì họ sẽ được tham dự vào Mầu nhiệm phục sinh của Đấng Phục Sinh, đó niềm hy vọng chắc chắn dành cho họ.

Vì vậy Lời giáo huấn của Chúa Giêsu hôm nay là niềm tin và hy vọng cho chúng ta và cho nhân loại hôm nay và mai sau.

Từ đó, chúng ta nhận thấy rằng, Chúa Giêsu đến trần gian, ban cho nhân loại một ơn cứu độ không câu nệ, không gò bó, không chuộng những sự giả hình, không ghen tỵ với bất cứ ai. Một cung cách sống rất thoáng , hoàn toàn khác với những gì trần gian áp đặt. Tuy nhiên, về phương diện Thần học cho thấy rõ Chúa Giêsu đến trần gian không phải để chiều theo ý trần gian, cũng như Người đến không phải để phá bỏ luật lệ mà là để kiện toàn lề luật (Mt 5,17). Quả thật, Lời giáo huấn của Chúa Giêsu là sự sống cho nhân loại,Người phải đi ngược dòng đời, đảo ngược trật tự của phàm nhân. Như thế mới phù hợp với tính chất của ơn cứu độ, vì cứu độ là phải giáo huấn ,sửa đổi, truyền dạy, chình lại những gì chưa đúng. Sau cùng Người đã tự nguyện hiến mạng sống mình để làm của lễ giao hòa với Thiên Chúa. Nên chi không còn sự phục vụ nào cao cả hơn sự tự hiến mạng sống mình vì người khác (Mc 10,45).

Cụ thể là sự phục vụ, người đời thương cho là công việc tầm thường, thấp kém, nhưng Đấng Cứu Thế đã chọn lấy để thực thi. Để ngày nay, trên mọi quyền bính của Giáo Hội chính là sự phục vụ con người nhân loại. Công việc của các mục tử là công việc phục vụ, phục vụ công khai và thầm lặng. Nhờ ý nghĩa của Lời Chúa hôm nay, mà có biết bao nhiêu con người dấn thân trên khắp các nẻo đường, không nơi nào mà không có bước chân người công giáo. Chúng ta thấy có biết bao dòng tu được thành lập để sống đời cộng đoàn, để phục vụ Thiên Chúa trong tha nhân. Đạo công giáo được mệnh danh là đạo Bác Ái,vì sự phục vụ trong yêu thương thật mà Đường lối gíáo huấn của Thầy chí Thánh Giêsu hôm nay vẫn là đường lối nổi bật nhất bởi sự chân thật của niềm tin Kitô giáo, vì Thiên Chúa là tình yêu.

Nếu chúng ta tìm hiểu lại lịch sử vào thời của Chúa Giêsu, chúng ta mới hiểu rõ chân lý của việc Chúa đề cao trẻ em. Điều nầy có tính cách hiện thực hóa cho con người, chứ không cho riêng trẻ em người Dothái, dân tộc mà Chúa Giêsu đã bước vào.

Vì một người môn đệ của Chúa Giêsu mà có tâm hồn, tinh thần như trẻ nhỏ thì mới thật là diễm phúc, như thế mới xứng đáng bước theo Thầy. Một mục tử mà có tinh thần trẻ thơ,hiền hòa, đáng yêu về nội dung lẫn hình thức, thì mới thu hút kẻ khác đến với Chúa, ngược lại, nếu người mục tử có thái độ của người lớn thì khó lòng mà thu phục nhân tâm. Một bài học đúng thực tế cho mọi thời đại, nhất là những ai đi theo Chúa.

Sự trở nên nhỏ bé, không phải về hình thể, mà về tâm hồn, là một bài học lớn lao cho những ai bước đi theo Chúa Giêsu.

Vì lẽ đó cho nên hôm nay, Chúa dạy: “điều gì nên dịp tội cho ngươi thì hãy dứt bỏ nó đi, vì thà cụt tay, què chân mà được vào nước hằng sống còn hơn là có đủ tay chân mà phải vào hỏa ngục” (Mc 9,43.45.47).

Dẫn giải ý nghĩa trên,Thánh Giacôbê Tông đồ lên án sự giàu có bất chính, bất nghĩa của người giàu. Như vậy, thà nghèo khó mà vào được nước hằng sống, còn hơn giàu có của cải, nhưng lại không mua được Nước Trời. Vì của cải trần thế thì chỉ được sử dụng ở trần thế, dù có nhiều đến mấy cũng không mang vào Nước Trời. Của cải cũng chính là phương tiện chứ không phải là cứu cánh, và vì vậy được xem như là chân tay, mắt của con người mà thôi. Vì vậy như Lời Chúa Giêsu nói: “Nếu mắt ngươi nên dịp tội cho ngươi, thì móc mắt bỏ đi, vì thà mất một mắt còn hơn là toàn thân phải vào hỏa ngục” (c 47).

Lạy Chúa Giêsu Lời Chúa dạy hôm nay cho chúng con là một chân lý cao siêu, vì con người có biết hy sinh cho tha nhân, thì con người mới phục vụ tha nhân và con người có phục vụ tha nhân thì con người mới biết yêu thương anh em đồng loại một cách thực sự, vì thế con người có biết yêu thương thật sự anh em đồng loại của mình thì con người mới được Thiên Chúa yêu thương./. Amen.

Về Mục Lục

___________________________________________________________________________________

Bài 3. Diệt trừ gương xấu
Linh Mục Inhaxiô Trần Ngà

Gương xấu lây lan nhanh như bệnh dịch, bùng phát mạnh như cháy rừng. Nguy cơ lây nhiễm cao đến nỗi người ta thường nói: gần mực ắt phải đen cũng như gần đèn tất phải sáng.

Gương xấu ảnh hưởng rộng rãi lên những người chung quanh y như men trong bột. Chỉ cần một nhúm men nhỏ cũng đủ sức làm dậy lên cả một thúng bột lớn.

Chúa Giê-su xem thái độ giả dối của những người biệt phái cũng như tâm địa độc ác của vua Hê-rô-đê là những thứ men độc hại có thể khiến cho những người chung quanh bị tiêm nhiễm y như men ảnh hưởng lên bột nên Người cảnh báo các môn đệ phải đề phòng: “Anh em phải coi chừng men biệt phái và men Hê-rô-đê” (Mc 8, 15).

Chính vì gương xấu của người nầy gây ảnh hưởng tai hại lên nhiều người khác nên Chúa Giê-su kịch liệt bài trừ. Người muốn nhổ bỏ thói xấu tận gốc rễ, muốn diệt trừ duyên cớ gây nên gương xấu bằng mọi giá.

Trước hết, Người răn đe những người gây ra gương xấu bằng những lời lẽ thật nghiêm khắc: “Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn.” (Mc 9, 42)

Và Người muốn diệt trừ các duyên cớ gây ra tội lỗi cách rất quyết liệt : “Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một tay mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai tay mà phải sa hoả ngục, phải vào lửa không hề tắt. Nếu chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một chân mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai chân mà bị ném vào hoả ngục. Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã, thì móc nó đi; thà chột mắt mà được vào Nước Thiên Chúa còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào hoả ngục, nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt.” (Mc 9, 43-48)

Khi phán dạy như thế, Chúa Giê-su không có ý nói là chúng ta phải huỷ hoại thân mình để loại trừ thói xấu, nhưng Người có ý nói phải diệt trừ thói xấu cách quyết liệt, bằng bất cứ giá nào.

Tuy nhiên, trong thực tế, việc nhổ bỏ tội lỗi và thói xấu là điều thật khó khăn, vì việc xấu ta vừa dứt bỏ hôm nay, ngày mai lại quay về.

Tẩy trừ thói xấu cũng như xua đuổi một con chó ghẻ trung thành. Khi con chó trong nhà bị ghẻ lở trông thật ghê tởm và hôi hám, người nhà quyết xua đuổi nó đi, nhưng lát sau nó cũng quay về. Dù người nhà tiếp tục đánh đập và xua đuổi nó đi xa… nó cũng lại trở về!

Tẩy trừ thói xấu cũng y như nhổ cỏ cú (một thứ cỏ có nhiều rễ củ ăn sâu xuống lòng đất, rất khó diệt) trên mảnh đất tốt. Hôm nay nhổ sạch cỏ rồi, mai gặp một trận mưa to, cỏ lại mọc lên phơi phới.

Như vậy, không lẽ con người đành bó tay trước thói hư tật xấu?

Bệnh nào cũng có thuốc chữa. Sâu nào cũng có thuốc trừ.

Đối với những đám đất nhiều cỏ cú diệt hoài không được, người nông dân kinh nghiệm có thể diệt hết cỏ bằng cách biến nó thành thửa ruộng lúa nước. Người ta bơm nước vào đám đất có nhiều cỏ, ngâm nước một thời gian cho cỏ thối đi, rồi cày và trục chôn cỏ mục xuống bùn. Sau đó, người ta sạ lúa xuống. Chờ lúa mọc lên chừng mươi phân, người nông dân lại cho nước vào phủ hết mặt ruộng, rồi bung phân cho lúa bốc lên nhanh; lá lúa vươn ra um tùm che phủ mặt ruộng khiến cỏ dại không thể nào mọc lên được.

Có người diệt cỏ bằng cách trồng mía. Mía con vừa mới lên liền được bón thúc phân thật sớm khiến bụi mía phát triển sum suê. Thế là cỏ dại dưới đất bị chết ngộp vì thiếu ánh sáng.

Thế là dù không cần tốn công làm cỏ mà vẫn thu hoạch được lúa hoặc mía dồi dào.

Vậy thì một trong những phương pháp kiến hiệu để loại trừ gương xấu, thói hư là áp dụng phương thức lấy cái tốt đẩy lùi cái xấu: quyết tâm tạo cho mình những việc làm tốt để đẩy lui những việc làm xấu; tập thói quen tốt để đẩy lùi thói quen xấu; lấy sách báo lành mạnh thay thế cho sách báo đồi truỵ; lấy phim giáo dục đẩy lùi phim vô luân; chọn bạn tốt lành thay cho bạn bè xấu tính…

Hy vọng nhờ đó, cuộc đời chúng ta ngày càng được cải thiện; tâm hồn chúng ta ngày thêm trong sáng; bản thân chúng ta ngày càng trở nên người có phẩm chất cao.

Về Mục Lục

___________________________________________________________________________________

Bài 4. Phải Cố Gắng
Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

Các bài Thánh Kinh hôm nay không quy về một mối. Người ta thấy có nhiều điểm giáo huấn khác nhau. Nguyên bài Tin Mừng cũng đã nêu ra nhiều điều không liên ý. Tuy nhiên nếu nhìn vào chỗ giống nhau trong bài Cựu Ước và bài Tin Mừng, chúng ta có thể thấy Lời Chúa dường như muốn giáo huấn chúng ta về các tương quan đạo đức ở trong xã hội. Dân Chúa nhiều khi cũng khó: không những nội bộ có khi không được vui vẻ; mà đối ngoại nhiều lần cũng không rộng rãi. Huấn giáo của Chúa nhật hôm nay vì thế có tính cách thực hành và gợi lên nhiều điểm khác nhau. Chúng ta lần lượt thông qua những điều chính yếu.

