Chú giải và suy niệm Tin mừng Chúa Nhật I MV – năm A

Các bài chú giải và suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật I MV
Chúa Nhật I MV – Năm A
Lời Chúa:
Is 2,1-5; Rm 13, 11-14; Mt 24, 37-44
***************

MỤC LỤC
1. Chú giải và gợi ý suy niệm của Lm PX Vũ Phan Long, ofm: Không một ai biết ngày giờ
2. Chú giải của Noel Quesson
3. Để Chúa đến trong cuộc đời (Lm Giuse Nguyễn Hữu An)
4. Khoảng mong chờ (Trầm Thiên Thu)
5. Sẵn sàng đón Chúa (ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt)
6. Mùa Vọng: Mùa màu xanh (ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống)
7. Chúng ta phải chỗi dậy (Lm. HK)
8. Không đợi đến ngày mai (Linh mục Inhaxiô Trần Ngà)
9. Canh thức và sẵn sàng để đón Chúa! (Giêrônimô Nguyễn Văn Nội)
10. Tỉnh thức để chờ Chúa (Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT)
11. Sống tỉnh thức (Lm Jos. Tạ Duy Tuyền)
12. Suy niệm của Ủy Ban Kinh Thánh – HĐGMVN
13. Hãy sẵn sàng cho một tương lai tốt đẹp (Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái)
14. Niềm tin yêu phó thác (Lm. Antôn Nguyễn Văn Tiếng)
15. Âm vang mùa vọng (Lm. Giuse Lê Quan Trung)
16. Chúa sẽ đến cho con người hạnh phúc (Lm Jos Phạm Thanh Liêm)
17. Hy vọng (Lm Mark Link, S.J.)
18. Không ai biết được giờ nào (Lm Phaolô Nguyễn Văn Đông)
19. Các con hãy sẵn sàng (R. Veritas)
20. Hãy tỉnh thức
21. Sẵn sàng

22. Mùa yêu thương (PM. Cao Huy Hoàng)
23. Hãy canh thức
24. Hãy luôn sẵn sàng (Lm. Đan Vinh)
25. Chiến đấu nội tâm (JM. Lam Thy ĐVD.)
26. Ngày Chúa đến (AM Trần Bình An)
27. Suy niệm của ĐGM Phaolô Maria Cao Đình Thuyên

28. Đợi chờ, nhưng phải hành động (Jos. Vinc. Ngọc Biển)
29. Hôm nay là ngày tôi xin đón nhận! (Lm. JB Nguyễn Hữu Thy)
30. Con Người sẽ đến (P. Trần Đình Phan Tiến)

vong1A1A. BẢN VĂN

Bài đọc 1 (Is 2,1-5):

Đây là điều mà ông I-sai-a, con ông A-mốc, đã được thấy về Giu-đa và Giê-ru-sa-lem. Trong tương lai, núi Nhà Đức Chúa đứng kiên cường vượt đỉnh các non cao, vươn mình trên hết mọi ngọn đồi. Dân dân lũ lượt đưa nhau tới, nước nước dập dìu kéo nhau đi. Rằng : “Đến đây, ta cùng lên núi Đức Chúa, lên Nhà Thiên Chúa của Gia-cóp, để Người dạy ta biết lối của Người, và để ta bước theo đường Người chỉ vẽ. Vì từ Xi-on, thánh luật ban xuống, từ Giê-ru-sa-lem, lời Đức Chúa phán truyền. Người sẽ đứng làm trọng tài giữa các quốc gia và phân xử cho muôn dân tộc. Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến. Hãy đến đây, nhà Gia-cóp hỡi, ta cùng đi, nhờ ánh sáng Đức Chúa soi đường !

Bài đọc 2 (Rm 13,11-14a):

Thưa anh em, anh em biết chúng ta đang sống trong thời nào. Đã đến lúc anh em phải thức dậy, vì hiện nay ngày Thiên Chúa cứu độ chúng ta đã gần hơn trước kia, khi chúng ta mới tin đạo. Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu. Chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày : không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giê-su Ki-tô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thoả mãn các dục vọng.

Tin Mừng (Mt 24,37-44):

Hôm ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ : “Quả thế, thời ông Nô-ê thế nào, thì ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy. Vì trong những ngày trước nạn hồng thuỷ, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nô-ê vào tàu. Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thuỷ ập tới cuốn đi hết thảy. Ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy. Bấy giờ, hai người đàn ông đang làm ruộng, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại ; hai người đàn bà đang kéo cối xay, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại.

“Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến. Anh em hãy biết điều này : nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông đã thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu. Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.”

[Mục Lục]

khoangcah

B. CÁC BÀI CHÚ GIẢI VÀ SUY NIỆM

Bài 1. Chú giải và gợi ý suy niệm của Lm PX Vũ Phan Long, ofm: KHÔNG MỘT AI BIẾT NGÀY GIỜ

Chúng ta nhớ rằng chúng ta luôn luôn lệ thuộc vào Đức Giêsu và chúng ta luôn chịu trách nhiệm trước mặt Người.

1- Ngữ cảnh

Khối diễn từ cuối cùng gồm trọn chương 23 Mt, “Những lời nguyền rủa người Phariêu”, trước đây vẫn được coi như tách biệt, và phân đoạn Mt 24,1–25,46, “Diễn từ cánh chung”: Cả khối từ câu 23,1 đến câu 25,46 làm thành bài diễn từ duy nhất có chức năng nhắc nhở những người trong nhà sống một đời sống trung thực với những hành vi, công bình, nhân ái, dưới ánh sáng của cuộc chiến thắng cánh chung của Thiên Chúa và cuộc phán xét đang đến. Bài Tin Mừng Mt 24,37-44 nằm trong khối diễn từ cuối cùng này.

Phụng vụ cho đọc từ c. 37, nhưng có lẽ nên đọc bản văn ngay từ câu 36, vì: 1) Tư tưởng của câu 36 này được trình bày trong cc. 37-44; 2) Hai từ ngữ “ngày và giờ” trong c. 36 được nhắc lại trong cc. 42 và 44 làm thành một lối hành văn “đóng khung”, khiến cả phân đoạn 24,36-44 thành một đơn vị thống nhất. Các nhà chú giải thường cắt phân đoạn ở c. 36 thay vì ở c. 37 như trong bản văn Phụng vụ.

2- Bố cục

Bản văn có thể chia thành ba phần:

1) Bài học thời Nôê (24,37-39), với công thức “cuộc quang lâm của Con Người cũng sẽ như vậy” ở c. 37 và c. 39 đóng khung đoạn văn thành một đơn vị; đơn vị này xoáy vào trọng tâm là “ngày Quang Lâm của Con Người”;

2) Cuộc phân rẽ vào ngày Quang Lâm (24, 40-41): Hai câu này vừa là kết luận cho đoạn 37-39, vừa là tiền đề (và cũng là kết luận) cho lời kêu gọi và dụ ngôn ở cc. 42-44;

3) Bài học về canh thức và sẵn sàng (24,42-44), với dụ ngôn “Kẻ trộm đêm khuya”, được đóng khung thành một đơn vị bằng hai công thức tương tự “ngày Chúa của anh em đến” (c. 42) và “giờ Con Người sẽ đến” (c. 44); đơn vị này xoáy vào hai từ cụ thể được tác giả Mt dùng để gọi ngày Quang Lâm, “ngày và giờ”.

3- Vài điểm chú giải

– thời ông Nôê (37): Kinh Thánh kể việc Nôê đóng tàu trong sách Sáng thế (6,11-13).

quang lâm (37.39) (HL: parousía, nghĩa đen là “sự hiện diện”): Trong Mt 24,29-31, Đức Giêsu cho biết rằng Người sẽ trở lại “uy nghi” (= với quyền lực), “ vinh hiển” (= với vinh quang), “ngự giá mây trời” (= trên mây trời). Các hình ảnh đó cho hiểu Người sẽ trở lại trong tư cách Đấng chiến thắng. Đây là một cuộc khải hoàn.

một người được đem đi, một người bị bỏ lại (40.41): Hai động từ của bản văn Hy Lạp ở thái bị động paralambanetaiaphietai nên phải hiểu chủ ngữ là Thiên Chúa. Dựa theo truyền thống, có thể hiểu: sự kiện các thiên thần “tập hợp những kẻ được [Con Người] tuyển chọn” (c. 31; x. Mc 13,27) cho thấy paralambanetai (P: est pris; A: will be taken) có nghĩa là “được cứu thoát”, nên phải dịch là “được đem đi”, aphietai (P: est laissé; A: will be left) có nghĩa là “bị kết án”, nên phải dịch là “bị bỏ lại”.

canh thức (42) (HL: grêgoreô): có nghĩa là “không ngủ”. Đây là thái độ Đức Giêsu yêu cầu phải có nơi những người đang trông chờ Người đến (x. Mt 25,13; Mc 13,33-37; Lc 12,35-40). Sự canh thức, ở trong tình trạng “báo động”, giả thiết phải có một niềm hy vọng vững chắc và đòi hỏi tâm trí luôn sẵn sàng (đây cũng là “sự tiết độ”: 1 Tx 5,6-8; 1 Pr 5,8).

không biết ngày nào (42): Đức Giêsu vừa khẳng định mạnh mẽ rằng Người sẽ lại đến, vừa nhấn mạnh rằng không ai biết được ngày giờ đó (24,36.42.44). Không ai biết và cũng không ai có thể tính toán để tìm ra ngày giờ ấy cả.

kẻ trộm (43): Kinh Thánh dùng hình ảnh tên trộm để nói tới tính bất ngờ của ngày Chúa đến (x. 1 Tx 5,2; 2 Pr 3,10; Kh 3,3; 16,15).

vào canh nào (43): Một đêm thường được chia thành bốn canh (HL: phylakê): chiều (từ khi mặt trời lặn đến 9g tối), nửa đêm (từ 9g tối đến 12g đêm), khi gà gáy (từ 12g đêm đến 3g sáng) và sáng (từ 3g sáng đến bình minh, khoảng 6g sáng).

khoét vách (43): Nhà dân Do Thái thời Đức Giêsu thường được làm bằng đất với cành cây khô, nên kẻ trộm có thể lọt vào nhà bằng cách khoét thủng vách tường đất.

4- Ý nghĩa của bản văn

Bài Tin Mừng chúng ta đọc hôm nay, nếu không được hiểu đúng, sẽ gây khó khăn cho chúng ta.

Trước tiên, can phải xem Đức Giêsu đang nói về chuyện gì. Tại sao Người đưa vào trong câu chuyện: ông Nôê, hai người đàn ông đang làm việc trên cánh đồng, hai người đàn bà đang xay bột, và một tên trộm? Câu trả lời nằm ở đầu chương 24: ở đây Đức Giêsu đang nói về những dân cư Giêrusalem không muốn hoán cải. Các môn đệ sửng sốt vì những lời Thầy nói, đã hỏi Người hai điều: khi nào chuyện ấy xảy ra và có dấu hiệu báo trước chăng (cc. 2-3). Thay vì trả lời họ, Đức Giêsu dạy họ những điều đến hôm nay vẫn còn giá trị: chúng ta phải luôn luôn canh thức. Rồi Người đưa ra ba ví dụ.

* Bài học thời Nôê (37-39)

Vào thời Nôê, có hai hạng người: những người chỉ biết hưởng thụ cho bản thân và những người tỉnh thức biết lắng nghe các lời lưu ý.

Những người hoàn toàn để mình bị cuốn hút vào trong cuộc sống trần thế, với những sinh hoạt cụ thể và những phương diện bề ngoài ai cũng thấy được (ăn uống, cưới vợ lấy chồng), thì chỉ biết vui hưởng đời này, không muốn quan tâm đến bất cứ điều gì khác nữa. Vả lại, nạn hồng thủy chỉ được loan báo, chứ chưa xảy ra. Cũng thế, cuộc Quang Lâm của Chúa Giêsu cũng chỉ mới được loan báo, chứ chưa xảy ra. Tính cụ thể của các sự việc trần thế và kinh nghiệm hiện tại dường như thực hữu hơn là bản thân Đức Chúa như Người đã loan báo. Do đó, người ta bị hút vào hiện tại và hoàn toàn không màng đến Người, không nghĩ đến trách nhiệm của mình đối với Người. Dù sao, biến cố quan trọng ấy cũng đã được loan báo, nên chúng ta phải chịu trách nhiệm về tình trạng bản thân khi Người đến. Cần phải luôn canh thức và sẵn sàng.

Bài học là: Vào thời Nôê, nhiều người đã bị chết; vậy những kẻ không chấp nhận Đức Giêsu hoặc tuân theo lời Người, cũng sẽ chết khi thành thánh bị tàn phá. Còn những ai đón nhận sứ điệp của Người, sẽ được cứu độ và sẽ trở thành những người đầu tiên thuộc đoàn dân Người.

* Cuộc phân rẽ vào ngày Quang Lâm (40-41)

Với ví dụ thứ hai rút ra từ cuộc sống thường ngày, Đức Giêsu cho thấy rằng mọi người bình đẳng trong các sinh hoạt trần thế, và không một hoàn cảnh bên ngoài nào bảo đảm cho người ta có một tư cách xứng đáng cả. Về bề ngoài, không có nét nào phân biệt giữa hai người đàn ông đang làm ruộng, hoặc hai người đàn bà đang kéo cối xay. Tuy nhiên, khi Đức Giêsu quang lâm, sẽ xảy ra một cuộc phân rẽ tận căn: những ai đã sẵn sàng với Người thì được đón vào sống hiệp thông với Người, còn những người khác thì bị loại trừ. Số phận vĩnh viễn của mỗi người tùy thuộc cách thức mỗi người sống với Người trong thời gian này. Từ chỗ thấy rằng mọi người đều có phần công việc và lao khổ, hạnh phúc và bất hạnh, đau khổ và niềm vui, sống và chết, người ta dễ rơi vào ảo tưởng là sự vâng phục hoặc bất phục tùng đối với Thiên Chúa, sự ngay thẳng hay gian tà không hề quan trọng gì cả, là mọi sự đều như nhau, chẳng có ý nghĩa gì, bởi vì mọi sự sẽ kết thúc giống nhau cho mọi người! Đức Giêsu điều chỉnh lối suy tư sai lạc này.

Bài học là: “Anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến” (c. 42).

* Bài học về canh thức và sẵn sàng (42-44)

Đến đây, Đức Giêsu cho ví dụ thứ ba. Nếu chúng ta biết ngày giờ Chúa đến, hẳn là chúng ta sẽ chuẩn bị và chờ đợi. Nhưng Đức Giêsu dùng dụ ngôn kẻ trộm đêm khuya để báo cho chúng ta rằng Người sẽ đến thật bất ngờ, chúng ta không thể tiên liệu. Do đó, chúng ta phải luôn luôn sẵn sàng, từng giờ từng phút: “Anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (c. 44).

Tất cả những lời kêu gọi tỉnh thức này có ý nghĩa gì đối với chúng ta hôm nay? Phải chăng Thiên Chúa thật sự đến như một kẻ trộm, và gọi người ta đến mà xét xử vào lúc họ ít sẵn sàng nhất? Thật khó mà đặt lòng tin vào một vị Thiên Chúa như thế! Nếu đây là cách giải thích đúng các lời nói của Đức Giêsu, hẳn là chúng ta sẽ không có một sứ điệp cứu độ, mà chỉ có một lời đe dọa ác độc. Thật ra điều Người muốn nói với chúng ta hoàn toàn khác hẳn.

Trong mỗi khoảnh khắc, chúng ta phải sống một cuộc sống phù hợp với ý muốn của Người và có thể lãnh trách nhiệm trước mặt Người. Chính vì Người không cho thấy tất cả ý định của Người mà chúng ta phải hiểu rằng chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào Người. Sự kiện lúc này Người còn đang ẩn mình và rất “ở yên” không được khiến chúng ta bị lừa. Như thế, điều Đức Giêsu muốn nói với chúng ta hôm nay là Người luôn luôn muốn cứu chúng ta, làm cho chúng ta hạnh phúc, nhưng chúng ta phải luôn ý thức về sự hiện diện của Người.

+ Kết luận

Theo kinh nghiệm thông thường, người ta cho rằng chính loài người và các sức mạnh thiên nhiên quy định dòng lưu chuyển của từng số phận con người và toàn thể lịch sử nhân loại. Quan niệm này khiến người ta nghĩ rằng sự việc vẫn cứ tiếp tục như thế, trừ phi là xảy ra một tai họa trên toàn thể vũ trụ. Nhưng Đức Giêsu lại đến loan báo rằng Nước Trời đã gần kề, có nghĩa là Thiên Chúa dứt khoát quyết định bung mở quyền chúa tể của Ngài ra (x. 4,17). Điều này sẽ được thể hiện khi Con Người đến với quyền lực và vinh quang Thiên Chúa (24,30). Khi Người tỏ mình ra vĩnh viễn cho hết mọi người với quyền lực thần linh của Người trước toàn thể thế giới, mỗi người sẽ xuất hiện ra trước mặt Người trong chiều hướng và giá trị đã đạt được. Với biến cố Đức Giêsu đến vĩnh viễn, mỗi người cũng sẽ đạt tới ánh sáng trong bản chất thâm sâu của mình. Mỗi người bị liên kết sâu xa với ngày Đức Giêsu trở lại, do đó phải sống trọn cuộc đời trong chiều hướng này. Và bởi vì không một ai biết chính xác ngày giờ Người trở lại (24,36.42.44), mỗi người cần luôn luôn sống trong tư thế sẵn sàng đón Người khi Người lại đến.

5- Gợi ý suy niệm

1. Đức Giêsu khẳng định là không một ai có thể biết được ngày giờ Người trở lại trần gian và tính toán để tìm ra ngày giờ ấy. Do đó, điều hết sức hệ trọng là luôn sẵn sàng cho biến cố ấy, tức là lưu ý đến tính bất xác, tính bất khả tri và bất khả tiên liệu của ngày giờ đó, hầu tránh được lối sống mù quáng. Chúng ta vẫn đang hy vọng Người trở lại. Nhưng đây không phải là một nỗi niềm chờ mong khắc khoải, mà là một xác tín rằng Người cũng là Đấng đã đến và đang đến sống giữa chúng ta: chính Người đang và sẽ đưa lại ý nghĩa chân thật cho cuộc đời và vũ trụ chúng ta.

2. Vì đã được Đức Giêsu dạy là không thể tìm ra đáp án cho các câu hỏi “khi nào và cách nào”, người Kitô hữu chỉ càng chăm chú sống y như thể ngày đó đang đến rồi. Tuy nhiên, canh thức và sẵn sàng không có nghĩa là cứ đưa mắt nhìn về trời! Lời Chúa mời gọi chúng ta quan tâm đến những nhiệm vụ hằng ngày chúng ta đã và sẽ đảm nhận. Sống và làm việc đúng như Người đã giáo huấn chúng ta, đó là cách thức tốt nhất để đón Người vào ngày Người trở lại. Sự canh thức càng có tính thúc bách khi chúng ta không biết giờ cùng tận. Tiếng hô của bài Tin Mừng: “Anh em hãy sẵn sàng! Hãy canh thức!” phải vang lên trong tim của những người đang chờ mong cuộc gặp gỡ vĩ đại.

3. Nhìn bề ngoài, không có dấu chỉ nào giúp phân biệt người đang sống đúng thánh ý Thiên Chúa và người không sống như thế, khi mà ai nấy đều đang sống chìm vào giữa những thực tại trần gian. Do đó, chúng ta không được nhìn vào người khác để lượng định bản thân và nhất là để mình rơi vào một thứ yên tâm giả tạo. Tốt nhất là hãy nhớ lại các giáo huấn Đức Giêsu đã ban cho chúng ta, rà soát xem chúng ta đã đưa ra thực hành như thế nào. Bài Giảng trên núi trong TM Mt chính là một cẩm nang giúp người Kitô hữu sống canh thức và sẵn sàng.

4. Chúng ta nhớ rằng chúng ta luôn luôn lệ thuộc vào Đức Giêsu và chúng ta luôn chịu trách nhiệm trước mặt Người. Đức Giêsu đến vào Ngày Quang Lâm không còn phải là trong tư cách Đấng Cứu thế, nhưng trong tư cách vị Thẩm Phán tối cao. Do đó, ngày Người đến sẽ là ngày giờ của sự thật, bởi vì sẽ là ngày giờ để trả lời (“trả lẽ”) với Người về những nhiệm vụ chúng ta phải chu toàn và là ngày giờ chúng ta được vén mở (= mạc khải) cho hiểu biết mọi sự.

[Mục Lục]

Bài 2. Chú giải của Noel Quesson

Một năm phụng vụ mới bắt đầu. Năm nay (A), chúng ta sẽ đọc mỗi Chúa nhật một đoạn Tin Mừng theo Thánh Matthêu. (Năm B là năm Tin Mừng Maccô, và năm C là năm Tin Mừng Luca).

Quả thế, thời ông Noê thế nào, thì ngày quang lâm Con Người cũng sẽ như vậy.

Đó là Mùa Vọng.

Ta biết từ này bắt nguồn từ tiếng La-tinh adventum, nghĩa là sự đến, đã đến đấy là từ đầu tiên của sách Tin Mừng này. Một ai đó. Đức Giêsu không giới thiệu mình cho chúng ta như một người của quá khứ, nhưng như một người của tương lai. Người nói về việc người đến, về việc người quang lâm như một biến cố tương lai.

Lễ Giáng sinh sắp đến, đối với chúng ta không phả là một cách làm giả bộ, như chúng ta vui sướng chờ một người đã đến và chúng ta nhớ nhung gợi lại một câu chuyện lạ lùng xưa.

Đức Giêsu đã nói với chúng ta Người sắp đến; thời ông Noê thế nào, thì ngày quang lâm Con Người cũng sẽ như vậy.

Này đây Chúa đến! Ta hãy để cho Chúa đi qua!

Mỗi buổi sáng Thiên Chúa đều mới mẻ.

Vì trong những ngày trước nạn hồng thủy, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, cho mãi đến ngày ông No-ê vào tàu.

Những đầu óc nông cạn có lẽ sẽ nói: tại sao lại phải tìm quá xa và đi ngược mãi lên đến thời hồng thủy và Tàu No-ê. Người ta phải làm chi đây? Này! Đức Giêsu, chính Người đang nghĩ ta đang ở “vào thời No-ê”. Và Người mô tả về điều người ta lo lắng. Đó chính là bức tranh của xã hội ta đương. đại: làm việc, ăn uống, dựng vợ, gả chồng. Tất cả những chuyện đó, chẳng có gì tự nhiên hơn!

Trong sách Sáng Thế (16,5-13), cơn hồng thủy được trình bày như một hình phạt cái tội vô luân của con người thời đó; “Đức Chúa thấy rằng con người quá gian ác trên mặt đất, và lòng họ chỉ toan tính những ý đồ xấu xa suốt ngày”. Truyền thống thượng tế khi kéo dài và bi kịch hóa mạc khải Kinh Thánh, đã nghiêm khắc mô tả “sự sa đọa nhục dục của những người đương thời No-ê kéo theo hỗn loạn sang lãnh vực phong tục… và cuối cùng đi tới hủy hoại về đạo lý và xã hội đến nỗi loài người tự hủy diệt chính mình mà không còn hy vọng sống xót…” (chú giải về sách Sáng Thế của Rachi).

Đức Giêsu, trái lại, tuyệt đối không hề nói gì về nạn vô luân. Người không trách móc những người đương thời No-ê, đó chỉ là những đàn ông và đàn bà đang hít thở niềm vui của cuộc sống! Người không trách họ về sự sa đọa của họ. Cuối cùng thì họ chẳng làm chuyện chi xấu xa cả: họ chú tâm đến những nhu cầu hoàn toàn bình thường của cuộc sống, chẳng có một hậu ý gì.

Thế thì họ quấy quá ở chỗ nào? Đức Giêsu có thể trách móc họ điều gì nào?

Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thủy tới cuốn đi hết thảy.

Họ không bị khiển trách vì phóng đãng mà cũng chẳng phải vì tội lỗi. Chính vì họ “không biết sớ hãi gì cả!” không lo đến chuyện chính yếu… không có một nhận thức đúng đắn về thực tại…

Họ có vẻ tin là họ bất tử! Mắt họ bị bịt không thấy thân phận con người của mình. Họ phải chịu cái chết “nuốt trôi” để rồi, trong phút chốc, họ khám phá thấy rằng họ không phải là “những thần linh” và nếu muốn sống thì họ cần đến Chúa!

Chúng ta luôn luôn ở vào “những ngày thời No-ê!”.

Loài người hôm nay, cũng thế, họ như bị đánh thuốc mê. Tiến bộ vật chất chính nó có xu hướng ru ngủ chúng ta. Người ta tin thế gian này vững vàng, chỗ người ta đã quen sống, cho đến ngày đến lúc chợt tỉnh ngộ, thì còn tàn bạo hơn cả trước kia người ta đã vô ý thức quá về mối nguy hiểm. Có một cảnh tượng hiện đại của cận đại hồng thủy; đấy là cuộc lạm phát tiền tệ quốc tế nhận chìm hết mọi nền kinh tế, đấy làm sự tăng giá đột ngột như một cơn són triều của dầu khí và những nguyên liệu thiết yếu nhất, đấy là một căn bệnh không tiên đoán được, đấy là một ta nạn … Và tất cả mọi thứ an toàn của chúng ta đều bị cuốn trôi hết!

Ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy.

Lần thứ hai, Đức Giêsu dùng đến từ “quang lâm” “parousia” trong tiếng Hy Lạp. Thực sự, từ này có nghĩa là sự “hiện diện”, “đã đến”: Có mặt ở đấy! Xưa người ta dùng từ ấy, trong thế giới Hy-La để chỉ “những cuộc đi thăm chính thức của các hoàng đế”.

Chúng ta có xu hướng hơi thái quá đem áp dụng nghĩa “parousia” cho Ngày Tận Cùng Các Thời Đại, khi nghĩ rằng ta có những cơ may là không trông thấy ngày tận thế. Đúng là cách ta đánh giá sai lầm về các sự vật mà Đức Giêsu muốn chúng ta cảnh giác: Thực sự, Đức Giêsu nói với chúng ta rằng Người đến “thăm chính thức” chúng ta trong lúc ta bận rộn những chuyện thường ngày nhất, tại nơi ta làm việc tại nhà ta, ở nới ta ăn uống, trong các quan hệ giữa đàn ông và đàn bà của ta. Lúc lào ta cũng phải sẵn sàng cho Đức Giêsu “ngự đến”, “đến cuối cùng”, ‘ có mặt ở đó”.

Bấy giờ hai người đàn ông đang làm nương, thì một người được đem đi! một người bị bỏ lại; hai người đàn bà đang kéo cối xay, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại…

Đó là cuộc sống hằng ngày.

Chính trong những lúc bận rộn rất thường ngày của chúng ta mà Đức Giêsu đến, giữa lúc người nông dân đang làm, người nội trợ đang làm… và ta có thể thêm, nơi văn phòng, ngoại phố, lúc ta đang lái ôtô.

Vậy anh em hãy canh thức, bởi vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến.

Đức Giêsu khuyên chúng ta phải “tỉnh thức”: Hãy canh thức! Hãy chuẩn bị cho tương lai chúng ta. Bởi lẽ Chúa “đến”, Chúa “có mặt” mọi ngày.

Đức Giêsu “đến” tạo ra một cách thế riêng của người ở chỗ mà người ta không thấy có gì khác nhau, bởi lẽ không có gì phân biệt giữa hai người này đang cùng làm ruộng, hai người đàn bà cùng kéo cối xay này. Chỉ có chính Chúa mới thấy cái khác nhau: Một người thì sắn sàng, người kia thì không! Bấy giờ một người được ở với Chúa, ở trong ánh sáng còn người kia không được ở với Chúa, phải ở trong tối tăm. Hiển nhiên là không có vấn đề độc đoán.

Toàn bộ Kinh Thánh nhắc lại rằng Thiên Chúa “cứu độ”. Và nếu ta hiểu rõ đoạn nói về nạn hồng thủy, thì phải thấy ở đó có một “hành vi cứu thoát”: Khi con người bấy giờ đang đi tới đại họa, thì mọi chuyện đi theo chiều hướng ngược lại khi Thiên Chúa can thiệp, để làm cho một nhân loại mới xuất hiện. No-ê, chính là người được Thiên Chúa “cứu độ”.

Nhưng, hãy chú ý, tàu đã sắn sàng, hôm nay, cho nạn hồng thủy của bạn. Đức Kitô Đấng Cứu Độ, đã vào trong biển nước chết chóc, lôi kéo thêm người vào Giáo Hội, trên thuyền của Người, tất cả những ai theo Người. Và khi vào thời No-ê theo nguyên văn Kinh Thánh, loài người đầu tiên thực sự đã biến mất trọn vẹn, thì Đức Giêsu, nói đến 50% những người được cứu độ… một trên hai.. năm trinh nữ khôn ngoan, khác với năm trinh nữ dại khờ (Mt 25,12). Và hiển nhiên chúng ta biết rằng đó không phải là những phần trăm theo toán học.

Không hề muốn nói đến một bầu không khí sợ hãi, Đức Giêsu lôi những người “đang đứng”, những người “canh thức”, những người “đang rình”. Cái “liều lĩnh” trong cuộc sống kinh tế, xã hội, gia đình, mời gọi ta thấy trước, lo chuẩn bị tỉ mỉ. Ong chủ doanh nghiệp đang “thiêm thiếp ngủ” sẽ kết án chính cái doanh nghiệp của mình. Chàng trai trẻ không lo chuẩn bị tái lai của mình, thì chính mình sẽ chịu trách nhiệm làm hỏng cuộc đời mình, giống hệt như nhau. Người đàn ông hay đàn bà không bao giờ nghĩ đến Chúa sẽ làm hỏng cuộc “viếng thăm” của Người.

Vậy anh em hãy canh thức, bởi vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến. Anh em hay biết điều này: nếu chủ nhà biết vào canh kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông đã thức…

Đừng làm cho cuộc đời mình cứ ngủ! Hãy tỉnh thức!

Sinh vật nào thức tỉnh, con vật đang săn mồi, cuối cùng chính là thứ “được sống”. Tỉnh thức không hề có nghĩa là “tích lũy cho nhiều hệ thống an ninh”, “chắn rào chung quanh nhà để tránh cướp”: Không! Tỉnh thức, chính là “sắn sàng” để đối phó, chính là “được vận động liên tục” để hành động:.. Tỉnh thức, chính là trái nghịch với “để buông trôi”, lo lắng, bất cần.

Không nên nói “giá mà tôi đã biết trước” vì đã quá muộn rồi, bởi lẽ chúng ta đã được cảnh báo trước rồi.

Nếu chủ: nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến… Hẳn ông đã thức không để nó khoét vách nhà mình đâu.

Trong tâm trí chúng ta, hiển nhiên hình ảnh của “người kẻ trộm” gắn liền với sợ hãi. Chắc chắn ta có thể đọc một bài khác về hình ảnh này. Thế thì theo Đức Giêsu, kẻ trộm đến làm gì? Nó “khoét vách nhà” anh” ta đến mở cái gì đang bị đóng lại, bỗng nhiên ta khám phá một ý nghĩa tượng trưng kỳ diệu; qua những lời lẽ chân thực củ dụ ngôn: Chúa luôn luôn:đến “để mở” thế gian cứ đóng không cho Người vào. Khi Người đến cửa nhà chúng ta, Chúa sẽ vào nhà ai tỉnh thức để mở cho người! Nhưng ai để cho mình phải bất ngờ …coi chừng! Cửa không phải lúc nào cũng mở luôn luôn đâu.

Chúng ta có lỡ không để chúng ta ngỏ vào thế giới của Thiên Chúa không?

Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.

Người Kitô hữu sẽ được giải thoát khỏi cái ngày..luôn luôn sắn sàng. Vâng! Con Người đến bất cứ lúc nào trong đời. Người đến thường xuyên, đơn giản đến độ có vẻ như luôn luôn không ngờ đến.

Ta có tin vào điều mạc khải này của Chúa không?

[Mục Lục]

Bài 3. ĐỂ CHÚA ĐẾN TRONG CUỘC ĐỜI
Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Bài đọc 1 trích sách Ngôn sứ Isaia: “Người sẽ đứng làm trọng tài giữa các quốc gia và phân xử cho muôn dân tộc. Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến. Hãy đến đây, nhà Gicop hỡi, ta cùng đi, nhờ ánh sáng Đức Chúa soi đường” (Is 2,1-5).

Ngôn sứ Isaia ước mơ về một tương lai thế giới hoà bình, không còn đánh nhau, không còn chinh chiến nữa, gươm đao giáo mác trở nên liềm hái làm dụng cụ lao động. Bức tranh về một nền hoà bình tuyệt đẹp: sói với chiên con sẽ cùng nhau ăn cỏ, sư tử cũng ăn rơm như bò (Is 65,25), trẻ con thọc tay vào hang rắn lục

Isaia hướng nhân loại về niềm hy vọng: Này đây Ta sáng tạo trời mới đất mới, không còn ai nhớ đến thuở ban đầu và nhắc lại trong tâm trí nữa. Nhưng thiên hạ sẽ vui mừng và luôn mãi hỷ hoan (Is 65,17-18).

Khát vọng của Ngôn sứ Isaia cũng như của nhân loại ngàn đời là một nền hoà bình vĩnh cữu. Chính trong niềm khát vọng ấy mà Tu sĩ Hermann Schaluck, Ofm đã ước mơ đến: Trình Thuật Mới Về Công Việc Sáng Tạo :

– Và Thiên Chúa nhìn thấy cách thức loài người khắp cõi trần, từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc, không phân biệt nòi giống, nam nữ, đang khởi công liên hệ cùng nhau cách chân tình. Các dân tộc tự chọn giữa họ những người nam nữ tốt lành nhất và gởi họ tới lâu đài trứ danh bằng kính trên hòn đảo Manhattan (Trụ sở Liên Hiệp Quốc), nơi mở cửa đón tiếp tất cả các quốc gia hoàn cầu. Tại đây, họ lắng nghe đối thoại thân mật, thông cảm lẫn nhau và khai triển những dự án cộng đồng.

Và Thiên Chúa phán: “Như thế là tốt”. Và đây là ngày đầu tiên của kỷ nguyên mới.

– Và Thiên Chúa nhìn thấy cách các chiến sĩ hoà bình tách biệt các đạo quân đang lâm chiến với nhau, các tranh chấp được dàn xếp bằng lẽ phải và điều đình, chứ không phải bằng khí giới. Các nhà lãnh đạo quốc gia biết lắng nghe tiếng nói của các dân tộc, biết cùng nhau khởi sự coi trọng lợi ích toàn cầu và hoà bình thế giới kết hợp với lợi ích riêng biệt.

