Chú giải và suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật V Mùa Chay – năm A

Các bài chú giải và suy niệm Tin Mừng
Chúa Nhật V Mùa Chay – năm A
Lời Chúa:
Ed 37,12-14; Rm 8,8-11; Ga 11,1-45
***************

MỤC LỤC
1. Chú giải và gợi ý suy niệm của Lm PX Vũ Phan Long, ofm: Thầy là Sự Sống Lại và là Sự Sống
2. Chú giải và gợi ý suy niệm của Linh mục Inhaxiô Hồ Thông
3. Chú giải của Alain Marchabour: Chúa Giêsu làm cho anh Lagiarô sống lại
4. Chú giải của Noel Quession
5. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt: Phục sinh Lagiarô
6. Theo Chúa sẽ tới được sự sống (Lm. Carolo Hồ Bạc Xái)
7. Niềm hy vọng sống lại (Lm Giuse Đinh Lập Liễm)
8. Niềm tin tín thác (Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)
9. Tình thương mạnh hơn sự chết (Cố Lm. Hồng Phúc)
10. Mở cửa mộ (ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt)
11. Lagiarô sống lại (R. Veritas)
12. Nối kết với Chúa Giêsu là Nguồn ban Sự Sống (Lm. Inhaxiô Trần Ngà)
13. Chuyển rời, đến gặp và tin thì được sống (Jos. Vinc. Ngọc Biển)
14. Chúa Kitô là sự sống lại và là sự sống (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)
15. Củng cố niềm tin (JM. Lam Thy ĐVD.)
16. Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống (Giêrônimô Nguyễn Văn Nội)
17. Hành trình đến cuộc sống thật (AM Trần Bình An)
18. Cuộc sống bất tử (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT)

19. Ta là sự sống lại và là sự sống (Lm. Đan Vinh)
20. Chúa Giêsu mạc khải mầu nhiệm Phục sinh (P. Trần Đình Phan Tiến)
21. Niềm tin vào Chúa Giêsu: Chìa khóa dẫn vào sự sống (Ban Mục vụ Thánh Kinh & Ban Phụng tự, TGP Sài gòn)

22. Gieo mầm sự sống (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)
23. Suy niệm Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

24. Ta là sự sống lại và là sự sống (Lm. Phaolô Nguyễn Văn Đông)
25. Suy niệm của Lm. Giuse Đinh Tất Quý

26. Nếu con tin, con sẽ xem thấy vinh quang Thiên Chúa! (Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt)

CNChay5A. BẢN VĂN

Bài đọc I (Ed 37,12-14)

12 Đức Chúa là Thiên Chúa phán như sau : “Hỡi dân Ta, này chính Ta mở huyệt cho các ngươi, Ta sẽ đưa các ngươi lên khỏi huyệt và đem các ngươi về đất Ít-ra-en. 13 Các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa, khi Ta mở huyệt cho các ngươi và đưa các ngươi lên khỏi huyệt, hỡi dân Ta. 14 Ta sẽ đặt thần khí của Ta vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được hồi sinh. Ta sẽ cho các ngươi định cư trên đất của các ngươi. Bấy giờ, các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa, Ta đã phán là Ta làm. Đó là sấm ngôn của Đức Chúa.”

Bài đọc II (Rm 8,8-11)

8 Thưa anh em, những ai bị tính xác thịt chi phối thì không thể vừa lòng Thiên Chúa. 9 Nhưng anh em không bị tính xác thịt chi phối, mà được Thần Khí chi phối, bởi vì Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em. Ai không có Thần Khí của Đức Ki-tô, thì không thuộc về Đức Ki-tô. 10 Nhưng nếu Đức Ki-tô ở trong anh em, thì dầu thân xác anh em có phải chết vì tội đã phạm, Thần Khí cũng ban cho anh em được sống, vì anh em đã được trở nên công chính. 11 Lại nữa, nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới.

Tin Mừng (Ga 11,1-45)

1 Hồi đó, có một người bị đau nặng, tên là La-da-rô, quê ở Bê-ta-ni-a, làng của hai chị em cô Mác-ta và Ma-ri-a. 2 Cô Ma-ri-a là người sau này sẽ xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc lau chân Người. Anh La-da-rô, người bị đau nặng, là em của cô. 3 Hai cô cho người đến nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng.” 4 Nghe vậy, Đức Giê-su bảo : “Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa : qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh.”

5 Đức Giê-su quý mến cô Mác-ta, cùng hai người em là cô Ma-ri-a và anh La-da-rô.

6 Tuy nhiên, sau khi được tin anh La-da-rô lâm bệnh, Người còn lưu lại thêm hai ngày tại nơi đang ở. 7 Rồi sau đó, Người nói với các môn đệ : “Nào chúng ta cùng trở lại miền Giu-đê !” 8 Các môn đệ nói : “Thưa Thầy, mới đây người Do-thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy lại còn đến đó sao ?” 9 Đức Giê-su trả lời : “Ban ngày chẳng có mười hai giờ đó sao ? Ai đi ban ngày thì không vấp ngã, vì thấy ánh sáng mặt trời. 10 Còn ai đi ban đêm, thì vấp ngã vì không có ánh sáng nơi mình !”

11 Nói những lời này xong, Người bảo họ : “La-da-rô, bạn của chúng ta, đang yên giấc ; tuy vậy, Thầy đi đánh thức anh ấy đây.” 12 Các môn đệ nói với Người : “Thưa Thầy, nếu anh ấy yên giấc được, anh ấy sẽ khoẻ lại.” 13 Đức Giê-su nói về cái chết của anh La-da-rô, còn họ tưởng Người nói về giấc ngủ thường. 14 Bấy giờ Người mới nói rõ : “La-da-rô đã chết. 15 Thầy mừng cho anh em, vì Thầy đã không có mặt ở đó, để anh em tin. Thôi, nào chúng ta đến với anh ấy.” 16 Ông Tô-ma, gọi là Đi-đy-mô, nói với các bạn đồng môn : “Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy !”

17 Khi đến nơi, Đức Giê-su thấy anh La-da-rô đã chôn trong mồ được bốn ngày rồi. 18 Bê-ta-ni-a cách Giê-ru-sa-lem không đầy ba cây số. 19 Nhiều người Do-thái đến chia buồn với hai cô Mác-ta và Ma-ri-a, vì em các cô mới qua đời. 20 Vừa được tin Đức Giê-su đến, cô Mác-ta liền ra đón Người. Còn cô Ma-ri-a thì ngồi ở nhà. 21 Cô Mác-ta nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết. 22 Nhưng bây giờ con biết : Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy.” 23 Đức Giê-su nói : “Em chị sẽ sống lại !” 24 Cô Mác-ta thưa : “Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết.” 25 Đức Giê-su liền phán : “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. 26 Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không ?” 27 Cô Mác-ta đáp : “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian.”

28 Nói xong, cô đi gọi em là Ma-ri-a, và nói nhỏ : “Thầy đến rồi, Thầy gọi em đấy !” 29 Nghe vậy, cô Ma-ri-a vội đứng lên và đến với Đức Giê-su. 30 Lúc đó, Người chưa vào làng, nhưng vẫn còn ở chỗ cô Mác-ta đã ra đón Người. 31 Những người Do-thái đang ở trong nhà với cô Ma-ri-a để chia buồn, thấy cô vội vã đứng dậy đi ra, liền đi theo, tưởng rằng cô ra mộ khóc em.

32 Khi đến gần Đức Giê-su, cô Ma-ri-a vừa thấy Người, liền phủ phục dưới chân và nói : “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết.” 33 Thấy cô khóc, và những người Do-thái đi với cô cũng khóc, Đức Giê-su thổn thức trong lòng và xao xuyến. 34 Người hỏi : “Các người để xác anh ấy ở đâu ?” Họ trả lời : “Thưa Thầy, mời Thầy đến mà xem.” 35 Đức Giê-su liền khóc. 36 Người Do-thái mới nói : “Kìa xem ! Ông ta thương anh La-da-rô biết mấy !” 37 Có vài người trong nhóm họ nói : “Ông ta đã mở mắt cho người mù, lại không thể làm cho anh ấy khỏi chết ư ?” 38 Đức Giê-su lại thổn thức trong lòng. Người đi tới mộ. Ngôi mộ đó là một cái hang có phiến đá đậy lại. 39 Đức Giê-su nói : “Đem phiến đá này đi.” Cô Mác-ta là chị người chết liền nói : “Thưa Thầy, nặng mùi rồi, vì em con ở trong mồ đã được bốn ngày.” 40 Đức Giê-su bảo : “Nào Thầy đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao ?” 41 Rồi người ta đem phiến đá đi. Đức Giê-su ngước mắt lên và nói : “Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con. 42 Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con.” 43 Nói xong, Người kêu lớn tiếng : “Anh La-da-rô, hãy ra khỏi mồ !” 44 Người chết liền ra, chân tay còn quấn vải, và mặt còn phủ khăn. Đức Giê-su bảo : “Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi.”

45 Trong số những người Do-thái đến thăm cô Ma-ri-a và được chứng kiến việc Đức Giê-su làm, có nhiều kẻ đã tin vào Người.

Hoặc : Bài đọc ngắn (Ga 11,3-7.17.20-27.33b-45)

3 Hồi đó, hai cô Mác-ta và Ma-ri-a cho người đến nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng.” 4 Nghe vậy, Đức Giê-su bảo : “Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa : qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh.”

5 Đức Giê-su quý mến cô Mác-ta, cùng hai người em là cô Ma-ri-a và anh La-da-rô.

6 Tuy nhiên, sau khi được tin anh La-da-rô lâm bệnh, Người còn lưu lại thêm hai ngày tại nơi đang ở. 7 Rồi sau đó, Người nói với các môn đệ : “Nào chúng ta cùng trở lại miền Giu-đê !”

17 Khi đến nơi, Đức Giê-su thấy anh La-da-rô đã chôn trong mồ được bốn ngày rồi.

20 Vừa được tin Đức Giê-su đến, cô Mác-ta liền ra đón Người. Còn cô Ma-ri-a thì ngồi ở nhà. 21 Cô Mác-ta nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết. 22 Nhưng bây giờ con biết : Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy.” 23 Đức Giê-su nói : “Em chị sẽ sống lại !” 24 Cô Mác-ta thưa : “Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết.” 25 Đức Giê-su liền phán : “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. 26 Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không ?” 27 Cô Mác-ta đáp : “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian.”

33b Đức Giê-su thổn thức trong lòng và xao xuyến. 34 Người hỏi : “Các người để xác anh ấy ở đâu ?” Họ trả lời : “Thưa Thầy, mời Thầy đến mà xem.” 35 Đức Giê-su liền khóc. 36 Người Do-thái mới nói : “Kìa xem ! Ông ta thương anh La-da-rô biết mấy !” 37 Có vài người trong nhóm họ nói : “Ông ta đã mở mắt cho người mù, lại không thể làm cho anh ấy khỏi chết ư ?” 38 Đức Giê-su lại thổn thức trong lòng. Người đi tới mộ. Ngôi mộ đó là một cái hang có phiến đá đậy lại. 39 Đức Giê-su nói : “Đem phiến đá này đi.” Cô Mác-ta là chị người chết liền nói : “Thưa Thầy, nặng mùi rồi, vì em con ở trong mồ đã được bốn ngày.” 40 Đức Giê-su bảo : “Nào Thầy đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao ?” 41 Rồi người ta đem phiến đá đi. Đức Giê-su ngước mắt lên và nói : “Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con. 42 Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con.” 43 Nói xong, Người kêu lớn tiếng : “Anh La-da-rô, hãy ra khỏi mồ !” 44 Người chết liền ra, chân tay còn quấn vải, và mặt còn phủ khăn. Đức Giê-su bảo : “Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi.”

45 Trong số những người Do-thái đến thăm cô Ma-ri-a và được chứng kiến việc Đức Giê-su làm, có nhiều kẻ đã tin vào Người.

[Mục Lục]

khoangcahB. CÁC BÀI CHÚ GIẢI VÀ SUY NIỆM

Bài 1. Chú giải và gợi ý suy niệm của Lm PX Vũ Phan Long, ofm: THẦY LÀ SỰ SỐNG LẠI VÀ LÀ SỰ SỐNG

Khi đảm nhận thân phận con người chúng ta cho đến chết, Lời ban sự sống của Người không còn ở bên ngoài chúng ta nữa. Người thắng cái chết bằng cách đi xuyên qua nó. Nhờ đó, Người cứu được tất cả mọi người.

1- Ngữ cảnh

Với biến cố Đức Giêsu cho Ladarô sống lại, chúng ta sang phần ii của TM IV, gọi là “Sách về Giờ của Đức Giêsu” (11,1–20,29). Phân đoạn 11,1–12,50 là “phân đoạn làm cầu”, ghi lại “Dấu lạ cao điểm và sự kiện Giờ của Đức Giêsu đến”.

Bản văn đọc trong Phụng vụ Thánh lễ hôm nay trích từ Ga 11,1-54 là phân đoạn nói về Dấu lạ Đức Giêsu cho Ladarô sống lại, nói về sự sống lại và sự sống, và quyết định của Thượng Hội Đồng là tìm cách giết Người.

Biến cố Đức Giêsu làm cho Ladarô sống lại được đặt vào cuối sứ vụ công khai của Đức Giêsu. Đây không chỉ là hành vi quyền lực (= dấu lạ) cuối cùng, nhưng là hành vi lớn lao nhất, bởi vì Người không chỉ giới hạn vào việc chữa lành một chứng bệnh, nhưng đưa một người từ cõi chết trở lại với cuộc sống. Đây là dấu lạ quan trọng nhất được nêu lên trong cuộc xét xử giữa ánh sáng và bóng tối.

Những nét tiêu biểu của phép lạ này là: Người thực hiện hành vi ấy cho một người bạn và giữa vòng các bạn hữu, nhưng có nhiều người khác chứng kiến và các chứng nhân này có tham gia vào hành vi của Người. Trong các trường hợp khác, trước tiên Đức Giêsu làm dấu lạ, rồi sau đó, trong những đối thoại, Người mới đưa người ta đến chỗ hiểu ý nghĩa của dấu lạ. Còn ở đây, với nhiều lời công bố, Người đã cho các môn đệ, các thân nhân và dân chúng thấy trước ý nghĩa của hành vi quyền lực sắp được thực hiện và là điểm cao nhất trong các hành vi quyền lực. Mọi sự đều đưa tới chỗ chứng minh cho thấy là Người có quyền trên sự chết.

Sự cố này xảy ra sau khi các đối thủ của Người đã tìm cách bắt Người (10,39). Đức Giêsu lui về vùng phía đông sông Giođan. Tại đây Người nhận được tin bạn Người là Ladarô đau ốm (11,1-6). Sự cố này mở ra với bài diễn từ cáo biệt và cuộc Thương Khó, bởi vì chính sự cố này đưa đến chỗ Thượng Hội Đồng kết án tử cho Đức Giêsu.

Đọc bản văn này, độc giả cũng nên lưu ý đến tài nghệ tuyệt luân của tác giả khi vận dụng các yếu tố “sai thời gian” (anachronie) cũng như “nhắc lại” (analepse), “báo trước” (prolepse), để giới thiệu các điểm giáo lý sâu sắc được chứa đựng trong bản văn. Chúng ta sẽ nói đến điểm này trong phần “Ý nghĩa của bản văn”[1][1].

2- Bố cục

Bản văn có thể chia làm năm phần:

1) Đức Giêsu biết tin Ladarô đau ốm (11,1-6);

2) Đức Giêsu chuẩn bị các môn đệ (11,7-16);

3) Đức Giêsu gặp hai chị em (11,17-38a);

4) Đức Giêsu cho Ladarô sống lại (11,38b-44);

5) Kết luận: Ghi chú về đức tin (11,45).

3- Vài điểm chú giải

Ladarô (1): Tên La‘zar là cách gọi tắt tên Eleazar (Êlêadarô), một tên rất quen thuộc vào thời Tân Ước. Eleazar có nghĩa là “Thiên Chúa trợ giúp”. Tác giả TM IV không giải thích ý nghĩa của tên này.

Bêtania (1): Có những người cho rằng đây là một tên có ý nghĩa tượng trưng, phái sinh từ tên Bet-‘anya, “nhà của nỗi phiền sầu”. Làng Bêtania gần Giêrusalem được mọi người biết như là nơi Đức Giêsu trú ngụ khi lên Giêrusalem (x. Mc 11,11; 14,3). Ngày nay, làng được gọi là El ‘Azariyeh, một tên phái sinh từ “Ladarô”.

– làng của hai chị em cô Mácta và Maria (1): Sự kiện tác giả Ga xác định Bêtania là làng của Mácta và Maria khiến có thể hiểu là các độc giả quen biết hai cô.

– là người sau này sẽ xức dầu thơm (2): Đây là một chi tiết rất đặc biệt dành cho việc nhận diện Maria: “là người sau này sẽ xức dầu thơm (dịch sát: “đã xức dầu thơm”) cho Chúa, và lấy tóc lau(dịch sát: “đã lấy tóc lau”)[2][2] chân Người. Đây là một lời vừa nhắc lại vừa đón trước: việc xức dầu ở Bêtania chỉ xảy ra ở chương sau (12,1-11), tại sao lại nhắc trước (“đã”) một hành vi chưa được bản văn nói đến? Ở đây, tác giả không đứng trên bình diện truyện kể, nhưng trên bình diện dàn dựng câu truyện, và ngỏ lời trực tiếp với độc giả. Độc giả đã biết Maria đóng vai trò nào vào đầu truyện Thương Khó; vai trò này được ghi nhớ rất rõ trước cả khi TM IV được soạn thảo. Tác giả nại đến ký ức của độc giả nên mới nói về Maria như ở quá khứ (thì quá khứ hoàn thành). Như thế, lời nhắc vận hành trong trí độc giả, còn ở bình diện truyện kể, nó mang sắc thái một lời đón trước.

– Thưa Thầy (3): Từ ngữ Kyrios được dùng ở hô-cách (vocative); Kyrie, có thể dịch là “Thưa Ngài”. R.E. Brown cho rằng có thể dịch là “Lạy Chúa”, bởi vì ở đây những người tin đang lên tiếng. Xem 11,21.32.

– thêm hai ngày (6): Một vài tác giả gợi ý rằng có một sự kết nối với phép lạ thứ hai ở Cana, cũng là một phép lạ ban sự sống và xảy ra sau khi Đức Giêsu đã ở lại Samari hai ngày (4,40.43). Có những tác giả khác cho rằng có một sự tương đồng với sự phục sinh của Đức Giêsu, vì biến cố này xảy ra vào ngày thứ ba (x. 1 Cr 15,4). Người cũng đã chờ hai ngày trước khi lên Giêrusalem để dự lễ Lều (7,8-10). Với lại ở tiệc cưới Cana, Người đã không đáp ứng ước nguyện của Đức Maria ngay. Không một ý kiến, một nguyện ước nào của loài người, cho dù đúng đắn, lại có thể chỉ cho Người cách xử sự; chỉ có ý muốn của Chúa Cha mới có quyền điều khiển Người mà thôi (4,34; 7,18; 8,29). Người nói và hành động vì vinh quang của Chúa Cha, để thực hiện chương trình cứu độ. Và ơn cứu độ Thiên Chúa ban sẽ được hoàn tất vào thời Ngài đã định; không một ai có thể thúc bách Ngài tiến hành trước giờ. Người ta không thể bắt Đức Giêsu hay ném đá Người bao lâu giờ của Người chưa đến (7,30; 8,20; x. 9,4; 10,17-18).

– Thưa Rabbi (8): Đây là lần cuối cùng các môn đệ thưa với Đức Giêsu bằng danh hiệu rabbi. “Rabbi” cũng được dùng ở 9,2. Có thể so sánh để thấy những điểm tương đồng giữa 9,2-5 và 11,8-10.

– ánh sáng mặt trời (9): dịch sát là “ánh sáng của thế gian này”. Như thế, công thức này có nghĩa là “mặt trời”. Nhưng trên bình diện thần học, đây là một quy chiếu về Đức Giêsu (8,12; 9,5).

– đang yên giấc (11): Trong tiếng Híp-ri và Hy Lạp (tiếng Hy Lạp dân gian cũng như hy-ngữ của Bản LXX), “ngủ” là một uyển ngữ (euphemism) để chỉ cái chết (x. Mc 5,39; Cv 20,10). Nhưng các môn đệ lại không hiểu. Trong Kinh Thánh, chết là hậu quả của tội lỗi, và như thế là hình phạt thê thảm nhất (x. St 2,7; Kn 1,15). Tuy nhiên, cái chết mất phần nào tích cách bi đát khi nó đóng ấn một cuộc đời hạnh phúc vẫn tiến đi trong tình nghĩa với Thiên Chúa (các tổ phụ: St 25,7; 35,29; vua Đavít: 1 V 2,10; người công chính: Kn 3,1-3). Đức Giêsu, dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa, sẽ giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi và sự chết. Chính vì thế, trong Tân Ước, những ai chết mà vẫn tin vào Đức Kitô, thì chỉ là yên nghỉ (= ngủ; 1 Tx 4,14; x. Cv 7,60; Mt 27,52), vì Đức Kitô là hoa trái đầu mùa của những ai đã yên giấc (1 Cr 15,20).

– được bốn ngày rồi (17): Chi tiết này được ghi nhận để chứng thực là Ladarô đã chết. Có một ý kiến trong giới kinh sư cho rằng linh hồn bay là là gần thân xác trong ba ngày; sau đó thì không còn hy vọng hồi sinh nữa.

– Maria thì ngồi ở nhà (20): Các phụ nữ có tang thường ngồi trên nền nhà (x. Ed 6,39-45). Do c. 29, ta đoán là Maria không được báo cho biết là Đức Giêsu đã đến.

– Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa (27): Câu này tương tự lời tuyên xưng của Phêrô ở Mt 16,16.

– Thầy (28): Từ ngữ Hy Lạp didaskalos tương tự với rabbi ở 1,38 và 20,16. Đức Giêsu sử dụng ở 3,2.10; 13,13.14.

– thổn thức trong lòng và xao xuyến (33): “Thổn thức trong lòng” là dạng aorist middle của động từ embrimasthai (x. c. 38). Động từ này được dùng với công thức tô pneumati, “trong tinh thần”, còn ở c. 38, động từ ấy lại được dùng với en heautô, “trong chính mình”. Đây là những công thức Sê-mít để diễn tả các cảm xúc bên trong. Công thức thứ hai, “xao xuyến”, dịch từ cụm từ tarassein heauton. Tarassein hàm ý một sự xáo trộn sâu xa; ở đây dùng với đại từ phản hồi, có nghĩa chữ là “bối rối, luống cuống”. Các học giả đã tự hỏi ý nghĩa của các tình cảm này là gì. Có những người thấy đây là cơn giận của Đức Giêsu nhằm chống lại cái chết và tác giả của nó là Satan; có những người khác thì cho rằng đây là cơn giận của Người khi đứng trước sự cứng lòng của người Do Thái. Rất có thể là như thế, bởi vì cái chết và sự cứng lòng đều do Satan; và trong thực tế, đặc biệt trong Mc, Đức Giêsu tỏ ra giận dữ vào lúc Người trừ quỷ, nghĩa là khi Người đối diện với Satan. Tuy nhiên, trong TM IV, ý nghĩa còn sâu sắc hơn.

Ngoại trừ một lần động từ tarassein được dùng ở 5,7 để nói về nước hồ bị khuấy động và dùng ở đây, động từ này chỉ được dùng trong khung cảnh cuộc Thương Khó: 2 lần dùng cho Đức Giêsu (12,27; 13,21) và 2 lần cho các môn đệ (14,1.27). Nỗi xao xuyến và sợ hãi của Đức Giêsu, được các TMNL kể lại trong cuộc hấp hối tại vườn Ghếtsêmani, dường như được Ga chuyển vào truyện này và vào cuộc gặp gỡ với người Hy Lạp (12,27). Cái chết của Ladarô được Đức Giêsu thấy như là lời loan báo về cái chết của Người và cuộc chiến thắng nhất thời trên bóng tối. Đối với Ga, cuộc Thương Khó và cái chết của Đức Giêsu chủ yếu là công trình của Satan và cuộc sống lại của Người là chiến thắng trên Satan và cái chết.

– Đức Giêsu khóc (35): Đức Giêsu đã có một thái độ hết sức nhân bản khi đứng trước nỗi đau của người khác. Người ta hiểu là Đức Giêsu thật sự yêu thương Ladarô. Ở đây tác giả Ga dùng một động từ để chỉ việc Đức Giêsu “khóc” (dakryô, “[để cho] nước mắt tuôn trào”: c. 35) khác với động từ để chỉ người ta “khóc” (klaiô, “khóc một cách tuyệt vọng”: x. cc. 31.33), mà động từ này lại giống với động từ tác giả Lc dùng để nói về việc Đức Giêsu khóc khi nhìn thấy Giêrusalem (x. Lc 19,41: klaiô). Tuy nhiên trong TM Ga, người ta thường chỉ hiểu các lời nói và các cử chỉ của Đức Giêsu theo chiều kích bên ngoài và hời hợt. Nếu Đức Giêsu sắp cho bạn Người sống lại, tại sao Người còn khóc? Như thế, rất có thể ở đây Đức Giêsu khóc, còn vì sự không tin của người Do Thái và thái độ bán tín bán nghi của Mácta (c. 39) và của Maria.

– Ngôi mộ đó là một cái hang có phiến đá đậy lại (38): Mộ đứng như cái giếng thì thông dụng hơn mộ nằm ngang. Tảng đá giữ thi hài khỏi bị thú vật xâm phạm. Nơi an táng ở ngoài thành vì nếu không, những người sống có thể bị ô uế do tiếp xúc với thi hài người chết.

– Đức Giêsu ngước mắt lên (41): Cử điệu ngước mắt nhìn lên là một cách mở đầu tự nhiên cho việc cầu nguyện (x. Lc 18,13; Ga 17,1).

– Người kêu lớn tiếng (43): Động từ kraugazein chỉ được dùng 8 lần trong toàn Kinh Thánh Hy Lạp (Bản LXX), mà 6 lần ở trong Ga. Ở Ga 18–19, động từ này được dùng 4 lần để nói về tiếng la hét của đám đông xin đóng đinh Đức Giêsu. Như vậy, dường như có thể rút ra một sự tương phản giữa tiếng kêu lớn của đám đông nhằm đưa cái chết đến cho Đức Giêsu và tiếng kêu lớn của Đức Giêsu nhằm đưa sự sống đến cho Ladarô. Thật ra giải thích như thế cũng không bảo đảm, vì ở 12,13, động từ này diễn tả tiếng la của đám đông nhằm hoan hô Đức Giêsu.

– chân tay còn quấn vải (44): Có người hỏi là làm thế nào mà bị quấn như thế mà Ladarô vẫn có thể đi được. Câu hỏi này không đúng chỗ vì đặt ra trong một bài tường thuật minh nhiên giả thiết có chuyện siêu nhiên. Có thể do một lý do thần học mà tác giả đã nhắc đến những thứ khăn liệm. Ở 20,6-7, chúng ta biết rằng các khăn và vải liệm Đức Giêsu đã bị bỏ lại trong mồ, có thể là với ý là Người chẳng bao giờ cần đến chúng nữa, bởi vì Người không bao giờ chết nữa; còn Ladarô thì đi ra với khăn vải liệm, bởi vì anh còn chết lần nữa. Cách giải thích này nhiều gợi ý, nhưng không chắc là tác giả có nghĩ đến số phận tương lai của Ladarô.

4- Ý nghĩa của bản văn

Câu chuyện đưa ta đến gặp một gia đình đặc biệt: chỉ có các chị em mà thôi. Thế rồi có những chi tiết khiến phát sinh những câu hỏi: Tại sao Đức Giêsu cố tình đến chậm? Làm thế nào Mácta và Maria biết là Đức Giêsu đang đến? Làm thế nào Đức Giêsu có thể nói được rằng bất cứ kẻ nào tin vào Người thì sẽ không phải chết bao giờ? Tại sao Đức Giêsu lại khóc khi đã biết rằng Người sắp cho Ladarô trỗi dậy từ cõi chết?

* Đức Giêsu biết tin Ladarô đau ốm (1-6)

Đức Giêsu đã lui về mạn đông sông Giođan để tránh các đối thủ đang tìm cách bắt Người. Tại đây người ta báo tin cho Người là Ladarô đau ốm; ông này “quê ở Bêtania, làng của hai chị em cô Mácta và Maria” (11,1). Ladarô, em của cô bị đau ốm” (c. 2). Maria được giới thiệu bằng một câu đón trước: “là người sau này đã xức dầu thơm và lấy tóc lau chân Người” (c. 2). Còn Mácta được giới thiệu trước tiên như một người bạn (c. 5), rồi như một môn đệ của Đức Giêsu (“Thưa Ngài, Kyrie”: c. 21). Gia đình không cha mẹ, vợ chồng hoặc con cái này khiến ta có thể hiểu đây là một ám chỉ đến cộng đoàn Kitô hữu, nơi chỉ có các anh em chị em thôi.

Cũng như Đức Maria tại tiệc cưới Cana (2,3), các chị của Ladarô đã không trực tiếp bày tỏ một lời thỉnh cầu. Các cô không muốn truyền lệnh cho Người bất cứ điều gì. Biết đâu các cô cũng đang nghĩ tới nguy hiểm có thể xảy ra cho Người nếu Người đến gần Giêrusalem (x. 11,8). Các cô chỉ đơn giản báo cho Người biết tình trạng của Ladarô và nhắc Người nhớ rằng anh là bạn Người. Tại Cana, Đức Giêsu đã thực hiện dấu lạ đầu tiên tại tiệc cưới của một gia đình bằng hữu; rồi Người đã làm những hành vi quyền lực khác cho những người mà Người không quen biết. Lần này những điểm được nhấn mạnh là tình yêu thương và tình bằng hữu vẫn liên kết Người với các chị em Bêtania (x. 11,3.5.11.36): tình yêu thương và tình bằng hữu diễn tả sự ân cần riêng tư của Đức Giêsu đối với chúng ta là loài người. Người không theo đuổi một chương trình vật chất nào, trong đó kết quả thống kê quan trọng hơn những con người. Người coi chúng ta, những con người, là như những nhân vị mà Người quan tâm chiếu cố.

Dọc theo bài tường thuật, bằng nhiều cách diễn tả, tác giả cứ nhắc đi nhắc lại là Đức Giêsu không có mặt (cc. 6.17.19.21.32.37). Mục đích là nêu bật tình trạng tăm tối, không hiểu, của dân chúng trước cách xử sự của Đức Giêsu: theo kiểu nhìn của loài người, Đức Giêsu đã phải can thiệp mà cứu chữa Ladarô khi ông này còn sống mới phải. Câu hỏi được đặt ra là làm thế nào giải thích được sự kiện là các bạn của Đức Giêsu cũng chết mà Người không can thiệp gì?

Tác giả dùng thêm ba lời đón trước để cho thấy ý nghĩa của cái chết của Ladarô, hoặc cho thấy sự cương quyết của Đức Giêsu và lúc bạn Người chết (cc. 4.11.16). Ba lời đẩy vào tương lai gần như thế nêu bật sự khác biệt trong nhận thức của Đức Giêsu, là người biết rõ chương trình của Thiên Chúa, và các môn đệ, đầy sợ hãi và không hiểu gì.

* Đức Giêsu chuẩn bị các môn đệ (7-16)

Trước hết, Đức Giêsu chuẩn bị cho các môn đệ đón nhận hành vi quyền lực Người sắp thực hiện. Sau dấu lạ Cana, tác giả TM IV đã nhận định: “Đức Giêsu đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Cana miền Galilê và bày tỏ vinh quang của Người. Các môn đệ đã tin vào Người” (2,11). Đức Giêsu hiểu đâu là mục tiêu của chứng bệnh của Ladarô (x. 9,3): “Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa: qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh” (11,4). “Vinh quang của Thiên Chúa” không phải là một vinh dự ích kỷ dâng lên Thiên Chúa, bất kể tình trạng của các thọ tạo. Trong Cựu Ước, mỗi khi Thiên Chúa bày tỏ vinh quang của Ngài thì luôn luôn là để cứu độ loài người, những kẻ Ngài yêu thương. Vinh quang này của Chúa Cha sẽ được thể hiện qua việc tôn vinh Đức Giêsu qua các phép lạ (2,11; 12,41), nhưng nhất là khi Người chịu giương cao trên thập giá, rồi Người chết và sống lại (12,23-32).

Khi để cho Ladarô chết, Đức Giêsu muốn bảo chúng ta rằng Người không đến để ngăn chặn cái chết thể lý: công việc của Người không phải là phá vỡ dòng lưu chuyển tự nhiên của đời sống con người. Cuộc sống có một điểm chấm dứt, chứ không kéo dài mãi mãi. Người không đến để làm cho cuộc đời này thành vĩnh cửu, nhưng để ban cho chúng ta một đời sống khác không có cùng tận. Nhất là Người đã tuyên bố cho biết đâu là mục tiêu của chứng bệnh của Ladarô: “để anh em tin” (11,15). Tất cả các hành vi quyền lực của Đức Giêsu đều được thực hiện để Thiên Chúa được rạng rỡ vinh quang, được tỏ mình ra và nên khả thị. Nhờ những hành vi này, chính Thiên Chúa tỏ mình ra, không phải trong bản tính trừu tượng của Ngài, nhưng trong cách cư xử ân cần cụ thể đối với loài người chúng ta. Thiên Chúa tỏ mình ra là “Ta là Đấng Ta là” và cho thấy điều này đúng với chúng ta đến mức độ nào. Trong tư cách là hành vi của Thiên Chúa được Đức Giêsu thực hiện, hành vi quyền lực này cũng mạc khải cho thấy Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, là Đấng mà Chúa Cha đã sai phái đến với chúng ta và nhờ Người mà chúng ta có thể biết Thiên Chúa (x. 1,18). Tương ứng với hành vi tự mạc khải của Đức Giêsu, là hành vi các môn đệ tin vào Người. Hành vi Đức Giêsu làm cho Ladarô phải củng cố các môn đệ trong đức tin và cho họ thấy chính xác hơn họ có thể chờ đợi gì nơi Đấng mà họ đã tin tưởng. Đức Giêsu đã hai lần mời họ đi theo Người về Giuđê (11,7.15). Họ biết điều gì sẽ có thể xảy ra cho Người, và cả cho họ nữa. Họ tín nhiệm nơi Người và trở thành những chứng nhân về cách Đức Giêsu, mặc dù có nguy hiểm đến tính mạng Người, đã làm cho Ladarô đã chết được sống lại.

Các môn đệ đã linh cảm là giờ kết thúc bi thương cuộc đời Đức Giêsu đã gần kề: “Người Do Thái hiện đang tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy lại còn đi tới nơi ấy sao?” (c. 8). Đối với Đức Giêsu, cứu Ladarô sẽ là đi gặp chính bản án tử hình của Người. Vinh quang do phép lạ sẽ là dấu chỉ cuộc tôn vinh Người trên thập giá. Đức Giêsu giải thích cho các môn đệ hiểu rằng tất cả đều nằm trong chương trình của Thiên Chúa, thuộc về “giờ” của Thiên Chúa. Nhưng dường như Người không đánh tan được nỗi lo lắng, vì Tôma lại đại diện anh em mà nói: “Chúng ta hãy đi để cùng chết với Thầy!” (c. 16).

* Đức Giêsu gặp hai chị em (17-38a)

Hoàn cảnh của Đức Giêsu tại Bêtania được mô tả bằng hai đặc điểm: Ladarô đã ở trong mồ được bốn ngày và có nhiều người quen biết đến với hai chị em. Theo quan niệm thời đó, chết được ba ngày thì cũng chưa hoàn toàn chết; chỉ đến ngày thứ tư thì sự sống mới hoàn toàn tắt mất. Tác giả muốn chúng ta biết rằng Ladarô đã chết thật rồi.

Tất cả những người quen biết gia đình đã ở đó mà đành chịu bất lực khi đứng trước cái chết, và chỉ còn biết an ủi cách yếu ớt (11,19.31). Đức Giêsu chính là Đấng duy nhất có thể thật sự thay đổi điều gì đó trong tình cảnh này và có thể đưa lại sự nâng đỡ đích thực bằng quyền lực thần linh của Người. Mácta đã đến găp Người và nói: “Thưa Ngài, nếu có Ngài ở đây thì em con đã không chết!” (11,21). Dường như hai chị em đẵ lặp đi lặp lại câu này trong những lúc khóc em (x. 11,32.37). Qua lời này, hai chị biểu lộ niềm tin vào Đức Giêsu là Đấng có thể chữa lành những người đau ốm, nhưng cũng biểu lộ nỗi thất vọng là Người đã không đến đúng lúc. Nhưng rồi Mácta đã cho thấy rằng chị tin vào việc sống lại của kẻ chết. Khi bày tỏ niềm tin vào việc kẻ chết sẽ sống lại trong tương lai cánh chung, Mácta đã chứng tỏ là một môn đệ và đại diện cho các Kitô hữu thế kỷ đầu tiên đang tập sống niềm tin vào Đức Kitô Phục Sinh trong hiện tại. Chỉ có tin vào Đức Giêsu, người ta mới có thể vượt qua sự chết mà vào sự sống.

Nhưng Đức Giêsu cho các chị thấy rằng sự sống lại là do Người ban: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết” (11,25-26). Cho đến nay, Đức Giêsu đã tự xưng mình là bánh, nước, ánh sáng và người mục tử nhân hậu; Người đã quy chiếu về chính mình Người những thực tại mà nhất thiết cuộc sống trần thế của chúng ta phải lệ thuộc vào. Nay cũng bằng cách đó, Người khẳng định rằng chúng ta lệ thuộc vào Người để được sống muôn đời. Nơi Người, Thiên Chúa hiện diện cho chúng ta (“Ta là Đấng Ta là”) như là Đấng lôi kéo chúng ta khỏi cái chết và đưa chúng ta vào trong cuộc sống bất tử của Người. Cuộc phục sinh giả thiết có cái chết và có nghĩa là trỗi dậy thoát khỏi tình trạng nằm dài cứng ngắc của cái chết; sống là kết hợp với Thiên Chúa. Hai điều này được Đức Giêsu ban cho chúng ta và được liên kết với nhau trong đức tin. Đức Giêsu ban sự sống này cho ai tin vào Người. Sự sống được Đức Giêsu ban đây phải đi qua cái chết, nhưng không bị dập tắt. Sự kết hợp với Thiên Chúa do Đức Giêsu ban cho không biết đến kết thúc hoặc tình trạng hoàng hôn. Trong tình cảnh này Đức Giêsu đã khóc, vì thương Ladarô, nhưng cũng còn là vì thái độ không tin và thái độ nửa tin nửa ngờ của Mácta (c. 39) và của Maria.

Điều mà Đức Giêsu làm cho Ladarô là một dấu chỉ (dấu lạ). Ladarô đã chết, Đức Giêsu gọi anh ra khỏi mồ, nhưng đưa anh trở lại với cuộc sống trần thế, từ đó anh lại đi tới cái chết. Bằng hành vi này, Đức Giêsu chứng minh cho thấy là cái chết không phải là một giới hạn đối với Người, nhưng Người có quyền trên cái chết. Tuy nhiên, ân ban đích thực của Người không phải là một cuộc sống trần thế được kéo dài mãi mãi, mà là cuộc sống trong sự hiệp thông vĩnh cửu với Thiên Chúa.

Đức Giêsu muốn đưa cả Mácta, cũng như các môn đệ Người, đến với đức tin. Cô hiểu, cô tin và nói lên một lời tuyên xưng đức tin mà chúng ta chỉ gặp ở cuối TM Ga (20,28.31) và là lời được hàm chứa trong lời tuyên bố của Phêrô (6,69) và của anh mù được chữa lành (9,38). Với cô, Đức Giêsu đạt mục tiêu mà công trình của Người đã nhắm tới trước: mắt của cô đã mở ra. Mácta hoàn toàn ở thế ngược lại với các đối thủ của Đức Giêsu, những người đã trách Người là nói phạm thượng chống lại Thiên Chúa. Cô nhận biết Người là Đấng Thiên Chúa dùng để thực hiện công trình cứu độ cho loài người (“Đức Kitô”) và là Đấng sống trong một sự hiệp thông không có khởi đầu cũng không có kết thúc với Thiên Chúa, trong sự bình đẳng tuyệt đối với Người (“Con Thiên Chúa”). Và cũng như Đức Giêsu, Mácta nêu bật tương quan của Đức Giêsu với Chúa Cha: Người đã đến trong trần gian bởi vì được Chúa Cha sai phái đi; đàng sau tất cả những gì Người làm, chính là Chúa Cha làm (x. 11,42; 16,28).

* Đức Giêsu cho Ladarô sống lại (38b-44)

Đức Giêsu bảo người ta dẫn Người ra mộ Ladarô. Hai người chị và nhiều người khác đã đến để săn sóc hai cô cùng đi với Người. Chung quanh Người, vang lên tiếng than khóc của đoàn người bất lực trước sức mạnh tàn nhẫn của cái chết. Có hai cách khóc. Có cách khóc của những người chắc chắn rằng cái chết là sự chấm dứt mọi sự (klaiô). Cũng có cách Đức Giêsu khóc (dakryô) tại mộ Ladarô, bình lặng và chứng tỏ con người có phẩm cách. Mất một người thân là điều rất đau lòng; nhưng sẽ rất là ích kỷ nếu muốn giữ người ấy lại cho riêng mình, trong khi người đó đang đi vào một cuộc sống tốt đẹp hơn trước.

Đức Giêsu cho cất tảng đá che mộ đi. Tảng đá có đó để ngăn cách thế giới người sống với thế giới kẻ chết, nhưng đối với những ai tin vào Đức Giêsu, sự chia cách này không còn nữa. Thế rồi Người quay hướng về Chúa Cha khi cầu nguyện, đây là điều Người chưa bao giờ làm trong những hành vi quyền lực trước đây. Đây là lời cầu nguyện đầu tiên của Người được tác giả Ga nhắc lại (x. 12,27-28; 17,1-26). Trước tiên, Người tạ ơn Chúa Cha vì Ngài đã lắng nghe lời Người. Về phần Người, Đức Giêsu tuyệt đối chắc chắn về sự kết hợp của Người với Chúa Cha, nên không cần phải chứng minh cho Người bằng một hành vi quyền lực. Nhưng điều mà Người nhấn mạnh là để cho người ta tin. Chỉ khi người ta tin vào Người, Đức Giêsu mới có thể thực hiện công trình của Người hầu cứu độ loài người. Ở đây, c. 42 là lời nhắc lại để nêu bật tư cách Đức Giêsu là sứ giả Chúa Cha sai phái: Đức Giêsu bình luận các lời nói của chính Người để giúp đám đông hiểu rằng Người là sứ giả của Thiên Chúa.

