Chung quanh việc phê bình Đức Phanxicô

Theo Austen Ivereign, người viết tiểu sử của ngài, Đức Phanxicô không những không ngại bị bất đồng ý kiến mà còn khuyến khích người ta bất đồng ý kiến với ngài. Nhưng gần đây, có nguồn tin cho rằng ngài hết sức sôi giận trước các bất đồng gay gắt đối với giáo huấn của ngài trong Niềm Vui Yêu Thương, các bất đồng đã vuợt ranh giới để rơi vào bất thuận (dissent).

Có nên phê bình Đức Giáo Hoàng không?

Trước tình thế gay cấn như trên, Tiến Sĩ Jeff Mirus, chủ nhiệm CatholicCulture.org, một trang mạng thuộc khuynh hướng bảo thủ, nghiêng về phía phê bình các cải tiến của Đức Phanxicô, đã viết một loạt ba bài chung quanh câu hỏi “Chúng ta có nên phê bình Đức Giáo Hoàng Phanxicô, hay không? Nếu có, thì phê bình ra sao?”

Tiến sĩ Mirus và người cộng sự của ông là Phil Lawler nhìn nhận trong mấy tuần hồi cuối tháng Tám qua đầu tháng Chín năm nay, lời phê bình Đức Phanxicô của các ông gay gắt hơn thường lệ và xem ra càng ngày càng thêm gay gắt hơn, khiến nhiều độc giả của họ lên tiếng về sự khôn ngoan của động thái này. Ông trả lời: các ông lúc nào cũng quan tâm tới khía cạnh này.

Tuy về phương diện con người, không dễ gì đạt được sự quân bằng hoàn hảo khi thấy cần phải giải thích và lượng giá một điều gì đó Đức Thánh Cha nói và làm, nhưng các ông vẫn nghĩ đó là điều cần phải làm.

Không phải là vấn đề mới

Theo tiến sĩ Mirus, việc phê bình một vị giáo hoàng không hẳn là một vấn đề mới mẻ. Từ thời Đức Phaolô VI, ông từng lên tiếng than phiền về sự yếu ớt của ngài đối với cuộc cách mạng tân duy hiện đại (thực chất là việc phát triển của chủ nghĩa duy tục về thần học) hồi ấy. Đức Phaolô VI quen cho rằng điều ngài có thể làm cho Giáo Hội là chịu đau khổ. Thực ra, dù ngài không thành công bao nhiêu trong việc theo đuổi mục tiêu của ngài, nhưng việc ngài can đảm công bố thông điệp Sự Sống Con Người năm 1968 đủ chứng tỏ Chúa Thánh Thần luôn bảo vệ Huấn Quyền.

Trong triều giáo hoàng kế tiếp, Tiến Sĩ Mirus cũng phê phán Đức Gioan Phaolô II về sự thất bại khá thông thường trong việc áp dụng kỷ luật. Nhưng ngài rất mạnh mẽ khi giảng dậy về đức tin, luân lý và bổn phận của các giám mục. Thêm vào đó, là cá tính quyến rũ của ngài được các cuộc du hành và tường thuật của truyền thông tích cực cổ vũ đã kích thích nhiều lực lượng canh tân trong Giáo Hội.

Dưới thời Đức Bênêđictô XVI, ông hoài nghi khả năng của Đức Giáo Hoàng trong việc diễn dịch tính rõ ràng vô sánh của ngài về thần học thành hành động quản trị hữu hiệu. Nhưng cũng như vị tiền nhiệm của ngài, Đức Bênêđíctô XVI nổi vượt cả về phương diện dẫn đầu lẫn cổ vũ việc nội tâm hóa cái hiểu bên trong đối với Đức Tin Công Giáo, điều duy nhất có thể dẫn tới việc canh tân thực sự.

Quả thực, các vị trên có một đầu óc rất sâu sắc, chính xác, thực hành và được ơn thánh soi sáng rõ ràng. Nghe các ngài nói hay đọc điều các ngài viết là một cơ hội tham dự vào một khía cạnh tri thức quan trọng của cuộc canh tân Công Giáo chân chính.

Nói cách khác, bất kể các điểm yếu về quản trị, Giáo Hội Công Giáo đã được lãnh đạo bởi các vị giáo hoàng tinh tường về linh đạo và thần học suốt trong 53 năm có sự hỗn độn nặng nề trong Giáo Hội, những vị giáo hoàng đã củng cố vững mạnh cái hiểu và sự cam kết của chúng ta đối với các sự thật sâu xa hết sức chính yếu đối với cuộc canh tân Công Giáo.

Đức Phanxicô không thế

Đức Phanxicô, theo Tiến Sĩ Mirus, thì không thế. Ngài sống cao độ về cảm tính, để mình bị thúc đẩy bởi cảm xúc nhiều hơn các vị tiền nhiệm. Ngài ít thận trọng rào đón trước sau về các suy nghĩ của ngài. Chính ngài cho biết ngài muốn khuấy động sự việc, coi việc này như một đặc điểm của tiếng nói tiên tri, một tiếng nói dành chỗ cho hành động của Chúa Thánh Thần. Có thể nói: ngài rất tốt trong việc mở cửa sổ hay rút nút chặn nước, nhưng không tốt lắm trong việc giải thích sự khác nhau giữa nước đã tắm và em bé được tắm.

Tiến Sĩ Mirus cho rằng phong thái bản thân của Đức Phanxicô rất lôi cuốn. Ngài rất được yêu mến bởi những người bị các vị tiền nhiệm của ngài coi là trở ngại cho canh tân vì họ không chịu chấp nhận tính viên mãn của đức tin Công Giáo. Những người này coi đức Phanxicô như luôn sắp sửa thay đổi các truyền thống và các giáo huấn để dành chỗ cho một số các biểu hiện đa dạng của chủ nghĩa duy thế tục của chính họ. Nhưng cùng một lúc, ngài bị nghi ngờ bởi những người vốn mến mộ các vị tiền nhiệm của ngài chỉ vì các vị này có khả năng thâm hậu hóa chứ không thế tục hóa sứ mệnh Công Giáo”.

Điều đáng lưu ý là cả hai nhóm cùng nhận định về Đức Phanxicô một cách như nhau. Điều này cho thấy lần đầu tiên trong khá nhiều năm, các thành viên dấn thân cao độ nhất của đoàn giáo dân Công Giáo bị đặt vào một tình huống tri thức khá lúng túng. Họ phải đương đầu không những với việc phê phán sự hữu hiệu trong việc quản trị của ngài, mà còn phê phán cả các ưu tiên của Đức Phanxicô và các phát biểu của ngài về chúng, cả hai đều bị họ coi như gây hại tới đức tin và bản sắc Công Giáo.