Và Thiên Chúa phán: “Như thế là tốt”. Và đó là ngày thứ hai của hành tinh mới.

– Và Thiên Chúa nhìn thấy cách loài người bắt đầu yêu chuộng và bảo vệ thay vì khai thác tạo vật: bầu khí quyển với lớp ozon, nước sông, nước biển, trái đất và nguyên liệu cũng như tất cả những gì sinh sống và phát triển tại đó. Và Thiên Chúa cũng thấy rằng bắt đầu loài người không còn thống trị và khai thác lẫn nhau, nhưng tự coi là con một Cha duy nhất và đối xử đồng đều với nhau.

Và Thiên Chúa phán: “Như thế là tốt”. Và đó là ngày thứ ba của kỷ nguyên tư tưởng mới.

– Và Thiên Chúa thấy cách loài người khắp hoàn cầu khởi công khám phá và loại trừ các nguyên nhân gây nên đói khát, bệnh tật, dốt nát và nghèo đói bất công. Họ khởi sự san sẻ cùng nhau những gì thuộc về tất cả và vì lợi ích chung và sự sống còn của toàn cầu, họ khởi sự xem xét các khía cạnh tích cực và quan điểm chung của các dân tộc và tôn giáo.

Và Thiên Chúa phán: “Sự việc phải như vậy”. Và đó là ngày thứ tư của cuộc sáng tạo mới.

– Và Thiên Chúa thấy cách loài người, với một ý thức hoàn hảo, có trách nhiệm chứ không vì ham muốn quyền lực, khởi sự sử dụng tài nguyên thiên nhiên được giao phó cho mình, đặc biệt là chất đốt rút ra từ lòng đất và năng lượng nguyên tử. Thiên Chúa thấy cách lương tâm họ luôn thức tỉnh thúc đẩy họ tự vấn xem lại các dự án mới mà họ định nghiên cứu có thích hợp với việc phục vụ Thiên Chúa và nhân loại không. Họ từ bỏ ương ngạnh để chủ trương tế nhị, từ bỏ tham lam để chủ trương không vụ lợi, ích kỷ cá nhân và quốc gia để chủ trương tinh thần liên đới.

Và Thiên Chúa phán: “Như thế là tốt”. Đó là ngày thứ năm của một thế giới nhân đạo hơn.

– Và Thiên Chúa thấy cách loài người năm châu khởi sự tháo gỡ và phá bỏ các dàn phóng hoả tiễn, các kho bom đạn, vũ khí hoá học, vi trùng cũng như các vệ tinh do thám và hệ thống truy tầm, giải phóng quân đội và vì thế phổ biến trong học đường và chương trình giáo dục những mô hình sư phạm về hoà bình minh bạch và hữu hiệu đến nỗi các cuộc tranh chấp có thể được giải quyết bằng đường lối hoà bình.

Và Thiên Chúa phán: “Tất cả như thế là tốt”. Đó là ngày thứ sáu của một bầu trời mới.

– Và Thiên Chúa nhận thấy cách loài người bắt đầu tái nhận biết Ngài nơi mọi sự, Ngài, Thiên Chúa hằng yêu quý sự sống. Họ coi cuộc tranh đấu cho sự sống, cho phẩm giá và cho việc nhìn nhận quyền lợi mỗi cá nhân là một việc phụng vụ Thiên Chúa. Và mỗi lần một trong những ý thức hệ họ sụp đổ, lúc thảo lại một hiến pháp mới, họ ghi vào đó rằng: Ta đừng bao giờ quên lãng Thiên Chúa là nguồn gốc và tận cùng một thế giới công bình và nhân đạo. Và họ nhìn nhận con người được sống và được giải phóng là dấu chỉ của Thiên Chúa trong lịch sử.

Và Thiên Chúa phán: “Bây giờ, tất cả đều trở nên tốt lành”. Đó là ngày thứ bảy của việc sáng tạo hoàn cầu. Từ đây hoàn cầu đồng thuộc về nhân loại mới và Thiên Chúa.

Một nền hoà bình đích thực dẫn đưa con người đến “trời mới, đất mới” (Kh 21,1) hiệp thông với Đấng là sự Thật và là Sự Sống. Loại bỏ những việc làm đen tối (Rm 13,13), mặc lấy Chúa Giêsu Kitô (Rm 13,14), nhân loại sẽ xây dựng được nền hoà bình vĩnh cửu. Niềm hy vọng một nền hòa bình vĩnh cửu gắn liền với lòng tin vào Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại bởi lẽ: Kitô giáo là tôn giáo của hy vọng vì dựa trên lời hứa của Thiên Chúa. Thiên Chúa hứa và Ngài sẽ thành tín thực hiện lời hứa. Thiên Chúa thực hiện từng giai đoạn và ngày càng trọn vẹn hơn. Vì thế người Kitô hữu luôn hướng về tương lai chờ đợi lời hứa cứu độ đã được thực hiện trong lịch sử và sẽ hoàn tất sau lịch sử. Chờ đợi hướng về tương lai tức là hy vọng. Hy vọng luôn gắn liền với lòng tin. Không có đức tin hy vọng chỉ là ảo tưởng. Không có hy vọng đức tin sẽ chết khô. Nhờ đức tin chúng ta chọn đúng hướng. Nhưng chỉ có hy vọng mới làm cho ta đi tới cùng đường.Thiên Chúa hy vọng vào con người là để cho con người được hy vọng vào Thiên Chúa, và bởi Thiên Chúa luôn hy vọng vào con người qua những đường đến bất ngờ, nên con người chỉ có cách là hy vọng vào Thiên Chúa qua niềm tỉnh thức không mỏi mệt của mình.

Thiên Chúa là Sự Sống, là Tình Yêu. Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời Thiên Chúa làm Người. Đức Giêsu Kitô chính là Tin Mừng Sự Sống và Tình Yêu.Tin Mừng cứu độ mà Đức Giêsu loan báo cho loài người là Tin Mừng Sự Sống, Tin Mừng Tình Yêu. Ngài luôn mời gọi mọi người thiện tâm chung sức kiến tạo nền văn hoá sự sống và văn minh tình thương.

Năm Phụng Vụ khởi đầu bằng Mùa Vọng. Bài thánh ca quen thuộc ngân vang trong những sinh hoạt đạo đức hàng ngày: Xin cho lòng chúng con luôn mở rộng chờ mong Chúa đến, xin cho lòng chúng con luôn thắm đượm một tình yêu mến, xin cho lòng chúng con luôn ước ao, luôn khát khao, một thế giới sướng vui dạt dào, một thế giới không còn khổ đau… để Chúa đến trong cuộc đời, để Chúa đến mang ơn trời, nguồn hạnh phúc cho con người, nguồn cứu rỗi cho mọi nơi

Để đón chờ Chúa đến, cần phải tỉnh thức và cầu nguyện. Chúa Giêsu dạy trong trang Tin Mừng: ngày Con Người đến thật bất ngờ: vào ngày nào, giờ nào không một ai biết. “Lúc Con Người đến” chính là ngày tận thế, ngày Chúa quang lâm, và cũng chính là giờ chết của mỗi người. Ngày ấy chắc chắn phải đến, nhưng nó lại đến một cách bất ngờ. Bất ngờ như trận lụt đại hồng thủy thời ông Noê. Bất ngờ như hai người đàn ông đang làm ruộng, hai người đàn bà đang xay bột, một người bị đem đi, một người để lại. Không ai biết được mình sẽ ra đi lúc nào. Không ai biết được tương lai của mình ra sao. Không ai biết được ngày tận thế. Vào thời ông Noê, trong khi không ai để ý chuyện gì sắp xảy ra, cuộc sống vẫn cứ tiếp tục với những dấu hiệu bình an: “Thiên hạ vẫn ăn uống, dựng vợ gả chồng”. Chỉ có ông Noê là người tỉnh thức và sẵn sàng. Vâng lệnh Chúa, ông Noê đóng một chiếc tàu rất lớn. Đang khi đóng tàu, dân chúng chế giễu ông lẩm cẩm. Sau khi hoàn tất, ông và gia đình cùng với súc vật vào tàu, trời bắt đầu sấm chớp và đổ mưa như trút ngày đêm. Lụt đại hồng thủy dâng lên bất chợt. Tất cả đều bị cuốn trôi trong nước lũ. Chỉ còn lại gia đình ông Noê được cứu sống. Chúa đến sẽ bất chợt khi chúng ta đang làm việc, đang sinh sống, đang ăn uống, đang ngũ nghỉ.

Chúa đã đến và vẫn đến mỗi ngày. Để đón chờ Chúa đến, cần phải tỉnh thức và cầu nguyện. Tỉnh thức không “chè chén say sưa”, là đừng quá đam mê những hưởng thụ đời này. Tỉnh thức không “lo lắng sự đời”, là không quá mê say danh, lợi, thú. Tỉnh thức là biết chuẩn bị cho đời sau bằng cách vươn tâm hồn lên những chân trời cao thượng. Người tỉnh thức sống ở đời này nhưng tâm hồn đã hướng về những giá trị tinh thần vĩnh cửu đời sau. Tỉnh thức để không đánh mất phẩm chất cao đẹp của mình.Cầu nguyện vì tinh thần mau mắn nhưng xác thịt nặng nề. Cầu nguyện để biết tỉnh thức. Vì khi cầu nguyện ta tách ra khỏi sự ràng buộc của thế giới vật chất để vươn tới thế giới tâm linh. Cầu nguyện để xin ơn Chúa giúp. Con người phàm trần xác thịt nặng nề luôn bị trần gian lôi kéo. Chỉ với ơn Chúa giúp ta mới thoát khỏi vòng giam hãm của vật chất để vươn tâm hồn lên thế giới thiêng liêng.

Có tỉnh thức và cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ và những lôi cuốn mời mọc hấp dẫn trong cuộc đời. Cầu nguyện trong tỉnh thức để luôn sẵn sàng vì không biết ngày giờ Chúa viếng thăm. Có tỉnh thức cầu nguyện ta mới “đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến, và đứng vững trước mặt Con Người”. Có tỉnh thức cầu nguyện ta mới khao khát Chúa đến. Có tỉnh thức cầu nguyện, khi Chúa đến ta mới đứng dậy và ngẩng cao đầu lên. Có tỉnh thức cầu nguyện ta mới gặp được Chúa. Có tỉnh thức cầu nguyện ta mới được vào thế giới mới với Chúa.

Tỉnh thức cầu nguyện, ta có thể gặp Chúa ngay bây giờ trong ngày hôm nay. Tỉnh thức cầu nguyện, chắc chắn ta sẽ được gặp Chúa trong ngày cùng tận của thế giới. Chúa sẽ đón ta vào hưởng hạnh phúc trong một thế giới mới hạnh phúc tuyệt đối và không bao giờ tàn lụi.

Mùa Vọng chúng ta trông chờ Chúa hay Chúa trông chờ chúng ta?

Mùa Vọng được khai mở với lời mời gọi của Chúa Giêsu: Hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn. Bước đầu là bước quyết định cho cả một cuộc đời, một chương trình kế tiếp như như sách Nho có câu : Nhất nhật chi kế tại ư thần, nhất niên chi kế tại ư xuân ( Kế hoạch một ngày hệ tại giờ ban mai, kế hoạch một năm hệ tại mùa xuân).

Tỉnh thức và cầu nguyện là thái độ sống của người tín hữu suốt năm phụng vụ.

Xin Chúa cho chúng con như ngọn đèn chầu trong nhà thờ, thức luôn và sáng luôn trước nhan Chúa. Amen.

[Mục Lục]

Bài 4. Khoảng mong chờ
Trầm Thiên Thu

Mong chờ là khoảng-gần-xa
Đêm ngày vọng Đức Kitô giáng trần
Giao hòa Chúa với tội nhân
Dây Tình-Yêu-Chúa kết liên Đất Trời
Xin mau đến, lạy Ngôi Hai
Cho trần gian sống những ngày bình an.

Mùa Vọng là Mùa Xuân Tâm Linh, khởi đầu năm phụng vụ mới. Mùa Vọng mang sắc tím chờ đợi, nhưng màu tím này không buồn thảm mà tràn trề niềm hy vọng.

Khoảng mong chờ là khoảng hy vọng, và luôn là khoảng thời gian dài nhất, dù thực tế thời gian không biến đổi. Khoảng mong chờ có yếu tố tâm lý, niềm hy vọng càng nhiều và càng cao thì càng thấy lâu. Những khoảng mong chờ nối tiếp nhau trở thành “điệp khúc mong chờ”.

Chúng ta phải chuẩn bị đón Chúa cả đời chứ không riêng mùa nào. Tuy nhiên những mùa và những dịp đặc biệt nhắc nhở chúng ta lưu ý nhiều hơn về “khoảng mong chờ” của mình. Mùa Vọng, Mùa Chay, Mùa Cầu Hồn,… nhưng các biển báo trên đường đời, và là những “cột mốc” nhắc nhở chúng ta trên đường lữ hành trần gian này. Khi mong chờ thì phải sẵn sàng và biết chuẩn bị chu đáo.

CHUẨN BỊ KHI MONG CHỜ

Kinh thánh cho biết điều mà ông I-sai-a, con ông A-mốc, đã được thấy về Giu-đa và Giêrusalem: Trong tương lai, núi Nhà Đức Chúa đứng kiên cường vượt đỉnh các non cao, vươn mình trên hết mọi ngọn đồi. Dân dân lũ lượt đưa nhau tới, nước nước dập dìu kéo nhau đi (Is 2:1-3a). Họ vui mừng nhắn nhủ nhau: “Đến đây, ta cùng lên núi Đức Chúa, lên Nhà Thiên Chúa của Gia-cóp, để Người dạy ta biết lối của Người, và để ta bước theo đường Người chỉ vẽ. Vì từ Sion, thánh luật ban xuống, từ Giêrusalem, lời Đức Chúa phán truyền. Người sẽ đứng làm trọng tài giữa các quốc gia và phân xử cho muôn dân tộc. Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến. Hãy đến đây, nhà Gia-cóp hỡi, ta cùng đi, nhờ ánh sáng Đức Chúa soi đường!” (Is 2:3b-5).

Những động thái chuẩn bị ráo riết. Ai cũng háo hức, bồn chồn, trông ngóng,… Nhân loại đau khổ vì đã phạm tội đối nghịch với Thiên Chúa, bị vòng kim cô của ma quỷ kiềm chế và bị tội lỗi điều kiển. Vì thế mà nhân loại rất cần Thiên Chúa đến giải thoát, càng mau càng tốt. Khoảng mong chờ này rất da diết, niềm hy vọng này rất mạnh và rất cao.

Với tâm trạng háo hức trong khi mong chờ, tác giả Thánh vịnh hồ hởi bày tỏ: “Vui dường nào khi thiên hạ bảo tôi: Ta cùng trẩy lên đền thánh Chúa!” (Tv 122:1). Vâng, còn gì vui hơn khi đang mong ngón mà lại nhận được tin vui như thế. Hạnh phúc đã hiện thực: “Giờ đây, Giêrusalem hỡi, cửa nội thành, ta đã dừng chân. Giêrusalem khác nào đô thị được xây nên một khối vẹn toàn. Từng chi tộc, chi tộc của Chúa, trẩy hội lên đền ở nơi đây, để danh Chúa, họ cùng xưng tụng, như lệnh đã truyền cho Ít-ra-en. Cũng nơi đó, đặt ngai xét xử, ngai vàng của vương triều Đa-vít” (Tv 122:2-5).

Mình cảm thấy vui mừng khi tận hưởng hạnh phúc thì cũng muốn chia sẻ: “Chúc thân hữu của thành luôn thịnh đạt, tường trong luỹ ngoài hằng yên ổn, lâu đài dinh thự mãi an ninh. Nghĩ tới anh em cùng là bạn hữu, tôi nói rằng: ‘Chúc thành đô an lạc’. Nghĩ tới đền thánh Chúa, Thiên Chúa chúng ta thờ, tôi ước mong thành được hạnh phúc, hỡi thành đô!” (Tv 122:6-9). Chia sẻ hạnh phúc không phải để khoe khoang mà thật lòng muốn người khác cũng được hạnh phúc, vì hạnh phúc đó là hồng ân Chúa, không thể không chia sẻ.

GIỜ ĐÃ ĐIỂM

Thánh Phaolô nói: “Anh em biết chúng ta đang sống trong thời nào. Đã đến lúc anh em phải thức dậy, vì hiện nay ngày Thiên Chúa cứu độ chúng ta đã gần hơn trước kia, khi chúng ta mới tin đạo” (Rm 13:11). Thời gian cứ trôi dần, tưởng chậm mà nhanh, cũng đồng nghĩa với ơn cứu độ đến gần hơn. Gần tới mức chúng ta cảm thấy bất ngờ: “Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu” (Rm 13:12). Giờ G đã điểm, không ai có thể ngồi bất động!

Hành động bằng cách nào? Thánh Phaolô cho biết: “Chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thoả mãn các dục vọng” (Rm 13:14). Nói “mặc lấy Đức Kitô” thì dễ, nhưng hành động thì không hề đơn giản, vì “tính xác thịt” dữ dội lắm. Ai cũng có tự ái, không ráng “đè” nó xuống thì khó mà chứng tỏ mình đang mong chờ Chúa. Phải cố gắng thực sự “mặc lấy Đức Kitô” trong khi chờ đợi thì mới có thể luôn sẵn sàng chiến đấu, bất cứ lúc nào và nơi nào.

Chờ lâu có thể khiến người ta mất kiên nhẫn, chán nản, rồi khinh suất, thậm chí lại có thể hư thân, mất nết, sa đà theo vết xe cũ. Cuộc đời thường như thế, vì con người yếu đuối, dễ theo cái xấu – như xe xuống dốc, và khó theo cái tốt – như xe leo dốc. NÓI bao giờ cũng dễ hơn LÀM. Cổ ngữ nói rằng “nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy” kia mà. Ai cũng nói hay, nói giỏi, nói khéo, thế nhưng có làm được hay không mới là vấn đề. Coi chừng chỉ “nổ” hoặc “chảnh” thì nguy to. Nguy cho chính mình chứ chẳng nguy tới ai. Nó như loại vũ khí boomerang của thổ dân Úc vậy, như người Việt nói là “gậy ông đập lưng ông” vậy.

Đỉnh cao trong chuỗi mong chờ là thời điểm Chúa Giêsu quang lâm. Động từ được diễn tả ở thì tương lai gần: Sắp đến. Nhưng “sắp đến” mà đã hơn hai ngàn năm rồi thì sao? Đã nhiều lần người ta xôn xao, thậm chí là rúng động, khi nghe các “tiên tri dỏm” dự đoán ngày này hoặc ngày nọ sẽ tận thế – ví dụ: Ngày 12-12-2012. Nhưng rồi tất cả cũng đã qua đi, dòng đời vẫn trôi bình thường. Và như thế, có thể người ta đang không muốn tin là sẽ có ngày tận thế. Tuy nhiên, người ta lại quên rằng: Không phải Chúa Giêsu nói đùa cho vui, mà vì Thiên Chúa còn thương xót nhân loại, muốn trì hoãn, muốn kéo dài thời gian để người ta kịp ăn năn. Thật vậy, thời gian là sự chịu đựng của Thiên Chúa, là lúc Ngài “ăn xin” sự ăn năn của chúng ta!

Hơn hai ngàn năm trước, Chúa Giêsu đã cảnh báo: “Thời ông Nô-ê thế nào thì ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy. Vì trong những ngày trước nạn hồng thuỷ, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nô-ê vào tàu. Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thủy ập tới cuốn đi hết thảy. Ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy” (Mt 24:37-39). Ngày nay, rõ ràng người ta cũng vẫn đang hành động chẳng khác chi thời ông Nô-ê. Con tàu định mệnh ngày ấy được “ghi dấu” trong lịch sử nhân loại, người ta cũng đã tìm thấy con tàu đó, chứng tỏ là sự thật, và nó cũng vẫn còn trong ký ức của mọi người, thế nhưng có lẽ người ta chỉ coi đó là một “kỷ niệm buồn” mà thôi!

Chúa Giêsu nói rạch ròi đến từng chi tiết: “Bấy giờ, hai người đàn ông đang làm ruộng, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại; hai người đàn bà đang kéo cối xay, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại. Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến. Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông đã thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu. Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (Mt 24:40-44). Ngài so sánh bằng hình ảnh rất cụ thể, thực tế và dễ hiểu. Chúa Giêsu đã xác định như vậy thì đừng dại dột mà “mềm lòng” nghe bất kỳ ai nói ngày nào đó tận thế hoặc Chúa Giêsu tái lâm. Ngài bảo “phải canh thức” tức là chẳng ai có thể biết lúc nào Ngài đến.

Khi mong chờ Chúa Giêsu, chúng ta hãy cố gắng tự nhủ sống theo “quy ước” này của Dòng Đa-minh: “Cum Deo Aut De Deo” – Nói với Chúa và nói về Chúa. Chắc chắn đó là cách “tỉnh thức” và “sẵn sàng” theo đúng Ý Chúa, là sống tinh thần Mùa Vọng, tất nhiên Ngài rất vui lòng, và chắc chắn Ngài sẽ chúc lành cho chúng ta.

Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết tỉnh thức mà sẵn sàng chờ đón Con Chúa đến, dù sáng sớm, giữa trưa, chiều tối hoặc nửa khuya. Nhờ vậy mà chúng con xứng đáng được Con Chúa xót thương cho bước theo Ngài vào Nước Trời. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

[Mục Lục]

Bài 5. Sẵn sàng đón Chúa
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

Hôm nay cung thánh đượm vẻ u buồn. Bàn thờ đạm bạc không hương hoa. Lễ phục mang màu tím. Màu tím của lặng lẽ hy sinh. Màu tím của âm thầm cầu nguyện. Màu tím của tha thiết đợi chờ. Màu tím ấy nhắc cho ta biết: hôm nay ta đã bước vào mùa Vọng.

Mùa Vọng là mùa đợi chờ. Đợi chờ Chúa đến cứu độ ta. Cuộc đời ta quá nhiều đau khổ, quá nhiều tội lỗi, quá nhiều bế tắc. Chỉ có Chúa mới có thể thay đổi đời ta, giải thoát ta khỏi ách nô lệ tội lỗi, đưa ta vào tình trạng thánh thiện của con cái Chúa.

Như thế mùa Vọng cũng là mùa hy vọng. Đợi chờ chính là hy vọng. Như thế trong màu tím buồn chờ đợi đã thấy thấp thoáng màu xanh hy vọng vui tươi. Nhưng làm sao để màu tím biến thành màu xanh? Làm sao nắm bắt được niềm hy vọng? Làm sao gặp được Chúa khi Người ngự đến? Lời Chúa sẽ hướng dẫn ta sống tinh thần mùa Vọng này.

Trong tuần thứ nhất mùa Vọng, Chúa Giêsu khuyên ta noi gương tổ phụ No-e. Tổ phụ No-e đã được cứu thoát khỏi nạn hồng thủy nhờ thái độ sống tích cực trước lời hứa của Chúa. Thái độ tích cực đó gồm hai điểm hỗ tương.

1) Chiếu ánh sáng hy vọng tương lai vào cuộc đời tối tăm hiện tại

Người ta sống nhờ hy vọng. Không có hy vọng, không ai sống nổi ở đời. Cuộc đời phù du mau qua. Cuộc đời tràn ngập đau khổ. Cuộc đời quá nhiều thử thách. Nhờ hy vọng con người mới có thể tiếp tục sống, làm việc, thăng tiến.

Chính vì hy vọng một mùa gặt bội thu mà người nông dân không ngại dầm sương dãi nắng, thức khuya dậy sớm, cần cù cày bừa, gieo vãi và vun tưới.

Chính vì hy vọng đậu đạt mà học sinh, sinh viên không ngại vất vả, ăn uống đơn sơ, giảm bớt vui chơi, đêm đêm chong đèn đọc sách.

Chính niềm hy vọng được cứu thoát đã giúp tổ phụ No-e có đủ can đảm và kiên nhẫn, đầu tư thời giờ và công sức để đóng một con tàu lớn như thế. Niềm hy vọng được nuôi dưỡng bằng lời hứa của Chúa. Tin tưởng vững vàng vào Lời Chúa, tổ phụ No-e sống tràn đầy niềm hy vọng vào tương lai. Niềm hy vọng đó giúp Ngài vượt qua những khó khăn hiện tại.

2) Sống tích cực giây phút hiện tại để chuẩn bị cho tương lai.

Niềm hy vọng vào tương lai giúp ta thêm can đảm. Nhưng nó không cho phép ta thoát khỏi cuộc sống hiện tại. Niềm hy vọng tách rời khỏi thực tế sẽ trở thành ảo vọng. Vì thế muốn đạt tới niềm hy vọng tương lai, ta phải tích cực sống phút giây hiện tại. Phải tích cực làm việc cho tương lai.

Người học trò muốn có tương lai tươi sáng không thể chỉ ngồi đó chờ đợi, nhưng phải ngày đêm chăm lo học hành.

Người nông phu muốn có mùa gặt bội thu không thể khoán trắng công việc đồng áng cho trời đất. Nhưng phải cần cù chăm chỉ dầm mưa dãi nắng.

Tổ phụ No-e không ngồi khoanh tay chờ Chúa đến cứu, nhưng đã bắt tay vào việc. Ngài làm việc cật lực, bất chấp những lời dèm pha, dị nghị của những người chung quanh.

Tục ngữ Pháp có câu: Hãy tự giúp mình, rồi Trời sẽ giúp. Tổ phụ No-e đã thực hiện đúng như thế. Ngài đã dồn hết công sức vào việc chuẩn bị tương lai. Và Chúa đã cứu Ngài như lời đã hứa.

Đời sống ta là một mùa Vọng kéo dài. Mùa Vọng trần gian muốn phủ ta trong màu tím buồn của những gian nan thử thách, những thất bại, những chán nản, lo âu, nghi ngờ, mệt mỏi. Ta hãy noi gương tổ phụ No-e, tin tưởng vững chắc vào lời Chúa hứa. Lời Chúa sẽ chiếu ánh sáng hy vọng tương lai vào những tăm tối u buồn hiện tại. Như tổ phụ No-e, ta không ngồi khoanh tay chờ đợi, nhưng tích cực làm việc bổn phận trong hiện tại. Làm mọi việc thường ngày với lòng tin tưởng vững chắc. Làm những việc nhỏ mọn với tình mến Chúa yêu người tha thiết. Đó chính là cách ta sẵn sàng chờ đón Chúa đến. Đó chính là ta tỉnh thức không bị lỡ cơ hội khi Chúa đến.

Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến. Amen.

GỢI Ý SUY NIỆM

1) Có nhiều người chỉ quan tâm tới đời sau mà không chịu làm việc hiện tại. Có nhiều người lại chỉ lo làm ăn sinh sống mà không nghĩ đến đời sau. Bạn nghĩ sao về hai thái độ đó?

2) Ta phải sống thế nào để chu toàn nhiệm vụ hiện tại với bản thân, với gia đình mà không quên Chúa, không quên phần linh hồn của mình?

3) Tuần này, bạn sẽ làm gì để chuẩn bị đón Chúa đến?

[Mục Lục]

Bài 6. Mùa Vọng: Mùa màu xanh
ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống

Tuần qua có dịp về quê, mới bước vào nhà, đứa cháu nhỏ ở tuổi mẫu giáo đi học giáo lý về tiến đến chào mọi người. Khi biết tôi đang ở đó, nó chạy lại quấn quít hỏi: “Mùa Vọng, bác có lì xì cho cháu không?”. Tôi chưa biết trả lời ra sao thì nó đã líu lo quanh quẩn giải thích. Thì ra ở lớp giáo lý, giáo lý viên đã dạy rằng: tuần tới, tức hôm nay, Phụng Vụ chuyển sang năm mới được khởi đầu bằng Mùa Vọng. Đứa bé chẳng biết Phụng Vụ là gì, nhưng đã nhớ rất kỹ chữ “năm mới”, vì thế mới có chuyện vòi lì xì. Đành phải chiều thôi. Nhưng chỉ được một lát, nó đã vòng lại khoe: cháu còn biết viết chữ “mùa vọng” nữa. Tôi bảo nó viết. Nó nằm bò trên sàn nhà nắn nót ra chiều khổ sở lắm, rồi cuối cùng cũng xong và đưa đến cho mọi người xem. Nhưng ôi thôi, thay vì “Mùa Vọng”, cháu đã viết lộn một nét để thành “Màu Vọng” khiến cả nhà được cười một trận.

Tôi ra đi trong tiếng cười ấy và sự lẫn lộn của đứa cháu như đeo bám lấy mình, để cuối cùng bất giác tự hỏi: Mùa Vọng màu gì nhỉ? Xin được mượn tâm tư ấy làm chủ đề cho Mùa Vọng năm nay. Đó là gọi tên Mùa Vọng bằng những sắc màu.

Hôm nay Chúa Nhật I Mùa Vọng, xin được gọi Mùa Vọng là mùa màu xanh, hay đúng hơn là mùa xanh lên niềm hy vọng. Gọi thế sẽ nêu hai ý nghĩa:

1) Mùa Vọng là mùa Thiên Chúa hy vọng vào con người.

Đã đành, lúc nào Thiên Chúa mà chẳng hy vọng vào con người. Do hy vọng, Ngài đã tác sinh con người giống hình ảnh Ngài, cho họ bước vào vận hành sự sống của chính Ngài. Cho hy vọng, Ngài đã không ngừng hứa hẹn và kết ước yêu thương với họ, dù cho họ có ngàn lần sa ngã lỗi phạm và xa bỏ Ngài. Nhưng Mùa Vọng chính là thời gian, chính là một mùa qua đó Giáo Hội muốn khắc họa rõ hơn dung mạo của Thiên Chúa: Đấng đã hy vọng vào con người qua lịch sử Dân Chúa, Đấng vẫn hy vọng vào con người trong lịch sử Giáo Hội và Đấng mãi hy vọng vào người đời trong chính cảnh huống cụ thể của từng đời người.

Dung mạo Thiên Chúa ấy được thể hiện nơi Đức Kitô qua những chuyến viếng thăm chính thức của Người. Lần thứ nhất trong mầu nhiệm Nhập Thể, Người đã đến âm thầm làm một người chan hòa giữa muôn người để đảm lĩnh lấy thân phận con người cho đến tột cùng bằng cái chết để rồi Phục Sinh mở ra nẻo đường cứu độ cho những kẻ tin. Thế nhưng, lúc Người về trời, công trình của Người vẫn còn dở dang. Mọi sự dường như mới bắt đầu. Ơn cứu độ khách quan đã xong, nhưng chủ quan, áp dụng cho từng con người lại cứ tiếp tục phải khởi sự. Thế nên, Người hứa sẽ đến lần thứ hai vào ngày chung kết vũ trụ và con người, trong vinh quang để đặt mỗi người đối diện với chính Người như chuẩn mực phân chia đôi bờ thiện ác và đặt mỗi người đối diện với chính mình như trách nhiệm cuối cùng đối với ơn cứu rỗi.

Lần thứ nhất, do hy vọng, Người đến gieo ơn cứu rỗi và lần thứ hai, cho hy vọng, Người đến gặt những gì mình đã gieo và giữa hai lần đến chính thức ấy là cơ man nào mà kể những lần âm thầm đột xuất ngẫu hứng bất ngờ, Đức Kitô vẫn sáng kiến hy vọng mà bước đến với con người, qua những biến cố xảy đến với Giáo Hội, cộng đoàn hoặc cá nhân; qua những khuôn mặt người anh chị em dẫu lạ hay quen ta tiếp cận; và nhất là qua những cảm nghiệm đến với lòng ta và lòng người, cho xanh lên niềm hy vọng cứu rỗi. Và bất ngờ lớn nhất giữa những cái bất ngờ vẫn là cái giờ và cái cách Chúa đến với mỗi cá nhân trong cảnh tranh sáng tranh tối của họ giữa chốn chợ đời. Mùa Vọng là mùa Thiên Chúa hy vọng vào con người.

2) Mùa Vọng là mùa con người hy vọng vào Thiên Chúa.

Thiên Chúa hy vọng vào con người là để cho con người được hy vọng vào Thiên Chúa, và bởi Thiên Chúa luôn hy vọng vào con người qua những đường đến bất ngờ, nên con người chỉ có cách là hy vọng vào Thiên Chúa qua niềm tỉnh thức không mỏi mệt của mình.

Tỉnh thức trong hy vọng là nhận thức rằng người đời có một Thiên Chúa yêu thương và đời người có một vận mệnh tương lai. Có nhiều thứ tương lai lắm: tương lai gần như hôm nay đối với ngày mai; tương lai xa như đời này đối với đời sau; tương lai hẹp như chỉ giới hạn trong đời ta, tương lai rộng như mở ra với đời người; tương lai từng phần tùy theo mức độ khả thi và tương lai toàn phần chỉ có thể có khi con người tiến về vĩnh cửu. Nhưng điều quan trọng ở chỗ tương lai ấy không phải là một sự kiện mà chính là một Đấng, mà Đấng ấy vốn đã hy vọng vào ta, đợi chờ ta từ thuở nào, để khỏi phải tay chân thừa thãi ỏn ẻn làm quen mà gặp được là đã tay bắt mặt mừng đến độ thân tình của lòng trông cậy, để khỏi phải rỉ tai nhau như thế kỷ XIX với khẩu hiệu “con người là tương lai của con người” nên dẫn đến chiến tranh đổ vỡ, mà sẽ là hô vang sứ điệp “Thiên Chúa là tương lai của con người” cho xanh lên niềm hy vọng đượm thắm lẽ cậy trông.

Tỉnh thức trong hy vọng cũng là canh thức để cộng tác với ơn Chúa mà thể hiện niềm hy vọng đời mình. Sẽ là một thứ hy vọng quắt quay như những em bé ve chai gập mình bới tìm sự sống trên đống phế thải; sẽ là một thứ hy vọng mong manh như kẻ qua đường mua tấm vé số và sẽ là một thứ hy vọng đầy rủi ro như kẻ hùn hạp làm ăn mà không nắm trong tay vốn kiến thức kinh doanh; nhưng sẽ là một niềm hy vọng “bốn mùa” xanh tốt, khi con người biết kiên định phát triển vốn liếng ơn thánh và khả năng nơi mình, cho dẫu cuộc sống vẫn còn đầy dẫy những thử thách cam go.

Và cuối cùng, tỉnh thức trong hy vọng cũng có nghĩa là thao thức thường xuyên cùng với Giáo Hội để gieo niềm hy vọng vào chính môi trường mình sống. Hy vọng vào Thiên Chúa cũng như một cuộc lên Đền từng bước, nhưng biết rằng ở đỉnh cao có Chúa đang chờ đợi. Hy vọng vào Thiên Chúa cũng giống như kẻ đắp xây hòa bình, hãy đúc gươm đao thành cuốc thành cày, hãy rèn giáo mác nên liềm nên hái. Từng hạt lúa gieo, từng bước đi tới, rất âm thầm nhưng sẽ dẫn tới những cánh đồng bát ngát màu xanh hy vọng. Hy vọng vào Thiên Chúa cũng như một chuyến đi có đích và có ích; đừng để trở thành “Chuyến đi không đến đâu” như bộ phim Úc mới chiếu trên tivi.