1. Toàn Dân Thiên Chúa Có Ðặc Sủng Tiên Tri

Bài sách Dân số cho chúng ta thấy những khó khăn trong cộng đồng Israel, mà cộng đồng Dân Chúa ngày nay cũng khó thoát khỏi. Môsê hồi đó mới đưa dân ra khỏi Aicập. Công lao của ông thật lớn vì giúp dân thoát được cảnh tôi đòi. Mặc dầu Ðất Hứa còn xa, nhưng kẻ thù cũng đã thoái lui, không nghĩ đến việc đuổi theo dân bị trị ngày trước nữa. Ðáng lẽ những người này phải nhất trí với người lãnh đạo của mình để vượt thắng những khó khăn hiện tại, nhưng đáng tiếc là họ chỉ muốn được hạnh phúc tức khắc. Họ bắt đầu phàn nàn, kêu trách vì cuộc hành trình về Ðất Hứa xem ra còn dài, và nhất là vì thiếu thốn những thức ăn mỹ vị của những đô thị trù phú. Họ nhớ bánh nhớ thịt. Họ làm Môsê phải điên đầu vì các yêu sách khẩn trương của họ. Ông nản chí, đến đập đầu trước mặt Chúa. Ông không thể một mình đảm đang dân khó tính này nữa. Dưới ông cũng có các bô lão đứng đầu các chi tộc; nhưng họ chẳng biết làm gì và cũng chẳng giúp được gì, ngoại trừ việc còn làm khổ ông, khi phóng đại các yêu sách và phàn nàn của dân. Môsê muốn trả gánh nặng lãnh đạo cho Chúa.

Chúa an ủi ông. Không những hứa sẽ ban thịt và bánh cho dân, Người còn bảo sẽ thêm cho ông những cộng sự viên đắc lực. Ông hãy chọn lấy 70 người trong hành bô lão để chính Chúa sẽ lấy một phần thần trí của ông mà san sẻ cho họ; và như vậy họ sẽ chia sẻ trách nhiệm lãnh đạo với ông.

Lời sách Dân số thật là ý nghĩa. Nó làm vọng lại một thời đại đã khá văn minh với những quan niệm chính trị khá độc đáo. Tất cả trong dân Cựu Ước vẫn thuộc thần quyền, tức là lấy Chúa làm nền tảng. Người trị dân bằng vị tiên tri của Người là Môsê. Nhưng ông phải có những cộng sự viên là bậc bô lão. Họ phải nhất trí với ông, vì cơ sở giá trị của họ là phần thần trí của ông mà họ đã nhận được, tức là phần trách nhiệm và khôn ngoan mà Thiên Chúa đã lấy nơi ông mà san sẻ cho họ.

Những lời tiếp theo trong sách Dân số lại còn ý nghĩa hơn nữa. Nhận được thần trí của Môsê rồi, các bậc bô lão kia đều “nói tiên tri” tức là đều xuất thần và nói lên những lời ca tụng Chúa, giống như các Tông đồ trong buổi lễ Thánh Thần Hiện Xuống. Sự kiện này có ý khẳng định: các bậc lãnh đạo Dân Chúa đều được đầy Thánh Thần. Giá trị và uy tín của họ nằm ở chỗ đó. Ngày họ nhậm chức là lúc họ được Thánh Thần chiếu cố và chiếm hữu. Nhưng lập tức, sách Dân số viết ngay: sự kiện “nói tiên tri” này không tiếp tục, tức là sau đó các bô lão kia không “xuất thần” nữa. Cũng như các Tông đồ của đạo mới cũng sẽ không luôn mãi “say ơn Thánh Thần”, để cho dù dân Chúa được lãnh đạo bằng “thần quyền” những vẫn nhờ các con người và qua các con người.

Yếu tố nhân loại này không đợi thời gian để bộc lộ. Sách Dân số kể: có hai người trong danh sách Bô lão được Môsê đề nghị đã không đến dự hội. Nhưng họ vẫn được ơn nói tiên tri tại lều của họ. Những người khác bất mãn muốn chấm dứt nhiệm vụ củ hai kẻ “đánh mảnh” này. Nhưng Môsê đã tỏ ra phi thường khi tuyên bố: “Tôi còn ao ước cho toàn dân được ơn tiên tri là khác”.

Và bài sách Dân số hôm nay đã chấm dứt ở đây để chúng ta còn nhớ khuôn mặt cao cả của Môsê và để lời ông nói vọng tới các thế hệ như một nguyện ước cần được thực hiện. Chúng ta như quên những khó khăn trong nội bộ dân Chúa cũng như thái độ nhỏ mọn của hàng bô lão, để chỉ còn hướng về tương lai, muốn thấy ngày Thần trí của Thiên Chúa chan hòa đổ xuống trên toàn dân của Người. Ngày đó dĩ nhiên đã đến khi Ðức Yêsu đã lên trời và ban Thánh Thần xuống cho Hội Thánh. Nhưng dân mới của Chúa được đầy Thánh Thần có bỏ được những thái độ nhỏ mọn và lướt thắng được những khó khăn trước mắt không?

2. Dân Chúng Còn Phải Cố Gắng

Thánh Marcô đã mượn lại một câu truyện xảy ra khi Ðức Yêsu còn tại thế để Hội Thánh suy nghĩ. Người kể: hôm ấy Yoan đến thưa Chúa về việc có người không ở trong hàng ngũ môn đệ mà cứ lấy Danh mà trừ quỷ. Và các môn đệ muốn xin Chúa cấm hẳn người ấy làm như vậy.

Câu truyện có vẻ hơi giống thời Môsê như sách Dân số đã kể. Nó cũng nói lên tham vọng của một số người ở trong dân Chúa muốn có những đặc quyền và độc quyền, kể cả quyền trừ quỷ. Không hiểu sao thánh Marcô lại nêu rõ tên tông đồ Yoan trong câu truyện này. Bản chất của người tông đồ Chúa yêu đâu có như vậy, ít là như chúng ta nghĩ. Hay là ở đây tác giả Marcô có ý nói đến người Tông đồ đã sống già nhất và còn sót lại sau khi mọi vị khác đã qua đời? Và như vậy đã có ngụ ý rằng thái độ muốn độc quyền này nằm trong hàng ngũ những bậc lãnh đạo dân Chúa?

Ðó là thái độ vô lý. Vì tại sao lại cấm người ta trừ quỷ? Ðây không phải là nhiệm vụ chung của dân Chúa sao? Sứ mệnh của Hội Thánh và lý do tồn tại của dân mới, tựu trung chỉ là dẹp sức mạnh của Satan đi để Nước Chúa được lan rộng. Ai có thể làm được công việc này, nếu không kết hợp với Ðức Kitô là Ðấng duy nhất đã chiến thắng được ma quỷ? Và thấy những người như vậy các người có sứ mệnh cứu thế phải nhận ra ngay họ là đồng nghiệp của mình. Chứ cớ sao lại muốn ngăn cấm họ?

Thánh Marcô muốn chống lại một thái độ như thế. Người nhắc cho Hội Thánh lời Ðức Yêsu: “Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta” để con cái Hội Thánh biết quý chuộng và cộng tác với mọi người có thiện chí trên mặt đất này cho dù họ không ở trong hàng ngũ của Hội Thánh và chia sẻ hoàn toàn niềm tin của Hội Thánh. Nếu chúng ta hiểu được bài học như thế, thì bài Tin Mừng hôm nay cũng đã quý hóa lắm rồi. Nhưng không phải chỉ có như vậy. Thánh Marcô còn lưu ý chúng ta đừng quên ơn những người cho chúng ta uống một bát nước vì họ biết chúng ta là người của Chúa… Và nhất là các tín hữu hãy luôn nhớ vinh dự của mình. Khốn cho những ai làm hư ơn gọi của một tín hữu! Khốn cho những kẻ để tay hoặc chân hoặc mắt làm dơ nhớp linh hồn mình. Phải gìn giữ ơn gọi bằng sự tu thân như người ta dùng muối để xát các vật hy sinh. Nếu muối ra nhạt, tức là nếu lơ là việc hãm mình, con người tín hữu sẽ không còn là lễ hy sinh nữa. Và sự hy sinh mà bài Tin Mừng muốn nhắn nhủ hôm nay là sự kềm chế tham vọng độc quyền và đặc quyền để mọi người “sống an hòa với nhau”.

Như vậy, dù thuộc những thời đại xa nhau và khác nhau, bài sách Dân số và bài Tin Mừng Marcô dường như cùng nhắm giáo dục chúng ta về thái độ bao dung, cộng tác với mọi người. Nhưng viễn tượng của hai bài rất khác nhau. Ở thời Môsê rất ít người được “đặc sủng” và ơn họ nhận được chỉ là một phần thần trí lãnh đạo của ông. Chính ông lại hướng mắt nhìn về thời toàn thể dân Chúa được tràn đầy Thánh Thần. Theo Marcô, chúng ta còn phải có viễn tượng rộng hơn nữa. Không những dân Chúa đã được dư đầy Thánh Thần và ơn của Người thật là mạnh mẽ vì xua trừ được ma quỷ. Chính Danh Ðức Yêsu đã đem lại sự kiện mới mẻ này. Nhưng đừng giới hạn ảnh hưởng của Người nơi nguyên các phần tử trong Hội Thánh – huống nữa là chỉ nơi những người lãnh đạo trong Giáo hội – Thánh Thần đã được đổ xuống chan hòa trong vũ trụ. Chúng ta phải quý chuộng và cộng tác với mọi tâm hồn thiện chí đang làm việc trong kế hoạch cứu thế mầu nhiệm của Thiên Chúa. Và đừng ai làm hư hỏng ơn gọi Kitô hữu cao cả của mình khi không biết hãm dẹp các dục vọng như xát muối vào các vật hy sinh. Chúng ta cứ suy nghĩ thêm để thấy giáo huấn phụng vụ hôm nay rất phong phú và thực tế, đang khi bài thư Yacôbê lại đưa chúng ta sang một mặt khác trong đời sống xã hội.