Tiến Sĩ Mirus cho rằng càng ngày người ta càng tin rằng triều giáo hoàng này sẽ dẫn tới một cuộc thế tục hóa lớn hơn trong Giáo Hội, tương phản với tác động của các vị tiền nhiệm. Nhiều người Công Giáo thành thực, dấn thân và có hiểu biết tin rằng việc tiếp tục canh tân phát sinh từ quyền lãnh đạo của một vị giáo hoàng khó mà có được trong triều giáo hoàng này. Hiện nay, sau một thế hệ gặt hái tuy chậm nhưng có ý nghĩa cao, họ thấy kim đồng hồ canh tân đang quay trở lại với việc thế tục hóa “um tùm” của thập niên 1960. Điều này khiến họ ngã lòng, nhiều người lui về ẩn dật.

Tác động đối với những người hướng dẫn dư luận

Theo Tiến Sĩ Mirus, nhiều người quyết định ở lại để tường trình các tin tức Công Giáo đáng lưu ý và bình luận các biến cố và ý tưởng hiện thời nhằm tạo ra sự hiểu biết tốt hơn ngõ hầu đức tin được thâm hậu hóa. Nhung trở ngại cho họ là phải xử lý nhiều hiểu lầm phát sinh từ các câu nói và việc làm của Đức Phanxicô. Các hiểu lầm này thường đem lại cho người đọc một ý nghĩ không đầy đủ, và đôi khi sai lạc, về ý nghĩa của việc là một người Công Giáo.

Đối với Đức Giáo Hoàng Phanxicô, việc này thường diễn ra khi ngài nhấn mạnh một phần của sự thật mà ngài nghĩ người chưa dấn thân sẽ coi là lôi cuốn (như thương xót, không phán đoán người khác, phục vụ người nghèo, và chăm sóc môi trường) trong khi không nhấn mạnh tới những phần bị người chưa dấn thân coi là khó nhá (như lời mời gọi ăn năn, bản chất luân lý của sự sống mới trong Chúa Kitô, việc sống nghèo nàn về tâm linh, và luật tự nhiên). Ngài nặng về “đồng hành” nhưng không mạnh như thế về “đích đến”.

Không may một điều, theo Tiến Sĩ Mirus, là việc ngài coi những người nhấn mạnh tới “đích đến” là “các luật sĩ”, nghĩa là Pharisiêu. Nhưng việc yêu thương nhấn mạnh tới sự khác nhau giữa sự chân và sự giả hay giữa sự đúng và sự sai có gì liên hệ tới việc Pharisiêu nhấn mạnh tới truyền thống hay vị thế nhóm đảng đâu. Việc này buộc các nhà bình luận Công Giáo phải ra sức trình bầy các lời nói và hành động của Đức Phanxicô sao cho tối thiểu hóa được sự nguy hiểm đối với đức tin của người đọc hoặc hy vọng của họ.

Khổ một điều, việc phê phán ấy gây gương mù gương xấu. Nhiều độc giả không ngại nói với Tiến Sĩ Mirus không được bất đồng với Đức Giáo Hoàng bất cứ cách nào và nên lấy làm xấu hổ về việc này.

Ông cho rằng luận điểm của những người trên sai nhưng gương mù thì có thật. Mặt khác phê phán có thể có tính xói mòn, làm giảm tình yêu, khuyến khích người ta kiêu ngạo… Thành thử cần phải thận trọng khi phê phán Đức Giáo Hoàng. Theo Tiến Sĩ, nên phê phán Đức Giáo Hoàng nhưng có nhiều phương pháp thích đáng khác nhau để phê ngài, nhiều điều “coi chừng” (caveat) khi sử dụng các phương pháp này.

Các hình thức phê phán tương đối thụ động

Các hình thức phê phán thụ động nhằm không trực tiếp đối đầu với sứ điệp của Đức Giáo Hoàng. Theo Tiến Sĩ Mirus, có thể có các phương pháp phê phán thụ động sau đây:

Làm ngơ sứ điệp: Chỉ tường trình các tin vui, không đưa những tin gây tranh cãi. Các người viết phải biết chọn lựa khi tường trình về Đức Giáo Hoàng, chỉ viết về những tuyên bố và hành động dễ dàng được sử dụng một cách tích cực. Có thể gọi đây là một hình thức phê phán mặc nhiên, vì lợi ích người đọc. Nó không trực tiếp phê phán, nhưng phê phán bằng cách loại trừ.

Thay thế bằng sứ điệp của chính ta: Người viết không cho biết nguồn của lời nói và hành động mình tường trình chỉ cho biết “ai đó nghĩ rằng” và sau đó trình bầy lời phân tích về vấn đề đang bàn.

Cũng có thể nhắc tới điều các ký giả khác tường trình như thể họ tường trình sai. Hoặc trích dẫn Đức Giáo Hoàng nêu câu hỏi rồi trả lời câu hỏi ấy cách tốt nhất. Ở đây tránh lưu ý tới các điểm khác với Đức Giáo Hoàng, nhờ thế, độc giả nhận được sứ điệp “đúng” về vấn đề ngài nêu ra.

Các hình thức phê phán tích cực hơn

Đây là các phương pháp trực tiếp đối chất với các thiếu sót trong lời nói và hành động của Đức Giáo Hoàng. Có thể có các phương pháp phê bình tích cực sau đây:

Làm lắng dịu sứ điệp: Có thể có hai cách làm cho sứ điệp của Đức Giáo Hoàng mất sức mạnh của nó. Cách thứ nhất, ta trực tiếp đề cập tới điều Đức Giáo Hoàng nói hoặc làm, nhưng giải thích nó cách nào đó để nó hoàn toàn phù hợp với điều Giáo Hội vẫn luôn hiểu xưa nay.

Cách thứ hai, ta nhấn mạnh rằng điều Đức Giáo Hoàng nói chỉ có tính huấn dụ, chứ không có tính trói buộc: ngài không đưa ra một tín lý hay một luật lệ, nhưng chỉ thúc giục người Công Giáo lưu tâm tới một cạm bẫy hay phải lưu ý tới một việc nhấn mạnh nào đó về tâm linh hay luân lý. Ta có thể dùng hai cách này để giải thích một số nhận định của Đức Giáo Hoàng có thể dẫn tới bối rối hay nguy hiểm, nhưng chấp nhận một áp dụng thích đáng.