Sống Mùa Vọng như thế chính là sống niềm hy vọng vào Thiên Chúa là Đấng hy vọng vào con người. Và như vậy là êm đềm gợn sóng màu xanh lên chính cuộc đời tín hữu của mình. Mùa Vọng là mùa màu xanh.

Sáng nay ngang qua cuối nhà thờ Tân Định thấy bày la liệt những cây thông Noel. Hai, ba tuần trước đã thấy nhưng vẫn còn xa lạ, nhưng hôm nay cùng với tiết trời trở lạnh và nhịp Phụng Vụ trở mình bước vào Mùa Vọng, tôi mới thấy những cây thông ấy đẹp làm sao, không vì kiểu dáng chất liệu cho bằng chính sắc màu của nó. Trong mắt nhìn của tôi, màu xanh của những cây thông ấy chính là màu xanh của niềm hy vọng vươn lên.

Chúc mỗi người có một cây thông xanh thiêng liêng hy vọng nơi mình, để dẫu sống giữa những vòng quay điên đảo thử thách trăm bề, vẫn luôn kiên định trong niềm hy vọng vào Thiên Chúa giống như đứa bé đòi lì xì, cứ “lì” ra trong niềm hy vọng, Thiên Chúa sẽ “xì” ra bàn tay cứu độ. Và thế là gặp gỡ đẹp xanh hy vọng.

[Mục Lục]

Bài 7. CHÚNG TA PHẢI CHỖI DẬY
Lm. HK

Sau biến cố ngày 11 tháng 9, cả nước Mỹ bàng hoàng. Trong chương trình truyền hình Early Show, Jane Clayson đã phỏng vấn Anne Graham, con gái của nhà giảng thuyết Billy Graham nổi tiếng: “Làm sao Chúa có thể để cho một điều như thế xảy ra được?”

Câu trả lời của Anne Graham rất thâm trầm và sâu sắc: “Tôi tin Chúa cũng buồn bởi việc này lắm, như chúng ta vậy, nhưng từ nhiều năm qua chúng ta đã bảo Chúa ra khỏi trường học của chúng ta, khỏi chính quyền, khỏi đời sống chúng ta. Là người lịch thiệp, tôi tin Ngài đã điềm tĩnh rút lui. Làm sao chúng ta có thể mong đợi ơn phúc và sự bảo vệ của Chúa khi chúng ta yêu cầu Ngài để cho chúng ta được yên?

“Tình hình gần đây … những kẻ khủng bố tấn công, thảm sát trong trường học, v.v… Tôi cho là đã bắt đầu khi Madeleine Murray O’Hare kêu ca không muốn cầu kinh trong trường học và chúng ta đã đồng ý.”

Lịch sử Dân Chúa cho ta thấy Chúa là sức mạnh và sự thịnh vượng của họ, “vì đâu có phải nhờ gươm giáo mà họ chiếm đất đai, đâu có phải cánh tay họ đem được thắng lợi về. Nhưng chính là nhờ tay hữu Chúa, tay mạnh mẽ và ánh tôn nhan Ngài, vì Ngài yêu thích họ.” (Tv 43,4)

Thế nhưng tính ngạo mạn làm cho người ta không thấy được sự yếu hèn của mình, và từ bỏ Chúa. Được dựng nên theo hình ảnh Chúa nên chúng ta sẽ mất, mất trắng tay, đánh mất chính mình, nếu vắng bóng Chúa: “với quân đội nhà, Ngài chẳng còn xuất trận, làm chúng con thua giặc chạy dài, kẻ ghét chúng con cứ mặc tình cướp phá.” (Tv 43,10-11)

Sau khi tàu Titanic được hoàn thành, một phóng viên hỏi viên kỹ sư thiết kế tàu Titanic về sự an toàn của nó. Ông ta tỏ ra rất tự tin: “Ngay cả Thiên Chúa cũng không thể đánh chìm được nó.” Câu trả lời đã được phán quyết cho Titanic ngay trong chuyến đi đầu tiên.

Cũng thế, sự khốn đốn của nhân loại bắt đầu từ sự từ bỏ Thiên Chúa: “Khốn thay dân tộc phạm tội, dân chồng chất lỗi lầm, giống nòi gian ác, lũ con hư hỏng! Chúng đã bỏ Đức Chúa, đã khinh Đức Thánh của Israel, mà quay lưng đi.” (Is 1,4)

Nhưng mặc cho tội lỗi người ta có nhiều đến đâu thì tình yêu Thiên Chúa vẫn lớn hơn: “Tội các ngươi, dầu có đỏ như son, cũng ra trắng như tuyết; có thẫm tựa vải điều, cũng hoá trắng như bông.” (Is 1,18).

Điểm khởi đầu cho ơn cứu độ là quay trở về cùng thánh ý: “Nếu các ngươi chịu nghe lời Ta, các ngươi sẽ được hưởng dùng hoa mầu trong xứ. Còn nếu các ngươi từ chối mà phản nghịch, các ngươi sẽ phải ăn gươm ăn giáo.” Miệng Đức Chúa đã phán như vậy.” (Is 1,19-20)

Thánh ý Chúa là đích điểm cho hành trình tìm kiếm hạnh phúc của mọi người. “Nhiều dân tộc sẽ đến và nói rằng: ‘Hãy đến, chúng ta hãy lên núi Chúa và lên nhà của Giacob. Người sẽ dạy chúng ta đường lối của Người và chúng ta sẽ đi theo ý định của Người.” (Is 2,3)

Được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa nên khi tìm kiếm và sống theo thánh ý Chúa, người ta gặp được chính mình và gặp lại sự hài hoà trong đời người. Khi đó mọi bất ổn xung đột được dẹp yên, và sự sống nẩy sinh khắp nơi: “Họ sẽ lấy gươm rèn nên lưỡi cày, lấy giáo rèn nên lưỡi liềm. Nước này không còn tuốt gươm ra đánh nước kia nữa; người ta cũng sẽ không còn thao luyện để chiến đấu nữa.” (Is 2,4)

Bởi đó, như phải thở luôn để sống, người ta phải tìm kiếm thánh ý Chúa trong mọi giây phút của cuộc đời. Đó chính là sự sống của tâm hồn, điều Đức Kitô tỏ ra quan tâm hơn hết: “các con cũng phải sẵn sàng, vì lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến.” (Mt 24,44)

Sự sống hết sức quí giá, không gì có thể thay thế được. Thế nhưng con người thời hiện đại này đang tự đánh mất sự sống mà không hề hay biết khi gạt Thiên Chúa ra ngoài cuộc sống mình, mà bước vào trào lưu sống thử của thời hiện đại, thử đi không được thì thử lại. Website của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt nam kể về một nữ sinh lớp 11 trường THPT huyện Từ Liêm, Hà Nội, đã mua một viên Cytotec, đặt vào tử cung để đẩy cái thai mấy tuần tuổi ra ngoài, rồi bị băng huyết phải đi cấp cứu.

Tiền mua thuốc chẳng bao nhiêu, nhưng một mạng người bị giết, một tâm hồn đã chết là cái giá phải trả cho một tình yêu thử. Cái giá đó là quá đắt, và tương lai của tâm hồn dân Việt sẽ ra sao khi con số thai bị phá mỗi năm khoảng 1,5 triệu?!

Còn đợi đến bao giờ mới chỗi dậy? Mùa Vọng mời gọi chúng ta chỗi dậy, cùng với ân sủng và tình yêu Chúa, chúng ta hãy bước ra khỏi vòng mê hoặc của các giá trị phù du mà tìm về hạnh phúc và sự sống vĩnh cửu.

Từng chữ trong thư Rôma là linh dược cho chúng ta: “Anh em thân mến, biết rằng thời này là lúc chúng ta phải chỗi dậy… chúng ta hãy từ bỏ những hành vi ám muội và mang khí giới ánh sáng. Chúng ta hãy đi đứng đàng hoàng như giữa ban ngày, không ăn uống say sưa, không chơi bời dâm đãng, không tranh chấp ghen tị. Nhưng hãy mặc lấy Đức Kitô, và chớ lo lắng thoả mãn những dục vọng xác thịt.” (Rm 13,11-14)

[Mục Lục]

Bài 8. Không đợi đến ngày mai
Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Vào dịp cuối năm, Lu-xi-phe triệu tập đại hội đồng quỷ sứ để kiểm điểm tình hình hoạt động suốt năm qua.

Quỷ già, quỷ cái, quỷ con đều họp mặt đông đủ và báo cáo cho Quỷ Vương Lu-xi-phe biết tình hình cám dỗ của toàn bầy quỷ sứ.

Nói chung, hoạt động cám dỗ trong năm qua không đạt kết quả như chỉ tiêu đã đề ra và tỉ số người phải xuống hoả ngục xem ra không gia tăng đáng kể.

Vì thế, khi bước qua phần hai của chương trình thảo luận, Quỷ Vương Lu-xi-phe kêu gọi hội đồng quỷ hãy đề ra những chiêu thức cám dỗ tinh vi và kiến hiệu hơn, liệu sao để lôi kéo được nhiều linh hồn sa hoả ngục hơn.

Các quỷ tham gia tranh luận sôi nổi, bày ra nhiều mưu chước nhằm làm cho loài người sa đọa. Ý kiến thì nhiều, nhưng thư ký hội nghị chỉ ghi lại một số điều tiêu biểu như sau: Có quỷ đề nghị hãy thuyết phục mọi người rằng: “Không có Thiên Chúa, không có thiên đàng hoả ngục. Thiên đàng là ảo tưởng do Giáo Hội bày ra để dụ khị loài người; hoả ngục chỉ là sản phẩm do Cha Cố thêu dệt để hù doạ những người yếu bóng vía. Đừng dại dột tin vào Thiên Chúa, vào sự sống đời sau mà phí cả cuộc đời!” Hội nghị cho rằng chiêu thức nầy đã được áp dụng từ lâu mà chưa mang lại kết quả mong muốn.

Có quỷ thì hiến kế nên thuyết phục người ta biết rằng Đức Giê-su chỉ là hạng phàm phu tục tử, Phúc Âm của Ngài gồm toàn những chuyện bịa đặt viển vông…” nhưng rồi ý kiến nầy cũng không được hưởng ứng.

Cuối cùng có lão quỷ già có tiếng là đa mưu túc kế lên tiếng: “Theo tôi, chúng ta nên cám dỗ thế nầy: “Có Thiên Chúa, có thiên đàng hoả ngục, có linh hồn, có sự sống đời sau… (mình phải nói như vậy để người ta tin mình đã, rồi ta sẽ thêm) nhưng bạn hãy nhớ rằng: Đời bạn còn dài, bạn chưa chết ngay đâu! Vậy hãy mê đắm lạc thú đời nầy đi! Đợi đến khi già yếu rồi ăn năn sám hối cũng chưa muộn.”

Một tràng pháo tay giòn vang tán thưởng diệu kế của lão quỷ già thâm độc. Thế là hội nghị nhất trí với phương thức cám dỗ được xem là độc chiêu của lão quỷ già đa mưu.

Câu chuyện minh hoạ trên đây chứng tỏ cho chúng ta thấy rằng cơn cám dỗ tai hại nhất là cứ tưởng rằng đời mình còn dài nên chưa đến lúc phải ăn năn hối cải. Người ta cứ nhủ lòng: Ngày mai, ngày mốt, ngày kia, ta sẽ sám hối, sẽ cải thiện cuộc đời, còn hôm nay thì chưa phải lúc.

Thế nên, qua Tin Mừng hôm nay (Mat-thêu 24, 37-44) Chúa Giê-su kêu gọi chúng ta hãy tỉnh thức vì giờ Chúa đến thật bất ngờ; như “Thời ông Nô-ê thế nào, thì ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy. Vì trong những ngày trước nạn hồng thuỷ, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nô-ê vào tàu. Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thuỷ ập tới cuốn đi hết thảy. Ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy.”

Chúa Giê-su cũng cho biết rằng Ngài sẽ đến vào lúc chúng ta ít ngờ nhất:

“Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến. Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông đã thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu. Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.”

Nếu hôm nay, lúc còn an bình khoẻ mạnh, chúng ta không tưởng gì đến Chúa, đợi đến lúc lâm nguy rồi mới chạy đến với Ngài thì chúng ta xem Chúa có khác gì chiếc phao. Bình thường khi trời quang mây tạnh, mọi sự an lành thì không ai thèm ngó lại chiếc phao, xem nó là đồ thừa thãi vô tích sự; nhưng khi gặp phong ba bão táp, nguy khốn đến nơi thì ai nấy cố tranh giành nhau để chiếm lấy phao cho bằng được!

Lạy Chúa Giê-su,

Chúa là Chúa Tể quyền năng, là Thiên Chúa tối cao mà chúng con phải phụng thờ mọi lúc trong suốt cuộc đời, chứ không phải là chiếc phao chỉ cần dùng lúc gặp gian nguy khốn khó.

Xin cho chúng con đừng khờ khạo tin rằng đời còn dài, hãy tận hưởng đời và mê đắm trong tội mà lãng quên phần rỗi đời đời của chúng con.

[Mục Lục]

Bài 9. CANH THỨC VÀ SẴN SÀNG ĐỂ ĐÓN CHÚA!
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ

Năm Phụng Vụ (A) bắt đầu với Chúa Nhật I Mùa Vọng. Vọng trong ngôn ngữ Việt có 2 nghĩa: ngóng đợi và hy vọng’; nhưng theo nguyên ngữ la-tinh thì Adventus có nghĩa là “việc xẩy đến”, tức sự việc Thiên Chúa đến trần gian và đi vào lịch sử nhân loại. Thật vậy Thiên Chúa đã đến trong lịch sử nhân loại qua giao ước với các Tổ Phụ và dân riêng là Ít-ra-en và nhất là nơi Đức Giê-su Na-da-rét là Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể làm người, sinh ra ở Bê-lem. Chính Đấng Thiên Chúa ấy sẽ đến một cách long trọng trong Ngày Quang Lâm, để thực thi công lý một cách triệt để và trọn vẹn tức thưởng phạt công minh. Nhưng Đấng Thiên Chúa ấy cũng thường đến với mỗi người/cộng đoàn chúng ta trong/qua các biến cố cuộc sống cá nhân và cộng đoàn của chúng ta. Đế đón rước Chúa và gặp được Người, chúng ta phải biết canh thức và sẵn sàng.

II. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH

2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong bài đọc 1 (Is 2,1-5): Hòa bình vĩnh cửu

2.2 Lắng nghe Lời Chúa trong bài đọc 2 (Rm 13,11-14): Mặc lấy Chúa Giê-su Ki-tô

2.3 Lắng nghe Lời Chúa trong bài Tin Mừng (Mt 24,37-44): Phải canh thức và sẵn sàng

III. KHÁM PHÁ CHÂN DUNG VÀ SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH

3.1 Chân Dung của Thiên Chúa hay Thiên Chúa là Ai?

– Là Đấng ngự trên (núi) cao và dạy con người biết đường lối của ngay thật. Người cũng làm trọng tài giữa các quốc gia và phân xử cho muôn dân muôn nước. Nghe Lời Chúa, các dân tộc sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái, sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến.

– Là Chúa Giê-su Ki-tô với danh hiệu là Con Người – nghĩa là người và đồng thời là nhân vật huyền bí đã được Đấng Lão Thành (Thiên Chúa) giao quyền thống trị, vinh quang và vương vị, trong thị kiến của tiên tri Đa-ni-en (7,13-14). Người đã đến trần gian và trong lịch sử loài người, sẽ đến trong ngày Quang Lâm, nhưng vẫn hằng đến trong cõi tâm linh của mỗi con người, vì Người vừa là Thiên Chúa vừa là Đấng Phục Sinh.

3.2 Sứ Điệp hay Giáo Huấn của Chúa (Chúa dậy gì hay Chúa muốn chúng ta làm gì?):

Qua ba bài Sách Thánh hôm nay, sứ điệp hay giáo huấn của Lời Chúa là:

– “Hãy lên núi Đức Chúa, lên Nhà Thiên Chúa của Gia-cóp, để Người dạy ta biết đường lối của Người, và để ta bước theo Người” (Ngôn sứ I-sai-a).

– “Hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu. Hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giê-su Ki-tô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thỏa mãn các dục vọng” (Thánh Phao-lô).

– “Hãy canh thức… Hãy sẵn sàng chờ đón giờ phút Con Người đến” (Chúa Giê-su).

IV. SỐNG VỚI CHÚA VÀ THỰC THI SỨ ĐIỆP CỦA NGƯỜI

4.1 Sống với Thiên Chúa là có tâm tình thờ phượng, tin tưởng và phó thác, với

– Đấng ngự trên (núi) cao và dạy con người biết đường lối của ngay thật. Người cũng làm trọng tài giữa các quốc gia và phân xử cho muôn dân muôn nước. Nghe Lời Chúa, các dân tộc sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái, sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến.

– Chúa Giê-su Ki-tô với danh hiệu là Con Người – nghĩa là người và đồng thời là nhân vật huyền bí đã được Đấng Lão Thành (Thiên Chúa) giao quyền thống trị, vinh quang và vương vị, trong thị kiến của tiên tri Đa-ni-en (7,13-14). Người đã đến trong lịch sử, sẽ đến trong ngày Quang Lâm, nhưng vẫn hằng đến trong cõi tâm linh của mỗi con người, vì Người vừa là Thiên Chúa vừa là Đấng Phục Sinh.

4.2 Thực thi sứ điệp Lời Chúa

Câu hỏi được nêu lên là làm sao chúng ta thực thi được sứ điệp của Lời Chúa hôm nay? Từ kinh nghiệm cá nhân và cộng đoàn, chúng ta nghiệm ra rằng chúng ta thật rất khó mà sống kết hiệp mật thiết với Chúa Ki-tô, với Thiên Chúa, và càng khó hơn việc chúng ta mỗi ngày mỗi nên giống Chúa Ki-tô hơn. Gợi ý của các bài Thánh Kinh hôm nay là chúng ta phải lánh xa cảnh chè chén say sưa, chơi bời dâm đãng, cãi cọ ghen tương, chiều theo tính xác thịt, thỏa mãn các dục vọng (mặt tiêu cực) và chiến đầu bằng vũ khí của sự sáng, sống tỉnh thức, sẵn sàng và chờ đón Chúa như bề tôi chờ đón ông chủ, như cô dâu chờ đón chàng rể (mặt tích cực). Nhưng dường như những việc ấy mới chỉ là khởi điểm chứ thật ra chưa đủ. Vậy phải làm gì hơn nữa?

Tôi xin phép được chia sẻ một kinh nghiệm: Phong Trào Cursillo có một phương cách rất hữu hiệu trong việc giúp các thành viên nên giống Thầy Giê-su Chí Thánh: mỗi ngày/tuần/tháng anh chị em Cursillo kiểm điểm đời sống của mình nhờ/qua phương châm: “mộ đạo, hiều đạo và hành đạo”, được cụ thể hóa bằng 3 câu hỏi:

(1o) Hôm nay/tuần này/tháng này tôi đã làm những gì để tăng thêm lòng mộ/sùng Đạo [Thiên Chúa/Chúa Giê-su/Hội Thánh]? – Câu trả lời có thể là: Hôm nay/tuần này/tháng này, tôi đã tham dự các Thánh Lễ, lần chuỗi Mân Côi, đi Đàng Thánh Giá, chầu Thánh Thể, đọc, suy niệm Lời Chúa và cầu nguyện, đọc sách thiêng liêng, hy sinh, hãm mình v.v… để lòng mộ/sùng Đạo của tôi được tăng triền.

(2o) Hôm nay/tuần này/tháng này tôi đã làm những gì để tôi có thêm sự hiểu biết về Đạo [Thiên Chúa/Chúa Giê-su/Hội Thánh]? – Câu trả lời có thể là: Hôm nay/tuần này/tháng này, tôi đã tham dự các buổi học hỏi Thánh Kinh, đã đọc, suy niệm Lời Chúa và cầu nguyện mỗi ngày, đã đọc sách thiêng liêng, sách thần học, đã nghe thuyết trình, dự tọa đàm v.v… để tôi hiểu biết hơn về Đạo.

(3o) Hôm nay/tuần này/tháng này tôi đã làm những gì để truyền bá Đạo [Thiên Chúa/Chúa Giê-su/Hội Thánh?] cho những người xung quanh? – Câu trả lời có thể là: Hôm nay/tuần này/tháng này, tôi đã dành thời gian đi thăm người già cô đơn trong khu xóm, thăm bệnh nhân trong bệnh viện, cúng tiền hoặc tham gia chuyến cứu trợ đồng bào bị bão lũ Miền Trung, dậy Giáo Lý cho dự tòng, viết/gửi bài diễn giải hay suy niệm Phúc Âm cho một số người hay trang nhà (web), nói về Chúa và Hội Thánh cho những người tôi gặp, đã hy sinh, hãm mình cầu nguyện cho Công cuộc Loan Báo Tin Mừng v.v… để truyền bá Đạo Chúa.

Xin các bạn hãy thực hành phương châm hay cách xét mình này của Phong Trào Cursillo. Trả lời 3 câu hỏi trên một cách trung thực, các bạn sẽ thấy mình thay đổi.

V. CẦU NGUYỆN CHO THẾ GIỚI VÀ HỘI THÁNH

5.1 «Đến đây, ta cùng lên núi Đức Chúa, lên Nhà Thiên Chúa của Gia-cóp, để Người dạy ta biết lối của Người, và để ta bước theo đường Người chỉ vẽ.» Cùng với Đức Mẹ và các Thánh, chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho mọi người được ơn Chúa soi sáng để họ nhận biết đường ngay lối thẳng mà bước đi trong cuộc sống trần gian này.

Xướng: Chúng ta hãy cầu xin Chúa!
Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con!

5.2 «Anh em hãy mặc lấy Chúa Giê-su Ki-tô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thoả mãn các dục vọng.» Cùng với Đức Mẹ và các Thánh, chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô, cho các Hồng Y, Giám Mục, Linh Mục, Phó Tế, Tu Sĩ Nam Nữ và Giáo Dân để mọi thành phần Dân Chúa biết mặc lấy Chúa Ki-tô là thấm nhuần tinh thần Phúc Âm và sống theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.

5.3 «Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến!» Cùng với Đức Mẹ và các Thánh, chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho các Ki-tô hữu trong cộng đoàn giáo xứ chúng ta, để mọi người già trẻ lớn bé đều sống tỉnh thức và sẵn sàng chờ đợi ngày Chúa đến.

5.4 «Anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.» Cùng với Đức Mẹ và các Thánh, chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho những người đang sống trong đau khổ, mất mát, thiếu thốn và tuyệt vọng, nhất là cho các nạn nhân của bão lụt ở Phi-líp-pin và Việt Nam để họ nhận được sự giúp đỡ và an ủi.

[Mục Lục]

Bài 10. TỈNH THỨC ĐỂ CHỜ CHÚA
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Tỉnh thức, chờ đợi và sẵn sàng là những ngôn từ Kinh Thánh dùng rất nhiều để nói đến tính đột xuất, bất ngờ của việc Chúa đến. Hôm nay, Chúa nhật I Mùa Vọng năm A, lại vang lên điệp khúc này: “…Anh em hãy tỉnh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em sẽ đến “. Tỉnh thức, sẵn sàng là lời thúc bách, là sự cảnh tỉnh của Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô đối với nhân loại, đối với con người và đối với mỗi người chúng ta.

Thực tế, Chúa đã đến trần gian từ lâu, cách đây vài ngàn năm. Suốt thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã cho biết bao người chuẩn bị để dọn đường cho Con Chúa đến và Chúa đã đến khi Mẹ Maria nói lời “Xin vâng” làm theo ý Thiên Chúa. Tuy nhiên, nhân loại vẫn chưa đón nhận Tin Mừng cách tích cực. Nhiều người sống ngay bên Chúa nhưng vẫn không nhận ra Chúa. Do đó, hằng năm, Giáo Hội vẫn mời gọi mọi người hãy sẵn sàng tỉnh thức để chờ đón Chúa đến.Ở đây việc chờ đợi Chúa đến có hai ý nghĩa : chờ Chúa đến, mừng mầu nhiệm Con Thiên Chúa làm người và ý khác chờ Chúa đến trong ngày sau hết hay là đón đợi ngày, giờ chết của mỗi người. Trong Tin Mừng, chúng ta đọc thấy những dấu chỉ như kẻ trộm đến bất ngờ, lụt đại hồng thủy thời ông Noe, quả thực không phải là những điều hù dọa con người, hù dọa chúng ta nhưng những dấu chỉ xẩy đến cho chúng ta hay không biết lúc nào, không biết giờ nào vì Chúa đến bất ngờ, đến đột xuất. Chúa Giêsu nói như thế có nghĩa là Ngài vẫn luôn đến, Ngài thường đến, nhưng con người nào ai hay, nào ai nhận biết. Tuy nhiên, nói như thế, Chúa Giêsu muốn chúng ta hiểu toàn bộ Tin Mừng, toàn bộ lịch sử cứu độ.Chúa đến cách bất ngờ, đột xuất ngay khi chúng ta đang làm việc, sinh hoạt, ăn uống, ngủ nghỉ, học hành, dựng vợ gả chồng …thì Chúa đến. Điều này nói lên tính bất ngờ, đột xuất của giờ Chúa đến. Thiên Chúa luôn hiện diện giữa nhân loại, giữa con người, giữa chúng ta. Chính vì thế, chờ đợi không có nghĩa là thụ động nhưng phải luôn làm việc tích cực, ý thức và hoàn toàn tự chủ. Chúa luôn hiện diện.Chúa luôn can thiệp vào đời sống của con người như khi chúng ta đọc Tin Mừng của Chúa. Ngài giúp đỡ mọi người, mọi kẻ ốm đau tật nguyền, nghèo đói, Ngài luôn có mặt… Ngay thời Chúa Giêsu, có những người đã nhận ra Ngài nhưng có những người làm ngơ, cố tình không nhận ra Ngài… Ngày nay, Chúa vẫn có đó, Chúa can thiệp vào mọi trạng huống cuộc đời của con người, miễn là chúng ta mở to đôi mắt đức tin để nhận ra Ngài. Chúa đã đồng hóa mình với những kẻ khó nghèo, kẻ đói khát, kẻ tù tội, kẻ trần truồng, kẻ cô đơn, già nua, neo đơn v.v… những kẻ như thế là hiện thân của Chúa, tuy nhiên chúng ta đã làm ngơ hay cố tình không nhận ra ngài.

Vâng, các dụ ngôn của Chúa Giêsu hôm nay mang tính hết sức thời sự giúp chúng ta suy nghĩ:

Chúa vẫn tiếp tục đến. Nhưng chúng ta phải can đảm chờ đợi. Ngài đến thật bất ngờ, thật đột xuất trong giờ sau hết của chúng ta, bởi vì chúng ta đâu có biết lúc nào chúng ta chết đâu! Chúa đến như đã đến với năm cô trinh nữ khôn ngoan…”. Ta đứng ngoài cửa mà gõ”.

Chúa đến với chúng ta ngay khi chúng ta đang làm việc, vậy như thánh Đaminh Saviô, chúng ta cứ tiếp tục làm việc, cứ tiếp tục chơi khi biết rằng Chúa sẽ đến… Chúa đến gặp chúng ta lúc đó thật hạnh phúc.

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con luôn biết sẵn sàng, tỉnh thức và cầu nguyện để đón chờ Chúa đến. Xin giúp chúng con biết khôn ngoan như năm cô trinh nữ khôn ngoan mang đèn mà lại mà lại mang dầu, để khi tân lang đến thì thắp đèn sáng để đón chàng rể vào tiệc cưới. Maranatha! Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1. Những dấu hiệu báo trước ngày Chúa đến ?

2. Tỉnh thức, sẵn sàng nói lên tính gì ?

3. Ý nghỉa kẻ trộm và lụt đại hồng thủy thời ông Noe nói gì ?

4. Khi biết giờ Chúa sắp đến, khi đang làm việc ông bà anh chị em sẽ làm gì?

[Mục Lục]

Bài 11. Sống tỉnh thức
Lm Jos. Tạ Duy Tuyền

Người Việt Nam có câu “nước tới chân mới nhảy” thì quá trễ. Người Miền Trung đã quá thấm thía câu nói này qua những ngày tháng lũ lụt kéo dài suốt gần 1 tháng qua. Không có lương thực dự trữ, đa phần phải sống trong cảnh thiếu thốn, bữa no bữa đói. Có những nơi chỉ còn biết trông chờ ở những đoàn cứu trợ từ khắp nơi mang đến. Không ai nghĩ rằng lũ lụt lại quá kinh khủng như vậy. Thế nên, họ vẫn ăn uống, vẫn vui chơi, vẫn không cần tích trữ cho ngày mai. Họ đâu ngờ rằng có những ngày “gạo quế củi châu”, khiến họ phải đói khổ cơ hàn, để rồi phải ngửa tay van xin lòng thương xót của người khác. Họ đâu ngờ rằng những gì họ tích luỹ, cất dấu lại bị nước cuốn trôi và trở nên trắng tay lại hoàn trắng tay. Xem ra trên thế gian này chẳng có gì an toàn, chẳng có gì trường cửu. Tất cả đều mong manh, kể cả kiếp người cũng mong manh như loài hoa trước gió, đến độ “một cơn gió thoảng cũng làm nó biến đi. Nơi nó mọc cũng không còn mang vết tích”.

Hôm nay, Lời Chúa nhắc nhở chúng ta hãy tỉnh thức đừng để ngày khốn đốn xảy đến mà chẳng hay biết gì, như “thời ông Noe, người ta vẫn ăn uống, vẫn cưới vợ, lấy chồng”. Người ta tưởng rằng thế giới mãi mãi là thế, chẳng có gì thay đổi, chẳng có gì phải lo, phải sợ. Chỉ có một mình Noe, ông đã vượt ra khỏi thói quen của mọi người. Một mình ông đóng tàu. Một mình ông chuẩn bị đối phó với tai hoạ sẽ xảy đến cho ông và cho toàn thế giới. Và vì vậy, cũng chỉ một mình ông và gia đình lên tàu, còn những người khác vẫn ăn uống, vẫn đàn hát cho đến khi cơn hồng thủy đến và nhậm chìm vạn vật và hàng triệu sinh linh trên mặt địa cầu.

Mùa vọng là mùa đợi chờ, mùa trông mong. Người ta trông mong quà cáp, thư từ, tiền lương, xum họp gia đình nhân dịp lễ Noel. Người tìn hữu được mời gọi trông mong ngày Chúa quang lâm. Ngày đó sẽ đến, nhưng không biết khoảng thời gian nào. Ngày đó sẽ đến như kẻ trộm. Ngày đó sẽ đến một cách bất chợt và thình lình. Sự khôn ngoan luôn nhắc nhở chúng ta là hãy tỉnh thức để luôn sẵn sàng đón chờ ngày đó sẽ đến.

Ngày xưa có một ông cụ già cố cứu kinh thành Sôđôm khỏi bị Chúa tiêu diệt bằng cách mỗi ngày đi gặp người dân trong thành để cảnh cáo và kêu gọi mọi người tin Chúa, thờ Chúa cho khỏi bị tiêu diệt. Không ai chịu nghe lời ông cụ mà còn chế diễu là mê tín dị đoan nữa. Ông cụ vẫn bền chí đi hết nhà này sang nhà nọ để kêu gọi họ thống hối ăn năn. Thấy chuyện vô tích sự của cụ, nên có người hỏi:

– Tại sao cụ nói cho họ biết làm gì cho mệt. Họ có nghe cụ và thay đổi gì đâu? Nói với họ cũng như nước đổ đầu vịt!

Ông cụ bình tĩnh đáp:

– Có lẽ tôi không thuyết phục nổi ai, cũng không thay đổi được ai đâu. Nhưng làm như thế cũng là giúp tôi, đừng lao vào cuộc sống sa đoạ như họ.

Câu truyện kể trên chỉ là một dụ ngôn. Nhưng trên thực tế ông Lót ngày xưa sống trong kinh thành Sôđôm. Chính là ông già đó.

Trong thư thứ hai của thánh Phêrô có ghi rằng: “Chúa cứu Lót ra khỏi Sôđôm vì ông là người công chính, tâm hồn luôn luôn bị dày vò vì những cảnh đồi bại luân lý diễn ra hàng ngày quanh mình.

Ông Lót sinh sống tại vùng Sôđôma. Khi Sôđôma bị các nước lân bang xâm chiếm, Lót bị bắt đi. Abraham là chú phải ra tay tiếp cứu Lót. Nhưng Lót vẫn về sống ở kinh thành Sôđôma. Khi Chúa quyết định giáng tai họa xuống kính thành Sôđôma, Abraham đã cầu xin Chúa giải cứu, nhưng vì Sôđôma không có đến mười người kính thờ Chúa, nên đã bị tiêu diệt. Trước khi tai họa xảy ra, có hai thiên sứ của Chúa đến giải cứu Lót. Nhưng ông ta vẫn còn lần lữa. Khi đã ra khỏi Sôđôm, bà vợ ông Lót còn ngoái lại nhìn và đã bị biến thành tượng muối.

Vâng, trong thế giới ngày nay, tình trạng sa đoạ và trụy lạc ngày càng nhiều và lan rộng, đến độ người ta cho rằng phải sống đồi trụy mới là tiến bộ. Chẳng hạn như: quan hệ trước hôn nhân, đồng tính luyến ái, ngoại tình, phá thai và các sách báo, phim, băng hình đồi trụy mỗi ngày đều gia tăng, mặc dù cơn đại dịch Sida, aid đã tiêu diệt hàng trăm ngàn người mỗi năm, thế nhưng nhiều người vẫn nhắm mắt làm ngơ, vẫn lao vào cuộc sống hưởng thụ, sa đoạ, bất chấp lề luật, bất chấp tai họa. Cuộc sống sa đoạ đến mức Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II đã than thở rằng: “cái đáng buồn của thế giới ngày này, đó chính là mất ý thức về tội, người ta không còn nghĩ đến tội phúc, và cũng chẳng cần nghĩ đến danh dự của phẩm giá con người, người ta chỉ cần thoả mãn nhu cầu dục vọng của mình đến độ bất chấp cả lề luật mà Thượng Đế đã an bài”.

