Đám cưới đầu xuân

  1. Những tấm thiệp hồng

      Ở quê tôi, cũng như các giáo xứ trên kênh, người tín hữu phần nào vẫn còn chịu ảnh hưởng của nề nếp xưa. Xưa, người ta không bao giờ tổ chức cưới gả vào Mùa Bốn Mươi và Mùa Át. Nay, họ vẫn còn cố tránh cưới xin vào hai mùa trên, nay gọi là Mùa Chay và Mùa Vọng. Thế nên, thời gian sau lễ Giáng Sinh, bước vào năm mới tây, đến trước tết nguyên đán được gọi là mùa cưới. Các đám cưới dồn lại, nổ ra (phải nói là nổ ra), như hoa xuân, nhiều lắm. Dịp tết dương lịch, tôi nhận được đúng mười thiệp báo hỉ. Tôi đọc qua một lượt, nghĩ bụng:

      –  Mười tấm thiệp thì chín tấm bên trong không phải ghi chữ nào, chỉ in sẵn: “Trân trọng kính mời quý gia đình”. Sao lại không in chấm chấm chấm rồi viết lên trên: Kính mời ông bà cậu mợ chú bác cô dì, và các con cháu anh em…, vừa tôn trọng người được mời, vừa tình cảm, vừa trang trọng, vừa lịch thiệp, vừa là thiệp báo tin vui, vừa là thư mời, không vô hồn, máy móc  như công văn cho mọi người, như tờ rơi quảng cáo bán hàng cho trả góp hay như một kiểu giấy báo nợ… Lại còn chưa kể: Nhà có ba bốn chị gái mới được đứa em trai. Người thì in là trưởng nam, người khác: út nam, có người: nhất nam, lại có người: quý nam. Chữ với nghĩa, loạn cào cào cả lên… Không biết đúng sai thế nào, chắc là phải kính xin chất chính cùng quý độc giả thân yêu của báo Tĩnh Tâm vậy.

      Rồi tôi tếu táo, pha trò:

      –  Nếu biết thế này, ngày ấy Chúa gọi vợ mình về, mình đi dăm ba bước nữa, bây giờ tha hồ chia nhau đi đám, có phải hơn không?

      Chị tôi (từ ngày tôi bị tai biến, nhà tôi chỉ có hai chị em) phì cười:

      – Gớm! Vẫn còn thích váy phụ nữ đến vậy cơ à? Đau yếu bệnh tật thế, mà họ cũng mời, không tha cho. Không được mời thì trách người ta bỏ quên, khinh thường. Mời thì làm khổ nhau. Tàn tật thế này, đi sao được? Lại còn tiền mừng, tệ nhất, hà tiện nhất cũng phải hai lần mười hai mươi, đứt hai triệu bạc, đang khi không làm ra xu teng cắc bạc nào, lại phải lo tiền khám chữa bệnh, tiền điện nước, tiền đồ ăn thức uống, tiền sinh hoạt… đồng to đồng bé đều nhờ cậy các con, tiền đâu mà nay đám, mai đám?

      Con bé Kim cháu họ, gọi tôi bằng bác, về trường Thạnh An (trường Sao Mai cũ) họp lớp, tiện thể ghé thăm tôi. Nghe chị em tôi nói chuyện, nó mau mồm mau miệng, góp lời:

      –  Trừ những chỗ chí thân chí thiết, không thể không có mặt, bác viện lí do – mà sự thực là như vậy – bị đau ốm, cáo bệnh không đi cũng không sao. Bác không nợ nần ai trước sau cả, chẳng ai dám trách đâu. Mà ai có trách, kệ người ta, nói nhiều, mệt, nghỉ… Như ở trên chỗ cháu, ông nọ làm bên chính quyền ấp, vào nhà cháu chỉ để thu tiền an sinh xã hội. Vậy mà cưới vợ cho con cũng mời nhà cháu. Trong thiệp cũng in sẵn mời quý gia đình. Cháu không chịu nổi, vứt cái thiệp đi, mẹ cháu mắng, lại nhặt lại.   

      Chị tôi có chút gì ái ngại với đứa cháu, nhưng rồi cũng xởi lởi:

      –  Cháu coi, bác bị đột quỵ nặng thế, ngàn cân treo sợi tóc, gần đất xa trời, về nhà cả năm trời nay, nhiều người họ hàng đấy, quen biết đấy nhưng không một lần thăm nom, đi qua nhà không được một câu chào hỏi khỏe không. Vậy mà nhà có cưới vợ gả chồng thì mời chồng mời chất. Chán không?