Thách thức tính khôn ngoan của sứ điệp: Theo Tiến Sĩ Mirus, Đức Phanxicô có thói quen nói những điều khiến người ta khá ngạc nhiên mà không quan tâm đến việc chúng được tiếp nhận ra sao, có thể bao hàm các sai sót nào hoặc cần phải thận trọng hay dè chừng (caveat) cách nào. Thách thức tính khôn ngoan của ngài trong các dịp này là điều nên làm hơn là thách thức tính chính thống của ngài. Trọng điểm ở đây khá đơn giản: người Công Giáo không cần phải nhất trí với phán đoán có tính dạy khôn (prudential judgment) của ngài.

Đôi khi ta cũng có thể đưa ra phán đoán khôn ngoan của ta với hy vọng đề xuất được một phương thức tốt hơn.

Kiểm soát sứ điệp: Nếu xem ra Đức Giáo Hoàng bàn đến một vấn đề nào đó một cách khiến cho tình hình thêm tệ hơn, thì ta cần phải kiểm soát sứ điệp của ngài một cách quả quyết hơn, để tín hữu không bị chướng tai gai mắt (scandalized) một cách trầm trọng. Điều này đặc biệt cần thiết khi phương thức của Đức Giáo Hoàng xem ra phá hoại một khía cạnh nào đó của tín lý Công Giáo. Một trong các phương pháp là nhấn mạnh tới bất cứ điều gì tích cực nhất trong sứ điệp của ngài, không nhấn mạnh các lạc đề (off-notes) của sứ điệp, nhằm chuyển tải nó một cách nhất quán hơn với đức tin, luân lý và truyền thống Công Giáo. Tiến Sĩ Mirus cho rằng chính phòng báo chí của Tòa Thánh cũng năng sử dụng phương pháp này dưới thời Đức Phanxicô.

Một cách nữa là tự ý thêm vào những điều Đức Giáo Hoàng không nhắc đến và coi những gì ngài nói là một phần của một bức tranh lớn hơn. Mục đích là trình bầy Đức Giáo Hoàng như thể ngài “làm nổi bật” một điểm vốn không nhằm chỉ được tiếp nhận trong cõi chân không, nhưng cần được quân bình hóa bởi các khía cạnh khác của cùng vấn đề. Quảng cáo cho bức tranh lớn hơn như thế này sẽ giảm thiểu gương mù có thể có.

Chống đối sứ điệp: Cuối cùng, có khi ta cần phải đối chất với sứ điệp của Đức Giáo Hoàng một cách chống đối nhiều hơn. Trước nhất, là cẩn thận nhận diện các hệ luận không thể nào được phép trong các nhận định của Đức Giáo Hoàng, với giả thuyết cho rằng ngài nói hơi bất cẩn và thực ra ngài không có ý nói những hệ luận này.

Thứ hai, mạnh hơn, là nhấn mạnh rằng điều Đức Giáo Hoàng nói và làm có hại cho tín lý Công Giáo, không được huấn quyền biện minh, và rất có thể bị huấn quyền bác bỏ, trong triều giáo hoàng sau. Nhiều người tin rằng đây là lúc phải áp dụng lối phê phán này khi Đức Giáo Hoàng Phanxicô toan tính cho người ly dị tái hôn dân sự rước lễ tuy không có án tuyên bố hôn nhân trước của họ vô hiệu. Họ nhận định rằng giáo huấn trước đây của Giáo Hội, Bộ Giáo Luật và thực hành Công Giáo chứng tỏ rằng việc này không thể cho phép, và do đó, họ mong Huấn Quyền hủy bỏ mọi hoài nghi kịp thời, hơn là nhận diện một ngoại lệ hợp pháp.

Các thái độ phải có khi phê bình Đức Giáo Hoàng

Dù cách nào, việc phê bình Đức Giáo Hoàng luôn phải hợp tình hợp lý (fair) và hết sức có tính xây dựng. Thành thử, ta luôn luôn phải dè chừng, ý tứ. Tiến Sĩ Mirus cho hay: các thái độ sau đây cần phải lưu ý khi phê bình Đức Giáo Hoàng:

Khiêm nhường : Trước nhất, mọi nhà phê bình phải nhìn nhận khả thể sai lầm của mình. Bất luận ta nhấn mạnh thế nào về một điểm đặc thù, điều luôn có thể là ta rất có thể sai lầm. Các sai lầm ta có thể có thì vô vàn và đôi khi, ta không nhận ra mình có thể vướng vào một sai lầm đặc thù nào đó. Thành thử việc ta mạnh mẽ đưa ra một lập luận là điều chấp nhận được nhưng điều không thể chấp nhận được là coi những người bất đồng với ta như ngu đần, phi lý.

Hợp tình hợp lý: Điều thích đáng là tất cả chúng ta nên đáp ứng các ý nghĩ và hành động của người khác như ta muốn họ đáp ứng các ý nghĩ và hành động của ta. Đây là một điều hết sức quan trọng và có lẽ hiển nhiên nhất của luật tự nhiên: sự hợp tình hợp lý. Điều này có nghĩa ta phải thường xuyên dành một xây dựng tốt nhất đối với bất cứ tuyên bố hay hành động nào ta nghĩ đáng bị phê phán, trong đó, có việc nhìn nhận ý tốt của người khác ngoại trừ có đủ bằng chứng ngược lại. Hơn nữa, khi nào sự thật về một vấn đề nào đó cho phép có những sự dị biệt hợp pháp, thì ta phải vui lòng thừa nhận khả thể này.

Liêm chính (Integrity): Một vi phạm trầm trọng đối với chính sự liêm chính bản thân, chưa kể còn là một bất công nghiêm trọng, khi cố tình lên đặc điểm sai cho chủ trương hoặc luận điểm của đối phương. Hơn nữa, ta không bao giờ được phán đoán tình trạng nội tâm của người ta phê phán. Ta ít khi biết được các ý hướng thực sự của một con người: chỉ có Thiên Chúa mới có thể vừa nhìn rõ các động lực vừa phán đoán đúng về chúng mà thôi.

Cân bằng: Bất cứ điều gì có tiềm năng làm người ta bị các bề trên trong Giáo Hội của họ xa lánh đều nguy hiểm về phương diện thiêng liêng. Đây không phải là chuyện chính trị. Nếu phải liên tiếp phê phán, ta cũng phải có trách nhiệm tương ứng trong việc nhìn nhận bất cứ điều gì có thể khuyến cáo bất cứ nhân vật nào của Giáo Hội có thẩm quyền hợp pháp đối với người khác khen ngợi họ. Cũng cần phải lưu ý tới mục tiêu: nếu lời phê phán của ta không tới tai Đức Giáo Hoàng thì ta vẫn cần phải củng cố đức tin và đức cậy của các tín hữu. Không gì làm tha hóa và nản lòng người khác nhanh hơn việc làm cho sự việc tệ hơn là chính chúng bằng cách không ngừng bới lông tìm vết.