3. Dân Chúa Phải Coi Chừng Của Cải

Dân Chúa mạnh mẽ vì có ơn Thánh Thần phong phú chứ không nhờ sự phong phú về của cải. Hơn nữa, Hội Thánh phải luôn nhớ lời Ðức Yêsu dạy: khốn cho kẻ giàu có. Hôm nay thánh Yacôbê nói với “12 chi tộc kiều ngụ tha phương”, tức là với những người Kitô hữu gốc Dothái tản mác ở mọi nơi. Ða số họ biết làm ăn và giàu có. Người bảo họ: “Khóc đi, rú lên, vì những khốn khó sắp giáng xuống trên các ngươi”. Không phải người nhìn thấy những nguy hiểm cụ thể và vật chất nào sắp ập đến trên họ. Lời của người lặp lại hoàn toàn lời các tiên tri và phát xuất từ quan điểm đức tin và đạo đức. Hết mọi tiên tri đều đã cảnh cáo bọn giàu có. Hạng người này cậy của, không những ít giữ đạo mà còn nhờ thế đàn áp bóc lột người nghèo khó và phạm những tội tầy đình… Thánh Yacôbê nói rằng: của cải đã làm họ hư hỏng thối nát, khác nào mối mọt làm hư áo quần và sét rỉ ăn hại đồ đạc. Như vậy, tích trữ của cải nào có khác gì tích trữ lý hình cho ngày cánh chung.

Ðàng khác muốn tích trữ của cải, người giàu có phải quịt hay giữ công thợ, khiến tiếng kêu ca của những người này thấu đến tai Chúa, như tiếng oan ức của Abel ngày xưa khi bị anh là Cain giết chết. Gợi ý tưởng này lên, thánh Yacôbê dứt khoát coi hạng người giàu có là kẻ sát nhân. Người nói: “Các ngươi đã sung sướng, hưởng lạc… trong ngày hạ sát”, tức là trên mồ hôi xương máu của người nghèo hay là đang khi người này đau khổ. Và người tiếp theo: “Các ngươi đã kết án và hạ sát người công chính” để nói lên quan điểm của người cũng là quan điểm của đức tin, thường vẫn coi người nghèo khó là thành phần công chính. Và tư tưởng này dẫn đến kết luận xa hơn, đồng hóa với Ðấng Công Chính là Ðức Yêsu cứu thế, Người đã sinh ra khó nghèo và bị các kẻ có thế lực bấy giờ bắt bớ “mà không cưỡng lại”.

Bài học của thư Yacôbê vì thế đã mở sang chân trời mới tích cực hơn. Không những người ta phải coi chừng của cải; mà hơn nữa còn phải biết nhận ra Ðức Yêsu nơi những người khó nghèo và phải ăn ở khó nghèo như Người.

Và nếu được phép đúc kết các bài đọc của Lời Chúa hôm nay, chúng ta có thể nói phụng vụ Chúa nhật này cảnh cáo mọi người về nguy cơ của quyền và tiền. Người đời cho đó là sức mạnh. Nhưng đức tin lại bảo: sức mạnh đích thực là Thánh Thần được Thiên Chúa ban cho Hội Thánh và mọi người.

Giờ đây qua mầu nhiệm bàn thờ, chúng ta được tuôn đổ ơn cao cả đó để trong đời sống chúng ta không còn hẹp hòi ích kỷ muốn được đặc quyền hay độc quyền, hoặc tệ hơn còn muốn cậy tiền của kèn cựa với người khác…; nhưng sẽ muốn cho cả dân Chúa và xã hội loài người được dư dật ơn thiêng và sống trong hạnh phúc bình an. Có như vậy, chúng ta mới tỏ ra đã lãnh hội được giáo huấn của Chúa nhật hôm nay.

Về Mục Lục

___________________________________________________________________________________

Bài 5. MÔN ĐỆ ĐỨC YÊSU: CỞI MỞ VÀ BÁC ÁI
Lm. Antôn Trần Thế Phiệt, DCCT

Ta đã biết lần thánh Phêrô tuyên xưng về Đức Yêsu ở miền đất Xêgiarê Philipphê là một biến cố lớn lao và một khúc quặt quan trọng, khởi đầu một giai đoạn mới : giai đoạn Đức Yêsu nhận thấy Nhóm tông đồ của Ngài đã bắt đầu có một hiểu biết chính xác về con người của Ngài, để từ đây Ngài dần dần có thể mạc khải tất cả đường lối của Ngài cũng như những đòi hỏi của Nước Trời sắp đến.

Theo cái nhìn của Chúa, Nước Trời sẽ là một thế giới khác hẳn với thế gian về lối sống và người môn đệ của Chúa là những người thuộc về Nước Trời, những công dân của một Vương quốc mới. Họ phải sống khác với môi trường chung quanh, có tinh thần khác, có cách ứng xử khác.

1/ Theo các bài đọc Kinh Thánh hôm nay, các kẻ thuộc về Chúa phải có tấm lòng và dức tính khác thế gian, nhất là có tinh thần cởi mở và bác ái, đối chọi với thái độ co cụm khép kín và ích kỷ hẹp hòi.

Thông thường con người chúng ta rất dễ có khuynh hướng sống khép kín, cục bộ, phe nhóm và độc quyền. Đó là khuynh hướng đã ăn sâu vào lối sống của nhiều cá nhân cũng như nhiều tập thể. Ngược về thời Cựu ước xa xưa, vào thời Môsê, khi dân Do thái mới xuất hành khỏi Ai cập, như bài đọc I vừa kể, có hai người thuộc nhóm kỳ mục không đến Lều gặp Môsê khi ông chia sẻ Thần khí của ông cho nhóm kỳ mục, vậy mà họ lại phát ngôn trong trại như những vị kỳ mục kia và Gio-duê, người sẽ kế vị Môsê, đã xin được ngăn cấm hai vị này phát ngôn, Môsê đã phản ứng khác hẳn. Ông nói : Đừng ngăn cấm họ. Càng có nhiều người được ơn phát ngôn càng tốt. Phải chi Thiên Chúa ban Thần khí trên toàn dân, để mọi người đều trở thành ngôn sứ.

Đó là chuyện ta tưởng là rất cũ rồi và không còn có nữa, vì đã xảy ra trước Công nguyên cả hơn 1000 năm. Thế nhưng đến mãi thời Đức Yêsu, thói ích kỷ đó vẫn tồn tại. Tông đồ Yoan lấy làm khó chịu về việc người kia không thuộc nhóm Tông đồ dám nhân danh Thầy Yêsu mà trừ quỷ. Yoan không muốn người ngoài lại truyền giáo, lại làm các phép lạ và xin Thầy ngăn cấm. Cũng như Môsê, Chúa đã không đồng ý.

Vậy Chúa muốn các Tông đồ Chúa có tinh thần cởi mở, đón nhận mọi người, chia sẻ với mọi người hồng ân Chúa muốn ban cho các ông. Bởi vì tự bản chất Chúa là Đấng cởi mở : khi hiện hữu, Người không muốn giữ riêng cho mình niềm hạnh phúc là được hiện hữu, nhưng đã mở ra, đã tạo dựng muôn loài, chia sẻ sự sống và hạnh phúc của Người cho muôn loài. Nhiều lần Người cũng cho biết Người yêu thương hết mọi người và muốn cứu rỗi mọi người. Nối tiếp Thiên Chúa Cha, khi Đức Yêsu ra hoạt động công khai, ban đầu Ngài giời hạn công việc của Ngài cho dân Do thái mà thôi, nhưng Ngài không co cụm mãi trong một môi trường ấy , mà còn mở ra cho Dân Ngoại, cho muôn dân. Có lần người ta muốn giữ chân Ngài ở lại, nhưng Ngài tuyên bố Ngài còn phải đến các làng các nơi khác nữa, vì sứ mạng Ngài là đến trần gian để cứu độ mọi người.

2/ Cùng với tinh thần cởi mở, kẻ thuộc về thời đại Nước Trời còn phải tránh thói hưởng thụ và có tinh thần bác ái – như tư tưởng gián tiếp trong đoạn thư của thánh Giacôbê. Trong đoạn thư này, thánh tông đồ đưa ra nhiều nhận định và tuyên bố nghiêm khắc đối với hạng giàu có. Theo Người, tai họa sắp đổ xuống trên đầu họ : tài sản sẽ bị hư nát, quần áo bị mối ăn, vàng bạc bị rỉ sét, thân xác sẽ bị thiêu đốt. Sở dĩ thế vì họ sống ích kỷ, không có tấm lòng quảng đại. Họ giàu có vì gian tham và keo kiệt : như giữ lại tiền lương của thợ làm thuê – như hẹp hòi, không giúp đỡ kẻ nghèo, không chia sẻ cho người túng quẫn. Và đó là đi ngược lại với tinh thần của Nước Trời, của đại gia đình Thiên Chúa, trong đó mọi người đều là anh chị em với nhau, đều cùng chia vui sẻ buồn trong tình huynh đệ. Chẳng những thế, mọi người còn là hiện thân của chính Chúa, đến nỗi một việc tốt dù nhỏ bé mà mình làm cho một anh chị em sẽ không bị Thiên Chúa quên lãng và phần rỗi của từng người, từ những người nhỏ hèn, đều phải được tôn trọng, không ai được làm gương xấu khiến kẻ khác bị mất linh hồn, cũng như mỗi người phải trân trọng phần rỗi của mình, thậm chí tự chặt tay, chặt chân, móc mắt, nếu đó là những nguyên cớ đưa mình xuống hỏa ngục.

Vậy biết cởi mở đón nhận tha nhân, muốn chia sẻ những hồng ân mình được hưởng, muốn tha nhân cũng được diễm phúc như mình, đó chính là hiểu được tinh thần của Đức Yêsu – biết hy sinh của cải, biết hạn chế những chi tiêu và mọi sự hưởng thụ để giúp tha nhân bớt thiếu thốn đói khát, đó chính là bắt đầu đi vào con đường Đức Yêsu đang đi, khi Nước Trời sắp được Ngài thiết lập.

Xin Chúa giúp mọi người chúng ta trỏ thành những môn đệ xứng danh của Ngài : những môn đệ hiểu Thầy và nối gót Thầy trên con đường cứu thế.

Về Mục Lục

___________________________________________________________________________________

Bài 6. ĐỪNG GÂY CỚ VẤP PHẠM
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Gương tốt, gương lành của con người bao giờ cũng rất có ảnh hưởng tốt đến người khác.Tuy nhiên, sống giữa thế gian vàng thau lẫn lộn: cái tốt đan xen với cái xấu. Sự dữ lẫn lộn với sự lành. Bóng tối chen lấn với ánh sáng v.v… Phương tiện truyền thông ngày nay lên tới cao độ với Internet, với kỹ thuật vượt bực. Nhưng nó vẫn là con dao hai lưỡi, biết gạn lọc là điều tốt, nhưng không biết khơi trong lại gây ô nhiễm, mệt mỏi, khó chịu cho nhiều người. Bất cứ tập thể nào, dù rằng Giáo Hội tự bản chất vô cùng thánh thiện, nhưng trong đó không thể tránh có những phần tử xấu, dễ gây gương mù gương xấu,làm lung lạc đức tin của nhiều người. Chúa Giêsu đã cảnh báo cho nhân loại, cho mọi người cho chúng ta: “Ai làm cho một trong những tín hữu bé mọn này phạm tội, thì thà buộc cối đá vào cổ nó mà quăng xuống biển thì hơn” (Mc 9, 42 ).