Đối với Ladarô, người ta phải lăn tảng đá và cởi khăn và vải cho anh, còn trong việc Đức Giêsu sống lại, các phụ nữ chỉ có thể chứng kiến sự kiện: tảng đá đã được lăn ra một bên, và khăn liệm đã được đặt riêng ra (20,1-7); các thiên thần có mặt chỉ là để giúp các môn đệ ý thức về sự kiện.

* Kết luận: Ghi chú về đức tin (45)

Tất cả mọi người trong chuyện đều chứng tỏ họ thiếu đức tin cách nào đó. Nay “có nhiều kẻ đã tin vào Người” (c. 45). Trọng tâm của đức tin, cũng như lâu nay, là tương quan của Đức Giêsu với Chúa Cha. Loài người phải tin rằng Chúa Cha đã sai phái Đức Giêsu và đàng sau tất cả những gì Đức Giêsu thực hiện và nhận là của mình, chính là Chúa Cha. Cả hành vi quyền lực to lớn này của Đức Giêsu cũng là một trợ giúp niềm tin.

+ Kết luận

Là con người, chúng ta sẽ phải chết. Mỗi người, từ thuở bắt đầu cuộc hiện sinh, đều đi về cái chết. Đứng trước cái chết, chúng ta cảm nhận một giới hạn tuyệt đối và một sự bất lực hoàn toàn của chúng ta. Chúng ta có thể trì hoãn cái chết, chứ không thể tránh nó được. Và chúng ta không thể nào đưa được một người đã chết trở lại với cuộc sống được. Trái lại, Đức Giêsu đã làm cho cái chết trở thành nhất thời và tạm bợ giống như giấc ngủ. Người sẽ làm cho chúng ta trỗi dậy khỏi cái chết và ban cho chúng ta sự sống đời đời. Muốn thế, chúng ta phải tránh thái độ cứng lòng của người Do Thái, cả thái độ nửa tin nửa ngờ của hai chị em Mácta và Maria, để tin hoàn toàn vào Đức Giêsu.

5- Gợi ý suy niệm

1. Câu truyện chúng ta đọc hôm nay cho thấy là mục tiêu của Con Thiên Chúa nhập thể không phải là giải quyết những vấn đề trước mắt, như cái ăn cái mặc, các chứng bệnh. Người có làm các phép lạ để giải quyết các vấn đề đó, nhưng để các phép lạ đó trở thành dấu chỉ đưa người ta đến đức tin. Chỉ khi người ta tin vào Người, các vấn đề ấy mới được giải quyết tận căn, vì Người sẽ ban cho người ta sự sống đời đời.

2. Khi hình dung ra rằng tôi cũng đang đi trên con đường đưa đến cái chết, tức khắc tôi nhận ra được giá trị của mỗi sự việc tôi đang đảm nhận, mỗi sự vật tôi đang sở hữu. Tôi biết điều gì là quan trọng thật, cái gì là tương đối. Tôi hiểu rằng tôi phải tìm chỗ tựa bảo đảm đưa tôi đến cuộc sống vĩnh cửu. Hôm nay điểm tựa ấy được giới thiệu: Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa. Nhờ tin vào Người, tôi nhận thấy cái chết không còn là một sức mạnh bách chiến bách thắng, một định mệnh bi đát mà con người phải gánh chịu nữa. Cái chết lúc đó chỉ có tính cách tạm thời, như một cửa ngõ đưa tôi vào cuộc sống vĩnh cửu.

3. Ngày hôm nay, chúng ta có thể ghi nhận biết bao dấu chỉ cho thấy sự chết đang tìm cách lan tràn, nhưng sự sống cũng vẫn mạnh mẽ vươn lên. Dựa vào mình, sống theo tính ích kỷ và kiêu ngạo, con người sẽ rơi vào thất vọng khi trải nghiệm tất cả những giới hạn của thân phận thọ tạo. Đức Giêsu mời gọi chúng ta vượt quá những giới hạn này, nhờ có Thánh Thần chan hòa trong lòng, bằng cách lắng nghe giáo huấn của Người và đưa ra thực hành, bằng cách sống và chết như Người.

4. Sự can thiệp của Đức Giêsu cho thấy Thiên Chúa không phải là một Đấng Vô Biên xa vời, không hề quan tâm đến các thọ tạo của Người. Thiên Chúa đã nhập thể để làm người, mang một trái tim loài người. Người có thể cảm động, xao xuyến. Người yêu thương các bạn hữu của Người. Nhưng Người cũng bung quyền năng của Người ra để cho Ladarô sống lại, hầu chỉ cho chúng ta con đường sống thật.

5. Đức Giêsu đã cho Ladarô sống lại, vì Người là Lời tạo dựng của Thiên Chúa. Thế nhưng một ngày kia, Người sẽ chết, để rồi các đối thủ có thể chế nhạo đủ cách. Nhưng đó là vì Đức Giêsu không muốn cứu lấy một mình Người. Khi đảm nhận thân phận con người chúng ta cho đến chết, Lời ban sự sống của Người không còn ở bên ngoài chúng ta nữa. Người thắng cái chết bằng cách đi xuyên qua nó. Nhờ đó, Người cứu được tất cả mọi người.

—————————–
[3][1] Có thể đọc Lê Minh Thông, “Ga 11,1-54: “Chết” và “sống””, Phân tích thuật chuyện và phân tích cấu trúc áp dụng vào Tin Mừng thứ tư (2008) 141-179, để ghi nhận cách áp dụng phương pháp phân tích thuật chuyện và cấu trúc vào bản văn.
[4][2] Xem Bản dịch Nguyễn Thế Thuấn.

[Mục Lục]

Bài 2. Chú giải và gợi ý suy niệm của Linh mục Inhaxiô Hồ Thông

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật V Mùa Chay hôm nay đều nói về sự sống lại đến đời sống mới.

Ed 37: 12-14

Qua một thị kiến về những bộ xương khô, ngôn sứ Ê-dê-ki-en loan báo cho những người lư đày ở Ba-by-lon rằng sẽ đến ngày Thiên Chúa sẽ ra tay giải thoát họ, và cuộc giải thoát này sẽ được sánh ví như cuộc tái sinh.

Rm 8: 8-11

Trong bài đọc II, thánh Phao-lô công bố: “Nếu Thánh Thần của Đấng đã làm cho Đức Giê-su Kitô từ cõi chết sống lại ở trong anh em, thì Đấng đã làm cho Đức Giê-su Kitô từ cõi chết sống lại cũng cho xác phàm hay chết của anh em được sống”.

Ga 11: 1-45

Trong Tin Mừng, Đức Giê-su nói với cô Mác-ta: “Thầy là sự sống lại và là sự sống” và Ngài cho anh La-za-rô sống lại, sau khi anh đã ở trong mộ bốn ngày rồi.

BÀI ĐỌC I (Ed 37: 12-14)

Ngôn sứ Ê-dê-ki-en là vị ngôn sứ thứ ba trong bốn Đại Ngôn Sứ và là dung mạo vĩ đại nhất của Do Thái Giáo trong suốt thời lưu đày, vì thế được gọi “Cha của Do thái giáo”. Ông là vị ngôn sứ duy nhất trong số các ngôn sứ đã lãnh nhận ơn gọi ngôn sứ ngoài đất Ít-ra-en, ở Ba-by-lon. Ông kết hợp mật thiết tinh thần tư tế và tinh thần ngôn sứ. Tài năng cốt yếu của ông là tài năng của một nhà thị kiến.

Ê-dê-ki-en đã kinh qua những giây phút khủng khiếp nhất, giây phút thành thánh Giê-ru-sa-lem bị đạo quân Ba-by-lon xâm chiếm vào năm 598. Ông thuộc vào đoàn người đầu tiên bị dẫn đi lưu đày. Ông sống trong cảnh lưu đày ở một thị trấn nhỏ, không xa Ba-by-lon, được gọi là Tel-Aviv (tên mà quốc gia Do thái hiện nay đặt cho thủ đô của họ để tưởng nhớ đến vị ngôn sứ nầy, người đã tiên báo “sự phục sinh” của dân Ít-ra-en.) và ông đã qua đời ở đó vào năm 571.

1. Bố cục :

Ê-dê-ki-en đã lên án những bất trung của dân Chúa và loan báo sự trừng phạt sẽ giáng xuống trên Giê-ru-sa-lem. Nhưng khi những bất hạnh bất ngờ xảy đến, vị ngôn sứ loan báo thời kỳ Thiên Chúa xót thương. Thiên Chúa sẽ khai đường mở lối cho đoàn người lưu đày được trở về quê cha đất tổ. Cuộc giải thoát nầy sẽ như một cuộc tái sinh, một cuộc tạo dựng mới. Lời văn rất gợi hình.

2. Thung lũng đầy xương cốt:

Trong thị kiến, vị ngôn sứ được đưa vào một thung lũng đầy bộ xương khô (37: 1-2). Lúc đó, Thiên Chúa phán với ông: “Hỡi con người, các xương đó chính là toàn thể nhà Ít-ra-en. Nầy chúng vẫn nói: ‘Xương cốt chúng tôi đã khô, hy vọng của chúng tôi đã tiêu tan, chúng tôi đã rồi đời’. Chính vì thế, ngươi hãy tuyên sấm, hãy nói với chúng: ‘Thiên Chúa là Chúa Thượng phán như sau: ‘Hỡi dân Ta, Ta sắp mở huyệt cho các ngươi. Ta sẽ đem các ngươi lên khỏi đó, và đưa ngươi về đất Ít-ra-en” (37: 11-12).

Những người lưu đày được sánh ví với những bộ xương khô, niềm hy vọng đã tiêu tan: “Xương cốt chúng tôi đã khô, hy vọng của chúng tôi đã tiêu tan, chúng tôi đã rồi đời rồi”. Thiên Chúa hứa sẽ vực họ dậy, sẽ hồi sinh họ. Vị ngôn sứ thấy “bộ xương khô đã có gân, thịt đã mọc lên và da đã trải ra ở bên trên, nhưng thần khí chưa có ở nơi chúng” (37: 8).

3. Thần khí phục hồi sự sống:

“Ta sẽ đặt thần khí của Ta vào trong các ngươi, và các ngươi sẽ được sống. Bấy giờ các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Chúa, Ta đã nói là Ta làm.”

Trong một sấm ngôn trước đó, vị ngôn sứ đã tuyên sấm bằng những lời lẽ tương tự: “Ta sẽ ban tặng cho các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi và sẽ ban tặng các ngươi một quả tim bằng thịt. Chính thần trí của Ta, Ta sẽ đặt vào lòng các ngươi, Ta sẽ làm cho các ngươi đi theo thánh chỉ, tuân giữ các phán quyết của Ta và đem ra thi hành.” (36: 26-27). Thần khí Chúa đổi mới tận căn cõi lòng của con người. Trong đoạn văn được trích dẫn hôm nay, ý nghĩa thì khác : thần khí Chúa là hơi thở sáng tạo hay tái tạo, đem lại niềm hy vọng cho những kẻ lưu đày bất hạnh, có thể nói, hoàn lại cuộc sống cho họ.

Vào thời đại này, chúng ta không nên thấy ở đây tiên trưng về sự phục sinh thân xác. Một quan niệm như thế không thể nào nghĩ tưởng được vào lúc đó. Sau nầy, chúng ta thoáng thấy cũng một cách thức như vậy trong sách Gióp (thế kỷ V hay IV BC). Sẽ phải chờ đợi đến thời kỳ Ma-ca-bê (giữa thế kỷ hai trước Công Nguyên) khi đó niềm hy vọng phục sinh thân xác được phát biểu một cách rõ nét. Niềm hy vọng nầy đã nâng đỡ các vị tử đạo khi các ngài phải chịu các cực hình: “Vua là một tên hung thần, vua khai trừ chúng tôi ra khỏi cuộc đời hiện tại, nhưng bởi lẽ chúng tôi chết vì Luật pháp của vua vũ trụ, nên Người sẽ cho chúng tôi sống lại để hưởng sự sống đời đời.” (2Mcb 7: 9).

Louis Monloubou mời gọi mỗi người tín hữu hãy đọc lại thị kiến này vào trong lịch sử cuộc đời mình để khám phá sự hiện diện cứu độ của Thiên Chúa trong cuộc đời mình:

“Ngày nay, cũng như thường trong dòng lịch sử của mình, và nhất là vào thời ngôn sứ Ê-dê-ki-en, dân Thiên Chúa bận lòng về tương lai của mình, cuộc sống của mình. Ngày nay, cũng như vào thời lưu đày Ba-by-lon, ngôn sứ Ê-dê-ki-en nhắc đi nhắc lại rằng Thiên Chúa luôn luôn có đủ khả năng hoàn lại cuộc sống, phục sinh cộng đoàn tín hữu của Người, cho dù họ đang sống trong cảnh đời tuyệt vọng đi nữa.

Ngày nay, cũng như vào thời ngôn sứ Ê-dê-ki-en, thần khí Thiên Chúa hoạt động ở trong lòng dân chúng, có thể ban cho họ sự sống, phục sinh họ.

Ngày nay dân Thiên Chúa phải kinh qua những giải thoát mà Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử của cuộc đời mình, thậm chí trong chính thân xác của mình ; ngõ hầu họ hiểu hơn, và rốt cuộc hiểu hơn ai thực sự là Thiên Chúa của mình, đối tượng niềm tin của mình không là một bóng ma nào đó, nhưng Đức Chúa, Đấng Cứu Độ.

Cuối cùng ngày nay, Thiên Chúa chúng ta luôn luôn là Thiên Chúa nói với dân Ngài, khuyến khích họ, ở bên cạnh họ, như bạn đồng hành thân thiết, Đấng cứu độ trung tín và có hiệu quả”.

BÀI ĐỌC II (Rm 8: 8-11)

Trong thư gởi các tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô phác họa một bức tranh tăm tối về nhân loại tội lỗi không thể tự sức mình giải thoát mình khỏi tội lỗi, vì thế cần phải đặt trọn niềm tin tưởng vào sự can thiệp của Thiên Chúa. Sau đó, thánh nhân mô tả đầy cảm xúc về cuộc sống mới của người Ki tô hữu: cuộc sống trong ân sủng, nghĩa là cuộc sống được Thần Khí tác động chứ không còn chịu xác thịt chi phối nữa. Chương 8 mà đoạn văn được trích hôm nay, dâng hiến một sự bình an và niềm vui.

1. Xác thịt và Thần Khí:

Thánh Phao-lô thích vận dụng những cặp đối nghịch: Luật và Đức tin; xác thịt và thần khí; con người cũ và con người mới; chế độ lề luật và chế độ ân sủng; vân vân.

Thánh nhân cho từ ngữ « xác thịt » một nét nghĩa tiêu cực không được gặp thấy trong Cựu Ước. Qua từ ngữ xác thịt, Thánh Kinh chỉ toàn bộ con người được sáng tạo bởi Thiên Chúa, vì thế, xác thịt thực chất không thể nào là xấu được. Ngôi Lời sẽ đảm nhận xác thịt và “làm người”. Khi ngôn sứ Ê-dê-ki-en loan báo rằng Thiên Chúa sẽ ban tặng cho Ít-ra-en “một trái tim bằng thịt thay cho trái tim bằng đá,” ông ban cho từ ngữ “xác thịt” tất cả sự cao quý của nó. Chắc chắn ở nơi nhân tính có một khía cạnh địa giới mà từ ngữ xác thịt gợi lên, do đó, đối lập với thiên giới, thế giới thần linh.

Trong cặp đối nghịch xác thịt-thần khí của mình, thánh nhân được gợi hứng từ cặp đối nghịch: địa giới-thiên giới, theo quan niệm mang đậm nét Do thái, chứ không theo quan niệm nhị nguyên Hy lạp: thân xác-linh hồn; tuy nhiên, thánh nhân xem bản tính địa giới là bản tính xấu, được ghi dấu bởi tội lỗi.

2. Sống theo Thần Khí:

Vẫn còn ở trong sự đối đầu giữa xác thịt và thần khí, nhưng kinh nghiệm của người Kitô hữu chứng nhận rằng tác động Thần Khí biến đổi tận bên trong con người. Thánh nhân ngỏ lời với những người lãnh bí tích Thánh Tẩy: “Anh em không còn sống theo xác thịt nữa, nhưng sống theo thần khí, nếu thực sự Thánh Thần Chúa ở trong anh em.” Và thánh nhân chứng minh cho họ thấy việc phục sinh thân xác là tất yếu. Đây là nét độc đáo của đoạn văn nầy.

3. Thần Khí là sự sống và là nguyên lý của sự sống lại:

Do tội lỗi, thân xác của chúng ta tất phải chết. Như ở nơi khác, thánh nhân đồng hóa thân xác phải chết với “con người cũ” phải bị diệt vong. Ấy vậy, Thần Khí ở nơi chúng ta là Sự Sống – chính ở đây mà quan niệm sê-mít về một con người toàn diện, bất khả phân thân xác và thần thiêng, đóng một vai trò trong lập luận – Thần Khí nầy chắc chắn biến đổi thân xác chúng ta; thân xác sẽ trở thành “thần thiêng” và bất khả hư hoại.

Điều này thánh nhân đã nói với các tín hữu Cô-rin-tô rồi: “Việc kẻ chết sống lại cũng vậy: gieo xuống thì hư nát, mà trỗi dậy thì bất diệt, gieo xuống thì hèn hạ, mà trỗi dậy thì vinh quang; gieo xuống thì yếu đuối, mà trỗi dậy thì mạnh mẽ, gieo xuống là thân thể có sinh khí, mà trỗi dậy là thân thể có thần khí. Nếu có thân thể có sinh khí, thì cũng có thân thể có thần khí.” (1Cr 15: 42-44). Thánh Phao-lô là chứng nhân của Đấng Phục Sinh. Ánh sáng đã bao phủ thánh nhân trên con đường Đa-mát và đã soi sáng cuộc đời ngài. Ở trung tâm của những khai triển thần học của thánh nhân, chúng ta không ngừng gặp lại biến cố then chốt: sự kiện Phục Sinh.

« Sự phục sinh của Đức Giê-su cấu tạo nên bước khởi đầu của cuộc tạo dựng mới mà chúng ta được dự phần vào nhờ đức tin. Từ đó phải rút ra những hiệu quả: trong đức ái, chúng ta sống như những con người được phục sinh; trong đức cậy, chúng ta đảm bảo sự phục sinh tương lai của chúng ta” (Karl Gatzweiler).

TIN MỪNG (Ga 11: 1-45)

Câu chuyện về sự phục sinh La-da-rô là câu chuyện dấu lạ dài nhất trong Tin Mừng Gioan. Qua dấu lạ nầy, Đức Giê-su kín đáo loan báo cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài. Đó mới thật sự là Phục Sinh chứ không chỉ việc hoàn sinh một thây ma, bởi vì La-da-rô chỉ sống lại để một ngày kia lại chết.

Hơn bất cứ biến cố nào khác, biến cố nầy bày tỏ nhân tính của Đức Giê-su: sự xúc động của Ngài, sự dịu dàng của Ngài, nước mắt của Ngài, và đồng thời cũng là Thiên Tính của Ngài: Chủ Tể của sự sống và cái chết: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy” (Ga 10: 18).

Dấu lạ nầy cũng là lời cảnh báo tối hậu mà Đức Giêsu gởi đến cho những ai không chịu tin vào Ngài. Vả lại, lời mời gọi hãy tin vào Ngài là một chủ đề chạy xuyên suốt toàn bộ câu chuyện. Sự căng thẳng giữa Đức Giê-su và dân Ngài, vốn hình thành nên hậu cảnh của Tin Mừng thứ tư, lại không bao giờ đạt đến cao độ như thế. Chỉ vừa mới đây, Đức Giê-su đã phải trốn chạy để tránh dân chúng ném đá Ngài, như các môn đệ của Ngài nhắc cho Ngài (11: 9); Ngài lánh mình sang bên kia sông Gio-đan, đến chỗ trước kia ông Gio-an đã bắt đầu sứ vụ của mình (10: 40).

Chính ở nơi đây mà hai chị em cô Mác-ta và Ma-ri-a nhờ người đến báo tin cho Đức Giê-su về bệnh tình của La-da-rô, em trai họ (điều nầy cho thấy các bạn của Ngài biết chỗ Ngài đang lánh nạn). Đức Giê-su trả lời cho người đến báo tin: “Bệnh nầy không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa: qua cơn bệnh nầy con Thiên Chúa được tôn vinh”. Nhưng như thường xảy ra trong Tin Mừng Gioan, cách nói nầy có hai nghĩa. Quả thật, Đức Giê-su sẽ “được tôn vinh” qua dấu lạ mà Ngài thực hiện, nhưng dấu lạ nầy sẽ dẫn Ngài đến cái chết của chính mình, vì Ngài sẽ khiến kẻ thù của Ngài công phẩn đến tận xương. Như chúng ta biết, đối với thánh Gioan, vinh quang của Đức Giê-su rực sáng nhất ở nơi cuộc Tử Nạn của Ngài. Thánh giá là cửa ngõ đưa Ngài trở về nhà Cha Ngài. Thánh ký sẽ nêu bật rằng Thiên Chúa đã đặt “vinh quang” của chính mình vào trong sứ mạng cứu độ con người, vì Thiên Chúa đã đặt vào đây tất cả tình yêu của Người.

1. Dẫn nhập (11 : 1-5)

Người kể chuyện giới thiệu lý do của cuộc hành trình đến Bê-ta-ni-a và các nhân vật của câu chuyện.

– Ba chị em của cô Mát-ta :

Các nhân vật nầy chúng ta đã biết ở nơi khác, nhưng đây là lần đầu tiên thánh ký nói về ba chị em Mác-ta, Ma-ri-a và La-da-rô. Riêng về cô Ma-ri-a, Tin Mừng Gioan nhận dạng cô (Ga 12 : 1-8) với người phụ nữ vô danh xức dầu thơm cho Đức Giê-su và lấy tóc lau chân Ngài ở Bê-ta-ni-a trước lễ Vượt Qua được tường thuật trong Tin Mừng Mát-thêu (26 : 6-13) và Tin Mừng Mác-cô (Mc 14 : 3-9), nhưng dứt khoát cô không thể được đồng hóa với người phụ nữ tội lỗi được tường thuật trong Tin Mừng Luca (Lc 7 : 36-50), bởi vì việc xức dầu thơm mà thánh Lu-ca nói đến không đồng nhất với việc xức dầu thơm mà thánh Gioan, thánh Mát-thêu và thánh Mác-cô nói đến trong bối cảnh kề cận với cuộc Tử Nạn của Ngài. Giáo Hội Đông Phương thường đồng nhất hóa ba nhân vật này: cô Ma-ri-a làng Bê-ta-ni-a, người phụ nữ tội lỗi thống hối và cô Ma-ri-a Mác-đa-lê-na được Chúa trừ bảy quỷ (Lc 8 : 2).

Các sách Tin Mừng chưa bao giờ nói về anh La-da-rô, ngay cả thánh Lu-ca cũng không, cho dù thánh ký đã tường thuật việc Đức Giê-su viếng thăm hai chị em ở Bê-ta-ni-a (Lc 10: 38-42). Ở đây, La-da-rô được giới thiệu “người Thầy thương mến đang bị đau nặng”. Có thể câu nầy là cách thức báo tin, nhưng trong Tin Mừng thứ tư, câu nói nầy đóng chức năng như cầu xin một sự can thiệp mầu nhiệm. Có thể thánh ký tránh đặt trên môi miệng của các tín hữu lời cầu xin phép lạ tỏ tường, vì lẽ rằng đối với thánh ký, phép lạ là dấu chỉ để bày tỏ vinh quang của Ngài, chứ không đơn giản chỉ là một hành động thi ân giáng phúc.

Việc La-da-rô được gọi biệt danh: “người mà thầy yêu” khiến vài nhà chú giải giả thuyết rằng La-da-rô là “người môn đệ mà Đức Giê-su yêu” được cho là tác giả Tin Mừng thứ tư. Tuy nhiên, giả thuyết nầy bị bác bỏ bởi đa số các nhà chú giải và bởi truyền thống của những thế kỷ đầu tiên.

2. Cuộc đối thoại của Chúa Giê-su với các môn đệ (11 : 6-16) :

Khi được tin báo, thay vì khởi hành ngay đến Bê-ta-ni-a, Đức Giê-su lại trì hoãn. Sau hai ngày, Ngài mới tuyên bố: “Nào chúng ta cùng trở lại miền Giu-đê”. Như vây, Đức Giê-su đến Bê-ta-ni-a chỉ sau khi La-da-rô đã chết và được mai táng trong mồ được bốn ngày rồi. Lý do của việc trì hoãn nầy chắc chắn là Ngài muốn gây ấn tượng hơn hành động của Ngài khi hoàn sinh người chết đã được mai táng trong mồ rồi.

Các môn đệ lưu ý Thầy mình về hoàn cảnh nguy hiễm: “Thưa Thầy, mới đây người Do thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy còn đến đó sao?” Trong chuyện kể của chúng ta, đọc giả được loan báo rằng việc Ngài ra đi không nhằm bất kỳ lý do thuần túy nhân loại, nhưng mặc một ý nghĩa cao siêu, tức là bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa. Tuy nhiên, các môn đệ chưa ngộ được ý nghĩa cao siêu nầy. Phản ứng của họ là phản ứng cẩn trọng của con người: ở Giu-đê, cuộc sống của Đức Giê-su bị đe dọa; vì thế Ngài không nên trở lại đó để thăm người bạn đang lâm bệnh vào lúc này. Đây là đề tài nghĩa kép rất quen thuộc của Tin Mừng thứ tư.

Đức Giê-su sẽ giúp cho các môn đệ vượt qua từ sự hiểu biết thuần túy hạ giới đến một tiên cảm nào đó về mầu nhiệm. Như thường trong Tin Mừng Gioan, Ngài soi sáng cho các môn đệ nhờ vào một cách thức mặc khải bí nhiệm. Dựa trên ý nghĩa ẩn dụ “ngày và đêm”, Ngài công bố mầu nhiệm của Ngài. Theo nghĩa vật lý, thành ngữ nầy muốn nói rằng có thời gian cho mỗi việc và thật thích hợp chọn ban ngày để bước đi ngỏ hầu tránh những tai nạn. Theo nghĩa ẩn dụ (nghĩa của Tin Mừng thứ tư), “ngày” là thời gian của ánh sáng. Vào ban ngày, nghĩa là bao lâu Đức Giê-su vẫn còn đó, phải tận dụng ánh sáng của Ngài, mặc khải mà Ngài đem đến. Vì thế, nỗi sợ hãi thật sự không xuất phát từ những nguy hiểm con người nhưng từ sự vắng mặt Ánh Sáng. Việc Đức Giê-su tiến về Giê-ru-sa-lem không được đánh giá theo sự chuyển biến thận trọng của con người, đúng hơn, thuộc phạm vi bày tỏ Ánh Sáng. Vì thế, đây là một lời mời gọi hãy tin vào Ngài nhờ vào Ánh Sáng nầy, nhưng cũng là lời loan báo viễn cảnh đe dọa của đêm sắp đến: cái chết và cuộc chiến thắng bóng tối : quyền lực tử thần (cf. Ga 13: 30b).

Tiếp đó, dù không có ai cho biết điều gì về bệnh tình của La-da-rô, Đức Giê-su công bố rằng La-da-rô đã chết qua hình ảnh giấc ngủ, như trước đây đối với bé gái của viên trưởng hội đường: “Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy!” (Mc 5: 39). Đức Giê-su vui mừng vì sứ điệp của Ngài sẽ dễ dàng được hiểu ở nơi dấu lạ Ngài sắp thực hiện.

Các môn đệ không còn tìm cách ngăn cản Ngài nữa. Một trong các môn đệ của Ngài, Tô-ma, tự phát và bạo dạn, nói với các bạn đồng môn của mình: “Cả chúng ta nữa, chúng ta cùng đi để cùng chết với Thầy”.

2. Cuộc đối thoại của Đức Giê-su với cô Mác-ta (11 : 17-27) :

Khởi đi từ câu 17, câu chuyện bắt đầu một giai đoạn mới. Khung cảnh không còn Ga-li-lê, nhưng Bê-ta-ni-a. Chiều kích mặc khải của phép lạ không còn chỉ được loan báo, nhưng được vén mở. Chính trong khung cảnh của cuộc đối thoại với cô Mác-ta mà ý nghĩa phép lạ dần dần được minh giải.

– Niềm tin của cô Mác-ta :

Mác-ta bắt đầu quở trách Ngài, xem ra khá biện bạch, Ngài đã cứu chữa biết bao bệnh nhân, ấy vậy lại đã không đến chữa người bạn mà Ngài thương mến ! Tuy nhiên, cô Mác-ta còn hy vọng. Cô đã có niềm tin vào Đấng mà Thiên Chúa chuẩn nhận : « Nhưng bây giờ con biết : Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người sẽ ban cho Thầy. »

Nhưng Đức Giê-su muốn kiện toàn đức tin của cô, Ngài không muốn cô Mác-ta hài lòng thấy ở nơi Ngài một con người của Thiên Chúa, mà những lời cầu xin đều được Thiên Chúa nhậm lời, nhưng cô phải nhận ra căn tính đích thực của Ngài.

– Ta là sự sống lại và là sự sống :

Lời công bố nầy thêm vào một loạt « Ta là » qua đó Đức Giê-su diễn tả và xác định phẩm tính hữu thể thần linh của Ngài : Ta là đường, sự thật và sự sống ; Ta là ánh sáng ; Ta là cửa ; Ta là cây nho thật ; Ta là Mục Tử nhân lành ; vân vân. Từ nhiều thế kỷ, niềm tin vào sự sống lại thuộc về gia sản tinh thần của Do thái giáo. Chỉ nhóm Sa-đu-xê-ô không thừa nhận thôi.

Đức Giê-su khai triển xa hơn : « Ai sống và tin vào Thầy, thì dù đã chết, thì cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. » Những lời nầy của Đức Giê-su đã được hiểu theo nhiều cách khác nhau và những lời giải thích thì không đồng nhất với nhau. Một sự kiện thì chắc chắn : Đức Giê-su khẳng định Ngài là nguồn mạch của sự sống đời đời. Thêm nữa, sự chuyển động của câu chỉ ra rằng Ngài muốn chỉnh lại hay đúng hơn bổ túc lời khẳng định của cô Mác-ta : còn hơn cả sự sống lại vào ngày sau cùng, đối với người Kitô hữu có một cuộc sống siêu nhiên vô tận khơi nguồn ở nơi sự hiệp nhất của họ với Đức Kitô. Giáo Hội dạy rằng cuộc sống không kết thúc ở nơi cái chết. Thánh Lễ Cầu Hồn nói với chúng ta : « Cuộc sống không hề mất đi, nhưng thay đổi » (vita mutatur non tollitur).

Cuộc Mặc Khải được chấm dứt với câu hỏi dứt khoát : « Chị có tin thế không ? », câu hỏi được đặt ra, ở bên kia cô Mắc-ta, cho những ai hiểu lời hứa nầy của Đức Kitô.

Cô Mác-ta đã lắng nghe. Cô đã đạt đến một niềm tin cao vời và nhận ra ở nơi Đức Giê-su Đấng Mê-si-a và Con Thiên Chúa.

3. Thực hiện dấu lạ (11 : 28-44) :

Sau lời tuyên xưng đức tin của cô Mác-ta, câu chuyện đi vào trong giai đoạn thứ ba, hướng trực tiếp hơn về việc thực hiện dấu chỉ. Việc triệu mời cô Ma-ri-a và việc người Do thái đến cho hướng phát triển của chuyện kể một bước nhảy vọt nào đó. Việc thực hiện dấu lạ không đem đến những yếu tố mới cho mặc khải tự nó, nhưng phương cách cho phép ghi nhận thêm lần nữa vài phản ứng tiêu biểu trước việc phép lạ của Ngài. Cô Ma-ri-a diễn tả niềm tin của mình theo cách khác, nhưng cũng không kém mãnh liệt : cô phủ phục dưới chân Đức Giê-su, đó là thái độ tôn thờ.

– Đức Giê-su xúc động:

Cảm xúc của Đức Giê-su được gợi lên đến ba lần : Ngài thổn thức trong lòng và xao xuyến (11 : 33), Ngài khóc (11 : 35), Ngài lại thổn thức trong lòng (11 : 38) ; nổi cảm xúc sau cùng được lập lại đến hai lần. Động từ Hy lạp bao gồm nét nghĩa phẩn uất : phẩn uất của con người Giê-su trước cái chết, bi thảm của thân phận con người, và cũng có thể Ngài thổn thức khi nghĩ đến cái chết của mình.

– « Hãy cất phiến đá nầy đi » :

« Ngôi mộ đó là một cái hang có phiến đá đậy lại » Thánh Gioan kể ra những chi tiết nầy vì chúng loan báo một cuộc mai táng khác vào trong ngôi mộ, và một tảng đá khác được lăn lấp huyệt và được lăn ra khỏi mồ một cách mầu nhiệm.

Đức Giê-su cầu nguyện lớn tiếng, Ngài có ý định khơi động niềm tin ở trong lòng của những người có mặt, niềm tin vào con người của Ngài, niềm tin vào sự hiệp nhất của Ngài với Cha Ngài, niềm tin mà Ngài muốn các môn đệ của Ngài phải được vững chắc ngay trước khi cuộc thử thách lớn lao xảy đến và để họ nhớ lại vào buổi sáng Phục Sinh quyền năng của Ngài trên sự chết.

Anh La-da-rô ra khỏi mồ, chân tay còn quấn vải, và mặt còn phủ khăn. Ở đây thánh Gioan cũng nhấn mạnh những chi tiết nầy để lưu ý sự tương phản với Đức Giê-su phục sinh, bỏ lại trong mồ mội liên hệ với cái chết, cái chết nầy Ngài đã chiến thắng dứt khoát.

Thánh ký không trì hoản gợi lên sự thán phục và nhận biết của hai cô Mác-ta và Ma-ri-a. Ông ghi nhận hai phản ứng từ phía người Do thái, chứng nhân của phép lạ : những người nầy tin (c. 45) trong khi những người khác « đi gặp nhóm Biệt phái và kể cho họ những gì Đức Giê-su đã làm, » theo cách nào đó, là những người cộng tác vào trong quyết định của những kẻ thù của Đức Giê-su (c. 46 : bài đọc phụng vụ chấm dứt thật kỳ lạ với câu 45, về phản ứng của các kẻ tin do bởi phép lạ). Vì thế, phép lạ của sự phục sinh trở nên cái cớ cho lời buộc tội và kết án tử hình (Cf. c. 47-53).

« Tất cả giáo huấn của bố cục văn chương quan trọng nầy được tập trung xung quanh các câu 25-26, Đức Giê-su đem đến cho chúng ta ở đây một sự mặc khải căn bản : Ngài là sự Sống Lại và là Sự Sống. Bất cứ ai tin vào Ngài, cho dù đã chết, cũng sẽ được sống ! Nhưng đồng thời, một câu hỏi có tính quyết định được đặt ra cho chúng ta và, qua đó, thật đáng sợ : « Anh hay chị có tin như thế không ? »

Như vậy, mỗi người trong chúng ta được đặt vào trong chỗ mà lời nầy được công bố. Sứ điệp Phục Sinh không đề nghị cho chúng ta những chắc chắn dễ dàng, đảm bảo, được đặt nền tảng trên những kinh nghiệm khả giác và kỳ diệu. Nó đề nghị cho chúng ta một mặc khải và một lời hứa : mặc khải : Đức Giê-su đã chiến thắng sự chết, và lời hứa : Ngài có thể liên kết chúng ta vào cuộc chiến thắng nầy. Đức tin của chúng ta không miễn trừ cho chúng ta nghiệm thấy nghiệt ngã những tang chế, những từ bỏ thường ngày và nổi sợ hãi trước cái chết ; nhưng còn là chấp nhận hiểu và sống những biến cố hiện tại dưới ánh sáng của Sự Sống cao vời mà Đức Giê-su loan báo cho chúng ta và Ngài là nguồn mạch.

Tin vào biến cố phục sinh, đó không chỉ chấp nhận rằng Đức Giê-su thực sự phục sinh ; chính là đón tiếp sự phong phú của biến cố nầy cho chúng ta và sống cho thật thích đáng» (Joseph Ponthot).

[Mục Lục]

Bài 3. Chú giải của Alain Marchabour: CHÚA GIÊSU LÀM CHO ANH LAGIARÔ SỐNG LẠI

Dấu lạ thứ bảy theo Tin Mừng Gioan là dấu lạ vĩ đại nhất, đến nỗi có vài nhà chú giải xem dấu lạ này như là sự biểu hiệu trước cuộc Thương Khó và sự Phục Sinh của Chúa Giêsu hơn là đoạn kết phần thứ nhất của Tin Mừng.

Luôn luôn như thế trong Tin Mừng Gioan, đây là một bài trần thuật tập trung vào Chúa Giêsu. Cả bài đều được sắp đặt chung quanh Chúa Giêsu; chính trong tương quan với Người mà mọi nhân vật được mời gọi thực hiện việc lựa chọn. Cảnh tượng xảy ra ở hai nơi. Ở bên kia sông Giođan (10,40-11,16) nơi Chúa Giêsu ở ẩn cùng các môn đệ và tại Bêtania (11,16-45) nơi ở của Lagiarô và hai chị. Theo Ga 1,28 thành phố bên kia sông Giođan cũng gọi là Bêtania. Như vậy, có hai “Bêtania”, ngăn cách bởi dòng sông Giođan, nơi này cách xa nơi kia trước tiên không phải về địa lý: có một Bêtania tĩnh lặng, đầy sức sống và lòng tin và một Bêtania náo loạn, đầy chết chóc. Bêtania, gần Giêrusalem, là nơi cư ngụ của Lagiarô, Matta và Maria, được giới thiệu ở đây như ba chị em. Lagiarô –có nghĩa là “Éléazar” (Thiên Chúa đoái thương) theo dạng thức Hy Bá- không được nhắc đến ở nơi nào khác. Cũng danh xưng này còn gặp thấy trong dụ ngôn về anh Lagiarô và ông nhà giàu (Lc 16) trong một tình huống không liên quan gì đến đoạn sách của chúng ta. Maria và Matta cũng không xuất hiện nào khác ngoài Lc 10,38-42.

Phần Dẫn: 1-6

Bài trần thuật mở đề như một truyện ngắn: “Có một người đau nặng”. Lagiarô được đề cập đến trong tương quan với hai cô chị Maria và Matta. Chị Maria được đánh giá dựa vào việc xức dầu thơm cho Chúa Giêsu. Bởi vì cô chị này được đặt quan hệ với “ngày mai táng” của Chúa Giêsu, ta có thể hiểu điểm giải thích này như cách hướng dẫn để suy ngắm: Maria được đặt liền bên cạnh sự tang tóc và sự chết.

Ở điểm này, hai chị em đều không khác nhau. Cô này cũng như cô kia đều được Chúa Giêsu thương mến, cả hai cô đều cho người đến báo cho Chúa Giêsu hay Lagiarô đau nặng. Có hai ghi chú khiến bài trần thuật trở nên bi thảm: Chúa Giêsu thương mến, thế nhưng Người còn lưu lại thêm hai ngày nữa! Điều trái nghịch này có thể là quan trọng. Nó còn lặp lại trong 11,36-37 dưới dạng thức lời xác quyết của người Do Thái: Kìa xem ông ta thương anh Lagiarô biết mấy!… Ông ta lại không thể làm cho anh ấy khỏi chết ư!

Phần dẫn nhập này tạo cho Chúa Giêsu một tư thế duy nhất bởi lẽ người báo trước biến cố này như một căn bệnh không phải đưa đến sự chết mà là tỏ hiện vinh quang của Thiên Chúa và của Chúa Con.

Chúa Giêsu Và Các Môn Đệ: 7-16

Cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu với các môn đệ tạo nên một sự toàn nhất. Hơn nữa sự thống nhất của bài trần thuật được đánh dấu bằng sự bao hàm:

Người nói với các môn đệ (c.7)

Nào chúng ta cùng trở lại miền Giuđê

người Do Thái tìm cách ném đá Thầy (c.8)

nào chúng ta đến với anh ấy (c. 15)

Tôma nói với các bạn đồng môn (c.16)

chúng ta cùng đi và cùng chết với Thầy.

Trong phần này, các môn đệ hành xử như thế theo hai thái độ. Trước tiên, các ông là đối tượng để Thầy dạy bảo. Quả thực, đứng trước cái chết của anh Lagiarô và những lời Chúa Giêsu nói, các ông tỏ ra không hiểu gì hết và cần lời giảng dạy của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu chứng tỏ mình thông hiểu và mời gọi các môn đệ cùng chia sẻ: đối với Chúa Giêsu, cái chết của anh Lagiarô là một giấc ngủ: điều đó khiến hiểu rằng Người có thể “đánh thức” nếu anh ta nghe tiếng của Chúa Giêsu. Sau nữa, các ông đi theo Người và sau khi phản đối, cuối cùng các ông cùng tham gia vào chương trình của Người: “Nào chúng ta cùng đi và cùng chết với Thầy”. Thực tế, các ông chứng tỏ thế nào là môn đệ: lắng nghe Thầy và tiếp bước theo Thầy cho đến chết (các Tin Mừng Nhất Lãm sẽ đề cập đến “vác lấy thập giá của mình”).

Người kể chuyện khéo léo đưa vào một tựa đề thích hợp cho mỗi độc giả (mỗi người phải là môn đệ) và một sự quy chiếu vào biến cố đặc biệt bằng cách nêu tên ông Tôma và nhờ vậy tạo nên một căn cứ lịch sử cho bài trần thuật. Như vậy bài trần thuật vừa có tính lịch sử vừa có tính tượng trưng.

Chúa Giêsu Và Cô Matta: 17-27

Bài trần thuật chuyển ngay sang bên kia sông Giođan nơi diễn biến cuộc đối thoại với các môn đệ, tại Bêtania gần Giêrusalem. Tác giả tự do tóm tắt trì hoãn để đạt đến các mục tiêu của mình. Kể từ câu 20, tác giả dùng bài trần thuật ngay tại cổng làng Bêtania để khai triển hai cảnh song song trong đó mỗi chị em đều có một vai trò khác biệt nhau.

Cô Matta bỏ đám đông đang buồn thảm gồm cô Maria và nhiều người Do Thái để đi đón Chúa Giêsu. Việc đi đón này đặt cô Matta vào trong mối liên hệ đặc biệt tin tưởng khi đối diện với Chúa Giêsu. Có Chúa Giêsu hiện diện, sự chết không thể lấn lướt được Người. Niềm xác tín này của cô Matta được diễn đạt bằng ba dụng ngữ.

Trước nhất cô xác tin rằng Chúa Giêsu có quyền trên sự chết. Sự hiện diện của Chúa Giêsu là cơ hội để cô tuyên xưng đức tin của mình vào Chúa Giêsu: “Con biết bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy”. Lời quả quyết giống như một lời cầu xin (như trong 2,3). Về điểm này, cô nhận biết Chúa Giêsu là người của Thiên Chúa, theo cung cách của Êlia và Êlisê, những vị mà Thiên Chúa ban cho quyền làm cho kẻ chết sống lại (1V 17,17-24; 2V 4,18-37). Thế nhưng đối với một tín hữu Do Thái, rõ ràng chỉ có Thiên Chúa mới có thể ban sự sống, như lời của một kinh sư Do Thái minh chứng: “Ôi lạy Chúa, Chúa nắm trong tay ba bí quyết: quyền năng làm mưa gió, làm thụ thai trong lòng người nữ và làm cho kẻ chết sống lại”.