Tính giới hạn: Ở đây, ta phải tuân giữ các qui luật Công Giáo chuyên biệt của việc dấn thân giao tiếp. Phải cư xử tôn kính đối với những người của Giáo Hội. Hơn nữa, phạm vi bất đồng hợp pháp bị giới hạn bởi huấn quyền hiện hữu, và bởi thẩm quyền kỷ luật thích đáng của Giáo Hội đối với người khác. Tố cáo một vị giáo hoàng đã giảng dậy sai lầm một cách có huấn quyền hay khuyến cáo người ta bất tuân thẩm quyền kỷ luật hợp pháp của ngài là đã vượt quá ranh giới Công Giáo. Vì chúng ta tin vào việc Chúa Kitô che chở Giáo Hội của Người, nên chúng ta không bao giờ được rơi vào cái bẫy cho rằng Giáo Hội sẽ bị tiêu diệt nếu các quan điểm đặc thù của chúng ta không được thi hành. Như Thánh Augustinô từng cảnh cáo một cách ngắn gọn trong cuốn Tự Thú của ngài: sự thật vốn là tài sản của mọi người. Nhưng ai chỉ nói từ cái kho của mình, người ấy nói láo.

Nhậy cảm: Phải tỏ ra nhậy cảm đối với bất cứ ai ta phê phán. Nếu người đọc của ta thấy chướng tai gai mắt (scandalized), ta lại càng phải tỏ ra nhẹ nhàng hơn. Nếu thấy lời phê phán của ta bị coi là xâm hại (corrosive), ta cần phải rút nó lại. Khi phê phán người khác, ta rất dễ bị cám dỗ đánh thật mạnh mà không lưu ý tới các thiệt hại phụ thêm (collateral damage). Nhưng nếu không nghĩ tới ích lợi của các linh hồn trong mọi giai đoạn của việc ta cố gắng làm cho sự việc đúng đắn, thì thà ở im lặng còn hơn. Trọng điểm là che chở và nuôi dưỡng đức tin và đức cậy của những người sẵn sàng nghe theo điều chúng ta nói.

Sửa sai: Nếu ta đã quảng bá những phê phán mà sau đó bị chứng tỏ là không chính xác hay thiếu căn cứ, ta có nghĩa vụ nặng nề phải nhìn nhận như thế, và bảo đảm rằng cũng những người nghe chúng ta lần đầu cũng được nghe ta lần thứ hai. Chúng ta dễ bị quyến rũ xiết bao khi hy vọng người khác quên các lỗi lầm quá khứ của chúng ta và tiếp tục tin tưởng vào phán đoán của ta! Người nào biết tôn trọng bổn phận này, thì người đó chính là một nhà phê phán thực sự đáng tin cậy.

Câu truyện Nôê

Nói tóm lại, việc phê phán Đức Giáo Hoàng là điều có thể biện minh được, tuy có nhiều cách phê phán ngài và với nhiều thái độ thích đáng khác nhau. Trong một bài báo sau đó, Tiến Sĩ Mirus nói rằng: có người trích dẫn câu truyện Nôê say rượu đến bỏ cả mặc quần, được hai con trai đi ngược cầm áo quấn cho khỏi xấu hổ, để cho rằng không nên phê phán Đức Giáo Hoàng, vì dù sao, ngài cũng là cha chung của chúng ta.

Nhưng theo Tiến Sĩ Mirus, câu truyện Nôê là “vấn đề im lặng trước một việc tư riêng, một việc mà công chúng không biết tới”. Nó “không thể áp dụng vào các câu tuyên bố hay hành động công khai của Đức Giáo Hoàng, những điều đã được nhiều người biết đến và thảo luận khắp thế giới”.

Nhưng phê phán không đồng nghĩa với việc tiếng Anh gọi là “character assassination”, tức diễn trình cố ý và kéo dài nhằm hủy diệt sự khả tín và danh thơm tiếng tốt của một con người, nhất là ở trường hợp người cha trong gia đình mà dù gì các con cũng phải tìm cách đề cao các giá trị tích cực của ngài.

Hơn nữa, các vấn đề Đức Giáo Hoàng phải đối phó không hề đơn giản chút nào mà lại đa dạng. Rất nhiều điều ngài làm hết sức tốt đẹp và hoàn toàn đúng. Nên dù có những điểm yếu, ta không được quên các điểm mạnh rất nhiều của ngài.

Nói tóm lại, khi phê phán Đức Giáo Hoàng, 3 điều sau đây tối cần thiết: tình hiếu thảo và bổn phận của ta đối với Đức Giáo Hoàng; ý thức các giới hạn của chính ta; lợi ích của Giáo Hội.

Để thể hiện 3 điều trên, Tiến Sĩ Mirus đề nghị bốn điều sau đây:

1. Không bao giờ được lấy bất cứ điều gì Đức Giáo Hoàng nói ra khỏi ngữ cảnh để minh chứng một điều gì đó. Ngữ cảnh là điều rất quan trọng, và đặt lời cho các sự việc với sự chính xác tuyệt đối nhưng độc lập đối với một ngữ cảnh đặc thù nào đó là điều không bao giờ nên làm. Lấy sự việc ra khỏi ngữ cảnh là sai lầm rất thông thường; khi cố tình, nó là sự bất trung thực.

2. Ta nên cố gắng tưởng tượng ra các điều kiện theo đó một điều hồ nghi do Đức Phanxicô nói hay làm có thể là điều hoàn toàn được phép, rồi cẩn thận xét xem liệu các điều kiện này có thể hợp pháp hay không. Tóm lại, nên dừng lại và khảo sát một số nhân tố cách cẩn thận hơn.

3. Tốt hơn, nên phê phán một cách nhẹ nhàng và có tính tạm thời. Nói rằng “Đức Giáo Hoàng thiếu đức tin” hay “Đức Giáo Hoàng bị lừa phỉnh” hoặc “Đức Giáo Hoàng lầm” là điều vội vã, nên tránh. Tốt hơn, nên nói: “tôi không hiểu lời tuyên bố hay hành động của Đức Giáo Hoàng làm sao có thể thích đáng hay chính xác, xét theo quan điểm X,Y và Z của Công Giáo”.