Là người tin Chúa sống trong xã hội băng hoại, ta cần cẩn thận. Phải nói về Chúa cho đồng bào mình vì nếu không, chính chúng ta sẽ thay đổi theo chiều đồi trụy. Đó chính là phương cách bảo vệ niềm tin Chúa và đưa người khác đến với Chúa. Nếu không làm như vậy, không mấy lúc mà ta sẽ thay đổi theo với xu hướng tục hoá của xã hội, chứ không phải xã hội chung quanh thay đổi vì ta.

Nguyện xin Chúa giúp chúng ta luôn tỉnh thức trong từng giờ từng phút. Tỉnh thức để vượt ra khỏi những cám dỗ của danh lợi thú, của những đam mê thấp hèn, hầu xứng đáng là người tôi trung luôn cầm đèn dẫn dắt anh em đi trong chân lý và hồng ân của Chúa. Amen.

[Mục Lục]

Bài 12. Suy niệm của Ủy Ban Kinh Thánh – HĐGMVN

Đức Giêsu đã đến xưa kia, sẽ đến vào ngày Quang Lâm và vẫn đang đến mỗi ngày. Cần biết đón tiếp Người đến dưới bất cứ dạng nào.

Năm Phụng vụ mới lại bắt đầu bằng Mùa Vọng với tâm tình chuẩn bị, đón chờ ngày Chúa đến: Chúa đến trong ngày lễ Giáng Sinh sắp tới, nhưng căn bản là ngày Chúa quang lâm: Chúa sẽ trở lại trong vinh quang vào ngày thế tận, như lời tuyên xưng hằng ngày trong Thánh lễ: Lạy Chúa, chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho tới khi Chúa lại đến.

1. Israel mong chờ Đấng Thiên Sai (Messia)

Do-Thái, dân tuyển chọn, lúc ấy đang sống trong thời kỳ bi thảm về chính trị, xã hội lẫn tôn giáo. Phương Bắc đã hoàn toàn bị đế quốc Assyri tiêu diệt (721), Phương Nam, tức đất nước Giuđa, sống dưới sức ép của đế quốc Babylone đang hăm he thôn tính. Xã hội đầy những bất công, áp bức và chèn ép: người giàu cứ phè phỡn hưởng thụ trong khi dân nghèo bị bỏ rơi và khốn khổ. Tôn giáo lỏng lẻo, pha trộn, vụ hình thức. Chính trong thời buổi nhiễu nhương và thất vọng ấy, sấm ngôn Nathan (2S 7,14) về việc Thiên Chúa hứa sẽ bảo đảm cho vương triều Đavít được miên trường khơi dậy trong lòng người nỗi mong chờ một vị Thiên Sai thuộc dòng tộc Đavít xuất hiện để giải cứu và phục hưng đất nước. Ngôn sứ Isaia cổ võ thêm cho sự mong chờ ấy bằng lời sấm đầy tràn hy vọng về đấng Emmanuel: “Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai và hạ sinh một con trai, đặt tên là Emmanuel” (Is 7,14). Vị ngôn sứ còn loan báo một cuộc hành hương vĩ đại vào thời thiên sai: mọi dân nước trên mặt đất sẽ tiến về Giêrusalem, tập trung quanh Israel, để nhận biết và phụng thờ Giavê (Is 2,2-5; x. Mk 4,1-5). Niềm hy vọng vội tan biến khi Israel bị Babylone xâm lăng và bị lưu đày (587). Nếu trước đây Thiên Chúa đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai-Cập, giờ đây Người lại giải thoát họ khỏi cảnh lưu đày để họ được hồi hương tái thiết Đền Thờ và đất nước. Một lần nữa, hy vọng lại dâng cao với sự mong chờ vị Thiên Sai Ngôn sứ mà trước đây Môsê đã từng loan báo (Đnl 18,18). Đấng Thiên Sai Ngôn sứ này là người Tôi trung của Giavê mà Isaia II đã phác hoạ là người được Thiên Chúa tuyển chọn và ban tràn đầy Thần Khí, sẽ phải chịu nhiều đau khổ và chịu chết để cứu độ dân Người. Hy vọng và mong chờ vẫn kéo dài cho đến lúc người ta lại chuyển sang việc mong đợi Con Người, một nhân vật thiên quốc mà Daniel mô tả là Đấng ngồi bên hữu Thiên Chúa, được Thiên Chúa trao cho toàn quyền chung thẩm nhân loại (Dn 7,13-14). Trong từng giai đoạn, Israel lại mong chờ vị Thiên Sai cứu tinh. Niềm hy vọng mong chờ đó đã nâng đỡ dân trong suốt thời kỳ đầy thảm hoạ. Sống là hy vọng và mong chờ. Suốt thời kỳ đầu của Giáo Hội tiên khởi, giữa trăm chiều thử thách, các tín hữu hằng mong chờ ngày Chúa trở lại và tha thiết kêu xin: Maranatha, lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến!

2. Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai đã đến hoàn tất niềm mong đợi Cựu Ước

Giữa lúc nhân loại đang chìm sâu trong đêm tối của lầm lạc và tội lỗi, khát mong ơn cứu độ. Khi Israel đang mòn mỏi mong chờ vị Thiên sai đến giải thoát. Một vì sao sáng xé ngang màn đêm. Ánh sáng xuất hiện. Thiên Chúa đã nhập thể đến giữa loài người, mang tên gọi Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta (Mt 1,23). Loài người khát khao cứu độ, nhưng nhận biết mình hoàn toàn bất lực, chỉ còn biết trông đợi ở Chúa. Con người không thể lên được với Thiên Chúa thì Thiên Chúa lại xuống với con người. Thánh Gioan viết: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Người Con một ấy chính là Ngôi Lời vĩnh cữu đã trở nên người phàm (Ga 1,1.14), sinh bởi một người nữ và sống dưới Lề Luật để cứu những ai đang sống dưới Lề Luật, hầu cho họ được ơn làm nghĩa tử (Gl 4,4-5). Đó là lần thứ nhất Thiên Chúa xuống trong lịch sử mà ta vui mừng tưởng niệm trong ngày lễ Giáng Sinh. Lễ Giáng Sinh sắp đến, hãy chuẩn bị tâm hồn để đón nhận Chúa đến với ta, mang niềm vui, an bình và cứu độ.

3. Hướng về ngày Quang Lâm

Tưởng niệm không phải chỉ là một hoài niệm quá khứ, nhưng căn bản là hiện tại hoá việc Chúa đến hôm nay trong mỗi giây phút cuộc sống và nhất là hướng lòng về ngày Chúa quang lâm khi niên cùng nguyệt tận để phán xét toàn nhân loại. Lúc ấy Người sẽ phân định sự sống đời đời cho những người lành và án phạt muôn đời cho những kẻ dữ là những ai khi sống nơi dương thế đã chối từ Thiên Chúa để đặt mình dưới quyền thống trị của ma quỷ và tội lỗi.

Ngày Chúa quang lâm thật bất ngờ, không ai biết trước được sẽ xảy đến lúc nào. Vì thế, Chúa dạy phải sẵn sàng tỉnh thức như người đầy tớ khôn ngoan chờ đợi chủ về vào lúc đêm khuya, hoặc như các trinh nữ khôn ngoan chờ đợi chàng rễ đến chậm, như người quản gia trung tín luôn biết chu toàn bổn phận khi chủ vắng nhà. “Hãy cầm đèn cháy sáng trong tay và hãy thắt lưng như người chờ đợi chủ về ”. Hình ảnh Hồng thuỷ và Sôđôma luôn là một cảnh tỉnh con người trong cuộc sống cần biết hướng về ngày thế tận, chứ không phải sống như thể trần gian và hiện tại là tất cả. Cuộc sống hiện tại là một chuẩn bị và xác định cho định mệnh cuối cùng. Chúa Giêsu đã có lần cảnh cáo qua dụ ngôn người giàu khờ dại: “Không phải sự sung túc của cải đời này đảm bảo hạnh phúc đời đời” (Lc 12,15). Thánh Phaolô khuyên: “Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Hãy loại bỏ mọi hành vi ám muội và mang lấy khí giới ánh sáng để chiến đấu…” (Rm 13,11-14).

4. Chúa vẫn đến mỗi ngày

Ngày Quang Lâm vào lúc thế tận sẽ rất bất ngờ. Sự chuẩn bị sẵn sàng được xác định qua tư cách biết đón Chúa đến mỗi ngày trong cuộc sống hiện tại. Sách Khải huyền viết: “Phúc cho ai chết trong ân nghĩa của Chúa”. Nhưng để chết trong ân nghĩa thì phải biết sống trong ân nghĩa. Chúa đứng ngoài cửa và gõ; ai sẵn lòng mở, Người sẽ vào và dự bàn tiệc với người ấy.

– Chúa đến và đối thoại với ta trong Kinh Thánh. Hãy biết lắng nghe, suy niệm và thực hành Lời Chúa.

– Chúa đến và ở giữa chúng ta trong Thánh Thể bằng tất cả tình yêu tự hiến, và trở nên Bánh hằng sống nuôi dưỡng ta trên bước đường lữ thứ tiến về nhà Cha. Hãy siêng năng tham dự thánh lễ và rước lễ, hãy chiêm ngắm, tôn thờ và sống bí tích Thánh Thể.

– Chúa đến trong anh em: “Sự gì các ngươi làm cho một anh em bé mọn là làm cho chính Ta” (Mt 25,40). Trọn cuộc đời trần thế của Chúa Giêsu là yêu thương và phục vụ hết tình và hết mình. Người đã rửa chân cho các môn đệ trong bữa Tiệc ly như mẫu gương của sự phục vụ khiêm tốn và vô vị lợi (Ga 13,14-15). Người đã yêu thương đến tận cùng, đến chết trên thập giá. Hãy sống yêu thương và phục vụ vì đó là lề luật quan trọng nhất và là dấu chỉ của người môn đệ Chúa Giêsu (Ga 13,34-35).

[Mục Lục]

Bài 13. Hãy sẵn sàng cho một tương lai tốt đẹp
L. M. Carôlô Hồ Bặc Xái

I. Dẫn Vào Thánh Lễ

Hôm nay Giáo Hội bước vào Mùa Vọng. Vọng là chờ, là mong. Nhưng chúng ta chờ mong điều gì? Phải chăng là mong chờ Lễ Giáng sinh? Thưa không, chúng ta không mong chờ một lễ vui, mà mong chờ chính Chúa sẽ đến với chúng ta. Khi Ngài đến, Ngài sẽ mang cho chúng ta bình an, hạnh phúc. Tuy nhiên chúng ta hãy nhớ rằng những ơn lành ấy chỉ đến với những ai đã chuẩn bị lòng mình sẵn sàng. Vậy kể từ hôm nay, mỗi người chúng ta hãy tích cực chuẩn bị tâm hồn, vì ơn cứu độ của Chúa đã đến gần.

II. Gợi Ý Sám Hối

– Một năm phụng vụ đã trôi qua, hôm nay bắt đầu một năm phụng vụ mới. Phải chăng trong năm phụng vụ vừa qua chúng ta đã có phần thờ ơ, ươn lười, nhiều lầm lỗi?

– Xã hội ngày nay đầy dẫy sự xấu. Phải chăng chúng ta cũng có phần tạo nên tình trạng ấy?

– Chúng ta cũng mong rằng thế giới sẽ tốt hơn, con người sẽ thương yêu nhau hơn. Nhưng chúng ta có làm gì cho tương lai ấy mau đến không?

III. Lời Chúa

1. Bài đọc I (Is 2,1-5):

Vào hậu bán thế kỷ VIII trước công nguyên, vương quốc Giuđa khá thịnh vượng về mặt vật chất, nhưng lại rất suy đồi về mặt đạo đức. Trước tình trạng ấy, ngôn sứ Isaia một mặt thẳng thắn vạch tội dân và kêu gọi họ ăn năn sám hối, mặt khác loan báo rằng nếu dân trở lại thì Thiên Chúa sẽ ban cho họ một tương lai tốt đẹp.

Tương lai ấy được Isaia diễn tả bằng những hình ảnh thi vị:

– Ðó sẽ là thời dân Thiên Chúa được tôn vinh: “Núi Nhà Chúa sẽ được xây trên đỉnh các núi”. Mà dân Thiên Chúa được tôn vinh cũng có nghĩa là Thiên Chúa được tôn vinh, vì chính nhờ đức tin của họ mà các dân tộc trên mặt đất sẽ biết tới Chúa và tôn thờ Ngài: “Nhiều dân tộc sẽ đến và nói rằng: Hãy đến, chúng ta hãy lên núi Chúa và lên nhà của Giacóp”.

– Khi mọi người đã biết tôn thờ Chúa thì đó cũng sẽ là một thời thái bình: “Người ta sẽ lấy gươm mà rèn nên lưỡi cày, lấy giáo rèn nên lưỡi liềm. Nước này không còn tuốt gươm ra đánh nước kia nữa”.

2. Ðáp ca (Tv 121)

Tâm tình đầy lạc quan hy vọng của Isaia được diễn tả qua Tv 121: “Ôi tôi sung sướng biết bao khi nghe nói: Chúng ta sẽ về nhà Chúa”

3. Bài Tin Mừng (Mt 24,37-44)

Ðức Giêsu cho biết Ngày tốt đẹp ấy sắp đến. Nhưng Ngài đặc biệt lưu ý ba điều:

a/ Ngày ấy sẽ đến một cách không ai ngờ cũng như chuyện Hồng thuỷ thời Nôe: thiên hạ cứ mải mê với những chuyện thế tục “Người ta ăn uống, dựng vợ gả chồng, mãi đến chính ngày ông Nôe vào tàu mà người ta cũng không ngờ”.

b/ Trong Ngày ấy, số phận loài người sẽ phân thành hai hạng khác nhau: có người sẽ “được đem đi” (được tiếp nhận), nghĩa là được nhận vào hưởng tương lai hạnh phúc với Chúa, nhưng có người sẽ “bị bỏ lại”, nghĩa là không được hưởng hạnh phúc ấy (Chú ý: một số bản Việt ngữ đã dịch ngược nghĩa là “bị đem đi” và “được để lại”).

c/ Ðược tiếp nhận hay bị bỏ rơi là do người ta có chuẩn bị sẵn sàng hay không. Vì thế Ðức Giêsu kết luận: “Vậy các con phải sẵn sàng”

4. Bài đọc II (Rm 13,11-14)

Thánh Phaolô nói rằng Ngày tươi sáng đó rất gần rồi: “Giờ đây phần rỗi của chúng ta gần đến… Ðêm sắp tàn, ngày gần đến”. Và Ngài giải thích thế nào là tỉnh thức sẵn sàng:

a/ Trước hết, tỉnh thức sẵn sàng là “từ bỏ những việc làm đen tối và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu“. Nghĩa là phải tích cực chiến đấu để loại trừ sự dữ và cổ vũ cho sự thiện.

b/ Kế đó, tỉnh thức sẵn sàng là thay đổi cách sống: Hãy bỏ nếp sống cũ theo xác thịt, thể hiện trong việc ăn uống say sưa, chơi bời dâm đãng, tranh chấp ganh tị, lo lắng thỏa mãn những dục vọng xác thịt; thay vào đó bằng một cuộc sống mới theo gương Ðức Giêsu Kitô.

IV. Gợi Ý Giảng

1. Phải biết nuôi hy vọng

Alan Platon là một nhà văn Nam Phi, tác giả một quyển sách nhan đề Cry the Beloved Country trong đó ông mô tả hoàn cảnh khốn khổ của nước Nam Phi dưới chế độ phân biệt chủng tộc apartheid. Platon có một giấc mơ: ông mơ có một ngày mà mọi người dân trong đất nước của ông đều được đối xử công bình và bình đẳng. Và để thực hiện giấc mơ ấy, ông đã lao mình vào chính trị, đấu tranh suốt mấy mươi năm để xoá bỏ chế độ apartheid ấy. Nhiều người cho rằng mơ ước và việc làm của Platon là không thể nào thực hiện được. Nhưng ông vẫn kiên trì vì tin rằng ngày mơ ước ấy sẽ đến. Chỉ tiếc là ông đã chết trước khi thấy được ngày đó, nhưng lịch sử chứng minh rằng ông đã đúng.

Ngôn sứ Isaia còn có một giấc mơ táo bạo hơn nữa: Ông mơ tới ngày các nước sẽ không còn tuốt gươm chém giết lẫn nhau nữa, người ta sẽ lấy gươm rèn thành lưỡi cày, lấy giáo rèn nên lưỡi liềm, và mọi người sẽ bước đi trong ánh sáng của Chúa. Thật là một giấc mơ tuyệt vời! Có người cho rằng giấc mơ ấy sẽ đến khi Ðấng Messia đến. Người khác cho rằng nó chỉ sẽ đến khi Ðấng Messia lại đến lần thứ hai. Có kẻ nói nó sẽ chẳng bao giờ đến, đó chỉ là nằm mơ giữa ban ngày. Nhưng vẫn có người tin rằng thế nào nó cũng đến nên miệt mài theo đuổi như Alan Platon trong chuyện trên.

Một chuyện khác: Một người thợ săn nghe nói tới một con chim đặc biệt có đôi cánh rộng màu trắng rực rỡ. Ðó là con chim đẹp nhất trong các loài chim trên mặt đất. Vì thế người thợ săn không quản ngại đường xa, trèo đồi vượt suối đi tìm nó hết ngày này sang ngày khác, tháng này đến tháng nọ, năm này đến năm kia. Một lần anh đã may mắn thấy được bóng dáng nó ở một khoảng cách rất xa. Nhưng chỉ thoáng thấy là nó bay đi mất. Anh vẫn kiên trì đi tìm. Một ngày kia anh nhặt được một cọng lông trắng của nó. Rồi anh chết đi mà không bao giờ bắt được con chim mơ ước của mình.

Cuộc săn tìm của người thợ săn là hình ảnh của loài người tìm kiếm hòa bình. Giấc mơ toàn thế giới vui hưởng thái bình của Isaia có thể không thực hiện được nhưng nó không chỉ đơn thuần là nằm mơ giữa ban ngày, mà giống như một ngọn núi mà ta mơ có ngày sẽ đứng trên đó. Dĩ nhiên muốn thế thì ta không thể cứ ngồi một chỗ mà mơ, hoặc ước chi nó từ trên trời hạ thấp xuống tận chân ta. Ta phải leo, phải có chương trình và kiên trì làm theo chương trình ấy, cho dù có chậm chạp và lâu dài.

Ngay cả khi giấc mơ thái bình ấy sẽ không bao giờ được thực hiện trọn vẹn trên toàn thế giới đi nữa, thì việc theo đuổi giấc mơ ấy cũng có ảnh hưởng tốt trên đời ta. Ðiều quan trọng không phải là đạt được mục đích mà là sống có mục đích. Nhiều khi, có một mục đích tốt cho đời mình thì kể như đủ, miễn là không bao giờ ta bỏ mục đích ấy.

Thế giới ngày nay nhờ khoa học kỹ thuật tiến bộ có thể làm được hầu như mọi điều, nhưng lại bất lực không tạo ra hòa bình được: bất hòa khắp nơi, trên bình diện lớn như nước này với nước nọ, dân này với dân nọ; hoặc trên bình diện nhỏ như nhóm này với nhóm kia, người này với người khác. Mỗi kitô hữu có thể góp phần mình vào việc thực hiện giấc mơ thái bình của Isaia, bằng những cố gắng xoá bỏ óc kỳ thị, sự đố kỵ, ích kỷ, chia rẻ nhau…; bằng cách gieo rắc hòa thuận, cảm thông, hợp tác…

Chúng ta cũng nên biết rằng chúng ta không cô đơn trong những cố gắng ấy, mà có Chúa giúp ta: Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta đến nỗi sai Con Một của Ngài đến ở với loài người chúng ta, thiết lập Nước Thiên Chúa ở trần gian này, và cùng đồng hành với chúng ta trong nỗ lực leo lên đỉnh núi thái bình.

2. “Ðây là lúc chúng ta phải thức dậy”

Lời Thánh Phaolô trong bài đọc II làm cho chúng ta giật mình. Phải chăng chúng ta đang ngủ vùi?

Ðúng vậy, dù mắt chúng ta vẫn mở nhưng thực sự chúng ta đang ngủ trong bóng tối mịt mù:
– Chúng ta ngủ vì “những việc làm đen tối”
– Chúng ta ngủ vì cứ “chè chén say sưa, chơi bời dâm đãng”
– Chúng ta ngủ vì lòng đầy “tranh chấp đố kỵ”
– Chúng ta ngủ vì chỉ “lo lắng thỏa mãn những dục vọng xác thịt”.

Nhưng Thánh Phaolô nhắc nhở rằng: “Ðêm sắp tàn, ngày gần đến” và “Giờ đây, phần rỗi chúng ta gần đến, hơn lúc chúng ta mới tin đạo”, vậy “Ðây là lúc chúng ta phải thức dậy”.

– “Hãy đi đứng đàng hoàng như giữa ban ngày”
– Hãy “cầm lấy khí giới của sự sáng” để chiến đấu chống lại những sức mạnh của tối tăm tội lỗi.
– Hãy cởi bỏ con người cũ thiên về những dục vọng xác thịt để “mang lấy Ðức Giêsu Kitô”.

3. Hai người, hai số phận

“Hai người đàn ông đang ở ngoài đồng, một người được tiếp nhận, một người bị bỏ rơi. Hai người đàn bà đang xay bột, một người được tiếp nhận, một người bị bỏ rơi”.

Ðức Giêsu chỉ nói tình trạng như thế thôi chứ không nói rõ lý do tại sao. Tuy nhiên chúng ta có thể biết lý do qua câu chuyện Ngài kể về thời ông Nôe: Ông Nôe chính là người được tiếp nhận, nhờ ông đã tỉnh táo nghe được lời Chúa báo sắp có nạn Hồng thuỷ, và ông đã tích cực chuẩn bị đóng tàu. Còn mọi người khác là những kẻ bị bỏ rơi, vì họ chẳng để ý tới việc gì khác ngoài cuộc sống vật chất, “ăn uống, dựng vợ gả chồng”. Những bận tâm đó đã chiếm hết tâm trí họ rồi, còn tâm trí đâu mà để ý đến lời Chúa. Giả như ông Nôe có kể lại cho họ nghe lời cảnh báo của Chúa thì họ cũng không tin và còn cho là chuyện viễn vông, không thiết thực như chuyện “ăn uống, dựng vợ gả chồng”.

Trong cuộc sống của chúng ta, giữa những bề bộn lo lắng về vật chất, thế tục, Lời Chúa vẫn vang lên để nhắc chúng ta phải biết quan tâm đến nhiều việc khác thuộc phương diện tinh thần, phương diện siêu nhiên, phương diện đời đời… Ai tỉnh táo thì nghe được và sẽ “được tiếp nhận”, kẻ nào mãi thờ ơ thì như “đàn gãy tai trâu” và sẽ “bị bỏ lại”.

4. Chúa cấm con thất vọng

* Hãy cố gắng, dù yếu đuối ngã sa, con hãy xin Chúa thứ tha và tiếp tục tiến. Trên võ đài, trong vận động trường quốc tế, các lực sĩ cũng lắm lần ngã quỵ, bị nhiều cú đấm, bị thương tích, nhưng cứ vùng dậy, cứ hy vọng, họ đã đoạt giải vô địch quốc tế (ÐHV 971)

Cha Charles de Foucauld có để lại mấy giòng sau đây. Ðọc kỹ, con sẽ thấy phấn khởi tâm hồn và lấy lại được niềm tin, nhất là những lúc hầu như con thất vọng:
– “Dù con xấu xa, dù con tội lỗi, con cũng trông cậy vững chắc rằng con sẽ được lên trời. Chúa cấm con thất vọng về điều đó”.

– “Dù con bội bạc cách mấy, khô khan cách mấy, hèn nhát cách mấy, lợi dụng ơn Chúa cách mấy. Chúa cũng vẫn bắt con phải hy vọng được sống đời đời dưới chân Chúa trong tình thương và sự thánh thiện”.

– “Chúa cấm con ngã lòng trước sự khốn nạn của con. Chúa không cho con nói ‘Tôi không thể đi tới được, đường lên trời khó khăn quá, tôi phải thụt lùi và trở xuống chỗ thấp'”
– “Trước những sa ngã trở đi trở lại của con, Chúa lại cấm không cho con nói: ‘Tôi không hề sửa mình được, tôi không có sức để nên thánh, tôi không xứng đáng để vào thiên đàng…'”

– “Vậy Chúa muốn con phải trông cậy Chúa luôn, vì Chúa ra lệnh và vì con phải tin ở tình thương và quyền năng của Chúa” (ÐHY NVT, Trên đường lữ hành)

5. Thức dậy

Ở Mêhicô, giáo phận của Ðức Cha Samuel Ruiz có tới 80% giáo dân là người da đỏ bản xứ. Bản thân ngài nổi tiếng là người bênh vực cho dân da đỏ. Nhưng không phải tự nhiên mà ngài làm được việc đó đâu. Trong một buổi nói chuyện ở Nhà thờ Chính tòa Westminster Mùa Chay 1996, ngài đã thố lộ tâm sự như sau: “Suốt 20 năm làm giám mục giáo phận này, tôi như một con cá đang ngủ, nghĩa là mắt vẫn mở nhưng chẳng thấy gì. Tôi còn hãnh diện vì giáo phận có nhiều nhà thờ và giáo dân đông đúc. Rồi một hôm tôi gặp cảnh một người da đỏ bị trói vào một thân cây và bị ông chủ dùng roi quất túi bụi vì lý do người này không chịu làm thêm 8 giờ phụ trội nữa.” Chính cái biến cố đó đã làm cho Ðức Cha Samuel Ruiz “thức dậy”. Từ đó trở đi, ngài hăng hái tranh đấu cho quyền lợi người da đỏ.

Chuyện trên cho ta thấy hai điều: 1/ Thiên Chúa có nhiều cách để kêu gọi người ta thức dậy; 2/ Và cũng có nhiều cách thức dậy: thức dậy về thể xác (thôi ngủ), thức dậy về xã hội, thức dậy về đạo đức v.v.

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

Chủ tế: Anh chị em thân mến,

Mùa Vọng, mùa Xuân của năm phụng vụ, là thời gian chuẩn bị đón mừng Ðức Kitô, Con Thiên Chúa đến lần thứ nhất với loài người, vừa hướng lòng trông đợi Người đến lần thứ hai trong ngày tận thế. Trong niềm khát khao trông chờ Chúa ngự đến, chúng ta cùng tin tưởng nguyện xin.

1. Hội Thánh được Chúa Giêsu thiết lập / và trao ban sứ mạng rao giảng mọi nước mọi dân biết Thiên Chúa là Tình yêu. / Người yêu thương và muốn cứu độ hết thảy mọi người. / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho Hội Thánh / luôn làm tròn sứ mạng cao quý nhưng hết sức khó khăn này.

2. Khát vọng sâu xa nhất của con người thời nay / là được sống trong hòa bình và thịnh vượng. / Nhưng chiến tranh vẫn bùng nổ ở nhiều nơi trên thế giới / gây ra biết bao cảnh tang thương. / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho lòng bác ái yêu thương thâm nhập mọi sinh hoạt trần thế / để mọi người biết thương yêu và tôn trọng nhau hơn.

3. Thánh Phaolô kêu gọi: / “Hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày / không chè chén say sưa / không chơi bời dâm đãng / cũng không cãi cọ ghen tương” / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho những ai tin Chúa / biết luôn ghi nhớ và thực hiện lời mời gọi của vị tông đồ dân ngoại / để có thể trở nên muối ướp mặn đời / và ánh sáng chiếu soi trần gian.

4. Ðức Giêsu nhắc nhở các môn đệ: / “Anh em hãy canh thức / vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến”. / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết luôn sẵn sàng đón Chúa ngự đến / bằng một đời sống sốt sắng thờ phượng Chúa và chan hòa tình bác ái yêu thương.

CT: Lạy Chúa, vì yêu thương thế gian, Chúa đã ban Con Một xuống thế làm người, sống kiếp phàm nhân, nên giống chúng con trong mọi sự, trừ tội lỗi. Xin cho tất cả chúng con thiết tha trông chờ Con Chúa ngự đến, biết chuẩn bị xứng đáng tâm hồn, để đón mừng mầu nhiệm Giáng sinh cao cả. Chúng con cầu xin…

(Phần “Lời nguyện cho mọi người” của Năm A này được trích từ Báo Công giáo và Dân tộc, số đặc biệt Giáng sinh năm Phụng vụ A, 1998-1999)

VI. TRONG THÁNH LỄ

– Nên dùng Kinh nguyện Thánh Thể 3, nhấn mạnh một số nơi:

. Sau lời tung hô sau truyền phép: “Vì vậy lạy Cha, giờ đây chúng con tưởng nhớ… đồng thời mong đợi Người lại đến, chúng con dâng lên Cha hy lễ hằng sống và thánh thiện này…”

. Sau truyền phép, đoạn 4: “Lạy Cha, xin cho hy lễ hòa giải này… Còn những con cái Cha đang tản mát bốn phương trời, xin thương quy tụ tất cả về với Cha…”

Trước Kinh Lạy Cha: Trong niềm hy vọng về một tương lai tốt đẹp “danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”, chúng ta hãy sốt sắng dâng lên Thiên Chúa là Cha chúng ta lời kinh Lạy Cha sau đây:

Chúc bình an: Ngôn sứ Isaia đã mơ đến ngày thế giới không còn chiến tranh, người ta sẽ lấy gươm giáo rèn thành lưỡi hái lưỡi cày. Chúng ta hãy chúc cho nhau được bình an và trở thành những người xây dựng hòa bình cho cuộc sống.

Trước lúc rước lễ: “Ðây Chiên Thiên Chúa, Ðấng đã đến xóa tội trần gian và sẽ lại đến thăm viếng chúng ta, phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa”.

VII. GIẢI TÁN

Dùng công thức ban phúc lành cuối lễ long trọng của Mùa Vọng (Sách lễ Rôma, xuất bản 1992, trang 575)

[Mục Lục]

Bài 14. Niềm tin yêu phó thác
Lm. Antôn Nguyễn Văn Tiếng

CON THUYỀN KHÔNG BẾN

Trong một lớp giáo lý Rước Lễ Trọng Thể, khi được hỏi: “Con tàu No-ê đã trôi về đâu”, một em học viên tuổi vào đời đã trả lời nhanh: “Dạ, nó trôi lênh đênh như con thuyền không bến”.

Hay! Giữa trời biển bao la, còn đâu là bến bờ, câu trả lời thật thơ mộng và chính xác!

Nhưng đó chỉ là hình ảnh được hiểu theo kiểu “người trần mắt thịt”, thấy sau biết vậy. Con thuyền No-ê không trôi vô định, phó mặc dòng đời tùy hên xui may rủi, kiểu “con thuyền không bến” của người đời: “cũng liều nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần đến đâu”. Con thuyền No-ê đã được tạo thành có mục đích, nó trôi nổi giữa dòng đời theo mục đích, và sẽ dừng lại đúng mục đích.

Đó là một cuộc hành trình có khởi điểm, có lộ trình, và có điểm đến. Đó là một cuộc hành trình do Thiên Chúa hoạch định. Đó là ơn gọi vì yêu thương.

Bến cũ không còn an toàn, Thiên Chúa muốn ông No-ê rời bỏ nơi ấy, để đến bến bờ mới của sự sống, nơi sẽ là Trời Mới, Đất mới – một Thế Giới Mới. No-ê đã vâng lời. Ông tin những gì Thiên Chúa nói. Ông vâng phục những gì Thiên Chúa dạy. Ông phó thác mọi sự trong chương trình của Thiên Chúa.

Nên, giữa trời biển bao la, vẫn có một bến bờ mà nếu không có đôi mắt đức tin không thể nào thấy được, đó là bến bờ vô hình đang chờ đợi “con thuyền không bến” của No-ê cập bến: – bến bờ sự sống mới.

Như vậy, cuộc hành trình của con tàu No-ê là một cuộc hành trình hy vọng. Hy vọng những điểu tốt lành Thiên Chúa sẽ trao ban như lời Ngài đã hứa.

CHỜ ĐỢI VÀ HY VỌNG

Chờ đợi luôn chứa đựng hy vọng. Hy vọng đòi hỏi đợi chờ. Có những người tự tử vì họ không còn hy vọng. Họ không còn gì để đợi chờ. Có những người đầy nghị lực vượt gian khổ, vì họ luôn hy vọng điều tốt lành đang ở phía trước. Họ kiên nhẫn đợi chờ. Họ đợi chờ trong hy vọng.

Tháng ngày lênh đênh trên sóng nước bao la của con tàu No-ê là cuộc hành trình chờ đợi trong hy vọng. Mong đợi thấy được ánh mặt trời của ngày mới rực sáng trên mặt đất hồi sinh.

Đó là Mùa Vọng của con tàu Nô-ê. Mùa Vọng của những người luôn được Chúa yêu mến và luôn biết yêu mến Chúa. Những người luôn tỉnh thức để trung thành với niềm tin yêu vào Thiên Chúa.

Muốn có được niềm hy vọng, người ta luôn phải phấn đấu. Không ai đạt được mục đích mà chỉ “nằm há miệng chờ sung”. Để trung thành với niềm tin yêu vào Thiên Chúa đòi hỏi con người luôn nổ lực để tự hoàn thiện bản thân. Phải có hy sinh, đau đớn, khổ luyện, con người mới vươn lên được. “Ngọc kia chẳng giũa chẳng mài. Cũng thành vô dụng, cũng hoài ngọc đi”.

Cuộc sống chỉ để thỏa mãn những thú vui thấp hèn. Theo đuổi những giá trị nhất thời. Hưởng thụ những thứ phàm tục thoáng qua. Buông thả theo bản năng. Mất phương hướng đời người. Không còn cảm nhận được những giá trị cao cả lâu bền. Cuộc sống ấy sẽ thật sự chấm hết trong thế giới tan biến phù hoa ảo ảnh. Vì cuộc sống ấy không nối kết được với nguồn sống vĩnh cửu là Thiên Chúa. “Thời ông Nô-ê thế nào, thì con người quang lâm cũng sẽ như vậy. Vì trong những ngày trước nạn hồng thủy, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nô-ê vào tàu. Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thủy ập tới cuốn đi hết thảy. Ngày con người quan lâm cũng sẽ như vậy”. (Mt.24,37-39).

VÀO GIỜ PHÚT KHÔNG NGỜ…

Ở quê tôi, không nhớ rõ năm nào, chỉ biết là trước năm 1975, người ta báo tin một chiến sĩ tên Sang tử trận. Phải mất gần ba ngày sau, gia đình người thân mới đi lãnh xác về được trong chiếc quan tài được hàn chì bên trong cẩn thận.

Thật khó mà tả được hình ảnh người mẹ đau khổ. Bà ôm chiếc quan tài và tha thiết xin được nhìn mặt con lần cuối, nhưng không ai đáp lại nguyện vọng của bà. Vì ai cũng hiểu: chẳng còn hình thù gì nữa để nhìn. Người ta giữ lại chiếc quan tài một đêm để cầu lễ và dự định ngày hôm sau thánh lễ an táng sẽ cử hành lúc 2 giờ chiều.