Khi Chúa Giêsu ẩn mình đi để nhắc cho Matta niềm tin của người Do Thái vào việc làm cho kẻ chết sống lại (Ga 11,23), cô liền tiếp theo Người để tin vào tín điều của dân Israel: “Con biết em con sẽ sống lại trong ngày sau hết”.

Nhất là khi Chúa Giêsu tỏ hiện như là sự sống lại và là sự sống, cô Matta liền vượt qua sự hiểu biết để tin: “Thưa Thầy, con vẫn tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa” (11,27). Ở đây cô là dung mạo của người nữ tín hữu nhận biết nơi Chúa Giêsu sự xâm nhập của Thiên Chúa kẻ sống vào giữa loài người. Ở đây Chúa Giêsu trổi vượt các ngôn sứ Êlia và Êlisê: Người được nhận biết như Đấng ban sự sống, theo mẫu hình của Thiên Chúa. Quả vậy, nhờ đức tin cô Matta đã hiểu rằng nơi Chúa Giêsu, chính Thiên Chúa ngự đến giữa loài người. Thật hoàn toàn hợp lý để cô Matta tuyên xưng Chúa Giêsu trong căn tính đích thực của mình, Đấng Mêsia của Thiên Chúa (cùng đích của Do Thái giáo) và Con Thiên Chúa. Như thế, cô tổng hợp Do Thái giáo (Đấng Mêsia) và sự mới lạ của Kitô giáo (Con Thiên Chúa).

Tiểu đoạn này đã đạt đến đích điểm khiến cho việc anh Lazarô ra khỏi mồ sau này trở nên tương đối, bởi vì vận may đặc biệt của anh đã trở nên thứ yếu: “Ở đây điều hệ trọng là “ai sống và tin vào Chúa Giêsu” (11,25).

Chúa Giêsu Và Cô Maria: 28-37

Người kể chuyện muốn nhấn mạnh đến sự tương đồng giữa hai chị em: họ gặp Chúa Giêsu tại cùng một địa điểm và thưa với Chúa Giêsu những lời như nhau. Thế nhưng lời đầu tiên của cô Maria chỉ lặp lại phần tiêu cực của điều cô em đã nói –“Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây”- còn thiếu phần tuyên xưng đức tin. Trong hành động và trong lời nói, cô Maria vẫn còn chìm đắm trong tang chế: cô đang ở với người Do Thái đến chia buồn (cc. 31.33). Cô đang khóc lóc thảm thiết.

Có một niềm tin quá mức nơi cô Matta và một sự buồn thảm nơi cô Maria, ta có thể nói như vậy chăng? Các bản văn đều phóng khoáng và cô Matta người phụ nữ đầy lòng tin lại xuất hiện ở câu 11,39 với những dấu hiệu của sự thiếu tin tưởng. Thế nhưng, theo cách thức của nhà mô phạm, Gioan đã đánh dấu hai thái độ trước sự chết; cô Maria, được đề cập đến ngay từ phần đầu của bài trần thuật với vẻ tang tóc và chết chóc (c.2), tiêu biểu cho con người thất vọng vì sự từ biệt: sự buồn thảm thái quá khiến cô không thể đón nhận nơi Chúa Giêsu Đấng mặc khải của Thiên Chúa.

Chúa Giêsu Đứng Trước Anh Lagiarô: 38-45

Cuộc hội ngộ với anh Lagiarô được đặt liền sau đoạn đau thương khóc lóc và phiền muộn. Chúa Giêsu lặp lại địa vị Chúa Tể của mình và tỏ bày bằng ba cách:

a. Bằng lời nguyện xin cùng Chúa Cha qua đó biểu hiện sự kết hợp giữa Người với Chúa Cha và niềm xác tín được lắng nghe: “Con biết Cha hằng nhậm lời con”.

b. Bằng quyền năng của Người nơi các nhân chứng. Người ra lệnh hai lần: “Đem phiến đá này đi”. Cô Matta còn do dự được hướng dẫn đến vinh quan của Thiên Chúa như Chúa Giêsu đã loan báo cho các môn đệ (11,4). “Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi”. Như thế đó, Chúa Giêsu không những giải thoát anh Lagiarô khỏi xiềng xích sự chết, mà còn không ràng buộc con người vừa mới được cứu thoát phải lệ thuộc vào mình. Người gởi trả anh Lagiarô về với sự sống.

c. Bằng sự can thiệp ngắn gọn nhưng hiện hữu của Người: “Người kêu lớn tiếng: “Anh Lagiarô, hãy ra khỏi mồ!”. Tiếng kêu này có tác dụng tạo được cho dấu lạ tính cách công khai không? Tiếng kêu có nêu lên được ý nghĩa tiếng nói của Người có thể vang đến xứ sở kẻ chết chăng? Cả hai ý nghĩa đều có thể, cùng với khả năng hướng đến tiếng kêu thảm thiết của Con Người vào thời cuối cùng lôi kéo kẻ chết ra khỏi mồ.

Anh Lagiarô

Khác hẳn với các nhân vật khác, nhân vật Lagiarô khá dài dòng: anh xuất hiện xuyên suốt bài trần thuật: anh là nguyên nhân làm phát sinh câu chuyện; anh là một câu chuyện của mỗi người và tạo cho tất cả các nhân vật khác khả năng làm cho sự chết một ý nghĩa. Anh xuất hiện với dáng vẻ thụ động, im lặng, một sự im lặng phong phú khiến cho mỗi nhân vật của bài trần thuật, và qua đó mỗi độc giả, đều có thể lên tiếng. Anh là người mặc khải cho mỗi người. Thoạt đầu, không có một yêu cầu nào đặc biệt: chính hai cô chị cho người đến nói với Chúa Giêsu: Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng. Sống lại ra khỏi mồ, anh Lagiarô tiếp tục im lặng và rút lui theo lời nói bí ẩn của Chúa Giêsu: “Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi”. Người kể chuyện quan tâm đến “phần để trắng” trong tiến trình của anh Lagiarô: bốn ngày anh ở trong mồ có ý nghĩa gì? Sau khi sống lại ra khỏi mồ, anh làm gì? Bài trần thuật đạt đến tột đỉnh cùng với việc tuyên xưng đức tin của cô Matta. Anh Lagiarô đã được “đánh thức” bởi vì anh đã nghe lời của Chúa Giêsu. Đấy là chỗ duy nhất trong bài trần thuật: “Anh Lagiarô, hãy ra khỏi mồ!”.

Tuy nhiên, về cuộc hành trình cá nhân của anh Lagiarô, không có một dấu vết nào được thuật lại cho chúng ta ngoài sự kiện anh Lagiarô một trong những người đồng bàn cùng với Chúa Giêsu trong 12,2: Orgiène đã nói: “Anh Lagiarô đã trải qua một quãng đường dài, bởi vì anh đã đi từ ngôi mộ đến bàn tiệc của Chúa”. Anh biến khỏi bài trần thuật khi mà thánh sử thông báo rằng các vị thượng tế quyết định giết cả anh Lagiarô nữa (12,11): lời nói có hiệu quả đáng kinh ngạc. Chúng ta sẽ không còn biết gì về anh nữa, ngoài những tục truyền. Thánh sử đã đề cập khá đầy đủ về anh: từ nay cần phải nhường chỗ lại cho Chúa Giêsu, Người mà anh có nhiệm vụ chuẩn bị sự chết và sự vinh quang.

Chúa Giêsu Được Tỏ Hiện

Trọn bài trần thuật đều tập trung vào Chúa Giêsu. Trong mỗi phân đoạn, Người đều là biểu tượng chính yếu và lần lượt tỏ lộ một khía cạnh nhỏ về căn tính của Người, như được chứng mình khi ta nhìn thoáng qua các phần khác nhau của bài trần thuật.

[Mục Lục]

Bài 4. Chú giải của Noel Quession

Có một người bị đau nặng tên là Ladarô, quê ở Bêtania làng của hai chị em cô Mácta và Maria. Cô Maria là người sau này sẽ Xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc lau chân Người (Ga 12,1-3). Anh Ladarô. Người bị đau nặng, là em của cô.

Bêtania ngày nay vẫn luôn mang tên bằng tiếng Ả Rập “El Azaneh”, làng của Ladarô. Trong tiếng Do Thái “Beithaneiah” có nghĩa là “nhà của người nghèo”. Bêtania! ở triền phía Đông của núi Ô-liu, ở 3 km phía Đông Giêrusalem, đó là phía mặt trời mọc trên Giêrusalem.. Đó là đỉnh của ngọn núi mà dưới chân nó, trên phía có bóng che, có vườn Ghết-sê-ma-ni ở phía thấp dưới. Bêtania! Đó là ốc đảo của ánh sáng và tình bạn hữu. Ở đó, trong một ngôi nhà thân hữu, Đức Giêsu đã sống hạnh phúc.

Hai chị em sai người nói với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang đau nặng”. Nghe vậy Đức Giêsu bảo: “Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa: qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh”. Đức Giêsu quí mến cô Mácta, cùng hai người em là cô Maria và anh Ladarô.

Trong cuộc sống đầy xáo động và khó khăn của Chúa Giêsu. Bêtania là chốn cõi lòng được nghỉ ngơi. Theo thói quen, Tin Mừng giới thiệu một Đức Giêsu hoàn toàn! được toả hào quang với địa vị Đức Chúa Phục sinh (và sự cám dỗ “theo thuyết một bản tính” rõ ràng là chỉ nhìn thấy bản tính Thiên Chúa nơi Người). Vậy mà, Thánh Gioan, người trông thấy rõ nơi Người Ngôi Lời, Con vĩnh cửu, cũng là người cho chúng ta thấy “con người” nơi Đức Giêsu. Người đã có nhiều tình bạn với nữ giới; như ta thấy rõ trong câu nói tinh tế và đơn sơ này: “Đức Giêsu yêu mến Mácta và em gái của cô”, người cũng sẽ, lát nữa run lên vì xúc động và khóc.

Tuy nhiên sau khi được tin anh này lâm bệnh, Người còn lưu lại thêm hai ngày lại nơi đang ở. Rỗi sau dó, Người nói với các môn đệ: “Nào, chúng ta cùng trở lại miền Giu-đê”. Các môn đệ nói: “Thưa Thầy, mới đây người Do Thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy lại còn đến đó sao?”. Đức Giêsu trả lời: “Ban ngày chẳng có mười hai giờ đó sao? Ai đi ban ngày thì không vấp ngã, vì thấy ánh sáng mặt trời. Còn ai đi ban đêm thì vấp ngã vì không có ánh sáng nơi mình”.

Sự sống lại của Ladarô là “phép lạ cuối cùng” của Chúa Giêsu, dấu hiệu cuối cùng mà người dành cho người Do Thái trong vụ tranh tụng giữa ánh sáng và bóng tối: ngay sau dấu hiệu này, trong Thánh Gioan, là cuộc Thụ Nạn bắt đầu (Ga 11,46-53). Khi đi sang miền Giuđê để cứu anh bạn Ladarô của mình, Đức Giêsu đi đón nhận cái chết của mình. Chúng ta chú ý là Đức Giêsu, mặc cho tình yêu của Người đối với hai người bạn gái, đã cố tình chậm đến gặp lại họ: Dù vẫn hoàn toàn nhân bản, Đức Giêsu không bao giờ để mình bị dẫn dắt bởi tình cảm của mình nhưng bởi ý muốn của Chúa Cha (4,34; 7,18; 8,29).

Người đã đợi cho Ladarô chết vì người biết thế, người không đến để tránh cho chúng ta khỏi đau khổ và tang chế, nhưng thay đổi những đau khổ và cái chết này nhờ sự sống lại của Người, chính Người cũng sẽ không tránh cái chết cho mình!

Nói những lời này xong. Người bảo họ: “Ladarô bạn của chúng ta đang yên giấc; tuy vậy Thầy đi đánh thức anh ấy đây. Các môn đệ nói với Người: “Thưa Thầy, nếu anh ấy yên giấc được anh ấy sẽ khoẻ lại”. Đức Giêsu nói về cái chết của anh Ladarô, còn họ tưởng về giấc ngủ thường. Bấy giờ Người mới nói rõ: “Ladarô đã chết, Thầy mừng cho anh em vì Thầy đã không có mặt ở đó, để anh em tin. Thôi nào chúng ta đến với anh ấy”. ông Tôma, gọi là Đi-di-mô nghĩa là sinh đôi nói với các bạn đồng môn: “Cả chúng ta nữa, chúng ta cùng đi để cùng chết với Thầy”.

Đức Giêsu luôn luôn gọi cái chết là một “giấc ngủ”, và nhờ đó mời chúng ta thay đổi quan niệm của chúng ta về cái thực tại không thể tránh được này (Mt 9,24: Ga 11,11) Cái chết thể lý, đối với Đức Giêsu, là một giấc ngủ đơn sơ và tạm bợ; nấm mồ trở thành một nơi người ta nghỉ ngơi trong lúc chờ đợi thức dậy. Và Thánh Phaolô sẽ ca lên: “Hỡi người đang ngủ, hãy tỉnh giấc, ngày đã sáng rồi. Từ trong kẻ chết, người hãy trỗi dậy, và được sáng ngời” (Ep 5,14). Lạy Đức Giêsu, xin hãy giúp con hiệp thông thực sự ý tưởng của Chúa để cất khỏi sự chết cái đặc tính bi thảm của nó, để xem nó như sự “phát tình của Thiên Chúa” huyền nhiệm, khiến chúng con cuối cùng có thể tham dự vào cuộc sống hạnh phúc của nó: Những ai đã ngủ yên trong Đức Giêsu, thì Thiên Chúa sẽ dẫn đưa họ cùng đi với Người…” (1Tx 4,14), “bởi vì Đức Kitô đã sống lại từ kẻ chết, quả đầu mùa của những ai đã ngủ yên…” (I Cr 15,20). Vâng Đức Giêsu có thể “vui mừng” về cái chết của Ladarô. Ôi mạc khải! Mạc khải duy nhất có ích lợi… về cái chết.

Khi đến nơi, Đức Giêsu thấy anh Ladarô đã chôn trong mồ được bốn ngày rồi. Bêtania cách Giêrusalem không đầy ba cây số. Nhiễu người Do Thái đến chia buồn với hai cô Mácta và Maria, vì em các cô mới qua đời. Vừa được tin Đức Giêsu đến, cô Mácta liền ra đón Người. Còn cô Maria thì ngồi ở nhà. Cô Mácta nói với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết, nhưng bây giờ con biết bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa. Người cũng sẽ ban cho Thầy” Đức Giêsu nói: “Em chị sẽ sống lại”. Cô Mácta thưa: “Con biết em con sẽ sống lại khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết. Đức Giêsu liền phán: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống lại. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không?”. Cô Mácta đáp:Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Kitô. Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian”.

Mácta, như một phần lớn những người Do Thái thuộc thời cô, tin vào sự sống lại vào lúc tận thế… những ngày sau cùng! Điều mới mà Đức Giêsu yêu cầu cô tin, chính là một sự sống lại “hiện tại”: “Thầy là sự sống lại!”.

Đây là câu trả lời của Thiên Chúa cho câu hỏi độc nhất nghiêm chỉnh của lời Người, câu hỏi đặt ra cho mỗi người trong chúng ta khi đối diện với cái chết. “Ai tin vào Thầy dù đã chết sẽ sống”. Thật? hay không thật? hay bạn không tin điều đó? Kinh Tin Kính của chúng ta đơn sơ và ngắn gọn: Đức Giêsu làng Nadarét, đã chết và đã sống lại! Điều đó đơn giản như một buổi sáng Lễ Phục sinh. Trong khi chờ đợi chết. chúng ta phải sống điều đó, phải tin điều đó. Bởi vì tất cả mọi người tin vào Đấng đã sống lại không thể sống một cuộc đời không có tình yêu, không cậy trông, không niềm vui được của sẻ. Nếu bạn phải chết chiều nay, bạn sẽ làm thế nào để có thể trải qua ngày này trước khi ôm lấy Chúa? Cuộc đời của một tín hữu đầy sự sống lại, đầy sự sống và đầy niềm vui. Thầy là sự sống lại và là sự sống Những lời kiêu kỳ gây hốt hoảng? Đó là một thằng điên nói ra… hay chính là Thiên Chúa. Cuộc sống mà Người nói đến, hiển nhiên có một bản tính khác với cuộc sống sinh lý này, chết là hết; nhưng là cuộc sống của Thiên Chúa. Ai tin Thầy thì sẽ không bao giờ chết. Đức tin, ngay từ bây giờ, là một sự vui hưởng trước đời sống đó, đời sống không chết, chính là đời sống của chính Thiên Chúa.

Nói xong. Mácta đi gọi em là Maria và nói nhỏ: “Thầy đến rồi, Thầy gọi em đấy. Nghe vậy cô Maria vội đứng lên và đến với Người… Khi đến gần Đức Giêsu, cô Maria vừa thấy Người, liền phủ phục dưới chân và nói: ‘ Thưa Thầy nếu có Thầy ở đây em con đã không chết”. Thấy cô khóc và những người Do Thái đi theo cũng khóc, Đức Giêsu thao thức trong lòng và xao xuyến. Người hỏi: “Các anh để xác anh ấy ở đâu?”. Họ trả lời: ‘ Thưa Thầy! mời Thầy đến mà xem”. Đức Giêsu liền khóc. Người Do Thái mới nói: “Kìa xem! Ông ta thương Ladarô biết mấy”. Có vài người trong nhóm họ nói: “ông ta mở mắt cho người mù, lại không thể làm cho anh ấy khỏi chết ư?”. Đức Giêsu lại thổn thức trong lòng. Người đi tới mộ. Ngôi mộ đó là một cái hang có phiến đá đậy lại.

Thật là tai hại, lại một lần nữa, khi những người phiên dịch đã không phán đoán tốt để cho người ta cảm thấy trong bản (dịch của họ, một tiểu tiết thật đẹp trong bản văn Hy Lạp, mà hiển nhiên là Gioan muốn thế. Ba lần, khi nói đến Mácta và Maria và những người Do Thái, Gioan dùng tiếng “Klainein” có nghĩa chính xác là “khóc, nức nở to tiếng” và chúng ta đoán những tiếng nấc và tiếng kêu ở Phương Đông, rất chan hòa tình cảm của mình, mà người ta thoáng nghe thấy nơi những bà khóc mướn chung quanh đám tang. Nhưng khi đến Đức Giêsu, Gioan thay đổi tiếng, và nói về “dakruein”, có nghĩa là “khóc thổn thức lặng lẽ”. Và từ này làm cho tôi trông thấy những giọt nước mắt âm thầm rơi trên mắt của một Giêsu làm chủ được mình, và cả khi Người đau khổ. Người vẫn khống chế được đau khổ riêng của mình.

Đức Giêsu nói: “Đem phiến đá này đi”. Cô Mácta là chị người chết liền nói: ‘Thưa Thầy nặng mùi rồi, vì em con ở trong mồ đã được bốn ngày! Đức Giêsu bảo: “Nào Thầy đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, thì chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao?”. Rồi người ta đem phiến đá đi. Đức Giêsu ngước mắt lên và nói: “Lạy Cha, con cảm tạ Cha. vì Cha đã nhậm lời con. Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con. Nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con”.

Câu truyện dài dòng này, dẫn nhập vào cuộc sống lại của Ladarô, đi cho chúng ta hiểu là mục đích của trang này không phải là sự “tỉnh dậy” của cái chết thể lý của Ladarô, nhưng chính là sự tiến bộ trong đức tin của tất cả những người bao quanh Đức Giêsu. Và hành vi cảm tạ của Đức Giêsu, ta hãy chú ý điều này, không nhắm đến phép lạ mà Người sắp làm, nhưng đến sự kiện là phép lạ này sẽ giúp cho những người không tin hay những người yếu lòng tin “tin tưởng”:

– Những môn đệ đã chống, không lên lại Giêrusalem, họ nghi ngờ, họ sợ.

– Mácta không muốn mở ngôi mộ, chị hoài nghi, tử thi đã để quá trễ ngày.

Những người Do Thái, cho dù họ có thiện cảm với ba chị em, không tới để khóc nức nở.

Đức Giêsu muốn cầu nguyện cho tất cả họ, cho tất cả những người khó lòng tin tưởng, cho tôi, cho các bạn. Và đức tin chính là gì vậy? Chính là nhìn nhận rằng Đức Giêsu đến từ chỗ khác. Đức Giêsu được sai đi. Bạn có tin điều đó không? Bạn có tin cái chỗ khác từ đó Đức Giêsu đến không? Trong trang này của Gioan, có 23 cuộc di chuyển nơi chỗ được nhắc đến: bên ngoài Giu-đê, về hướng Giu-đê, về hướng Bêtania, về phía nhà, về phía mộ, về phía Giêrusalem; nhưng trung tâm của tất cả những cuộc di chuyển này, dù bề ngoài thế nào, không phải là “ngôi mộ” có thể cuốn hút chúng ta nhìn vào, mà đó là một thế giới khác, thế giới của Chúa Cha, từ đó Đức Giêsu được sai đi! Không có nơi đó, vấn đề cái chết không được giải quyết.

Nói xong, Người kêu lớn tiếng: “Anh Ladarô hãy ra khỏi mồ!”. Người chết liền ra, chân tay còn quấn vải và mặt còn phủ khăn. Đức Giêsu bảo: “Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi”. Đông đảo người Do Thái đã đến thăm cô Macta, và đã chứng kiến việc Đức Giêsu làm. Họ tin vào Người.

Vấn đề chính yếu, đối với con người, theo Đức Giêsu, trước hết không phải là có thể ra khỏi mồ một ngày kia, mà ngay từ bây giờ, đi từ sự chết sang sự sống bằng một đức tin gắn bó vào bản thân Đức Giêsu: “Họ tin vào Người”, còn chúng ta?

[Mục Lục]

Bài 5. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt: PHỤC SINH LAGIARÔ

“Có một người ốm liệt, ông Lagiarô”: Chúng ta chẳng biết nhân vật này ở nơi nào khác nữa, và hình như các độc giả Tin Mừng cũng không, vì ông được gọi như là em của Matta và Maria. Tuy nhiên, ông mang một cái tên tiền định mà trong tiếng Hy bá có nghĩa: “Thiên Chúa đến cứu giúp”, và, đàng khác ông là bạn của Chúa Giêsu.

“Người Bêtania”: Chắc chắn đây là ngôi làng mà ngày nay vẫn còn tồn tại với mỹ danh “El Azarich” (tiếng rút từ chữ Lagiarô), cách Giêrusalem quãng 2km, và là nơi người ta còn thấy ngôi mộ của Lagiarô đục sâu trong đá.

“Làng của Maria và Matta chị bà”: Vì tác giả không nói gì đặc biệt về hai phụ nữ này, nên phải giả thiết là độc giả đã biết nhiều về họ. Người ta đã sớm đồng hóa họ với hai phụ nữ được nhắc đến trong lúc 10,38-42. Hình như họ có cùng một tính tình: Matta hoạt động, lanh lẹ, chủ gia đình; Maria trái lại trầm tư, chiêm niệm hơn, thường bị chị xỏ mũi. Luca không nói tên nơi xảy ra cảnh đó; cũng có thể là Bêtania lắm, nhưng chẳng có gì cho phép ta đồng hóa một cách chắc chắn nhân vật của hai câu chuyện.

“Maria là người đã xức dầu thơm cho Chúa”: Hành động này được kể lại ở thì quá khứ, vì tác giả nhìn từ thời gian biên soạn, nên sự kiện này là một sự kiện đã qua. Nhưng ông lại tường thuật việc xức dầu ở chương 12, khi Chúa Giêsu sẽ trở về Bêtania, sau một thời gian rút vào sa mạc Ephraim. Không có gì cho phép quả quyết đây là người đàn bà tội lỗi mà Luca kể lại trong 7, 36tt.

“Chúa Giêsu yêu mến Matta cùng em bà và Lagiarô”: Câu này đính chính một lối giải thích sai lầm có thể có, dựa trên sự kiện Chúa Giêsu hãy còn nán lại thêm hai ngày nơi Người đang ở, dù đã nghe tin Lagiarô đau liệt.

“Ngày không phải có 12 giờ sao”: Dù có vẻ tượng hình và hai bí nhiệm, câu trả lời của Chúa Giêsu thật rõ ràng. Bao lâu chưa đến giờ hoàng hôn? bấy lâu chưa có gì phải sợ; người ta có thể an toàn bước đi cho đến hết thời hạn 12 giờ của ngày. Nói cách khác, Người phán cùng các môn đồ vốn đang kinh hãi khi thấy Người lên Giêrusalem đáng sợ trước, chưa đến giờ nguy hiểm đâu!”.

“Và chúng ta cũng hãy đi qua để chết với Người”: Ngược lại với lối giải thích thông thường, hình như chữ với “Người” ám chỉ Lagiarô, vì người ta vừa mới nói trong câu trước đó là Lagiarô đã chết và Chúa Giêsu đã kết luận: chúng ta hãy qua gặp ông ấy. Trong trường hợp này, Tôma nói cách đơn sơ: nếu Người muốn đi bất cứ giá nào, thì chúng ta hãy tháp tùng theo để chung số phận với Lađarô là kẻ đã chết.

“Đã được chôn 4 ngày rồi ”: Vì khí hậu ở phương đông, nên người chết được chôn trong cùng ngày chết (Ga 11, 39; Cv 5, 6). Chữ “4 ngày” có một tầm quan trọng trong trình thuật người Do thái thời Chúa Giêsu tin rằng trong 3 ngày đầu tiên, hồn vía hãy còn lảng vảng bên thây ma; chỉ từ ngày thứ tư, lúc thây ma bắt đầu thối rữa, chúng mới bỏ mà di. Ngày thứ 4 là ngày chết thực sự.

“Ta là sự sống lại”. Mấy chữ “và là sự sống” bị P45 cũng như một số thủ sao của truyền thống latinh và syria-sinai cũ xóa bỏ, cả Origène và Cyprien thỉnh thoảng cũng thế. Nhưng tất cả các thủ sao và các bản dịch khác đều giữ lại. Thành ra không có lý do gì để duy trì lối đọc vắn của BJ.

“Hãy cởi ra cho ông ấy”. Đối với Lagiarô, phải lăn hòn đá, cởi dải liệm; còn khi Chúa Giêsu phục sinh, các phụ nữ nhận định một sự kiện đã rồi: đá được lăn đi, các cuộn băng nằm dưới đất, còn khăn liệm được xếp lại ở một nơi riêng (20, 1-7). Các thiên sứ chỉ đứng đó để giúp các môn đồ ý thức sự kiện mà thôi.

“Nhiều người Do thái…đã tin vào Người”: Gioan không bảo bấy giờ Lagiarô thế nào, cũng chẳng nói đến sự thán phục của các chứng nhân. Ông đưa ta đến điểm cốt yếu: nhiều người đã tin vào Chúa Giêsu. Đó là điều mà tác giả Tin Mừng mời gọi ta.

KẾT LUẬN

Chúng ta đã ghi nhận việc nhấn mạnh đến đức tin trong Tin Mừng thứ tư, sự căng thẳng tăng dần theo các chương giữa Chúa Giêsu, Đấng tự mặc khải chính mình trong các việc làm, và lòng cứng tin của người Do thái. Giai thoại hôm nay thường xuyên nhắc đến đức tin. Động từ “tin” được dùng 8 lần để chỉ việc con người đáp trả khi thấy vinh quang Thiên Chúa. Lagiarô đã chết và được an táng từ 4 ngày rồi. Người Do thái hình như hoài nghi quyền năng của Chúa Giêsu. Matta và Maria thì nói với Người: “nếu Thầy đã ở đây…”. Chứng cớ dứt khoát và không thể chối cãi mà người Do thái đòi hỏi (10, 24) giờ đây được ban cho họ. Ai có quyền trên sự sống, nếu không phải là chỉ mình Thiên Chúa? Chúa Giêsu làm phép lạ “để họ tin” rằng Chúa Cha đã sai Người. Như thế chấm dứt sứ vụ của Chúa Giêsu giữa người Do thái. Dấu chỉ này mặc khải một lần thay cho tất cả Chúa Giêsu là ai. Vì thế người Do thái đã lên án tử hình Người. Đối với Gioan, cuộc Tử nạn bắt đầu ngay sau phép lạ này với cuộc nhóm họp của hội đồng Công tọa và việc xức dầu ở Bêtania, dấu chỉ khâm liệm Chúa Giêsu. Chính phép lạ chuẩn bị điều đó. “Bệnh này… phải được nhằm để tôn vinh Con Thiên Chúa”. Việc phục sinh Lagiarô là dấu chỉ của thực tại sẽ diễn ra trong các chương kế tiếp vậy.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Trong thời đại chúng ta, nhan nhản những dấu chỉ của sự sống và sự sống lại, chẳng hạn việc hồi sinh con người mà chúng ta đã từng mục kích nhiều lần qua các cuộc chúa bệnh thành công, là những dịp cho thấy cơ thể nhân loại có một sinh lực mãnh liệt chừng nào. Và ta phải nói gì về cuộc chiến thắng lạ lùng của sự sống trên sự chết như là việc sinh sản, rồi việc phát triển con người nên vóc trưởng thành? Trong các thành công về kỹ thuật, nhà bác học đã vượt qua nhiều khó khăn mà trước đây không thể khắc phục. Trong các lựa chọn dứt khoát, mỗi người chúng ta đều đã lướt thắng các cám dỗ bi quan, thất vọng. Tất cả chỉ vì trong con người có một khát vọng sống, có một động lực không ngừng thúc đẩy đi lên. Nhưng đồng thời trong nhân tính chúng ta có một cái gì đó đã bị đổ vỡ. Cái chết bắt chúng ta đương đầu với một giới hạn có thể bẻ gãy chúng ta. Gioan gợi lên nỗi thất vọng, sự ê chề của kinh nghiệm, các giới hạn của con người. Những câu Chúa trả lời: “Hỡi Lagiarô, hãy đi ra” mời gọi tất cả lướt thắng các giới hạn đó. Bằng giáo huấn, cuộc sống, cái chết và sự sống lại của mình, Chúa Giêsu cho thấy Người có thể khơi dậy sinh lực nào trong con người. Nhưng Người chỉ hành động trong những ai, khi đối diện với sự chết, biết để cho sức mạnh Thần khí đến “lay tỉnh” mình dậy.

2. Sự can thiệp của Chúa Giêsu cho thấy Thiên Chúa không phải là một Đấng vô biên xa vời, dửng dưng với tạo vật. Thiên Chúa đã nhập thể trạng một trái tim con người, Ngài cũng muốn có khả năng cảm xúc, bồi hồi, xót dạ? “Chúa Giêsu xao xuyến tâm thần”. Ngài cho thấy mình cũng chạnh lòng trước số mệnh thế nhân. Người yêu thương các bạn hữu với tình âu yếm. Bởi đấy Người ra tay uy quyền cho Lagiarô sống lại.

3. Hãy lưu ý đến lời Matta đáp trả câu hỏi của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu hỏi: “Con có tin điều đó không?” nghĩa là có tin rằng kẻ tin vào Ta sẽ sống mãi và không bao giờ chết chăng. Người hỏi Matta về một điều gì có, về niềm xác tín được sống của bà. Matta đã trả lời nhắm vào con người Chúa Giêsu. Bà không đáp: “Vâng, con tin rằng con sẽ không chết, nhưng “Con tin Thầy là Chúa Kitô, Con ‘Thiên Chúa”. Chắc hẳn vì lời tuyên xưng đức tin đó (mà các môn đồ từng nghe) mà Chúa Giêsu tuyên bố với các sứ đồ của Người, khi đến Bêtania, rằng Người đã vui mừng hoan lạc. Chúa Giêsu đã muốn có giai thoại phục sinh Lagiarô để các chứng nhân tin Người là Đấng được Chúa Cha sai đến. Điều đó cho ta thấy niềm tin của Kitô hữu không phải là niềm tin vào các sự vật, dù là vào một thế giới được tái lập trong sự công chính nguyên thủy, nhưng là niềm tin vào con người Chúa Giêsu Kitô Con Thiên Chúa. Niềm tin vào Chúa Giêsu tuyệt đối ưu tiên, sau mới đến những điều khác.

4. Sở dĩ Chúa Giêsu phục sinh Lagiarô, là vì người là Lời sáng tạo của Thiên chúa Tuy nhiên Người cũng sắp chết. Chúa tể sự sống sắp lụy phục tử thần… và đối thủ của người sẽ không quên nhấn mạnh nét mâu thuẫn đó trong sự nghiệp của Người: “Nó đã cứu được kẻ khác mà không thể cứu nơi chính mình”. Nhưng Chúa Kitô đã chẳng muốn cứu lấy một mình mà thôi. Khi mặc lấy thân phận con người chúng ta cho đến cái chết, lời sự sống của Người không còn ở ngoài chúng ta nữa. Người chiến thắng tử thần qua cái chết. Như thế, Người đã cứu rỗi tất cả nhân loại cùng với chính bản thân Người.

5. Hoạt động của con người bị hạn chế và thượng thất bại. Song các giới hạn và thất bại này không thể triệt hạ sự tự do của kẻ tin vào Chúa Kitô. Cái chết đặt một giới hạn rõ rệt cho sự sống của con người, nhưng đức tin của Kitô hữu vượt qua giới hạn đó. Người Kitô hữu đã ở bên kia cái chết. Chắc chắn, sự chiến thắng cái chết mà Chúa Kitô đạt được cho ta không miễn cho ta chết như Người. Kitô hữu không phải là kẻ giảm thiểu hay đánh bóng sự chết. Đối với họ cũng như đối với Lagiarô, cái chết không thơm tho gì. Và chẳng có hương thơm (thánh thiện hay đạo đức nào) có thể ru ngủ sức kháng cự của con người đối với cái chết. tuy nhiên Kitô hữu tin tưởng vào Thiên Chúa như Chúa Kitô đã tin tưởng vào Chúa Cha, vì biết rằng Ngài luôn nhận lời mình xin. Ngài là vị Thiên Chúa hằng yêu con người và muốn con người sống để tôn vinh Ngài. Tin vào tình yêu Thiên Chúa tỏ hiện trong Chúa Kitô tức là đã phục sinh và đã được bảo chứng sẽ sống mãi.

[Mục Lục]

Bài 6. THEO CHÚA SẼ TỚI ĐƯỢC SỰ SỐNG
Lm. Carolo Hồ Bạc Xái

I. DẪN VÀO THÁNH LỄ

Chúng ta đang ngày càng đi sâu vào Mùa Chay. Trong thời gian này, nhiều tín hữu đã sám hối trở lại cùng Chúa, nhiều dự tòng đang chuẩn bị đón nhận cuộc sống mới. Chúng ta có thực sự tin rằng Đức Giêsu Kitô đã chết và sống lại vì chúng ta không ?

Hy vọng rằng qua Thánh lễ này Ngài sẽ ban thêm đức tin cho chúng ta, một đức tin đủ mạnh để chúng ta can đảm đối diện với những khó khăn trong cuộc sống này và dẫn chúng ta đến cõi sống muôn đời.

II. GỢI Ý SÁM HỐI

– Chúng ta là những người tội lỗi vì đã nhiều lần hoài nghi tình thương của Chúa khi chúng ta gặp những khó khăn trong cuộc sống.

– Chúng ta là những người tội lỗi vì đã coi trọng sự sống phần xác hơn sự sống linh hồn.

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc Cựu Ước : Êd 37,12-14

– Dân Israel đang bị lưu đày bên Babylon, tâm trạng chán chường tuyệt vọng. Họ nói “Xương chúng tôi đã khô. Hy vọng tiêu ma”. Nói “xương” nhưng phải hiểu là toàn thể con người. Cho nên câu này có 2 nghĩa : a/ Họ bị chết về tinh thần : hoàn toàn tuyệt vọng rồi. b/ Thân xác của họ cũng như chết luôn, vì sống nô lệ thì cũng như chết mà thôi.

– Thiên Chúa bảo ngôn sứ Êdêkien an ủi họ : “Ta sẽ đem các người lên khỏi mồ, hỡi dân Ta. Ta sẽ dẫn các ngươi về lại thửa đất của Israel… Ta sẽ ban Thần khí của Ta xuống trong các ngươi và các ngươi sẽ được sống”. Câu này là một lời tiên tri hứa ban sự phục sinh và cũng mang 2 nghĩa : a/ Phục sinh tinh thần : họ sẽ được hồi hương ; b/ Phục sinh thể xác.

– Lịch sử sau này cho thấy Thiên Chúa đã thực hiện ý nghĩa thứ nhất : họ đã được hồi hương vào năm 539. Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy Đức Giêsu sẽ thực hiện luôn ý nghĩa thứ hai.

2. Đáp ca : Tv 129

Trong cơn gian nan, tác giả Thánh vịnh tưởng như mình bị rơi xuống một vực thẳm tối tăm. Tác giả còn tưởng mình như đã chết. Nhưng tác giả tin tưởng Thiên Chúa sẽ kéo mình lên và ban lại cho mình sự sống.

3. Bài Tin Mừng : Ga 11,1-45

– Đức Giêsu thực hiện lời hứa phục sinh theo nghĩa thứ hai : phục sinh thể xác.

– Việc cứu sống Ladarô là sự phục sinh thể xác cho chính Ladarô, và còn báo trước sự phục sinh thể xác của Đức Giêsu và của mọi người.

– Hai bài đọc Cựu Ước và Tân Ước cho thấy : Thiên Chúa “là sự sống lại và là sự sống” (câu 25a) ; và “ai tin vào Ngài thì dù đã chết cũng sẽ được sống” (câu 25b).

4. Bài Thánh Thư : Rm 8,8-11

Thánh Phaolô triển khai giáo lý về sự sống :

– “Anh em không bị tính xác thịt chi phối, mà được Thần khí chi phối” (c 9) : con người có hai sự sống : sự sống theo xác thịt và sự sống theo Thần khí. Sự sống theo Thần khí quan trọng hơn.

– “Nếu Đức Kitô ở trong anh em thì dù thân xác anh em có phải chết vì tội đã phạm, Thần khí cũng ban cho anh em được sống” (c 10)

– “Đấng đã làm cho Đức Kitô sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần khí của Ngài đang ngự trong anh em mà làm cho thân xác anh em được sự sống mới” (c 11) : sự sống thần khí có thể chết vì tội, nhưng có thể sống lại nhờ Thiên Chúa.

IV. GỢI Ý GIẢNG

1. Sự sống của thể xác :

– Hầu hết những quan tâm của chúng ta đều là lo cho cuộc sống thể xác : ăn uống, tiền bạc, thuốc men, sung sướng. Và rất nhiều tội ta phạm cũng vì quá lo cho cuộc sống thể xác này.

– Thánh Phaolô nói sự sống thần khí quan trọng hơn sự sống thể xác ; và chúng ta vẫn tuyên xưng “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”. Nhưng hình như ta không sống đúng theo niềm tin ấy. Nếu ta thực sự tin như thế thì :

Ta đâu có quá sợ chết

Ta đâu có quá bám víu vào những thứ nuôi cuộc sống thân xác này

– Đức Giêsu nói “Ai dám liều bỏ sự sống (thể xác) thì sẽ được sự sống đời đời”.

2. Sự sống thần linh :

– Được ban ngày ta lãnh nhận bí tích Rửa tội.

– Được lớn dần lên nhờ cầu nguyện, nhờ Thánh Thể, nhờ kết hợp với Chúa hàng ngày.

– Ta có lo bồi dưỡng nó không ?

3. Lời cầu nguyện của Đức Giêsu trước mồ Ladarô đáng ta bắt chước :

– Thông thường, thứ tự của lời ta cầu xin là : a/ Trình bày nhu cầu của mình ; b/ Xin Chúa giúp ; c/ Nếu được Chúa ban thì ta cám ơn. Thứ tự lời Đức Giêsu cầu nguyện ngược hẳn lại : a/ Tạ ơn “Lạy Cha, con cảm tạ Cha” (c 41a) ; b/ Không cần trình bày yêu cầu (vì hiểu ngầm Chúa Cha đã biết) ; c/ Tin chắc lời xin của mình đã được nhậm lời “vì chađã nhậm lời con” (c 41b).

– Tại sao ? Đức Giêsu và Chúa Cha kết hợp mật thiết nên một : Đức Giêsu muốn cũng là Chúa Cha muốn, người xin cũng là người ban, nên chắc chắn lời xin sẽ được thực hiện.

– Chúng ta có được như thế không ? Được, nếu như ta cũng kết hợp mật thiết với Đức Giêsu và qua Ngài với Chúa Cha, và do đó ta chỉ muốn điều Chúa muốn.

* Mùa Chay chuẩn bị chúng ta chia sẻ cuộc phục sinh của Đức Giêsu. Cuộc sống thần linh của chúng ta có thể đã chết hay chưa sống dồi dào. Ta hãy kết hợp với Đức Giêsu mà xin được phục sinh. Và hãy tin chắc ta sẽ được, miễn là ta thực sự muốn mình phục sinh.

4. Một người bạn đặc biệt

Đức Giêsu là bạn thân thiết của Ladarô. Điều này hiển nhiên vì chính Ngài đã khóc trước mồ Ladarô, và dân chúng hôm đó đã xác nhận như thế (“Kìa xem, ông ta thương Ladarô biết mấy”).

Nhưng dù vậy, Ngài đã không làm gì để ngăn chận Ladarô khỏi chết : “Sau khi được tin ông Ladarô lâm bệnh, Ngài còn lưu lại thêm hai ngày tại nơi đang ở”. Thái độ của Ngài đã khiến Matta phiền trách : “Nếu có Thầy ở đây thì em con đã không chết”. Chúng ta cũng giống Matta : khi gặp gian nan, thử thách, khổ đau, chúng ta bị cám dỗ phiền trách Chúa, thậm chí nói phạm tới Ngài.

Tuy nhiên, không ngăn chận Ladarô khỏi chết không có nghĩa là để cho ông đi vào ngõ cụt, không có nghĩa là không cứu sống ông. Bài đọc I hôm nay cho thấy Thiên Chúa cũng hành xử như thế đối với dân Israel : Ngài không ngăn chận những diễn biến tất nhiên phải đến theo lôgic lịch sử cứu độ : họ đã bất trung, đã băng hoại nên đất nước họ sụp đổ, họ phải đi lưu đày. Thế nhưng con đường đó không phải là con đường dẫn đến ngõ cụt mà là con đường cứu độ : cuối cùng thì Israel đã được hồi hương và Ladarô được sống lại. Khoảng thời gian “chết” của Israel và của Ladarô chính là thời gian người ta học được rất nhiều bài học quý giá. Tác giả Tv 116 đã hiểu thế nên đã hát lên : “Quý thay trước mắt Yavê, cái chết của những ai thành tín với Ngài” (Tv 116,15).