4. Không những hợp đức ái mà còn khôn ngoan nữa khi chỉ phê phán một vị giáo hoàng về sự thất bại tối thiểu, nhất quán với vụ việc mà thôi. Thí dụ, khi xét tới việc liệu các điều giáo luật 915 và 916 về việc cho rước lễ có gốc rễ tín lý sâu xa đến nỗi không thể phát biểu cách khác được hay không, thì tốt hơn chỉ nên than phiền Đức Giáo Hoàng đã không làm sáng tỏ Giáo Luật trước khi bàn tới việc rước lễ của người ly dị tái hôn, hơn là tố cáo ngài lạc giáo.

Cùng bước với Phêrô

Hiện nay, nhiều người Công Giáo dường như đã vượt ranh giới phê bình Đức Giáo Hoàng để kết án ngài. Trong đó, có đồng nghiệp của Tiến Sĩ Mirus tức Phil Lawler. Ngày 27 tháng Giêng vừa qua, ký giả này đặt bút viết bài “Pope Francis has become a source of division” (Đức Giáo Hoàng Phanxicô Đã Trở Thành Nguồn Gây Chia Rẽ).

Theo ký giả này, Đức Phanxicô có lối cai trị độc đoán và cổ vũ, cách không khoan nhượng, một chương trình có bản chất cực đoan. Lối cai trị độc đoán thể hiện rõ rệt nhất gần đây khi ngài qua mặt tư thế độc lập và có chủ quyền của Hội Hiệp Sĩ Malta. Viết về hành động này trên tờ Wall Street Journal, Sohrab Ahmari, một tân tòng, cho rằng nó “gây chia rẽ Giáo Hội”.

Lawler còn nhận định thêm: “Cũng như trong các cuộc tranh luận khác gần đây như việc rước lễ của người ly dị tái hôn; tư thế của Thánh Lễ bằng tiếng La Tinh; đối thoại giữa Tòa Thánh và chế độ Cộng Sản Trung Hoa, các người bảo thủ đứng về một bên còn Đức Giáo Hoàng Phanxicô thì đứng về bên kia”.

Dĩ nhiên, Đức Giáo Hoàng có quyền ra quyết định và ấn định chính sách. Nhưng không như các lãnh tụ chính trị, ngài không nên đem nghị trình riêng của mình vào chức vụ, không nên cổ vũ các đồng minh của mình và trừng phạt các người đối lập trong Giáo Hội. Trump có thể lật ngược quyết định của Obama, nhưng một vị giáo hoàng được người ta chờ mong duy trì các quyết định của các vị tiền nhiệm. Vì dù gì, Giáo Hội cũng không tự phân chia thành phe đảng chống chọi nhau. Nhất là vì ngài là người rất tha thiết với tính cộng đồng, không cai trị theo lối quân chủ, chỉ đề xuất chứ không áp đặt giải pháp cho các vấn đề mục vụ.

Đức Giáo Hoàng, theo Lawler, có thẩm quyền rất lớn trong Giáo Hội, có quyền nói với toàn thể Giáo Hội, nhưng ngài phải bỏ khả năng nói cho chính ngài. Ngài không được phe phái, ngài nên giải quyết các tranh chấp, không nên khởi động chúng.

Giáo hoàng là thầy dậy tối cao về đức tin Công Giáo, nhưng ngài chỉ nên dậy những gì Giáo Hội luôn luôn dậy. Ngài không thể dậy điều gì mới lạ, chỉ nên dậy những chân lý cổ xưa một cách mới lạ. Tự ý đưa vào một điều mới lạ, ngài đã lạm dụng thẩm quyền của mình. Đưa vào một điều mới lạ lại trái với các tín lý đã thành hình của Giáo Hội, ngài phá hủy chính thẩm quyền của mình. Đối với các thắc mắc khiếu nại của tín hữu về tín lý, ngài nên giải thích, không nhục mạ họ.

Thiển nghĩ các nhận định của Lawler quá đáng, vượt quá ranh giới của “ecclesia discens” (Giáo Hội học tập). Không chắc gì ta đã hiểu hết đường lối của Đức Phanxicô để phê phán, thậm chí lên án như trên.

Về phương diện trên, ký giả Michael O’Loughlin của tờ America đề nghị một cách để hiểu đường hướng của Đức Phanxicô là cùng bước đi với ngài.

Ký giả này dùng hình ảnh bước đi để khởi đầu bài báo của mình: xem ra đơn giản, vì bước đi chỉ cần đặt một chân đàng trước chân kia. Nhưng cơ học của nó không đơn giản: hàng chục cơ bắp phải dãn nở trong khi hàng chục cơ bắp khác phải thắt bóp cùng một lúc, tạo ra nhiều căng thẳng trong cơ thể mới đẩy ta tiến về phía trước. Căng thẳng vì thế là dấu chỉ sự sống.

Nếu Giáo Hội hành xử như một thân xác con người, điều mà Thánh Phaolô đã chủ trương, thì trong Giáo Hội cũng phải có các căng thẳng. Từ những ngày đầu triều giáo hoàng của ngài, Đức Phanxicô đã xử lý với khá nhiều căng thẳng trong Giáo Hội, định chế ngài được bầu lên để cai quản. Các căng thẳng này mấy lúc gần đây đã trở nên hiển hiện hơn khi ngài cố gắng cải tổ Giáo Hội: tản quyền, nối kết với dân, sẵn sàng đương đầu với các thách đố hơn là tiếp tục làm ngơ chúng vì quan niệm lầm lẫn và quá đơn giản về hợp nhất.

Hình ảnh thứ hai là lễ tấn phong 17 tân Hồng Y hồi tháng 11, 2016 tại Đền Thờ Thánh Phêrô. Các tân Hồng Y hứa “không ngừng vâng lời Giáo Hội Thánh Thiện, Tông Truyền, Rôma, và Đấng Diễm Phúc Phêrô trong con người của Giám Mục Tối Cao”. Sau đó, các ngài nhận mũ đỏ, nhẫn và phép lành, trao đổi cái hôn với Đức Giáo Hoàng và các Hồng Y hiện diện. Nghi lễ này nhằm đưa ra một sứ điệp rõ ràng: Dưới Phêrô, tất cả chúng ta là một.

Nhưng mấy ngày trước đó, 4 vị Hồng Y cho người ta thấy rõ: sự hợp nhất của Giáo Hội dưới thời Đức Phanxicô là điều khó nắm (elusive), qua lá thư tỏ ý hoài nghi một số chủ trương của ngài trong tông huấn Niềm Vui Yêu Thương và mong ngài trả lời.