      Tôi bảo:

      –  Người ta kẹt gì đấy, chị ạ! Nói đi cũng phải nghĩ lại để cảm thông, hiểu biết, sớt chia. “Đoạn trường ai qua cầu mới hay”. Nhà có việc, khó nhất là lên danh sách mời. Mời ai, bỏ ai? Ai phải mời, ai nên mời, ai có thể mời, ai không thể mời. Rối như mối bòng bong đó chứ!

  1. Đám cưới

     Tôi chọn đi một một đám cưới mà ông chủ hôn tuy không họ hàng, nhưng thân nhau từ ngày đi học, lại là phó trương cựu, được tiếng là đạo hạnh, vừa gần nhà, ra vào gặp nhau, vừa tắt lửa tối đèn có nhau.

      Vì là chỗ thân thiết như vậy, tôi đến trước, vừa lúc ban tổ chức tiến hành nghi thức tôn vương gia đình và kính nhớ tổ tiên. Sau đó là phần nhận họ. Ông trưởng tộc mời các cụ, các ông bà nội ngoại, rồi đến các bác bá, chú cô, cậu mợ, dì dượng… Các vị tiến lên mừng cháu dâu mới. Tùy theo họ hàng gần xa, và tùy theo kinh tế gia đình, người thì cho cháu mới vài ba chục ngàn, có người cho một vài trăm ngàn, cũng có người cho hàng triệu đồng không chừng… Tất cả đều có những điểm chung là ai cũng nói dài, nói dai, và từ trong vô thức ai cũng cho rằng những lời mình nói ra là châu ngọc, hết sức quý báu, là khuôn vàng thước ngọc mà cháu dâu mới phải ghi lòng tạc dạ suốt đời. Họ đâu biết rằng cả cô dâu và chú rể đều quên sạch sành sanh ngay lập tức… Ấy vậy mà ông trưởng tộc cũng không tránh được lời trách móc, đáng lẽ phải người này trước, người kia sau vì lý do họ nội, họ ngoại, họ gần, họ xa, họ hai bề, tuổi tác, chức vị trong đạo ngoài đời…

      Trong khi đó, anh thợ chụp hình phá vỡ chương trình của ban tổ chức bằng cách yêu cầu đôi tân hôn và những người liên hệ đứng, ngồi chỗ này chỗ khác, chỉ để… chụp hình. Anh lăng xăng như một con rối.

      Cô MC, nghe đâu là giáo viên cấp ba, nhà đám phải mướn một triệu đồng từ ngoài Rạch Giá về. Cô ăn mặc không thể dị hợm, kệch cỡm hơn: áo lông thú dày cộm, váy cộc lốc, không thể ngắn hơn, dù trời đang lạnh. Như một cỗ máy, cô thao thao bất tuyệt những câu thơ rẻ tiền, như: “Hôm nay tháng tốt ngày lành, tình sâu nghĩa nặng để dành cho nhau. Mẹ cha anh đội trên đầu, tình em anh để thật sâu trong lòng”… Cô mời ông bà chủ hôn hai bên, hai vị đại diện hai họ và cô dâu chú rể lên cái bục gỗ trang hoàng lòe loẹt, lúc thì cô gọi là sân khấu, lúc là lễ đài, lúc là hôn trường (một từ rất mới, rất tào lao, rất vô duyên, rất dễ gây ngộ nhận, rất dễ làm cho người ta hiểu tầm bậy tầm bạ).

      Quê tôi hơn hẳn thành phố cái đúng giờ. Trên thiệp, mời 11 giờ thì 11 giờ thiếu 15, thầy xứ xuống tới báo:

      –  Cha xứ xin lỗi vì ngài phải đi xức dầu bệnh nhân, không đến dự đúng giờ được, xin gia đình tiến hành công việc như chương trình đã định.

       (Ôi! Cách cư xử của cha xứ mới đẹp làm sao!)

     Theo lời của cô MC, vị đại diện nam tộc (một tộc người cơ đấy!) nhận mi – cơ – rô, tằng hắng mấy cái rồi cao giọng:

      –  Kính thưa… Sáng nay, tại nhà thờ bên nữ tộc, cha xứ đã ban bí tích hôn nhân cho đôi trẻ… (Có phải không, có đúng không? Vì trước đến giờ tôi vẫn được các đấng các bậc dạy rằng: trong phép hôn phối, chính đôi vợ chồng trao ban bí tích cho nhau, cha chủ tế chỉ là người chứng hôn thôi).