5. Chết và sống

Chết và sống liên đới chặt chẽ với nhau : Đức Giêsu đã làm cho Ladarô sống lại. Nhưng chính sự sống lại của ông lại là cớ khiến Đức Giêsu phải chết (x. Ga 11,47-50 : sau chuyện này, Thượng Hội Đồng do thái quyết định giết Đức Giêsu).

Chúa chết để chúng ta được sống.

Phần tội lỗi trong con người chúng ta phải chết để cho phần thần linh sống mạnh.

“Ai muốn cứu mạng sống mình (mạng sống thể xác) thì sẽ mất mạng sống (mạng sống thần linh) ; còn ai liều mất mạng sống mình (mạng sống thể xác) vì Thầy thì sẽ tìm được mạng sống (mạng sống thần linh)” (Mt 16,25).

6. Giêsu là ai ?

Là một nhà diễn thuyết hấp dẫn : “Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Ngài, vì Ngài giảng dạy như một đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư” (Mc 1,21).

Là một vĩ nhân đầy quyền phép : “Mọi người đều kinh ngạc đến nỗi họ bàn tán với nhau : Thế nghĩa là gì ?.. Ông ấy ra lệnh cho cả các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh” (Mc 1,27).

Nhưng không phải chỉ có thế, bài Tin Mừng này cho ta biết thêm Ngài chính là sự sống : “Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta thì dù có chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin Ta thì sẽ không phải chết bao giờ” (câu 25-26). Sau khi tuyên bố như thế, Đức Giêsu hỏi Matta : “Con có tin như thế không ?” (câu 27). Đó cũng chính là câu Ngài hỏi chúng ta.

7. Tôi tin vào sự chết

Tôi tin vào sự chết

Tôi tin rằng sự chết là một phần của sự sống

Tôi tin rằng chúng ta được sinh ra để chết, chết để có thể sống trọn vẹn hơn.

Tôi tin rằng chúng ta được sinh ra để chết, mỗi ngày chết một phần : một phần ích kỷ, một phần tự phụ, một phần tội lỗi.

Tôi tin rằng mỗi khi chúng ta bước từ giai đoạn này sang giai đoạn khác của cuộc đời, thì đều có một cái gì đó chết đi và một cái gì đó mới sinh ra.

Tôi tin rằng chúng ta nếm mùi sự chết trong những lúc cô đơn, phiền muộn, thất vọng, thất bại, bị ruồng bỏ.

Tôi tin rằng mỗi ngày chính chúng ta tạo ra cái chết cho mình bằng cung cách chúng ta sống.

Với đức tin của người tín hữu, tôi tin rằng cái chết không dập tắt được ánh sáng, mà chỉ là tắt đèn đi ngủ (Anon, “I believe in death”)

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

CT : Anh chị em thân mến,

Đức Giêsu là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Người thì dù đã chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Người thì sẽ không bao giờ phải chết. Tin tưởng vào mầu nhiệm kẻ chết sống lại, chúng ta cùng dâng lời cầu xin.

1- Đức Kitô đã hiến mình trên thập giá / lấy máu cùng nước từ cạnh sườn mà thanh tẩy và thánh hoá Hội Thánh / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho Hội Thánh không ngừng canh tân / và mãi mãi tinh tuyền / nhờ lòng thống hối ăn năn.

2- Chết chóc gây ra biết bao cảnh chia ly làm tan nát cõi lòng / đem đến vô vàn đau khổ cho những người còn đang sống / lắm lúc còn làm cho đức tin của người kitô hữu bị lung lay dữ dội / Chúng ta hiệp lời cầu xin / cho những anh chị em đang gặp tang tóc buồn phiền / biết luôn vững tin vào tình thương và sự quan phòng của Chúa.

3- Đối với người kitô hữu / chết không phải là hết mà là bước sang một thế giới khác / và cuộc sống trần gian hôm nay quyết định số phận mai ngày của những ai tin Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các tín hữu / biết tích cực chuẩn bị cho cuộc sống đời sau / bằng một nếp sống thắm đượm tình bác ái yêu thương.

4- “Vui với người vui và khóc với người khóc” / phải là những việc làm thường xuyên của người kitô hữu / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết cố gắng sống theo lời dạy của vị tông đồ dân ngoại.

CT : Lạy Chúa Giêsu, vì yêu thương nhân loại, Chúa đã hiến thân chịu khổ hình thập giá. Xin ban ơn trợ giúp để chúng con biết noi gương Chúa mà hết lòng yêu thương anh chị em chúng con. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.

[Mục Lục]

Bài 7. NIỀM HY VỌNG SỐNG LẠI
Lm Giuse Đinh Lập Liễm

A. DẪN NHẬP

Cổ nhân đã đặt câu hỏi : “Nhân sinh tự cổ thùy vô tử” : con người từ xưa đến nay ai mà không chết ? Đây là một sự thật hiển nhiên, không ai có thể chối cãi được. Nhưng chết rồi sẽ ra sao ? Có nhiều ý kiến cho câu hỏi này ? Hòai nam Tử nói :”Sinh ký tử qui” : sống là gửi, chết mới là về. Câu hỏi tiếp : về đâu và để làm gì ? Đó là câu hỏi đòi chúng ta phải suy nghĩ và tìm ra câu giải đáp cho bản thân mình.

Trong bài Tin mừng hôm nay, Thánh Gioan thuật lại việc Đức Giêsu làm cho Lazarô đã chết được sống lại trước mặt nhiều người chứng kiến. Cô Martha và những người chứng kiến đã xác nhận : Lazarô đã chết được 4 ngày và đã nặng mùi rồi. Đức Giêsu đòi cô Marta phải chứng mình cho mọi người thấy là Lazarô đã chết thật và đòi cô phải tin vào Ngài. Sau khi truyền mở cửa mộ, Ngài hô lớn tiếng :”Lazarô, hãy ra đây” ! Lazarô đã chỗi dậy và ra khỏi mồ trước mặt mọi ngườiø. Sau đó Ngài truyền cởi dây băng và khăn liệm cho anh. Qua phép lạ này, Đức Giêsu hé mở cho chúng ta thấy viễn tượng sống lại trong ngày chung thẩm.

Chúng ta đã đi qua được một nửa Mùa chay trong sự hy sinh hãm mình, trong việc sửa đổi con người cũ của mình. Chúa nhật này mở ra cho chúng ta một chân trời hy vọng của Kytô giáo. Chúa Giêsu đã đem đến cho chúng ta niềm hy vọng ấy, đồng thời mời gọi chúng ta hãy hoàn toàn phó thác cuộc sống chúng ta cho Ngài : :”Ai tin vào Ta sẽ không phải chết đời đời”. Với niềm tin tưởng đó người Kitô hữu chúng ta phải cố gắng sống một đời sống xứng đáng ở trần gian này, và mạnh dạn đón nhận cùng vượt qua mọi gian nan thử thách trong cuộc sống hằng ngày. Như thế, cuộc sống của chúng ta có một ý nghĩa cao đẹp và lạc quan.

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

+ Bài đọc 1 : Ez 37, 12-14.

Dân Israel đang bị lưu đầy ở Babylon. Đối với họ, tương lại hoàn toàn mù mịt. Nhiều người đã tỏ ra thất vọng, sống cho qua ngày, coi mình như đã chết. Thiên Chúa cho tiên tri Ezéchiel đến yên ủi và báo cho họ biết rằng Ngài sẽ đoái thương họ, Ngài sẽ giải cứu họ và đem họ về quê hương. Lời loan báo này của tiên tri Ezéchiel đi sau thị kiến đặc biệt về “các bộ xương khô”. Đó là hình ảnh tượng trưng cho Israel. Các bộ xương sẽ được cơ thịt bao phủ, được thổi hơi làm cho sống lại, trở thành một sinh linh mới. Lời hứa Phục sinh này mang hai ý nghĩa :

a) Phục sinh tinh thần : họ sẽ được hồi hương.

b) Phục sinh thể xác.

Lịch sử dân Israel cho thấy lời hứa phục sinh tinh thần đã được thực hiện vào năm 539. Còn phục sinh thể xác sẽ diễn ra sau này nơi Chúa Kitô và mọi Kitô hữu.

+ Bài đọc 2 : Rm 8,8-11.

Theo thánh Phaolô, con người có hai sự sống : sự sống theo thể xác và sự sống theo Thần Khí. Sự sống theo Thần Khí quan trọng hơn. Mặc dầu thân xác Kitô hữu đã bị dâng cho tử thần vì tội lỗi, nhưng nhờ Phép Rửa, Kitô hữu lại nhận được Thần Khí sự sống và Phục sinh của Đức Kitô :”Đấng đã làm cho Đức Kitô sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Ngài đang ngự trong anh em mà làm cho thân xác anh em được sự sống mới”(Rm 8,11).

+ Bài Tin Mừng : Ga 11,1-45.

Bài trình thuật việc ông Lazarô sống lại khá dài, có nhiều chi tiết, mỗi chi tiết đều có ý nghĩa, nhưng điểm nổi bật nhất là việc Đức Giêsu làm cho kẻ chết sống lại, loan báo sự phục sinh thể xác sau này. Việc cứu sống Lazarô là sự phục sinh thể xác cho chính Lazarô, nhưng việc cứu sống ấy còn báo trước cho chúng ta sự phục sinh thể xác của Chúa Giêsu và của mọi người nữa.

Phép lạ phục sinh Lazarô như là một dấu chỉ : một đàng để làm vinh danh Chúa Cha nơi Người ; đàng khác, để cho các môn đệ tin rằng Người được Chúa Cha sai đến. Lời tuyên xưng của cô Martha đã nói lên điều ấy :”Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian” (Ga 11, 27) và trong số những người Do thái đến thăm cô Maria và được chứng kiến việc Chúa Giêsu làm, có nhiều kẻ đã tin vào Người (Ga 11,15).

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA

Chúng ta sẽ được sống lại

I. ĐỨC GIÊSU CHO LAZARÔ SỐNG LẠI

Câu chuyện Đức Giêsu cho Lazarô sống lại là một trình thuật căn bản của Tin mừng Gioan. Đức Giêsu được mô tả như Ngôi Lời nhập thể, đến trong thế gian để con người được đưa từ bóng tối ra ánh sáng, từ sự chết vào cõi sống, từ đất đến trời. Đức Giêsu Nazareth là một con người huyền diệu và là một Thiên Chúa tòan năng.

1. Đức Giêsu đến Bêtania.

Bêtania ở cách Giêrusalem khỏang 3 cây số. Ở đó có một gia đình gồm ba chị em mà Đức Giêsu quen biết, đó là Martha chị cả, Maria và Lazarô là em út. Mỗi người có một tính tình khác nhau : Martha năng động, lo việc bếp núc và chạy vạy mọi việc trong nhà. Maria thì trầm lặng, ít họat động, thích chiêm mộ. Còn Lazarô, bạn thân của Chúa, đã được mời dự tiệc tại nhà ông Simon tật phong.

Một hôm Lazarô bỗng đau nặng, hai chi em sai người đi báo tin cho Đức Giêsu một cách tế nhị :”Người Thầy yêu đau liệt”. Lúc đó Ngài còn đang đi truyền giáo tại Pêrê bên kia sông Giorđan chưa về. Ngài còn ở lại đó hai ngày nữa vì Ngài đã bảo người đưa tin rằng :”Bệnh này không đến nỗi chết, nhưng để làm sáng danh Thiên Chúa và do đó con người sẽ được hiển vinh”. Nhưng dù sao lễ Vượt Qua sắp tới, Ngài cũng cần phải đi Giêrusalem để dự lễ.

Các môn đệ có vẻ ngần ngại vì thái độ thù nghịch của biệt phái mỗi ngày một tăng :”Mới hôm nào bọn Do thái tìm ném đá Thầy mà nay Thầy lại trở về đó sao”? Tuy các ông vẫn còn lưỡng lự, Đức Giêsu mới cho biết rõ :”Lazarô đã chết”. Rồi Ngài cương quyết :”Vậy chúng ta hãy đi đến nhà ông”.

2. Đàm thọai với Martha và Maria

Khi tới Bêtania thì được tin Lazarô chết chôn được 4 ngày rồi. Nếu tính thời gian ấy thì tròn bốn ngày : đi báo tin Lazarô chết mất một ngày, Đức Giêsu ở lại hai ngày và trở về mất một ngày.

Và theo phong tục Do thái thì chết là chôn ngay : chết sáng thì chiều chôn và chết đêm thì ban mai phải chôn, không được để lâu.

Khi Đức Giêsu tới nơi thì có nhiều người Do thái đang đến chia buồn với gia đình này. Vừa được tin Đức Giêsu đến, cô Martha đã vội vàng chạy ra đón và thưa ngay :”Nếu Thầy có mặt ở đây thì em con đã không chết”. Qua lời nói đó, chúng ta có thể đọc rõ tâm trí của Martha. Cô muốn nói rằng :”Lúc được báo tin, sao Thầy không chịu đến ngay ? Bây giờ mới đến thì đã muộn mất rồi”. Ngay sau khi thốt ra những lời ấy, tiếp theo là những lời nói trong đức tin, một đức tin thách thức mọi sự kiện, mọi kinh nghiệm. Cô nói bằng một niềm hy vọng trong tuyệt vọng :”Tuy nhiên, con biết rằng Thiên Chúa sẽ ban cho Thầy bất luận điều gì Thầy cầu xin”.

Để yên ủi cô, Ngài phán :”Em con sẽ sống lại”. Martha nói lên niềm tin của mọi người Do thái thời đó :”Con biết ngày tận thế em con sẽ sống lại” Đức Giêsu cho cô Martha biết Ngài sẽ cho Lazarô sống lại nhưng đòi ở nơi cô lòng tin mạnh mẽ.

3. Lazarô được sống lại

Đức Giêsu hỏi :”Đã an táng Lazarô ở đâu” ? Các cô dẫn Ngài đến mộ. Đứng trước cửa mộ, Đức Giêsu truyền mở cửa mộ ra, nhưng người ta trả lời :”Thưa Thầy, nặng mùi rồi vì đã 4 ngày”. Chúa đòi Martha xác nhận cho mọi người biết là em mình đã chết thực sự và đã bắt đầu thối. Trước khi làm phép lạ Chúa đòi cô phải có lòng tin mạnh mẽ vào Ngài.

Sau khi hòn đá che cửa mộ được cất ra, Đức Giêsu lớn tiếng gọi :”Lazarô, hãy ra đây”. Người chết liền đi ra trước mặt mọi người, chân tay còn quấn băng và mặt còn phủ khăn liệm. Ngài ra lệnh cởi băng cho ông.

Kết quả : một số đông người chứng kiến đã tin theo Đức Giêsu, nhưng còn một số đi báo tin cho nhóm biệt phái, những người luôn là đối thủ của Ngài.

Có lẽ đây là một phép lạ lớn nhất mà Gioan thuật lại trong Tin mừng của ông. Làm cho kẻ chết sống lại là làm chủ cả sự chết lẫn sự sống. Nếu so sánh việc làm cho con gái ông Giairô và cậu con trai bà góa thành Naim vừa chết chưa thối thì phép lạ này hòanh tráng hơn nhiều và củng cố niềm tin cho những người chứng kiến.

Trong câu chuyện này, cả Martha lẫn Maria đều được mời gọi tiến triển thêm. Martha đã có đức tin ở một mức độ nào đó, đức tin Do thái :”Con biết rằng em con sẽ sống lại vào ngày tận thế”. Đức Giêsu mời cô tiến thêm một bước :”Ta là sự sống lại và là sự sống. Con có tin điều đó không”? Phải tiến từ đức tin vào sự sống lại ngày tận thế đến đức tin vào lời Đức Giêsu Đấng ban sự sống ngay hôm nay cho những ai tin vào Ngài. Đó chính là mục đích của phép lạ này :”Lạy Cha, Con tạ ơn Cha đã nhận lời Con… Con nói ra đây chính là để cho đám đông chung quanh Con đây tin rằng Cha đã sai Con” (Fiches dominicales A, tr 102).

II. NIỀM TIN VÀO SỰ SỐNG LẠI

1. Tin vào Lời Chúa

Một quá trình dài tường thuật, chuẩn bị phép lạ cho Lazarô được sống lại, cho chúng ta thấy rằng mục tiêu chính yếu của đoạn trích Phúc âm Gioan 11,1-45 không phải là sự sống lại thể xác của Lazarô, nhưng chính là một “tiến trình niềm tin”cho những người vây quanh ĐứcGiêsu và cho chúng ta hôm nay.

Đức Giêsu ngước mắt lên trời cảm tạ Chúa Cha không có mục đích cầu xin để làm cho Lazarô được sống lại nhưng có mục đích củng cố niềm tin cho các môn đệ, cho chị em Martha và Maria cũng như cho những người đến chia buồn với chị em.

Tất cả bài học, lời dạy của Đức Giêsu hôm nay đều tập trung trong hai câu 25 và 26. Đức Giêsu đã mang lại cho chúng ta một mạc khải nền tảng :”Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Ta, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống(Ga 11,25-26). Chính niềm tin vào Đức Kitô là một bảo đảm tuyệt đối để được sự sống muôn đời.

Phép lạ cho Lazarô sống lại chỉ là chuẩn bị cho một phép lạ vô cùng lẫy lừng, một phép lạ trọng đại nhất trong đạo, chính là Đức Giêsu Kitô đã chết và đã sống lại vinh quang mà chúng ta sẽ cử hành trong Tuần thánh sắp đến. Đức Kitô chết và sống lại là để dẫn đưa con người từ cõi chết trở về cõi sống, tự nơi tạm bợ đến chốn vĩnh hằng. Đó là niềm tin của người tín hữu, cũng là đức tin của Kitô giáo. Niềm tin đó bảo đảm cho sự trường tồn của Giáo hội. Thánh Phaolô nói :”Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của mình” (1Cr 15,17).

Trong kinh Tin kính, chúng ta tuyên xưng :”Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại…” Chính là trên cơ sở phải tin Đức Kitô đã phục sinh.. Sứ điệp Phục sinh không đem đến cho chúng ta những thực tế dễ dàng, hấp dẫn, dựa trên cở sở những kinh nghiệm khả giác và kỳ lạ, nhưng cho chúng ta một nhận thức về một mạc khải, một lời hứa : mạc khải Đức Giêsu đã chiến thắng sự chết và lời hứa mà Ngài có quyền hội nhập chúng ta vào sự chiến thắng đó.

2. Người đời nghĩ thế nào ?

a) Mọi người đều phải chết

Người ta công nhận rằng mọi người trên thế gian này đều phải chết, đây là một công lệ khắt khe buộc con người phải theo, dù muốn dù không. Vì thế cổ nhân đã nói :

Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,

Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.

(Văn thiên Trường)

Ngày xưa, người thế ai không chết,

Chết, để lòng son rạng sử xanh.

Mọi người cũng đều công nhận là đời sống rất mong manh : Sinh hữu hạn, tử bất kỳ. Nhưng triết lý về cuộc sống của mỗi người lại khác nhau, mỗi người có một cái nhìn, một nhân sinh quan về đời sống. Có người có cái nhìn lạc quan, có người lại có cái nhìn bi quan. Có người tìm ra được ý nghĩa của cuộc sống, có người coi cuộc sống là phi lý, là vô nghĩa như trường hợp của những người theo triết thuyết hiện sinh vô thần. Có lẽ họ thích sống theo triết lý người La mã xưa :”Hãy ăn nhậu cho say, vì ngày mai bạn có thể chết”.

Tâm lý con người : tham sinh húy tử.

Đúng như vậy, con người ai cũng thích sống và ai cũng sợ chết. Đó là mối bận tâm muôn thuở của nhân loại. Đã là qui luật là qui luật : mọi người đều phải chết. Nhưng khi con người biết sống thì không sợ cái chết nữa, hay ít là coi nhẹ cái chết :

Nhân cố hữu nhất tử,

Tử hoặc trọng ư Thái sơn,

Hoặc khinh như hồng mao.

(Người đời ai cũng vẫn phải chết

Nhưng có cái chết nặng như núi Thái sơn

Có cái chết nhẹ như lông hồng).

b) Chết rồi sẽ ra sao ?

Đối với những người không có đức tin thì câu hỏi chết rồi sẽ ra sao thì không thành vấn đề. Theo họ, chết là hết. Chết là kết thúc cuộc sống ở trần thế này và sẽ trở về hư không.

Nhà văn Nhất Linh, một ngày bâng khuâng, ông tự hỏi mình :

– Chết rồi sẽ ra sao nhỉ ?

Nghĩ ngợi một chốc, rồi ông lại tự trả lời lấy :

– Hồi Hai Bà Trưng, tôi chưa ra chào đời. Thế khi ấy tôi ở đâu ? Chết, tức là trở về tôi hồi ấy vậy.

Nói cách khác, định mệnh bắt tôi phải đầu hàng thần Chết vô điều kiện. Tôi đã bởi hư vô mà có, thì chết rồi, tôi lại rơi vào cõi hư vô.

Thảo nào mà một nhà thi sĩ lương dân đã phải khóc lên não nuột khi tưởng nhớ đến giây phút tủi nhục này :

Nhưng mà tôi sẽ chết than ôi !

Tôi run như lá, tái như đông,

Trán chảy mồ hôi, mắt lệ phồng,

Năm đẩy tháng dồn tôi đã đến

Trước bờ lạnh lẽo cõi hư không.

(Xuân Diệu)

Đối với một số người, không những chết là hết nhưng chết còn là một nỗi tuyệt vọng khủng khiếp. Karl Marx, ông tổ thuyết mac-xít vô thần, trong một bức thư viết cho người bạn của ông là Lassanler đã nói về cái chết của đứa con mình như sau :
“Cái chết của đứa con trai tôi đã làm cho tôi đảo điên. Lúc nào tôi cũng cảm thấy như cái chết ấy mới xẩy ra ngày hôm qua thôi. Còn vợ tôi thì hoàn toàn ngã gục vì biến cố này”.

Ai trong chúng ta cũng cảm thông được với nỗi đau đớn tột cùng này của ông tổ thuyết Mac-xít vô thần. Cái chết là một mất mát mà không gì có thể lấp đầy được. Sự mất mát ấy lại càng khủng khiếp hơn khi con người không còn một niềm hy vọng nào vào cuộc sống mai hậu. Chối bỏ cuộc sống mai hậu cũng có nghĩa là tự đọa đầy mình vào một nỗi tuyệt vọng khủng khiếp nhất (D. Wahrheit, Phép lạ trong cuộc đời, tr 257).

Nếu không còn niềm tin nào vào cuộc sống mai hậu thì người ta dễ đi đến những kết luận bi quan, muốn tận hưởng trước khi chết để đi vào hư vô :

Người ơi, tận hưởng đi mùi thế tục,

Trước ngày tan nát cõi tha ma.

(Omar)

3. Chúng ta nghĩ thế nào ?

Chúng ta hãy tin nhận Lời Chúa. Thiên Chúa là Đấng chân thật vàøtrung thành với lời hứa. Tin vào Chúa sẽ không bị đi lầm đường :”Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết”. (Ga 11,25-26). Tuy đã tin vào Chúa, nhưng đức tin không miễn trừ cho chúng ta những thử thách khổ đau trong tang chế, trong sự từ bỏ mình hằng ngày và sự sợ hãi đối với sự chết, nhưng niềm tin của chúng ta chấp nhận để hiểu biết và sống trong những hoàn cảnh hiện tại theo ánh sáng của sự sống cao thượng hơn mà Đức Giêsu đã dạy và chính Ngài là nguyên nhân của sự sống cao thượng đó.

a) Mọi người đều phải chết

Kinh nghiệm cho chúng ta thấy trên trần gian này không có ai sống trường sinh bất tử. Tuy khoa học va øcách riêng ngành y học đã đạt được đỉnh cao nhưng người ta chưa tìm ra được một phương cách nào để con người được sống mãi.

Truyện : thuốc trường sinh

Thời chiến quốc, có người dâng vua nước Sở một vị thuốc bất tử. Người ấy bưng vị thuốc vào, viên quan canh cửa hỏi rằng :

– Vị thuốc này có uống được không ?

Người ấy đáp :

– Uống được.

Tức thì viên quan giật lấy mà uống. Chuyện đến tai vua. Ông liền bắt viên quan đem giết. Viên quan kêu rằng :

– Thần đã hỏi người đem dâng thuốc. Người ấy nói rằng :”Uống được”, nên thần mới dám uống. Thế là thần vô tội mà lỗi ở người dâng thuốc. Vả chăng, người đem dâng thuốc nói là thuốc bất tử. Thế mà thần mới uống vào đã sắp phải chết, vậy là thuốc tử chứ sao gọi là thuốc bất tử được ? Nhà vua giết thần, thực là bắt tội một người vô tội. Hơn nữa, còn chứng tỏ rằng thiên hạ dối được nhà vua mà nhà vua vẫn tin.

Vua nghe nói có lý, bèn tha cho viên quan ấy, không giết ông nữa.

b) Chết chưa phải là hết

Nhà triết học Heiddeger đã nói :”Nếu chết là hết, thì người đời luôn luôn sống trong lo sợ. Bởi vì biết rằng mình sẽ chết, vậy sẽ trở về cõi hư vô, thì tức là đã mang hư vô trong mình rồi. Sống làm gì nữa để ngày mai rơi vào cõi hư vô”.

Thánh Phaolô đã xác quyết với chúng ta :”Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu từ trời đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3,20-21).

c) Chết đi để sống lại

Một điều chắc chắn là sự chết dẫn ta đến sự sống lại. Lẽ dĩ nhiên chết không phải là điều tốt, nhưng nó là đoạn đường ta phải vượt qua để đi từ cuộc sống đời tạm này qua cuộc sống vĩnh cửu. Sự chết không phải là sự chết đơn thuần, không phải là con đường cụt, không lối thoát. Thiên Chúa không yêu thương chúng ta vô ích, không dựng nên ta để rồi biến ta ra hư vô. Chúa yêu thương ta vô hạn, đã ban chính Con Một của Ngài cho ta không phải để cho ta thấy ta biến vào hư vô sau cái chết, nhưng để ta được sống lại và được kết hợp với Ngài.

(Lm Đỗ thanh Hà, báo Lên đường)

Chúng ta tin là có sự sống lại trong ngày sau hết như Chúa đã báo trước. Chúng ta cũng tuyên xưng đức tin trong kinh Tin kính :”Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại, tôi tin hằng sống vậy”. Tuy thế vẫn có những người không tin.

Truyện : Không có sống lại

Ở một nghĩa địa bên Đức, có một ngôi mộ lớn và đẹp, xây bằng đá hoa cương và bê tông cốt sắt. Đó là mộ của một bà giầu có và vô thần, trong chúc thư bà muốn xây như vậy để chối bỏ sự sống lại. Bà còn muốn trên ngôi mộ phải đề dòng chữ này : ngôi mộ này sẽ không bao giờ mở ra được.

Thời gian trôi qua, tình cờ một hạt giống rơi xuống, mọc cây, rễ của nó ăn vào mộ và xuyên thủng quan tài của bà.

(Theo Veritas ngày 27.07.1993)

[Mục Lục]

Bài 8. Niềm tin tín thác
Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Cuộc đời có đau khổ, có hạnh phúc. Đau khổ và hạnh phúc hoà quyện vào nhau làm thành một cuộc đời đầy thi vị và ý nghĩa. Tựa như chanh và đường có vị ngọt vị chua. Cuộc đời cũng có ngọt ngào của hạnh phúc và có cả chua cay của khổ đau. Thế nhưng, nhiều người lại sợ hoà những vị chua, vị cay vào kiếp người. Họ sợ đau khổ. Họ sợ bất hạnh. Họ sợ nghi nan. Đối với họ, Thiên Chúa là lá bùa hộ mệnh để đảm bảo cho họ một cuộc đời an vui hạnh phúc. Họ cho rằng, dấu chỉ sự hiện hữu của Thiên Chúa là đẩy lùi sự dữ ra khỏi cuộc đời của họ. Có Chúa thì không thể có bất hạnh, không thể có khổ đau.

Đó là điều mà Matta và Maria đã từng nghĩ như thế! Các bà đã trách Thầy “nếu Thầy ở đây thì em con không chết”. Thế nhưng, Lagiaro đã chết! Phải chăng hai bà cũng ngầm trách Chúa, lúc đó Thầy ở đâu? Lúc mà Lagiaro đang ốm nặng? Lúc mà tình thế có thể được cứu vãn? Nếu Thầy đến nhanh hơn một chút thì có lẽ đã chẳng có thảm cảnh hôm nay.

Thực vậy, khi Chúa Giêsu đến nhà Matta và Maria thì Lagiaro đã chết và đã chôn cất được 4 ngày rồi. Một thời gian đủ để thân xác có thể bắt đầu tan rã để hoà trộn với bùn đất. Dầu vậy, ở đây chúng ta thấy đức tin trổi vượt của Matta, một đức tin không lay chuyển trước thử thách để có thể thưa lên với Chúa rằng: “nhưng bây giờ con biết. Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho”. Quả là một đức tin tinh tuyền, tuyệt đối, không lay chuyển trước sóng gió cuộc đời. Matta là một con người thật chân thành, bộc trực. Bà trách Chúa nhưng lòng bà vẫn tin vào quyền năng của Chúa. Trong đau khổ bà vẫn không tuyệt vọng. Thế nên, Chúa đã nói cùng bà: “Em con sẽ sống lại”. Matta ngạc nhiên hơn là cảm động. Bà không hiểu nổi và chỉ ú ớ tuyên xưng: “Con biết em con sẽ sống lại khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết”. Lúc này Chúa Giê su làm nổ tung một bí ẩn, chiếu sáng đức tin và đòi hỏi một lòng tin tín thác: “Thầy là sự sống và là sự sống lại. Ai tin Thầy thì dù có chết cũng sẽ sống lại, chị có tin được như thế không? Matta thưa: “Thưa Thầy con tin. Con tin Ngài là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến trong thế gian”.

Cuối cùng, Chúa đã nói với Matta và Maria và những người đang đứng đó: “nếu tin, thì sẽ thấy vinh quang Thiên Chúa”. Và rồi Ngài đã gọi Lagiaro trong mồ bước ra trước sự ngỡ ngàng, sửng sốt của gia đình Matta, của dân chúng làng Bêtania.

Kính thưa quý Ông Bà Anh Chị Em,

Trong cuộc sống đầy bon chen để kiếm miếng cơm manh áo, chúng ta thấy cuộc đời sao khổ quá! Nhất là trong thời kỳ gạo quế củi châu, lạm phát gia tăng, kiếm đồng tiền đổi lấy chén gạo bát canh đã khó lại càng khó khăn hơn. Rồi cuộc đời đâu mấy khi bình yên. Sóng gió tư bề. Đau khổ bệnh tật. Thiên tai lũ lụt, hạn hán hoành hành. Năm nay, Việt Nam còn hứng chịu cái lạnh kéo dài khiến cho hàng trăm con trâu bò bị chết cóng, hàng trăm ngàn hecta đất không thể trồng cấy đúng mùa. Dịch bệnh lan tràn. Người dân nghèo lại càng nghèo thêm. Cái lạnh của trời đất hoà với cái lạnh của tình người khiến cho cái đói, cái khổ cứ lận vào cả một kiếp người. Đặc biệt là trân động đất gây nên sóng thần tại Nhật Bản đã khiến hơn 10 ngàn người thiệt mạng, hàng trăm ngàn người không có nhà cửa và biết bao khu phố phồn thịnh nay chỉ còn là đống hoang tàn.

Đứng trước một viễn cảnh đầy những khổ đau như thế, nhiều người đã thầm trách Chúa, Chúa ở đâu sao để cuộc đời luôn giăng đầy những sầu đau? Chúa có nhìn thấy những bất hạnh mà con đang gặp phải trong cuộc đời vốn dĩ lắm nổi trôi lại nhiều phiền muộn này? Bài phúc âm hôm nay, mời gọi chúng ta đặt niềm tín thác vào Thiên Chúa. Thiên Chúa vẫn luôn quan tâm đến chúng ta. Người luôn đi bước trước để an ủi, nâng đỡ chúng ta. Người cũng đang mời gọi chúng ta đặt niềm tin vào Chúa như Matta để trong những biến cố đau thương nhất của cuộc đời chúng ta vẫn có thể thưa lên cùng Chúa. Con tin rằng: Chúa có thể làm những điều tốt đẹp nhất cho con.

Đau khổ là một sự dữ. Bất hạnh của cuộc đời là đêm tối của đức tin. Tuy nhiên qua những biến cố này, niềm tin lại toả sáng trong cuộc đời chúng ta. Chính trong những bất hạnh đó, chúng ta mới thấy con người thật nhỏ bé, tầm thường, chúng ta mới thấy sự bất toàn của kiếp người để đặt niềm tín thác vào Thiên Chúa. Con người luôn bất lực trước sự dữ, nhưng nếu Thiên Chúa muốn, Ngài có thể giải thoát chúng ta ngay bây giờ khỏi mọi điều sự dữ. Xin Chúa cho mỗi người chúng ta luôn biết đặt niềm tin tưởng cậy trông vào Chúa ngay giữa những gian nan của dòng đời và ngay giữa những bất hạnh của cuộc đời chúng ta. Amen.

Sống và chết là hai việc hoàn toàn mâu thuẫn, chống đối nhau. Tâm lý con người ai cũng muốn sống và không muốn chết: ham sống sợ chết là tâm lý tự nhiên của con người. Lòng ham sống thúc đẩy con người phải bám vào nhiều thứ, nhất là của cải, tiền bạc, chẳng hạn như ông nhà giàu trong Tin Mừng: thâu hoạch lúa thóc đầy tràn, ông phải xây thêm nhà kho, tự cho đời sống mình như thế thật là bảo đảm, tha hồ ăn chơi sung sướng. Nhưng Chúa bảo ông: thật là hạng khờ dại, vì đêm nay ông chết, của cải có bảo đảm được mạng sống ông không? Ông còn nắm giữ được của cải không? và quả thực ông đã vỡ mộng khi đối diện với cái chết. Mỗi ngày trên thế giới có khoảng 30 ngàn người chết, bao nhiêu người bị Chúa cho là “hạng khờ dại”, vì lúc chết, tay buông xuông, người ta không còn có thể bám vào một vật gì cả: “Vua Ngô ba mươi sáu tấn vàng, chết xuống âm phủ chẳng mang được gì”. “Trăm năm nào có gì đâu, chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì”. “Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy, cảnh phù du trông thấy cũng nực cười”.

Nếu nghèo là không có, hoặc có rồi mà mất đi, như không có tiền bạc là nghèo vật chất, mồ côi cha mẹ là nghèo tình thương, dốt nát là nghèo về trí thức, bệnh tật là nghèo về sức khỏe, thì cái chết đưa người ta đến cái nghèo cùng cực. Người khoẻ mạnh hay còn trẻ chưa cảm thấy rõ điều này. Nhưng chúng ta cũng biết cái chết nói lên sự bất lực của y khoa, của mọi thứ khả năng tự vệ trên cõi đời này: quyền hành nhất trần gian cũng chết, giàu có nhất nhân loại cũng chết, sung sướng tất cả đời cũng chết. Mọi người đều bó tay trước cái chết.

Trước định luật nghiêm khắc ấy, con người lo âu, bồn chồn, và người ta cố níu kéo sự sống lâu chừng nào hay chừng ấy, dẫu vẫn biết là bất lực. Bởi thế mới có những quảng cáo về thuốc “trường sinh” hay “bất tử”. Có một câu chuyện như sau: Thời chiến quốc, có một người đem dâng vua nước Sở một vị thuốc “bất tử”. Người ấy mang vị thuốc này vào hoàng cung, viên quan canh cửa quát hỏi: “Vị thuốc này có ăn được không?”. Người ấy đáp: “Dạ, ăn được”, tức thì viên quan giật lấy vị thuốc và ăn. Truyện đến tai vua, vua truyền bắt viên quan đó đem giết. Viên quan xin vào gặp vua và kêu van rằng: “Tâu hoàng thượng, hạ thần đã hỏi người đem dâng thuốc, người ấy nói: ăn được, nên hạ thần mới dám ăn, thế là hạ thần vô tội mà lỗi ở người dâng thuốc, hơn nữa, người đem thuốc nói là thuốc bất tử, ăn vào thì không chết nữa, thế mà hạ thần mới ăn, đã sắp phải chết. Vậy là thuốc tử chứ sao gọi là bất tử được? Hoàng thượng giết hạ thần thực là bắt tội một người vô tội, trong khi thiên hạ dối gạt hoàng thượng mà hoàng thượng vẫn tin”. Nhà vua nghe nói có lý nên tha tội chết cho viên quan ấy.

Hiện nay các nhà bác học đang cố tìm ra một thứ thuốc làm cho con người khỏi chết. Được chăng? Chúng ta cứ hy vọng. Đó là vấn đề còn trong giả thuyết, nhưng theo Kinh Thánh thì không thể nào có được, vì Chúa đã phán với ông bà nguyên tổ: “ngươi sẽ trở về bụi đất”. Từ đó, chết là một định luật Chúa ra cho loài người, loài người không thể phá nổi định luật này. Nói khác đi, con người đã mắc phải một chứng bệnh nan y không thể nào chữa khỏi, đó là bệnh chết. Cái án chết áp dụng cho hết mọi người: hữu sinh hữu tử: có sinh có chết là một điều tất yếu.

Nhưng qua cái chết và sự sống lại của Ngài, Chúa Giêsu đã loan báo cho con người một tin mừng: cái chết không còn là một ngõ cụt hay tận cùng nữa mà là cửa ngõ dẫn vào một cuộc sống mới, một cuộc sống trong Đức Kitô và cùng với Đức Kitô trong cõi vĩnh hằng. Vì thế, thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giêsu đã nói: “Nếu một mai bạn thấy tôi nằm chết, bạn đừng buồn, vì chính Cha chung của chúng ta là Thiên Chúa đã đến đón tôi đi, đơn giản vậy thôi”. Hoặc như thánh Phaolô đã nói: “Đối với tôi, sống là Đức Kitô và chết là một mối lợi”. Làm thế nào để được như thế? Chúng ta hãy sống theo câu nói của một bà mẹ kia đã khuyên bảo đứa con trai sắp bước vào đời: “Con ơi, ngày con mở mắt chào đời, mọi người đều tươi cười, còn con thì khóc. Con hãy sống thế nào đề ngày cuối đời, một mình con tươi cười, mà mọi người lại tràn lệ”.

[Mục Lục]

Bài 9. Tình thương mạnh hơn sự chết
Cố Lm. Hồng Phúc

Câu chuyện Chúa Giêsu cho Lazarô sống lại là một tường thuật căn bản của Phúc Âm thánh Gioan. Chúa Giêsu được mô tả như Ngôi Lời nhập thể, đến trong thế gian để con người được đưa từ bóng tối ra ánh sáng, từ sự chết vào cõi sống, từ đất đến trời. Đức Giêsu Nagiarét thật là một con người huyền diệu và là một Thiên Chúa toàn năng.

Gioan, người đồ đệ Chúa thương yêu, đã sống bên cạnh Chúa, đã nhìn thấy, đã sờ đụng, đã chứng kiến quyền năng của Ngôi Hai Thiên Chúa trong bản thể của con người. Đây là một bản tuyên xưng Đức Tin sống động mà Công đồng Chalcédoine năm 451 đã long trọng công bố: “Ngôi Lời, Con Một Thiên Chúa, sinh bởi Đức Maria về tính loài người, gồm hai bản tính không lẫn lộn, không thay đổi, không chia sẻ, không tách rời”. Đấng ấy Gioan đã nhìn thấy và minh chứng.

Ngài là một con người đích thực, biết yêu biết cảm. Gioan viết rằng tại làng Bêtania, “Chúa Giêsu thương Martha và em là Maria và Lazarô”, nhưng hôm nay, Lazarô đã chết và chôn được 4 ngày rồi. Trên đường dẫn ra mộ để thăm người bạn cũ, Gioan nhìn thấy khuôn mặt Chúa nhiều lần biến sắc: Ngài bồn chồn, xao xuyến, Ngài khóc khi thấy hai chị em khóc nức nở: “Nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết!”. Ngài là một con người đích thực, biết thương, biết cảm, biết chia sẻ tình bạn, biết liều mạng sống vì bạn hữu. Người Do thái nói: “Kìa, xem Ngài thương ông ấy biết là chừng nào”. Nhưng qua khuôn mặt con người đó, sáng chói quyền năng của một ngôi vị Thiên Chúa. Gioan mô tả những chặng đàng Chúa đi xuống với sự chết để rồi cùng với người chết đi lên với sự sống. Lazarô, người bạn thân của Chúa, ốm nặng, tắt thở, được chôn cất và đã nặng mùi, vì đã 4 ngày. Đó là tất cả thảm trạng của sự chết, hình ảnh sự chết của tâm hồn do tội lỗi.

Nhưng Chúa là chủ sự sống, Ngài không để bạn hữu mình trầm luân mãi trong bóng tối sự chết. Gioan nhìn thấy hình ảnh đặc ân rửa tội đến một cuộc tái sinh, một cuộc vươn lên sự sống, do Đấng là “sự sống và là sự phục sinh” mang lại.

Đứng trước hầm mộ, Ngài kêu lớn tiếng như để tiếng Ngài rạng đến cõi âm u của sự chết. Và Lazarô đã ra khỏi mồ, được tháo gỡ khỏi “xiềng xích sự chết” (Tv 116, 8), được sống lại đầy sinh lực. Gioan nhìn thấy ở đây hình ảnh một người tân tòng vừa bước ra khỏi giếng rửa tội.

Vì thế, Giáo hội đọc lên trong ngày tái sinh trong giếng nước rửa tội cũng như trong nghi lễ tiễn đưa một tín hữu đến nơi an nghĩ cuối cùng Lời của Chúa phán trước phần mộ của Lazarô: “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta dầu có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ”.

Ngài là ai mà tình thương mạnh hơn sự chết? Martha đã nói lên niềm tin của Bà cũng như niềm xác tín của chúng ta. “Thưa Thầy, vâng, con tin Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống đã đến trong thế gian”.

[Mục Lục]

Bài 10. Mở cửa mộ
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

Tai họa ngày 11 tháng 09 năm 2001 trên đất Mỹ đã trở thành một nỗi ám ảnh đối với mọi người. Trong phút chốc, hai tòa tháp chọc trời đổ sập xuống, trở thành ngôi mộ khổng lồ chôn vùi mấy ngàn sinh mạng. Ngôi mộ gieo tang thương. Ngôi mộ gieo kinh hoàng. Ngôi mộ làm rung chuyển thế giới.

Ngôi mộ không chỉ hiện hữu từ khi toà tháp đôi đổ xuống. Trước đó ngôi mộ đã hiện diện trong trái tim của những người khủng bố. Sau đó ngôi mộ vẫn phủ màn u ám trên cuộc sống thân nhân bạn bè.