Đọc các bài đọc trong Chúa nhật hôm nay, chúng ta nhận ra: “Thần khí của Thiên Chúa không chỉ được dành riêng cho Ông Môisê, nhưng Thần khí Thiên Chúa còn đổ trên bảy mươi vị kỳ mục và cho cả hai người không vào Lều thánh”. Như thế, Thần khí của Thiên Chúa hoàn toàn tự do, muốn thổi vào ai thì thổi, muốn ban cho ai thì ban. Và điều này, cho chúng ta hiểu rõ Thần khí của Thiên Chúa được ban cho mọi người, mọi dân tộc, mọi nơi, mọi chốn, tràn lan khắp thế gian. Vâng, bài đọc thứ nhất, cho thấy, Chúa ban Thần khí cho Ông Môisê để Ông lãnh đạo Dân Thiên Chúa, tuy nhiên Môisê không ích kỷ, không co cụm, Ông rất quảng đại, bao dung.Do đó, Ông cầu nguyện xin Thiên Chúa đổ tràn Thần khí xuống trên toàn dân, để dân cũng trở nên ngôn sứ loan báo Đấng Thiên sai sẽ đến. Trên thế giới, trong xã hội con người, ngay trong Giáo Hội của Chúa, chúng ta phải phân biệt không phải lúc nào con người cũng xấu, không phải lúc nào con người cũng không ra gì, lúc nào con người cũng gây gương mù, gương xấu. Thế giới và ngay cả Giáo Hội, Chúa tạo dựng con người “tự bản chất là tốt”, nhưng do tác động, do những gương xấu con người dễ bị tiêm nhiễm. Chính vì thế, làm thế nào chúng ta nhận ra Thần khí của Thiên Chúa đang hành động trong thế gian, nơi tập thể, nơi Giáo Hội và nơi từng con người.

Tin Mừng của Thánh Máccô hôm nay cho thấy ngay những môn đệ thân tín nhất của Chúa Giêsu nghĩa là Nhóm Mười Hai cũng vẫn còn sống cái cung cách ích kỷ. Họ ngăn cản người khác không được nhân danh Chúa mà trừ quỉ. Điều này có nghĩa họ chỉ dành quyền ấy cho riêng họ. Và như thế, không đi đúng đường lối của Chúa. Đây là gương mù, gương xấu cần phải tránh. Chúa muốn con người sống quảng đại, thanh cao và cởi mở, bởi vì chân lý, hay loan truyền Chúa không dành riêng cho bất cứ một ai. Giáo Hội tự bản chất là truyền giáo mà. Tin Mừng hôm nay nhắm hướng chúng ta về sự thiện; chỉ có thái dộ yêu thương, cởi mở, thái độ bao dung, quảng đại mới giúp con người vượt ra khỏi óc bè phái, chia rẽ và độc quyền chiếm hữu Thiên Chúa.

Chúa Giêsu có một thái độ rất dứt khoát, nghiêm khắc đối với những kẻ gây cớ vấp phạm cho người khác. Chúa nghiêm khắc răn đe, chống đối những người ngăn cản người khác đến với Thiên Chúa. Chúa luôn khuyến khích, động viên con người làm những việc bác ái tỏa sáng. Đọc Tin Mừng của Thánh Matthêu về đoạn nói về ngày chung thẩm, chúng ta nhận ra rằng: Chúa đề cao và tự nhận ai cho kẻ đói ăn là cho Chúa ăn, ai cho kẻ rách rưới ăn mặc là cho Chúa ăn mặc, ai làm điều tốt cho những kẻ nhỏ bé là làm tốt cho Chúa. Chúa nghiêm khắc với những kẻ làm cho những kẻ nhỏ bé vấp phạm. Chúa cương quyết lên án: “thà chặt tay, chặt chân, móc mắt v.v…”, còn hơn là còn hai mắt, hai tay, hai chân mà làm cho những kẻ khác sa ngã, vấp phạm v.v… Chúa muốn con người cởi bỏ con người cũ, cởi bỏ tất cả những tham sân si để mặc lấy Đức kitô. Chân lý không thuộc riêng ai và Thiên Chúa lại càng không thuộc riêng ai. Do đó, con người phải luôn sống tốt và làm những công việc tốt, những công việc từ thiện bác ái, những việc tỏa sáng để Thiên Chúa được vinh danh.

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con biết cởi bỏ con người cũ, dẹp bỏ thói hư, nết xấu để mặc lấy Đức Kitô nhờ đó, bộ mặt đầy yêu thương, con người nhân ái của Chúa được luôn tỏa sáng. Amen.

Về Mục Lục

___________________________________________________________________________________

Bài 7. LỐI ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ CHÂN CHÍNH
LM ĐAN VINH

I. HỌC LỜI CHÚA

1. TIN MỪNG: Mc 9,38-43.45.47-48:

2. Ý CHÍNH:

Tin Mừng hôm nay trình bày lời Đức Giê-su giáo huấn các môn đệ. Sau khi dạy Gio-an bỏ tính ganh tị cục bộ, Đức Giê-su đã đưa ra nguyên tắc ứng xử bao dung: “Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta”. Người hứa phần thưởng cho những ai sẵn sàng tiếp đón các môn đệ. Người cũng đe phạt các đầu mục Do Thái làm cớ khiến các tin hữu sa ngã. Người còn dạy các môn đệ phải coi trọng ơn cứu độ hơn các bộ phận quí giá trong thân thể như tay, chân hay mắt của mình.

3. CHÚ THÍCH:

– C 38-39: +Chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ: Trừ quỷ là một việc quen thuộc mà Đức Giê-su và các Tông đồ thường làm, giống như nhiều người Do thái khác thời bấy giờ cũng làm (x Mt 12,27). Gio-an thấy có những người không cùng nhóm môn đệ với mình mà cũng dùng tên Giê-su mà trừ quỷ, nên ông đã cấm họ làm như vậy. + “Đừng ngăn cản người ta”: Đức Giê-su cho thấy việc ngăn cản như thế là tâm địa hẹp hòi, cục bộ khi đòi độc chiếm quyền năng của Người. Người truyền cho các ông không được ngăn cản họ, vì ai chống lại quỷ dữ và sự gian ác thì cũng thuộc về Người như các ông. + Nói xấu về Thầy: Có nhiều cách để người ta liên kết với Đức Giê-su. Bao lâu họ không “nói xấu” hay chống lại Người thì họ vẫn đang liên kết với Người.

C 40-41: + Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta: Đây là nguyên tắc ứng xử khoan dung của Đức Giê-su dành cho các môn đệ, khi sai các ông đi rao giảng Tin Mừng Nước Trời. Những ai không chống đối Đức Giê-su thì cũng là môn đệ của Người cách gián tiếp. Người trách lối suy nghĩ hẹp hòi mang tính bè phái của môn đệ khi các ông chỉ ủng hộ những việc tốt do nhóm mình làm và lọai trừ mọi việc dù tốt nhưng do nhóm khác làm. + Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Ki-tô…”: Các môn đệ được Đức Giê-su đồng hóa với Người, nên kẻ nào giúp đỡ các ông dù chỉ một bát nước lã mà thôi, thì cũng kể như đã phục vụ Người (x Mt 25,35-45).

C 42: + Ai làm cớ cho những kẻ bé mọn đang tin Thầy đây phải sa ngã: Đức Giê-su nói về các đầu mục dân Do Thái khi họ độc quyền giải thích Kinh Thánh. Họ không những không tin Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai mà còn tìm cách ngăn cản dân chúng tin theo Người (x Lc 11,52). + thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn: Đây là tội nặng nề vì đã xúc phạm đến Thánh Thần là Đấng thánh hóa tội nhân, nên kẻ đó đáng bị hình phạt cột cối xay vào cổ mà quăng xuống biển.

C 43-47: + Nếu tay anh… chân anh… mắt anh…: Đức Giê-su muốn nói đến việc người ta phải tránh dịp tội, dù phải hy sinh những gì quý giá nhất. Vì thà bị mất một chi thể mà được vào cõi sống còn hơn đủ các phần thân thể mà phải sa hỏa ngục. Kiểu nói “Tay, chân, mắt” cho thấy dịp tội không ở đâu xa mà ngay trong ngũ quan, trong bản thân mỗi người. + được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai tay mà phải sa hỏa ngục: Diễn tả sự đối nghịch giữa thiên đàng và hỏa ngục. Hỏa ngục là nơi tội nhân chịu khổ hình vì đã tự tách lìa khỏi “cõi sống” là nước thiên đáng.

C 48: + Lửa và giòi bọ: là hai lọai đau khổ dành cho các tội nhân bỏ qua lời cảnh báo của Thiên Chúa mà cố tình phạm tội trọng (x Mt 13,42; 18,8).

HỎI: 1- Tin mừng hôm nay cho thấy: ngòai Đức Giê-su và các môn đệ, còn ai khác cũng làm việc trừ ma quỷ nữa không? 2- Việc cấm cản người khác lấy danh Đức Giê-su để trừ qủy cho thấy tâm địa của các môn đệ ra sao? 3- Đức Giê-su có đồng ý với việc làm của các ông hay không? 4- Qua câu: “Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta”, Đức Giê-su muốn các môn đệ của Người phải có thái độ nào? 5- Tại sao cho các môn đệ chỉ uống một bát nước lã mà thôi lại cũng được Đức Giê-su thưởng công sau này? 6- Những kẻ làm cho người bé mọn tin theo Đức Giê-su bị sa ngã nói đây là ai và họ đáng bị phạt thế nào? 7- Qua câu “chặt tay, chặt chân, móc mắt…” Đức Giê-su muốn nhấn mạnh điều gì? 8- Lửa và giòi bọ là hai hình khổ dành cho những ai?

II. SỐNG LỜI CHÚA

1. LỜI CHÚA: “Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn” (Mc 9,42).

2. CÂU CHUYỆN: LÀM THẾ NÀO ĐỂ CHO CON CÁI KHỎI BỊ HƯ HỎNG?

Năm 1997 một tờ báo Hội Y Học Mỹ đã công bố kết quả một cuộc nghiên cứu công phu về nguyên nhân trẻ em hư, tốn tới 24 triệu Mỹ kim, do nhiều cơ quan chung sức thực hiện. Đợt đầu nghiên cứu từ năm 1995 với 90 ngàn học sinh từ lớp 7 đến hết lớp 12, thuộc 134 trường điển hình trên toàn nước Mỹ. Rồi từ đó 12 ngàn em lại được chọn để gặp gỡ từng em vào năm 1995 và 1996. Bản nghiên cứu tốn phí trên chỉ nhằm trả lời cho một câu hỏi đơn giản là: tại sao các em đều được học chung một chương trình như nhau mà sau này em thì thành đạt, đang khi một số khác lại sa đà vào các thói hư như: hút sì-ke ma túy, rượu chè, bê bối về tình dục và chán sống.