Đức Phanxicô không trực tiếp trả lời. Nhưng theo O’Loughlin, ngài không làm ngơ các quan tâm của các vị. Trong một bài giảng sau lễ tấn phong 17 tân Hồng Y, ngài than phiền về thái độ cứng ngắc của một số vị giáo phẩm.

Rồi ba ngày trước Lễ Giáng Sinh, nói với Giáo Triều, ngài bảo: việc cải tổ Giáo Hội là “dấu hiệu thứ nhất và quan trọng nhất chỉ sự sống của một Giáo Hội đang tiến bước trên đường lữ thứ của mình”. Ngài chấp nhận lời phẩm bình, cho hay: “thiếu phản ứng là dấu chỉ sự chết!”.

Theo Loughlin, gần 4 năm ở ngôi vị giáo hoàng, Đức Phanxicô tiếp tục phối hợp việc suy tính có tham khảo, việc vững vàng đưa ra các quyết định và việc trực tiếp lôi cuốn các tín hữu giáo dân để đẩy mạnh nghị trình của ngài. Hiện đang có những gợi ý cho thấy ngài rất có thể không thành công trong các cố gắng cải tổ Giáo Hội, vì những người trong nội bộ và những người bảo thủ đang trở thành mạnh dạn hơn nhờ các cố gắng kiểu “dubia” (hoài nghi), nhưng Đức Phanxicô tỏ ra không nao núng, cương quyết đẩy Giáo Hội tiến tới.

Một điểm nữa cần lưu ý, nếu muốn hiểu cung cách cai trị của Đức Phanxicô, đó là tinh thần thượng hội đồng (synodality), tức tham khảo rộng rãi càng nhiều người càng tốt từ khắp mọi nơi trong Giáo Hội.

Ai cũng biết Đức Phaolô VI thiết lập ra Thượng Hội Đồng Giám Mục vào năm 1965, nhằm tiếp tục triết lý hành động đầy tính hợp tác của Công Đồng Vatican II, một triết lý thực ra đã phát sinh ngay trong những ngày đầu tiên của Giáo Hội.
Nhưng, theo Loughlin, đến thập niên 1980, các Thượng Hội Đồng đã trở thành hết hiệu lực và còn đó cho có lệ, chứ ít làm việc và thiếu đối thoại để có thể thắng vượt tính cứng ngắc của nền hành chánh Vatican.

Loughlin cho biết Đức Tân Hồng Y Joseph Tobin của Newark, người vốn làm việc tại Tòa Thánh một số năm và từng tham dự 5 thượng hội đồng thời Đức Gioan Phaolô II và Đức Bênêđíctô XVI, nói rằng: đây là một diễn trình rất rõ ràng, không cần phải suy nghĩ hay tra vấn chi cả, các nghị phụ “nhẩy vọt” (frog-marched) thẳng tới kết luận.

Bầu khí bên trong phòng họp của Thượng Hội Đồng bắt đầu bớt ngột ngạt nhờ sáng kiến của Đức Bênêđictô XVI qua việc du nhập “giờ thoải mái” (happy hour) sau các phiên họp khô khan. Nhờ thế, các giám mục bắt đầu cởi mở với nhau hơn qua một ly cà phê hay một ly bia.

Đức Giáo Hoàng Phanxicọ tiến một bước xa hơn nữa. Non một năm sau ngày lên ngôi, ngài loan báo sẽ triệu tập một Thượng Hội Đồng đặc biệt về Gia Đình, trong đó, không có gì bị loại khỏi nghị trình. Sau đó là hai phiên họp liên tiếp trong hai năm, trong đó, các giám mục có nhiệm vụ soạn thảo các ý tưởng để củng cố các gia đình và đó là điều các ngài đã dành phần lớn thì giờ để bàn thảo.

Nhưng các ngài cũng đã nói tới các gia đình đổ vỡ, những người ly dị và tái hôn theo dân luật, cả những người đồng tính nữa. Đức Phanxicô khuyến khích việc thảo luận này.

Cuộc thảo luận trở nên căng thẳng khi bản tường trình sơ khởi bị bác bỏ vì điều báo chí gọi là “một số ngôn ngữ tích cực một cách không ngờ nói về người đồng tính” và ý nghĩ cho rằng người ly dị tái hôn dân sự có thể được lãnh nhận các bí tích trở lại.

Phiên thứ hai, khai mạc năm 2015, không giải quyết được mối căng thẳng trên. Theo Loughlin, để tránh có hại cho cuộc đối thoại, Đức Phanxicô đã hạn chế tối đa các can thiệp của ngài.

Tuy nhiên, ngay trước khi phiên thứ hai bắt đầu, 13 vị Hồng Y đã trình lên Đức Giáo Hoàng một lá thư ký chung của họ, gợi ý rằng Thượng Hội Đồng của ngài được dự kiến sẽ dẫn tới một kết luận đã định sẵn chứ không hẳn nhằm cổ vũ đối thoại công khai. Một số giám mục còn cho rằng các biên bản của Thượng Hội Đồng đã lạc đề.

Tuy nhiên, Tổng Giám Mục Coleridge của Brisbane, Úc, thì cho rằng ngài biết rõ Đức Phanxicô có kế hoạch riêng.

Quả thế, tháng Tư năm 2016, với việc công bố Tông Huấn Niềm Vui Yêu Thương, ngoài việc mô tả vẻ đẹp của đời sống gia đình và việc Giáo Hội phải hỗ trợ các gia đình cách hữu hiệu hơn, Đức Giáo Hoàng cũng gợi ý cách phải giải quyết vấn đề rước lễ như thế nào cho những người ly dị tái hôn dân sự.

Theo Loughlin, “Ngài [Đức Phanxicô] dường như muốn gợi ý rằng qua một diễn trình biện phân và thống hối, với sự tham khảo một linh mục, các người Công Giáo ly dị và tái hôn nào muốn rước lễ có thể được trở lại lãnh nhận các bí tích. Đức Giáo Hoàng tìm cách thúc đẩy Giáo Hội tiến tới trong vấn đề này bằng một ghi chú, một dấu hiệu cho thấy giáo huấn này không hẳn là thúc đẩy chính của tông huấn”.

Nhưng ghi chú trên đã gây ra phản ứng mãnh liệt trong Giáo Hội. Theo Loughlin, nó đã lay động cả Giáo Hội và cung cấp cho ta cơ hội để hiểu rõ Đức Giáo Hoàng có ý dẫn ta tới đâu.