Như thế, ngôi mộ không chỉ xây bằng gạch đá. Nó được xây bằng những lực lượng chết chóc như sự hận thù, sự áp bức, sự độc ác… Ngôi mộ không chỉ chôn vùi sự sống. Nó chôn vùi cả niềm tin, cả niềm hy vọng.

Nhưng hôm nay, Chúa Giêsu đã dõng dạc mở cửa mộ và truyền cho người chết chỗi dậy bước ra. Việc Chúa Giêsu mở cửa mộ cho Lagiarô mở ra những chân trời mới cho đời sống con người.

Khi mở cửa mộ, Người đã mở cánh cửa sự sống. Thông thường, ngôi mộ là vương quốc của tử thần. Cửa mộ là cửa mở vào thế giới chết chóc. Ai đã vào đó chẳng còn hy vọng thoát ra. Nhưng hôm nay, Chúa Giêsu đã mở cửa mộ để Lagiarô không phải bước vào sự chết nhưng bước vào sự sống. Khi mở cửa mộ, Người phá tan sào huyệt Thần Chết. Khi tháo những dải băng liệm cuốn quanh thân thể Lagiarô, Người giải phóng ông khỏi dây trói ràng buộc của tử thần.

Khi mở cửa mộ, Người đã mở cánh cửa niềm tin. Trước đó, niềm tin của Mácta chỉ là một niềm tin mơ hồ, chung chung của đa số người Do thái thời ấy. Nhưng sau khi thấy Lagiarô sống lại, niềm tin của bà trở nên cụ thể, sống động và vững vàng. Trước đó, nhiều người Do thái chưa tin vào Chúa Giêsu. Nhưng sau khi được chứng kiến Lagiarô từ cõi chết sống lại, họ không thể nào không tin. Tảng đá lấp cửa mồ tung ra cũng làm bật tung tảng đá nghi ngờ che lấp trái tim, đưa họ tới tin nhận Chúa là Thiên Chúa.

Khi mở cửa mộ, Người mở ra cánh cửa niềm vui. Chết chóc gieo tang tóc u buồn. Ngôi mộ bao giờ cũng gợi lên nỗi buồn. Buồn ly biệt. Buồn mất mát. Buồn thất bại. Cái buồn vốn hay lây. Nước mắt người thân dễ làm cay mắt ta. Nên Chúa Giêsu không ngăn được dòng lệ. Nhưng khi Lagiarô bước ra, cả một trời vui. Đám tang bỗng biến thành đám hội. Lời chia buồn đổi thành lời chúc mừng. Thiên Chúa đã biến tang tóc thành niềm vui. Niềm vui ấy trọn vẹn.

Khi mở cửa mộ, Chúa Giêsu mở cánh cửa hy vọng. Thiên Chúa đến biến đổi số phận con người. Con người không còn bị giam hãm trong thân phận hay chết, nhưng được thênh thang tự do trong cõi sống. Con người không sinh ra để chết đi nhưng để sống, sống mãi, vì Chúa là “sự sống”, “ai tin sẽ sống đời đời”. Con người không sinh ra để tàn lụi, nhưng để triển nở đến vô biên.

Trong mỗi người chúng ta có nhiều nấm mộ. Chúng ta bị giam hãm trong những nấm mộ tội lỗi, gian tham, ích kỷ, bất công, đam mê, ghen ghét hận thù, nghèo đói, thất học… Có những nấm mộ kiên cố, tự sức mình không thể phá nổi. Ta hãy xin Chúa đến mở những cửa mộ, lăn những tảng đá đè nặng đời ta, để ta được sự sống dồi dào của Chúa nuôi dưỡng. Đồng thời, ta cũng phải tiếp tay với Chúa, phá đi những nấm mộ vây bọc anh chị em chúng ta, để mọi người được sống và sống dồi dào như lòng Chúa mong ước, như định mệnh Chúa dành cho ta, những người con cái Chúa.

GỢI Ý CHIA SẺ

1) Tôi còn bị giam cầm trong những ngôi mộ nào?
2) Tôi còn muốn xây những ngôi mộ nào để chôn vùi anh em?
3) Hôm nay tôi phải làm gì để mở cửa mộ cho tôi và cho anh em?
4) Việc Chúa cho Lagiarô chết bốn ngày sống lại có ảnh hưởng gì trên tôi?

[Mục Lục]

Bài 11. Lagiarô sống lại
R. Veritas

Hôm nay đã là Chúa Nhật V Mùa Chay và Chúa Nhật tới đây là Chúa Nhật Lễ Lá bắt đầu Tuần Thánh. Tuần chúng ta được mời gọi suy niệm nhiều hơn và cử hành mầu nhiệm chết và sống lại của Chúa. Bài Phúc Âm hôm nay như là một chuẩn bị cho chúng ta để cử hành mầu nhiệm chết và sống lại của Chúa.

Chúa Giêsu đã chết và đã sống lại, chúng ta cũng sẽ phải chết và được sống lại với Chúa. Khi nói về sự sống lại thì nhiều người anh chị em chúng ta có lẽ nghe khó tin. Mới đây tập hợp điều tra về niềm tin của những người công giáo bền Italia về sự sống đời sau sau cái chết, kết quả cho biết rằng, mặc dù đa số tin có Thiên Chúa, nhưng khi được hỏi về niềm tin của họ vào sự sống đời đời thì họ tỏ vẻ do dự. Quan tâm của họ về sự sống đời đời xem ra như càng ngày càng ít đi, dường như có hai hoàn cảnh làm cho con người dễ xa lìa Thiên Chúa, quên đi cuộc sống đời đời. Đó là khi con người giàu sang, quyền quí hoặc khi gặp cảnh cùng cực thái qúa. Giàu quá dễ bị cám dỗ quên Chúa và nghèo quá cũng làm con người tuyệt vọng.

Bài Phúc Âm hôm nay ghi lại biến cố Chúa Giêsu đến với gia đình chị em Martha, Maria và Lagiarô để mạc khải cho họ sự thật căn bản về sự sống đời đời: “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta thì dù có chết cũng sẽ được sống. Ai sống mà tin Ta sẽ không chết bao giờ”.

Vào hoàn cảnh mà Chúa Giêsu chọn để mạc khải sự thật này cho chị em Martha, Maria là cái chết của Lagiarô, người được Chúa thương. Đây có thể nói là một biến cố không thuận lợi chút nào, Lagiarô đã bị đau cần Chúa đến nâng đỡ chữa trị thì Chúa không đến, xem ra như lơ là hai chị em đã nhắn tin cho Chúa Giêsu biết hoàn cảnh đau yếu của Lagiarô, nhưng Chúa vẫn trì hoãn không đáp lại. Một thử thách cho người bạn của Chúa, chờ đợi Chúa mau mắn đáp lại và ỷ lại vào tình bạn với Ngài, nhưng Chúa đã không đáp lại như lòng họ mong ước: “Nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết”.

Rồi sau khi Lagiarô chết rồi, gia đình Martha và Maria đang sống trong sự tang chế đau buồn thì Chúa lại đến, và thay vì nói lời an ủi hay là một điều gì liền ngay theo như mong ước thường tình của con người trong hoàn cảnh tương tự như vậy, thì Chúa Giêsu lại nói điều mà Martha và Maria cả hai người đều không nghĩ đến, đó là Chúa mạc khải sự thật và sự sống đời đời, kêu gọi hãy tin vào Chúa, tin vào sự thật Chúa mạc khải: “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta sẽ không chết bao giờ”.

Có thể nói là những lời chói tai, không hợp thời, lạc đề xem từ phía con người đang phải chịu thử thách, đang gặp phải những đau thương: “Nếu Thầy có mặt thì em con không chết”. Sự đáp trả của hai chị em Martha, Maria và của hai người Do Thái đến chia buồn lúc đầu chưa được trọn hảo. Martha nghĩ đến sự sống lại ngày sau hết, còn hai người Do Thái có mặt ở đó quan sát xem Chúa Giêsu có làm gì để thay đổi hoàn cảnh hay không? Martha và Maria ra khỏi hoàn cảnh cụ thể của mình để đến với Chúa, để gặp Chúa ở nơi mà Chúa muốn ở ngoài hoàn cảnh tang thương, tang chế của họ vào lúc đó để được Chúa hoán cải, để tuyên xưng: “Lạy Thầy, con tin”.

Chúng ta đã biết những gì xảy ra sau lời tuyên xưng đức tin đầy khiêm tốn và can đảm của hai chị em Martha và Maria. Sống mà không có niềm tin thì kể như là đã chết. Trong biến cố mà Phúc Âm thánh Gioan ghi lại cho chúng ta hôm nay, chúng ta thấy Chúa Giêsu làm phép lạ không phải chỉ cho Lagiarô được sống lại mà thôi, mà cho ba người được sống lại, đó là Martha, Maria và Lagiarô.

Sống lại đầu tiên đó là sống lại với niềm tin vào Chúa, có thể nhiều người trong chúng ta cũng đã chết trong niềm tin vào Chúa và không còn tin Chúa nữa. Chúng ta cần Chúa cho chúng ta sống lại, sống lại trong niềm tin vào Ngài như Martha, Maria: “Lạy Thầy, con tin”. Nhờ lời tuyên xưng của Martha và Maria mà tiếp sau đó Chúa Giêsu cho Lagiarô trở lại cuộc sống. Tất cả qui hướng chúng ta về quan điểm cuối cùng, đó là Chúa Giêsu làm Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa, Ngài là Chúa, là chủ của sự sống và có quyền năng trao ban sự sống cho con người.

Vì biến cố phép lạ Lagiarô chuẩn bị cho biến cố lạ lùng nhất sắp diễn ra là biến cố chính Chúa chết và sống lại mà chúng ta sẽ cữ hành trong Tuần Thánh sắp đến. Chúa chết và sống lại để hoàn tất công trình cứu chuộc con người, để ban cho chúng ta được sống và sống lại với Chúa: “Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta thì dù có chết cũng sẽ được sống, và ai sống và tin vào Ta sẽ không chết bao giờ. Con có tin điều đó không?” Chúa Giêsu sẽ hỏi chúng ta: phần con, con có tin điều đó hay không?

Ước chi mỗi người chúng ta cũng được khiêm tốn thưa như Martha, như Maria: Lạy Chúa, con tin. Đức tin làm cho con được sống thật, dù chết hay sống nếu con tin thì không còn gì phải lo lắng nữa. Xin Chúa hãy cho chúng ta được sống lại trong niềm tin của mình vào Chúa để rồi chúng con được sống và sống lại với Chúa mai sau. Amen.

[Mục Lục]

Bài 12. Nối kết với Chúa Giêsu là Nguồn ban Sự Sống
Lm. Inhaxiô Trần Ngà

Hãy kết nối với Chúa Giê-su để nhận được sự sống đời đời.

Sự sống vô cùng quý báu

Mạng sống hơn đống vàng. “Thà là một con chó (đang) sống còn hơn là một con sư tử chết.” (Giảng Viên 9, 4)

Ai cũng khao khát được sống và đây là khát vọng mãnh liệt nhất trong đời người. Nếu thị trường có bán thuốc trường sinh, thì người ta sẽ tranh nhau mua cho bằng được với bất cứ giá nào.

Sự giòn mỏng của kiếp người

Dù sự sống đáng quý như thế, nhưng nó lại rất mỏng giòn, mong manh, tạm bợ. Hãy xem trẻ con chơi trò thổi bong bóng: các em hòa một ít xà phòng trong ly nước, rồi dùng một cọng rơm nhúng vào đó và bắt đầu thổi. Thế là rất nhiều quả bóng lớn nhỏ đua nhau xuất ra từ đầu cọng rơm, bay nhởn nhơ trong không gian, long lanh hấp dẫn, óng ánh muôn màu. Nhưng rồi, chỉ vài giây sau, bong bóng nầy nối tiếp bong bóng kia, bụp, bụp, bụp…! Tan biến hết! Tất cả trở về hư không!

Đời sống con người cũng thế. Chúng ta xuất hiện trên đời như những chiếc bong bóng xà phòng xuất ra từ đầu cọng rơm, nhởn nhơ trong cuộc đời, cũng long lanh sắc màu như những quả bóng xà phòng kia và số phận chúng ta cũng như những quả bóng bé bỏng đó, kẻ trước người sau nối tiếp nhau từ giã cuộc đời.

Đứng trước thân phận giòn mỏng, phù du của kiếp người, một thi hào Nguyễn công Trứ than rằng: “Ôi, nhân sinh là thế, như bóng đèn, như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao!”

Cuộc đời của Ladarô cũng mong manh như thế. Đang nửa chừng xuân, đang tuổi còn dồi dào sức sống, La-da-rô đột ngột từ giã cuộc đời, để lại vô vàn đau thương, tiếc nuối cho thân nhân cũng như bè bạn.

Đó là một mất mát vô cùng lớn lao không gì trên đời bù đắp nổi. Mất gì người ta cũng có thể kiếm lại được và có thể tậu lại cái mới tốt hơn; còn mất mạng sống là mất tất cả và dường như chẳng còn cách nào phục hồi lại được!

Chính vì thế mà khi La-da-rô chết, bà con họ hàng vô cùng thương tiếc. Cho dù La-da-rô đã an nghỉ trong mộ bốn ngày rồi mà hai người chị là Mác-ta và Maria vẫn còn ngậm ngùi thổn thức…

Chúa Giê-su đem lại sự sống đời đời cho nhân loại

Vậy phải tìm đâu cho có sự sống lâu dài? Phải làm gì để biến đổi đời sống mau qua trở thành vĩnh cửu?

Qua Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su tỏ cho Mác-ta và Maria biết bí quyết nầy: “Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta thì dù có chết cũng sẽ được sống.”

Nếu chỉ nói suông thì lời nói đó chẳng có giá trị gì. Điều quan trọng là lời khẳng định của Chúa Giê-su được củng cố bằng sự việc kèm theo: Dù La-da-rô đã chết và được mai táng trong mộ bốn ngày rồi, thân xác bắt đầu sình lên và đã nặng mùi, thế mà khi Chúa Giê-su kêu gọi: “La-da-rô, hãy ra đây!” thì người chết bắt đầu vươn vai chỗi dậy, bước ra khỏi mồ, trước sự kinh ngạc của những người chứng kiến, trước sự hoan hỉ khôn tả của thân nhân họ hàng.

Sự kiện Chúa Giê-su làm cho La-da-rô sống lại, kèm theo sự kiện chính Ngài đã tự mình phục sinh sau khi đã chết trên thập giá và mai táng trong mồ, chứng tỏ rằng Ngài là Đấng hằng sống và là Nguồn ban sự sống cho muôn người.

Hãy kết nối với Chúa Giê-su để nhận được sự sống đời đời

Bóng đèn muốn được toả sáng thì phải được nối kết với nguồn điện.

Cành nho muốn được trổ sinh hoa trái phải được tháp nhập vào thân nho.

Bàn tay muốn sống còn và hoạt động thì phải liên kết với cơ thể.

Con người muốn được sống dồi dào và vĩnh cửu thì phải nối kết với Nguồn ban sự sống là Chúa Giê-su.

Lạy Chúa Giê-su.

Qua bí tích Rửa Tội, Chúa đã nối kết chúng con nên một với Chúa, để được trở thành chi thể của Chúa.

Qua bí tích Thánh Thể, Chúa cho chúng con được trở nên đồng huyết nhục với Chúa và từ đó, sự sống thần linh của Chúa được thông truyền cho chúng con.

Tiếc thay, khi phạm tội trọng, chúng con đã tự cắt lìa mình ra khỏi Chúa như cành nho lìa thân nho, như bàn tay bị cắt lìa cơ thể và như thế chúng con đánh mất sự sống đời đời.

Xin cho chúng con sớm giao hoà với Chúa qua bí tích Giải Tội, để được nối kết lại với Chúa và để cho sự sống thần linh của Chúa tiếp tục thông truyền cho chúng con.

[Mục Lục]

Bài 13. CHUYỂN RỜI, ĐẾN GẶP VÀ TIN THÌ ĐƯỢC SỐNG
Jos. Vinc. Ngọc Biển

Chúng ta đang sống trong tinh thần Mùa Chay. Mùa Chay nhắc nhớ chúng ta ăn chay, hãm mình và làm việc bác ái. Thiết nghĩ, làm những việc đó để làm gì nếu không phải hy vọng được tha thứ tội lỗi, và mong đạt được sự sống đời đời sau cái chết!

Vì thế, bài Tin Mừng hôm nay hé mở cho chúng ta chân trời hy vọng ấy khi trình thuật phép lạ Đức Giêsu cho anh Ladarô chết sống lại!

Qua phép lạ cho Ladarô hồi sinh sau khi chết, Đức Giêsu mặc khải cho chúng ta thấy Ngài chính là nội dung của niềm hy vọng phục sinh; đồng thời cũng mời gọi chúng ta hãy tin tưởng và phó thác nơi Ngài, thì cũng sẽ được sống. Vì thế, chính Ngài đã nói: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống” (Ga 11, 25). Các bài đọc sẽ lần lượt giúp cho chúng ta hiểu thêm về ý nghĩa bài Tin Mừng hôm nay.

1. Ý nghĩa Lời Chúa

Trước tiên là bài đọc I (Ed 37, 12-14), trình thuật việc dân Israel sống trong cảnh cơ cực bần cùng tại Babylon trong thân phận lưu đầy. Khi sống trong cảnh tối tăm như thế, họ không biết gì đến tương lai. Đối với họ, tương lại hoàn toàn mù mịt: không đền thờ, không tư tế, không hy vọng, ở tản lạc giữa các dân ngoại… họ chẳng khác gì như một đống xương khô nơi nấm mồ trong thung lũng thẳm sâu (x. Ed 37, 114). Tuy nhiên,Thiên Chúa vẫn không bỏ rơi họ, nên đã sai tiên tri Êdêkiel đến để nâng đỡ, an ủi và loan báo cho họ một tương lai sáng sủa hơn, tốt đẹp hơn và tràn đầy hạnh phúc khi dân Israel được hồi hương nếu họ trung thành và sẵn sàng nghe theo huấn lệnh của Thiên Chúa. Được hồi hương, thoát khỏi cảnh nô lệ bên Babilon thì chẳng khác gì được trỗi dạy từ những nấm mồ là hình bóng của sự chết tróc (x. Ed 37, 12-14).

Tiếp theo, bài đọc II (Rm 8, 8-11), thánh Phaolô đã lay động tâm hồn tín hữu Rôma bằng việc đưa ra những hình ảnh gợi cảm nhằm biểu đạt một niềm hy vọng cho tương lai. Vì vậy, ngài đã ví những người sống trong cảnh buông thả, dung dưỡng xác thịt, không sống theo Thần Khí thì chẳng khác gì một người đang bị nấm mồ thần chết vô hình do tội lỗi vây hãm. Tuy nhiên, thánh nhân cũng củng cố niềm tin và mời gọi hãy gắn bó với Đức Giêsu nhờ Thánh Thần của Ngài, để trong ta có Chúa và trong Chúa có ta, thì cho dù chúng ta có chết, Ngài cũng sẽ cho chúng ta sống lại.

Cuối cùng, bài Tin Mừng đem lại cho chúng ta tràn đầy hy vọng khi trình thuật việc Đức Giêsu cho anh Ladarô là bạn thân tín của Ngài đã chết 4 ngày được sống lại. Sự hồi sinh Ladarô, một mặt nhờ niềm tin của Martha, mặt khác để tôn vinh Thiên Chúa Cha, và cũng để củng cố niềm tin nơi các môn đệ cũng như những người hiện diện, đồng thời cũng tiên báo một cuộc sống mới sau cái chết của những người tin vào Đức Giêsu. Thật vậy, Đức Giêsu khẳng định Ngài là Thiên Chúa, nên ai tin vào Ngài thì sẽ được sự sống đời đời làm gia nghiệp.

2. Đức Giêsu là sự sống

Nếu Chúa Nhật 4 Mùa Chay, câu chuyện Tin Mừng mời gọi chúng ta chiêm ngưỡng Đức Giêsu chính là sự sáng thế gian qua trình thật việc Đức Giêsu làm phép lạ cho người mù được sáng mắt, thì Chúa Nhật này, như một sự tiệm tiến để dẫn đến một mặc khải quan trọng hơn, mặc khải về Đức Giêsu chính là sự sống.

Trình thuật được khởi đi từ việc Đức Giêsu quyết định đi lên Giêrusalem. Đi lên Giêrusalem vào thời điểm này thì đồng nghĩa với việc đón nhận cái chết. Nhưng vì vâng lời Chúa Cha và yêu thương con người, nên Ngài đã sẵn sàng.

Vì vậy, khi nghe thấy có người đưa tin về Ladarô bạn của Ngài đau mệt, Đức Giêsu đã không đi ngay, mà phải đợi đến khi Ladarô chết và được an táng tới 4 ngày trong mồ, Ngài và các môn đệ mới tới.

Khi đến Bêtania, Ngài thổn thức vì thấy nỗi đau khổ của hai chị em Martha và Maria mất em, của những người hàng xóm thương khóc bạn thân. Thấy Đức Giêsu, Martha đã chạy lại và nói: “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết” (Ga 11, 21). Lời nói này có thể là một lời trách nhẹ và cũng là một lời tuyên xưng niềm tin mãnh liệt vào Đức Giêsu. Thật thế, ngay sau câu nói đó, Martha tiếp: “Nhưng bây giờ con biết: bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy” (Ga 11, 22).

Đức Giêsu đã không để cho Martha thất vọng và những người Dothái phải chờ đợi, vì thế Ngài đã trấn an ngay: “Em chị sẽ sống lại!”. Tuy nhiên, Martha hiểu về việc thân xác của Ladarô sẽ được phục sinh trong ngày sau hết: “Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết” (Ga 11, 24). Đức Giêsu đã khẳng định rằng Ngài có toàn quyền trên sự chết khi nói: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống” (Ga 11, 25). Nhưng vì quá đỗi hồi hộp và luýnh quýnh, niềm tin lại một lần nữa bị thử thách đối với Martha, vì thế bà thưa: “Thưa Thầy, nặng mùi rồi, vì em con ở trong mồ đã được bốn ngày”. Nhưng Đức Giêsu đã đòi Martha phải đặt trọn niền tin vào Thiên Chúa: “Nào Thầy đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao?” (Ga 11, 39). Và như một sự minh định, Ngài đã truyền lệnh cho lăn phiến đá lấp cửa mồ ra, và lớn tiếng truyền lệnh cho Ladarô ra khỏi mồ. Ngay lập tực, Ladarô tiến ra và thần chết đã bị đẩy lui cho sự sống hồi sinh.

Theo qua niệm của người Dothái, thì câu nói của Martha “…đã 4 ngày rồi” hàm ý nói rằng khi một người đã chết được 4 ngày thì linh hồn chỉ lởn vởn chứ không nhập được vào thân xác nữa…, nên việc hồi sinh kẻ chết quả là một chuyện khó khăn. Tuy nhiên, sự chậm trễ của Đức Giêsu; việc xác chết đã 4 ngày… chuyện đó đâu có gì khó đối với Đấng là nguồn sự sống!

Qua lệnh truyền và hình ảnh các mảnh vải quấn thân xác của Ladarô được tháo cởi, có ý muốn nói lên sự chết không còn có quyền chi đới với Đức Giêsu nữa, và khi con người được giải thoát khỏi nấm mồ sự chết thì cũng là lúc con người được tự do đích thực và cái chết không thể chế ngự được gì trước Thiên Chúa qua Đức Giêsu.

Như vậy, việc Đức Giêsu cố tình chậm trễ như thế là để nhằm cho người ta thấy rằng, Ngài làm chủ trên sự sống và sự chết của con người. Khi Đức Giêsu đã chiến thắng thần chết trên Ladarô thì cũng là lúc giờ Thiên Chúa Cha được tôn vinh nơi Ngài.

3. Sống sứ điệp Lời Chúa

Toàn bộ bài Tin Mừng hôm nay mặc khải cho chúng ta thấy Đức Giêsu chính là sự sống. Tuy nhiên, muốn đạt được sự sống ấy, thì chúng ta phải tin nơi Đức Giêsu là sự sống. Ngài sẽ làm cho thân xác hư nát, phải chết của chúng ta trở thành thân xác sáng láng vinh hiển của Ngài. Mặt khác phải ra khỏi chính mình, ra khỏi cái tôi tự kiêu để đến với Đức Giêsu. Nếu chúng ta không đến với Ngài, chúng ta sẽ không có nguồn sự sống từ nơi Ngài. Thật vậy, cành không thể có sự sống nếu không gắn liền với thân cây. Cành chỉ có sự sống và từ sự sống ấy mới sinh ra nhiều hoa trái dồi dào được.

Sự gắn bó với Đức Giêsu được kể như là điều kiện cần để được sống đời đời.

Dưới ngòi bút của một nhà thần học siêu nghiệm, thánh Gioan muốn nhấn mạnh đến sự “chuyển rời” hiện tại để hướng đến một bước tiến mới.

Trước tiên là sự “chuyển rời” của người đưa tin cho Đức Giêsu về việc Ladarô đang bệnh nặng; rồi Đức Giêsu và các môn để “chuyển rời” từ bên kia sông Giođan để đến Bêtania; Martha đã “chuyển rời” từ trong nhà để ra đón Ngài; Đức Giêsu, các môn đệ, hai người chị của người chết và những người Dothái đã “chuyển rời” từ nhà của người chết để đến nơi đã an táng; và cuối cùng là Ladarô “chuyển rời” để ra khỏi mồ.

Hình ảnh này cho chúng ta thấy rằng, đời sống của con người chúng ta cần phải “chuyển rời” để thay đổi nếp sống cũ, con đường cũ, nói chung là con người và hành vi tội lỗi của chúng ta, để thay vào đó là một cuộc đời mới, cuộc đời thánh thiện, công chính; một cuộc đời và một sự sống có Chúa. Khi có Chúa, chúng ta đạt được sự sung mãn trong tình yêu của Chúa.

Thật vậy, Nếu chúng ta sống dung túng và hào phóng trong tội. Không gắn bó với Chúa. Chúng ta cũng sẽ chết. Tuy nhiên, nếu chúng ta thay đổi nếp sống cũ là ích kỷ, tham lam, hà tiện, kiêu ngạo… và tin tưởng vào Đức Giêsu, thì chúng ta cũng sẽ được sống đời đời: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống” (Ga 11, 25).

Khi tin như thế, cả con người và hành vi của chúng ta hướng về Chúa, về Nước Trời và như một sự “chuyển rời” để từ ích kỷ đến lòng bao dung. Từ thất vọng đến niềm hy vọng. Từ miền u tối đến miền ánh sáng. Từ sự chết đến nguồn sự sống. Như vậy, nhờ có sự “chuyển rời” mà sự chết nơi chúng ta là những người tin, không trở nên bi đát, ngõ cụt. Nhưng chỉ là một cuộc chuyển mình hầu vượt qua cái chết để tiến đến vinh quang mà thôi. Thật vậy, thánh Phaolô đã nói: “Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu từ trời đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3,20-21).

Lạy Chúa Giêsu, xưa Chúa đã làm phép lạ cho Ladarô chết 4 ngày sống lại, nhằm củng cố niềm tin của những người đương thời với Chúa, và cũng mặc khải cho mỗi người chúng con biết rằng chính Chúa là sự sống lại và là sự sống. Xin cho mỗi người chúng con ý thức được điều đó để thêm tin, thêm mến, thêm cậy trông vào Chúa hầu được sự sống đời đời. Amen.

[Mục Lục]

Bài 14. Chúa Kitô là sự sống lại và là sự sống
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Sau khi Giáo hội ngưng nghỉ để (Lætare) chuẩn bị tốt hơn niềm vui Phục Sinh dù còn hai tuần nữa, nhưng niềm vui ấy đã ló rạng trong các bài đọc Chúa nhật hôm nay, tuy không nói về sự sống lại của Chúa Giêsu vì đó là điều tất yếu, nhưng nói về sự phục sinh của chúng ta, chính Chúa Kitô ban cho chúng ta : trỗi dậy từ trong cõi chết.

Phục sinh Lagiarô báo trước cái chết của Chúa Giêsu

Sự kiện Lagiarô sống lại như một bi kịch giữa Sự Sống và Sự Chết, giữa Đấng được Chúa Cha sai đến là Đức Giêsu Kitô, Chúa của Sự Sống, và thủ lãnh sự chết tiềm ẩn nơi : bệnh tật, cái chết của Lagiarô, cũng như các âm mưu chống lại Chúa Giêsu.

Ngay từ đầu, Chúa Giêsu cho thấy những thử thách về bệnh tật của bạn mình, cũng như cái được cái mất trong cuộc thương khó của Ngài : “Bệnh này không đến nỗi chết, nhưng để làm sáng danh Thiên Chúa” (Ga 11, 4). Chúa Giêsu biết rõ, Lagiarô chết và việc của Ngài nên nói với các môn đệ : “Lagiarô đã chết ” (Ga 11, 14). Nhưng Ngài sẽ cho sống lại, vì “sáng danh Thiên Chúa” (Ga 11, 4).

Đây là phép lạ thứ bẩy và cuối cùng thu hút sự chú ý nhất của dân chúng vào Chúa Giêsu trước khi Ngài bị bắt. Khi loan báo cho các môn đệ biết về ý muốn trở lại Giuđêa của Chúa Giêsu để gặp Lagiarô đã chết, các ông hết sức ngạc nhiên và lo lắng nên nói: “Thưa Thầy, mới đây người Do thái tìm ném đá Thầy, mà Thầy lại trở về đó ư? ” (Ga 11, 8). Quả thật, các nhà lãnh đạo Do thái đã để mất Chúa Giêsu vào dịp này : “Bởi vậy từ ngày đó, họ quyết định giết Người ” (Ga 11, 53). Nhưng phản ứng của Chúa Giêsu là : “Ladarô đã chết, chúng ta hãy đi với anh ta” (Ga 11, 15), Ngài sẽ đánh bại sự chết, cứu con người khỏi chết và ban cho sự sống.

Niềm hy vọng của chúng ta

Trọng tâm của Tin Mừng hôm nay là câu : “Ta là sự sống và là sự sống, ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ ” (Ga 11, 25-26). Nếu chúng ta đặt niềm tin vào Chúa Giêsu, Chúa Cha “Đấng đặt Thánh Thần của Ngài trong chúng ta, và chúng ta đang sống” sự sống của Người (Ez 1, 13) thì chúng ta sẽ được Thiên Chúa cho sống lại ngày sau hết.

Chúa cho Lagiarô sống lại như Ngài đã làm cho con gái ông Giairô, con trai của bà góa thành Naim trở lại sự sống tự nhiên lần thứ hai trong một thời gian ngắn. Trái lại, Ðức Kitô sống lại từ cõi chết, không còn chết nữa, sự chết không còn bá chủ được Ngài nữa” (Rm 6, 9) vì Ngài sống sự sống của Thánh Thần Thiên Chúa. Nhưng “nếu Thánh Thần của Đấng đã làm cho Đức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại ở trong anh em, thì Đấng đã làm cho Đức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại cũng cho xác phàm hay chết của anh em được sống, nhờ Thánh Thần Người ngự trong anh em” (Rm 8,11). Sao chúng ta không thể hy vọng được.

Phần lớn chúng ta mong đợi trở lại cuộc sống tự nhiên. Chắc chắn chúng ta sẽ chết, bởi vì “thân xác chúng ta đã chết vì tội lỗi” (Rm 8, 10) nhưng “nếu Đức Kitô ở trong chúng ta và chúng ta ở trong Ngài với đức tin sống động, thì linh hồn chúng ta sẽ sống bằng sự sống của Thiên Chúa và được tham dự vào sự bất tử của Ngài. Hơn nữa : chúng ta tin vào phép rửa “Vậy nhờ thanh tẩy, ta đã được mai táng làm một với Ngài trong sự chết, ngõ hầu như Ðức Kitô, nhờ bởi vinh quang của Cha, mà được sống lại từ cõi chết, thì cả ta nữa, ta cũng bước đi trong đời sống mới ” (Rm 6, 4).

Thật là đại tin mừng : “nơi Ngài là sự Sống, và sự Sống là sự Sáng cho nhân loại. Và sự sáng rạng trong tối tăm, và tối tăm đã không tiêu diệt được sự sáng” (Ga 1, 4-5). Nếu như tác giả Tin Mừng đã hai lần thuật lại điều Martha và Maria than với Chúa về đau khổ của hai bà : “Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết“, há không phải muốn nhấn mạnh rằng, từ nay, tiếng khóc không còn nữa đó sao? Chúa Giêsu thổn thức và xúc động. Người hỏi : “Đã an táng Lagiarô ở đâu?” Nước mắt Chúa như mưa, Lagiarô như hạt giống, và ngôi mộ như một thửa đất. Chúa Giêsu hô lớn tiếng, tiếng Ngài làm cho sự chết run sợ, Lagiarô đã bung lên như hạt giống, anh bước ra khỏi mồ và tôn thờ Đấng đã cho anh sống lại.

Mãnh lực của sự chết đã thống trị Lagiarô bốn ngày. Chúa Giêsu đã đánh bại sự chết ngày thứ ba, đúng như lời Ngài đã hứa rằng, Ngài sẽ sống lại ngày thứ ba sau khi chết (x. Mt 16, 21)

Hãy đẩy tảng đá ra” (11,39). Cái gì vậy, Đấng đã làm cho kẻ chết sống lại, nay không thể mở cửa mồ hay phán một lời để di chuyển tảng đá đóng cửa mồ hay sao ? Chắc chắn, Ngài có thế khiến tảng đá lăn ra khỏi mồ bằng lời Ngài phán, khi Ngài bị treo trên thập giá, Ngài đã từng chẻ đôi tảng đá và mở tung các cửa mồ (Mt 27,51-52 ).

Hãy cởi ra cho anh ấy đi ” (11, 44). Chúa bảo người chung quanh cởi cho anh để họ nhận ra chính anh là người họ đã bọc vào trong khăn an táng, thân xác đã phân hủy, nay sống lại nhờ quyền năng Chúa.

Hình ảnh báo trước và là lời hứa phục sinh cho các dự tòng

Là người thật, Ðức Kitô đã khóc Lagiarô, bạn hữu Người; là Thiên Chúa hằng sống, Người đã truyền cho Lagiarô sống lại ra khỏi mồ (Kinh Tiền Tụng). Hôm nay Chúa cũng tuyên bố : “Ta là sự sống lại và là sự sống” và hỏi “Con có tin điều đó không?” Cùng với Martha chị của Lagiarô các anh chị em dự tòng thưa: “Thưa Thầy, vâng, con đã tin Thầy là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống đã đến trong thế gian” (Ga 11,). Chúa phục sinh Lagiarô là hình ảnh báo trước sự phục sinh cho các dự tòng là những người mong đợi trong Đêm Vọng Phục Sinh. Khi dìm mình trong nước nước Rửa tội, người dự tòng được giải thoát khỏi sự chết và sống lại với Chúa Kitô. Sự sống lại này, như lời tiên tri Êgiêkiêl : Ta sẽ mở cửa mồ cho các ngườ, Ta sẽ kéo các người ra khỏi mồ (Ez 37, 12-14). Ta đặt thần khí ta vào tâm hồn anh em (Ez 37, 6) : nhờ Phép Rửa tội, Thần Khí Đức Kitô ngự vào trong chúng ta (Rm 8, 8-11), Thần Khí kết hợp người chịu phép rửa trong tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con ; khi đón nhận, chúng ta được tham dự vào tình yêu này của Ba Ngôi Thiên Chúa. Amen.

[Mục Lục]

Bài 15. CỦNG CỐ NIỀM TIN
JM. Lam Thy ĐVD.

Bài Tin Mừng Chúa nhật V/MC-A (Ga 11, 1-45) trình thuật phép lạ Đức Giê-su cho anh La-da-rô chết chôn đã 4 ngày được sống lại. Sự kiện anh La-da-rô bị đau nặng đã được chị Mac-ta và Maria cho người đến báo tin cho Đức Ki-tô (chắc cũng có ý muốn xin Người chữa bệnh cho em mình); nhưng Người lại không tới liền mà mãi 2 ngày sau mới tới. Việc làm này mang ý nghĩa gì? Nếu Người tới liền, thì có thể anh La-da-rô sẽ không chết và như thế thì Đức Ki-tô cũng chỉ là một thầy lang giỏi chữa bệnh mà thôi. Còn nếu Người tới mà La-da-rô vẫn chết và dù sau đó có được Chúa cho sống lại, thì người đời (thông qua các môn đệ) vẫn bán tín bán nghi, làm sao có thể hiểu được rằng “Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa: qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh.” (Ga 11, 4).

Đúng là các môn đệ đã không hiểu được ý nghĩa sâu xa trong Lời dạy của Đức Ki-tô, nên khi nghe Người nói: “Bệnh này không đến nỗi chết đâu” và sau đó Người còn nói: “La-da-rô, bạn của chúng ta, đang yên giấc; tuy vậy, Thầy đi đánh thức anh ấy đây.” (Ga 11, 11), các ngài đã cho là La-da-rô chỉ ngủ thiếp đi và sau giấc ngủ sẽ khoẻ lại. Sự kiện này khiến nghĩ tới lần Đức Giê-su chữa con gái ông trưởng hội đường (Mc 5, 35-43). Lần đó, Đức Giê-su cũng nói: “Sao lại náo động và khóc lóc như vậy? Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy!” (Mc 5, 39). Con gái ông trưởng hội đường đã chết, mọi người thương cảm than khóc, thì Đức Giê-su lại bảo là “nó ngủ đấy”. Lần này, nếu các môn đệ có cho rằng La-da-rô ngủ thì cũng không lạ. Và vì thế, Đức Ki-tô phải nói rõ hẳn ra: “La-da-rô đã chết. Thầy mừng cho anh em, vì Thầy đã không có mặt ở đó, để anh em tin. Thôi, nào chúng ta đến với anh ấy.” (Ga 11, 14-15).

Lời dạy của Đức Ki-tô: “Thầy mừng cho anh em, vì Thầy đã không có mặt ở đó, để anh em tin” (Ga 11, 15), đã minh hoạ rõ ràng là Người có chủ định để La-da-rô chết chôn được 4 ngày mới lại thăm và tỏ uy quyền của Thiên Chúa cho anh ta sống lại. Đúng là đáng mừng cho các môn đệ lúc nào cũng cứ nửa tín nửa ngờ, thì đây là dịp được “thực mục sở thị” một phép lạ chỉ có Thiên Chúa mới làm được. Vâng, Đức Giê-su không có mặt khi anh La-da-rô chết, và Người còn để anh được chôn trong hang đá tới 4 ngày, xác chết đã nặng mùi, như thế thì các môn đệ mới thực sự tin rằng anh La-da-rô đã chết (chớ không phải chỉ ngủ say). Và nhờ đó, khi Đức Ki-tô tới kêu anh ta ra khỏi mồ, mọi người mới tin thật rằng: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống.” (Ga 11, 25).

Quả thật, với các môn đệ lúc nào cũng bán tín bán nghi thì không còn cách nào để có thể củng cố đức tin cho các ngài hơn là dịp này. Được củng cố đức tin đến như thế, mà tới giờ phút phải bày tỏ niềm xác tín (Thầy bước vào cuộc khổ nạn, chết trên thập tự và sống lại hiển vinh) cũng vẫn còn nửa tin nửa ngờ. Đã không tin lúc Thầy còn sống và làm phép lạ, mà cả đến khi Thầy từ cõi chết sống lại hiển nhiên cũng vẫn hoài nghi. Tuy chỉ có một Tô-ma không có mặt lúc Thầy hiện ra nên mới bày tỏ sự hoài nghi: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” (Ga 29, 25); nhưng còn những vị được diện kiến Thầy mình phục sinh hiện ra thì đã tin chưa? Nếu tin thì sao lại xảy ra cảnh “các ông kinh hồn bạt vía tưởng là thấy ma!” (Lc 24, 37)?

Ngay ở cái thế kỷ XXI này, sự hoài nghi còn vượt xa các Tông đồ tiên khởi. Hoá cho nên các ngài sống cách đây 2000 năm, nếu cứ hay nửa tin nửa ngờ cũng chẳng có gì đáng phàn nàn, vì bản chất con người là thế. Các tông đồ ở liền bên với Thầy mà cũng chỉ tin khi được trông thấy nhãn tiền người chết “chôn trong mồ đã 4 ngày và nặng mùi rồi”, Đức Ki-tô không hề chạm đến anh ta mà chỉ hô lớn tiếng: “Anh La-da-rô, hãy ra khỏi mồ!”, thì ngay lập tức anh ta bước ra khỏi mồ với khăn liệm còn quấn trên người. Một cách cụ thể thì các Tông đồ tiên khởi cũng như các Ki-tô hữu ở tiền bán thế kỷ XXI này vẫn rất cần được củng cố đức tin. Ấy cũng bởi vì: “Với Mác-ta, đang khóc thương cái chết của em trai mình là La-da-rô, Chúa Giê-su bảo: “Tôi đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, chị sẽ thấy vinh quang Thiên Chúa đó sao?” (Ga 11, 40). Ai tin, sẽ thấy; họ thấy bằng thứ ánh sáng đang soi sáng trọn cuộc hành trình của họ, vì ánh sáng này phát xuất từ Chúa Ki-tô phục sinh, sao mai không bao giờ lặn.” (Thông điệp “Lumen Fidei – Ánh Sáng Đức Tin”, số 1).

Cuối cùng thì vấn đề đặt ra là “nếu chị tin, chị sẽ thấy vinh quang Thiên Chúa”. Các ngôn sứ thời Cựu Ước cũng không ngoại lệ. Thật thế, “Hỡi dân Ta, này chính Ta mở huyệt cho các ngươi, Ta sẽ đưa các ngươi lên khỏi huyệt và đem các ngươi về đất Ít-ra-en. Các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là ĐỨC CHÚA, khi Ta mở huyệt cho các ngươi và đưa các ngươi lên khỏi huyệt, hỡi dân Ta. Ta sẽ đặt thần khí của Ta vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được hồi sinh.” (Ed 37, 12-14). Vậy thì người Ki-tô hữu ở thế kỷ XXI này còn đợi gì mà không chân thành tái đặt trọn niềm tin của mình nơi Đấng đã phán dạy: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết.”

Để “tái đặt trọn niềm tin của mình” vào Đấng Phục Sinh, cũng tức là để củng cố đức tin cho bản thân, xin đừng ỷ tài cậy sức, mà hãy chạy đến với Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Đức Tin, mà khẩn thiết van nài: “Lạy Mẹ, xin Mẹ giúp đỡ đức tin chúng con! Xin Mẹ gieo vào đức tin chúng con niềm vui của Đấng Phục Sinh. Xin Mẹ nhắc nhở chúng con rằng người tin không bao giờ đơn độc. Xin Mẹ dạy chúng con biết nhìn mọi sự bằng con mắt của Chúa Giê-su, để Người là ánh sáng soi đường chúng con đi. Và ánh sáng đức tin này luôn gia tăng nơi chúng con, cho tới hừng đông của ngày bất tận là chính Chúa Ki-tô, Con Mẹ, Chúa chúng con!” (Thông điệp “Lumen Fidei – Ánh Sáng Đức Tin”, kết luận). Ước được như vậy. Amen.