Bản nghiên cứu đã đưa ra kết luận như sau: Nguyên nhân chính là “mối quan hệ gia đình giữa cha mẹ và con cái mật thiết hay lỏng lẻo, không phân biệt gia đình giầu nghèo, màu da trắng đen, trình độ học vấn cao thấp…”. Sự thành công và thất bại nơi lớp trẻ chính là do cha mẹ dành bao nhiêu thời gian để tiếp xúc với con cái trong một ngày. Riêng đối với các tín hữu thì còn thêm một yếu tố thứ hai nữa cũng quan trọng không kém là: các bậc cha mẹ trong gia đình có đức tin mạnh hay yếu, thể hiện qua việc có siêng năng dự lễ Chúa Nhật và chuyên cần đọc Kinh Thánh kèm theo cầu nguyện nhiều ít để nêu gương sáng cho con cái?

3. SUY NIỆM:

Mẹ Têrêsa Can-quýt-ta suốt đời dấn thân săn sóc những người nghèo hèn sống bên bãi rác ở thành phố Can-quýt-ta, nhưng mẹ lại quả quyết rằng người nghèo không phải chỉ có ở nước Ấn Độ: “Người nghèo nhất trong những người nghèo đang ở ngay trong gia đình mỗi người. Tôi chưa thấy trẻ em nước nào lại nghèo bằng trẻ em nước Mỹ”. Thật vậy, trẻ em Mỹ chắc chắn không bị đói nghèo về thực phẩm vật chất, nhưng rất thiếu sự chăm sóc giáo dục của các bậc cha mẹ trong gia đình.

Những ai có đức tin vào Chúa Giê-su cũng đều được trao quyền nhân danh Người mà trừ quỉ và xua sạch bóng tối gian ác ra khỏi gia đình mình. Quyền làm phép lạ này hệ tại ở những việc nhỏ bé là xây dựng một tình thương giữa các thành viên trong gia đình. Khi bắt đầu quan tâm đến nhau và trao cho nhau dù chỉ một ly nước, một việc làm xem ra tầm thường nhất nhưng lại đem lại hiệu quả rất lớn lao là làm cho gia đình mình trở thành một tổ ấm chan hòa yêu thương.

Con cái chúng ta nghèo tình thương vì không được cha mẹ dành thời giờ để chăm sóc. Người ta sống trong một ngôi nhà nghèo tình thương khi không được người thân lắng nghe và cảm thông những nỗi lo âu khắc khoải, và những căng thẳng gặp phải trong cuộc sống hằng ngày. Cha mẹ chạy đôn chạy đáo làm giàu về vật chất, nhưng lại để cho chính con cái mình lâm vào tình trạng ngày một nghèo tình thương thì thật phi lý! Trong thực tế: nhà của nhiều gia đình ngày một rộng và nhiều tiện nghi hơn, nhưng lại trở thành lạnh lẽo trống trải vì nghèo tình thương nhau!

4. THẢO LUẬN: 1- Bạn có đồng ý với kết luận của cuộc nghiên cứu trả lời vấn nạn “nguyên nhân nào khiến trẻ em nước Mỹ bị hư hỏng nói trên” hay không? Tại sao? 2- Gia đình của bạn hiện đang trong tình trạng giàu nghèo thế nào về tình thương giữa các thành viên? 3- Bạn cần làm gì cụ thể để gia tăng tình thương yêu đối với cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh em trong gia đình bạn?

5. LỜI CẦU:

LẠY CHÚA GIÊ-SU. Hôm nay chúng con cảm nhận được lời Chúa dạy về nguyên nhân và cách khắc phục hầu tránh cho con em trong gia đình khỏi bị hư hỏng. Chúng con sẽ làm giầu tình thương cho gia đình mình bằng việc dành ra thêm thời gian ở nhà với gia đình. Phép màu thực sự sẽ xảy ra nếu chúng con bắt đầu theo đường lối yêu thương của Mẹ Têrêsa Can-quýt-ta là: Hãy năng nghĩ đến nhau, mỉm cười với nhau và chia sẻ cho nhau sự quan tâm chăm sóc. Hãy trao cho nhau một ly nước mát với tình cảm thân thương. Hãy tặng cho nhau một lời khen thành thật hay một cử chỉ âu yếm giữa cha mẹ với con cái, giữa chồng với vợ, giữa các thành viên trong gia đình với nhau.

– LẠY CHÚA. Ước gì gia đình chúng con trở thành một tổ ấm luôn hòa thuận yêu thương nhau, trong đó vợ chồng biết năng nghĩ đến nhau và làm vui lòng nhau, cha mẹ biết quan tâm dạy dỗ con cái về nhân bản và đức tin bằng lời nói và nhất là bằng gương sáng. Xin cho gia đình chúng con biết năng cầu nguyện sớm hôm, biết đọc Lời Chúa trong Giờ Kinh Tối gia đình, biết dùng Lời Chúa mà dạy dỗ con cái. Hy vọng nhờ đó, gia đình chúng con sẽ trở thành một thiên đáng ngay từ hôm nay, là dấu hiệu gia đình chúng con sẽ được hợp hoan trong Nước Hằng Sống sau này.

X) HIỆP CÙNG MẸ MARIA.-Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

Về Mục Lục

___________________________________________________________________________________

Bài 8. KHÓC VỚI KẺ KHÓC VÀ VUI VỚI NGƯỜI VUI
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ

Khi chú giải về Tình Yêu Ki-tô giáo trong chương 13 Thư 1 Cô-rin-tô của Thánh Phao-lô, ông William Barclay, một nhà chú giải Thánh Kinh nổi tiếng, đã viết một câu chí lý như sau:

“Khóc với kẻ khóc bao giờ cũng dễ hơn là vui với người vui. Chúng ta thích nghe câu chuyện chê bai kẻ khác hơn là câu chuyện nhằm khen ngợi người khác.”

Tại sao thế? – Tại vì sự ghen tỵ tức “không muốn cho người khác có cái mà họ đang có” ẩn sâu trong đáy lòng của mỗi con người. Nhiều người cho rằng sự ghen tỵ này rất phổ biến giữa các Ki-tô hữu, thậm chí cả trong hàng ngũ lãnh đạo Giáo Hội! Thế thì các bài Sách Thánh của Chúa Nhật XVI Thường Niên Năm B hôm nay còn nguyên giá trị thời sự (actual) tức là không chỉ là chuyện của thời xa xưa mà là chuyện của chính ngày hôm nay.

II. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH

2.1 Trong bài đọc 1 (Ds 11,25-29): Anh ghen giùm tôi à? Phải chi toàn dân đều là ngôn sứ.

2.2 Trong bài đọc 2 (Gc 5,1-6): Tài sản của các người đã hư nát.

2.3 Trong bài Tin Mừng (Mc 9,36-43.45.47-48): Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta. Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi.

III. KHÁM PHÁ CHÂN DUNG & SỨ ĐIỆP CỦA THIÊN CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH

3.1 Chân Dung của Thiên Chúa (Thiên Chúa là Đấng nào?)

3.1.1 Bài đọc 1 (Ds 11,25-29) là câu truyện Thần Khí Thiên Chúa đậu trên 70 kỳ mục của Ít-ra-en, kể cả trên 2 ông En-đát và Mê-đát là 2 người không tuân thủ chỉ thị của Mô-sê là đến Lều Hội Ngộ mà họ lại ở lại trong trại. Có người thấy thế liền “mách lẻo” với ông Mô-sê để mong ông Mô-sê loại trừ họ. Nhưng chẳng những ông Mô-sê không loại trừ hay khiến trách 2 ông En-đát và Mê-đát mà lại còn tuyên bố một câu làm nhiều người chưng hửng:

“Anh ghen dùm tôi à? Phải chi Đức Chúa ban Thần Khí trên toàn dân của Người để họ đều là ngôn sứ!” Vì Đức Chúa đã ban Thần Khí của Người trên họ.”

Qua đoạn Thánh Kinh này chúng ta khám phá ra Thiên Chúa của ông Mô-sê và của dân Ít-ra-en (tức của Ki-tô giáo) là Đấng Thiên Chúa rộng lòng, rộng tay ban phát ơn huệ của Người cho những ai Người muốn. Mọi người khác chỉ có việc cảm tạ, ngợi khen, chúc tụng Thiên Chúa và mừng cho những người được ơn ngôn sứ mà thôi.

3.1.2 Bài đọc 2 (Gc 5,1-6) là những lời cảnh cáo nghiêm khắc của Thánh Gia-cô-bê Tông đồ dành cho những người giầu có mà sống xa hoa, trụy lạc và ích kỷ không biết chia sẻ của cải vật chất mà Thiên Chúa đã ban cho họ, với những người túng thiếu cần đến sự giúp đỡ của họ. Nguyên nhân cũng vì lòng ích kỷ mà ra.

Qua đoạn Thánh Kinh này chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng muốn người giầu dùng của cải vật chất một cách hữu ích không chỉ cho bản thân mình mà cho cả người khác bằng cách chia sẻ của cải ấy với những người túng thiếu.

3.1.3 Bài Tin Mừng (Mc 9,38-43.45.47-48) có hai phần.

* Phần thứ nhất là thái độ bao dung, rộng lượng và quan điểm quy nạp (chứ không loại trừ) của Chúa Giê-su với lời khẳng định “Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta” khi ông Gio-an “mách lẻo” với Chúa Giê-su về sự kiện có những người khác không thuộc nhóm môn đệ lại rao giảng nhân danh Người.

* Phần thứ hai là thái độ nghiêm khắc và quyết liệt của Chúa Giê-su đối với những người làm gương mù gương xấu cho người khác cũng như những phần thân thể gây hại cho chính mình.

Qua Bài Tin Mừng trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng bao dung quảng đại và công minh chính trực, không loại trừ những người thiện chí, nhưng quyết liệt với những người làm hại kẻ khác.

3.2 Sứ điệp của Lời Chúa (Chúa muốn chúng ta làm gì?)

Sứ điệp của Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh hôm nay là

(1o) Sống tinh thần quy nạp chứ không loại trừ, tức là mở rộng lòng tiếp nhận mọi người chứ không gạt bỏ những người không cùng phe, nhóm với mình.

(2o) Sống tỉnh thức hay cảnh giác kẻo tạo ra gương mù gương xấu gây hại cho kẻ khác cũng như gây hại cho chính bản thân mình.

IV. SỐNG VỚI THIÊN CHÚA & THỰC THI SỨ ĐIỆP CỦA NGƯỜI

4.1 Sống với Thiên Chúa là chiêm ngắm Thiên Chúa và học cùng Người để có tinh thần và cách sống theo nguyên tắc quy nạp chứ không loại trừ, vui mừng với điều tốt lành mà không ghen tỵ với bất cứ một ai.

4.2 Thực thi sứ Điệp của Lời Chúa hôm nay là

(1o) Loại bò lòng ghen tỵ ra khỏi tâm hồn mình: vui với người vui, mừng với sự thành công của người khác.

(2o) Tránh không làm gương mù gương xầu cho những người xung quanh.