Tháng Chín năm ngoái khi các giám mục Á Căn Đình đưa ra một khuôn khổ cụ thể cho phép nới lỏng việc rước lễ và được Đức Phanxicô đồng ý, thì đây là dấu rõ rệt nhất cho thấy qua diễn trình Thượng Hội Đồng, Đức Phanxicô có ý định tổ chức lại cơ cấu của Giáo Hội ra sao. Theo lời Đức HY Tobin, thì diễn trình này là: trong Giáo Hội hoàn cầu này, phải cai quản một cách ít tập trung quyền hành hơn, với địa phương căng thẳng một cách sáng tạo đối với trung ương.

Trên thực tế, diễn trình ấy gồm ba bước: hỏi những câu hỏi khó, suy tính với càng nhiều tâm trí càng hay, rồi đưa ra quyết định để tiến thêm một bước trong cuộc hành trình.

Nhận định của Loughlin là: “Đức Giáo Hoàng Phanxicô rất có thể không biết diễn trình trên dẫn ngài hay Giáo Hội tới đâu, nhưng ngài tin tưởng rằng đứng yên một chỗ không phải là một giải pháp”.

Diễn trình trên được Đức Cha Robert McElroy của San Diego, Hoa Kỳ, hết lòng ủng hộ và ngài còn tiến xa hơn một bước bằng cách mời các giáo dân dự một “thượng hội đồng” giáo phận để bàn về Niềm Vui Yêu Thương vào mùa hè năm ngoái với lời hứa: thì giờ của họ không bị phí phạm, và, ngoại trừ sai lầm ra, các khuyến cáo của họ sẽ được thi hành!

Chính Đức Cha McElroy cũng không rõ “thượng hội đồng” của ngài sẽ đi về đâu. Và kết quả của nó làm chính ngài phải ngạc nhiên.

San Diego, với gần 1 triệu người Công Giáo, vốn là giáo phận không thiếu những gia đình ly tán. Quân nhân hiện diện đông đảo tại đây, thành thử, nhiều gia đình phải chịu cảnh bị triển khai (deployment) lâu dài khiến vợ chồng và cha mẹ phải sống xa nhau trong một thời gian dài. Địa phương hóa sứ điệp phổ quát của Đức Phanxicô, người Công Giáo San Diego cho rằng Giáo Hội nên cung ứng tài nguyên cho các gia đình phân tán vì bị triển khai. Và thế là San Diego nghiêng về phía cho phép người ly dị tái hôn rước lễ, chỉ vì, như lời Đức Cha McElroy: “chúng tôi sẽ làm điều Đức Giáo Hoàng yêu cầu chúng tôi làm và tôi chắc chắn sẽ làm điều này vì dân chúng yêu cầu chúng tôi làm”.

Người hết lòng ủng hộ phương thức của Đức Phanxicô là linh mục Antonio Sparado, giám đốc tập san “bán chính thức” của Tòa Thánh và là người cùng Dòng Tên với ngài. Trong các tháng qua, Linh Mục Sparado đã dùng mọi phương tiện truyền thông để bênh vực người cùng Dòng. Điều này cũng dễ hiểu vì Dòng Tên vốn rất thích việc biện phân. Phương thức này, theo Loughlin, có thể làm lệch hướng những người quen với lối chỉ huy từ trên phán xuống, hết sức rõ ràng.
Phản ảnh Đức Phanxicô từng nét, Cha Sparado nói với tờ America rằng: “nếu diễn trình có thực chất, bạn sẽ không biết kết cục”.

Cha so sánh lối cai quản của Đức Phanxicô với việc đi tìm đường đi quanh co khắp Rôma. Người thời nay có thể dùng GPS để tìm đường cách an toàn dễ dàng. Nhưng Đức Phanxicô thì nhất định thuộc trường phái cũ trong phương thức của ngài. Nên “Ngài không biết chính xác con đường này sẽ dẫn tới đâu. Ngài học và ngài hiểu sự việc từng bước một”.
Mỗi bước có thể gây căng thẳng cho những người lo lắng đối con đường mới ngài đi.

Theo Tổng Giám Mục Coleridge, trong phương thức của ngài, Đức Phanxicô còn muốn cởi bỏ tính huyền bí chung quanh ngôi vị giáo hoàng, một sự huyền bí đạt tới tột đỉnh thời Đức Gioan Phaolô II, người mà nhiều người coi như “một thứ sấm truyền có thể phán ra lời nói cuối cùng cho bất cứ vấn đề nào”.

Đối với Đức Giáo Hoàng Phanxicô, đúng hơn ngài là thành phần của một cuộc chuyện vãn vĩ đại thuộc về toàn thể Giáo Hội.

Trong cuộc phỏng vấn của tờ báo Công Giáo Bỉ Tertio hồi tháng Mười Hai, Đức Phanxicô nói như sau về viễn kiến thượng hội đồng dành cho Giáo Hội của ngài: “Một là có một Giáo Hội theo hình kim tự tháp, trong đó điều gì Phêrô nói đều được thực hiện, hai là có một Giáo Hội với tính thượng hội đồng, trong đó, Phêrô là Phêrô nhưng ngài đồng hành với Giáo Hội, ngài để Giáo Hội lớn mạnh, ngài lắng nghe Giáo Hội, ngài học hỏi từ thực tại này và tiến hành việc hoà nhịp nó, biện phân những gì phát xuất từ Giáo Hội và phục hồi nó cho Giáo Hội”.

Đức Phanxicô nói rằng trong Giáo Hội có tính thượng hội đồng, luôn có chuyển động và đối thoại, nhưng giáo hoàng luôn cầm chịch. Ngài bảo: “Nhưng có câu La Tinh nói rằng các Giáo Hội luôn luôn cum Petro et sub Petro (với Phêrô và dưới Phêrô). Phêrô là người bảo đảm sự hợp nhất của Giáo Hội. Ngài là người bảo đảm”.

Tiến về phía trước không luôn luôn dễ dàng. Nó có thể làm bất an những ai quen với những lối sự việc là và vốn là. Thành thử không ngạc nhiên bao nhiêu nếu Đức Phanxicô gặp một số đề kháng nào đó. Tuy thế, Cha Sparado cho hay: những người phê bình Đức Phanxicô đã nhận được quá nhiều chú ý. Dù gì, gần như mọi Hồng Y, chỉ trừ một số vị, đã lên tiếng ủng hộ Đức Giáo Hoàng. Phần lớn người Công Giáo không bận tâm đến các cuộc tranh luận trong nội bộ Giáo Hội.
Cha nói: “Nếu ta đọc ‘Niềm Vui Yêu Thương’, thì sẽ thấy rõ đâu là điều Đức Giáo Hoàng có ý định thực hiện: thiết lập việc biện phân trong mọi diễn trình của Giáo Hội. Ngài cố gắng nói với các mục tử rằng công việc của anh em không phải chỉ áp dụng các qui luật, coi chúng giống như toán học hay các lý thuyết. Công việc của anh em là nhìn vào cuộc sống người dân của anh em và giúp họ khám phá ra Thiên Chúa và lớn lên trong Giáo Hội chứ không loại trừ, không phân rẽ bất cứ ai ra khỏi Tin Mừng và đời sống Giáo Hội”.

