Chuyện hôn nhân đồng giới

honnhan-donggioiNgày 26-6-2015, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã phán quyết rằng Hiến pháp Hoa Kỳ bảo đảm quyền lợi đối với hôn nhân đồng giới ở 50 tiểu bang của Hoa Kỳ. Theo quyết định này, tòa án đã chính thức chấp thuận hôn nhân đồng giới là quyền cơ bản của mọi người sống tại các tiểu bang của quốc gia Hoa Kỳ.

Hôn nhân đồng giới được định nghĩa là sự kết hợp giữa hai người cùng giới tính. Từ năm 2001, mười quốc gia và các khu vực khác đã hợp pháp hóa dạng hôn nhân này. Dù dạng hôn nhân này được công nhận hay không thì đó vẫn là nguyên nhân gây tranh luận về quyền công dân, các vấn đề xã hội và chính trị.

Từ ngữ “hôn nhân” không được hiểu giống nhau theo mỗi nền văn hóa. Năm 1922, chữ “hôn nhân” được dùng để đề cập mối quan hệ của người đàn ông với người phụ nữ được luập pháp công nhận, đồng thời liên quan các quyền và nhiệm vụ. Những người kết hôn có trách nhiệm đối với con cái mà họ cùng sinh ra.

Các định nghĩa hiện đại về từ ngữ này có nhiều thay đổi. Tự điển Oxford English Dictionary đã có định nghĩa về hôn nhân đồng giới từ năm 2000. Tuy nhiên, nhiều phiên bản bảo thủ chưa dám thay đổi cách định nghĩa của họ. Chẳng hạn, cách định nghĩa của Accuracy vẫn dùng dấu “ngoặc kép” khi đề cập sự hôn nhân giữa hai người cùng giới tính. Associated Press dùng chữ “gay marriage” và nói rằng cụm từ này có thể nói tới hôn nhân giữa hai người đồng tính nam (gay) hoặc đồng tính nữ (lesbian).

Có nhiều cách định nghĩa về hôn nhân đồng giới và cũng có nhiều tranh luận. những người ủng hộ hôn nhân đồng giới thường nói rằng tình yêu là nền tảng của hôn nhân, bất kể dạng định hướng giới tính nào. Những người không ủng hộ hôn nhân đồng giới lại đưa ra quan điểm tôn giáo và quan ngại về việc nuôi dạy con cái là lý do chính để họ phản đối. Quả thật, hôn nhân đồng giới không là vấn đề đơn giản. Nó liên quan nhiều vấn đề – về lập pháp, văn hóa, tôn giáo và gia đình.

Từ quan điểm pháp luật, những người phản đối hôn nhân đồng giới thường cho rằng quyền hôn nhân nên dành cho các vợ chồng khác giới tính – tức là hôn nhân bình thường. Những người ủng hộ hôn nhân đồng giới cho rằng hôn nhân là quyền dân sự và không nên hạn chế đối với những người có định hướng giới tính đặc biệt.

Các cuộc tranh luận ủng hộ và phản đối hôn nhân đồng giới thường liên quan các yếu tố tôn giáo. Một số tôn giáo không cử hành hôn lễ cho các đôi hôn nhân đồng giới. Có những hệ phái tin rằng những người đồng tính nam và đồng tính nữ được Tạo Hóa dựng nên như vậy thì họ cũng có quyền như những người bình thường. Những người phản đối hôn nhân đồng giới tranh luận rằng mối quan hệ đồng giới là vô luân, trái ngược ý Chúa và phá hư mục đích sinh sản của giới tính con người. Do Thái giáo cũng có những ý kiến khác nhau về hôn nhân đồng giới. Hồi giáo công khai phản đối tình dục đồng giới, họ dẫn chứng chuyện ông Lót ở thành Sơ-đôm như sự kết án về tình dục đồng giới.

Nhiều người tranh luận rằng đứa con có quyền lớn lên trong sự chăm sóc của cả cha và mẹ, nếu đứa trẻ ở trong một gia đình đồng giới sẽ không được hưởng quyền lợi này. Nghiên cứu khoa học thấy rằng những đứa trẻ được cha mẹ đồng giới nuôi dạy sẽ không được giáo dục đầy đủ như những đứa trẻ được cha mẹ khác giới nuôi dạy.