Buổi sáng ngày dự định chôn cất, lúc ấy khoảng 8g, khi người mẹ còn đang thỉnh thoảng bước lại nhìn di ảnh đứa con trai cưng của mình, thắp vài nén hương trong nước mắt, thì một người ở ngoài đường hối hả chạy vào nhà báo tin: “Mẹ ơi, người ta điện về xã cho biết tên Sang đó không phải là người ở xã của mình, ở nơi khác. Mẹ ơi, anh Sang còn sống! Mẹ ơi, anh Sang còn sống!”.

Người mẹ đứng chết trân, ngỡ ngàng, không biết mơ hay thực, nước mắt tiếc thương chưa kịp khô, những giọt nước mắt vui mừng trào trào ra tuôn dòng trên đôi má nhăn nheo.

Ngay ngày hôm sau, người ta cho anh Sang về phép. Có lẽ ai đó có trách nhiệm trong việc lầm lẫn tai hại này muốn chuộc lại lỗi lầm chăng. Hay muốn bảo đảm chắc chắc rằng người nằm trong quan tài kia không phải là Sang ở gia đình này. Sau đó, người ta đem chôn tạm chiếc quan tài kia ở phía sau ruộng. Gần một tháng sau mới có thân nhân đến tìm mộ.

Mấy ngày sau, tôi đến thăm người mẹ đó. Bà nói câu nào cũng khóc. Khóc rồi cười. Cười rồi lại khóc. Đó là thứ ngôn ngữ diễn tả niềm vui quá sức lớn lao đến mức người ta có thể điên lên được vì hạnh phúc đến quá bất ngờ. Thật không ngờ! Tôi cứng rắn lắm, vậy mà cũng khóc. Tôi khóc vì cảm động trước lòng mẹ…

Ôi, sự sống quý trọng biết bao và là khát vọng muôn thuở của con người!

Tôi chợt nhớ đến hình ảnh của Chúa Giê-su đã xúc động trước đám tang của con trai bà góa thành Na-im (Lc.7,11-17). “Trông thấy bà Chúa chạnh lòng thương và nói: ‘Bà đừng khóc nữa’”. Niềm hạnh phúc của bà mẹ này chắc chắc rất lớn lao và thật không ngờ. “Người chết liền ngồi lên và bắt đầu nói. Đức Giê-su trao anh ta cho bà mẹ”.

Niềm vui ấy không chỉ riêng của bà mẹ thành Na-im và bản thân người chết, mà còn là niềm vui của mọi người. Đó là nỗi khắc khoải chờ mong của mọi người, của kiếp nhân sinh. “Mọi người đều kinh sợ và tôn vinh Thiên Chúa rằng: ‘Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người ’”. (Lc.7,16).

Đó là niềm vui lớn nhất mà chúng ta chờ đợi. Đó là hy vọng mà chúng ta ấp ủ trọn cả kiếp người.

Cuộc đời của chúng ta có rất nhiều điều không ngờ. Chúng ta là thân cát bụi mà Chúa đã yêu thương chúng ta đến mức không ngờ. Ngài tha thứ chúng ta đến mức không ngờ. Ngài là Thiên Chúa mà chọn cái chết vì chúng ta thật không ngờ. Ngài sẽ đến vào ngày không ngờ. Ngài sẽ đem lại cho chúng ta niềm hạnh phúc không ngờ.

Chỉ có điều, ta đáp lại tình Ngài như thế nào qua cách sống của chúng ta. Nếu ta bước đi vững vàng trong niềm tin yêu Thiên Chúa. Nếu ta biết lắng nghe Lời Chúa. Nếu ta biết chọn lựa những gì thuộc về Chúa. Nào ta còn sợ gì lạc lối. Mặc cho cuộc đời có đổi thay. Sóng gió tư bề bao phủ. Chuyện kinh thiên động địa tràn lan, ta chẳng hề sợ đến “hồn xiêu phách lạc”, vì ta tin vững Thiên Chúa không hề bỏ rơi những ai trung thành và hằng kêu cầu đến Thánh danh Ngài. “Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và hãy ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu độ” (Lc.21.28).

Có một chút màu trắng trinh nguyên,

Có một chút màu đen bóng tối,

Có một chút màu xanh hy vọng,

Có một chút màu đỏ tình yêu.

Đan quyện lấy nhau.

Pha trộn vào nhau.

Để cho ra màu tím.

Màu Tím Mùa Vọng.

Màu của đợi chờ.

Lạy Chúa,

Cho con cúi xuống, chẳng dám nhìn lên,

Dòng lệ ăn năn khóc đời lầm lỡ.

Cho con ngước lên, dòng lệ òa vỡ,

Trông chờ Chúa thương cứu chuộc đời con. Amen.

[Mục Lục]

Bài 15. Âm vang mùa vọng
Lm. Giuse Lê Quan Trung

Thiên tai, địch họa, bão lũ, cuồng phong trong thời gian gần đây đã gieo bao tai ương! Đã gây bao đổ vỡ! Đã cướp bao sinh mạng! Đã vùi bao mái ấm! Tại trời? Tại đất? Tại đời?

Cuộc sống ngày càng mang tới nhiều nơm nớp lo âu: bạo hành từ gia đình! Bạo lực nơi học đường! Bạo ngược trong cuộc sống! Bạo thiên nghịch địa mất hết nghĩa nhân! Tại Trời? Tại đất? Tại đời?

Đạo đức ngày càng thêm tuột dốc! Nhân cách ngày càng lúc nhạt phai! Lọc lừa ngày một thêm táo tợn! Tình đời ngày tráo trở liên hồi! Nào phải tại trời! Đâu phải tại đất! Cũng chẳng tại đời! Mà tại lòng người không thích lắng nghe lời hay, không muốn đi vào đường thiện, không cùng hòa nhịp yêu thương!

Tất cả những điều bất hạnh ấy đã được vị Mục Tử nhân lành Giêsu cảnh báo từ ngàn xưa: “Hãy tỉnh thức!”(Lc 21,36); “ Sẽ có những điềm lạ trên trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẻ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét”(Lc 21,25).

“Hãy tỉnh thức”: – để sống cho ra sống, sống có mục đích, có lý tưởng, cố gắng hoàn thiện đời mình!

“Hãy tỉnh thức”: – để tỉnh táo phân biệt chính- tà; tội- phước; cố gắng thoát kiếp “con”để sống đẹp kiếp “người”!

“Hãy tỉnh thức”: – để làm vui lòng cha, để làm mát dạ mẹ, để gia đình luôn là bến đậu vững chắc trước bão đời đang vùi dập tình thân huyết thống; đang phá tan đạo Hiếu gia phong; đang hủy hoại nếp đời nếp đạo.

Lũ lụt miền trung

Bởi từ lòng tham không đáy, mà chính mình đã gây họa cho nhau: rừng không còn bóng râm ươm mát, giữ nước chặn nguồn, nên lũ trôi nước cuốn là lẽ đương nhiên! Những dãy núi xanh thẫm bị khai thác vô tội vạ, còn biết lấy đâu ra bức bình phong ngăn cơn thịnh nộ của cuồng phong, nên đồi sạt đá lở nào phải tại trời? Nếu đủ tỉnh thức, bao dòng sông đã không ô nhiễm! Bao khí trời đâu mất tinh khôi! Bao kiếp người đâu vương nhiều mầm bệnh!

Do từ lòng tham không đáy, mà chính mình đã giết chết đời nhau: bao cô gái chàng trai, bỗng trở thành món hàng bị bán buôn, trao đổi, bị xóa đi nhân phẩm một thời! Danh- Lợi- Thú đã giết chết đường tương lai rạng rỡ. Đam mê, dục vọng, bạc tiền, quyền lực đã dìm chết bao lứa tuổi mộng mơ!

Rồi cũng từ lòng tham không đáy, nơi được gọi là rèn đúc nền tảng đạo đức làm người, đã đâm thủng cái tâm của bao nhà giáo chân chính: loạn học đường cũng do thiếu Tỉnh Thức từ đầu. Nỗi đau này ai gánh, ai mang?

Mùa Đông se lạnh đang về. Mùa Vọng chờ mong một cuộc hoán chuyển lòng người đã tới. Có mấy ai muốn nghe lời nhắn nhủ đầy yêu thương của Đấng muốn ban mầm sống vĩnh cửu cho mình: “Hãy tỉnh thức đi con! Hãy quay về đi con! Hãy can đảm đi đến tận cùng của sự lột xác, để đời không còn bị trói buộc trong ganh tỵ, trong thù hận, trong ghen tương, trong tính toán tom góp vật chất mà quên rằng: cuộc sống này rồi cũng qua đi nhưng điểm dừng đâu chỉ là cái chết! Nếu nghĩ vậy, con chỉ mới đi hết phần “con” chứ đâu đã hưởng trọn vẹn phần “người”!

Nếu sống phút giây hiện tại như giây phút cuối đời mình: Chắc không mấy ai mãi mê chạy theo danh vọng!

Nếu sáng thức dậy mà biết hoàng hôn chưa xuống thì cuộc đời mình sẽ không thấy ngày mai: chắc chẳng mấy ai đắm chìm trong biển vàng rừng bạc!

Nếu sống mà tỉnh thức như thế, tận thế hay không cũng chẳng còn là nỗi âu lo! Cuộc sống mỗi ngày sẽ trở nên niềm vui hạnh phúc! Nỗi lo lắng cơm- áo- gạo- tiền không còn là gánh trĩu nặng trên vai!

Chúa không cảnh báo, răn đe, mà Chúa đang khuyên nhủ, đang mời gọi, đang mở đường để ta không phải lệch đường, sai lối trên con đường lữ hành hoàn thiện kiếp người! Âm vang đầy yêu thương ấy; lời mời gọi đầy ân tình ấy; có phút nào ta mở rộng tim mình để cảm nhận, để đáp trả, để Chúa có thể vào trú ngụ không đây?

[Mục Lục]

Bài 16. Chúa sẽ đến cho con người hạnh phúc
Lm Jos Phạm Thanh Liêm

Mùa vọng là thời gian chờ mong Chúa đến. Kitô hữu không còn chờ Chúa sinh lại trong máng cỏ hang lừa, nhưng chờ mong Chúa đến trong vinh quang để giải phóng trọn vẹn con người, cho con người được sống vĩnh cửu với Thiên Chúa.

1) Không có hạnh phúc trọn vẹn nơi cuộc đời chóng qua này

Thế gian này không phải là nơi ngập tràn hạnh phúc. Nghèo đói, bệnh tật, làm cho con người đau khổ. Không phải những người nghèo, vì bản thân bị đói nên họ cảm thấy khổ. Cái nghèo của bản thân, còn kéo theo những hậu quả xảy đến cho những người thân như con cái, cha mẹ, anh em. Cái nghèo khổ thể xác, đôi khi kéo theo cái nghèo khổ về tinh thần.

Những thất bại trên đường đời, thất bại trên đường tình (yêu mà không được đáp trả), thất bại về công danh sự nghiệp, cũng làm con người chán nản và đôi khi không muốn sống. Đời người tuy có những lúc hạnh phúc nhưng cũng nhiều vất vả, gian nan và đau khổ.

Cái chết, làm người ta phải xa lìa những người thân yêu, và nó cũng là một điều làm con người đau khổ. Có ai muốn xa người mình thương yêu, có ai an lòng khi phải xa những người thân yêu của mình, mà mình biết nếu thiếu vắng mình người đó sẽ bị đe doạ hay nguy hiểm. Cái chết làm người ta phải xa lìa những người thân yêu mà không ai cản được.

Những áp bức bất công thường xảy đến với con người. Những bất công xã hội và chiến tranh chết chóc vẫn đang tiếp diễn. Tất cả những điều này làm con người đau khổ. Ai giúp con người thoát cảnh súng đạn chết chóc và sống trong an bình? Ai giúp mang lại công bằng cho những người này? Ai có thể mang lại hạnh phúc bền vững cho con người?

2) Ơn cứu độ nơi Thiên Chúa

Cái chết làm con người khổ, vì thế con người mong có thuốc trường sinh bất tử. Con người ngày nay như muốn tìm trường sinh bất tử nơi “cloning”, nhưng “cloning” lại làm nảy sinh bao nhiêu điều đáng lo sợ. Trong cuộc sống có nhiều người “tàng tàng” đã sát hại bao người khác. Con người mới chỉ “cloning” được thân xác, nhưng đâu “cloning” được tinh thần. Con người được “cloning” này với bao yếu tố tâm lý ảnh hưởng, có chắc gì những người đó là những người bình thường, biết đâu những người đó có thể là mối đe dọa cho xã hội con người. Liều thuốc trường sinh còn xa vời với con người hôm nay. Hơn nữa, ngay cả người được sống hoài, có thể sau một thời gian sống lâu, cũng cảm thấy chán và muốn chết. Câu chuyện tưởng tượng một người được thuốc trường sinh bất tử nên sống hoài khi những người thân cùng thế hệ chết, rồi con cháu của người đó cũng chết; rồi cứ thế mãi cho đến một ngày người đó cảm thấy cô độc, và rồi cảm thấy sống hoài lại là nỗi khổ. Sau cùng, người đó lại ao ước được chết như tất cả mọi người. Phải chăng con người chỉ muốn sống, khi cuộc sống hạnh phúc? Phải chăng hạnh phúc không chỉ hoàn toàn nằm trong tầm tay con người? Ai có thể cứu độ con người? Ai có thể đong đầy ao ước hạnh phúc của con người?

Con người chỉ tìm thấy nơi Thiên Chúa niềm hy vọng giải phóng trọn vẹn con người, làm con người hạnh phúc vĩnh cửu. Bài đọc I cho thấy ao ước của người xưa về thời cánh chung, thời đó người ta không còn chém giết đánh nhau nữa. Sở dĩ vậy vì người ta tin vào Thiên Chúa, người ta sống theo ánh sáng của Thiên Chúa. Cũng với tinh thần này các tín hữu mong chờ ngày Chúa trở lại trong vinh quang, để giải phóng trọn vẹn con người.

Ngày Chúa tới trong vinh quang, là ngày Ngài tới để cứu độ con người, ngày Ngài giải phóng con người trọn vẹn, cả về tinh thần lẫn thân xác. Ngày đó con người sẽ sống lại, và người lành được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Thiên Chúa. Ngày đó, sách Khải Huyền diễn tả, có trời mới đất mới. Sẽ không còn chết chóc, không còn khóc lóc nữa. Con người sẽ được hạnh phúc trọn vẹn và vĩnh cửu.

3) Sống trọn vẹn đời này

Bài đọc II thánh Phaolô khuyên bảo tín hữu vì không biết khi nào mình chết, nên hãy từ bỏ những công việc đen tối, đừng chiều theo những đòi hỏi của xác thịt. Tuy dù đời này chỉ là “đời tạm” nhưng con người được mời gọi để sống trọn vẹn thời gian của cuộc đời này một cách tuyệt vời.

Trở về với Thiên Chúa là Cha và cùng đích của mình. Tâm niệm và xác tín Thiên Chúa yêu thương mình. Phó thác đời mình cho Thiên Chúa. Cố gắng hoàn thiện và sống hạnh phúc trong từng giây phút của đời mình. Chấp nhận những gì xảy ra sau khi đã cố gắng hết sức để làm theo điều mình thấy tốt nhất. Tha thứ những gì người khác xúc phạm đến mình ngay cả khi họ không nhận lỗi. Cố gắng làm cho đời này tươi đẹp hơn, làm cho người khác vui hơn và hạnh phúc hơn, bằng cách yêu thương và tươi cười với họ, giúp đỡ họ khi họ cần.

Thánh Thần của Đức Yêsu đang ở với con người. Chính Thánh Thần sẽ giúp con người sống trọn vẹn từng ngày khi mong chờ ngày Đức Yêsu trở lại trong vinh quang.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ:

1. Thật lòng mà nói, bạn có mong ước Chúa đến không? Tại sao?

2. Ngày Chúa đến trong vinh quang, con người được gì?

3. Bạn cần làm gì trong thời gian chờ mong Ngài đến? Điều bạn nói, có thể thực hiện được không?

[Mục Lục]

Bài 17. HY VỌNG
Lm Mark Link, S.J.

Một trận động đất khủng khiếp đã chôn vùi 30,000 người ở Armenia vào năm 1989. Không lâu sau khi thảm họa xảy ra, một người cha chạy đến trường của đứa con và ông rụng rời nhìn thấy ngôi trường hoàn toàn sụp đổ.

Nhớ đến vị trí lớp học của đứa con là ở một góc trường, ông chạy đến đó và bắt đầu đào xới, với hai bàn tay ông lôi ra những mảng gạch vụn.

Các phụ huynh khác, đang đứng than khóc gần đó, tìm cách ngăn cản ông, họ nói, “Trễ quá rồi! Tất cả chúng nó đều chết hết! Trễ quá rồi!” Ngay cả cảnh sát cũng tìm cách can gián ông. Nhưng ông tiếp tục đào xới.

Ông đào trong 36 giờ đồng hồ không ngừng nghỉ. Vào giờ thứ 38 ông nghe có tiếng nói. Ông la lên, “Armand!”. Tiếng đứa con trai gọi lại, “Bố!”

Sau đó là một cuộc đối thoại lạ thường. Đứa con trai la lên từ đống gạch vụn: “Bố ơi! Có 14 đứa chúng con ở đây. Con nói tụi nó là đừng có lo. Con nói với tụi nó là bố sẽ đến.”

Khi người ta nghe tiếng của Armand, họ cùng với người cha đào xới. Trong vòng nhiều phút sau đó, tất cả 14 đứa con trai được cứu sống. Chúng được bình an, chỉ sợ hãi, đói và khát một chút.

Khi tòa nhà đổ xuống, căn phòng chúng ở thì sập xuống thành hình tam giác, giữ cho chúng khỏi bị đè bẹp (trích từ câu chuyện của Mark V. Hansen trong cuốn Chicken Soup for the Soul).

Có nhiều cách để nhìn vào câu chuyện lạ thường này. Tỉ như, chúng ta có thể nhìn từ quan điểm của dân chúng và cảnh sát.

Khi họ nhìn thấy tòa nhà sụp đổ, họ mất tất cả hy vọng, họ không tin rằng bất cứ ai có thể sống sót.

Hoặc chúng ta có thể nhìn từ quan điểm của người cha của Armand. Ông thấy tòa nhà vụn vỡ nhưng ông không mất hy vọng, ông tin rằng con ông có thể còn sống.

Sau cùng, chúng ta có thể nhìn từ quan điểm của 14 đứa trẻ bị kẹt trong đống gạch vụn của tòa nhà.

Chúng không bao giờ mất hy vọng, phần lớn là vì niềm tin lì lợm của Armand, nó tin rằng cha của nó sẽ đến giải cứu.

Từ quan điểm của các học sinh, câu chuyện này là một minh họa tuyệt vời cho câu chuyện Mùa Vọng.

Trước khi Đức Giêsu giáng lâm, dân chúng Israel ở trong một hoàn cảnh tương tự như 14 học sinh.

Họ bị giam hãm trong một thế giới suy sụp về luân lý và tinh thần. Tất cả những gì họ có thể làm là chờ đợi trong tăm tối, hy vọng sẽ có sự cứu thoát.

Nhờ các ngôn sứ như Isaia, trong bài đọc một hôm nay, họ giữ vững đức tin. Ngôn sứ Isaia luôn nói với họ là hãy tin tưởng vào Cha trên trời, cũng như Armand luôn nói với chúng bạn rằng hãy tin tưởng vào cha của nó.

Nhiều người ngày nay cũng giống như các cha mẹ than khóc đứng chung quanh ngôi trường sụp đổ sau trận động đất.

Họ thấy thế giới chúng ta trong một tình trạng suy sụp về luân lý và tinh thần. Họ không nhìn thấy gì khác hơn là cả một núi tội ác, chiến tranh, ma túy, thối nát, và không tôn trọng mọi hình thức sự sống. Họ bỏ cuộc và chỉ đứng nhìn, than khóc cho hoàn cảnh.

Cũng có những người, giống như các học sinh, bị giam trong một núi gạch vụn. Quả thật họ trong một hoàn cảnh tuyệt vọng. Điều duy nhất đem cho họ hy vọng là đức tin lạ thường của những người, giống như em Armand.

Sau cùng, có những người như cha của Armand. Họ cũng nhìn thấy một đống suy sụp về luân lý và tinh thần, nhưng họ không bỏ cuộc.

Hãy để ý đến một thí dụ thật hay của một trong những người này.

Mẹ của Bs. Ben Carson lớn lên trong hoàn cảnh nghèo nàn tồi tệ ở Detroit. Chồng bà từ bỏ bà khi Ben tám tuổi.

Bà thấy hai mẹ con bị kẹt trong một sự suy sụp về luân lý và tinh thần của thế giới chung quanh. Nhưng thay vì tuyệt vọng, bà bám víu lấy tia sáng đức tin nơi Thiên Chúa, sâu thẳm trong linh hồn của bà.

Tia sáng đức tin đó đã đem cho bà sức mạnh để làm ba công việc ít lương cùng một lúc để sống còn.

Trong hoàn cảnh đó, bà tìm chút thời giờ để khích lệ Ben, bà nói, “Con có thể trở nên bất cứ gì con muốn, nếu con tin rằng Chúa sẽ giúp con, nếu con tự giúp chính mình.”

Được khích lệ bởi lời của mẹ, Ben đã thi hành đúng như vậy.

Ngày nay, Bác Sĩ Ben Carson là một trong những bác sĩ não khoa hàng đầu quốc gia và cũng là tiếng nói hy vọng hàng đầu của ngành y khoa này.

Nói với các học sinh trung học ở trường cũ của ông, bác sĩ Ben nói:

Hãy nghĩ đến điều vĩ đại! Hãy đặt tầm nhìn thật cao như ngọn Everest. Không ai được sinh ra để thất bại.” (Câu chuyện Carson, trích từ Christopher News Notes, February 1993)

Câu chuyện của Armand và người cha, câu chuyện của Isaia và dân Israel, câu chuyện của Ben và người mẹ là những tia hy vọng cho thế giới ngày nay, là nơi nhiều người mất hy vọng.

Những câu chuyện này mời chúng ta hãy trở nên tiếng nói hy vọng cho thế giới ngày nay. Và nền tảng cho niềm hy vọng đó được tìm thấy nơi đức tin của chúng ta vào Chúa Giêsu – một niềm tin mà chúng ta tuyên xưng trong mỗi Thánh Lễ khi chúng ta cầu nguyện rằng:

Chúa Kitô đã chết!
Chúa Kitô đã sống lại!
Chúa Kitô sẽ lại đến.

Đó là ý nghĩa của Mùa Vọng. Đó là đừng mất hy vọng.

Đó là hãy tin tưởng, dù có tăm tối và tuyệt vọng thế nào đi nữa.

Đó là về niềm tin nơi Chúa Giêsu, là người đã đến thế giới của chúng ta cách đây 2,000 năm, đã sống, đã chết, đã sống lại và đã hứa là sẽ trở lại vào cuối thời gian.

Và khi Đức Giêsu trở lại, chúng ta sẽ nghe cùng một tiếng nói mà tác giả sách Khải Huyền được nghe gần 2,000 năm trước khi ông viết:

Tôi nghe từ phía ngai có tiếng hô to: “Ðây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại, Người sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên Chúa ở cùng họ.

Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ biến mất” (Kh 21:4).

Đây là thông điệp hy vọng trong các bài đọc hôm nay.

Đây là thông điệp hy vọng mà chúng ta cử hành trong mùa Vọng.

Đây là thông điệp hy vọng mà chúng ta tuyên xưng cho toàn thế giới khi chúng ta nói:

Chúa Kitô đã chết!
Chúa Kitô đã sống lại!
Chúa Kitô sẽ lại đến.

[Mục Lục]

Bài 18. Không ai biết được giờ nào
Lm Phaolô Nguyễn Văn Đông

Lời Chúa hôm nay loan báo một xã hội mới sắp xuất hiện, và mời gọi chúng ta hãy tranh thủ đi vào để khỏi bị lọai. Xã hội bình an và công chính phải bắt đầu từ chính tâm hồn con người. Mùa Vọng là thời gian Giáo Hội chuẩn bị đón Đức Ki tô trở lại trong cuộc đời của mỗi người chúng ta.

Sách Tiên tri Isaia (2, 1-5)

Hai thế kỉ trước Chúa Giê su, Giêrusalem là một thủ đô không có tiếng tăm của một đất nước nghèo khổ vì chiến tranh. Tiên tri loan báo rằng Giêrusalem sẽ tìm lại vinh quang của mình nếu toàn dân hướng về Chúa. Và thành thánh sẽ trở thành trung tâm của vũ trụ đổi mới.

Thánh vịnh 121

Đây là Thánh vịnh hành hương được cất lên trong niềm vui tiến vào Thành Thánh. Đó là biểu tượng của thế giới hoàn hảo mà tất cả mọi người mơ ước. Thế giới bình an và công chính, là điều mà ai trong chúng ta cũng đều có bổn phận phải thiết lập.

Thư Rôma (13, 11-14a)

Các ki tô hữu đầu tiên đã tin rằng nay mai Đức Ki tô sẽ trở lại. Trong đoạn nầy, Thánh Phao lô nhấn mạnh rằng chương trình của Thiên Chúa đã được thực hiện qua sự thay đổi tâm hồn của con người đã khám phá ra mối tương quan đúng đắn với Thiên Chúa của mình. Mặc lấy Đức Ki tô chính là thực hiện trong cuộc đời mình điều mà Tin mừng dạy cho chúng ta về Ngài.

Tin mừng: Mt 24,37-44

NGỮ CẢNH

Đọan tin mừng nầy nằm trong chương 24 tin mừng Mt là diễn từ cánh chung. Trong phần đầu (cc.1-36), Chúa Giê su nhấn mạnh việc Con Người chắc chắn sẽ đến và đến một cách tỏ tường, dù có nhiều người giả dạng thiên sai và ngôn sứ, do đó đừng hoang mang, sẽ có những dấu hiệu chắn chắn báo trước.

Với cc. 37-41, tin mừng chuyển sang một ý tưởng khác. Nếu Con Người đến một cách rõ ràng, thì biến cố ấy lại xảy ra một cách đầy bất ngờ, không ai có thể biết trước. Chúa Giê su nhắc lại câu chuyện Noê nhằm minh hoạ ý tưởng ấy.

Có thể đọc đoạn tin mừng theo bố cục như sau:

1. So sánh với Đại Hồng Thuỷ (4,37-41).

2. Dụ ngôn tên trộm ban đêm (42-44)

TÌM HIỂU

Noê: mục đích của việc so sánh nầy không nhằm gây bất an cho các tín hữu, nhưng để mời gọi họ, vì không biết chắc chắn ngày giờ Chúa đến, phải có thái độ hợp lí là tỉnh thức để không bị bất ngờ khi biến cố xảy đến.

Quang lâm: Mt là tác giả duy nhất trong bốn tác giả Tin Mừng dùng từ quang lâm để chỉ việc Chúa Giê su trở lại (24,3.27.37.39). Nguyên thuỷ, từ nầy có nghĩa là “đến, hiện diện”. Trong thế giới La Hy, từ nầy được dùng để chỉ việc Hoàng đế long trọng ngự đến hay chính thức viếng thăm thành nào. Trong Kitô giáo sơ khai, từ nầy sớm được dùng để nói về cuộc trở lại vinh quang của Chúa Kitô vào ngày cánh chung để phán xét nhân loại (x. 1Tx 2,19;4,15; 2Tx 2,1.8.9; 1Cr 15,23).

Thiên hạ vẫn ăn uống: thời ông Noê, Đại Hồng thủy xảy đến là để trừng phạt con người đã hoàn toàn sa đoạ. Còn trong Mt, từ nầy chỉ đời sống bình thưởng của con người. Điều bản văn muốn nhấn mạnh là ngay cả một đời sống hoàn toàn tự nhiên, không có gì trái luật Thiên Chúa, vẫn không hề làm cho người ta tưởng nhớ đến ngày Phán xét. Chính trong những điều kiện như thế, cuộc Chung Thẩm sẽ được thực hiện.

Hai người: số phận trái ngược của hai người trong đồng ruộng cũng như hai người đàn bà đang xay cối tuỳ thuộc vào thái độ sống của mỗi người (x. 25,1-13).

Một người được đem đi, một người bị bỏ lại: được đem đi có nghĩa là được đem về Nước Trời, còn người bị bỏ lại có nghĩa là bị hư mất mãi mãi.

Vậy anh em hãy canh thức: canh thức có nghĩa là không ngủ. Đây là thái độ mà Chúa Giê su yêu cầu nơi những ai đang trông chờ Ngài đến (x. 25,13; Mc 13,33-37; Lc 12,35-40). Thái độ không ngủ, ở trong tình trạng sắp sẵn nầy đòi phải có một niềm hy vọng vững chắc

Kẻ trộm: Kinh thánh thường dùng hình ảnh tên trộm để diễn tả sự bất ngờ của ngày Chúa đền (x. 1Tx 5,2;2Pr 3,10; Kh 3,3; 16,15).

Canh nào: Một đêm thường được chia làm bốn canh: chiều (từ khi mặt trời lặn đến 9 giờ tối), nửa đêm (từ 9 giờ tối đến 12 giờ đêm), khi gà gáy (từ 12 giờ đêm đến 3 giờ sáng) và sáng (từ 3 giờ đến 6 giờ sáng).

Hẵn ông đã thức: cũng một dụ ngôn như trong đoạn 24,45-51. Của cải mà ông ta gắn bó đòi ông phải hi sinh và cố gắng tỉnh thức.

Khoét vách: vách nhà người Do thái thời Chúa Giê su thường được bệnh bằng đất với cành cây khô, nên kẻ trộm dễ dàng khoét thủng một lỗ lớn để đột nhập vào.

SỨ ĐIỆP

Với chủ nhật thứ nhất mùa vọng hôm nay, chúng ta bắt đầu năm phụng vụ mới. Trong suốt bốn tuần sắp tới, Lời Chúa sẽ giúp chúng ta chuẩn bị tâm hồn mừng kỉ niệm ngày Chúa Giê su giáng sinh, đồng thời chào đón Chúa Giê su trở lại với từng người trong chúng ta.

Trong chiều hướng đó, các bài đọc chủ nhật hôm nay mời gọi chúng ta tìm lại ý nghĩa ki tô giáo của Mùa Vọng. Ngay từ đầu, Chúa Giê su ra cho chúng ta một lệnh quan trọng: “Hãy tỉnh thức”.

Để cho dễ hiểu, chúng ta có thể so sánh cuộc đời giống với chuyến đi xa. Nhiều lúc, đối diện trước một tương lai đầy bất định, với bao nguy hiểm rình rập, thế mà chúng ta lại không đủ cảnh giác. Hơn ai hết, Chúa Giê su biết rõ chúng ta yếu đuối, thường bị cám dỗ ngủ quên và để mình bị cuốn đi theo giòng đời, nên Ngài dạy chúng ta: “Hãy tỉnh thức vì anh em không biết ngày nào Chúa đến”. Ngài ân cần nhắc chúng ta nhớ lại những gì đã xảy ra thời ông Nô ê: “Người ta ăn uống,cưới vợ gả chồng..”. Những gì họ làm, không có gì là xấu cả, chỉ có điều người ta cứ sống vô tư không hề mảy may nghi ngờ gì cả cho đến ngày Hồng thủy cuốn trôi tất cả.

Lời cảnh giác ấy vẫn còn giá tri cho con người thời nay. Khi chúng ta tổ chức đời sống mà vắng bóng Thiên Chúa, khi chúng ta sống mất cảnh giác, thì đừng ngạc nhiên khi hồng thủy ập xuống đầu chúng ta. Hồng thủy ấy có thể mặc lấy nhiều hình thức: đặc biệt chúng ta nghĩ đến cả một thế giới sôi động chung quanh, nhiều khi lôi kéo chúng ta chạy theo những điều phụ thuộc, không cần thiết mà quên mất điều chính yếu, nhất là gần các ngày lễ. Và dòng thác thông tin thiếu sót và một chiều từ bốn phương trời hằng ngày ùa đến bao vây, khiến chúng ta giao động và mất phương hướng. Hồng thủy ấy còn là tiền bạc. Ngày nay, người ta coi tiền bạc là giá trị số một, nên dùng mọi cách để kiếm tiền, cả những cách bất lương. Và làm sao không nghĩ đến tất cả những hồng thủy bằng lửa gây ra bởi chiến tranh, hành vi khủng bố, diệt chủng và bạo lực đủ thứ.

Đặc biệt, đầu mùa Vọng, Chúa Giê su muốn mời gọi chúng ta chống lại cơn Hồng thủy cá nhân chủ nghĩa và ích kỉ có nguy cơ nhấn chìm chúng ta. Giữ mình trong tình trạng tỉnh thức là luôn cảnh giác trước mọi nguy hiểm, là ra khỏi sự tầm thường, là tìm lại điều cốt yếu làm nên giá trị của cuộc sống, là chú ý đến sự hiện diện của Đức Ki tô trong và chung quanh chúng ta.

Tỉnh thức không phải là một điều vô ích, vì những gì đã xảy ra thời ông Nô ê đã tái diễn trong thời Chúa Giê su giáng sinh. “Ngài đến nhà các gia nhân và nhưng người nhà của Ngài đã không nhận ra Ngài”. Người ta sống ung dung trong một cuộc sống bình thường, không hề để ý đến những dấu chỉ mà Thiên Chúa gửi đến. Vì thế, họ không nhận ra sự hiện diện của Đức Ki tô, đấng cứu độ ngang qua cuộc đời đứa bé nầy. Chỉ có các mục đồng và các nhà chiêm tinh lên đường để tìm gặp Ngài.

Cũng chính Ngài tiếp tục đến gặp chúng ta, và mời gọi chúng ta chỉnh đốn mọi sự: Mùa Vọng không chỉ là thời gian chúng ta chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh, nhưng còn là cơ hội nhắc chúng ta nhớ rằng Chúa Giê su đang hiện diện, đang ở rất gần, rất thường nơi những người bé nhỏ, khó nghèo nhất.

Chúa Giê su đang ở đó, nhưng Ngài lại muốn chúng ta chờ đợi Ngài. Sự chờ đợi ấy trước tiên không phải là vấn đề thời gian mà là ước muốn. Ước muốn được gặp đấng mà chúng ta yêu thương, làm cho tình yêu của chúng ta đối với Ngài được lớn lên.