[Mục Lục]

Bài 16. CHÍNH THẦY LÀ SỰ SỐNG LẠI VÀ LÀ SỰ SỐNG
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ

Câu truyện Chúa Giê-su làm cho La-da-rô đã chết được bốn ngày sống lại là một trong những câu truyện cảm động và nhiều ý nghĩa của Phúc Âm Gio-an.

Mời các bạn hãy chăm chú đọc câu truyện ấy và mở rộng tâm hồn để đón nhận ánh sáng mặc khải của Chúa Giê-su Ki-tô, Con Một Thiên Chúa: “Chính Thầy là Sự Sống Lại và là Sự Sống”!

II. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH

2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong bài đọc 1 (Ed 37, 12-14): Ta sẽ đặt Thần Khí của Ta vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được hồi sinh.

2.2 Lắng nghe Lời Chúa trong bài đọc 2 (Rm 8, 8-11): Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, ngự trong anh em.

2.3 Lắng nghe Lời Chúa trong bài Tin Mừng (Ga 11,1-45): Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống.

III. KHÁM PHÁ CHÂN DUNG VÀ SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH

3.1 Chân Dung của Thiên Chúa (Thiên Chúa là Đấng nào?)

Trong ba bài Sách Thánh hôm nay chúng ta khám phá Thiên Chúa:

– Là Đấng đã hứa và đã thực hiện việc làm cho dân Ít-ra-en thoát khỏi cảnh lưu đầy, được hồi sinh bằng Thần Khí và được hồi hương về miền đất thân yêu của mình.

– Là chính Chúa Giê-su Na-da-rét, Đấng làm cho La-da-rô đã chết ba ngày sống lại.

* Trước khi phục hồi sự sống cho La-da-rô, Chúa Giê-su đã bộc lộ một tấm lòng cảm thông sâu sắc của một người bạn trước sự ra đi của một người bạn nghĩa thiết (Đức Giê-su thổn thức trong lòng và xao xuyến… Đức Giê-su liền khóc.

Người Do-thái mới nói: “Kìa xem! Ông ta thương anh La-da-rô biết mấy!.. Đức Giê-su lại thổn thức trong lòng).

* Trong khi làm cho La-da-rô sống lại, Chúa Giê-su thể hiện quyền năng của Ngôi Hai Thiên Chúa (Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết).

* và mối tương quan mật thiết giữa Người và Thiên Chúa Cha (Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con. Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con).

– Là Thần Khí, là sức mạnh hay quyền năng của Thiên Chúa mà Chúa Ki-tô đã dùng để làm cho La-da-rô sống lại. Chính Thần Khí ấy ngự trong lòng chúng ta, làm cho chúng ta tin vào sự sống lại và vào sự sống mà Chúa Ki-tô bạn tặng cho những kẻ tin.

3.2 Sứ điệp hay Giáo huấn của Lời Chúa (Thiên Chúa dậy gì hay Thiên Chúa muốn chúng ta làm gì?)

Qua ba bài Sách Thánh hôm nay, giáo huấn hay sứ điệp của Lời Chúa là:

“Chính Thầy (Đức Giê-su Ki-tô) là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết.”

IV. SỐNG VỚI CHÚA VÀ THỰC THI SỨ ĐIỆP CỦA NGƯỜI

Chúng ta đáp lại sự mạc khải và sứ điệp của Thiên Chúa bằng hai cách là sống với Thiên Chúa và thực thi ý Người (tức sứ điệp hay giáo huấn của Lời Chúa):

4.1 Sống với Thiên Chúa là Đấng luôn hối phục sự sống thể chất và cộng đồng cho Ít-ra-en!

Sống với Thiên Chúa là Chúa Giê-su Ki-tô, Đấng đã được Cha sai đến để bộc lộ tấm lòng yêu thương và cảm thông trước nỗi khổ của con người. Người đã cho thấy mối tương quan mật thiết của Người với Chúa Cha và đã mạc khải Người là Sự Sống Lại và là Sự Sống, khi Người dùng quyền năng của Thiên Chúa mà làm cho La-da-rô sống lại từ cõi chết.

Sống với Thiên Chúa là Thần Khí của Thiên Chúa, Đấng luôn hiện diện và hành động trong lịch sử của Ít-ra-en cũng như trong lời nói và việc làm của Chúa Giê-su Na-da-rét, nhất là trong hành động làm cho La-da-rô sống lại và trong sự Phục Sinh vinh hiển (từ cõi chết) của chính Chúa Giê-su Ki-tô!

4.2 Thực thi sứ điệp Lời Chúa hay Giáo Huấn của Chúa

– là tin tưởng phó thác vào Thiên Chúa là Đấng luôn yêu thương và không để cho dân Chúa phải thiệt thòi hay hổ thẹn.

là tin Chúa Giê-su Ki-tô là sự sống lại và là sự sống. Niềm tin ấy sẽ đem lại sự sống cho chúng ta.

V. CẦU NGUYỆN CHO THẾ GIỚI VÀ HỘI THÁNH

5.1 “Các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa.” Chúng ta hãy cầu nguyện cho các dân tộc trong thế giới hôm nay, nhất là cho các nước đang bị chiến tranh và thiên tai tàn phá, để các dân tộc ấy sớm nhận biết Thiên Chúa là Chúa của mọi dân mọi nước.

Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa!
Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con!

5.2 “Ai không có Thần Khí của Đức Ki-tô, thì không thuộc về Đức Ki-tô.” Chúng ta hãy cầu nguyện cách đặc biệt cho Đức Thánh Cha Phan-xi-cô, cho các Hồng Y, Giám Mục, Linh Mục, Phó Tế và Tu Sĩ Nam Nữ là những người đã được Thiên Chúa tuyển chọn một cách đặc biệt để thuộc về Đức Ki-tô: xin cho các vị ấy được tràn đầy Thần Khí của Đức Ki-tô!

5.3 “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không?” Chúng ta hãy cầu nguyện cho các Ki-tô hữu thuộc giáo xứ/cộng đoàn/cộng đồng chúng ta, để ai nấy xác tín rằng Chúa Giê-su Ki-tô là sự sống lại và là sự sống mà dấn bước theo Người.

5.4 “Đức Giê-su lại thổn thức trong lòng” Chúng ta hãy cầu nguyện cách đặc biệt cho những người người phải khốn khổ vì cường quyền và bạo lực để những người ấy được Chúa Giê-su Ki-tô khóc thương và hồi sinh như ông La-da-rô trong Tin Mừng hôm nay.

[Mục Lục]

Bài 17. Hành trình đến cuộc sống thật
AM Trần Bình An

Bị bác sĩ xác nhận đã chết nhưng 45 phút sau, bà Lorna Baillie (49 tuổi, ở Anh) bất ngờ sống lại khi người chồng đến bên cạnh giường bệnh thì thầm vào tai bà: “Anh yêu em!”

Các thành viên gia đình đã vô cùng tuyệt vọng khi bác sĩ tại Bệnh viện Hoàng gia Edinburgh thông báo bà Lorna Baillie đã chết và tháo tất cả thiết bị điều trị ra khỏi cơ thể bà, sau nhiều nỗ lực cấp cứu cơn nhồi máu cơ tim. Tuy nhiên, 45 phút sau đó, khi người chồng tật nguyền, ông Baillie, 58 tuổi, đến bên giường bệnh nói lời tiễn biệt với vợ, thì người chết đã sống lại.

Khi bố nói: “Anh yêu em,” chúng tôi thấy da dẻ của mẹ dần hồng hào trở lại. Chúng tôi đã báo cho y tá trực phòng, nhưng người này khẳng định đó chỉ là dấu hiệu thông thường đối với người vừa trải qua ca cấp cứu kéo dài,” 4 người con của bà Lorna Baillie cho biết”. Ngay cả khi mắt bà Lorna Baillie nhấp nháy và nắm chặt tay cô con gái út Leanne, y tá vẫn quả quyết rằng đó chỉ là những cử động vô thức đã được dự đoán trước.

Gia đình đã yêu cầu y tá phải gọi bác sĩ. Quả nhiên, khi kiểm tra, bác sĩ nhận thấy tim bệnh nhân đã đập trở lại. Họ nhanh chóng chuyển bà Baillie vào phòng chăm sóc đặc biệt và cho đến nay, bệnh nhân đã phục hồi tốt.

Theo giám đốc Bệnh viện Hoàng gia Edinburgh, việc người chết sống lại kiểu như bà Lorna Baillie là vô cùng hiếm gặp. (Đăng Minh, Theo Daily Mail)

Qua sự kiện trên, tình yêu đã hồi sinh, xua tan cái chết. Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu thân thương hồi sinh Lazarô chết đã 4 ngày, chôn trong mồ, chứ không phải như bà Lorna Baillie, mới sinh thì 45’ trong bệnh viện. Tình yêu của Đức Giêsu còn bao la, vĩ đại, tuyệt diệu vô song, vì Người còn hồi sinh vĩnh viễn con người.

Cả hai chị em Mátta và Maria khi gặp Đức Giêsu đến Bêtania, đều cùng cất lên một điệp khúc nghe quá xót xa, nuối tiếc: “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết!”(Ga 11, 21 & 32) Như vậy, nếu khi tín hữu Kitô có Đức Giêsu hiện hữu, lại bị đau yếu, bệnh hoạn, sinh thì, tẩm liệm, mai táng, hư nát, thì sẽ ra sao?

Khi bệnh tật

“Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang đau nặng.” Nghe vậy, Đức Giêsu bảo: “Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa: Qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh.”(Ga 11, 3-4) Thế nhưng Lazarô lại chết thiệt. Nếu đơn giản hiểu theo thế gian, thì Đức Giêsu chẳng phải thầy lang giỏi, hay bác sĩ cao tay nghề. Nhưng Người là Đấng Cứu Thế, cứu rỗi linh hồn, chứ không phải đến cứu thân xác dễ hao mòn, hư nát. Đối với Người, bệnh hoạn, đau yếu, chẳng mấy quan trọng, chỉ là thách đố con người phải lãnh nhận, không thể từ chối hay tránh xa được. Quan trọng là cuộc sống đời đời, chứ không phải cuộc sống phù du thế gian.

Vậy khi bệnh nhân có Đức Giêsu ở gần hay hiện diện trong tâm hồn, thì không phải không cảm thấy đau đớn phần xác, nhưng sẽ thánh hóa cơn đau đó. Với tâm hồn ăn năn sám hối, có thể ví những cơn đau tựa chịu án phạt cho những lỗi lầm đã qua, những thiếu sót bổn phận. Tích cực hơn, có thể coi đau đớn đó là dịp vinh dự hiệp thông phần nào vào cuộc khổ nạn của Đức Giêsu.

Thử thách gian khổ là “giấy phép theo Chúa” để hưởng hạnh phúc hân hoan với Chúa. “Ai muốn theo Ta, hãy bỏ mình, vác thánh giá…” (Đường Hy Vọng, số 714)

Khi sinh thì

Khi Chúa thương gọi con về, hồn con hân hoan như trong một giấc mơ. Miệng con nức vui tiếng cười, lưỡi con vang lời ca hát. Ngàn dân tung hô: Con thật vinh phúc.” Cảm hứng Thánh Vịnh 126, Lm nhạc sĩ Kim Long đã không thể giấu nổi niềm vui trong ca khúc Ngày Về. Không vui sao được, khi về với cội nguồn, về với Người Cha Nhân Lành, hằng đêm ngày chờ đợi đứa con hoang đàng trở về.

Với Đức Giêsu, dù Lazarô đã chết bốn ngày, đã chôn trong mồ, vẫn chỉ là giấc ngủ ngắn ngủi, vì Thiên Chúa hằng hữu, vượt thời gian, vượt không gian ba chiều, thì cái chết thân xác chỉ như một giấc ngủ bình thường: “Lazarô, bạn của chúng ta, đang yên giấc, tuy vậy, Thầy đi đánh thức anh ấy đây.” Khi hồi sinh con gái ông Giaia, thủ lãnh hội đường, Đức Giêsu cũng phán với tang quyến đang kêu gào thương tiếc: “Đừng khóc! Con bé có chết đâu,nó ngủ đấy.” Họ chế ngạo Người, vì biết nó đã chết.(Lc 8, 52-53) Giấc ngủ vốn được coi là hình bóng sự chết, như dân ta hay nói: “Ngủ như chết.”

Nhưng chết không phải là hết, theo quan niệm duy vật, hiện sinh. Cái chết chính là ngưỡng cửa dẫn đến cuộc sống viên mãn, hay cái chết muôn đời, tùy tự do mỗi người chọn lựa khi sống.

Khi sinh thì có Đức Giêsu hiện hữu ở bên an ủi, thì còn chi sợ hãi nữa? Đáng sợ là khi ấy, vẫn còn ngoan cố vướng mắc, dính líu, bám víu vào tiền của, danh lợi, đam mê, khoái lạc xác thịt quyến rũ, chẳng muốn hoán cải trở về, để muôn đời chịu trầm luân trong lửa. Nào ai biết được ngày giờ nào vang lên hồi chuông báo tử chính mình? Sao không noi gương năm cô phù dâu khôn ngoan đem dầu theo đèn, mà canh thức chờ Chàng Rể đến?

“Người ta hối tiếc than van: “Đời tàn!” Ngược lại, con phấn khởi và reo lên: Niềm hy vọng hồng phúc và ngày trở lại của Chúa Giêsu Kitô sắp đến.” (Đường Hy Vọng, số 667)

Khi an táng

“Anh Lazarô hãy ra khỏi mồ!” Người chết liền ra, tay chân còn quấn vải và mặt còn phủ khăn. Đức Giêsu bảo: “Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi.” (Ga 11, 43-44)

Dù một khi thân xác đã an táng trong nấm mồ tội lỗi, đam mê, tham sân si, mà có Đức Giêsu hiện diện, hay nhớ đến, trông cậy xin cứu giúp, Người cũng sẽ thân mật, âu yếm ra lệnh, như đã gọi Lazarô hồi sinh, cứu thoát tín hữu Kitô sống lại trong Thần Khí. Chỉ sợ những băng vải, khăn vật chất, xa hoa, ham muốn hưởng lạc, chức tước cao sang, quyền lợi, thế giá, tiếp tục níu kéo, kềm hãm con người ở lại mãi trong nấm mồ sự chết chóc, đen tối.

“Đừng để lúc sắp bước chân vào ngưỡng cửa đời đời, con hối tiêc vì đã đổi “của thiệt” lấy toàn “đồ giả.” (Đường Hy Vọng, số 676)

Lạy Chúa Giêsu, xưa kia đã hồi sinh Lazarô chết bốn ngày, chôn trong mộ, xin hồi sinh chúng con, xin giúp chúng con mau thoát khỏi nấm mồ tội lỗi, giúp chúng con tỉnh thức, ăn năn, sám hối, sống theo Lời Chúa, hầu được phúc đời đời.

Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ cầu bầu, giúp đỡ cho chúng con củng cố niềm tin sắt son vào Con Mẹ. Xin mở mắt, mở tai chúng con sáng suốt, noi gương Mẹ, để có Chúa mãi trong cuộc đời. Amen.

[Mục Lục]

Bài 18. CUỘC SỐNG BẤT TỬ
Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Thực tế, con người ai cũng muốn kéo dài sự sống.Không ai thích chết,nhưng luôn muốn có một cuộc sống lâu dài, nếu không nói được là bất tử.Tuy nhiên, đây chỉ là giấc mơ của con người. Bởi vì, từ xưa tới nay dù con người có dày công nghiên cứu.Khoa học có tiến bộ vượt bực, y khoa có cao vời, con người vẫn không thể nào kiếm được thuốc trường sinh! Một điều hiển nhiên, đã là con người tất nhiên đều phải chết ! Nhưng chính Chúa Giêsu đã tuyên bố và đã thực hiện : “Tôi là sự sống lại và là sự sống” (Ga 11, 25).

Phép lạ Chúa Giêsu làm cho Lagiarô chết chôn trong mồ đã bốn ngày sống lại đã minh chứng Ngài là Đấng Thiên Sai, Ngài là Đấng có uy quyền tuyệt đối trên sự sống và sự chết của con người, Ngài là Con Thiên Chúa, là chính Thiên Chúa, Đấng ban sự sống và sự sống lại cho tất cả những ai tin vào Ngài. Nếu, chúng ta đọc Tin mừng của Chúa Giêsu, chúng ta nhận thấy có một sợi chỉ đỏ xuyên suốt từ Phúc Âm Nhất Lãm tới Tin mừng của thánh Gioan về Con Người Toàn Năng của Chúa. Chúa Giêsu là Đấng được Thiên Chúa Cha sai đến trần gian để cứu độ con người, Ngài là Con Thiên Chúa và cũng là chính Thiên Chúa. Đọc Tin mừng chúng ta nhận ra một Thiên Chúa nhân từ, gần gũi với mọi người, đặc biệt là những con người khó nghèo, bần cùng, tội lỗi, những con người thấp cổ bé họng, những con người bị xã hội đẩy ra bên lề. Đọc Tin mừng của thánh Gioan, người phụ nữ bên bờ thành giếng Giacop, người phụ nữ mà Chúa Giêsu đã biết hết cuộc đời riêng tư của bà và qua cuộc trao đổi có thể nói được là rất lạ lùng này, bà đã xin Chúa cho bà thứ nước không hề khát, để bà hằng ngày khỏi phải tới để múc ở giếng Giacop. Nước Hằng Sống hay Bánh Trường Sinh sẽ được Chúa giải thích trong Tin Mừng. Hôm nay, trong đoạn Tin Mừng của thánh Gioan trích đọc Chúa nhật V Mùa chay, năm A, chúng ta nhận ra vị thuốc trường sinh hay nói cách nôm na hơn Vị bác sĩ có thuốc trường sinh là Chúa Giêsu: “Chính Thầy là sự Sống lại và là sự Sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11, 25). Đúng thật, thuốc trường sinh là ở đây! Vị bác sĩ làm ra thuốc bất tử là ở đây. Tuy nhiên, đã có bao người nhận ra Con Thiên Chúa là Đấng cầm quyền sinh tử! Vâng, chính vì lòng tin sâu xa của Maria và Matta mà phép lạ Chúa Giêsu hồi sinh Lagiarô đã xảy ra. Matta đã thưa với Chúa Giêsu : “Thưa Thầy có.Con vẫn tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian” (Ga 11, 27).Tuy nhiên, phép lạ làm cho Lagiarô chết chôn trong mồ bốn ngày được hồi sinh, ám chỉ việc lạ lùng lớn lao hơn nhiều. Đức Kitô sẽ chịu chết, được mai táng trong mồ và sau ba ngày, Ngài sẽ phục sinh. Mùa chay, đặc biệt tuần thánh sẽ giúp người Công giáo hiểu thế nào là tình thương của Chúa, thế nào là sự chết và phục sinh. Chúa đã chiến thắng tử thần và sống lại khải hoàn. Do đó, những ai tin vào Thiên Chúa cũng sẽ được Ngài cho sống lại. Đó là đức tin của tất cả những ai tin vào Thiên Chúa.

Đối với người Công giáo, tin vào sự sống và sự chết là mầu nhiệm cao cả, lớn lao. Ngay sau khi truyền phép, Vị chủ tế đọc : “Đây là Mầu nhiệm đức tin” …Mọi người thưa : “Con tuyên xưng Chúa đã chết đi. Con tuyên xưng Ngài đã sống lại…”. Thánh Phaolô cũng đã viết : “Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của mình” (1 Co 15, 17). Chính lòng tin đã cứu chữa chị. Chị hãy về đi và tin nay đừng phạm tội nữa. Chúa Giêsu đã nói với người phụ nữ ngoại tình như thế. Một lời đầy yêu thương, một lời đầy an ủi. Trong vụ này, biết bao người đã hăm hở để kết án, ném đá người phụ nữ ngoại tình. Nhưng Chúa Giêsu lại có thái độ tha thứ thật yêu thương và đầy an ủi. Đức Kitô đã hy sinh mạng sống cho nhân loại, cho mọi người, cho từng người. Tình yêu của Ngài là tình yêu vô vị lợi, tình yêu tự hiến. Chết mới nói lên tất cả mọi sự. Khi nào Ta bị treo lên, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng ta. Chúa đã chết đi và sống lại để cho nhân loại được sống. Đức tin đã làm nên nhiều phép lạ. Người phụ nữ Samaria bên bờ thành giếng Giacop đã được Chúa mở cõi lòng và ban đức tin. Nên, bà đã phấn khởi, hạnh phúc về nhà kể lại cho mọi người biết về một Con Người đã thấu suốt tất cả cuộc đời của bà. Cuộc sống ở trần gian này chỉ là tạm bợ. Người ta sẽ không thể tìm được bất cứ một bác sĩ, một lang y, hay một thứ thuốc trường sinh nào. Chúa Giêsu chính là thuốc trường sinh ban cho con người sự sống đời đời.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa chính là sự sống, là nguồn sống cho con người, cho nhân loại.Chúa đã chiến thắng sự chết, tiêu diệt sự chết và phá tan mọi nguyên nhân gây ra cái chết. Xin ban cho những ai tin vào Chúa luôn tìm được sự sống bởi vì thánh Phaolô đã viết : “Đối với tôi, sống là Đức Kitô và chết là một mối lợi” (Pl 1, 21).

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1. Đối với những người có lòng tin sự sống ở trần gian này là gì?
2. Ai giúp chúng ta tin có sự sống lại?
3. Matta thưa với Chúa thế nào khi Chúa đến nhà Maria, Matta mà Lagiarô đã chết?
4. Chúa đã hồi sinh cho Lagiarô cách nào?

[Mục Lục]

Bài 19. TA LÀ SỰ SỐNG LẠI VÀ LÀ SỰ SỐNG
Lm. Đan Vinh

I. HỌC LỜI CHÚA

1. TIN MỪNG: Ga 11,3-45

2. Ý CHÍNH:

Đức Giê-su đến làng Bê-ta-ni-a thì La-da-rô đã chết và chôn được bốn ngày. Gặp Mác-ta và Ma-ri-a là chị người chết đang khóc thương em, Đức Giê-su đã trấn an họ rằng: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết cũng sẽ được sống” (25). Khi ra thăm mộ của La-da-rô, Đức Giê-su đã cầu nguyện với Chúa Cha rồi truyền cho La-da-rô ra khỏi mồ (43) và người chết liền trỗi dậy đi ra ngoài. Qua phép lạ phục sinh La-da-rô này, Đức Giê-su đã mặc khải Người chính là Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa hằng sống. Người sẽ ban sự sống và sự sống lại muôn đời cho những ai đặt trọn niềm tin nơi Người.

3. CHÚ THÍCH:

– C 1-5: + La-da-rô: là tên của người bạn thân với Đức Giê-su, ở làng Bê-ta-ni-a (x. Ga 11,3). Ngoài La-da-rô này, cũng còn một người khác làm nghề ăn xin cũng tên là La-da-rô trong Tin Mừng Lu-ca (x. Lc 16,20). + Bê-ta-ni-a: Là một làng nằm ở phía Đông núi Cây Dầu, cách Giê-ru-sa-lem khoảng ba cây số (x. Ga 11,18). Đức Giê-su thường đến trọ tại làng này mỗi khi có dịp lên Giê-ru-sa-lem. Ngoài ra, còn một Bê-ta-ni-a khác là nơi Đức Giê-su chịu phép rửa (x. Lc 16,20). + Mác-ta: là chị lớn trong ba chị em. Bà có tính tình năng nổ hướng ngoại, thể hiện khi đón tiếp Đức Giê-su (x. Lc 10,38-42). + Ma-ri-a: là em của Mác-ta, có tính trầm lặng hướng nội, sẵn sàng hy sinh bình dầu thơm quý giá để xức chân Người (x. Ga 12,1-8). Theo phần lớn các nhà chú giải Thánh Kinh: Cần phân biệt cô Ma-ri-a này với nhiều người khác cũng tên Ma-ri-a như: người đàn bà tội lỗi (x. Lc 7,36-50), người phụ nữ ngoại tình (x. Ga 8,3-11), nữa Ma-ri-a Ma-đa-lê-na được trừ khỏi bảy quỷ ám (x. Lc 8,2).

– C 6-16: + Mới đây người Do thái tìm cách ném đá Thầy: Các môn đệ mang tâm trạng sợ hãi vì ý thức nguy hiểm: Thầy có thể bị kẻ thù giết hại tại Giê-ru-sa-lem. + Ban ngày chẳng có mười hai giờ đó sao ?: Đức Giê-su quyết tuân theo chương trình Chúa Cha đã truyền. + La-da-rô, bạn của chúng ta đang yên giấc. Tuy vậy, Thầy đi đánh thức anh ấy đây: Đức Giê-su dùng chữ “ngủ” để ám chỉ cái chết, giống như trường hợp của con gái ông Gia-ia (x. Mc 5,39). Thánh Phao-lô cũng coi cái chết chỉ là một giấc ngủ (x. 1 Tx 4,14), là một bước phải vượt qua đến sự sống lại (x. Ep 5,14). + Thầy mừng cho anh em, vì Thầy đã không có mặt ở đó, để anh em tin: Đức Giê-su mừng vì môn đệ sắp được dịp chứng kiến Người truyền cho La-da-rô sống lại, để các ông vững tin nơi Người.

– C 17-27: + Khi đến nơi, Đức Giê-su thấy anh La-da-rô đã chôn trong mồ được bốn ngày rồi: Theo phong tục người Do thái thì người chết thường được chôn ngay trong ngày vừa chết (x. Cv 5,6). Người Do thái tin rằng trong ba ngày đầu, hồn vía người chết còn lảng vảng gần xác chết. Sang ngày thứ tư khi xác thối rữa, nó mới tan đi. Con số bốn ngày ở đây như muốn nói La-da-rô đã chết thật sự. + Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết: Thời Cựu Ước, nhiều người tin có sự kẻ chết sống lại (x Đn 12,2-3; 2 Mcb 7,23). Đến thời Đức Giê-su, nhóm Pha-ri-sêu cũng tin như vậy, nhưng nhóm Xa-đốc thì không tin (x Cv 23,8). Riêng Mác-ta tuy tin kẻ chết sẽ sống lại trong ngày tận thế như nhóm Pha-ri-sêu, nhưng vẫn muốn Đức Giê-su làm phép lạ cho em được sống lại ngay lúc này. + Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống: Đức Giê-su là sự sống phát xuất từ Chúa Cha (x. Ga 5,26). Người làm cho những kẻ tin Người được sống đời đời (x. Ga 5,24-25). Người cũng sẽ ban cho những kẻ tin được sống lại vào ngày cánh chung, dù xác của họ có bị tiêu hủy cũng sẽ được sống lại (x. Ga 5,28-29). + Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian: Mác-ta tuyên xưng Đức Giê-su chính là Đấng Thiên Sai (x. Ga 1,19).

– C 28-37: + Thấy cô khóc, và những người Do thái đi với cô cũng khóc, Đức Giê-su thổn thức trong lòng và xao xuyến: Theo thói tục của người Do thái, khi có khách đến viếng xác, thì người nhà bật khóc to, và khách cũng tự nhiên phát khóc lên theo.

– C 38-44: + Đức Giê-su thổn thức trong lòng: Trước sự đau khổ của tang gia, Đức Giê-su có thái độ cảm thông đầy tình người. Nhưng thực ra nguyên nhân sâu xa khiến Đức Giê-su khóc một phần còn vì sự cứng lòng tin của những người Do thái hiện diện (37) và còn vì niềm tin nửa vời của hai chị em Mác-ta và Ma-ri-a nữa (39). + Đem phiến đá này đi: Phần mộ của người Do thái giàu có thường khoét vào núi đá. Sau khi tắm rửa, xác chết được xức thuốc thơm, cột lại bằng giây băng vài và phủ khăn liệm, đưa vào mồ chôn cất rồi lấp ngòai cửa mồ bằng một tảng đá lớn, như hai môn đệ đã an táng Đức Giê-su sau này (x Ga 19,40-42). + Thưa Thầy, nặng mùi rồi, vì em con ở trong mồ đã được bốn ngày: Tuy Mác-ta vừa tuyên xưng đức tin, nhưng vẫn nghi ngờ Ngừơi có thể làm cho La-da-rô sống lại. + Chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao ?: Vinh quang ở đây là quyền năng Thiên Chúa tỏ hiện qua việc người sắp cho La-da-rô từ cõi chết sống lại. + Đức Giê-su ngước mắt lên và nói: “Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con”: Người Do thái khi cầu nguyện thì quay mặt về hướng Đền thờ Giê-ru-sa-lem. Còn ở đây Đức Giê-su lại ngước nhìn lên trời. Đây sẽ là lối cầu nguyện của các Ki-tô hữu sau này. + Người kêu lớn tiếng: “Anh La-da-rô, hãy ra khỏi mồ !”: Đức Giê-su ra lệnh cho người chết sống lại. Điều đó cho thấy Người có quyền trên sự chết. + Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi: La-da-rô sau khi sống lại phải được người khác cởi khăn và vải liệm. Trái lại, Đức Giê-su sau khi phục sinh, những băng vải vẫn còn để lại trong mồ và khăn che đầu Người cũng được cuốn lại và xếp để riêng ra một nơi (x. Ga 20,5-7).

4. CÂU HỎI:

1) Ma-ri-a Bê-ta-ni-a có phải là người đàn bà tội lỗi, người phụ nữ ngoại tình sắp bị ném đá hay bà Ma-ri-a Ma-đa-le-na hay không? 2) Đức Giê-su nói La-da-rô đang yên giấc là muốn ám chỉ điều gì? Hai trường hợp khác tương tự là những trường hợp nào? 3) Theo phong tục Do Thái thì người chết được chôn vào thời điểm nào? Ở đây việc La-da-rô được chôn bốn ngày rồi mang ý nghĩa gì? 4) Thời Đức Giê-su, niềm tin về việc kẻ chết sống lại giữa hai phái Xa-đốc và Biệt phái khác nhau ra sao? 5) Tại sao Đức Giê-su lại thổn thức trong lòng và xao xuyến khi thấy Mác-ta và người đi theo cô khóc? 6) Khi nói: “Thưa Thầy, nặng mùi rồi, vì em con ở trong mồ đã được bốn ngày” Mác-ta có hòan tòan tin vào quyền năng phục sinh kẻ chết của Đức Giê-su không? 7) Ngày nay các tín hữu hướng về đâu khi cầu nguyện? Tại sao? 8) Tình trạng của La-da-rô sau khi được Đức Giê-su cho sống lại khác với tình trạng sống lại của Đức Giê-su thế nào?

II. SỐNG LỜI CHÚA

1. LỜI CHÚA: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết cũng sẽ được sống” (Ga 11,25).

2. CÂU CHUYỆN: SỐNG LẠI THẬT VỀ PHẦN LINH HỒN

SI-TA ĐE-LI vốn là một kẻ chuyên quậy phá kẻ khác. Anh đã nhiều lần vào tù ra khám vì tội phá phách cướp giựt. Trong phiên tòa lần thứ năm, quan tòa đã phải tuyên bố như sau: “Có phạt anh thêm nữa cũng vô ích ! Nhưng chúng tôi vẫn phải cách ly anh. Chúng tôi đã làm hết cách. Quả thật chúng tôi đã hoàn toàn thất vọng về anh”. Vào tù lần này, ĐE-LI lại ngựa quen đường cũ: có những hành vi vô kỷ luật và đàn áp bạn tù yếu thế hơn mình, nên anh đã bị biệt giam trong hai tuần lễ. Nhưng một phép lạ đã xảy ra: Khi đang phải nằm thu mình trong một căn hầm chật hẹp tăm tối, nằm trên nền đá ẩm mốc hôi hám, ĐE-LI đã có dịp suy nghĩ và nhớ lại những lỗi lầm đã phạm. Vốn là con một trong gia đình giàu có, được cha mẹ cho đi học, nhưng anh lại lười biếng và ăn cắp tiền của cha mẹ rồi sau đó bỏ nhà đi hoang. Từng được nhà trường đánh giá là một học sinh thông minh giàu sáng kiến và chỉ có thói xấu ham vui. Vậy tại sao anh lại không sử dụng những tài năng đó để làm việc tốt hữu ích cho tha nhân, mà lại bỏ nhà ra đi và phải mang thêm tội đàn áp bóc lột kẻ khác ? Rồi sau đó anh bắt đầu có những giấc mơ đẹp về Đức Giê-su, mà anh đã từng biết khi theo học khóa giáo lý vỡ lòng. Dường như anh thấy Đức Giê-su đang âu yếm nhìn anh và mời anh đi theo Người. Rồi hình ảnh những người từng bị anh gây thương tích lần lượt hiện ra trong tâm trí anh. Tự nhiên anh cảm thấy một tình cảm dào dạt với họ. Chính tình thương ấy đã tắm mát và chữa lành những vết thương trong tâm hồn sơ cứng của anh. Cảm nghiệm ấy đã dần dần biến đổi anh nên một người mới đầy tràn tình yêu của Đức Giê-su. Sau hai tuần lễ, ĐE-LI được ra khỏi ngục biệt giam và trở lại phòng giam thường phạm. Anh không còn thái độ bắt nạt bạn tù, trái lại còn sẵn sàng bênh vực những kẻ thân yếu thế cô. Anh xin cha tuyên úy nhà giam theo học lớp Thánh Kinh hằng tuần. Anh trở thành người học trò chăm chỉ và xuất sắc nhất trong đám bạn tù. Mấy năm sau, khi được mãn hạn tù, anh đã trở thành chủ tịch hội “Cải cách chế độ lao tù”. Khi nói về anh, cha tuyên úy nhà lao đã nói: “Si-ta Đe-li là một phép lạ sống động mới xảy ra: Không những anh là một tội nhân được ơn sám hối, mà còn thực sự trở nên một tạo thành mới, một tín hữu tốt lành thánh thiện và là môn đệ đích thực của Chúa Giê-su”.

3. SUY NIỆM:

1) “Đức Giê-su là sự sống lại và là sự sống”:

La-da-rô và hai người chị Mác-ta, Ma-ri-a là bạn thân của Đức Giê-su tai làng Bê-ta-ni-a. Nhà của họ là nơi Đức Giê-su và các môn đệ của Người ở trọ mỗi lần các ngài đi lên Giê-ru-sa-lem. Với tình bạn thâm giao ấy, khi La-da-rô bị bệnh nặng, Mác-ta đã vội sai người nhà đi báo tin cho Đức Giê-su biết. Nhưng Đức Giê-su lại cố ý trì hoãn không đến ngay vì Người muốn dùng sự kiện này để chứng minh Người “là sự sống lại và là sự sống”, nên đã nói với các môn đệ: “La-da-rô đã chết. Thầy mừng cho anh em, vì Thầy đã không có mặt ở đó, để anh em tin” (Ga 11,14-15).

2) Về đức tin của hai chị em Mác-ta và Ma-ri-a:

Qua Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy về hai cách biểu lộ đức tin như sau:

– Về đức tin tuyên xưng ngoài môi miệng của Mác-ta: Vừa được tin Đức Giê-su đến, cô Mác-ta liền ra đón Người. Cô nói với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết. Nhưng bây giờ con biết: “Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy”. Đức Giê-su nói: “Em chị sẽ sống lại !” Cô Mác-ta thưa: “Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết”. Đức Giê-su liền phán: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không ?” Cô Mác-ta đáp: “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian (Ga 11,20-27). Tuy nhiên đức tin thể hiện bằng lời nói của Mác-ta vần chưa phải đức tin vững mạnh: Khi đến trước mộ của La-da-rô, Đức Giê-su nói: “Đem phiến đá này đi”. Cô Mác-ta là chị người chết liền nói: “Thưa Thầy, nặng mùi rồi, vì em con ở trong mồ đã được bốn ngày”. Đức Giê-su bảo: “Nào Thầy đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao ?” (Ga 11,39-40).

– Về đức tin cậy trông tín thác vào Đức Giê-su của Ma-ri-a: Cô Ma-ri-a thì tin mạnh mẽ vào Đức Giê-su thể hiện qua như sau: Nghe tin Thầy đến, cô Ma-ri-a “vội đứng lên và đến với Đức Giê-su”. Vừa thấy Người, cô liền phủ phục dưới chân và nói: “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết” (Ga 11,29.32). Đức tin của Ma-ri-a thể hiện qua thái độ cậy trông vào quyền năng và tình thương của Thầy nên không nói nhiều mà chủ yếu là thái độ yên lặng, hoàn toàn tin tưởng phó thác để Thầy toàn quyền định liệu. Chính nhờ biết ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người đã giúp Ma-ri-a đạt tới đức tin cậy trông tín thác vào Chúa Giê-su (x. Lc 10,38-40).

3) Sống đức tin cụ thể hôm nay:

– Hãy trở thành ngôn sứ của sự sống, tình thương và niềm vui: Trong sứ điệp ngày Giới Trẻ Thế Giới năm 1996, Đức Gio-an Phao-lô II đã khuyên các bạn trẻ như sau: “Hãy trở nên những ngôn sứ của sự sống và tình thương, những ngôn sứ của niềm vui. Hiện nay tuy nhân loại ngày càng văn minh hơn. Nhưng vẫn có nhiều bóng tối của sự chết như: chiến tranh, đói kém, phá thai, tự tử, si-đa, ám sát, đặt mìn, tai nạn giao thông… Những cái chết về thể xác phản ảnh một cái chết nguy hiểm hơn. Đó là cái chết của Tình Yêu trong lòng con người ! Cái chết ấy sẽ thắng thế khi con người sống buông thả, chán chường và khép kín trong sự ích kỷ. Nhưng chúng ta có Đức Giê-su là “Sự Sống Lại và là Sự Sống”. Một khi chúng ta liên kết mật thiết với Người, chúng ta cũng có thể thông truyền sự sống, tình thương và niềm vui cho thế giới, giống như Đức Giê-su xưa đã trả lại sự sống cho La-da-rô và lau khô giọt lệ cho hai chị em Mác-ta và Ma-ri-a… Ki-tô hữu phải sẵn sàng lao tới bất cứ nơi đâu có những anh em cần được giúp đỡ, những nơi có những giọt nước mắt cần được lau khô, những nơi có những lời cầu cứu đang mong chờ được đáp ứng”.

– Đức tin thực sự phải thể hiện qua hành động cậy trông yêu mến: Thánh Gia-cô-bê đã đề cao đức tin tín thác và hành động chia sẻ như sau: “Thưa anh em, ai bảo rằng mình có đức tin mà không hành động theo đức tin, thì nào có ích lợi gì? Đức tin có thể cứu người ấy được không? Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ: “Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no, nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì? Cũng vậy, đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết” (Gc 2,14-17).

4. THẢO LUẬN: Chúng ta cần phải làm gì để trở thành Ngôn Sứ của Sự Sống, sẵn sàng chia sẻ sự sống của Chúa cho đồng bào Việt Nam, cho những người bệnh tật đau khổ đang sống chung quanh chúng ta?

5. NGUYỆN CẦU

– LẠY CHÚA GIÊ-SU. Hôm nay chúng con chưa chết nên không xin Chúa cho sống lại về phần xác, nhưng chúng con xin Chúa ban cho chúng con sống lại thật về phần linh hồn: để không những chiến thắng kẻ thù cuối cùng là sự chết, mà còn tiêu diệt những nguyên nhân dẫn tới cái chết như tham lam tiền bạc, ham mê rượu chè, chích hút và những đam mê bất chính khác… Xin cho chúng con thắng vượt sự thất vọng, buồn chán, sống không lý tưởng…

– LẠY CHÚA. Xin giúp chúng con biết tôn trọng sự sống nơi bản thân và gia đình con. Xin cho chúng con biết bảo vệ môi trường sống, và luôn sống kết hiệp với Chúa Thánh Thể là Nguồn Sống Mới. Xin cho chúng con biết siêng năng đón nhận Lời Chúa và Thánh Thể mỗi ngày để chúng con luôn có sự sống của Chúa nơi chúng con, và ngày sau chúng con cũng được sống mãi trong cuộc sống vĩnh hằng.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.
Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

[Mục Lục]

Bài 20. CHÚA GIÊSU MẶC KHẢI MẦU NHIỆM PHỤC SINH
P.
Trần Đình Phan Tiến

Vâng, từ ngữ Phục sinh, có thể nói là một cụm từ “độc quyền” của Kitô giáo, và của Công Giáo nói riêng cũng. Vì ngoài Chúa Giêsu ra không có một ai từ cõi chết sống lại cả. Cụm từ độc quyền ở đây không phải là độc tài, không phải là ích kỷ, chỉ dành cho riêng mình.

Vâng, kính thưa quý vị! Điều gì quan trọng hơn sinh – tử, giàu, nghèo, sang, hèn, ngu dốt, hay thông thái, đều phải cúi chào Sinh – Tử. Vâng, sinh –tử là hai điểm mấu chốt của đời người. Có sinh, ắt có tử. Sinh –Tử, Tử – Sinh là chuyện thường tình, nhưng là một điều vô cùng hệ trọng. Dù nói, dù ăn, dù khôn ngoan, học thức, hay ngu dốt, quyền thế, hay culi, tự do, nô lệ đều phải chết. Nhưng vấn đề đặt ra là: Tại sao phải chết? Sự chết không phải là điều Thiên Chúa tạo thành. Đây là một điều chắn chắc, bởi vì nơi Thiên Chúa sự chết không ngự trị được. Vì Thiên Chúa là sự Hằng Sống. Là Nguồn sống, là đích đến của thụ tạo.

Vâng, không có Tin Mừng của Chúa Nhật nào quan trọng hơn chủ đề của Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay. Chúa Giêsu đã làm cho người chết sống lại (Ga 11,1- 45). Người chết, được sống lại là Lazaro, một nhân vật có tên tuổi, có quê quán, có thân nhân, có người chung quanh chứng kiến. Điều mà Chúa Giêsu làm cho Lazaro, là điều mà biết bao nhiêu hôn quân, bạo chúa từ cổ chí kim mong ước kiếm tìm, nhưng không thể gặp được vị thần “trường sinh bất tử”, hay vị thần “phục sinh”. Nhưng nếu ai gặp và tin vào Chúa Giêsu thì người ấy sẽ được toại nguyện. Như Lời Chúa nói với cô Matta : “Chính Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Ta thì dù có chết, cũng sẽ được sống lại. Ai sống mà tin Ta sẽ không chết bao giờ. Chị có tin như thế không?” (Ga 11, 25-26).

Vâng , nhân thế chỉ sợ cái chết, vì chết là hết, chết là một cái gì đó thiệt thòi nhất,lỗ lã nhất, bất hạnh nhất, vì cái chết mà không có Đức Kitô và không thuộc về Đức Kitô và không tin vào Đức Kitô, thì cái chết đó quả là thiệt thòi nhất, đau buồn nhất, bất hạnh nhất.