(3o) Quyết liệt không để cho mình phạm tội bằng thân thể hay một phần thân thể của mình.

V. CẦU NGUYỆN CHO HỘI THÁNH VÀ CHO THẾ GIỚI

5.1 «Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta.» Chúng ta hiệp lời cầu nguyện cho mọi người, mọi dân tộc trên thế gian này có được tấm lòng bao dung rộng mở đối với người khác và các dân tộc khác.

Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa!

Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con!

5.2 «Người lấy một phần Thần Khí đang đậu trên ông (Mô-sê) mà đặt trên bảy mươi kỳ mục.» Chúng ta hiệp lời cầu nguyện cho Đức Giáo Hoàng, Các Hồng Y, Giám Mục và Linh Mục để các vị lãnh đạo ấy của Hội Thánh được tràn đầy Thần Khí của Thiên Chúa.

5.3 «Phải chi Đức Chúa ban Thần Khí trên toàn dân của Người để họ đều là ngôn sứ!» Chúng ta hiệp lời cầu nguyện cho tất cả các Ki-tô hữu được có Thần Khí Thiên Chúa trong lòng và trong cuộc sống để mọi người nói lời Thiên Chúa cho tha nhân đồng loại.

5.4 «Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Ki-tô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.»Chúng ta hiệp lời cầu nguyện cho mọi người trong giáo xứ/cộng đoàn của chúng ta để ai nấy biết mở tay, mở lòng giúp đỡ những người túng thiếu.

Về Mục Lục

___________________________________________________________________________________

Bài 9. BÈ PHÁI
JM. Lam Thy ĐVD.

Một trong những khuynh hướng rất thông thường của con người là óc bè phái và ham muốn độc quyền. Khuynh hướng này được biểu lộ nơi các môn đệ Đức Giê-su (cụ thể là thánh Gio-an) trong bài Tin Mừng hôm nay (Mc 9, 38-43.45.47-48). Trên con đường loan báo Tin Mừng, các môn đệ thấy có những người không thuộc nhóm của mình lại nhân danh Thầy mà làm được những phép lạ như trừ quỉ, chữa bệnh… Các ông quan niệm chỉ những ai ở trong nhóm 12 như mình mới được quyền làm việc đó. Nếu có ai khác làm được điều ấy, thì ngay lập tức các ông cảm thấy bực bội vì đặc quyền của mình bị xâm phạm và tìm mọi cách ra tay ngăn cản, đồng thời báo cáo với Thầy: “Thưa Thầy, chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ.

Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta” (Mc 9, 38). Điều đó khiến Đức Giê-su không hài lòng và dạy bảo: “Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta.” (Mc 9, 39-40).

Đối với người ngoài nhóm, không thuộc “phe ta”, mà như thế thì còn có thể hiểu đuợc; nhưng đến như cùng trong một nhóm với nhau, mà cũng tức tối, ấy mới là vấn đề. Vẫn còn đó câu chuyện 2 người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an đến xin được một người ngồi bên tả, một người ngồi bên hữu Đức Giê-su khi Người được vinh quang, khiến cho “Nghe vậy, mười môn đệ kia tức tối với hai anh em đó” (Mt 20, 20-24). Trước tình hình không được đẹp ấy của cả 2 “phe” (một bên thì muốn làm lớn, một bên thì tức tối, ghen tị), khiến Đức Giê-su phải gọi các ông lại và nói: “Anh em biết: thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người.”(Mt 20, 25-28).

Sở dĩ có chuyện phe phái cũng chỉ vì lòng đố kỵ, ghen ghét phát sinh, “Thật vậy, ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa.” (Gc 3, 16). Mà cũng chẳng cần chờ đến Tân Ước mới có chuyện ấy (Mt 20, 15; Mc 15, 10; Cv 5, 17; 1Cr 5, 3; 2Cr 12, 20 … ), ngay từ thời Cựu Ước cũng không thiếu chuyện ghen tương đố kỵ, như chuyện Giô-suê ghen tức khiến ngôn sứ Mô-sê phải nói thẳng: “Anh ghen dùm tôi à? Phải chi ĐỨC CHÚA ban Thần Khí trên toàn dân của Người để họ đều là ngôn sứ!” (Ds 11, 26-29); hoặc như biết bao chuyện đố kỵ khác (St 30, 2; Xh 20,5; Sm 18, 1-9; Cn 26, 26; Hc 40, 4; Is 11, 13…). Thật đúng là “Cuộc trần ai, ai dễ kém ai!” Ôi chao! Đời mà! (C’est la vie!). Đời là thế, thế thời phải thế!

Sự đố kỵ, ghen ghét biểu lộ tính ích kỷ, mà tính ích kỷ tạo nên óc bè phái. Rõ ràng óc bè phải bộc lộ khi con người sống với nhau thiếu tình thương yêu, và từ đó đi đến chỗ thù hằn, chém giết lẫn nhau cũng chẳng bao xa. Chiến tranh, khủng bố xảy ra vì óc bè phái, lòng đố kỵ, tính ích kỷ, là điều tất yếu. Với tôn giáo thì cũng đã có những cuộc chiến tranh tôn giáo xảy ra giữa tôn giáo này với tôn giáo khác, thậm chỉ giữa hệ phái này với hệ phái khác trong cùng một tôn giáo (hệ phái nào cũng cho mình là đúng và muốn hành xử như một thứ độc quyền về đức tin), chẳng khác nào cảnh “huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt” vì thiếu vắng tình thương. Nếu không thế, thì ca dao VN đã chẳng có câu “Khôn ngoan đối đáp người ngoài, Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”. Vì thế nên ngay sau chuyện các môn đệ bực bội vì có kẻ không cùng “phe ta” mà dám nhân danh Thầy của “phe mình” làm được phép lạ trừ quỷ, chữa bệnh, Đức Giê-su liền giảng dạy về đề tài “Bác ái đối với môn đệ” và “Đừng làm cớ cho người khác và cho mình sa ngã (Mc 9, 40-48). Cũng vậy, ngay sau chuyện 2 người con ông Dê-bê-đê đòi làm lớn, Đức Giê-su cũng giảng dạy đề tài “Ai làm lớn phải phục vụ” (Mt 20, 24-28).

Chung quy, Đức Giê-su dư biết lòng dạ con người thường “trâu cột ghét trâu ăn”, “lươn ngắn lại chê trạch dài, thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm” (ca dao, tục ngữ VN)… Vì thế, Người mới dạy “Đừng làm cớ cho người khác và cho mình sa ngã“, hoặc “Ai làm lớn phải phục vụ”, mọi người phải sống với nhau trong tình tương thân tương ái, yêu thương nhau như yêu chính bản thân mình, tất cả phải coi đức Mến là nhân đức hàng đầu (“Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến” – 1Cr 13, 13). Khoan thử nói tới lãnh vực thần linh siêu hình; chỉ cần nhìn vào đời sống con người nơi xã hội trần thế cũng đã thấy nổi bật một chân lý “có yêu thì mới tin và càng tin thì càng yêu gấp bội”. Rõ ràng đức tin phải đi đôi với đức mến hoặc dẫn tới đức mến, mới là đức tin đích thực. Đến như tin vào Chúa, thực hành Lời Chúa mà thiếu đức mến (tức là thực hành vì bổn phận, theo luật, thực hành cách miễn cưỡng, chiếu lệ) thì cũng vô dụng (“Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi.” – 1Cr 13, 3).

Trong Tông thư “Porta Fidei – Cánh cửa Đức Tin” (số 14), Đức Thánh Cha Biển Đức XVI cũng dạy: “Ðức tin không có đức mến thì không mang lại thành quả và đức mến không có đức tin thì sẽ là một tình cảm luôn tùy thuộc sự nghi ngờ. Ðức tin và đức mến cần có nhau, đức này giúp đức kia thực hiện hành trình của mình”; để từ đó kêu gọi cộng đồng tín hữu: “Năm Ðức Tin cũng sẽ là cơ hội thuận tiện để tăng cường chứng tá bác ái.” Đức tin và đức mến là 2 nhân đức quấn quít lấy nhau, vừa là tiền đề vừa là kết quả của nhau như lời dạy của Thánh Phao-lô: “Trong Đức Ki-tô Giê-su, cắt bì hay không cắt bì đều không có giá trị, chỉ có đức tin hành động nhờ đức ái.” (Gl 5, 6); “Xin cho anh em, nhờ lòng tin, được Đức Ki-tô ngự trong tâm hồn; xin cho anh em được bén rễ sâu và xây dựng vững chắc trên đức ái, để cùng toàn thể các thánh, anh em đủ sức thấu hiểu mọi kích thước dài rộng cao sâu, và nhận biết tình thương của Ðức Ki-tô.” (Ep 3, 17-19). Chính vì thế, vào ngày chung thẩm, Thiên Chúa chỉ căn cứ trên những “chứng tá bác ái” mà con người có thực hiện được hay không nơi cuộc sống trần thế, để từ đó thẩm định công tội mà thôi (xc Mt 25, 31-46).

Vâng, có Mến yêu thì mới Tin và có thực sự Tin thì mới Cậy nhờ giúp đỡ. Ôi! Lạy Chúa! Cúi xin Chúa ban cho con một đức Mến hoàn hảo như Chúa đã từng dạy con (“Yêu Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và yêu anh em như yêu chính mình”). Con biết rằng chỉ khi nào con sống Lời Chúa một cách chân thật, chỉ khi nào con thực hành Lời Chúa bằng cả tâm trí và hành động trong cuộc sống rẫy đầy những đố kỵ, ghen ghét, bè phái, cục bộ…, con mới đúng là môn đệ, là bạn hữu đích thực của Chúa (Ki-tô hữu), để được cùng với Chúa xứng đáng là con cái của Chúa Cha toàn năng hằng hữu. Ôi! Lạy Chúa! “Con Mến yêu Tin thờ trong lòng, cùng chút tình ngây thơ ngắm trông. Trong Thánh Thể Chúa cả càn khôn, hằng náu thân tù hãm vì con.

Giờ đây hạnh phúc độc nhất đời con. Êm đềm Chúa nhìn hạnh phuc nào hơn. Lòng con ngây ngất Tin Chúa, Yêu Chúa, trong tình Chúa Yêu, con phó dâng tâm hồn” (“Kinh phó dâng” – TCCĐ). Amen.

Về Mục Lục

___________________________________________________________________________________

Bài 10. Bạn & Thù
AM Trần Bình An

Cuộc ngừng bắn diễn ra vào đêm trước Giáng Sinh, 24 tháng 12 năm 1914, khi binh sĩ Đức khởi sự trang trí khu vực xung quanh các chiến hào của họ, trong vùng Ypres thuộc nước Bỉ, để chào đón Giáng Sinh. Họ bắt đầu treo những ngọn nến trên cây, rồi ngồi lại với nhau để hát các ca khúc Giáng Sinh, nhiều nhất là bài thánh ca Đêm Thánh Vô Cùng (Stille Nacht). Khi ấy, các binh sĩ Anh bắt đầu ra khỏi chiến hào ở bên kia chiến tuyến và đáp lời bằng những bài hát Giáng Sinh tiếng Anh.