Hiểu như thế thì cuộc đời chúng ta là một mùa Vọng triền miên. Chúng ta đừng tò mò tìm biết những gì sẽ xảy ra vào lúc cuối thời gian. Điều quan trọng nhất đó là giữ vững ý muốn nồng cháy tìm và gặp Chúa Giê su. Toàn bộ phụng vụ các chủ nhật mùa Vọng thúc đẩy chúng ta đào sâu sự khao khát Thiên Chúa trong tâm hồn chúng ta.

Khi Chúa Giê su đòi chúng ta phải tỉnh thức và cầu nguyện, thì đó không phải là một sự đe dọa. Nhưng là một cảnh giác chống lại nguy hiểm không nhận ra Chúa đang đi qua cuộc đời chúng ta. Ngài muốn tránh cho chúng ta mối nguy cơ để những cơ hội gặp gỡ qua đi. Đó thực sự là một thất bại khủng khiếp khi đi bên cạnh Đức Ki tô mà không nhận ra Ngài.

Thật bất hạnh, vì thiếu đức tin nên chúng ta thường rơi vào trạng thái ngủ mê về phần thiêng liêng. Chính vì thế mà chúng ta phải nghe lại sự điệp của thánh Phao lô. Thật vậy Ngài dùng những cách nói rất gợi ý để soi sáng chúng ta về cách phải tỉnh thức. Ngài mời gọi chúng ta hãy vất bỏ những hành vi của đêm tối và mặc lấy cuộc chiến đấu của ánh sáng. Vất bỏ những hành vi đen tối, tức là đẩy lui sự dữ, mạnh mẽ chống lại nó, không để cho mình bị tràn ngập bởi cơn hồng thủy đó.

Tỉnh thức trước tiên là là nhận thức điều gì phải thay đổi cuộc sống chúng ta. Mỗi người chúng ta có một góc tâm hồn cần phải sám hối. Thánh Phao lô mời gọi chúng ta “hãy mặc lấy Đức Ki tô”. Điều đó có nghĩa là chúng ta được mời gọi ở gần Ngài, cầu nguyện với Ngài, khẩn cầu Ngài trợ giúp và nhất là lắng nghe Lời Ngài phán. Mặc lấy Đức Ki tô cũng còn là làm việc để có một cái nhìn giống như Ngài và hành động cảm hứng từ hành động của Ngài. Đó là vấn đề đặt tất cả Tin mừng trong cụôc sống của chúng ta.

Từ muôn đời, Thiên Chúa luôn hiện diện trong sâu thẳm của tâm hồn chúng ta. Thiên Chúa hiện diện; chỉ có chúng ta là không ở đó với Người. Chúng ta luôn ở ngoài lề để hoạt động, để chạy đôn chạy đáo. Việc làm trước tiên trong mùa Vọng nầy là trở về với chính mình, trong tâm hồn chúng ta. Chúa đang đến. Chính đó là nơi mà Ngài sẽ gặp chúng ta.

[Mục Lục]

Bài 19. Các con hãy sẵn sàng
R. Veritas

Với Lễ Chúa Kitô Vua được mừng vào hôm Chúa Nhật tuần vừa qua, Giáo Hội Công Giáo kết thúc năm Phụng vụ theo chu kỳ Năm C và bắt đầu năm mới Phụng vụ theo chu kỳ Năm A bằng Chúa Nhật thứ I Mùa vọng.

Bài đọc thứ nhất được trích trong đoạn quan trọng nhất của sách tiên tri Isaia, ngài là vị ngôn sứ cao cả nhất của thời Cựu Ước. Giáo huấn của ngài vang dội tại Giêrusalem từ khoảng năm 742 cho đến năm 800 trước Chúa Kitô Giáng Sinh. Đây là thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử dân Chúa, vì lãnh thổ bị chia đôi, các bộ lạc miền Bắc qui tụ thành vương quốc Israel, bị đế quốc Assyria chiếm cứ từ năm 772. Các bộ lạc miền Nam qui tụ thành vương quốc Giuđa, càng ngày càng xa lìa Thiên Chúa, sống bất trung với giao ước kết thúc trong đau thương của cuộc lưu đày Babylon.

Chính trong thời kỳ này mà tiên tri Isaia đến công bố cho dân Chúa sứ điệp hy vọng vào sự phục hưng huy hoàng ở tương lai. Mặc cho những bất trung của dân, Thiên Chúa vẫn trung thành với lời Ngài đã hứa là sẽ qui tụ tất cả mọi dân tộc lại. Thật là hy vọng biết chừng nào khi mà giữa những thử thách hiện tại, những xúc phạm của các dân tộc đối với Thiên Chúa, thì cộng đoàn nhỏ bé Israel còn lại gồm những kẻ trung thành với Thiên Chúa được nghe những lời loan báo Thiên Chúa sẽ ngự đến, sẽ xây nhà Ngài trên đỉnh núi, nghĩa là Ngài sẽ đến ngự giữa loài người và nơi Ngài hiện diện sẽ là trung tâm qui tụ tất cả mọi dân tộc.

Họ đang chống đối Thiên Chúa, nhục mạ Ngài, nhưng rồi sẽ đến lúc họ trở lại nhìn nhận Ngài. Đó là sứ điệp hy vọng của bài đọc thứ nhất trong Chúa Nhật thứ nhất Mùa vọng. Các dân nước sẽ đổ về đó, nhiều dân tộc sẽ đến và nói rằng: “Hãy đến, chúng ta hãy lên núi Chúa, Ngài sẽ dạy chúng ta đường lối của Ngài và chúng ta sẽ đi theo thánh ý của Ngài. Và khi các dân tộc nhìn nhận Chúa, giữ các giới răn của Người thì hoà bình sẽ ngự trị giữa họ. Đó là thời điểm. Đó là thời kỳ mà theo lời tiên tri Isaia “các dân các nước sẽ lấy gươm mà rèn nên lưỡi cày, lấy giáo mà rèn nên lưỡi liềm”, nghĩa là biến các dụng cụ giết hại nhau thành phương tiện tạo nên bánh nuôi sống và nâng đỡ cho cuộc sống con người.

Nơi bài đọc thứ nhất, Isaia loan báo tiếp: “Nước này không còn tuốt gươm ra đánh nước kia nữa, người ta cũng không còn thao luyện để chiến đấu nữa”. 700 năm sau, sau lời tiên báo của Isaia, Thiên Chúa sẽ thực hiện lời hứa khi Ngài sai Con Một của Ngài xuống trần gian làm người để cứu chuộc nhân loại, để hòa giải con người với Thiên Chúa.

Những ai lắng nghe và sống lời Ngài được qui tụ lại trong dân mới của Thiên Chúa là Giáo Hội gồm mọi dân nước. Với sự hiện diện và ân sủng của mình, Thiên Chúa đã làm cho Giáo Hội trở thành dấu chỉ và phương tiện để xây dựng sự hiệp nhất hòa bình giữa con người với Thiên Chúa, và giữa con người với nhau. Qua đó, chúng ta thấy Giáo Hội của Chúa vẫn kiên trì trung thành với sứ mạng làm trung gian hòa giải này, giúp xây dựng hòa bình giữa con người với nhau trong thế giới ngày nay.

Mùa vọng mới mà Giáo Hội bắt đầu cử hành trong Phụng vụ của mình với Chúa Nhật thứ nhất Mùa vọng, không phải là thời gian để Giáo Hội nhìn lại quá khứ, nhìn về biến cố Con Thiên Chúa đã Giáng Sinh và cử hành biến cố này với Lễ Giáng Sinh. Tắt một lời, Mùa vọng không phải là mùa chuẩn bị mừng Lễ Giáng Sinh, nhưng Mùa vọng là thời gian hướng con người về tương lai, về biến cố Chúa ngự đến lần thứ hai trong vinh quang vào lúc cuối cùng của lịch sử nhân loại, khai mạc trời mới đất mới, làm cho mọi sự đạt đến cùng đích duy nhất của mình là Thiên Chúa.

Mùa vọng hướng con người đến với Thiên Chúa, Đấng đang đến trong lịch sử, đang hướng dẫn toàn thể vũ trụ đến sự thành toàn viên mãn cuối cùng. Thiên Chúa đến gặp con người trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể và hướng dẫn con người đến sự thành toàn viên mãn, nhưng Ngài không áp đặt con người, vì Ngài tôn trọng tự do của con người. Con người cần lắng nghe lời mời gọi tỉnh thức, canh tân đời sống, đó là sứ điệp mà bài đọc II và Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay nhắc lại cho chúng ta.

Nơi thơ thánh Phaolô gởi tín hữu Rôma đã khuyên các tín hữu: “Anh em thân mến! Anh em biết rằng đã đến lúc chúng ta phải thức dậy, vì giờ đây phần rỗi chúng ta đã gần đến hơn lúc chúng ta mới tin đạo, đêm sắp tàn, ngày gần đến, chúng ta hãy từ bỏ những hành vi ám muội và mang khí giới ánh sáng, hãy đi đứng đàng hoàng như giữa ban ngày” (Rm 13, 11-14).

Đó là những lời khuyên vẫn còn thiết thực cho mỗi người tín hữu trong xã hội nhiều hưởng thụ như ngày nay, ngõ hầu sống trong sự sẵn sàng khi Chúa ngự đến, và Ngài đến một cách thình lình không ai ngờ trước được. Hãy từ bỏ những hành vi ám muội và mặc lấy Chúa Kitô, hãy để cho dung mạo Chúa được chiếu sáng trong chúng ta. Đó là cách thức tốt đẹp nhất để tiếp đón Chúa ngự đến vào lúc Ngài muốn, và Phúc Âm Chúa Nhật thứ nhất Mùa vọng diễn tả Ngài đến như kẻ trộm: “Vậy các con cũng phải sẵn sàng vì lúc các con không ngờ thì Con Người sẽ đến” (Mt 24, 44).

Chúa đến như kẻ trộm, Ngài đến gặp chúng ta trong chính cảnh sống của mình, trong chính lúc chúng ta chu toàn bổn phận. Tỉnh thức đón Chúa không có nghĩa là chu toàn bổn phận của mình, mà là chu toàn bổn phận như Chúa, với Chúa và trong Chúa. Đó là thực hiện lời khuyên của thánh Phaolô là hãy mặc lấy Chúa Kitô để đón Chúa Kitô ngự đến.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con chu toàn bổn phận của mình như phương thế trọn hảo để sẵn sàng đón Chúa ngự đến. Xin đừng để chúng con sống trong một thái độ ù lì, nhưng trong thái độ tích cực từ bỏ các tật xấu, các công việc của bóng tối, để mỗi ngày sống xứng đáng hơn hầu sẵn sàng đón Chúa ngự đến. Amen.

[Mục Lục]

Bài 20. Hãy tỉnh thức

Đoạn Tin mừng hôm nay làm cho chúng ta liên tưởng tới cái chết. Dầu vậy, Chúa không muốn cho cuộc đời chúng ta chìm trong một màu tang tóc và một bàu khí nơm nớp lo sợ, nhưng để chúng ta luôn sẵn dàng và nhìn cái chết bằng cặp mắt lạc quan.

Đúng thế, có một câu danh ngôn đã bảo:

– Cái chết thì chắc chắn, nhưng giờ chết thì lại bấp bênh vô định.

Có một mẩu chuyện cổ tích kể lại rằng: Vào một buổi sáng mùa xuân, thày dòng giữ cửa trong một tu viện, nghe thấy tiếng chim hót véo von. Thày ngước mắt trông xem và nhìn thấy một con chim họa mi rất đẹp, thày liền đuổi theo, con chim cứ bay một quãng rồi lại dừng, làm thày miệt đuổi theo, đến lúc thày lạc vào một khu rừng vắng thì con chim biến mất.

Thày tìm đường trở lại nhà dòng. Mãi tới chiều mới về đến. Cửa nhà dòng đóng chặt, thày nhấn chuông và một người ra mở cổng. Thày ngơ ngác nhìn người lạ mặt và những sự đổi thay trong nhà dòng. Thày tự giới thiệu nhưng không một ai nhận biết. Mãi sau cha bề trên đem sổ sách ra tìm tòi, thì mới thấy một thày canh cổng trùng tên đã mất tích cách đây 100 năm. Một trăm năm trôi qua mà thày cứ tưởng như là một tiếng chim hót.

Thời giờ thấm thoát tựa thoi đưa, vụt đến rồi vụt đi như ngựa hồng qua khung cửa. Và một khi đã qua đi thì không bao giờ trở lại, như người ta thường bảo:

– Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông.

Mới hôm nào tôi còn là một đứa bé, đầu để chỏm ba quả đào, mà hôm nay đã ngoài năm mươi, để rồi bắt đầu bước vào tuổi già.

Những em thiếu nhi đang ngồi đây, nhưng rồi 20, 30, 40 năm nữa sẽ như thế nào? Nhất là còn bao lâu nữa sẽ đến giây phút trọng đại, giây phút cuối cùng của cuộc đời tôi. Nói như thế, chắc hẳn sẽ có người cho tôi là lẫm cẩm, vì họ nghĩ rằng:

– Đời mình còn dài và cứ dệt nhiều ước mơ, thân xác mình còn đầy tràn nhựa sống và hăng say hoạt động.

Nhưng chúng ta sẽ lầm, cái chết không dành riêng cho một người nào đó. Nó muốn gọi ai, thì người ấy phải bước theo nó, dù là vua chúa quyền uy. Nó không bao giờ phân biệt giai cấp, tuổi tác cũng như ngôn ngữ vàchủng tộc.

Trên mộ bia của của một thanh niên người ta đọc thấy dòng chữ:

– Cái chết thật vô lễ vì nó dám kéo người trai trẻ này đi trước cụ già.

Một làn gió nhẹ, một sơ suất nhỏ bé cũng đủ đưa chúng ta sang thế giới bên kia bất cứ lúc nào. Ý thức được sự mỏng manh, bèo bọt của kiếp sống là như thế, nên thái độ cần phải có, đó là hãy tỉnh thức và sẵn sàng.

Đúng thế, cách đây khá lâu tôi quen một gia đình ở Sài gòn. Mùa hè năm ấy, sau khi cậu con trai đỗ tú tài phần hai, cả gia đình rủ nhau đi Vũng tàu. Buổi sáng Chúa nhật trời trong xanh, giữa lúc mọi người đùa giỡn với sóng biển, thì cậu con trai bơi ra xa, xa hơn một chút và rồi cậu không bao giờ trở lại nữa.

Một xoáy nước nào đó đã cuốn mất cậu, người ta tìm kiếm hoài mà cũng không thấy, mãi sau xác cậu nổi lên và dạt vào bờ.

Thế nhưng, chúng ta có biết được niềm an ủi độc nhất của người cha và người mẹ đáng thương ấy không? Hai ông bà đã nói với tôi rằng:

– Nó mới xưng tội và vẫn còn rước lễ sáng hôm đó.

Thật tốt đẹp nếu chúng ta có một linh hồn được chuẩn bị sẵn sàng, bằng không thì chúng ta sẽ mất cả chì lẫn chài, mất cả vốn lẫn lãi, mất cả đời này lẫn đời sau.

Trên mộ bia của những người thời xưa, chúng ta thường thấy ghi háng chữ tuyệt vời:

– Người này đã chết sau nụ hôn của Chúa.

Chúng ta hãy sống thế nào, để dù Chúa có đến vào lúc chúng ta không ngờ, vào giờ chúng ta không biết thì chúng ta vẫn sẵn sàng, vẫn bình an và vui sướng. Vậy mỗi ngày sống, chúng ta có biết chuẩn bị cho cuộc hành trình cuối cùng này hay không?

Trong cơn hấp hối, người ta đã hỏi thánh nữ Marguerite Alacoque rằng:

– Còn cần sự gì nữa chăng?

Thánh nữ đã trả lời:

– Không, vì tôi đã sẵn sàng.

Cũng vậy trong giờ chơi, một xơ đã hỏi các em nhỏ:

– Nếu như bây giờ được Chúa gọi về, các em sẽ làm gì?

Em thì bảo sẽ giục lòng ăn năn tội cách trọn, em thì bảo sẽ vào nhà thờ đọc kinh cầu nguyện. Thế nhưng có một em đã trả lời:

– Phần con, con vẫn tiếp tục chơi như thường vì con đã sẵn sàng.

Em bé ấy sau này đã trở nên một vị thánh đó là thánh Gioan Berchmans.

Nếu hôm nay tôi phải đến trước tôn nhan Chúa, liệu tôi đã thu xếp xong mọi công việc hay chưa? Tôi đã trả hết những món nợ đối với Chúa và đối với anh em hay chưa? Tôi đã tẩy xóa hết những vết nhơ tội lỗi qua bí tích cáo giải hay chưa?

Nếu chúng ta biết sửa soạn ngay từ ngày hôm nay, nếu mỗi khi chiều xuống chúng ta biết xét mình, tự vấn lương tâm và chỉ ngủ yên khi nào linh hồn mình đã được gột rửa qua tâm tình thống hối, nếu chúng ta giữ được màu trắng của tấm áo ngày rửa tội, nếu chúng ta giữ được ngọn nến đức tin luôn bừng cháy, thì thật là hạnh phúc và giờ chết không còn là giờ kinh hoàng và đáng sợ nữa.

Nếu bây giờ chúng ta biết chuẩn bị sẵn sàng, thì khi Chúa đến, chúng ta sẽ không chết, nhưng chính lúc ấy chúng ta mới bát đầu sống. Cuộc sống nơi trần thế là một chuyến viễn du trong đêm tối hay trên mặt biển dậy sóng. Nhưng ở đằng kia bình minh đang ló dạng và Thiên Chúa đang mở rộng vòng tay chào đón chúng ta nơi bờ bến hạnh phúc.

Hãy sống để chuẩn bị cho cái chết và hãy chết để được sống muôn đời.

[Mục Lục]

Bài 21. Sẵn sàng

Năm Phụng Vụ mới được Giáo Hội hội bắt đầu với Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng.

Thế nhưng, mùa vọng không phải chỉ là thời gian để Giáo Hội nhìn về quá khứ, nhìn về biến cố Con Thiên Chúa đã giáng sinh và cử hành biến cố này với lễ Noel. Nghĩa là mùa vọng không phải chỉ là mùa chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh. Nhưng mùa vọng còn là thời gian hướng con người về tương lai, về biến cố Chúa ngự đến lần thứ hai trong vinh quang vào lúc cuối cùng của lịch sử nhân loại, khai mạc trời mới đất mới, làm cho mọi sự đạt đến cùng đích duy nhất của mình là Thiên Chúa.

Mùa vọng hướng con người đến với Thiên Chúa, Đấng đang đến trong lịch sử, đang hướng dẫn toàn thể vũ trụ đến sự thành toàn viên mãn cuối cùng. Thiên Chúa đến gặp con người trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể và hướng dẫn con người đến sự thành toàn viên mãn, nhưng Ngài không áp đặt con người, vì Ngài tôn trọng tự do của con người. Con người cần lắng nghe lời mời gọi tỉnh thức, canh tân đời sống, đó là sừ điệp mà bài đọc II và Tin mừng Chúa nhật hôm nay nhắc lại cho chúng ta.

Nơi thơ thánh Phaolô gởi tín hữu Rôma đã khuyên các tín hữu: “Anh em thân mến! Anh em biết rằng đã đến lúc chúng ta phải thức dậy, vì giờ đây phần rỗi chúng ta đã gần đến hơn lúc chúng ta mới tin đạo, đêm sắp tàn, ngày gần đến, chúng ta hãy từ bỏ những hành vi ám muội và mang khí giới ánh sáng, hãy đi đứng đàng hoàng như giữa ban ngày” (Rm 13,11-14).

Đó là những lời khuyên vẫn còn thiết thực cho mỗi người tín hữu trong xã hội nhiều hưởng thụ như ngày nay, ngõ hầu sống trong sự sẵn sàng khi Chúa ngự đến, và Ngài đến một cách thình lình không ai ngờ trước được. Hãy từ bỏ những hành vi ám muội và mặc lấy Chúa Kitô, hãy để cho dung mạo Chúa được chiếu sáng trong chúng ta. Đó là cách thức tốt đẹp nhất để tiếp đón Chúa ngự đến vào lúc Ngài muốn, và Phúc âm Chúa nhật thứ nhất Mùa vọng diễn tả Ngài đến như kẻ trộm: “Vậy các con cũng phải sẵn sàng vì lúc các con không ngờ thì Con Người sẽ đến” (Mt 24,44).

Chúa đến như kẻ trộm, Ngài đến gặp chúng ta trong chính cảnh sống của mình, trong chính lúc chúng ta chu toàn bổn phận. Tỉnh thức đón Chúa không có nghĩa là chu toàn bổn phận của mình, mà là chu toàn bổn phận như Chúa, với Chúa và trong Chúa. Đó là thực hiện lời khuyên của thánh Phaolô là hãy mặc lấy Chúa Kitô để đón Chúa Kitô ngự đến.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con chu toàn bổn phận của mình như phương thế trọn hảo để sẵn sàng đón Chúa ngự đến. Xin đừng để chúng con sống trong một thái độ ù lì, nhưng trong thái độ tích cực từ bỏ các tật xấu, các công việc của bóng tối, để mỗi ngày sống xứng đáng hơn hầu sẵn sàng đón Chúa ngự đến. Amen.

[Mục Lục]

Bài 22. MÙA YÊU THƯƠNG
PM. Cao Huy Hoàng

Mỗi con người được sinh ra trên trần gian, đều có một khát vọng vô biên. Và nếu định nghĩa con người là một hữu thể gồm nửa cái “con” và nửa cái “người” thì nỗi khát vọng trong hai nửa ấy không chỉ đơn thuần là song song tiến bước, mà còn luôn luôn đối nghịch và mâu thuẫn: một bên là dục vọng và một bên là khát vọng chân chính.

Mùa vọng không dừng lại cách tiêu cực ở một niềm hy vọng vụ lợi về mặt thiêng liêng, về ơn được cứu rỗi, mà là cơ hội để mỗi con người hướng cái khát vọng vô biên của mình đến chính Thiên Chúa. Thông Điệp của Đức Thánh Cha Benedict 16 có tên “Spe Salvi” được dịch thật chuẩn là “Được Cứu Rỗi nhờ Hy Vọng”, chứ không phải là “hy vọng được cứu rỗi”, cũng cho thấy tầm quan trọng chủ động nơi chính con người phải hướng cái khát vọng vô biên đến Thiên Chúa.

Mùa Vọng cho các tín hữu cơ hội tuyệt đẹp để “tái khám phá ý nghĩa niềm hy vọng của mình”- không nhất thiết phải mảy may đặt một thỉnh cầu hay yêu sách nào đối với Thiên Chúa cả, khi đặt trọn niềm tin tưởng hy vọng vào Ngài. Vì đặt trọn niềm tin tưởng hy vọng vào Chúa, chính là đáp lại tình thương của Thiên Chúa đã ban cho con người lòng khát khao tìm kiếm Thiên Chúa và đã tỏ mình cho ai thành tâm khát khao tìm kiếm.

Với tâm tình ấy, trong suốt mùa vọng, chúng ta có thể sốt sắng cất tiếng thân thưa lời TV 24: “Chúa là khát vọng, là ước mơ đời con. Hồn con hướng tới Ngài, hồn con cậy trông nơi Ngài. Hồn con vươn lên tới Chúa. Hồn con sướng vui trong Ngài” (Tv 24, 1-3). Như thế, mùa vọng là một mùa vui, một mùa yêu, khi niềm hy vọng nỗi mong đợi người mình yêu đã có tín hiệu đến hẹn.

Vào Mùa Vọng với Lời Chúa CN thứ nhất, Tiên tri Isaia xuất hiện giữa lúc dân Thiên Chúa trong cảnh nô lệ khốn cùng, Ngài đã loan báo cho Dân Chúa – và cũng là cho chúng ta- một tin vui, đó là một con đường “lên”, “ta cùng lên núi Đức Chúa, lên nhà Thiên Chúa của Giacop, để Người dạy ta biết lối của Người, và để ta bước theo đường người chỉ vẽ…” (Is 2,3). Con đường “lên Thiên Chúa”, không thể thực hiện được nếu không có một niềm tin tưởng, một khát vọng chân chính, khát vọng tìm đến Thiên Chúa; càng không thể thực hiện được, nếu chúng ta vẫn đang mê mãi chạy theo con đường dục vọng.

Vì thế, thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Roma đã bổ sung cho con đường lên của khát vọng tìm kiếm Thiên Chúa bằng lời khuyên cụ thể: “Đêm sắp tàn và ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu. Chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cải cọ ghen tương. Anh em hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô và đừng chiều theo tính xác thịt mà thỏa mãn các dục vọng” (2Rm 13,12-14). Phải chiến đấu với các khuynh hướng bằng chính khát vọng vươn lên tới Thiên Chúa, nghiêng về phía Thiên Chúa hơn là nghiêng về phía những dục vọng; và để chiến thắng, cần phải mặc lấy đức Kitô, là phải thấm nhuần tinh thần của Chúa Kitô trong đời sống. Tinh thần của Chúa Kitô chính là vũ khí của sự sáng mà Thánh Phao lô đề cập đến như phương thế để giúp chúng ta loại bỏ những lôi kéo chúng ta về phía tạo vật, thế tục.

Tình trạng linh hồn luôn khát khao tìm kiếm Thiên Chúa có thể nói là tình trạng tỉnh thức mà Chúa Giêsu nói đến trong trang tin mừng hôm nay. Chúa Giêsu nói: “Trong những ngày trước nạn hồng thủy, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng cho đến ngày ông No-ê vào tàu”. (Mt 24,38).

Một toàn cảnh xã hội loài người đang sinh hoạt hoàn toàn tự nhiên theo cách của con người, không nghe thấy tiếng lòng nhắc đến việc tìm kiếm điều gì vượt lên trên cái tự nhiên ấy, chỉ có mỗi ông No-e biết khao khát tìm kiếm Thiên Chúa, và điều hẳn nhiên đã xảy ra, chỉ có mỗi gia tộc No-e được cứu thoát. Sự cứu thoát mang hình dáng ơn cứu rỗi của Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô sau nầy.

Vì thế, Ngài nói: “Ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy”. Con Người trở lại với những tâm hồn tỉnh thức: tâm hồn khao khát tìm kiếm Người, để cùng Người vui tiệc thiên thu. Thiết nghĩ, không chỉ có một mùa vọng trong lòng tín hữu, mà suốt đời là một mùa vọng; không chỉ có một lần chiến đấu loại trừ những dục vọng thấp hèn của cái “con” nơi con người, mà cả một đời chiến đấu; không chỉ một lần bước ra khỏi bóng tối của những đam mê thế gian mà còn phải thắp lên một ngọn đèn bằng chính sự rực cháy của lửa tình yêu mến Thiên Chúa trong lòng chúng ta.

Thiên Chúa đến với mỗi người, Ngài đang đến, và Ngài muốn cư ngụ giữa lòng con người. Tại sao chúng ta chỉ có thể khao khát tìm kiếm Chúa khi chúng ta rơi vào tình cảnh khốn cùng nhất của cuộc đời như bệnh tật, nghèo túng, nợ nần, gặp tai ương hoạn nạn, trong khi chính Thiên Chúa vẫn luôn yêu thương và khao khát được chúng ta đón nhận, cả khi chúng ta ảo tưởng bình an hay bất hạnh theo cách nhìn của mình.

Thiên Chúa gõ cửa, còn chúng ta mở cửa. Thiên Chúa tỏ tình, và chúng ta đón nhận. Chúng ta chỉ có thể mở cửa cho Thiên Chúa, khi chúng ta thực sự khao khát Ngài. Tôi vẫn thấy những người chờ đợi người yêu đến, vẫn thường mở cửa, thấp thỏm … trước khi người yêu mình đến, và gõ cửa kia mà. Tôi vẫn thấy có người, trong khi chờ đợi người yêu mình đến, đã chắng làm gì khác ngoài việc viết cả ngàn lần tên người yêu mình trên bàn trên giấy. Sao ta không thể bày tỏ niềm tin, nỗi mong đợi và tình yêu của chúng ta một cách si tình như thế đối với một Thiên Chúa đang yêu ta, yêu tha thiết đến nỗi Ngài vẫn đang gõ cửa, đứng chờ trước cửa…

Như thế tỉnh thức còn là một biểu hiện của tình yêu, và mùa vọng, mùa trông đợi Đấng Cứu Thế giáng sinh cũng là mùa của tình yêu.

Giàu nghèo, sang hèn trên đời, ai cũng có những ước ao cả đời người mà chưa bao giờ thực hiện được, người càng sống trong cảnh thiếu thốn vật chất, càng có nhiều ước ao hơn. Điều quan trọng đối với tín hữu là cần “ước ao những sự trên trời”. Ước ao một chút no đủ của những người kiếm sống qua ngày trên vĩa hè, nơi gánh cháo lòng, nơi lọn rau, bó chỗi, nơi thúng lạc luộc, nơi tấm vé số… Những ước mơ đơn sơ, nhỏ bé lắm… mà ước ao cả đời, vì lòng yêu đã đặt trọn vào trong những cái qua ngày mà thực tế ấy… làm cho cả cuộc đời trở thành một “mùa vọng” vào những thực tại đáng vô vọng. Và nếu đổi hướng của tình yêu về phía Thiên Chúa, thì chắc chắn những thực tại trần gian kia sẽ không còn là những ước mơ đáng kể có thể làm nhũng nhiểu tâm hồn gây nên những xáo trộn, những bất an không đáng có. Bà bán cháo lòng có thể gặp Chúa ngay trong những người ăn cháo lòng của bà mỗi buổi sáng, vì bà có tình yêu và khao khát tìm Chúa trước khi tìm những đồng tiền lẻ gom được để chu toàn bổn phận với chồng con…

“Anh em hãy sắn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ thì Con Người sẽ đến”. Chúa muốn chúng ta sẵn sàng bằng cách luôn sống trong lòng khao khát, mong đợi, yêu mến để phút bất ngờ Chúa đến, không còn là một nỗi lo sợ kinh hoàng như lụt hồng thủy, như một tai nạn, nhưng lại là phút tương phùng, giờ giao duyên của hai lòng yêu gặp gỡ.

Lạy Chúa, trong mùa vọng nầy, và suốt đời vọng của con, xin cho lòng con luôn khao khát được thuộc về Chúa. Vì ngoài Chúa ra, có nơi nào hạnh phúc. Vì ngoài Chúa ra, có nơi nào bình an. Chúa là khát vọng của đời con, hồn con vươn lên tới Chúa, hồn con trông cậy nơi Chúa và hồn con sướng vui trong Ngài.

[Mục Lục]

Bài 23. Hãy canh thức

Anh em hãy canh thức,
vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em sẽ đến.

Đại ý: Đức Giêsu cảnh giác: Hãy mở to mắt ra để nhìn thấy những thực tại thần linh trong cuộc sống ! Đó là sự hiện diện của Thiên Chúa. Vì đời này chỉ là tạm thời; cốt yếu và vĩnh cửu ở đời sau.

*Thiên hạ vẫn cứ ăn uống cưới gả như người thường ! Khi Liên Minh Anh Mỹ tấn công vào Bá linh năm 1945, đoàn binh Nga ồ ạt tiến vào. Quân Đức ở các mặt trận lần lượt đầu hàng. Phi cơ Nga liên tiếp dội bom xuống Bá linh. Dân chúng kêu la, đói khát, chết chóc. Quân Đức phải đầu hàng. Trong khi đó Hítler và các binh lính ở trong cung điện dưới hầm với lương thực đầy đủ, đang tổ chức mừng Sinh nhật của ông. Hítler coi tướng số và nói như người điên: lá số nói ông sẽ thắng trận trong vòng bốn tháng nữa ! Rồi ngày 29/04/1945, lúc 1 giờ khuya, ông Tổ chức Lễ Cưới cho mình với bà Eva Braun, tình nhân cũ đã 12 năm. Nhưng, chưa đầy 24 tiếng đồng hồ sau, ngày 30/04/1945, ông đã tự sát cùng với người vợ mới cưới, sau 17 ngày bị Quân đội Đồng Minh tấn công.

Thật lạ lùng khi những thảm hoạ và cái chết cận kề, mà thiên hạ cứ “vô tư” “vô tâm, vô hồn”đến độ “điên cuồng như Hítler” ! Tiếng chuông cảnh báo Ngày Chúa trở lại phán xét cứ vang lên không ngớt, qua các thiên tai như sóng thần, động đất, lũ lụt, chiến tranh, khủng bố, bệnh thế kỷ, bệnh nan y… như những điềm lạ loan báo những ngày tận cùng đang đến với nhân loại …Chỉ lạ là sao con người cứ mải mê ngụp lạên trong tội ác, tham lam, hà lạm của công, tham ô tài sản nhân dân, ly dị, phá thai, giết hại thai nhi vô tội, chửi bới, bạo hành …mà vẫn cứ an tâm sống bình thản như vô tôi vạ, không hề biết ăn năn sám hối ! Hay họ tưởng rằng Chúa không biết những tội ác của họ ? Ước chi họ biết và nghe được tiếng Chúa phán hôm nay:“Anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em sẽ đến”.

1-Hãy mở to mắt… Đức tin: Hãy tỉnh thức nghĩa là hãy “mở thật to con mắt đức tin ra” để thấy được những thực tại thần linh là sự Hiện Diện, Thánh Ý và Ơn Cứu Độ của Thiên Chúa trong những những biến cốù, những điềm báo, những dấu chỉ cuả thời cuộc, cũng như bao chuyện vui buồn lớn nhỏ trong cuộc sống thường ngày. Để có được cái nhìn này, bạn cần phải có Ơn Chúa Thánh Thần, từ đời sống nội tâm kết hợp với Chúa Giêsu. Vì thế mà Thánh Phaolô nói với chúng ta rằng: “Hãy mạêc lấy Chúa Kitô.” Nghĩa là hãy để Chúa Kitô sống trong mình: “Tôi sống không còn là tôi sống mà là Chúa Kitô sống trong tôi.” (Gl2,20)

2-CHÚA ĐÃ ĐẾN RỒI !….Nhiều người lầm tưởng rằng: Chỉ cần chuẩn bị đón Chúa đến vào ngày Lễ Giáng Sinh, ngày tận thế, hay vào giờ chết… Thật ra, không phải Chúa sẽ đến, Chúa đang đến, hay Chúa đã đến gần, nhưng thật ra, CHÚA “ĐÃ ĐẾN RỒI” và Chúa “đang hiện diện, đang sống và hành động trong mỗi người chúng ta,” nhưng vì thiếu “đức tin”, nên chúng ta không cảm nghiệm được sự hiện diện của Người !