Như vậy, cụm từ “Phục Sinh” quả thật là “độc quyền” là “duy nhất”, bởi vì chỉ có một mình Thiên Chúa sở hữu, nhưng Thiên Chúa không độc tài, mà Thiên Chúa trao ban sự “độc quyền” đó cho những ai tin vào Đức Kitô, là một Ngôi Vị Thiên Chúa, đã làm Người để trao ban sự “ độc quyền” sự sống và sự sống lại cho những ai tin vào Người, vì Người đã đổi lấy sự “độc quyền” ấy từ cuộc tử nạn của Người. Từ đó, Người có quyền tự Phục Sinh và trao ban sự phục sinh cho kẻ tin.

Tại sao nơi Chúa Giêsu có sự sống và sự sống lại?

Thưa, đó là “Thần Khí ”, vì Thần Khí chính là sự sống. Vì Thần Khí mới làm cho sống, chứ xác thịt không có ích chi. Xác thịt chỉ sự được tạo thành, còn Thần Khí chính là sự tạo dựng, quyền năng tạo dựng. Đó là Thiên Chúa.

Bài đọc I (Ed 37 , 12-14) và thánh thư Phaolô (Rm 8, 8 – 11) cho chúng ta hiểu rõ về những gì mà Đức Kitô đã làm cho Lazaro. Theo đó, niềm tin vào Đức Kitô là một sự hợp lý về phương diện siêu nhiên, mà không có cơ sở nào khác phản biện được, có chăng chỉ là ngụy biện và tự lừa dối mình. Nếu, những ai từ chối hoặc tránh trút Đức Kitô, quả là thiệt thòi cho họ.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã cho Lazaro sống lại là Chúa muốn Mặc Khải sự sống lại từ Chúa. Và quyền năng sự sống và sống lại từ Chúa là một điều chân thật, bởi vì chính Chúa là Nguồn sống, là Thần Khí và là chân lý. Xin cho chúng con biết tin vào Lời Chúa để có sự sống đời đời. Amen./.

[Mục Lục]

Bài 21. NIỀM TIN VÀO CHÚA GIÊSU: CHÌA KHÓA DẪN VÀO SỰ SỐNG
Ban Mục vụ Thánh Kinh & Ban Phụng tự, TGP Sài gòn

“Ta là Sự Sống Lại và là Sự Sống.” (Ga 11,25)

I. CÁC BÀI ĐỌC

1. Bài đọc I – Ed 37,12-14

Đây là phần kết của thị kiến rất nổi tiếng của ngôn sứ Edêkiel, thị kiến những bộ xương khô. Qua thị kiến này, Êdêkiel muốn loan báo thời lưu đày đã tới hồi chấm dứt để bắt đầu một thời đại mới. Đồng thời loan báo này còn là một lời giải thích cho sự nghi ngại của những người đang lưu đày: làm sao lại có thể thoát khỏi ách nô lệ để được tự do hoàn toàn? làm sao Giuđa lại có thể có được ngày phục hưng trước sức mạnh bá chủ của vua Nabucôđônôsô? Ngôn sứ Êdêkiel đã xác nhận: dân Israel hoàn toàn không có khả năng phục hồi giống như bộ xương đã khô đét, nhưng quyền năng Chúa sẽ làm phục sinh những bộ xương khô ấy. Nhờ đó dân Israel sẽ được phục hưng và trở thành một dân tộc thống nhất và hùng mạnh.

Trong nội dung bài đọc I, chúng ta thấy có những kiểu diễn tả có cùng một nội dung được lập đi lập lại, nhằm diễn tả sự ra tay oai hùng của Thiên Chúa để dẫn dân từ cõi chết đến cõi sống như: ‘mở cửa mồ, kéo ra khỏi mồ…dẫn dắt vào đất; mở cửa mồ, kéo ra khỏi mồ; ban thần trí…sẽ được sống; cho an cư.’ chỉ để nhằm cho dân biết rằng: Thiên Chúa luôn là Đức Chúa của dân.

2. Bài đọc II – Rm 8,8-11

Khởi đi từ nguyên tắc: sống theo xác thịt đối lập với sống theo Thần Khí, thánh Phaolô khuyên tín hữu Rôma đừng sống theo xác thịt vì điều đó không thể làm đẹp lòng Thiên Chúa, nhưng hãy mở lòng ra cho Thần Khí của Thiên Chúa ngự trị và hướng dẫn. Thần Khí của Thiên Chúa cũng chính là Thần Khí mà Đức Kitô đã lãnh nhận từ nơi Cha và thông ban cho những kẻ thuộc về Ngài.

Thánh Phaolô còn quả quyết: nếu Đức Kitô ở trong người nào, thì dù thân xác họ có phải chết bởi tội lỗi thì Thần Khí cũng làm cho họ được sống bởi sự công chính của Đức Kitô qua cái chết và sự phục sinh của Người.

Đây không phải chỉ là một tuyên bố mang tính lý thuyết nhưng là một thực tại đã xảy ra nơi cái chết và sự phục sinh của chính Đức Kitô, và vì thế trở nên niềm hy vọng chắc chắn được sống cho mọi Kitô hữu, những người đang mang trong mình Thần Khí của Đức Kitô.

3. Bài Phúc âm – Ga 11,1-45

Xoay quanh cái chết và việc Chúa Giêsu làm cho Lazarô sống lại, Thánh sử Gioan cài lồng vào đó là những mẩu đối thoại để diễn tả nhiều chân lý mạc khải:

Bệnh tật và sự chết là quy luật tất yếu của kiếp con người, mà theo Thánh Kinh nguyên nhân chính là do tội lỗi đã đi vào trần gian do tội bất tuân phục của con người trong tương quan với Thiên Chúa.

Cái chết và sự phục sinh nơi Lazarô cũng là một hình ảnh được thánh Gioan sử dụng để tiên báo về cái chết và cuộc phục sinh mà Đức Kitô sẽ trải qua không lâu sau đó.

Đối với Chúa Giêsu, cái chết chỉ là một ‘giấc ngủ’ bởi vì chắc chắn sự phục sinh sẽ xảy đến như một điều tất yếu cho những ai tin vào Người.

Đang khi cả Martha và Maria đều coi sự hiện diện của Chúa chính là chìa khóa để giải quyết vấn đề về cái chết: ‘Nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết’, thì Chúa Giêsu lại đặt nền tảng trên niềm tin vào chính Ngài: ‘Ai tin Ta, thì dầu có thết cũng sẽ được sống.’

II. GỢI Ý MỤC VỤ

1. ‘Ta sẽ kéo các ngươi ra khỏi mồ…và các ngươi sẽ được sống.’ Nếu nỗi tuyệt vọng và thái độ thiếu kiên nhẫn đã dẫn dân Do Thái phải từng bước đi đến chỗ suy vong và hủy diệt, ngôn sứ Êdêkiel lại khơi lên nơi họ niềm hy vọng và sự kiên nhẫn đợi chờ chính Chúa sẽ đến để mang họ ra khỏi cõi chết để đưa vào cõi sống bất diệt. Khi đối diện với những khó khăn và thử thách rất dễ đẩy con người vào chỗ bi quan và tuyệt vọng. Cơn cám dỗ này có ảnh hưởng ít nhiều trên đời sống đức tin của tôi không?

2. ‘Nếu Đức Kitô ở trong anh em , thì thân xác có phải chết vì tội, Thần Khí vẫn là sự sống.’ Niềm tin vào Đức Giêsu Kitô chính là chìa khóa dẫn con người vào cuộc sống vĩnh cửu. Khi luôn bị áp lực bởi cuộc sống ‘cơm áo gạo tiền’ mối ưu tư hàng đầu để sống đức tin của tôi là gì? Có là một chọn lựa ưu tiên cho niềm tin vững chắc vào Đức Giêsu Kitô không?

3. ‘Lagiarô bạn chúng ta đang ngủ.’ Quan niệm chết chỉ như một giấc ngủ làm cho con người không quá đớn đau vì nỗi xót xa mất đi người thân yêu. Quan niệm niệm này còn khơi lên người tín hữu niềm hy vọng vào sự sống lại, sự sống vĩnh cửu nơi Đức Giêsu Phục sinh, bên Thiên Chúa. Tôi có biết chọn lựa sống khôn ngoan để có được một cái chết đúng nghĩa không?

III. LỜI NGUYỆN CHUNG

Chủ tế: Anh chị em thân mến! Thiên Chúa đã ban cho tất cả chúng ta một đời sống mới trong Đức Giêsu Kitô, Đấng là sự sống lại và là sự sống. Trong tâm tình tri ân và phó thác, chúng ta cùng tha thiết dâng lời cầu nguyện.

1. Khi chứng kiến việc Chúa Giêsu làm, nhiều người Do Thái đã tin vào Người. Chúng ta hiệp ý cầu nguyện cho Đức Giáo Hoàng Phanxicô cùng các mục tử trong Hội Thánh, qua các hoạt động mục vụ và đời sống chứng tá của mình, tiếp tục củng cố đức tin của Dân Chúa và đem nhiều người đến với Đức Kitô.

2. Bà Martha thưa với Chúa Giêsu: “Con tin Thầy là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.” Chúng ta hiệp ý cầu nguyện cho những người đang gặp đau khổ hay bế tắc trong cuộc sống, tìm được nơi Đức Kitô niềm an ủi và hy vọng, để luôn biết tín thác và sống lạc quan trước mọi nghịch cảnh hiện tại.

3. Theo thánh Phaolô, những người sống theo xác thịt thì không thể đẹp lòng Thiên Chúa. Chúng ta hiệp ý cầu nguyện cho mọi kitô hữu biết từ bỏ bản thân, luôn lắng nghe và sống theo sự soi dẫn của Chúa Thánh Thần, để mỗi ngày được biến đổi trở nên những con người mới trong Đức Kitô khiêm hạ và vâng phục.

4. Ai tin thì sẽ được xem thấy vinh quang của Thiên Chúa. Chúng ta hiệp ý cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta, luôn trọn niềm tin vào Chúa Kitô, Đấng là sự sống lại và là sự sống, trung thành bước theo và hăng say làm chứng cho Chúa, để xứng đáng được chia sẻ vinh quang cùng với Người.

Chủ tế: Lạy Thiên Chúa là Cha và là Đấng cứu độ chúng con, xin thương nhậm lời chúng con cầu nguyện và ban ơn trợ giúp, để chúng con luôn vững lòng tin tưởng vào tình thương của Chúa và không ngừng canh tân cuộc sống trong Đức Kitô. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.

[Mục Lục]

Bài 22. GIEO MẦM SỰ SỐNG
Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

Tuần qua, trên báo có bài viết: “Đường đi của cái chết” nói về những đường dây ma túy từ Châu Phi và từ một số quốc gia đang đổ vào Việt Nam dưới rất nhiều hình thức. Một điều khó khăn cho những người có trách nhiệm đó là ma túy ngày nay rất đa dạng và rất mới, còn hành động của những kẻ gieo rắc cái chết trắng thì hết sức tinh vi và là một mạng lưới xuyên quốc gia. Những chất ma túy này hằng ngày đang gieo bao nhiêu sự chết chóc cho người Việt, gây nên một sự bạc nhược uể oải cho lớp trẻ, và ăn mòn tuổi trẻ của nhiều người. Bên cạnh những cái chết trắng còn có nhiều người đang gieo cái chết âm thầm cho người khác qua việc sản xuất thực phẩm không an toàn, hoặc gieo rắc những hình ảnh những lối hành xử giết chóc vào trong tâm hồn người khác qua phim ảnh bạo lực sách báo với lối sống thù hằn. Ở Việt Nam còn có cái chết mà các nơi khác rất ít có, đó là cái chết đường phố: những hung thần trên đường phố tại Việt Nam mỗi tháng cũng cướp đi sinh mạng của hàng ngàn người, mỗi năm hơn 10 ngàn người chết vì tai nạn giao thông, và cũng có từng đó người thương tật.

Thưa quý OBACE, xã hội và thế giới quanh ta dường như càng ngày càng được bao trùm bởi sự chết chóc, lo âu và sợ hãi như thế, thì Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy Thiên Chúa là Đấng muốn cho con người được sống và sống hạnh phúc. Đức Giêsu chính là Đấng đã sống lại từ cõi chết và đem đến sự sống cho nhân loại. Câu chuyện Chúa Giêsu cho anh Lazarô được sống lại hôm nay muốn nói lên điều đó.

Cái chết là đau khổ tột cùng của con người, đau khổ cho cả người chết và người còn sống. Khi đối diện với cái chết con người lo âu sợ hãi, sợ hãi vì họ phải đối đầu với cái chết một mình, cảm thấy cô đơn không có ai đi cùng. Đối diện với cái chết người ta sợ hãi là vì người ta không biết bên kia cánh cửa sự chết điều gì sẽ xảy ra cho họ, và họ sẽ bị hủy diệt vĩnh viễn. Chính vì thế mà ai cũng muốn kéo dài sự sống. Bên cạnh đó cái chết còn để lại cho người sống một nỗi đau đớn mất mát vì phải vĩnh viễn chia tay với người thân yêu. Vì những lý do đó mà cái chết luôn là sự ám ảnh sợ hãi cho con người.

Trong cái nhìn đó, chúng ta mới thấy hoàn cảnh đau thương của gia đình Matta và Maria, họ chỉ có ba chị em, mà giờ đây mất đi người em út. Đọc câu chuyện chúng ta thấy cái chết của Lazarô đã làm cho tinh thần của hai người chị xuống dốc trầm trọng và đức tin của họ bị chao đảo và thử thách nặng nề. Trước đây, họ vẫn đón tiếp Chúa Giêsu như một vị Thầy quyền năng, và chắc chắn đã nhiều lần hai cô cũng chứng kiến việc Chúa làm phép lạ cho kẻ chết sống lại, tuy nhiên lần này khi Lazarô bị bệnh nặng, báo tin cho Thầy Giêsu, thì Thầy đã không đến ngay, vì thế hai cô rơi vào thất vọng, nên khi Đức Giêsu vừa đến thì cô Matta đã trách Chúa trong tuyệt vọng: Nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết.

Dù là trách Chúa, nhưng cô vẫn còn một chút hy vọng khi cô nói: Nhưng con biết bây giờ Thầy xin gì cùng Thiên Chúa, thì Người cũng sẽ ban cho Thầy. Chúa Giêsu đã không nỡ để cho hy vọng cuối cùng ở nơi cô bị vụt tắt nên Ngài đã nâng đỡ đức tin cho cô khi nói với cô: Em con sẽ sống lại. Tuy nhiên cô Matta vẫn chưa vượt qua được sự cản trở tự nhiên và sự suy nghĩ của con người, nên cô cũng chỉ nói lên niềm tin vào sự sống đời sau mà thôi, chứ cô không tin rằng Đức Giêsu có thể làm cho em cô sống lại ngay bây giờ, vì thế cô nói: Vâng con biết đến ngày tận thế thì em con sẽ sống lại.

Chúa Giêsu đã muốn cho cô Matta đi một bước xa hơn trong niềm tin vào quyền năng Thiên Chúa ở nơi Ngài, tin Ngài có thể làm được tất cả, nên Ngài mới giải thích cho Matta : Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống, ai tin vào Thầy thì dù có chết cũng sẽ được sống, ai sống mà tin vào Thầy thì không bao giờ phải chết. Giải thích điều đó, Chúa Giêsu muốn cô Matta tuyên xưng niềm tin của mình khi Ngài hỏi cô: Con có tin như thế không? Lúc này cô Matta đã vâng phục hoàn toàn không cần phải giải thích thêm, cô đã tuyên xưng: Thưa Thầy có. Con vẫn tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian. Với lời tuyên xưng này, cô Matta đã tin nhận Đức Giêsu là Đấng Kitô, có nghĩa là Đấng được xức dầu, là Đấng Cứu Thế, và còn tuyên xưng Ngài là Con Thiên Chúa, có nghĩa là tuyên xưng Đức Giêsu là chính Thiên Chúa, Đấng có quyền năng của một vị Thiên Chúa.

Mặc dù hoàn toàn tin tưởng Đức Giêsu là Thiên Chúa quyền năng, nhưng cô Matta, chị của người chết vẫn cứ để cho sự chết ràng buộc mình, cho nên khi Chúa Giêsu ra lệnh cho mọi người khiêng tảng đá lấp cửa mộ ra, thì cô Matta đã can ngăn mọi người : Thưa Thầy, không thể được, vì đã bốn ngày rồi. Một lần nữa Đức Giêsu lại nâng đỡ đức tin cho cô Matta : Nếu chị tin, chị sẽ thấy vinh quang Thiên Chúa. Bằng một mệnh lệnh : Lazarô hãy ra đây, người chết liền bước ra khỏi mồ, trên người còn quấn những khăn liệm. Chứng kiến phép lạ này nhiều người đã tin vào Đức Giêsu.

Đức Giêsu chính là Thiên Chúa là Đấng ban sự sống cho nhân loại và vũ trụ, Ngài là Đấng đã mang lấy thân phận của con người đã chấp nhận cái chết và đã dùng quyền năng của Thiên Chúa mà chỗi dậy từ cõi chết để đem đến cho nhân loại sư sống, những ai tin Ngài và đón nhận Ngài thì đón nhận được sự sống Ngài ban tặng. Việc hồi sinh cho Lazarô là một minh chứng về quyền năng của Thiên Chúa, tuy nhiên Lazarô vẫn chỉ hồi sinh để sống lại cuộc sống cũ, còn những người tin vào Đức Giêsu, thì đón nhận được một sức sống mới hoàn toàn khác hẳn với cuộc sống cũ. Sức sống mới này là sức sống của Thần Khí của Thiên Chúa mà Đức Giêsu trao ban sau khi Người từ cõi chết sống lại.

Thần Khí sự sống mà Đức Giêsu ban tặng đã được tiên tri Ezekiel nhắc đến khi tiên báo rằng: Thiên Chúa phán: Ta sẽ mở cửa mồ cho các ngươi, Ta sẽ đặt Thần Khí của Ta vào trong các ngươi, và các ngươi sẽ được hồi sinh. Thánh Phaolô đã hiểu điều này, đã tin và đã nói cho cộng đoàn Rôma rằng: Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, Ngài cũng sẽ dùng Thần Khí của Ngài mà làm cho thân xác anh em được sự sống mới.

Thưa quý OBACE, chúng ta vẫn phải đối diện với cái chết về thể xác, nhưng đối với những người tin vào Đức Giêsu, thì cái chết không còn là nỗi sợ hãi kinh hoàng nữa, vì chúng ta tin vào lời Chúa hứa hôm nay : Ai tin vào Thầy thì dù có chết cũng sẽ được sống, và ai sống mà tin vào Thầy thì sẽ không phải chết nữa. Do đó với người Kitô hữu cái chết sẽ trở nên nhẹ nhàng, là ngưỡng cửa bước qua để chúng ta được vào hưởng sự sống đời đời với Thiên Chúa.

Tuy nhiên chúng ta không chỉ mong đợi sự sống đời đời mai sau, nhưng ngay hôm nay, nhờ được dìm vào dòng nước rửa tội, cùng dìm vào cái chết của Đức Giêsu Kitô, thì ngay hôm nay, lúc này, chúng ta đang đón nhận được sự sống Ngài trao ban. Sự sống ấy chính là Thánh Thần của Thiên Chúa đang hiện diện và hoạt động trong chúng ta. Như thế, theo thánh Phaolô, chúng ta không thể để mình sống theo con người cũ, không thể để mình buông theo lối sống của xác thịt và của thế gian, nhưng phải để cho Thánh Thần chi phối và dẫn dắt, và chỉ những ai để cho Thánh Thần dẫn dắt thì mới thuộc về Đức Kitô. Mỗi người chúng ta đã được lãnh nhận sức sống của Thánh Thần trong ngày rửa tội và được tăng cường mạnh mẽ trong ngày lãnh Bí tích Thêm Sức, tuy nhiên, nhiều người đã bỏ quên sự hiện diện của Thánh Thần, đã để cho mầm sống mới của Đức Kitô bị thui chột bởi cuộc sống bê tha lười biếng.

Một lần nữa lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta tái khẳng định niềm tin vào Chúa Giêsu, để nhờ tin vào Ngài, chúng ta được lãnh nhận Thánh Thần là sự sống của Ngài, và được sống. Hãy đem sự sống của Đức Giêsu vào trong đời sống và trong gia đình của mình, hãy lắng nghe và vâng theo sự hướng dẫn của Thánh Thần, Chúa Thánh Thần sẽ soi dẫn chúng ta, giải gỡ những khó khăn trong cuộc sống, giúp chúng ta điều chỉnh lại nếp sống để cho gia đình mỗi ngày thêm hạnh phúc hơn. Hãy cùng nhau tuyên xưng niềm tin vào Đức Giêsu là Thiên Chúa quyền năng, và dám phó thác cuộc sống và gia đình cho Ngài, Ngài sẽ canh tân đổi mới cuộc sống gia đình chúng ta.

Nhiều người ngày nay đang bị chôn vùi trong tội lỗi, trong cái tôi ích kỷ lười biếng và tự mãn của mình, nhiều người trẻ thì bị những dây băng là các thứ nghiện ngập đam mê trói buộc như games, internet, phim ảnh, sách báo xấu, ma túy, cờ bạc, cá độ,… khiến họ nằm lỳ trong tình trạng xa Chúa, nhiều bạn khác vì bị nhồi nhét bởi những tư tưởng vô thần, những phong trào chống phá bôi xấu Giáo Hội, nó như nấm mồ chôn chặt cuộc sống và suy nghĩ của họ. Hãy tin tưởng vào quyền năng của Đức Giêsu để lăn tảng đá xấu xa đó ra khỏi cuộc đời, hãy giúp nhiều bạn trẻ tháo cởi khỏi những sợi dây băng chết chóc ràng buộc đó, để giúp họ có thể đến với Đức Giêsu và đón nhận được Thần Khí sự sống của Ngài. Amen.

[Mục Lục]

Bài 23. Suy niệm Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

Cả ba bài Kinh Thánh hôm nay đều nói lên sự sống lại; không phải sự sống lại của Chúa mà là của ta, để ta sống lại trong tinh thần, hầu có khả năng tham dự Tuần lễ Phụng vụ lớn nhất trong năm, cử hành từ Chúa nhật tới. Ðó cũng là phương pháp Ðức Kitô đã dùng đối với các môn đệ của Người. Chỉ ít ngày trước khi bước vào tuần lễ Vượt qua, ra đi chịu chết một cách nhục nhã trên Thập giá, Người củng cố đức tin của các môn đệ. Người cho Lazarô sống lại để khi thấy Người nằm xuống, họ vẫn không mất niềm tin ở nơi Người. Thế nên bài Kinh Thánh chủ chốt trong Phụng vụ Lời Chúa hôm nay là bản văn Tin Mừng chúng ta vừa nghe đọc. Nhưng hai bài kia cũng rất giàu ý nghĩa.

A. Từ Phục Sinh Thân Xác Ðến Phục Sinh Tâm Hồn

Không ai có thể lầm về bài sách Êzêkiel. Ông là vị Tiên tri bấy giờ đang sống với dân lưu đày ở Babylon. Thoạt đầu Dân cứ tưởng cuộc lưu đày chỉ tạm thời thôi. Chúa phạt Dân một lúc rồi sẽ cứu độ. Người ta chờ được giải phóng từng ngày, từng giờ. Giêrêmia đã cảnh giác người ta: không như vậy đâu, hãy thích nghi với hoàn cảnh mới, hãy xây dựng đời sống trên những cơ sở mới mà thi hành Ý Chúa. Nhưng phải đợi khi Yêrusalem bị tàn phá, Dân mới thôi ảo tưởng… Khốn nỗi, họ lại bước sang một thái cực khác. Chẳng hy vọng có ngày hồi hương nữa, họ đâm chán Chúa và muốn bỏ Người. Êzêkiel bấy giờ được sai đến. Ông rao giảng niềm tin: Chúa sẽ ra tay cứu Dân. Người sẽ đem Dân lưu lạc về. Bài sách của ông chúng ta vừa nghe nằm trong lời giáo huấn đó. Và vì ông có óc tưởng tượng mãnh liệt, ông diễn tả việc Chúa hồi phục dân như việc mở cửa mồ cho người chết sống lại. Thật ra hình ảnh đó cũng không quá đáng. Dân lưu đày bấy giờ cũng như kẻ chết ở trong mồ. Mọi khí phách đều đã tiêu tan và nhất là không còn hy vọng nào chỗi dậy được nữa. Chỉ có Chúa có thể cứu độ. Và đưa Dân ra khỏi cảnh nô lệ sẽ khác nào như làm cho kẻ chết sống lại ra khỏi mồ. Hơn nữa Chúa còn hứa sẽ đặt Thần trí Người vào trong những xác chết kia, để sống lại rồi, ra khỏi nơi lưu đày Dân sẽ sống theo tinh thần của Chúa.

Bài sách Êzêkiel chắc chắn đáng suy nghĩ trong Mùa Chay. Những người tội lỗi nhất vẫn không có gì phải thất vọng. Những gia đình nhiều rủi ro nhất vẫn còn lý do để cậy trông. Hơn nữa chúng ta phải cầu nguyện cho tất cả Giáo hội được niềm tin mãnh liệt vào mầu nhiệm Phục sinh. Mọi vấn đề và khó khăn trong cơ thể của Chúa không phải là không có lối thoát. Chúa có thể làm cho kẻ chết sống lại: đó là lời Êzêkiel còn để lại cho chúng ta. Và thật sự Người đã làm như thế. Người đã đưa dân ra khỏi nơi lưu đày. Người đã ban tinh thần và định mệnh mới cho Dân. Dùng hình ảnh phục sinh thân xác, lời tiên tri khuyên nhủ ta tin vào sức mạnh phục sinh tinh thần. Niềm tin này cần cho mọi thời và cho chúng ta.

Nhưng có phúc hơn Êzêkiel, chúng ta còn có niềm tin vào quyền năng Chúa phục sinh thân xác thật sự để đưa chúng ta vào sự sống đời đời.

B. Từ Sự Sống Lại Ðến Sự Sống Ðời Ðời

Quả thật Ðức Kitô đã không phục sinh thân xác Lazarô để ông sống thêm một số năm tháng ở trần gian; nhưng qua việc làm cho ông sống lại Người muốn ban cho chúng ta sự sống đời đời. Vì thế câu then chốt trong bài Tin Mừng hôm nay là chính lời Chúa phán: “Phục sinh và sự sống chính là Ta! Ai tin vào Ta, thì dẫu chết cũng sẽ sống và mọi kẻ sống mà tin vào Ta, sẽ không phải chết bao giờ. Ngươi có tin thế không?” (c.25). Và để giúp người ta tin như thế, Người đã cho Lazarô sống lại.

Câu truyện này, thánh Yoan đã thuật lại khá dài; và theo một cách thức khác hẳn khi kể chuyện Chúa chữa người mù. Có thể nói trong câu chuyện người mù, phép lạ đi trước để sau đó nói lên sự xung đột giữa ánh sáng và tối tăm, và tối tăm đã không triệt được sự sáng. Còn ở đây, phép lạ lại đến cuối cùng để củng cố và bảo đảm cho niềm tin đã nói trên. Thế nên vai chính ở đây không phải là Lazarô, mà là các môn đệ, chị em Martha và Maria, và nhất là người Dothái. Dĩ nhiên tất cả đều tùy thuộc vào Ðức Kitô.

Người muốn dẫn đưa mọi người vào niềm tin ở nơi Người là sự sống lại và là sự sống. Không phải bây giờ Người mới dạy người ta điều đó. Từ ngày ra đi rao giảng Tin Mừng. Người không ngớt làm cho mọi người tin Người có sự sống đời đời đem đến cho người ta. Nhưng hôm nay, sắp bước vào con đường khổ tử nạn, Người thấy phải khẳng định mạnh mẽ, quyết liệt hơn để củng cố niềm tin của mọi người cũng như để nói lên ý nghĩa của việc Người chấp nhận sự chết.

Người thấy ngay cơ hội đã đến, khi người ta báo tin Lazarô bạn Người lâm bệnh. Vì “vinh quang Thiên Chúa” (c.4), Người còn lưu lại hai ngày nơi đang ở; chứ như vì tình bạn thắm thiết đó là những ngày chẳng sung sướng gì. Ðến khi Người ngỏ ý ra đi, các môn đồ lại muốn cản chân. Người phải nhắc lại cho họ bài học hôm trước. Nào là chúng ta phải lao công vào việc của Ðấng đã sai Ta, bao lâu còn là ngày; nào là việc Lazarô đã chết mà Ta không có mặt ở đó là để Thiên Chúa được hiển vinh, vì để các ngươi tin. Cuối cùng họ đã phải chịu “ra đi để chết với Người”.

Họ có lý, vì cuộc lên đường này sẽ dẫn Người đến thập giá. Nhưng Người còn có lý hơn, vì nhìn xa hơn và đã thấy trước mầu nhiệm Phục sinh. Chẳng vậy mà Người lại chọn ngày thứ ba để lên đường, sau hai ngày ở lại đau khổ vì nghĩ đến người bạn đã chết.

Người đã chuẩn bị đức tin của môn đồ để hiểu việc Người sắp làm. Nhưng còn bao nhiêu người khác nữa: nào Martha, nào Maria, nào vô số người Dothái đến chia buồn với họ. Người chọn Martha là chủ nhà để dạy dỗ bà và mọi người khác về niềm tin Người là sự phục sinh và là sự sống. Lazarô đối với Người không quan trọng, mặc dầu Người rất thương ông. Người chẳng hỏi thăm gì về cái chết của ông. Người chỉ quan tâm đến đức tin của những người đang có mặt. Martha lưu ý Người rằng: “Ðã nặng mùi rồi, vì đã được 4 ngày”. Người trả lời ngay: Ta đã chẳng nói với ngươi rồi sao? Là nếu ngươi tin, ngươi sẽ thấy vinh quang của Thiên Chúa. Và để khẳng định một lần cuối cùng mục đích và ý nghĩa của việc sắp làm, Người ngước mắt lên mà nói: “Ngõ hầu họ tin rằng Cha đã sai Con”. Nói thế rồi, Người lớn tiếng gọi Lazarô; và ông đã ra khỏi mồ… khiến nhiều người tin vào Người. Nhưng đó chỉ là niềm tin tạm, niềm tin khởi đầu. Phải đợi đến hôm thấy chính mộ của Người đã trống và Ðấng chịu đóng đinh hiện đến trước mắt họ, niềm tin vào Người từ đó mới không lay chuyển. Nhưng để có niềm tin hoàn toàn này, đã phải có niềm tin hôm nay sau khi Lazarô được gọi ra khỏi mồ.

C. Từ Tinh Thần Phục Sinh, Sang Ðời Sống Phục Sinh

Chúng ta ngày nay có niềm tin đầy đủ. Không những chúng ta tin Ðức Yêsu Kitô Chúa chúng ta đã chết và đã sống lại, mà chúng ta còn tuyên xưng thân xác chúng ta sẽ được phục sinh trong ngày sau hết. Hơn nữa chúng ta còn tin rằng khi đã cùng chết với Người trong bí tích Rửa tội, chúng ta đã được Người ban cho sự sống phục sinh và đời đời của Người. Nói cách khác chúng ta đã là những người được phục sinh trong tinh thần chờ ngày được sống lại trong thân xác.

Niềm tin thật rõ ràng và thật chắc chắn. Nhưng có sống động không? Người tín hữu có sống đức tin của mình không? Cứ dấu nào, người tín hữu biết mình đang sống đức tin Con Thiên Chúa đã phục sinh và đã ban ơn phục sinh cho mình? Thánh Phaolô trả lời trong bài Thánh thư: nếu Ðức Kitô ở trong anh em thì tuy thân xác vẫn là đồ chết dở (vì tội), nhưng Thần khí là sự sống (vì đức công chính). Thánh Tông đồ cho chúng ta phương thế để đạt được điều Êzêkiel từng trông chờ. Nhà Tiên tri mong đợi Chúa ban Thần trí cho Dân để họ được phục hồi như kẻ chết được ra khỏi mồ. Chúng ta đã nhận được Thần trí ấy nhờ mầu nhiệm Tử nạn Phục sinh của Ðức Kitô, vì sau khi Người được vinh hiển thì Thánh Thần đã được đổ xuống chan hòa trên mọi xác phàm. Chúng ta mà để Thần trí ấy hoạt động trong chúng ta thì đời sống chúng ta sẽ không còn những công việc của xác thịt nữa, nhưng mọi hành vi ngôn ngữ đều đã đầy Thánh Thần. Và như thánh Phaolô nói tiếp, nếu Thần khí của Ðấng đã cho Ðức Yêsu sống lại từ cõi chết cũng sẽ tái sinh thân xác chết dở của chúng ta. Nghĩa là thân xác chúng ta sẽ được sống lại vinh hiển, nhờ Thần khí của Chúa cư ngụ trong chúng ta.

Do đó chúng ta có thể có sự phục sinh và sự sống đời đời ngay từ bây giờ, nếu chúng ta mang trong mình chính Ðức Kitô phục sinh. Người đang đến ban ơn đó cho chúng ta trong thánh lễ. Người sẽ theo chúng ta vào đời để tác sinh, hầu chúng ta luôn làm những công việc không phải của xác thịt nhưng của Thần khí. Chúng ta sẽ tích cực trong mọi công việc tốt lành, đặc biệt trong mọi công việc đem lại phục hồi cho Dân Nước. Chúng ta sẽ thể hiện lời tiên tri Êzêkiel và tin chắc nhân loại sẽ phục sinh trong ngày sau hết như Lazarô đã sống lại trong bài Tin Mừng. Và được như vậy là vì Ðức Yêsu Kitô đã sống lại và đã ban ơn phục sinh của Người cho chúng ta.

[Mục Lục]

Bài 24. Ta là sự sống lại và là sự sống
Lm. Phaolô Nguyễn Văn Đông

Giữa cuộc sống đầy khó khăn nầy, thỉnh thoảng chúng ta nghe tiếng rủa mình: “Thà chết cho xong”. Ít nhiều tất cả chúng ta đều là tù nhân trong một thế giới giam hãm chúng ta. Chúng ta là tù nhân của chính mình, tù nhân của các ước muốn, của thói quen, và tệ hơn hết là tù nhân các nỗi sợ hãi. Như Chúa Giê su đã mở huyệt cho ông Ladarô, Ngài muốn giải thoát chúng ta và làm cho chúng ta Sống đúng ý nghĩa của sự Sống.

Sách tiên tri Êdêkiên 37, 12-14

Năm 586 trước Công Nguyên Giê ru sa lem rơi vào tay người Ba lylon. Mọi sự dường như tiêu tan đối với dân Thiên Chúa trong kiếp lưu đày. Mặc cho tình thế có vẻ tuyệt vọng, Tiên tri Êdê kiên loan báo rằng Thiên Chúa sẽ mở cửa mồ, sẽ giải thóat họ khỏi cảnh nô lệ và Thần khí của Thiên Chúa sẽ ngự trong họ. Đó là ơn Cứu thoát của Gia vê.

Thánh Vịnh 129

Vâng, Chúa sẽ nghe tiếng kêu Hi vọng mà người tín hữu kêu lên Ngài từ vực sâu khốn cùng. Người canh đêm chờ đợi sẽ được Ngài nhậm lời bởi vì Ngài là Đấng yêu thương và tha thứ. Người sẽ cứu chuộc Israen và giải thoát họ khỏi sự chết.

Thư gửi Rôma 8, 8-11

Thánh Phao lô vui mừng nhắc lại Tin mừng là chúng ta đã được Thần khí của Chúa ngự trị. Ngài còn nhấn mạnh rằng: Với thần khí, sự Sống đã ở trong chúng ta. Ngay cả khi chúng ta biết mình sẽ chết, Thiên Chúa sẽ phục sinh chúng ta như chính Người đã cho Con của Người từ cõi chết sống lại.

Tin mừng:Ga 11,1-45

NGỮ CẢNH

Xét về nhiều khía cạnh, việc phục sinh ông La da rô là một trong những trình thuật quan trọng nhất của tin mùng Gioan.

Xét theo cuộc đời Chúa Giê su, thì phép lạ nầy có tính cách quyết định việc Ngài phải bị kết án tử hình.

Xét theo bố cục tin mừng, thì đây là giáo huấn được đặt đúng chỗ trước trình thuật khổ nạn. Đây không chỉ là một dấu chỉ lớn nhất của Chúa Giê su, mà là dấu chỉ có nhiều ý nghĩa nhất. Nó cắt nghĩa những gì Chúa Giê su đã nói về quyền năng ban sự sống của Ngài, cho thấy ý nghĩa cái chết của chúng ta và mang theo lời hứa của chính sự phục sinh nhờ vào quyền năng của Chúa Giê su chết và sống lại.

Có thể đọc theo bố cục sau đây:

1. Nhập đề: (11,1-3)

2. Chúa Giê su hướng các môn đệ đến mầu nhiệm (11,4-16)

3. Chúa Giê su dẫn dắt Mát ta tuyên xưng đức tin (11,17-37)

4. Chúa Giê su thực hiện dấu chỉ phục sinh (11,38-45)

TÌM HIỂU

Đau nặng: trong hai câu trước, ông La da rô được giới thiệu như là nhân vật ít được biết đến. Để nói về ông, người ta phải nhắc đến hai chị em ông mà chắc chắn cộng đoàn Ki tô hữu tiên khởi đã biết đến. Lu ca nói đến hai chị em trong đoạn 10,38-42 nhưng không nói đến Bê ta ni a và La da rô.

Maria: trong phần kế tiếp, Mát ta chiếm một vị trí nổi bật hơn, được nói đến trước tiên trong Luca, vì có lẽ cô lớn tuổi hơn và là chủ nhà. Còn ở đây, Maria được nhắc đến trước với qui chiếu đến việc xức dầu ở Bê ta ni a, rồi chỉ được nói tới ở trình thuật ở chương sau. Câu chuyện khổ nạn và đặc biệt, việc xức dầu ở Bê ta ni a có lẽ đã được nhiều tín hữu biết đến trước khi trình thuật về sự phục sinh ông La da rô có chỗ đứng trong việc soạn tác tin mừng.

Người Thầy thương mến: tình cảm của Chúa Giê su đối với ông La da rô được nhấn mạnh bốn lần trong trình thuật nầy: bởi hai chị em (11,3), bởi tác giả tin mừng (11,5), bởi Chúa Giê su (11,11) và bởi người Do thái (11,36).

Bị đau nặng: người ta thường so sánh lời nầy với lời của Đức Maria mẹ Chúa Giê su: “Họ hết rượu rồi!” (2,3). Người nầy không xin nhưng chỉ báo tin cho Chúa Giê su, hay đúng hơn, anh ta đến gặp một người đã biết điều đó rồi.

Bệnh nầy không đến nỗi chết đâu: lời nói nầy vừa trấn an (bệnh không nặng lắm đâu) vừa hướng đến vinh quang Thiên Chúa.

Mát ta cùng hai người em là cô Maria và anh Ladarô: theo những gì tin mừng cho biết thì gia đình Bê ta ni a nầy là mái nhà duy nhất mà Chúa Giê su được đón tiếp như một người bạn. Tuy nhiên nó không thuộc loại gia đình bình thường: không thấy có vợ chồng, cha mẹ, con cái. Gia đình chỉ có hai chị em đón tiếp Chúa Giê su (Lc 10,38) và được Ngài yêu mến khiến ta nghĩ tới Hội Thánh và các mối tương quan trong cộng đoàn anh chị em của Chúa Giê su.

Người còn lưu lại: Chúa Giê su hành động y như là hiểu sai tin tức Maria chuyển tới. Đây là một thử thách cho đức tin đối với những ai mong chờ Ngài can thiệp. Niềm tin đúng nghĩa chỉ có thể biểu hiện ngang qua sự thử thách nầy.

Tại nơi đang ở: ở bên kia sông Gio đan, khoảng một ngày đi đường.

Thưa Thầy: các môn đệ cảm thấy trước các nguy cơ đối đầu, nên họ tỏ ra lo sợ.

Ban ngày chẳng có mười hai giờ đó sao ?: Chúa Giê su lặp lại câu ví ở 9,4 “Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy khi trời còn sáng; đêm đến không ai có thể làm việc được”. Ban ngày là thời gian của Chúa Giê su vốn là “ánh sáng cho trần gian” (9,5), và Ngài cần đến để tự do hoạt động hầu làm trọn kế hoạch của Thiên Chúa (x.8,12 và 12,35-36). Còn ban đêm là giờ hoạt động của thù địch (13,30), giờ của “vương quyền bóng tối” (Lc 33,53). Đối đầu với những kẻ chống đối Chúa Giê su xem ra ít nguy hiểm hơn là đi không có Ngài.

Đang yên giấc: trong mọi ngôn ngữ, thì “giấc ngủ” là hình ảnh chỉ cái chết. Từ nầy có cái hay là hàm chứa sự đánh thức, hình ảnh của sự sống lại.

Yên giấc-khoẻ lại: động từ thứ hai có thể được dịch theo nghĩa mạnh là “được cứu thoát”. Câu trả lời của các môn đệ dựa theo kinh nghiệm thông thường có thể mang một ý nghĩa trong tương quan với công cuộc do Chúa Giê su thực hiện là ai an nghỉ trong sự chết và liên kết với Chúa sẽ “được cứu độ” qua sự sống lại. Lời nói có giá trị cho tất cả những ai “an nghỉ trong Chúa”.

Ladarô đã chết: Chúa Giê su cho thấy rõ rằng cả khi ở xa Ngài cũng biết điều gì xảy ra cho bạn mình. Lời nói đầy khích lệ cho các ki tô hữu đang bị bách hại, có thể nghĩ rằng Chúa Giê su đang ở xa họ.

Thầy mừng cho anh em: Chúa Giê su không mừng vì sự thử thách cũng như vì cái chết, nhưng mừng vì sự tiến bộ mà sự thử thách và sự im lặng bề ngoài của Thiên Chúa đã mang lại cho đức tin, nhờ dấu chỉ sự sống lại. X. 16,33; 20,31.

Tôma: bí danh là Đi đi mô có nghĩa là sinh đôi theo nghĩa chính xác của từ Tô ma trong tiếng A ra mê ô. Ngoài bảng liệt kê danh sách Nhóm mười hai thì các sách Tin mừng nhất lãm không nói tới ông Tô ma. Trong khi đó thì Tin mừng Gioan còn nhắc đến ông trong bửa Tiệc li (14,5) sau phục sinh (20,24-29), sau cùng trong trình thuật về mẻ cá lạ lùng (21,2).

Cùng chết với Thầy: xem 11,8. Phản ứng của Tô ma có ý nghĩa: lần nầy trở lại Giu đê, Chúa Giê su đi đến cái chết.

Không đầy ba cây số: dịch sát chữ là “mưòi lăm dặm”. Một dặm dài khoảng 185 thước, do đó khoảng cách độ 3 cây số. Bê tha nia ở trên sườn phía Tây núi Ô liu, gần Giê ru sa lem. Gioan muốn nhấn mạnh sự kiện “nhiều người Do Thái” chứng kiến phép lạ.