Tiếp đó là những tiếng hô to “Chúc mừng Giáng Sinh” vang vọng từ hai phía. Rồi là những lời mời gọi để những người lính từ hai bên chiến tuyến, tìm gặp nhau và trao đổi quà tặng Giáng Sinh, rượu whisky, mứt trái cây, xìgà, sôcôla và các thứ tương tự. Đêm ấy hoàn toàn không có tiếng đạn pháo. Lúc đó, các chiến sĩ trận vong được an táng theo nghi thức, được thương tiếc và nghiêm chào theo quân cách, bởi những người lính từ hai bên chiến tuyến. Tại một tang lễ trong Vùng Hoang địa, những người lính từ hai phía cùng nhau đọc đoạn Thánh Vịnh 23. (Wikipedia)

Như thế, ngày Giáng Sinh đã xóa tan làn ranh thù địch, tất cả đôi bên đều trở thành bạn bè thân thiết với nhau, khi tình thương, nhân ái thay thế hận thù và tội ác. Bài trình thuật Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng nói rành mạch về Bạn và Thù, nhất là thù trong, nội gián vô cùng hiểm nguy.

1. Đâu là Bạn?

Các Tông đồ khởi sự đã đơn giản hóa làn ranh rất tế nhị đó. Kẻ xa lạ biết đâu là bằng hữu. Kẻ thân thiết biết đâu thành kẻ thù. Chúa Giêsu đã kịp lý giải rành mạch, chỉ đích danh đâu là bạn và thù.

Hôm nay, trong trích đoạn sách Dân Số và Tin Mừng Thánh Mác Cô, đều nói về lòng khoan dung và tình bằng hữu. Đừng hẹp hòi khi thấy Thần Khí Chúa ban tràn đầy cho nhiều người. Ông Môisê đã phải bất bình khi có người phản đối: “Anh ghen dùm tôi à? Phải chi Đức Chúa ban Thần Khí trên toàn dân của Người, để họ đều là ngôn sứ.”(Ds 11, 29)

Lòng khoan dung cũng được Chúa Giêsu tái khẳng định:“Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta.” (Mc 9, 38-40).

Chúa Giêsu muốn xác định những ai ủng hộ Người, lấy danh Người mà trừ quỷ, mà làm việc lành, thì đều xứng đáng coi như thân hữu hay bạn bè. Còn kẻ chống báng Người, mới là kẻ thù địch đích thực với Người.

2. Đâu là Bạn thân?

Hơn nữa, những ai giúp đỡ các môn đệ bé nhỏ của Người, thì còn được trọng thưởng, dù chỉ giúp việc nhỏ mọn, như một ly nước lã giải khát. Nhờ hành động bác ái đó, Chúa coi như họ như bạn thân thiết, vì cư xử tốt lành với Bạn của Người. “Ai cho anh em uống một chén nước, vì lẽ anh em thuộc về Đấng Ki tô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.” (Mc 9, 41).

Đức bác ái luôn được Chúa hoan nghênh. Người không so đo, lớn nhỏ hay nhiều ít, mà căn cứ vào tấm lòng dành cho việc đó như thế nào. Vì thế Mẹ Têrêsa Calcutta mới dặn dò chúng ta: “Hãy làm những sự bình thường với một tình yêu phi thường”.

3. Đâu là kẻ thù?

Kẻ chống lại Chúa chính là Satan, ma quỷ. Đó cũng là kẻ thù muôn kiếp của chúng ta. Khi sống trong tình nghĩa, kết hợp mật thiết với Chúa, chúng ta trở nên bạn hữu thân thiết với Người. Nhưng khi chúng ta phạm tội do yếu đuối, hay quy hàng, chạy theo ma quỷ, lẽ đương nhiên chúng ta trở nên xa lạ với Chúa. Chính tội lỗi khiến chúng ta xa lìa Chúa, biến chúng ta trở nên đối nghịch với Thiên Chúa, như Adam và Evà ngày xưa phạm tội, bị Chúa xua đuổi ra khỏi Vườn Địa Đàng. Tuy nhiên, Người Cha Nhân Từ vẫn sẵn lòng khoan dung, đón chiên lạc sám hối trở về.

Nhưng Chúa Giêsu gay gắt cảnh báo kẻ sa đọa, cố tình sống theo tội lỗi, không chịu hoán cải, mà chống báng, trở nên thù địch với Người, lại còn nhẫn tâm làm gương mù, gương xấu, hoặc rủ rê, lôi kéo người khác phạm tội.” Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn!” (Mc 9, 42).

Hơn nữa, Chúa Giêsu còn tỏ ra quyết liệt với thù địch nội tại, ẩn nấp ngay chính trong bản thân mỗi người. Chúa ra lệnh trừ khử tội lỗi, trấn áp ngay lập tức, không khoan nhượng, Không thỏa hiệp, dù có phải hy sinh, như móc mắt, chặt tay hay chặt chân đi, để khỏi sa ngã, hầu được cứu thoát muôn đời.

“Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một tay được vào cõi sống còn hơn đủ cả hai tay mà sa hỏa ngục, phải vào lửa không thể tắt. Nếu chân anh làm cớ cho anh sa ngã thì chặt nó đi; thà cụt một chân mà được vào cõi sống, còn hơn là đủ cả hai chân mà bị ném vào hỏa ngục. Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã, thì móc nó đi; thà chột mắt mà được vào Nước Thiên Chúa, còn hơn là đủ hai mắt mà bị ném vào hỏa ngục; nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt.”(Mc 9, 43-48) Lời tuyên chiến của Chúa với tội lỗi vô cùng dứt khoát và đanh thép!

Lạy Chúa, xin mở tai, mở mắt, mở lòng trí con ra, để con nhận biết phân biệt đâu là bạn và thù, hòng luôn củng cố, xây dựng và trung thành với tình bạn của Chúa.

Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ gìn giữ con lánh xa các chước cám dỗ, kẻo con đánh mất tình nghĩa với Chúa, hầu con được cứu rỗi. Amen.

Về Mục Lục

___________________________________________________________________________________

Bài 11. Chứng nhân Tin Mừng
Lm Dom Châu Hoàng Ngọc

Ba yếu tố để nên người thuộc về Đức Kitô, người làm chứng Tin Mừng đích thực:

1. Được Chúa ban Thần Khí: “Phải chi Đức Chúa ban Thần Khí trên toàn dân của Người để họ đều là ngôn sứ!” (Ds 11,29).

2. Lối sống Tin mừng: sống theo Lời Chúa dạy: Tám mối phúc

Tài sản các ngươi đã hư nát, quần áo các ngươi đã bị mối ăn, vàng bạc các ngươi bị rỉ sét,và chính rỉ sét ấy là bằng chứng bôc tội các ngươi, nó sẽ như lửa thiêu hủy xác thịt các ngươi Gian lận tiền lương của người thợ đi cắt lúa… Các ngươi đã sống xa hoa, đã buông theo khoái lạc… (Giac. 5,2-3).

3. Nhân Danh Chúa:

Đừng ngăn cản người ta vì không ai lấy Danh nghĩa Thầy mà trừ quỷ rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. Tiếp đón một người thuộc về Đức Kitô. Đừng làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn (Mc 9,38-48).

Suy gẫm: Bài Tin Mừng mời gọi tôi suy gẫm về đời sống đạo của tôi dưới cái nhìn của anh chị em lương dân:

– Một chị người lương phát biểu: “Tôi thích xem lễ Noel nhưng tôi không dám vô đạo này vì phải học nhiều quá.

– Một chị người lương khác phát biểu: “tôi cho con gái tôi theo đạo được rồi, cho tôi ở ngoài đi đặng tôi còn lo công chuyện nhà cửa…!

– Một anh tôn giáo bạn cũng nói: “Tôi thấy đạo cũng đánh bài, đánh số, đánh lộn, đánh đập vợ con… đánh hàng xóm chứ có tốt gì hơn đạo tôi!

– Xem ra, bên cạnh những việc bác ái từ thiện, người công giáo còn rất nhiều điều làm cho anh chị em ngoài đạo ngộ nhận:

– Ngộ nhận là vào đạo thì không lo việc nhà được

– Ngộ nhận vì cho là vào đạo thì bỏ tổ tiên, truyên thống ông bà

– Ngộ nhận vì cho là vào đạo phải biết chữ

– Ngộ nhận vì cho là phải đi lễ chúa nhật không thì mắc tội nặng, trời phạt

– Ngộ nhận vì vào đạo thì bỏ Phật, bỏ trời

– Ngộ nhân vì vào đạo là phải bỏ chồng ngoại

– Ngộ nhận vì vào đạo thì không được cúng giỗ nữa

– Đau đớn nhục nhã nhất là nhận định của anh tôn giáo bạn: Tôi thấy đạo cũng đánh bài, đánh số, đánh lộn, đánh đập vợ con…đánh hàng xóm chứ có tốt gì hơn đạo tôi!

* Xét mình:

– Là người công giáo tôi đã không giúp người lương hiểu đúng và hiểu rõ những ngộ nhận của họ về đạo. Đó là một thiếu sót lớn lao đối với bổn phận truyền giáo

– Là người công giáo tôi đã thường đi xưng tội bỏ lễ bỏ kinh, nói tục chửi thề, ăn trộm ăn cắp, giận hờn ghen ghét, nhưng ít thấy ai xưng tội không giải thích đưunsg về đạo cho người lương hiểu, cũng không thấy ai xưng tội đã làm gương xấu cho người lương hiểu lầm về đạo

– Là người công giáo tôi chỉ quan tâm giữ đạo chứ không quan tâm sống đạo.

– Là người công giáo tôi đã chỉ quan tâm học đạo để trả bài khi lãnh các bí tích mà không quan tâm đưa giáo lý vào cuộc sống

– Là người công giáo tôi đã thường xuyên không nhớ tới Chúa, tôi để Cháu ở lại Nhà thờ, tôi vào cuộc đời với bản thân mình và ý riêng của mình

– Là người công giáo tôi đã không hề quan tâm cầu xin Chúa ban Thần Khí Chúa để Ngài hướng dẫn tôi không chỉ gia đạo trong nhà thờ mà còn trong cuộc sống nữa.

– Là người công giáo tôi đã không quan tâm lời nói, hành động thái độ của tôi có thể gây gương mù gương xấu cho cái trong nhà và người lương trong xóm

– Tuy có câu: “nhân hư, đạo bất hư” nhưng làm sao đạo được cả sáng khi tôi là người có đạo lại gây gương mù gương xấu như thế.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu Tình Yêu, xin tha thứ cho cuộc sống phản Tin Mừng của con. Xin thương dẫn con đi trên đường tình thương và Chân Lý của Ngài.