Mùa Vọng là Mùa THIÊN CHÚA CHỜ ĐỢI TA hơn ta chờ đợi Chúa: Chúa chờ đợi ta nhận ra Người, đến với Người, để được Người cứu độ ! Vì thế, ta phải làm sao để biết SỐNG VỚI Chúa từng GIÂY PHÚT, trong MỖI CÔNG VIỆC, thậm chí trong cả những ngõ ngách của cuộc sống, là những sinh hoạt tầm thường nhỏ mọn nhất ! Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu nói: “Ước chi mỗi tiếng đập của con tim là một lần nhắc tôi dâng hiến tình yêu cho Chúa”.

Lạy Chúa Giêsu,

Chúa đã đền trần gian từ hai ngàn năm nay,

Nhưng con vẫn thờ ơ lãnh đạm, chưa SỐNG với Chúa.

Xin Chúa củng cố Niềm Tin Thực Tại thần linh ấy cho con,

Hầu con biết Yêu Mến Chúa, SỐNG với Chúa đang ngự trong mình Con,

Trong Mọi Người, ở Mọi Nơi Mọi Lúc, trong Cuộc Sống hôm nay. Amen.

LỜI NGUYỆN CHUNG

Chủ tế: Tin Mừng hôm nay Chúa dạy: “Anh em hãy canh thức, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.” Chúng ta hãy cầu xin biết tỉnh thức để đón Chúa hằng ngày.

1- Thời ông Nô-ê thế nào, thì Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy./ Ước chi các kitô hữu biết rằng: NGÀY TẬN THẾ SẼ ĐẾN BẤT NGỜ / NÊN MỌI NGƯỜI PHẢI LUÔN SỐNG XỨNG ĐÁNG ĐỂ SẴN SÀNG ĐÓN CHÚA.

2- Anh em hãy tỉnh thức và sẵn sàng, / ước gì các kitô hữu hiểu rằng / TỈNH THỨC LÀ SỐNG THEO ĐỨC TIN, ĐỂ CẢM NGHIỆM ĐƯỢC SỰ HIỆN DIỆN CỦA CHÚA, VÀ BIẾT THỰC THI THÁNH Ý NGƯỜI.

3- Chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến / ước gì các kitô hữu hiểu rằng / CHÚA ĐẾN RẤT NHIỀU LẦN, VÀ BẰNG NHIỀU CÁCH / VÌ CHÚA HIỆN DIỆN TRONG MỌI SỰ, VÀ TRONG MỌI NGƯỜI.

4- Hai người đàn ông đang làm ruộng, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại / Ước chi các kitô hữu nhớ rằng: CHÚA ĐẾN NHƯ KẺ TRỘM / NÊN PHẢI LUÔN SẴN SÀNG SỐNG TRONG ƠN NGHĨA CHÚA.

5- Chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến / ước gì các kitô hữu nhớ rằng: NGÀY NÀO CŨNG CÓ THỂ LÀ NGÀY CUỐI CÙNG / VÌ THẾ, HÃY LUÔN LUÔN SỐNG XỨNG ĐÁNG ĐỂ ĐÓN CHÚA.

Chủ tế: Lạy Chúa, ngày cuối đời chúng con sẽ ra trước toà Chúa với hai bàn tay trắng. Xin Chúa hãy lấy áo công chính của Chúa mà mặc cho chúng con. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.

[Mục Lục]

Bài 24. HÃY LUÔN SẴN SÀNG
Lm. Đan Vinh

I. HỌC LỜI CHÚA

1. TIN MỪNG: Mt 24,37-44

2. Ý CHÍNH:

Ngày tận thế chắc chắn sẽ đến vào lúc bất ngờ, nên đòi người ta phải luôn tỉnh thức và chuẩn bị sẵn sàng đón Chúa. Như trong nạn lụt hồng thủy thời No-e: chỉ có gia đình No-e vì đã tỉnh thức và chuẩn bị trước bằng việc đóng tàu mới được cứu thoát. Đức Giê-su dạy các môn đệ phải tỉnh thức như chủ nhà thức canh đề phòng kẻ trộm khoét vách nhà mình lúc ban đêm. Tóm lại, cần luôn sẵn sàng đón Chúa đến vào lúc bất ngờ.

3. CHÚ THÍCH:

– C 37-39: + Thời ông Nô-e thế nào, thì cuộc quang lâm của Con Người cũng sẽ như vậy: “Con Người” ám chỉ Đấng Thiên Sai. Đức Giê-su đối chiếu nạn hồng thủy thời Nô-e với cuộc trở lại trong vinh quang của Ngườii vào ngày tận thế để phán xét chung nhân loại hay vào giờ chết để phán xét riêng mỗi người. + Vì trong những ngày trước nạn hồng thủy…: Cuộc quang lâm của Con Người vào ngày tận thế giống như nạn hồng thủy thứ hai. Cũng như thiên hạ thời Nô-e cứ sinh hoạt bình thường mà không quan tâm đến những dấu hiệu của cơn đại họa bất ngờ xảy đến, nên đã chết thê thảm, thì cuộc quang lâm của Vua Thẩm Phán Giê-su trong ngày tận thế cũng sẽ xảy đến cách bất ngờ như vậy.

– C 40-41: + Hai người đàn ông… Hai người đàn bà…: để diễn tả số phận con người khác nhau tùy theo thái độ tỉnh thức và lối sống của họ, Đức Giê-su đã dùng hai hình ảnh cụ thể minh họa: hai người đàn ông đang làm việc ngoài đồng, hai người đàn bà đang xay chung một cối bột. + Thì một được đem đi, một bị bỏ lại: Người ta có thể cùng làm chung một ngành nghề, nhưng tùy theo cách sống mà số phận đời đời sẽ khác nhau: người này được tiếp nhận, kẻ kia bị bỏ rơi.

– C 42-44: + Hãy canh thức, vì không biết giờ nào…: Để khỏi bị bất ngờ như những người thời Nô-e, các môn đệ phải luôn tỉnh thức sẵn sàng. Tỉnh thức không phải là thụ động chong đèn ngồi chờ, nhưng là tích cực làm việc như người quản gia chu toàn nhiệm vụ cấp phát lương thực cho gia nhân (x. Mt 24,45), như năm cô trinh nữ khôn ngoan mang dầu theo đèn (x. Mt 25,4), như người biết làm lợi gấp đôi số nén bạc được trao (x. Mt 25,20), luôn sống theo tám mối phúc thật (x. Mt 5,3-12), biết quan tâm chia sẻ và phục vụ tha nhân nhất là người nghèo đói (x.Mt 25,34-40). + Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng…: Các môn đệ phải luôn tỉnh thức và sẵn sàng đón Chúa đến cách bất ngờ như kẻ trộm thường bất ngờ đến.

4. CÂU HỎI:

1) Tại sao phải tỉnh thức để đón chờ Chúa đến? 2) Đức Giê-su đã dạy môn đệ bài học gì về sự tỉnh thức qua câu chuyện lụt đại hồng thủy thời No-e? 3) Đức Giê-su đã dùng hai hình ảnh nào để minh họa cho lối sống tỉnh thức của người môn đệ hầu chuẩn bị cho ngày tận thế sẽ đến? 4) Người môn đệ Chúa phải có lối sống sẵn sàng tỉnh thức thế nào?

II. SỐNG LỜI CHÚA

1. LỜI CHÚA: “Anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến” (Mt 24,42).

2. CÂU CHUYỆN:

1) PHẢI LUÔN TỀ CHỈNH: Một vị thanh tra kia khi đến thăm một trường tiểu học đã nói với các em học sinh như sau: “Hôm nay thầy thấy có nhiều học sinh đã để bàn học lộn xộn mất trật tự, lớp học thì ồn ào và rác rến vung vãi mất vệ sinh. Vậy thầy quyết định sẽ trở lại đây để kiểm tra các em một lần nữa. Từ nay tới hôm thầy trở lại, em nào giữ được bàn học sạch sẽ, sách vở ngăn nắp sẽ được thưởng”. Bấy giờ có mấy em hỏi: “Thưa thầy, khi nào thầy sẽ trở lại ạ?”. Thầy đáp: “Thầy sẽ trở lại. Nhưng không cho các em biết ngày giờ chính xác”.

Sau khi thầy thanh tra đi, một cô bé liền nói với mấy đứa bạn rằng mình quyết tâm sẽ dành được phần thưởng của thầy. Các bạn khác nghe vậy liền cười ồ chế diễu, vì cô bé này ít khi nào chỉnh tề ngăn nắp. Có bạn hỏi rằng: “Bàn học của bạn chẳng khi nào ngăn nắp tề chỉnh mà bạn lại đòi được lãnh thưởng hay sao?” Nhưng cô bé trả lời: “Từ ngày mai, mỗi buổi sáng tớ sẽ thu xếp dọn dẹp ngay khi mới đến là sẽ gọn gàng ngay thôi mà”. Một bạn lại hỏi: “Thế nếu thầy thanh tra đến vào buổi chiều thì sao?” Cô bé im lặng suy nghĩ một lát rồi nói: “Thôi, mình nghĩ ra rồi. Như thế là lúc nào mĩnh cũng phải giữ bàn học thứ tự sạch sẽ phải không các bạn?”.

2) KẾ SÁCH CÁM DỖ HOÀN HẢO NHẤT: Một câu chuyện ngụ ngôn về phương cách cám dỗ của ma quỷ như sau:

Có ba tên quỷ con đang trong thời kỳ huấn luyện để đi cám dỗ loài người. Một hôm tên quỷ già thầy giáo yêu cầu lũ quỷ học trò suy nghĩ để tìm ra một kế sách nào hòan hảo nhất để cám dỗ loài người. Tên quỷ thứ nhất thưa rằng: “Tôi sẽ nói với loài người rằng: trên đời này làm gì có Thiên Chúa, nên các ngươi cứ việc ăn chơi thỏa thích theo lòng đam mê của mình”. Nhưng tên quỷ già bảo: “Kế sách đó khó thành công lắm, vì dù không thấy Thiên Chúa vô hình, nhưng hầu như mọi người đều cảm thấy sự hiệu hữu của ông ta”. Tên quỷ con thứ hai trình bày: “Phần tôi sẽ rỉ tai cho loài người biết: chết đi là hết. Thiên đàng hay hỏa ngục chỉ là sự tưởng tượng để hù dọa họ ăn ngay ở lành mà thôi chứ không có thực! Do đó, các ngươi cứ việc vui chơi thỏa thích, kẻo giờ chết đến thì khi ấy có muốn cũng không thể vui chơi được nữa!”. Tên quỷ già gật gù nói: “Kế đó cũng hay đấy. Nhưng có lẽ loài người vẫn biết có quả báo, có thiên đàng để thưởng kẻ lành và hỏa ngục để phạt kẻ dữ”. Tên quỷ con thứ ba thì nêu ý kiến này: “Phần tôi, tôi sẽ làm cho con cái loài người tin rằng còn lâu chúng mới chết. Do đó chúng cứ việc thỏa mãn những đam mê lạc thú ở đời. Khi nào nằm liệt giường sắp chết, sẽ ăn năn sám hối cũng chưa muộn!”. Nghe xong, tên quỷ già khoái chí cười hô hố. Nó vừa xoa đầu tên quỷ học trò vừa khen lấy khen để: “Trò giỏi lắm. Quả đó là kế sách hay nhất và rất hạp ý ta. Với phương kế này, chắc chắn nước hỏa ngục của chúng ta sẽ ngày càng bành trướng vì sẽ có thêm rất nhiều kẻ gia nhập đó!”.

3. SUY NIỆM:

Hôm nay chúng ta bước sang Mùa Vọng năm phụng vụ mới là năm A. Mùa Vọng vừa là thời gian chuẩn bị tâm hồn mừng đại lề Giáng sinh, kính nhớ Con Thiên Chúa đến trần gian lần thứ nhất ban ơn cứu độ cho lòai người, vừa là thời gian để các tín hữu chúng ta trông đợi Chúa Ki-tô sẽ đến lần thứ hai trong uy quyền vinh quang để phán xét chung nhân loại vào ngày tận thế.

1) Phải luôn tỉnh thức sẵn sàng vì Chúa sẽ đến cách bất ngờ:

– Tin mừng Mát-thêu hôm nay ghi lại những lời Đức Giê-su cảnh báo các môn đệ về việc Người sẽ đến cách bất ngờ trong ngày tận thế chung nhân loại và đến với mỗi người trong giờ chết của họ. Người dạy các môn đệ phải có thái độ như sau: « Anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (Mt 24,14).

– Tuy nhiên, có lẽ dân Do thái lúc đó đều coi thường lời cảnh báo của Đức Giê-su, giống như dân chúng thời tổ phụ No-ê. Ông No-ê đã được Đức Chúa cho biết trước sắp xảy ra cơn lụt đại hồng thủy nên đã chuẩn bị bằng việc miệt mài đóng một con tàu lớn cho ông và gia đình, đang khi những người khác “vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nô-e vào tàu. Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thủy ập tới cuốn đi hết thảy” (Mt 24,38-39). Chỉ riêng gia đình ông No-ê được cứu thoát nhờ con tàu.

2) Phải cảnh giác và chăm chỉ làm việc:

– Cảnh giác bằng việc làm : Những người thời ông No-ê đã bị chết trong cơn nước lụt, không phải do họ đã phạm tội, mà chỉ vì họ đã không làm những việc lẽ ra phải làm. Họ làm rất nhiều việc cho cuộc sống vật chất thể xác, nhưng lại không làm gì cho cuộc sống thiêng liêng tinh thần. Số phận của mỗi người được cứu hay không tùy theo họ có chuẩn bị cho cuộc sông đời sau hay không như lời Đức Giê-su: “Bấy giờ hai người đàn ông đang làm ruộng, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại. Hai người đàn bà đang kéo cối xay, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại” (Mt 24,40-41).

– Chu toàn việc bổn phận: Tỉnh thức sẵn sàng bằng việc chu toàn các việc bổn phận hằng ngày, từ việc nội trợ trong gia đình, học tập tại nhà trường, lao động nơi nhà máy, công sở, buôn bán nơi phố chợ, cày cấy ngoài đồng ruộng… Đức Giê-su cũng cảnh báo các môn đệ đừng quá quan tâm đến các công việc trần gian, mà quên rằng cái chết có thể sẽ bất ngờ đến vào bất cứ lúc nào, giống như “chiếc lưới chụp xuống mọi người sống trên mặt đất” (Lc 21,35). Đức Giê-su nhắc nhở các môn đệ phải có thái độ tỉnh thức sẵn sàng giống như ông chủ nhà kia canh thức không để kẻ trộm đào ngạch khóet vách nhà mình!

3) Phải luôn tỉnh thức cầu nguyện:

– Bất ngờ sẽ trở thành niềm vui cứu độ: Nếu chúng ta biết “tỉnh thức và cầu nguyện luôn” (Lc 21,36), sẵn sàng ra đón khi Chúa đến thì việc Chúa đến bất ngờ sẽ lại trở thành niềm vui cho chúng ta. Ngày đó, chúng ta sẽ không phải “lo lắng hoang mang trong cảnh biển gào sóng thét” (Lc 21,25), sẽ không “sợ đến hồn xiêu phách lạc” (Lc 21,26), nhưng sẽ “đứng thẳng và ngẩng đầu lên” (Lc 21,28), vì chúng ta sắp được lãnh ơn cứu chuộc của Chúa.

– Phải luôn tỉnh thức cầu nguyện : Nhiều người sống như mê ngủ. Trong tuần họ lo làm việc để kiếm tiền, rồi đến cuối tuần lại dành thời giờ để đi chơi du lịch leo núi hay tắm biển… mà lơ là các việc đạo đức như cầu nguyện sớm hôm, bỏ dâng lễ Chúa nhật và các lễ buộc, không xưng tội rước lễ… Tỉnh thức là phải chuyên cần cầu nguyện như Đức Giê-su đã cảnh báo ba môn đệ trong vườn Cây Dầu xưa: “Anh em hãy canh thức và cầu nguyện để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng hái nhưng thể xác lại yếu đuối” (Mt 26,41).

4) Phải cấp thời sám hối và sống tốt hơn để đón chờ Chúa đến:

– Cấp thời sám hối không trì hoãn: Trong cuộc sống, chúng ta thường nghĩ rằng mình còn sống lâu, nên không cần phải sám hối ngay, nhưng cứ để đến lúc gần chết sám hối cũng không muộn. Nhưng chần chừ không dứt khoát quay về với Chúa là kế sách cám dỗ hoàn hảo nhất của ma qủi đối với chúng ta. Mùa vọng là thời gian chờ đợi trong tin yêu như con cái chờ đợi người cha thân yêu trở về, chứ không chờ đợi trong sự lo lắng buồn sầu. Người tín hữu chúng ta cần tránh tâm trạng buồn chán lười biếng, nhưng cần hăng say làm việc nhiều hơn và không ngừng cầu xin Chúa ban ơn giúp sức. Hãy làm tất cả những gì có thể làm ngay hôm nay, bắt đầu ngay từ bây giờ và ở đây “hic et nunc”.

– Loại trừ các thói hư và sống theo gương Đức Giê-su: Trong những ngày này, chúng ta cần suy gẫm lời thánh Phao-lô: “Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu. Chúng ta hãy ăn ở đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giê-su Ki-tô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thoả mãn các dục vọng” (Rm 13,12-14). Nói “mặc lấy Đức Kitô” là quyết tâm loại trừ các thói hư tật xấu như tính tự ái cao, dễ nổi nóng, gian dối, ganh ghét, say sưa, cờ bạc, trai gái, hút sách… Hãy siêng năng đọc Lời Chúa mỗi ngày và quyết tâm sông noi theo gương mẫu và lời dạy của Đức Giê-su bằng việc năng tự hỏi: “Nếu Đức Giê-su ở trong hoàn cảnh của tôi bây giờ thì Người sẽ làm gì?” rồi quyết tâm làm theo ý Chúa muốn.

4. THẢO LUẬN:

1) Có người nói: “Đời người mau qua chóng hết, nên ta cần phải nếm mọi lạc thú ở đời, để đến giờ chết ta sẽ không còn phải hối tiếc vì cuộc sống quá ngắn ngủi mau qua”. Bạn sẽ nói gì với người ấy giúp họ hy vọng vào một cuộc sống vĩnh hằng đời sau? 2) Ngay từ hôm nay bạn sẽ làm gì để xây dựng gia đình, xã hội trở thành thiên đàng trần gian, một nơi chan chứa sự công bình, yêu thương và hạnh phúc?

5. NGUYỆN CẦU:

– LẠY CHÚA GIÊ-SU: Nếu ngày mai Chúa quang lâm, chắc chúng con sẽ vô cùng bối rối. Bối rối vì bản thân chúng con còn nhiều tội lỗi khuyết điểm, vì môi trường và thế giới chúng con đang sống vẫn nhiều dở dang và còn nhiều người chưa nhận biết tin thờ yêu mến Thiên Chúa. Chúa đến không để hủy diệt những kẻ tội lỗi, nhưng muốn họ ăn năn sám hối và được sống.

– LẠY CHÚA THÁNH THẦN, xin cho chúng con luôn thành tâm sám hối để đón nhận ơn thứ tha của Chúa Cha. Xin cho chúng con biết luôn cộng tác với Chúa Giê-su để xây dựng một “Trời mới Đất mới” công bình và yêu thương, an vui và hạnh phúc. Xin giúp chúng con luôn cậy trông vào tình yêu quan phòng của Chúa Ba Ngôi, vì biết rằng tất cả những điều xảy ra đều nhằm thanh luyện và biến đổi chúng con nên tốt hơn, hầu chúng con có thể tích cực góp phần xây dựng thế giới này ngày một công bình, yêu thương và hạnh phúc hơn.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A
Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

[Mục Lục]

Bài 25. CHIẾN ĐẤU NỘI TÂM
JM. Lam Thy ĐVD.

Theo từ nguyên, thì “vọng” ( 望 ) là: nhìn, hướng về nơi mà tâm trí đang tưởng nhớ, trông chờ; “hy vọng” ( 希望 ) là: mong chờ, trông đợi. Tâm lý chung của con người thì chỉ mong chờ, trông đợi những điều tốt lành, không ai mong đợi những điều xấu xa cả. Vì thế, lịch Phụng Vụ đã quy định 4 tuần trước lễ Giáng Sinh là Mùa Vọng (tượng trưng cho 4.000 năm Cựu Ước trông đợi ngày Chúa giáng trần). Trông đợi ngày Chúa Giáng Sinh là trông đợi Tin Mừng Đấng Cứu Thế xuống trần cứu độ nhân loại, vui mừng phấn khởi là điều tất nhiên; nhưng đọc câu mở đầu bài Tin Mừng hôm nay (CN I/MV-A) thì bất kỳ ai cũng rùng mình sợ hãi: “Quả thế, thời ông Nô-ê thế nào, thì ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy. Vì trong những ngày trước nạn hồng thủy, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nô-ê vào tàu. Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thủy ập tới cuốn đi hết thảy. Ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy.” (Mt 24, 37-39). Tuy nhiên, nếu chỉ là đón mừng Chúa Giáng Sinh thì Chúa đã đến rồi; và chính Người dạy những Lời trên là để nói đến ngày Người đến lần thứ hai (ngày Con Người quang lâm). Vậy phải hiểu vấn đề như thế nào?

Vì sao có nạn Hồng thủy? Ấy cũng bởi vì “ĐỨC CHÚA thấy rằng sự gian ác của con người quả là nhiều trên mặt đất, và lòng nó chỉ toan tính những ý định xấu suốt ngày. ĐỨC CHÚA hối hận vì đã làm ra con người trên mặt đất, và Người buồn rầu trong lòng. ĐỨC CHÚA phán: “Ta sẽ xoá bỏ khỏi mặt đất con người mà Ta đã sáng tạo, từ con người cho đến gia súc, giống vật bò dưới đất và chim trời, vì Ta hối hận đã làm ra chúng.” (St 6, 5-7). Tất cả “mọi xác phàm đã theo nếp sống hư hỏng trên mặt đất.” (St 6, 12), duy chỉ có ông Nô-ê là được đẹp lòng ĐỨC CHÚA, nên Người truyền cho ông đóng một con tàu, rồi đem toàn bộ gia đình ông cùng với mọi sinh vật, mọi xác phàm, mỗi loại một đôi, để giữ cho chúng sống với ông (St 6, 13-22). Sự kiện này đã như một tín hiệu báo cho người đương thời biết nạn lụt hồng thủy sắp xảy ra, vậy mà “thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng”, làm như sẽ không có gì xảy ra cả! Lụt hồng thủy đã xóa sạch những con người vô tâm vô tín đó.

Thái độ “không hay biết gì” ở đây không hẳn chỉ mang nghĩa là “không có khả năng nhận ra”, mà đúng hơn là “không muốn biết”. Như vậy là đã rõ, sở dĩ Đức Ki-tô nói tới ngày Con Người quang lâm sẽ diễn ra quang cảnh như ngày lụt hồng thủy, vì Người đã quá rõ loài người chỉ thích tin vào và “làm tôi tiền của vật chất”, hơn là tin vào và “làm tôi Thiên Chúa”. Cũng đã hơn một lần Người dạy: “Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18, 8). Thực thế, đã có biết bao dấu chỉ tiên báo (từ Cựu Ước) là Con Thiên Chúa sẽ “mặc lấy thân nô lệ, sống như người trần thế, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự”, và Người đã đến, đã sống như “Con Người không có chỗ tựa đầu” (Lc 9, 58) để rao giảng Tin Mừng cứu độ. Một sự kiện đã xảy ra hiện thực nhãn tiền, vậy mà thiên hạ vẫn làm như không hay biết gì, thậm chí còn chống đối lại. Như thế thì ngày Chúa đến lần thứ hai, chắc chắn thiên hạ vẫn nhởn nhơ “bình chân như vại” sống trong tội lỗi ngập đầu, chẳng cần biết sự gì sẽ xảy ra!

Một bài học lớn cho người tín hữu: Thời ông Nô-ê, việc đóng tàu đã trở nên tín hiệu cho một thực tại chắc chắn sẽ xảy đến là nạn lụt hồng thủy. Cũng thế, trong thời đại cứu độ, thành Giê-ru-sa-lem sẽ bị khốn khổ và tàn phá là tín hiệu của ngày Chúa Ki-tô quang lâm. Nếu nạn hồng thủy là một sự kiện lịch sử đã xảy ra đột ngột, thì “ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy”, nghĩa là Đức Giê-su sẽ trở lại lần thứ hai vào một thời điểm nào đó không ai biết được. Biết một sự kiện chắc chắn sẽ xảy đến, nhưng lại không biết nó sẽ xảy ra vào lúc nào, điều này đưa người tín hữu tới một cái biết khác, là biết phải chuẩn bị sẵn sàng như thế nào. Và đó cũng chính là điểm Đức Ki-tô cảnh báo: “Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.” (Mt 24, 44).

Vâng, “Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến.” (Mt 24, 43). Canh thức không phải chỉ là thức suốt đêm này qua đêm khác như một người bị bệnh mất ngủ, mà là phải tỉnh táo, canh giữ, phòng vệ trong mọi trường hợp, mọi lúc, mọi nơi. Nói cách khác là phải cảnh giác trước những hiện tượng thiên nhiên và nhất là những trò lừa bịp, ma mị của ma quỷ thông qua con người, phải tìm đến với Lời Chúa, lắng nghe Lời Chúa và kiên quyết sống theo Lời Chúa dạy. Vâng, nhất quyết “Phải như thế, vì anh em biết chúng ta đang sống trong thời nào. Đã đến lúc anh em phải thức dậy, vì hiện nay ngày Thiên Chúa cứu độ chúng ta đã gần hơn trước kia, khi chúng ta mới tin đạo. Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu. Chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giê-su Ki-tô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thoả mãn các dục vọng” (Rm 13, 11-14).

Chưa hết đâu, đã đành là phải tỉnh thức, nhưng còn phải sẵn sàng chuẩn bị dầu đèn, sẵn sàng đem những nén bạc Chúa trao ra kinh doanh cho có hiệu quả để đầu tư vào kho báu Nước Trời. Với những người ưa thích chiến tranh, khủng bố thì hãy “đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến.” (Is 2, 4). Với những người thu thuế thì “Đừng đòi hỏi gì quá mức đã ấn định cho các anh.” Với binh lính thì “Chớ hà hiếp ai, cũng đừng tống tiền người ta, hãy an phận với số lương của mình.” (Lc 3, 12-14). Nói chung, tất cả đừng sống “vị kỷ” (vì mình) mà hãy sống “vị tha” (vì người) bằng cách “Ai có hai áo, thì chia cho người không có; ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy” (Lc 3, 11). Một cách cụ thể, cần phải có một cuộc “chiến đấu nội tâm” (Rm 7, 14-24) để trở thành con người mới.

Có thế mới gọi là tỉnh thức và sẵn sàng đón chờ ngày Chúa đến, ngày Con Người quang lâm: “Bấy giờ, dấu hiệu của Con Người sẽ xuất hiện trên trời; bấy giờ mọi chi tộc trên mặt đất sẽ đấm ngực và sẽ thấy Con Người rất uy nghi vinh hiển ngự giá mây trời mà đến. Người sẽ sai các thiên sứ của Người thổi loa vang dậy, tập hợp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương, từ chân trời này đến chân trời kia” (Mt 24, 30-31). Vâng, người tín hữu trong những ngày trông đợi hãy vững niềm tin (vì “Đức tin là hy vọng” – xc Tđ “Spe Salvi”, số 1); và kiên trì làm cho mình trở thành những hạt “thóc mẩy”. Thực sự chỉ có như vậy mới không lo sợ “Tay Người cầm nia, Người sẽ rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi.” (Mt 3, 12).

Nếu chỉ hiểu ngày lễ Giáng Sinh như một kỷ niệm sinh nhật của một vị Vua trên hết các vua, Chúa trên hết các chúa, thì 4 tuần lễ của Mùa Vọng sẽ chỉ là một chuỗi ngày quét dọn trang hoàng nhà cửa, may mặc quần áo mới và nhất là mua sắm những chiếc bánh sinh nhật (birthday cake) thật lớn và hợp mốt. Và thực tế đã chứng minh: Người người, nhà nhà (kể cả những nhà không cùng tôn giáo) đã chuẩn bị đón mừng lễ Giáng Sinh như vậy: Sắm những dây đèn màu chớp sáng ngoạn mục, những ngôi sao rực rỡ, những cây thông kiểu cách vá nhất là những hang đá Bê-lem hoành tráng. Việc làm đó là tốt, vì tâm lý chung của con ngườ cái gì cũng thích được “thực mục sở thị” (trông thấy nhãn tiền), và chính những cái được nhìn thấy ấy sẽ tạo ấn tượng tốt đẹp trong lòng.

Tuy nhiên, nếu chỉ có vậy thì vẫn chưa đủ, mà cần phải đi sâu vào ý nghĩa thần học của Mùa Vọng: Mùa Trông Đợi Chúa đến lần thứ hai. Vâng, Mùa Vọng phải là mùa trông đợi, mùa chờ đón Tin Mừng Đấng Cứu Thế quang lâm lần thứ hai. ”Quả thế, chúng ta đã được cứu độ, nhưng vẫn còn phải trông mong. Thấy được điều mình trông mong, thì không còn phải là trông mong nữa: vì ai lại trông mong điều mình đã thấy rồi? Nhưng nếu chúng ta trông mong điều mình chưa thấy, thì đó là chúng ta bền chí đợi chờ.” (Rm 8, 24-25). Đã đành là Chúa đã đến, đang đến và luôn sẵn sàng ở lại trong cung lòng mỗi người hàng ngày hàng giờ, nhưng chỉ những người ngay lành, công chính mới thực sự được Chúa ở cùng “mọi ngày cho đến tận thế”. Ngày Chúa quang lâm lần thứ hai thì chưa tới và có thể tới bất cứ lúc nào, tới vào lúc loài người bất ngờ nhất, và khi Người tới thì toàn thể nhân loại đều được diện kiến. Duy chỉ có điều – và là điều cần quan tâm nhất, cần lo lắng nhất – là vào ngày giờ ấy, ai sẽ được đứng ở bên phải và ai sẽ phải đứng ở bên trái Chúa.

Chính vì thế, xin hãy biến 4 tuần lễ Mùa Vọng đón chờ ngày Chúa giáng trần trong năm Phụng vụ thành mùa vọng trong suốt cuộc đời trông đợi Chúa quang lâm vào ngày cánh chung vũ trụ. Ngay từ bây giờ, có thể anh vừa mới sinh ra, có thể chị đang ở tuổi thanh niên, trung niên, có thể ông bà đang ở vòng bóng xế, và cũng có thể các cụ đang thèm ăn đất hơn thèm ăn cơm, chân trên lỗ chân dưới lỗ, xin tất cả “Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn. Hãy làm như những người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa về tới và gõ cửa, là mở ngay. Khi chủ về mà thấy những đầy tớ ấy đang tỉnh thức, thì thật là phúc cho họ. Thầy bảo thật anh em: chủ sẽ thắt lưng, đưa họ vào bàn ăn, và đến bên từng người mà phục vụ” (Lc 12, 35-37). Vâng, xin hãy thực sự sống cuộc đời trần thế cho Mùa Vọng Nước Trời mai hậu sẽ được đứng ở bên phải Chúa, ngẩng cao đầu diện kiến Thiên nhan Đấng Cứu Tinh.

Khi tác giả viết những dòng này, thì thế giới đang sững sờ và hoảng loạn vì một siêu bão vừa ập xuống Phillippine. Theo số liệu mới nhất do Hội đồng quốc gia xử lý và giảm thiểu nguy cơ thiên tai của Philippines (NDRRMC) công bố ngày 19/11/2013, bão Haiyan đã cướp đi sinh mạng của 3.892 người và làm 18.267 người bị thương. Một tuần sau khi cơn bão đi qua, hiện 1.602 người vẫn mất tích (Báo điện tử online <Khoahoc.com.vn>). Trong khi đó thì nội chiến, chiến tranh, khủng bố vẫn hoành hành trên mặt đất. Phải chăng đó chính là những dấu hiệu cảnh báo ngày cánh chung đã cận kề? Chính vì thế, người Ki-tô hữu hãy tỉnh thức và sẵn sàng, đừng đắm chìm trong dục vọng u mê tăm tối nữa. Nào, “Hãy trỗi dậy hỡi ai ngủ mê. Hãy trỗi dậy từ cõi chết, Chúa sẽ chiếu ngời ánh quang vinh trên đầu ngươi. TK- Ðã bao năm qua gian trần miệt mài sống trong vòng u tối. Giờ được Chúa dẫn vào nguồn sống, ta hãy bước theo đường quang vinh.” (TCCĐ “Hãy trỗi dậy hỡi ai ngủ mê”). Ước được như vậy. Amen.

[Mục Lục]

Bài 26. Ngày Chúa đến
AM Trần Bình An

Vào lúc 4h40, ngày 8/11/2013, siêu bão Haiyan đổ bộ vào đảo Samar, cách thủ đô Manila 600 km về phía đông nam và ở miền trung Philippines, rồi nhanh chóng di chuyển về phía tây bắc, tấn công các tỉnh Leyte và Iloilo. “Sức gió đạt 315 km/h, hiếm có tòa nhà nào chịu được gió mạnh đến thế”, AFP dẫn lời miêu tả siêu bão của chuyên gia khí tượng Jeff Master thuộc tổ chức Weather Underground.

Tại Tacloban, thủ phủ tỉnh Leyte, chỉ ít phút sau khi Haiyan đổ bộ, nước lũ cao 6 mét tràn lên nhanh chóng, nhấn chìm các khu dân cư ven bờ biển. New York Times dẫn lời Virginia Basinang, một giáo viên về hưu 54 tuổi, cho biết bà và gia đình gần như không kịp phản ứng gì khi bão về. Họ chỉ biết vật lộn tìm cách thoát thân trong dòng nước lũ.

Hình ảnh dòng nước chảy siết, tiếng người bị nạn gào thét, xác người và mảnh vỡ nổi lềnh bềnh hằn sâu trong tâm trí Basinang. “Có những người hoặc kiên trì, hoặc may mắn mà thoát chết, nhưng đa số thì không được như vậy”, bà cho biết. Nửa tiếng sau khi Haiyan ập vào bờ, 14 xác chết xuất hiện quanh mảnh tường đối diện nhà bà.

Thành phố với 220.000 người dân này bỗng chốc trở nên hoang phế, khi xác chết đầy đường, nhà cửa bị tàn phá, cây cối bật gốc và hệ thống điện, viễn thông bị ngắt. Những người sống sót trắng tay, không nhà cửa, thiếu thốn nước uống và thực phẩm.

Trong trích thuật Tin Mừng Mat thêu hôm nay, Đức Giêsu loan báo ngày cánh chung sẽ đến rất bất ngờ. Người kêu gọi mọi người phải tỉnh thức và sẵn sàng.

Bất ngờ

Thân phận con người quá mong manh, khó chống đỡ nổi thiên tai bão táp. Vừa qua, dân chúng Philippinnes dù đã được cảnh báo trước về nguy hiểm của siêu bão Haiyan, nhưng cũng đành chịu thúc thủ trước sức tàn phá kinh hồn.