Ra đón Người: theo Lc thì chị Mát ta linh hoạt hơn, còn Gioan thì muốn cho thấy một Maria tích cực hướng về Chúa Giê su, chị là người ra đón trước và tiếp chuyện với Chúa Giê su lâu hơn.

Nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết: cho thấy một niềm tin mãnh liệt vào quyền năng chữa bệnh của Chúa Giê su.

Nhưng bây giờ con biết: lời biểu hiện một niềm hi vọng rằng mọi lời cầu nguyện của Chúa Giê su vẫn có thể được Thiên Chúa chấp nhận. Maria hi vọng gì? Chúng ta thấy rằng cả Maria cũng không biết chính xác, khá giống như Đức Maria ở Cana (2,3-5). Nhưng trước mặt Chúa Giê su, niềm tin của chị không đặt ra giới hạn.

Sẽ sống lại trong ngày sau hết: trừ phe Sa đu kê ô, thì nói chung, vào thời Chúa Giê su, hầu hết người Do thái đều tin mọi người sẽ được phục sinh vào thời sau hết.

Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống: lại một câu khẳng định khởi đầu bằng kiểu nói Ta là. Chúa Giê su nối kết niềm hi vọng mà Maria vừa nói với bản thân Ngài.

Chúa Giê su là sự sống, đó là chủ đề rất quan trọng của Gioan. Không chỉ Ngài có sự sống, mà còn ban sự sống cho những ai kết hợp với Ngài qua đức tin. Việc đó sẽ không có thật nếu Ngài không làm cho kẻ chết sống lại. Ở đây, Chúa Giê su không chỉ giới hạn trong việc khẳng định rằng Ngài ban sự sống lại, nhưng còn khẳng định rằng Ngài sự sống lại. Điều đó không có nghĩa nào khác hơn là: sở dĩ Ngài có thể phục sinh kẻ chết ấy là vì Ngài là Đấng Phục sinh tuyệt hảo, người đầu tiên sống lại từ cõi chết. Sự sống lại là sự biểu hiện của chính bản thể của Ngài, của bản tính sâu xa của Ngài. Nó là đỉnh cao và là lời giải thích sứ mạng của Ngài. Về điểm nầy, Gioan và Phao lô gặp nhau: x. Rm 8,29; 1Cr 15,20-22; cũng như Cl 1,18; Kh 1,5.

Ai tin vào Thầy cũng sẽ được sống: lời hứa tổng quát ở câu 6, 40 giờ đây mang tính cá nhân, vì cái chết vừa xảy ra của La da rô. Gioan đặt trong miệng Chúa Giê su công thức của niềm hi vọng Ki tô giáo và câu chất vấn gửi đến cho mọi người tín hữu trong giờ thử thách: “Con có tin điều ấy không?”.

Thưa Thầy, có: Mát ta không trả lời thẳng câu hỏi mà Chúa Giê su đặt ra về sự sống lại, nhưng đề cập đến điều thiết yếu. Như Phê rô, theo Mt 16,16, chị nói lên niềm tin của mình vào Chúa Giê su bằng công thức tương ứng với chính niềm tin của Giáo hội. Cuộc đối thoại đưa chúng ta đến một trong những đỉnh cao của sách Tin Mừng. Chúa Giê su đã dạy và thánh Gioan đã viết để gợi lên một câu trả lời tương tự: “Để anh em tin rằng Đức Giê su là Đấng Ki tô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin anh em được sự sống nhờ danh Ngài” (20,31).

Cô đi gọi em là Maria: chuyển động tự nhiên của đức tin: mời gọi người khác đến gặp gỡ Chúa Giê su.

Cô Maria: Khác với Lc 10,38-42, ở đây, Mát ta là người sẵn sàng nghe lời Chúa Giê su hơn. Maria vội vàng chạy đến, nhưng phải đợi chị gọi mình. Lúc đó cô đang ở nhà với người Do thái. Kiểu nói có thể có nghĩa là cô ít nhiều vẫn còn ở trong thế giới người Do thái.

Nếu có Thầy ở đây: Maria cũng nói giống như Mátc ta, do đó, cũng có một niềm tin vào Chúa Giê su như Mát ta, nhưng Maria không nói thêm: “Ngay cả bây giờ con biết..” (11,22).

Thấy cô khóc: Maria khóc cùng với những người Do thái đứng chung quanh đó. Động từ ở đây chỉ sự than khóc đau buồn sâu sắc.

Chúa Giê su thổn thức trong lòng và xao xuyến: có lẽ Ngài xúc động vì đau buồn. Nhưng hai động từ dùng ở đây có nghĩa rất mạnh. Động từ thứ nhất thường chỉ một chuyển động mạnh mẽ, và động từ thứ hai tăng cường cho mạnh thêm. Có lẽ lúc đó Chúa Giê su giận dữ trước sự cứng lòng, trước mãnh lực của sự chết khiến cho người Do thái không thể vượt qua bằng đức tin.

Chúa Giê su liền khóc: động từ dùng ở đây khác với động từ ở câu 33, gợi ý khóc thầm.

Lại không thể làm cho anh ấy khỏi chết ư ?: câu nầy cho thấy người Do thái như các môn đệ ở đầu trình thuật chỉ tỏ ra quan tâm đến người chết.

Chúa Giê su lại thổn thức trong lòng: tác giả mô tả bằng từ giống như ở câu 33. Một lần nữa, Chúa Giê su cho thấy cơn giận dữ của Ngài, hoặc vì thấy người ta tiếp tục than khóc, hoặc vì Ngài đã đến gần ngôi mộ, cảm nhận rõ ràng hơn quyền lực của sự chết trên người mà Ngài thương mến.

Đem phiến đá này đi: chúng ta có thể đối chiếu lệnh truyền nầy với điều mà Maria Mađalêna khám phá buổi sáng Phục sinh. Tảng đá không cần nhờ ai đẩy qua cả, vì tự nó “đã lăn qua một bên ngôi mộ” (20,1).

Nếu chị tin: Chúa Giê su lặp lại với Mát ta rằng niềm tin cũng chiến thắng được sự chết và mọi biến cố đều nhằm bảy tỏ vinh quang của Thiên Chúa. Ngài nói về sự phục sinh ông La da rô, và cũng nói về sự phục sinh của chính Ngài (11,4).

Chúa Giê su ngước mắt lên: khác hẳn với các bức tranh mà ta thường thấy, các tác giả tin mừng ít khi cho thấy Chúa Giê su ngước mắt lên trời. Gioan chỉ nói ở đây và trong đoạn 17,1, và trong cả hai trường hợp Chúa Giê su ngỏ lời với Cha mình.

Lạy Cha: Chúa Giê su cầu xin quyền năng ban sự sống cho người chết, nhưng tất cả những gì mà Ngài làm, Ngài luôn luôn hoàn thành trong sự lệ thuộc đối với Cha. Lời cầu nguyện của Ngài tương ứng với những gì Ngài đã tuyên bố trong đoạn 5,19-30.

Con cảm tạ Cha: có ít lời cầu nguyện của Chúa Giê su được các tác giả Tin mừng kể lại nội dung như ở đây. Ngoài lời nầy, chỉ có ở Mt 11,25-27 (song song trong Lc 10,21); trong Ga 17; lời cầu nguyện ở vườn Giệt sê ma ni và trên cây thánh giá.

Người kêu lớn tiếng: Gioan để khung cảnh tạo nên sức mạnh cho lời Chúa Giê su: “Thật, tôi bảo thật các ông: giờ đã đến và chính là lúc nầy đây, giờ các kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa; ai nghe thì sẽ được sống”(5,25).

Cởi khăn và vải cho anh ấy: hai phép lạ phục sinh mà Tin mừng nhất lãm thuật lại đều kết thúc bằng một cử chỉ hoăc một lời nói đơn giản và cụ thể của Chúa Giê su. Ngài hành động một cách uy quyền cho thấy sự cao cả của Ngài. X Mt 9,23-26; Mc 5,35-43; Lc 7,11-17;8,39-56.

Lệnh cuối cùng của Chúa Giê su có một ý nghĩa thiêng liêng: đã đến lúc giải thoát chúng ta khỏi xiềng xích của sự chết và trả lại cho chúng ta sự tự do.

Nhiều kẻ: cuộc phục sinh ông La da rô có nhiều chứng nhân. Sự tỏ mình của Chúa Giê su trở thành một sự kiện diễn ra công khai. Và cũng vì thế, địch thủ của Ngài quyết định giết chết Ngài.

SỨ ĐIỆP

Các bài đọc chủ nhật hôm nay nói với chúng ta về việc chuyển biến từ đời sống trần gian nầy sang một đời sống hoàn toàn khác: Thiên Chúa phán trong sách tiên tri Êdêkiên: “Ta sẽ mở mồ cho các ngươi”. Thánh Phao lô viết trong thư Rôma: “Nếu Thần khí của đấng đã phục sinh Chúa Giê su trong kẻ chết ở trong anh em, Người sẽ ban sự sống cho thân xác hay chết của anh em”. Và sau cùng Thánh Gioan ghi lại lời Chúa Giê su: “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin ta dù có chết, cũng sẽ được sống”.

Các lời Kinh thánh trên cũng trùng khớp với ước muốn được sống của mọi người. Xã hội chúng ta càng ngày càng được bảo vệ kỹ hơn vì được bảo hiểm. Người ta tìm cách kéo dài tuổi trẻ càng lâu càng tốt, và bằng mọi cách chống lại tất cả các bệnh tật. Ngày nay có nhiều người nghĩ đến thuyết luân hồi càng ngày phổ biến, nhất là trong giới trẻ nhưng không thuộc thành phần đức tin ki tô giáo. Tất cả sứ điệp của tin mừng đều được xây dựng trên sự sống lại của Chúa Giê su. Không có Chúa Giê su sống lại, đức tin của chúng ta trở nên vô ích. Đó là con đường mà chúng ta được mời gọi để tiến bước.

Có một từ có thể tóm tắt các bản văn Kinh Thánh mà chúng ta đã nghe cách đây vài tuần, đó là từ “vượt qua”. Chủ nhật trước nữa, chúng ta đã thấy người phụ nữ Samari từ nước giếng đã đi đến nước hằng sống, từ một cuộc sống không mấy tốt đẹp đến một cuộc sống được biến đối nhờ cuộc gặp gỡ với Đức Ki tô, từ một đức tin vô vọng đến một đức tin thờ phượng Thiên Chúa trong tinh thần và chân lí. Và chính Chúa Giê su đã hướng dẫn chị trên con đường vượt qua đó. Chủ nhật vừa qua, chúng ta đã nghe chứng từ của người mù từ thuở mới sinh. Chúng ta đã thấy từ bóng đêm đến ánh sáng, từ chỗ không nhận biết Chúa Giê su đến niềm tin vào Con Thiên Chúa.

Thế nhưng ở chủ nhật thứ năm mùa chay nầy, sự vượt qua còn vĩ đại hơn và căn bản hơn nữa. Đó là việc ông La da rô từ cõi chết vượt qua cõi sống mà tác giả tin mừng giúp chúng ta khám phá qua lộ trình đức tin của Mát ta. Chị vừa nói: “Tôi biết rằng anh ấy sẽ sống lại trong ngày sau hết . Nhưng Chúa Giê su mời gọi chị tiến thêm một bước nũa: “Ta là sự Sống lại và là Sự sống. Ai tin ta, dù có chết cũng sẽ sống”. Tin vào sự sống lại trong ngày sau hết, điều đó không sai, nhưng với tin mừng hôm nay, chị được mời gọi đi xa hơn: Sự sống lại nơi Chúa Giê su. Theo chân Mát ta, chúng ta được mời gọi tin vào lời Ngài.

Phần kế tiếp chúng ta đã rõ: “Hãy lấy tảng đá ra. La da rô hãy đi ra ngòai !”. Ông Lada rô thực sự đã chết. Chúa Giê su không che dấu sự buồn bã của Ngài. Ngài khóc thương bạn mình như chúng ta khóc thương cho một trong những người thân chúng ta vừa ra đi. Nhưng Ngài đã xác định rằng bệnh ấy được hướng đến vinh quang Thiên Chúa. Cái chết ấy sắp là cơ hội để mạc khải vinh quang của Người. Đồng thời chúng ta thấy Mát ta thực hiện một cuộc vượt qua quan trọng: Chị đi từ “Tôi biết” đến “Tôi tin”. Chị đi từ niềm xác tín lí thuyết đến sự nhận ra đấng là sự sống lại.

Đó là tin mừng khiến chúng ta hi vọng: Ai tin vào Chúa Giê su sẽ ngạc nhiên khám phá rằng sự chết không phải là tiếng nói cuối cùng. Từ nay, cuộc sống của chúng ta có một ý nghĩa. Từ nay, điều quan trọng là đi theo Chúa Giê su và trung thành với Ngài. Ngài đoan chắc với chúng ta rằng không gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Ngài: “Ta ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”. Tạm thời lúc nầy, cuộc đời có những niềm vui nỗi buồn đáp đổi. Nhưng Chúa luôn hiện diện để ban cho chúng ta sức mạnh và sự can đảm để chúng ta có thể đứng vững cho đến cùng.

Ngang qua dấu chỉ ấy, Chúa Giê su nhắc chúng ta nhớ đến ý nghĩa sứ mạng của chúng ta: loan báo tin mừng sự sống cho mọi người, làm phát sinh niềm hi vọng cho tất cả những ai để mình giam hãm trong tội lỗi, đau khổ, lo âu và sự chết. Đức Ki tô đã đến đem lại cho chúng ta một cuộc sống hoàn toàn khác, chính sự sống của Thiên Chúa. Đó là điều mà Ngài đã khởi sự làm trong suốt cuộc sống công khai của Ngài qua các phép lạ và sứ điệp hạnh phúc và tinh yêu.

Chúng ta được mời gọi sống mùa Chay nầy như một cuộc Vượt qua, một cuộc vượt qua đi đến một sự sống đúng nghĩa hơn, liên đới hơn, rộng mở hơn cho Thiên Chúa và tha nhân. Và khi trả lại sự sống cho ông Ladarô, rồi chính Ngài sẽ sống lại buổi sáng Phục sinh, Chúa Giê su cho thấy rằng chúng ta có thể luôn luôn được sống lại. Với Ngài, chúng ta có thể luôn luôn chiến thắng những nỗi sợ hãi, tìm lại can đảm và hi vọng để tiếp tục tiến về phía trước. Nghĩa là chúng ta phải cùng sống lại với Ngài mỗi ngày.

Đọc các dấu chỉ phục sinh không thôi chưa đủ. Chúng ta cần phải trở thành những dấu chỉ của sự phục sinh trong mọi hành vi cuộc sống, trong mọi thái độ và cả khi chúng ta gặp thất bại, đau khổ và chết chóc. Đức tin ki tô giáo là gắn bó với Thiên Chúa Sự sống, Thiên Chúa làm cho sống, cả bên kia sự chết.

ĐÀO SÂU

1. HỎI: Tiên tri Ê dê ki ên là ai?

THƯA: Tiên tri sinh vào khoảng năm 622, được Chúa mời gọi thi hành sứ vụ tiên tri năm 592, trước Công Nguyên. Ê dê ki ên lớn lên tại Giêrusalem và được huấn luyện trong đền thờ để làm tư tế. Ông đã sống trong thời kỳ khủng hoảng của dân tộc Do-thái và nằm trong nhóm người Do-thái đầu tiên bị bắt đi lưu đầy sang Babylon. Tại đó, ông được Thiên Chúa sai đi thi hành sứ mạng an ủi nâng đỡ những người đồng hương bị lưu đày.

2. HỎI: Sách Tiên tri Ê dê ki ên nội dung như thế nào?

THƯA: Sách Ê dê ki ên được xếp vào thể văn tiên tri. Ê dê ki ên là phát ngôn viên của Thiên Chúa cho cộng đoàn Do thái ở Giuđa và Babylon vào thế kỷ VI trước Công nguyên. Sách gồm 48 chương gồm các lời sấm về Giê ru sa lem, về các nước khác. Đặc biệt ông loan báo về sự hồi sinh của dân Ít ra ên để khích lệ đồng bào ông đang bị lưu đày. Ông nói bằng nhiều hình thức: thị kiến, những hành động biểu trưng, ngụ ngôn hay diễn từ.

3. HỎI: Ngữ cảnh bài đọc một như thế nào?

THƯA: Chương 37 sách tiên tri Ê dê kiên loan báo cho những người Do thái đang bị lưu đày ở Ba by lon ngày được giải thoát và trở về quê hương. Thị kiến cánh đồng xương khô (37,1-10) được hồi sinh là biểu tượng cho sự sống lại của Dân Chúa sau bao đau thương bất hạnh. Ba câu trong bài đọc một cho ta chìa khóa để hiểu hình ảnh ấy.

4. HỎI: Bài đọc một có nội dung như thế nào?

THƯA: Qua lời sấm tiên tri Ê dê ki ên, Thiên Chúa loan báo Người sẽ mở tung các nấm mồ để đem dân Người trở về đất Ít ra ên. Người sẽ ban Thần khí để tác sinh họ và cho họ định cư trên quê hương và bấy giờ họ sẽ thờ phượng Người như trước.

5. HỎI: Lời hứa thứ hai bao gồm điều gì mới?

THƯA: Lời hứa thứ hai bao gồm một điều mới mẻ chưa từng có: “Ta sẽ đặt thần khí của Ta vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được hồi sinh.” (37,14). Thiên Chúa hứa ban một Giao Ước mới, từ nay luật yêu thương không còn được ghi khắc trên bia đá nữa, nhưng được viết trong tâm hồn.

6. HỎI: Bài đọc một được tiếp nối với bài tin mừng như thế nào?

THƯA: Với sự xuất hiện của Chúa Giê su, việc mở tung các nấm mồ không còn là biểu tượng nữa mà trở thành hiện thực. Chính Ngài đã phán: “Ta là sự Sống lại và là Sự Sống, ai tin vào Ta thì dù chết cũng sẽ được sống đời đời”.

7. HỎI: Ngữ cảnh bài tin mừng như thế nào?

THƯA: Dấu lạ phục sinh La da rô được đặt vào cuối sứ vụ của Chúa Giê su. Đó không những là dấu lạ cuối cùng, mà còn là dấu lạ lớn nhất và quan trọng nhất. Nó không những cho thấy quyền năng siêu phàm của Chúa Giê su, mà còn báo trước sự phục sinh của Ngài. Đồng thời, dấu lạ ấy cũng đưa tới việc Thượng Hội đồng do thái quyết định tìm giết Chúa Giê su.

8. HỎI. Tên gọi “Ladarô” có nghĩa gì?

THƯA. Tên gọi Ladarô có nghĩa là “Thiên Chúa cứu giúp”.

9. HỎI. Maria, chị của ông Ladarô có phải là Maria mà thánh Luca nói tới trong Tin mừng thứ ba không?

THƯA. Không phải. Dù cho người phụ nữ tội lỗi mà Luca nói đến trong Lc 7,36-38 có những cử chỉ giống như thế trong cuộc gặp gỡ với Chúa Giê su trong nhà ông Simon biệt phái, cô Maria trong bài tin mừng nầy không phải là cô Maria trong Luca.

10. HỎI. Những lời mà hai chị em ông Ladarô sai người đến nói với Chúa Giê su có nghĩa gì?

THƯA. Những lời ấy cho thấy một lời khẩn cầu kín đáo và đầy lòng tin tưởng của những người bạn với Chúa Giê su.

11. HỎI. Tại sao Chúa Giê su nói về bệnh tình của La da rô “Bệnh ấy không đến nỗi chết”?

THƯA. Vì các lí do sau đây: 1) Ngài muốn trấn an các môn đệ vào lúc ấy để họ tin rằng bệnh của La da rô không nặng lắm để không hối thúc Thầy mình đi ngay; 2) Ngài muốn cho mọi người hiểu rằng trước quyền năng của Thiên Chúa, không có bệnh nan y nào mà Người không thể chữa được, hoặc không có cái chết nào không thể chuyển thành giấc ngủ.

12. HỎI. Tại sao Chúa Giê su lần lữa và không đi ngay đến với Ladarô, bạn Ngài?

THƯA. Bởi vì có đi ngay thì Ladarô cũng đã chết; Chúa Giê su không tỏ ra dửng dưng trước tin khủng khiếp ấy, Ngài muốn rằng phép lạ mà Cha đã cho Ngài thực hiện sẽ đem lại hậu quả lớn nơi các môn đệ Ngài và trên dân chúng ở đó. Ngòai ra Ngài phải hành động trong sự vâng phục hoàn toàn thánh ý Thiên Chúa Cha, nên việc lên đường không thể tùy thuộc vào ý muốn của con người dù đó là bạn bè. Hành trình về Giê ru sa lem để chịu khổ nạn phải được thực hiện vào thời điểm do Thiên Chúa Cha ấn định.

13. HỎI. Tại sao Chúa Giê su bảo các môn đệ đi đến Giu đê chứ không đến Bê tha ni a?

THƯA. Để cho họ hiểu rằng việc hoàn tất sứ mạng của Ngài sẽ được thực hiện ở Giê ru sa lem. Trong khi phép lạ cho La da rô hồi sinh sẽ tạo nhiều hứng khởi nơi các môn đệ, thì nó sẽ không giúp các vị Thượng tế và người Pha ri sêu nhìn nhận Chúa Giê su là đấng Messia thiên hạ đợi trông, mà trái lại còn gia tăng lòng ganh tị và thù ghét đối với Ngài.

14. HỎI. Tại sao Chúa Giê su dùng những lời khó hiểu để trả lời cho các môn đệ khi họ muốn cảnh giác Ngài trước những nguy hiểm đang rình rập?

THƯA. Vì Chúa Giê su nói dùng hình ảnh để giúp các môn đệ hiểu đường lối thiên sai mà Ngài đến để thực hiện. Trong tin mừng Gioan 9,4 Chúa Giê su đã so sánh sứ mạng của Ngài với một ngày làm việc phải kết thúc khi đêm đến nghĩa là cuộc Khổ nạn. Còn giờ đây thì Ngài so sánh chương trình thiên sai với một ngày đi đường mà Ngài muốn kéo dài cho đến giờ thứ mười.

15. HỎI. Có người cho rằng Chúa Giê su quả quyết ông La da rô đang ngủ vì tưởng rằng ông ấy đang bị hôn mê?

THƯA. Không, ông La da rô thực sự đã chết, khi Chúa Giê su đến. Thân xác của ông đã bắt đầu phân hủy. Lời Chúa Giê su nói ở câu 11, theo nghĩa mặt chữ chỉ một giấc ngủ và thức dậy tự nhiên; nhưng theo nghĩa bóng thì giấc ngủ chỉ sự chết và thức dậy chỉ sự sống (sống lại).

16. HỎI. Lời nói của chị Mát ta: “Nếu có Ngài ở đây thì .. “ (c.21) cho thấy một sự nuối tiếc sâu xa chăng?

THƯA. Đúng vậy, nhưng cũng cho thấy lòng tin tưởng nơi quyền năng làm phép lạ của Thầy mình.

17. HỎI. Mát ta tin vào sự sống lại cuối cùng của người công chính; vậy người Do thái cũng tin như chúng ta về ngày Phán xét chung hay sao?

THƯA. Cách chung thì như vậy, nhưng có một sự khác biệt quan trọng. Thật thế, đối với chúng ta là ki tô hữu, tận cùng của thế gian diễn ra trong ngày Đức Ki tô hay đấng Messia đến lần thứ hai, trong khi người Do thái tin rằng lúc tận cùng diễn ra vào lúc đấng Messia xuất hiện lần thứ nhất, điều mà ngày nay họ vẫn chờ đợi. Giáo lí ấy vào thời Chúa Giê su đã được người Do thái tin theo trừ nhóm Sa đu kê ô, và Mát ta đã nói lên điều ấy

18. HỎI. Chúa Giê su muốn nói gì với lời tuyên bố: “Ta là sự sống lại”?

THƯA. Ngài muốn khẳng định rằng Ngài có quyền thông ban cho mọi người tín hữu một sự sống không bao giờ tàn tạ và ở ngòai tầm ảnh hưởng của sự chết. Đời sống ấy còn bao hàm cả sự sống lại của thân xác. Qua phép lạ mà Ngài sắp thực hiện, Chúa Giê su hứa ban cho những ai sẽ tin vào Ngài một sự sống mà sự chết không thể làm gì được: người tín hữu, dù còn phải chịu đựng sự chết thể xác, đã chứa đựng nơi mình một mầm sự sống không tàn phai, sự sống do Đức Ki tô ban cho, một ánh quang thần linh mà Đấng Toàn năng đã đặt trong tạo vật duy nhất theo hình ảnh Ngài.

19. HỎI. Đâu là giá trị của câu trả lời của Mát ta?

THƯA. Mát ta nói lên đức tin của mình, một đức không tìm lí chứng biện minh. Chị tuyên xưng đức tin dựa vào chân lí về Đức Ki tô. Ngài là đấng Messia, là con Thiên Chúa, là Đấng phải đến. Ngòai ra, Ngài đã nhận từ Cha Quyền năng ban sự sống đời đời.

20. HỎI. Tại sao Chúa Giê su khóc, nếu Ngài đã biết trước phép lạ sẽ xảy ra?

THƯA. Bởi vì, theo bản tính nhân lọai, Ngài chia sẻ sự đau đớn của bạn bè và đau khổ trước cái chết của ông La da rô dù chỉ trong một chốc lát. Tuy nhiên, nước mắt của Chúa Giê su khác với nước mắt của những người hiện diện và hai chị của ông La da rô: Thánh Gioan dùng hai động từ khác nhau để diễn tả: Chúa Giê su khóc thầm lặng, con những người đứng chung quanh khóc lóc, kêu than ầm ỉ. Ngài đau buồn trước mãnh lực sự chết đang gieo đau thương cho loài người.

21. HỎI. Tại sao một số người Do thái tỏ ra thiếu tin tưởng vào Chúa Giê su (x.c. 37)?

THƯA. Vì đức tin của họ vào Chúa Giê su không hòan hảo. Họ không tin rằng Chúa Giê su là Đấng Messia, Con Thiên Chúa, và đấng ban sự sống. Họ chỉ dừng lại ở chỗ chấp nhận các tin tức nói về việc chữa lành người mù từ lúc mới sinh và chỉ gán cho Chúa Giê su một quyền năng làm phép lạ mà thôi. Bởi vậy họ ngạc nhiên vì Chúa Giê su đã chữa lành một người lạ mà không mau đến để cứu chữa người bạn thân tín trước khi ông ta chết.

22. HỎI. Tại sao chị Maria cảnh giác Chúa Giê su: “Lạy Thầy, đã có mùi, vì đã bốn ngày rồi” (c. 39)?

THƯA. Thưa vì theo niềm tin trong dân do thái, ngày thứ ba sau khi chết, thân xác phân hủy hoàn toàn và linh hồn không còn lãng vãng nhưng rời xa thân xác rồi. Mát ta còn chưa hiểu ý của Đức Ki tô, cho rằng Ngài muốn nhìn mặt bạn thân mình lần cuối.

23. HỎI. Qua câu chuyện nầy trong cuộc đời Chúa Giê su, lộ trình phụng vụ mùa chay muốn đạt tới mục đích gì?

THƯA. Mục tiêu chuẩn bị cho người ki tô hữu gặp gỡ cứu độ với Đức Ki tô phục sinh. Tuy nhiên, không được coi Chúa Giê su như là một siêu anh hùng luôn luôn chiến thắng trước sức mãnh lực của sự dữ. Chúa Giê su còn tuyệt vời hơn thế. Trong phép Rửa tội Ngài được so sánh là nguồn suối nước hằng sống; với việc chữa lành những người mù, Ngài tỏ ra là Ánh sáng thật; với việc phục hồi sự sống cho ông La da rô, Ngài là Sự Sống thật. Ngòai ra câu chuyện về ông La da rô còn khai triển rõ ràng hơn các câu chuyện khác về chủ đề vượt qua. Cuộc khổ nạn đã thấp thoáng ở chân trời qua câu: “Nào chúng ta cùng đi chịu chết với Ngài” (c.16). Sự chết đến với Chúa Giê su nơi bản thân người bạn thân của Ngài, nhưng Ngài vẫn không chút sợ hãi. Và cuối cùng, sự hồi phục của ông La da rô báo trước sự phục sinh của Chúa Giê su.

[Mục Lục]

Bài 25. Suy niệm của Lm. Giuse Đinh Tất Quý

“Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống.” (Ga 11, 25)

Phải nói ngay rằng khi đọc câu truyện này tôi cảm thấy rất phấn khởi và vui mừng. Lý do là vì trong câu truyện này tôi gặp được một Chúa Giêsu rất gấn gũi với tôi, với những con người.

1. Trước hết, tôi gặp được một Chúa Giêsu đầy tình người. Chúa đã cư xử rất “người” đối với những con người.

Tôi xin đan cử vài thí dụ:

a/ Khi Lazarô đau, hai chị em của ông đã dùng những lời như thế này để báo tin cho Chúa: “Lạy Thầy, người Thầy yêu đang đau liệt” (Ga 11,3). “Người Thầy yêu” Chúng ta khó có thể tìm thấy được một kiểu nói nào chân thành và đầy tình người hơn như thế ở trong cả Kinh Thánh chứ không phải là chỉ trong Tin Mừng mà thôi.

b/ Khi được tin Lazarô đau, Chúa nói với các môn đệ của Ngài: “Lazarô, bạn của chúng ta đang ngủ”(Ga 11,11). Lazarô-bạn. Bạn của chúng ta, bạn của Chúa, bạn của cả các tông đồ.

Thật là thân mật! Khó có thể mà tìm được một cách diễn tả thân tình, một cách xưng hô tuyệt vời hơn thế.

c/ Khi biết Lazarô chết, Chúa quyết định đi thăm ông. Các môn đệ can: “Thưa Thầy mới đây người Do thái tìm cách ném đá Thấy mà Thầy lại còn trở lại đó sao?”(Ga 11,8) nhưng Chúa nhất định cứ đi. Chỉ có những người đã trở thành một lòng một dạ, mới dám sống chết cho nhau, mới có đủ can đảm và dám hy sinh cho nhau như thế.

Bất chấp sự hiểm nguy có thể đe dọa đến cả tính mạng, Chúa nhất định cứ đến, đến để cho mọi người biết cách Ngài đối xử với bạn của mình như thế nào, Ngài yêu thương bạn mình như thế nào.

d/ Lúc đầu khi Chúa tới, chỉ có một mình Martha ra đón Chúa. Chúa chưa vào nhà. Chúa cho gọi Maria ra. Macta vào gọi em. Chị nói: “Thầy đến ở ngoài kia, Thầy cho gọi em.” (Ga 11,28)

Tại sao Chúa lại làm như vậy? Đây là cách đối xử tế nhị: Một chút cách ly trong không gian và thời gian để tránh những xúc động quá đáng có thể phương hại đến sức khỏe. Phải là một người tế nhị lắm mới có thể nghĩ ra được một cách ứng xử đẹp như thế.

e/ Khi gặp Chúa, Maria khóc. Chị khóc rất tự nhiên, rất chân thành, làm cho những người có mặt chung quanh cũng khóc theo. Rồi Chúa cũng xúc động và Chúa cũng khóc theo, khóc rất tự nhiên, rất chân thành. Chúa khóc, khóc với những người đang khóc, khóc với Maria, khóc bằng nước mắt có chất mặn của con người. Những giọt nước mắt trào ra từ một tâm hồn như đang cùng chịu một niềm đau vì có một người thân qua đời. Đó là những gì rất người.

2. Nhưng đàng sau những gì rất người ấy, tôi còn gặp được một Chúa Giêsu là một Thiên Chúa.

Vâng đúng như vậy anh chị em. Tôi đã gặp được một Chúa Giêsu là một Thiên Chúa.

a/ Khi Chúa có mặt, một số người Do thái đã nói với nhau “Ông ấy đã mở mắt cho người mù…mà không thể làm cho anh ấy khỏi chết hay sao ?”(Ga 11,37) Một cách nào đó, họ đã thấy được quyền năng của Chúa.

b/ Khi đến trước cửa mộ, Chúa chỉ vào phiến đá lấp cửa mồ và ra lệnh: Hãy đem phiến đá đó đi” (Ga 11,39). Thật là không ai dám nghĩ tới điều đó. Đây là một lệnh truyền kinh khủng bởi vì luật pháp Do Thái phạt rất nặng tất cả những ai dám xâm phạm đến mồ mả của người chết. Bởi vậy khi Chúa truyền lệnh phải gỡ hòn đá lấp cửa mồ Lazarô ra thì tất cả mọi người đều cảm thấy sợ hãi.

Ở đây lại một lần nữa Chúa làm cho mọi người thấy là Chúa có quyền làm tất cả những gì Ngài muốn vì Ngài là Thiên Chúa. Trước đó khi Martha bày tỏ sự thất vọng của mình: “Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây thì em con đã không chết”(Ga11,32). Chúa trả lời ngay, như một lời hứa: “Em con sẽ sống lại”(Ga 11,23) và bây giờ thì Chúa sắp làm những gì Chúa đã nói. Tất cả mọi người đều ngỡ ngàng và khiếp sợ, Martha đánh bạo thưa với Chúa: “Thưa Thầy, nặng mùi rồi, em con đã ở trong mồ bốn ngày rồi”(Ga 11,39)

Bốn ngày cho một cái xác chết, không còn có thể làm gì được nữa. Con người hoàn toàn bất lực. Con người hoảng sợ cũng phải vì con người chẳng có thể làm gì cho một cái xác không hồn đã được chôn 4 ngày rồi.

Nhưng với Chúa thì không như thế vì Chúa có quyền. Ngài có quyền vì Ngài là Thiên Chúa.

c/ Khi phiến đá chắn cửa mộ đã được đem đi, Chúa đưa ra một lệnh tiếp theo còn kinh khủng hơn: “Lazarô! Hãy ra khỏi mồ” (Ga 11,43). Đó là một lệnh truyền cho người đã chết và đã được người ta đem chôn 4 ngày rồi, không còn bất cứ một khả năng tiếp thu nào nữa. Vâng, một lệnh truyền cho một con người đã chết, và Phúc âm ghi thật rõ: “Người đã chết liền đi ra, chân tay còn quấn vải và mặt còn phủ khăn.” (Ga 11,44)Người đã chết đi ra”. Đây không phải là ngôn ngữ của con người nữa, mà là ngôn ngữ của Thiên Chúa. Không ai trong con người dám truyền lệnh cho người đã chết. Chỉ có Thiên Chúa mới làm được những điều kỳ diệu như thế. Thiên Chúa có quyền trên sự chết. Và sự chết phải tuân lệnh của Người.

d/ Rồi bằng một lệnh truyền thứ ba “Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi.” (Ga 11,44), Chúa đã hoàn tất công việc trả lại sự sống cho người đã chết. Trả lại sự sống cho ngưòi đã chết. Đó là một điều kỳ diệu không thể tin được nhưng lại là một sự thật Chúa đã làm trước mặt rất nhiều người. Nếu không phải là Thiên Chúa thì làm sao làm được những diều kỳ diệu như vậy.

3. Tôi không dám dài dòng. Chỉ còn một tuần nữa là chúng ta bước vào cao điểm của năm Phụng vụ, vào những ngày chúng ta cùng được rất gần gũi với mầu nhiệm tử nạn và Phục sinh của Chúa. Nhưng làm sao để cho những ngày này thực sự là những ngày đem lại một sức sống mới cho chúng ta. Có nhiều cách, nhưng tôi nghĩ chúng ta nên nhắc lại lời tuyên xưng mà Martha đã tuyên xưng cách đây gần 2000 năm. “Con tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa.” (Ga 11,27)

Không có được lòng tin vào Đức Kitô như thế, chúng ta sẽ không thể hiểu được những gì Chúa làm…thậm chí chúng ta còn thấy ghê sợ. Nhưng khi đã tin, mọi sự sẽ thay đổi. Chúng ta sẽ không còn khiếp sợ. Chúng ta sẽ trở nên can đảm và chúng ta có thể làm cho đời sống của chúng ta thành một đời sống thật đáng sống.

Thánh Charles Borromêô sống ở Ý cách đây hơn 400 năm (1538-1584), khi còn trẻ, Ngài có đầy những tước vị, danh vọng, nhưng Ngài đã nhận ra một ngày nào đó, Ngài sẽ phải bỏ lại tất cả. Ngài muốn ghi khắc điều đó, nên nhờ một họa sĩ nổi tiếng vẽ bức tranh treo trong tư thất để diễn tả cái chết. Bức tranh hoàn thành. Họa sĩ trình bày thần chết theo lối cổ điển: Một bộ xương người tay cầm lưỡi hái. Thánh Borromêô nói: đồng ý, nhưng thần chết cũng mở cửa để chúng ta vào nước trời nữa chứ? Tôi đề nghị họa sĩ bỏ chiếc lưỡi hái đi và đặt vào tay thần chết chiếc chìa khóa vàng. Phải, Đức Kitô đã chết và đã sống lại. Thập giá là chìa khóa Nước Trời. Thần chết đã buông lưỡi hái và cầm chìa khóa vàng để mở cửa trời cho những ai đang sống trong ân sủng của Chúa Kitô phục sinh.

[Mục Lục]

Bài 26. NẾU CON TIN, CON SẼ XEM THẤY VINH QUANG THIÊN CHÚA!
Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

“Phép lạ cả thể” Đức Chúa GIÊSU làm cho Lagiarô chết chôn bốn ngày được sống lại, nhằm ba mục đích:

– Thứ nhất, “để làm sáng danh THIÊN CHÚA và do đó Con THIÊN CHÚA sẽ được vinh hiển”.

– Thứ hai, để củng cố đức tin của các tông đồ.

– Thứ ba, để đánh một ván bài chót là đưa những người Do Thái cứng lòng, cố chấp, trở về chấp nhận Ngài là Đấng Cứu Thế.

Mục đích thứ nhất, “để làm sáng danh THIÊN CHÚA và do đó Con THIÊN CHÚA sẽ được vinh hiển”. Đức Chúa GIÊSU lớn tiếng nói lên điều này, khi đứng trước mồ chôn của Lagiarô và có đông đảo những người Do Thái chứng kiến: “Lạy CHA, Con cảm tạ CHA đã nhậm lời Con. Con biết: CHA hằng nghe lời Con. Nhưng Con nói lên vì những người đứng xung quanh đây, để họ tin rằng CHA đã sai Con”.

Mục đích thứ hai, để củng cố đức tin còn yếu kém của các tông đồ. Cho đến giờ phút này, sau gần trọn ba năm theo sát Chúa, các tông đồ vẫn còn chậm hiểu và kém tin. “Lagiarô đã chết. Nhưng Thầy mừng cho các con, vì Thầy không có mặt ở đó để các con tin”.. Phép lạ làm cho người chết chôn bốn ngày trong mồ, “thân xác đã bắt đầu thối rửa và có mùi hôi”, được sống lại, hẳn phải là một phép lạ “vô cùng cả thể”, chỉ duy nhất THIÊN CHÚA mới có thể thực hiện được! Các tông đồ cần được nắm chắc trong tay những bằng chứng cụ thể về quyền năng vô biên của Thầy Chí Thánh, để sau này, khi thử thách xảy đến, các ông không được nghi ngờ, nao núng.

Mục đích thứ ba, “để đưa một số người Do Thái có lòng ngay, tin nhận sứ mệnh Cứu Thế của Đức Chúa GIÊSU KITÔ”. Gia đình ở Bêtania là gia đình bạn hữu nghĩa thiết với Chúa: “Lạy Thầy, người Thầy yêu đang ốm nặng”; “Đức Chúa GIÊSU thương Martha và em là Maria và Lagiarô”. “Nhưng khi hay tin ông này đau liệt, Ngài còn lưu lại đó hai ngày”.. Chi tiết này cho thấy: Đức Chúa GIÊSU có thể đến ngay tức khắc, để chữa cho Lagiarô lành. Nhưng nếu Ngài làm thế, những kẻ không tin Ngài, vẫn tiếp tục cứng đầu cố chấp. Do đó, Đức Chúa GIÊSU chọn lựa thời điểm thuận tiện để biểu dương uy quyền của Ngài.

Gia đình Lagiarô là một gia đình giàu sang nổi tiếng trong toàn vùng. Bêtania chỉ cách Giêrusalem khoảng mười lăm dặm. Và trong những ngày tang chế, “nhiều người Do Thái đến nhà Martha và Maria để an ủi hai bà vì người em đã chết”. Và trước sự chứng kiến của mọi người, sau khi cầu nguyện và cảm tạ CHA Ngài, Đức Chúa GIÊSU đã lớn tiếng gọi Lagiarô ra khỏi mồ. Rồi Ngài ra lệnh cởi những mảnh vải quấn quanh mình Lagiarô ra, cũng trước sự chứng kiến của mọi người. Đức Chúa GIÊSU muốn minh chứng cho mọi người thấy rằng: Ngài không làm ảo thuật, cũng không phải là pháp sư hay nhà phù thủy, nhưng Ngài là “Con THIÊN CHÚA thật”, có uy quyền truyền lệnh cho một người chết, chôn bốn ngày trong mồ, sống lại và ra khỏi mồ.

Thế nhưng ván bài chót, cú đánh thắng lợi vẻ vang sau cùng của Đức Chúa GIÊSU đã có một kết quả thật yếu ớt .. Vào tuần tới, khi các biến cố đau thương dồn dập xảy đến trong Tam Nhật Thánh, khi Đức Chúa GIÊSU bị bắt, thì các tông đồ hoảng sợ bỏ trốn hết. Đặc biệt Phêrô lại chối bỏ Thầy! Còn đối với người Do Thái, có một số ít tin nhận Ngài, nhưng số đông còn lại, ghen tương và tức giận Ngài đến cực độ. Và “phép lạ cả thể” đã trở thành “giọt nước cuối cùng” làm cho nước trong ly đầy thù hận, bị tràn ra ngoài. Kết quả, Đức Chúa GIÊSU bị kết án tử chết treo nhục nhã trên Thập Giá.

Đó cũng là sứ điệp Tin Mừng nhắm gửi đến cho tất cả các tín hữu Công Giáo. Phép lạ cả thể Đức Chúa GIÊSU làm là một chiếc gươm hai lưỡi. Đối với người có lòng ngay thì hoán cải trở về tin nhận Ngài là Đấng Cứu Thế. Còn kẻ gian dối, lòng đầy hận thù, thì biến phép lạ thành bản án kết tội Ngài. Đức Chúa GIÊSU KITÔ và Tin Mừng của Ngài sẽ mãi mãi là “dấu chỉ của sự tương phản”.

Nguyện cầu cho các tín hữu Công Giáo được thuộc về nhóm những người thiện tâm thiện chí biết tin nhận Đức Chúa GIÊSU KITÔ là Đấng Cứu Nhân Độ Thế và can đảm làm chứng cho Ngài, dù có bị chống đối, bị chụp mũ, bị vu khống, thóa mạ và bị kết án.

[Mục Lục]

Share This Post