Cha Spadaro cho rằng Đức Phanxicô không có kế hoạch tổng thể (master plan). “Ngài quyết định thực hiện điều gì đó bằng cách nhìn vào các biến cố và cầu nguyện, điều này có nghĩa ngài không xây dựng các kế hoạch lớn lao. Ngài đi từng bước, bước từng bước”.

Dĩ nhiên, mỗi bước nói trên phức tạp hơn điều Đức Giáo Hoàng muốn, cho thấy nhiều căng thẳng ở dọc đường. Nhưng việc này không làm Đức Giáo Hoàng lo âu. Dĩ nhiên, ngài biết rõ các rủi ro; nhưng nếu đường đi được Thiên Chúa hướng dẫn, thì có chi bạn phải bối rối hay lo lắng”.

Mấy dòng nhận định

Đã đành một số người phê bình Đức Phanxicô đã đi tới quá trớn bằng cách kết án ngài lạc giáo. Nhưng những người bênh vực ngài cũng đã phạm không thiếu những điều quá đáng khi quả quyết những điều không hẳn có trong đầu vị Cha Chung của Giáo Hội hoàn vũ.

Đọc các nhận định trên đây của Loughlin, ai cũng phải thừa nhận rằng: với niềm tín thác vào sự hướng dẫn của Thiên Chúa, có chi mà phải bối rối hay lo lắng. Nhưng Thiên Chúa hướng dẫn Đức Giáo Hoàng qua điều chính ngài xác nhận là tính thượng hội đồng hay công đồng và đối thoại cởi mở không hẳn chỉ với các chức sắc trong Giáo Hội mà là mọi tín hữu theo nguyên tắc đã có từ ngàn xưa của Giáo Hội: cảm thức tín hữu (sensus fidelium), một điều có giá trị tương đương như quyền bất khả ngộ của Phêrô.

Vả lại, nếu bảo rằng khi Đức Phanxicô lên tiếng chỉ trích các vị chống đối là cứng ngắc là ngài đã gián tiếp trả lời họ thì e là không đúng, vì đấy đâu phải là câu trả lời mà là lời cáo buộc.

Đàng khác, hàm ý cho rằng các vị Hồng Y “dubia” đã góp phần làm tăng cường sự chống đối cuộc cải tổ của Đức Phanxicô là một cáo buộc bất công, chắc chắn không có trong đầu óc Đức Phanxicô.

Nhận định cho rằng các thượng hội đồng trước thời Đức Phanxicô chỉ là để đóng dấu cho một quyết định có sẵn là nhận định nông nổi gây chia rẽ và dường như mâu thuẫn với những nhận định sau đó trong diễn trình tạo ra Niềm Vui Yêu Thương.

Ai cũng biết, lối giải thích liên tục tính là lối giải thích đúng đắn nhất trong lịch sử Giáo Hội. Lối giải thích đứt đoạn chỉ nhằm gây chia rẽ và vô tình chối bỏ hành động liên tục của Chúa Thánh Thần trong lịch sử này.

Đàng khác, ai cũng biết trong cả hai phiên năm 2014 và năm 2015 của Thượng Hội Đồng Đặc Biệt về Gia Đình, các vấn đề gây tranh cãi sôi động thuộc chương Tám của Niềm Vui Yêu Thương sau này đã không đạt được đại đa số đồng thuận như qui định của Thượng Hội Đồng Giám Mục. Đáng lẽ những điều đó phải bị loại ra khỏi phúc trình cuối cùng, nhưng Đức Phanxicô đã quyết định cho giữ lại và sau đó, chính ngài, cho vào Niềm Vui Yêu Thương với ghi chú 351 gây phản ứng dữ dội.

Thành thử, đúng như nhận định của Tổng Giám Mục Coleridge, người hết lòng bênh vực lối giải thích đứt đoạn, Đức Phanxicô có kế hoạch lớn, chứ không như Cha Sparado cho rằng ngài không có kế hoạch lớn. Kế hoạch đó không đạt được đại đa số nghị phụ Thượng Hội Đồng Giám Mục về Gia Đình hỗ trợ, nhưng vẫn đã được công bố chính thức bằng một văn kiện huấn quyền. Như thế, “việc nhẩy vọt tới kết luận”, trên thực tế, vẫn đã xẩy ra.

Và nếu thế, thì diễn trình đối thoại nên tiếp tục. Và dường như đây là quyết định mới nhất của Đức Phanxicô khi ngài “để” Đức Hồng Y Muller, bộ trưởng thánh bộ Giáo Lý Đức Tin, lên tiếng trả lời 4 vị Hồng Y “dubia”, bằng cách xác nhận nguyên tắc bất hủ này: phải đọc Niềm Vui Yêu Thương trong liên tục tính với huấn quyền xưa nay của Giáo Hội về hôn nhân và các bí tích.

Thực vậy, lá thư của bốn vị Hồng Y “dubia” được gửi cho cả Đức Phanxicô lẫn Đức Hồng Y Muller. Đức Phanxicô không trả lời mà Đức Hồng Y Muller cũng không trả lời. Giải thích việc này, Đức Hồng Y nói: vì không được ủy quyền của Đức Giáo Hoàng. Vậy nay, nếu ngài đã lên tiếng trả lời, dù không bằng văn thư, nhưng bằng một cuộc phỏng vấn, thì hẳn vì đã được Đức Giáo Hoàng “ủy quyền”. Dù cho mấy ngày qua, tại Rôma, xuất hiện nhiều bích chương công khai chống đối Đức Phanxicô, người ta vẫn hy vọng: cuộc khủng hoảng có thật nhưng bị những người vây quanh Đức Phanxicô cho là vẽ vời, quá chú trọng tới một ghi chú không quan trọng gây ra mà thôi, sẽ được giải quyết êm đẹp, lấy lại hòa khí trong Giáo Hội.

Vũ Văn An

(Theo VietCatholic)

Share This Post