Chẳng ai biết được khi nào “Chúa thương gọi con về.” Cái chết của mỗi người cũng coi như ngày cánh chung cá nhân. Thường bất chợt, thình lình như kẻ trộm đêm khuya, như chủ đi đình đám về, như chú rể khuya khoắt đến đón dâu. Vậy Đức Giêsu mới tận tình khuyên nhủ: “Vậy anh em hãy tỉnh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào Con Người đến.” (Mt 25, 13)

Chúa Giêsu luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của thời hiện tại. Người muốn Kitô hữu sống viên mãn ngay bây giờ, chứ không chần chừ chờ đến khi ngấp nghé cửa huyệt, mới vội vã chuẩn bị.

Với dân chúng trong hội đường: “Hôm nay đã ứng nghiệm đoạn Sách Thánh này nơi tai các ngươi.” (Lc 4,16-22).

Với Zakêu: “Hôm nay ơn cứu rỗi đã đến cho nhà này. …, vì Con Người đến để tìm cứu sự đã hư đi”. (Lc 19, 1-10):

Với người trộm lành: “Quả thật, Ta bảo ngươi: hôm nay ngươi sẽ ở trên Thiên Đàng làm một với Ta”. (Lc 23,43)

Muốn khỏi bị động, khỏi bất ngờ với cái chết, chỉ còn con đường duy nhất là luôn sống mật thiết, gắn bó với Chúa trong từng giây phút hiện tại.

“Sống bổn phận hiện tại không phải là thụ động, nhưng: là liên lỉ canh tân, là quyết định chọn hay chối Chúa, là tìm nước Chúa, là tin ở tình yêu vô bờ của Chúa, là hành động với tất cả hăng say, là thể hiện mến Chúa yêu người,“ngay trong giây phút này.”(Đường Hy Vọng, số 26)

Tỉnh thức

Để tránh lâm vào tình thế bất ngờ, thì luôn sống tỉnh thức, luôn tỉnh táo, chiến đấu thoát ra khỏi cõi u mê, mù lòa vì đam mê, ham muốn vật chất, xác thịt, tiện nghi, danh lợi, chức quyền. Cái khôn ngoan, cái tài giỏi, mánh lới thế gian luôn trái nghịch với sự sáng suốt, thông minh và đạo đức của Chúa Thánh Thần. Những ai thật tình theo Chúa thì từ bỏ thói đời, cùng những khuynh hướng vụ lợi, đều trở nên dại dột, điên khùng dưới mắt thế gian, vì chịu thua thiệt, bị chế giễu, bị ức hiếp, tù tội.

Thoát ra khỏi vòng kiềm tỏa của công danh, vật chất, lợi lộc, nhất là cám dỗ hưởng lạc, không phải dễ dàng, nếu không biết sám hối, ăn năn quay trở về, nương cậy vào tình khoan dung, lòng thương xót vô biên của Chúa.

“Hãy cố gắng, dù yếu đuối ngã sa, con hãy xin Chúa thứ tha và tiếp tục tiến. Trên võ đài, trong vận động trường quốc tế, các lực sĩ cũng lắm lần ngã quỵ, bị nhiều cú đấm, bị thương tích, nhưng cứ vùng dậy, cứ hy vọng, họ đã đoạt giải vô địch quốc tế. (Ðường Hy Vọng, số 971)

Sẵn sàng

Tỉnh thức mà chưa sẵn sàng về với Chúa, thì cũng phí công vô ích. Tỉnh thức mà không làm chi hết, chỉ thụ động chờ Chúa gọi về cũng hoài công. Tỉnh thức để sẵn sàng và tích cực chiến đấu ba thù với trang bị áo giáp là Đức Kitô qua Lời Chúa, Thánh Thể cùng các phép Bí Tích. Thánh Phaolô đã khẩn thiết khuyên nhủ tín hữu Roma hãy năng động chuẩn bị ngày cánh chung:

“Ðêm sắp tàn, ngày gần đến. Chúng ta hãy từ bỏ những hành vi ám muội và mang khí giới ánh sáng. Chúng ta hãy đi đứng đàng hoàng như giữa ban ngày, không ăn uống say sưa, không chơi bời dâm đãng, không tranh chấp ganh tị. Nhưng hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô, và chớ lo lắng thoả mãn những dục vọng xác thịt.” (Rm 13, 12-14)

“Chỉ có một sự thất bại là không hy vọng vào Chúa. Nếu con đã hy vọng vào Chúa thì con sẽ không phải hổ thẹn đến muôn đời” (Đường Hy Vọng, số 43)

Lạy Chúa Giêsu, xưa Người đã nhắc nhở các môn đệ: “Anh em hãy canh thức vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến.” Xin Chúa cho chúng con luôn biết tỉnh thức, luôn sẵn sàng đón Chúa ngự đến, bằng đời sống sốt sắng thờ phượng Chúa và chan hòa tình bác ái yêu thương.

Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ luôn nhắc nhủ chúng con biết khiêm nhường nhìn lại bản thân, sám hối, ăn năn và sống chân thành theo Lời Chúa, để xứng đáng được cứu rỗi. Amen.

[Mục Lục]

Bài 27. Suy niệm của ĐGM Phaolô Maria Cao Đình Thuyên

Với Chúa nhật hôm nay, chúng ta chính thức bước vào mùa vọng. Mùa vọng là mùa chuẩn bị tâm hồn đón mừng Chúa đến trong ngày Giáng sinh để Chúa hiện diện ở giữa chúng ta. Mùa vọng là thời gian để chúng ta hướng về ngày Chúa đến, đồng thời chuẩn bị tâm hồn để đợi chờ Chúa đến. Chúa đến thế gian này hai lần: lần 1, đã đến cách đây hơn hai ngàn năm. Và lần hai, chưa đến nhưng chắc chắn sẽ đến. Vì thế, mùa vọng có hai ý nghĩa: 1- là chuẩn bị tâm hồn mừng kỷ niệm biến cố Chúa đến lần thứ 1, cách đây hơn hai ngàn năm; 2 là chuẩn bị đón Chúa đến lần thứ hai. Lần này chúng ta không biết sẽ xảy ra lúc nào. Có thể còn lâu nhưng cũng có thể sắp đến nơi rồi. Ngài nói Ngài sẽ đến như kể trộm. Thực ra Chúa đã và đang ở giữa chúng ta. Nhưng lắm khi chúng ta không gặp gỡ Ngài hoặc chúng ta sống như là không có Ngài hiện diện. Vì thế, Thánh Phaolô đã kêu gọi chúng ta: “Đêm sắp tàn, ngày gần đến, chúng ta từ bỏ những hành vi ám muội và mang khí giới ánh sáng”. Trước lúc Chúa ra đời, nhân loại đã sống trong đêm tối tăm, đêm tối của lầm lạc của tội lỗi. Rồi mùa giáng sinh đã đến. Ánh sáng đã xuất hiện. Thiên Chúa đã xuống giữa chúng ta bằng xương, bằng thịt. Loài người không lên được với Thiên Chúa thì Thiên Chúa đã xuống với loài người. Một em bé đang chơi giữa sân, bỗng một chiếc máy bay vụt qua, em bé ngẩng nhìn theo và hỏi bố; bố ơi, sao người ta có thể lên trời để vào máy bay nhỉ? Bố nói: con ơi máy bay có đậu xuống đất để người ta vào trong máy bay rồi mới cất cánh lên trời con ạ. Chúa đã Giáng sinh làm người và ở giữa chúng ta để đem chúng ta lên trời. Nay mai chúng ta sẽ long trọng mừng kỷ niệm Chúa xuống lần thứ 1 trong lịch sử. Rồi sau ngày Chúa đi vào lịch sử trong âm thầm lặng lẽ tại Bêlem, sẽ có một ngày Chúa lại đến trong vinh quang, ngày Chúa đến phán xét chung với hết mọi người, bởi vậy Chúa dạy chúng ta phải khôn ngoan như những đầy tớ canh thức đợi chủ trở về; Thiên Chúa căn dặn chúng ta hãy coi chừng, hãy tỉnh thức và cầu nguyện, vì chúng con không biết lúc nào, giờ nào chủ nhà sẽ trở về.

Ấy thế nhưng vẫn có bao nhiêu người sống như không có Chúa hay như việc Chúa đến còn xa, thật xa để rồi cũng như dân chúng thời ông Noe, lụt hồng thủy ập đến cuốn đi tất cả mà không ngờ. Mùa vọng là thời gian thuận lợi để Giáo hội nhắc nhở ta phải luôn luôn chuẩn bị và sẵn sàng đón chờ Chúa đến. Chúa đến khai mở một kỷ nguyên mới, một kỷ nguyên không còn chiến tranh, bất công hận thù, một kỷ nguyên không còn nước mắt khổ đau, một kỷ nguyên sự thiện toàn thắng sự ác vĩnh viễn, một kỷ nguyên thanh bình hạnh phúc, một kỷ nguyên là trời mới đất mới.

Như vậy, Mùa vọng kêu gọi mọi người chúng ta phải luôn tỉnh thức cầu nguyện để chờ đón Chúa. Tỉnh thức đây là một thái độ tinh thần không có ngăn cách với đời sống hiện tại mà là một phần của đời sống hằng ngày. Nó không có gì khác thường, không đòi hỏi phải từ bỏ các hoạt động hằng ngày để theo đuổi một cái gì xa vời. Không, tỉnh thức đây là sống cho ra sống, sống mà biết vì sao mình sống, sống có chủ ý, sống có ý thức, sống như Thánh Phaolô dạy tín hữu Rôma: hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng cũng không cãi cõ ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Kitô. Tóm lại phải sống cách tích cực chứ không máy móc thụ động. Xin cho mùa vọng này thực sự là một mùa đem ơn cứu rỗi cho chúng ta. Thánh Gia Thất đã chuẩn bị mùa vọng cho Chúa đến bằng cả một quảng đời từ khi còn trong bào thai, đến nơi hoang địa và mãi đến lúc đầu Gioan được để lên đĩa bạc của vua Hêrôđiađ. Còn chúng ta, chúng ta sửa soạn gì cho mùa vọng năm nay? Chúng ta chỉ xứng đáng hưởng hoa quả ân lộc bình an của Chúa Kitô, nếu chúng ta biết chuẩn bị từ hôm nay để đón Chúa đến. Chúng ta đang sống trong quảng thời gian quan trọng giữa hai thời điểm: lúc Chúa Kitô đến lần 1 và lúc Ngài đến lần hai. Chúng ta chờ đón Chúa không phải chỉ ngồi chăm chú thánh thiện nhìn lên trời mà bổn phận chúng ta là phải hoàn tất công việc ngài đã giao cho chúng ta. Trước khi về cùng Cha, Chúa truyền cho chúng ta : các con hãy đi khắp nơi rao giảng nước trời, làm phép rửa cho họ và dạy cho họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con. Chúa Kitô đã chết. Chúa Kitô đã sống lại. Chúa Kitô sẽ trở lại. Ngài sẽ xét xử chúng ta về sứ mạng loan báo nước Chúa ở trần gian. Hãy hồi tâm cầu nguyện xin Chúa giúp ta trung kiên trong công việc Chúa giao phó. ACE thân mến, tiến vào Mùa vọng, mỗi chúng ta phải mau mắn đáp lại lời mời gọi của Chúa và Giáo hội để có thái độ chờ đợi đúng nghĩa, tức là thái độ chờ đợi tích cực, chờ đợi trong tỉnh thức để nhận diện những gì cần phải thay đổi trong đời sống cá nhân, gia đình, giáo xứ, xã hội. Tĩnh thức để nhận ra con Thiên Chúa làm người, tỉnh thức để tìm hiểu, mỗi chúng ta có thể làm được gì để tiếp tục công việc Chúa Giêsu đã khởi công, với mục đích biến bộ mặt xã hội chúng ta đang sống thành một trời mới đất mới, thành nơi tình thương được thể hiện đến độ viên mãn.

Tóm lại vào những giây phút đầu tiên của năm phụng vụ mới, chúng ta được mời gọi nhìn đến những đích điểm sau cùng của cuộc đời là Chúa Giêsu ở cuối chân trời lịch sử, ở điểm kết thúc cuộc đời chúng ta trên trần gian này. Chúng ta được mời gọi nhìn vào Ngài đang đến và chắc chắn sẽ đến vào lúc chúng ta không ngờ. Nhưng không phải chỉ nhìn vào Ngài rồi án binh bất động chỉ ngồi chờ nhưng phải vừa chờ, vừa nhìn đến đích điểm là Chúa đang đến, vừa chuẩn bị xem xét lại cuộc sống hiện tại của mình: tương quan giữa Chúa và ta hiện như thế nào? chắc ta đã nghe Chúa phán hãy tỉnh thức và cầu nguyện. Hãy đến với ta hỡi những ai gồng gánh nặng nề… Để chuẩn bị tốt cho ngày đón Chúa lần hai, hãy đến với Chúa Giêsu Thánh Thể vì Ngài là bánh hằng sống. Ngài ban thịt máu Ngài làm của ăn cho ta để ta được sống và sống dồi dào. Cũng như xác cần của ăn để nuôi dưỡng hàn gắn thương tích và làm phát sinh lớn mạnh, Thánh Thể Chúa cũng vậy. Ăn Chúa ta sẽ đủ sức để đập tan mọi chống phá của tội lỗi, hàn gắn những vết thương và lập thêm được công phúc, tập luyện được những đức tính cần thiết cho cuộc đón tiếp mai ngày. Đời sống các Thánh là một minh chứng rõ rệt. Các thánh tử đạo anh hùng bất khuất trước những cực hình ghê rợn, các thánh đồng trinh kiên hùng giữ được tấm thân tinh tuyền giữa bao trụy lạc xa hoa trần thế. Và những người công giáo chân thực, họ đã sống yêu thương thân mật với nhau như anh em một nhà, làm nhiều người ngoài phải ngạc nhiên. Tất cả đều do Thánh Thể. Chính nhờ Thánh Thể mà tất cả đã sống một cách sung mãn như đòi hỏi của Chúa. Ôzanam, một vĩ nhân công giáo đã nói: giả như có lúc nào cả thế giới đều bỏ Chúa Giêsu, thì tôi, tôi vẫn còn tìm được trong sự chịu lễ và dòng nước mắt chảy ra, lúc đó một sự dịu ngọt khôn tả, một sự mạnh tin vững vàng làm tôi ẵm chặt lấy thánh giá và không xem sao sự không tin của cả thế giới. Sẽ tuyệt vời nếu vào cuối mùa vọng ta sẽ có thể chân thành nói rằng: nhờ ơn Chúa, tôi đã dứt bỏ được một số hình thức bóng tối khỏi con người tôi, tôi đã để cho ánh sáng chiếu tỏa trên tôi để tôi sẵn sàng gặp Chúa.

[Mục Lục]

Bài 28. ĐỢI CHỜ, NHƯNG PHẢI HÀNH ĐỘNG
Jos. Vinc. Ngọc Biển

Mỗi khi Mùa Vọng về, người ta thường nhắc nhau đi tham dự các buổi tĩnh tâm, xưng tội, làm các việc bác ái và hy sinh để chuẩn bị đón mừng lễ Chúa Giáng Sinh. Tại sao lại thế? Thưa, vì Mùa Vọng chính là mùa sống lại tinh thần đợi trông Con Thiên Chúa xuống thế làm người để cứu độ nhân loại của dân Dothái xưa, và ngày nay, chúng ta đang đợi chờ Chúa đến với chúng ta lần thứ hai trong ngày quang lâm. Tuy nhiên, đợi trông không có nghĩa là cứ ngồi rồi mong ngóng như con trẻ mong mẹ đi chợ về. Cũng không phải như những người ngủ mê, sống ù lì và há miệng chờ sung rụng. Nhưng đợi trông ở đây gắn liền với hành động, một thứ hành động trong tỉnh thức. Tỉnh thức để biết được đâu là điểm chính yếu, đâu là phụ thuộc, đâu là cái vĩnh hằng, đâu là cái nhất thời. Tỉnh thức cũng là tinh thần của người khôn ngoan biết chọn lựa cái tốt và loại trừ cái xấu. Chờ đợi theo tinh thần của những người tin là hướng về phía “Ánh Sáng” mà tiến bước trong hân hoan.

1. Hãy tỉnh thức và sẵn sàng

Bài Tin Mừng hôm nay, được nối tiếp một loạt giáo huấn của Đức Giêsu về ngày cánh chung; những đau đớn sẽ xảy ra trong ngày đó; ngày đó chắc chắn sẽ xảy ra, nhưng xảy ra ngày nào thì không ai biết (x. Mt 24, 1-36).

Trang Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu nhấn mạnh trực tiếp đến tính bất ngờ của ngày ấy và làm sáng tỏ sự bất định của cái chết khi trích dẫn câu chuyện thời ông Noe: “Những ngày trước đại hồng thuỷ, người ta ăn uống, dựng vợ gả chồng, mãi đến chính ngày ông Noe vào tàu mà người ta cũng không ngờ, thình lình đại hồng thuỷ đến và cuốn đi tất cả” “khi Con Người đến, cũng sẽ xảy ra như vậy” (x. Mt 24, 37-39). Ngày đó sẽ là ngày tách chiên ra khỏi dê, lọc lúa ra khỏi cỏ lùng, là ngày thưởng phạt theo lẽ công bằng. Ai đã chuẩn bị xứng đáng thì sẽ hân hoan, còn ai không sẵn sàng thì bị loại ra, số phận của mỗi người hoàn toàn khác nhau tùy vào thái độ của họ. Chính cái làm nên điều khác biệt đó là biết tỉnh thức hay không!

Như vậy, tỉnh thức chính là điều kiện cần cho ơn cứu độ. Để chứng minh điều này, Đức Giêsu đã đưa ra hình ảnh hai người đàn ông đang làm ruộng, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại; hai người đàn bà đang kéo cối xay, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại (x. Mt 24, 40). “Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến” (Mt 24, 42). Bởi vì ngày ấy đến như kẻ trộm lúc đêm khuya (x. Mt 24, 43). Như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em (x. Lc 21,34).

Quả thật, ngay từ giây phút này, chúng ta phải chuẩn bị cho tốt, để nếu điều đó xảy ra cho chúng ta cách này hay cách khác, ban ngày hay đêm khuya, ta đâu có sợ hãi chi.

Hãy tỉnh thức, tức là không mê ngủ, nhưng luôn “thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn” để đón Chúa đến bất cứ lúc nào (x. Lc 12,35-48). Tỉnh thức còn là sự trung tín với Chúa bằng việc cầu nguyện không ngừng (x. Lc 18,1), không nhàm chán hay nản chí (x. Lc 18,1).

Tỉnh thức như: người đầy tớ hoàn thành nhiệm vụ được trao phó (x. Mt 24, 45-51).

Như năm cô trinh nữ khôn ngoan biết phòng xa mang dầu theo (x. Mt 25, 1-13)

Như người được trao vốn và đem kinh doanh sinh lời lãi cho ông chủ (x. Mt 25, 14-30)

Cuối cùng, tỉnh thức bằng cách sống yêu thương và phục vụ theo tinh thần của Chúa (x.Ga 13,6); (Ga 15,13).

Như vậy, tinh thần của Mùa Vọng không phải là đợi chờ trong mòn mỏi, day dứt khôn nguôi nhưng là đợi chờ trong hy vọng. Cũng không phải đợi chờ mà không làm gì cả, nhưng làm việc trong đợi chờ với thái độ tỉnh thức Và, không phải đợi chờ một ai đó, nhưng là đợi chờ chính Con Thiên Chúa.

Thánh Phaolô cũng khuyên các tín hữu của mình hãy chuẩn bị sẵn sàng để đón đợi ngày Chúa đến. Ngài đã không khuyên cách chung chung, mà là cụ thể: “Chúng ta hãy từ bỏ những hành vi ám muội và mang khí giới ánh sáng. Chúng ta hãy đi đứng đàng hoàng như giữa ban ngày, không ăn uống say sưa, không chơi bời dâm đãng, không tranh chấp ganh tị”. Bởi vì “Giờ phần rỗi của chúng ta gần đến… Đêm sắp tàn, ngày gần đến” (x. Rm 13, 11-14).

2. Sống Lời Chúa

Hãy tỉnh thức là điều mà Đức Giêsu muốn mời gọi mỗi chúng ta. Sứ điệp lời Chúa hôm nay nhắc nhớ chúng ta rằng: đừng dại dột mà chỉ lo cho cuộc sống hiện tại này, đừng bám vào những thứ phù vân, bởi vì phù vân chỉ là phù vân. Phù vân nối tiếp phù vân. Đừng sống như những vật vô tri, không biết lo cho ngày mai. Cũng đừng sống như những người nghĩ mình không bao giờ phải chết. Nhưng hãy chuẩn bị cho tương lai của mình một cuộc sống hạnh phúc thật bằng việc siêng năng cầu nguyện, xưng tội, rước lễ, làm việc bác ái, hy sinh hãm mình, loại trừ cái xấu và thay vào đó là những điều tốt.

Nếu không tỉnh thức nội tâm thực sự, thì những hành vi bề ngoài như làm hang đá, đèn sao sầm uất, trang trí lộng lẫy chỉ là những trò giả tạo, giả hình. Chỉ như cái thùng kêu to là cái thùng rỗng, nhưng thực chất bên trong chẳng có gì. Thật vậy, những hình thức bên ngoài đó chỉ có giá trị khi nó được nội tâm hóa từ bên trong, tức là bên trong đã có và đây chỉ là diễn tả ra bên ngoài mà thôi.

Lạy Chúa, xin cho chúng con mỗi khi Mùa Vọng về, là mỗi dịp chúng con cần thức tỉnh lương tâm; đồng thời biết hành động đúng theo tinh thần của Chúa để được ơn cứu độ trong ngày Chúa đến đón đợi chúng con. Amen.

[Mục Lục]

Bài 29. Hôm nay là ngày tôi xin đón nhận!
Lm. JB Nguyễn Hữu Thy

Chúng ta thường nghe nói: «Ðiều gì làm được ngày hôm nay thì đừng để đến ngày mai!» Ðây là câu nói tôi nghe thuộc nằm lòng từ khi còn học trường mẫu giáo và tôi lại sực nhớ đến mỗi khi tôi trì hoãn một công việc gì đó về sau mới làm, chứ chưa muốn làm ngay: đó thường là những công việc đòi nhiều vất vả hay không mấy thích thú, nhưng cũng rất có thể là những việc bình thường, như viết một lá thư cho người thân hay đi thăm một người nào đó, v.v… Và rồi nhiều khi tôi cũng đã cảm nghiệm được rằng những việc tôi đã trì hoãn như thế, về sau đã quá trễ, không còn điều kiện để thực hiện được nữa! Trong những trường hợp như thế, chỉ còn lại một hậu quả không thể tránh được, đó là sự thất vọng mà nhiều khi tôi hay biết được qua một đệ tam nhân, còn chính tôi thì phải đối mặt với một mặc cảm tội lỗi đang dằn vặt lòng mình. Nhưng đôi khi đó cũng là dịp tốt nhắc bảo tôi lần sau phải nghiêm chỉnh thực hiện ngay những gì có thể.

Thánh Phaolô đã nhắc bảo giáo đoàn Roma: «Anh em hãy nghĩ đến thời gian mình đang sống: Ðã đến lúc anh em phải thức dậy, vì hiện nay ngày Thiên Chúa cứu độ đã đến gần» (Rm 13,11). Bài Tin Mừng hôm nay cũng kêu gọi hãy tỉnh thức trước hết trong cuộc sống bình thường hằng ngày, vì chính ngày hôm nay đối với những người Kitô hữu chúng ta, chứa đựng các giá trị và tính cách quan trọng của nó khi hướng nhìn về tương lai trong mùa vọng, trong sự mong đợi Chúa đến.

Hôm nay, chúng ta đang cùng bắt đầu Mùa Vọng của năm thứ 2013 sau khi Ðức Kitô, Ðấng Thiên Sai, đã giáng sinh trong máng cỏ Bê lem.

Phần tôi, tôi ý thức được rằng thỉnh thoảng không chỉ sự trì hoãn hay dời lại một việc làm nào đó đã thuộc về một phần của cuộc sống hằng ngày của tôi, nhưng còn cả đến những điều ngạc nhiên và tình cờ khác, vui cũng như buồn, thích thú cũng như khó chịu. Bao nhiêu người trong chúng ta đã đích thân trải qua những điều đó: Trong khi mọi sự tuần tự trôi qua cách bình thản êm xuôi, bỗng chốc cuộc sống bị ngưng trệ, bị đảo lộn và bị sụp đổ mà không một chút dự đoán trước, không có một nguyên nhân rõ ràng nhất định. Đúng vậy, bệnh tật, tai nạn hay bất cứ một bất hạnh rủi ro nào đó đột nhiên xảy ra, đã làm thay đổi và làm đảo lộn toàn bộ cuộc sống của một con người hay của nhiều người.

Chỉ những ai biết trải qua và biết tổ chức sống thời giờ của ngày hôm nay một cách rõ ràng và đầy ý thức, cũng như không để mình bị lôi cuốn vào cách sống vô thức, chính những người đó đã thực sự sống trọn đời mình, chứ không phải thụ động để cho dòng đời lôi cuốn xô đẩy và trôi dạt vô định hướng, và chính những người đó sẽ luôn biết bình tĩnh và khôn ngoan đối mặt với tất cả những sự cố buồn vui, ngoại lệ và bất chợt xảy ra trong cuộc sống, như những người luôn tỉnh thức canh giữ nhà mình chứ không để cho kẻ trộm được tự do đào ngạch khóet vách được (x. Mt 24,42).

«Anh em hãy nghĩ đến thời gian mình đang sống» cũng là một lời nhắc nhủ khẩn thiết đối với tất cả mọi người chúng ta là hãy luôn tỉnh thức tổ chức và sắp xếp cuộc sống mình một cách hài hòa trong tương quan với cuộc sống và những sinh hoạt của môi trường, nơi mình sinh sống, trong tương quan với những sự cố chính trị, văn hóa và kinh tế của cả đất nước, cũng như nối liền những điều kiện sống của cả nhân loại trên khắp thế giới.

«Anh em hãy nghĩ đến thời gian mình đang sống!» Chúng ta đều biết rằng thời gian Mùa Vọng năm này đặc biệt rất ngắn ngủi: vỏn vẹn chỉ có ba tuần lễ là tới Lễ Giáng Sinh! Chúng ta có thể phàn nàn vì thời giờ sắm sửa cho ngày đại lễ quá ngắn ngủi nên mọi việc đều có vẻ hấp tấp vội vàng, chứ không được thong thả như mọi năm khác. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể khám phá ra rằng chính thời gian soạn sửa trước lễ Giáng Sinh ngắn ngủi như thế đã cho chúng ta một dịp tốt để chúng ta chỉ giới hạn vào việc soạn sửa những gì chính yếu cho ngày lễ. Chẳng hạn: Ðừng để cho mình bị môi trường sống chung quanh lôi cuốn đưa đẩy; hãy biết tìm cho mình những giây phút yên tĩnh để suy tư về cuộc sống, nhất là để cầu nguyện, để tiếp cận với Thiên Chúa, thay vì ngồi hàng giờ viết hết thư này đến thiếp nọ hay mất cả ngày đi mua sắm quà cáp; Hãy biết kìm hãm và kiêng khem các nhu cầu thể xác, hầu cho tâm hồn được thanh thản, được tỉnh táo để dễ dàng biết nhạy cảm trước những đau khổ và thiếu thốn của đồng loại mà ra sức giúp đỡ.

Nếu chúng ta biết tổ chức và lợi dụng thời gian tuy ngắn ngủi trước lễ Giáng Sinh để sống trọn ngày hôm nay của mình bằng những bước đi nho nhỏ như thế, rất có thể Ðức Giêsu lại được sinh hạ trong chính cuộc đời chúng ta, và như thế chúng ta sẽ hưởng được đầy đủ niềm vui ngày đại lễ và nhất là sẽ cải thiện và tìm cho cuộc sống của mình một hướng đi chân chính mới mẻ.

«Anh em hãy nghĩ đến thời gian mình đang sống!» Lời thánh Phaolô nhắc tôi nhớ lại những lời sau đây của một tác giả vô danh người Ðức:

Heute ist der Tag, den der Herr gemacht hat,
Heute ist der Tag, der morgen zählt.
Heute ist der Tag, den keiner bestreitet,
Heute ist der Tag, ich nehme ihn an.
Heute – nicht gestern. Heute – nicht morgen.

Heute ist mein Tag. Wer morgen erst gut wird, ist heute noch böse. Wer morgen erst Frieden macht, lebt heute noch im Krieg. Wer morgen erst satt macht, kann heute nicht im Recht sein. Wer morgen erst anfängt, zählt heute nicht. Heute – nicht gestern. Heute – nicht morgen. Heute ist mein.

Tạm dịch:

Hôm nay là ngày Thiên Chúa đã làm ra,
Hôm nay là ngày, mà ngày mai mới kể.
Hôm nay là ngày, mà không một ai chối cãi được,
Hôm nay là ngày tôi xin đón nhận.
Hôm nay – không phải hôm qua. Hôm nay – không phải ngày mai.

Hôm nay là ngày, thời giờ đời tôi. Ai chờ đến ngày mai mới tốt được, thì hôm nay vẫn còn xấu xa. Ai chờ đến ngày mai mới kiến tạo hòa bình, thì hôm nay vẫn còn trong chiến tranh. Ai chờ đến ngày mai mới làm cho no nê, thì hôm nay vẫn chưa cư xử đúng. Ai chờ đến ngày mai mới bắt đầu, thì hôm nay chưa được kể tới. Hôm nay – không phải hôm qua. Hôm nay – không phải ngày mai. Hôm nay là ngày, thời giờ đời tôi.

[Mục Lục]

Bài 30. Con Người sẽ đến
P. Trần Đình Phan Tiến

Vâng, kính thưa quý vị, mở đầu một năm phụng vụ mới, là một ngày mới, một năm mới theo niên lịch phụng vụ. Nhưng một năm phụng vụ mới được bắt đầu bằng Mùa Vọng, vậy hôm nay là Chúa Nhật I mùa vọng, khởi đầu cho một hành trình siêu nhiên, được khởi sự bởi Đấng Cứu Chuộc Giêsu- Kitô, Con Thiên Chúa Làm Người.

Nhưng Chúa Nhật I mùa vọng năm A hôm nay, giáo hội trình bày cho chúng ta những Lời giáo huấn của Chúa Giêsu qua Tin Mừng của thánh Mattheu 24,37-44. Vậy, đâu là điều quan trọng trong đoạn Lời Chúa hôm nay.

Thưa đó là: “Con Người sẽ đến” (c 44)”. Con Người” là ai? Thưa, chính là Đấng cứu chuộc Giêusu- Kitô. Như vậy, có thể nói, đoạn Tin Mừng hôm nay cho thấy ngày giờ Chúa lần Thứ II trong thế giới và trong mỗi người chúng ta rất quan trọng. Khi Chúa Giêsu đến lần thứ nhất trong trần gian cùng với nhân tính của Người, qua hành trình nhập thể và nhập thế như một phàm nhân. Nhưng khi Người đến lần II thì không phải chỉ với phần nhân tính của Người mà là Người sẽ đến trong uy quyền của Thiên Chúa. Theo đó, ngày mà “Con Người “sẽ đến là ngày mà từng người trong chúng ta phải diện kiến Chúa Giêsu, Đấng có quyền xét xử nhân loại, là ngày mà không ai có thể từ khước hay trì hoãn được. Đồng thời không có báo trước hay dành đặc ân cho ai. Có nghĩa là ngày chung thẩm của cá nhân từng người, là ngày phán xét riêng. Vì lụt đại Hồng Thủy xảy ra thế nào, thì ngày quang lâm của Con Người cũng vậy. Đây là sự mặc khải của Chúa Giêsu về sự chết, ngày giờ chết của mỗi người. Ở điểm nầy, dù tin hay không, hằng ngày vẫn đang xảy ra. Việc Chúa Giêsu đến lần thứ I, Người hoàn toàn làm thân nô lệ vì chúng ta, vì tội lỗi chúng ta, để Người cứu Chuộc cho chúng ta. Nên chi, đây là đặc tính quan của mùa vọng. Vì mùa vọng có hai đặc tính, đặc tính thứ nhất là chuẩn bị tâm hồn mừng lễ Giáng Sinh, kỷ niệm ngày mà Con Thiên Chúa đến lần thứ nhất trong thế gian. Đặc tính thứ hai chính là ý nghĩa của đoạn Phúc Âm hôm nay. Như vậy, muốn đón nhận đặc tính thứ hai, chúng ta phải thực thi Lời Chúa hôm nay đó là “phải tỉnh thức”, phải sẵn sàng. Bởi lẽ, ngày giờ “Con Người sẽ đến” trong vinh quang là một điều bất ngờ. Từ đó, chúng ta phải trân trọng và ghi nhớ Lời dạy của Chúa Giêsu hôm nay, vì ngày giờ “Con Người sẽ đến” tuy bất ngờ, nhưng Lời Chúa hôm nay, cho thấy Chúa Giêsu đã chuẩn bị chu đáo cho chúng ta, Người đã cho biết rõ điều ấy, Người đã mặc khải rõ ràng. Còn về phần chúng ta, chúng ta phải chuẩn bị sẵn sàng. Nên chi, tâm tình sẵn sàng là sự cần thiết cho chúng ta. Nhưng tâm tình chuẩn bị sẵn sàng như thế nào? Theo bài đọc II thư (Rm 13, 11-14), thánh Phao lô cho chúng ta sự chuẩn bị bằng một con người mẫu mực, một con người có phẩm chất tốt. Vì ngày cứu độ đang đến gần, nếu chúng ta sống xa rời Thiên Chúa, thì tất nhiên chúng ta không thể đón nhận ơn cứu độ từ Thiên Chúa.Tâm tình sẵn sàng là điều kiện cần và đủ để đón chờ “Con Người đến”, vì chúng ta không thể đón chờ Chúa Giêsu bằng thái độ bất hợp tác với Người, thì mặc nhiên không thể lãnh nhận ơn cứu độ.

Qua đó, chúng ta thấy rằng, Thiên Chúa là tình yêu, nhưng khi thời giờ đã mãn, mà chúng ta không sẵn sàng tỉnh thức, thì chúng ta cũng không thể được lãnh nhận ơn cứu độ.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã mặc khải cho chúng con biết cách thức khi Chúa đến và sự cần thiết để đón chờ ơn cứu độ đó là sự tình thức, sẵn sàng bằng một đời sống mẫu mực. Như thế, chúng con mới đáng lãnh nhận ơn cứu độ từ Chúa. Amen.

[Mục Lục]

 

Share This Post