Tranh luận về hôn nhân đồng giới là vấn đề lớn vì nhiều yếu tố xã hội và pháp luật có liên quan. Lịch sử có nhiều cuộc hôn nhân đồng giới trong các dân tộc, nhưng loại hôn nhân này hiếm hoặc không hiện hữu trong văn hóa của chúng ta. Cuối thế kỷ XX, “phong trào” hôn nhân đồng giới bắt đầu xuất hiện nhiều. Luật đầu tiên chấp nhận hôn nhân đồng giới có hiệu lực từ năm 2001 tại Hà Lan. Tính đến ngày 26-6-2015 (ngày Hoa Kỳ chính thức hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới), có 18 quốc gia (Argentina, Bỉ, Brazil, Canada, Đan Mạch, Pháp, Iceland, Luxembourg, Hà Làn, New Zealand, Na Uy, Bồ Đào Nha, Nam Phi, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Anh quốc, Hoa Kỳ và Uruguay) và một số khu vực cho phép những người đồng giới kết hôn. Luật tương tự cũng được đề cập tại Phần Lan, Ai-len và Slovenia, nhưng chưa có hiệu lực. Ngoài Nam Phi và Israel, chưa có quốc gia nào tại Phi châu và Á châu chấp nhận hôn nhân đồng giới.

Năm 2010, Trường Y tế Công đồng thuộc ĐH Columbia Mailman đã nghiên cứu hệ lụy của sự phân biệt về sức khỏe tâm thần của những người đồng tính nữ, đồng tính nam và lưỡng tính (LGB – lesbian, gay and bisexual). Họ thấy rằng có mức tăng về rối loạn tâm thần, kể cả tình trạng tăng gấp đôi về sự rối loạn lo âu ở ba loại giới tính “đặc biệt” này.

Nói về hôn nhân đồng giới, chúng ta không thể không đề cập “lá cờ cầu vồng” (rainbow flag), còn gọi là “lá cờ tự hào đồng tính nam” (gay pride flag) hoặc “lá cờ tự hào tứ giới” (LGBT pride flag. LGBT: lesbian, gay, bisexual, and transgender – đồng tính nữ, đồng tính nam, lưỡng tính và chuyển giới tính). Màu sắc phản ánh tính đa dạng của cộng đồng “tứ giới” này. Lá cờ này có xuất xứ từ Bắc California, nhưng ngày nay phổ biến cả thế giới.

Năm 1978, Gilbert Baker (ở San Francisco) đã vẽ lá cờ này. Lá cờ này tung bay trên nền trời San Francisco vào ngày 25-6-1978, Ngày Tự do Đồng tính (Gay Freedom Day), và bài hát “Over the Rainbow” vang lên với giọng ca của cô Judy Garland (một biểu tượng đồng tính). Sau khi Garland qua đời, nhóm Stonewall đã hát bài này. Lá cờ này nhìn tương tự sắc màu của chiếc cầu vồng nên người ta gọi là “lá cờ cầu vồng”. Lá cờ này được sử dụng rộng rãi trên nhiều sản phẩm như nữ trang, quần áo và các dồ dùng cá nhân khác.

Chấp nhận hôn nhân đồng giới là không cộng tác với công trình sáng tạo của Thiên Chúa, là ngăn chặn sự sống, là tự hủy diệt mình, là tự tạo ra thời điểm tận thế. Tại sao?

Thiên Chúa dựng nên có nam và có nữ. Nam nữ kết hợp nên một để truyền sinh, làm cho nhân loại càng ngày càng thêm đông như sao trên trời và như cát dưới biển. Thực vật và động vật cũng phải có sự kết hợp của giống đực và giống cái để khả dĩ sinh sôi nảy nở. Đất trời cũng cần hài hòa âm và dương thì mới ổn định bền vững. Thế mà con người, sinh vật cao cấp nhất trong các loài, lại dám ngang nhiên đi ngược với quy luật tự nhiên bất biến đó sao?

Hôn nhân đồng giới là sự kết hợp của hai người đồng giới – nam với nam hoặc nữ với nữ, hai người đồng giới không thể kết hợp để khả sinh. Không muốn truyền sinh tức là ngăn chặn sự sống, triệt tiêu mầm sống, như vậy là tự hủy diệt nhân loại, tự muốn thế gian này sớm chấm dứt. Thật là khủng khiếp!

Người ta hành động như vậy là tự mâu thuẫn: Mỗi khi nghe nói tận thế, ai cũng run lẩy bẩy, run như cầy sấy, toát mồ hôi hột, thế mà người ta lại ảo tưởng, coi trời chỉ bằng… “nắp bia” khi hùa nhau chấp nhận loại tình yêu quái đản: Hôn nhân đồng giới. Rõ ràng chúng ta đã coi thường Thiên Luật, tục hóa Thánh Luật, phá vỡ Luật Chúa.

Thiên Chúa trao ban cho chúng ta bộ phận sinh dục – và kèm theo niềm vui – để chia sẻ với người khác phái mà mình kết hợp chung thủy trọn đời. Thiên Chúa muốn chúng ta dùng khả năng tình dục để giao trao tặng nhau tình yêu vô điều kiện và sâu đậm trong hôn nhân một vợ một chồng, cùng hợp tác với nhau để truyền sinh theo kế hoạch sáng tạo của Thiên Chúa.