Về Mục Lục

___________________________________________________________________________________

Bài 12. Tin Mừng dữ dội
Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Giáo lý Tin Mừng không hề kêu gọi bạo lực nhưng nó đòi hỏi người tín hữu phải quyết liệt với mình, làm mạnh với mình.

Đọc Tin Mừng Chúa Giêsu, đọc giả có lúc cười lúc khóc, có khi cảm nhận được sự xoa dịu ủi an hay thôi thúc tỉnh thức, có lúc cảm thấy bị chói tai, bị cay cú…Tin Mừng luôn nói lên những chân lý và dạy những bài học thích đáng.

Suy niệm trang Tin Mừng (Mc 9,42-48), Lm Nguyễn Hồng Giáo dùng cụm từ “Tin Mừng dữ dội”.

Đầu đề “Tin Mừng dữ dội” chắc sẽ làm cho nhiều người ngạc nhiên thắc mắc. Tin Mừng của Chúa Giêsu mà dữ dội sao? Chẳng phải là Tin Mừng toát ra một bầu khí yêu thương, hiền hoà, bao dung, yêu chuộng hoà bình và bất bạo động bao trùm đó sao? Tôi đồng ý như thế, tôi vẫn biết là có vố số những người đã tìm thấy trong lời dạy về tình thương và thái độ bất bạo động nguyên lý cho sự dấn thân xã hội, chính trị của họ, ví dụ như ba khuôn mặt còn khá quen thuộc với nhiều người trong chúng ta là Mẹ Têrêxa Calcutta, mục sư Tin Lành Martin Luther King và nhà anh hùng Ấn Độ Mahatma Gandhi. Dầu vậy, tôi cứ vẫn thấy Tin Mừng của Chúa là dữ dội, ngay cả hay đúng hơn nhất là Bài giảng trên núi (Mt các chương 5, 6, 7) mà Gandhi lấy làm một nguồn cảm hứng cho cuộc đấu tranh hoà bình của mình chống lại thực dân Anh, dành độc lập cho đất nước.

Tin Mừng dữ dội với các đòi hỏi gắt gao: “Nếu tay hoặc chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi; thà cụt tay cụt chân mà vào cõi sống còn hơn là có đủ hai hai tay hai chân mà bị ném vào lửa đời đời. Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi; thà chột mắt mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào lửa hoả ngục(Mt 18,8-9; x. Mt 5,19-20). Cần hy sinh những gì đưa chúng ta tới tội trọng và phải biết dám liều mình, hy sinh đến cả mạng sống mình để đáp lại tiếng gọi của Thiên Chúa (x.nguoitinhuu.com).

Lời Chúa hôm nay cho thấy tính chất “dữ dội” của Tin Mừng.

Phải tránh gương mù gương xấu “Nếu ai làm cớ cho người khác phạm tội, thì thà buộc cối đá vào cổ nó mà quẳng xuống biển còn hơn”.

Phải quyết liệt và dứt khoát với dịp tội “chặt tay, chặt chân, móc mắt” khi những chi thể này là nguyên nhân phạm tội. ĐGM Arthur Tonne gọi đó là những lời đẫm máu và rùng rợn. Noel Quesson nói: Dù là những kiểu nói vùng Sêmít có vẻ quá mạnh, nhưng chúng ta cũng không nên làm nhẹ bớt đi ý nghĩa của những câu đó.

M. Quesnel tự hỏi: Sao chỉ có ba chi thể đó? Chắc hẳn vì chúng tiêu biểu cho những gì loài người thường vi phạm, đó là trộm cướp, bạo lực, ước muốn xấu (Mc 7,21-22). Chúa Giêsu bảo là hãy dứt khoát “chặt đi” bất kỳ sự vật, người hoặc hoàn cảnh nào có thể là dịp tội cho ta. Đó là ý nghĩa của điều mà Phúc Âm gọi là “từ bỏ chính mình” (x. Mc 8,34).

Tay mắt và chân là thứ mà ta có từng đôi, mà nếu mất đi một thì cũng không đến nỗi tàn phế. Việc hài tên chúng lần lượt từng cái một là một kiểu nói hùng biện có tác dụng mạnh đối với người nghe (Fiches Dominicales). Tay mắt và chân tượng trưng cho tất cả các dịp tội mà một Kitô hữu có thể khám phá nơi bản thân hoặc trong các quan hệ bên ngoài. “Chặt bỏ” một tật xấu một thói quen, “cắt đứt” một mối liên hệ nguy hiểm. Tính dữ dội biểu lộ nơi thái độ chọn lựa dứt khoát và quyết liệt với tội lỗi.

Cũng như người bệnh, phải phẫu thuật, phải cắt bỏ khối u, cắt bỏ phần thân thể nhiễm độc để bảo toàn mạng sống, Chúa bảo chúng ta phải quyết liệt với tội lỗi cho dù phải “chặt tay, chặt chân, móc mắt”. Chúa muốn nhấn mạnh đến giá trị tuyệt đối của “sự sống”, của “Nước Thiên Chúa”, đó là tiêu chuẩn tối hậu của mọi chọn lựa của con người. Biết bao nhiêu người đã chịu thiệt thòi, thậm chí dám chấp nhận cái chết vì trung thành với tất cả các đòi hỏi “dữ dội” của Tin Mừng.

Đời sống Kitô hữu cần được cắt xén, gột rửa, từ bỏ để tăng trưởng, sinh nhiều hoa trái: “Nhánh nào không sinh quả thì Thiên Chúa chặt bỏ, còn nhánh nào sinh quả thì Ngài tỉa sạch để nó sinh quả nhiều hơn” (Ga 15,1-2).

Có những lời dạy của Tin Mừng, mới nghe qua thì rất “nhẹ nhàng”, nhưng gẫm sâu hơn lại thấy vô cùng dữ dội, ví dụ: “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14, 26). “Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được” (Mt 6,24); “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng: ‘Chớ giết người’; ai giết người thì đáng bị đưa ra toà. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo thì đáng bị lửa hoả ngục thiêu đốt” (Mt 5,21-22); “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: ‘Chớ ngoại tình’. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì lòng đã ngoại tình với người ấy rồi” (Mt 5,27-28); “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha thứ đến mấy lần?Có phải bảy lần không? Đức Giêsu đáp: ‘Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy’” (Mt 18,21-22); “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: ‘Mắt đền mắt răng đền răng’. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: đừng chống cự người ác, trái lại nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa. Nếu ai muốn kiện anh để lấy áo trong của anh, thì hãy để cho nó lấy cả áo ngoài…” (Mt 5,38-40). Hoặc: “Anh em đã nghe Luật dạy: ‘Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù’. Con Thầy. Thầy bảo anh em: Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em...” (Mt 5,43-44).

Tin Mừng dữ dội là do sự đòi hỏi vô cùng của sự hoàn thiện và tình thương của Cha trên trời mà các môn đệ Chúa Giêsu, vốn là những con người yếu đuối và tội lỗi, phải noi theo (x. Mt 5,48 và Lc 6,36). Giáo lý Tin Mừng không hề kêu gọi bạo lực nhưng nó đòi hỏi người tín hữu phải quyết liệt với mình, làm mạnh với mình, dám dùng “bạo lực” với mình, nếu nói được như thế, bởi lẽ nó bắt ta đi ngược với xu hướng tội lỗi vốn ăn sâu trong ta, đi ngược với sự khôn ngoan thế gian nữa (Lm Nguyễn Hồng Giáo).

Gương xấu và làm dịp tội cho người khác gây tai hại và nguy hiểm vô cùng. Cả hai đều đáng khinh đáng ghét ở đời này và lãnh án phạt nặng nề đời sau. Phải tránh gương mù gương xấu. Mỗi người có thể gây dịp tội khiến người khác sa ngã,
và đôi khi thân xác mình lại có thể là dịp tội cho chính mình. Càng tránh dịp tội càng ít phạm tội.

Có câu chuyện ngụ ngôn “Đại hội cái búa” kể về nỗi lo sợ của các loại cây trong rừng, từ cây cổ thụ cho đến những cây nhỏ đều sợ Cái Búa của người đốn cây. Hễ búa đi đến đâu là là cây cối đều ngã rạp đến đó.

Một hôm cây cối họp đại hội, bàn cách đối phó với Cái Búa. Để chứng tỏ rằng việc làm của tất cả cây rừng là công khai, Búa cũng được mời tham dự Đại hội này.

Sau một lúc bàn bạc sôi nổi, Đại hội đi đến kết luận: Cương quyết không cho Búa bất kỳ một khúc gỗ nào để làm cán cả. Búa mà không có cán thì làm được việc gì bây giờ. Tất cả cây rừng từ nhỏ đến lớn đều hoan hỉ về quyết định này. Dù một khúc gỗ cũng không cho!

Bấy giờ, Búa đưa tay xin phát biểu với giọng nài nỉ đáng thương: Xin quý vị niệm tình, thân tôi mà không có cán như người tật nguyền không tay chân, xin hãy cho tôi một lần này nữa thôi, tôi sẽ chỉ dùng Búa vào những việc tốt, tôi chỉ chặt những gai góc làm vướng chân quý vị mà thôi!

Trước lời thỉnh cầu tội nghiệp của Búa, cả Đại hội liền có sự chia rẽ vì khác quan điểm. Hội nghị phải đi đến việc biểu quyết lại. Kết quả là đa số bằng lòng cấp cho Búa một khúc gỗ duy nhất làm cán. Nhưng hỡi ôi! Khi Búa đã có cán rồi, nó bèn lần lượt đốn hết những cây trong rừng, từ cây non cho đến cây cổ thụ.

Bạn chỉ cần cho tội ác một cơ hội thôi là bạn sẽ hối tiếc cả cuộc đời ! Tội lỗi huỷ hoại đời người như sự hung hãn của núi lửa. Tội lỗi tàn phá cơ thể như bệnh ung thư. Tội lỗi gây hậu quả lâu dài như những đổ vỡ trong Gia đình, hầu như không bao giờ hàn gắn được!

Bạn đừng cho tội ác một cơ hội nào hoành hành, dù chỉ là một một sự dễ dàng cỏn con. Hãy chống trả, hãy cự tuyệt và tránh xa nó ! “Đừng để ma quỷ lợi dụng!”(Ep 4,27).

Cái xấu có khả năng lây lan rất nhanh. Tiếp cận với lời “dữ dội” của Tin Mừng sẽ giúp bạn tránh xa dịp tội và gương xấu. Nhờ đó, bạn sẽ làm chủ những đam mê như vui, buồn, sợ, giận, yêu, ghét, ham muốn trong mọi mối tương quan.

Cái đẹp, cái tốt, cái chân thật thường loan truyền theo chiều rộng và chiều xa. Sống Tin Mừng giúp bạn đem đến cho cuộc đời những nét đẹp, cuộc sống thêm ý nhị đậm đà và nhiều niềm vui hạnh phúc hơn.

Về Mục Lục

_________________________________

Share This Post