     Các nghi thức tổng hợp tây ta như mời trầu (ta), khui sâm banh rót trên tháp ly pha lê (tây), cắt bánh… được tiến hành hoàn hảo dưới sự hướng dẫn của ban tổ chức.

      Đúng 11 giờ, vì cha xứ không tới kịp, người ta mời ông trưởng ấp lên chúc mừng và thánh hóa của ăn. Ông trưởng ấp vốn là một Ki – tô hữu vui vẻ, hãnh diện nhận lời thánh hóa của ăn. Ghê chưa?!

      Tiếp tục chương trình, cô MC giới thiệu một tiết mục đặc biệt. Cô nham nhở hỏi chú rể:

      –  Bạn thích nhất chỗ nào trên cơ thể phụ nữ? Bạn ngại không trả lời à? Bạn thích đôi môi phải không? Vâng, đôi môi. Kính mời các quý vị (tôi tưởng bỏ chữ “các”, chỉ dùng “quý vị” cũng được rồi) nhìn lên hôn trường, ngắm đôi bạn trao cho nhau nụ hôn đầu đời. Xin nhắc cô dâu chú rể phải hôn môi đó, nghe không? Xin mọi người cho một tràng pháo tay. Một, hai, ba a a a…

      Đám thanh niên nam nữ vỗ tay ầm ầm. Các khách mời lớn tuổi không ai vỗ tay. Cô MC trách:

      –  Đề nghị quý vị vỗ tay để tỏ ra là người có văn hóa.

       Vị khách râu tóc bạc phơ, tướng quắc thước, nhà ở cuối kinh 8, ngồi bên cạnh tôi, tỏ vẻ khó chịu lớn tiếng:

     –  Chúng tôi đến ăn mừng, không đến xem trò hề, sao bắt chúng tôi vỗ tay, lại còn cạnh khóe mắng chửi chúng tôi vô văn hóa?

      Tôi lắc đầu ngán ngẩm:

      –  Chúng nó “văn minh” quá. Còn mình thì già rồi, cổ lỗ quá rồi, lạc hậu quá rồi, ông ạ!

      –  Em xin lỗi bác. Văn minh gì? Văn minh thổ tả! Toàn chuyện bù khú, nham nhở, nhố nhăng, nhơ nhớp, nhầy nhụa, bẩn thỉu, tục tĩu, gương mù, gương xấu… Ngoài này dân số hỗn tạp, đủ mọi hạng người, không như trong em, giáo xứ toàn tòng, cha xứ em còn trẻ nhưng nghiêm lắm, chẳng tào lao như vậy được đâu.

      Vào chương trình văn nghệ, dàn âm thanh bật hết công suất tra tấn thính giác mọi người, mấy chục bàn ăn không ai nói ai nghe được câu nào.

  1. Ngày thần tiên

      Cả bàn mới ăn xong món nguội, tiếp viên vừa đem món thứ hai lên thì tôi lủi thủi đẩy xe lăn bỏ về, vì không chịu nổi tiếng trống, tiếng đàn, tiếng hát gào rú của ban nhạc. Nghĩ đến cô dâu trong đám cưới, tôi chợt nhớ đến một câu trong bài Tình Khúc Thứ Nhất, nhạc Vũ Thành An phổ thơ Nguyễn Đình Toàn: “Ngày thần tiên em bước lên ngôi, đã nghe son vàng tả tơi”. Tôi lại suy nghĩ lan man: Ngày trước, khi đang yêu, có người bảo: “yêu nhau ba tháng, cãi nhau ba năm nhường nhịn nhau ba mươi ba năm”, tôi đã bĩu môi, phì cười không tin. Đến nay, gần đất xa trời, đang mùa cưới, tôi giật mình nhận ra rằng: Đám cưới chỉ một ngày, hôn nhân mới chung thân, một đời. Tại sao người ta thường thờ ơ đến dửng dưng với chuyện một đời, mà dồn toàn tâm toàn lực, chăm chút đến thái quá từng li từng tí cho chuyện một ngày. Tại sao, tại sao nhỉ?

      Ngày em lên xe hoa, ngày thần tiên thật, xin cho son vàng đừng tả tơi…

Lão ngu

Share This Post