Giáo huấn Công giáo về luân lý giới tính có nguồn gốc từ cuốn sách đầu tiên của bộ Kinh Thánh. Sách Sáng Thế cho biết: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ. Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất” (St 1:27-28).

Đoạn văn này là nền tảng, cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa dựng nên người nam và người nữ để bổ túc lẫn nhau. Thiên Chúa ban cho con người khả năng sinh dục để cộng tác với Ngài trong công cuộc sáng tạo sự sống mới. Theo kế hoạch của Ngài, chia sẻ tình dục chỉ được phép xảy ra trong môi trường hôn nhân khác giới. Trong hệ lụy này, người nam và người nữ trở nên một – cả thân xác và tâm hồn. Họ chia sẻ tình yêu vô điều kiện, duy trì sự sống mới mà Thiên Chúa gởi đến cho họ.

Giáo Hội dạy rằng sẽ là tội lỗi và sai trái luân lý khi thực hiện hành vi tình dục ngoài hôn nhân. Điều này bao gồm hoạt động tình dục giữa hai người đồng giới, vì hoạt động này không bổ túc lẫn nhau và không sinh sản. Thánh Phaolô kết án hành động tình dục đồng giới là “dục tình đồi bại” và “trái tự nhiên” (Rm 1:26-27).

Các hành vi tình dục đồng giới đều là tội lỗi vì người ta sử dụng khả năng tình dục không đúng ý muốn của Thiên Chúa. Cũng như tình dục trước hôn nhân và ngoài hôn nhân, tình dục đồng giới từ chối việc truyền sinh và bản chất kết hợp của tình yêu chỉ có thể xảy ra trong hôn nhân giữa một người nam và một người nữ. Nếu “dính líu” hoạt động tình dục trước hôn nhân, ngoài hôn nhân, hoặc tình dục đồng giới, với nhận thức và tự do, người đó phạm tội trọng.

Tuy nhiên,nên lưu ý vấn đề sau đây. Giáo Hội phân biệt giữa hoạt động tình dục đồng giới (điều này sai trái) và định hướng tình dục đồng giới (điều này không sai trái). Sự định hướng tình dục đồng giới đúng đắn là sự hấp dẫn giới tính lâu dài đối với một người cùng giới tính. Điều này chủ yếu dẫn đến hoạt động tình dục với những người cùng giới tính.

Sự định hướng tình dục đồng giới đúng đắn không là tội lỗi vì người ta không chọn các ước muốn này. Đơn giản cũng như người ta không “có lỗi” vì sinh ra cao hay thấp. Khoa học không phát hiện nguyên nhân chính xác của sự định hướng tình dục đồng giới. Đó có phải là di truyền, hormone, nhận biết hoặc bị xui khiến qua kinh nghiệm giới tính, giáo dục gia đình, hoặc sự kết hợp của các yếu tố? Không ai biết chắc chắn. Nhưng sự định hướng tình dục đồng giới không là tội lỗi vì người ta không chủ động chọn lựa.

Nhưng thật đáng buồn vì văn hóa của chúng ta thường không phân biệt sự định hướng tình dục đồng giới và hoạt động tình dục đồng giới. Do đó, xã hội thường “dán nhãn” cho những người đồng tính là những người không thể hoặc không muốn kiểm soát cách cư xử theo giới tính của họ. Thành kiến đối với những người đồng tính như vậy thật là độc ác và bất công. Người ta không đáng trách về sự định hướng tình dục đồng giới. Đó là dạng thành kiến tệ hại nhất khiến người khác phải ngậm đắng nuốt cay, cứ cho rằng những người đồng tính đều làm điều xấu xa nên kết tội họ.

Chúa Giêsu muốn chúng ta đối xử với mọi người với lòng tự trọng và tôn trọng, dù người đó là ai và với định hướng giới tính nào. Xa lánh, ghét bỏ hoặc kỳ thị người khác là các động thái phản Kitô giáo, và có thể là tội lỗi.

Giáo lý Công giáo (số 1601) cho biết: “Điều không bình thường nhất chính là lúc tầm thường hóa hôn nhân, hôn nhân không còn là giao kết giữa người nam và người nữ trong tự do và trách nhiệm để sống yêu thương và giúp đỡ nhau trong tình nghĩa vợ chồng; để sinh sản và giáo dục con cái trong nhiệm vụ làm cha làm mẹ”.

Trong thông điệp “Laudate Si” (Ngợi Khen Thiên Chúa), ĐGH Phanxicô đã đặt vấn đề: “Chúng ta muốn chuyển giao loại thế giới nào cho các thế hệ sau chúng ta, những trẻ em đang lớn lên?”.

Trầm Thiên Thu
Saigon, tháng 7-2015

 

Share This Post