“Đổi tính” hay không?

Trong chuyến đi mục vụ ơn gọi vào Chúa nhật Chúa Chiên Lành (Phục Sinh 2011) có một bà giáo dân đã nói một câu mà tôi còn nhớ mãi. Hôm đó, chúng tôi gồm ba anh em cùng về một giáo xứ ở Quảng Bình, chúng tôi được cha xứ cho phép chia se với giáo dân trước giờ lễ về ơn gọi của Kitô hữu. Sau thánh lễ mặc dù đã hơn 1giờ30 chiều, vậy mà giáo dân không ra về như thường lệ, họ vào nhà xứ để “gặp gỡ và bắt tay” các thầy. Thấy tình cảm quý mến đặc biệt của giáo dân, chúng tôi rất vui sướng. Có một bà giáo dân, với giọng rất thân tình, đã nói với chúng tôi: “Chúng con thấy các thầy vui vẻ, thông minh, đạo đức, hòa đồng, dễ thương… nhưng ra làm cha một thời gian thì đổi tính hết. Răng rứa thầy? Các thầy đừng như rứa nha!”.

linhmuc3“Đổi tính”!? Tôi giật “cả” mình! Chẳng lẽ các cha xứ trẻ, đều là những người quá tuổi “Tam thập nhi lập” rồi mà vẫn “đổi tính” dễ dàng như vậy sao?

Thực ra vấn đề các cha xứ trẻ “hơi khác” so với ngày còn ở Chủng Viện thì tôi cũng từng thấy và có ít nhiều suy nghĩ về vấn đề này. Đúng là bản thân cũng đã từng cảm thấy một số linh mục trẻ, khi còn là chủng sinh thì thật hòa đồng với anh em, thật dễ thương và đạo đức, nhưng sau một vài năm ở xứ, tôi gặp lại họ qua lời ăn tiếng nói trên tòa giảng, trong những buổi tiếp xúc với giáo dân và cả tiếp xúc với anh em chủng sinh “cùng hội cùng thuyền”, tôi thấy điều gì “ngờ ngợ, hơi là lạ” thế nào đó. Nhưng còn “thay đổi tính tình” thì quá lớn và trầm trọng! Có lẽ giáo dân họ sống thường ngày với linh mục trẻ, tiếp xúc nhiều với cha xứ, nên họ đã “ngờ ngợ, là lạ” nhiều hơn tôi và từ đó, họ đã kết luận là “đổi tính”! Vậy, nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng trên?

Thực ra, câu hỏi này là quá lớn và phải tìm hiểu cặn kẽ từ nhiều nguyên nhân. Trong phạm vi của một bài viết này, tôi không có tham vọng giải quyết toàn bộ câu hỏi này và cũng xin nhận là không đủ kiến thức để lý giải. Chỉ xin mạo muội làm một tìm hiểu nho nhỏ về khía cạnh tâm lý – xã hội học của chủng sinh – linh mục trẻ trong hai giáo phận Vinh và Thanh Hóa. Đằng khác, về kiến thức chuyên môn của hai lãnh vực trên thực sự của bản thân cũng không đáng là bao, vì thế, chỉ xin gọi là “thử tìm hiểu” mà thôi.

1- Lý thuyết tâm lý học

Theo ngành Tâm lý học phát triển, sự trưởng thành của con người, bao gồm cả tính cách, luân lý, khuynh hướng, nhu cầu… được hình thành trên hai nền tảng căn bản là yếu tố di truyền (cấu trúc ADN mà cha mẹ và tổ tiên truyền lại cho người đó) và môi trường dưỡng dục (tức là hoàn cảnh sinh sống, gia đình, xã hội, bè bạn, nhà trường, lề lối dinh dưỡng, các kinh nghiệm của cá nhân đó…)[1]. Tuy nhiên, theo Đức tin Kitô giáo, con người được hình thành, phát triển còn nhờ ân sủng, và ân sủng mới là yếu tố quan trọng nhất. Mặt khác, ơn gọi linh mục có nguồn gốc sâu xa từ tình yêu của Thiên Chúa, vì vậy, ân sủng lại càng đóng vai trò quan trọng hơn. Tuy nhiên, như trên đã nói, chúng ta chỉ bàn một khía cạnh nhỏ là tâm lý – xã hội của người chủng sinh, linh mục trẻ trong giai đoạn hiện nay và giới hạn trong địa bàn hai giáo phận của chúng ta, vì thế, ở đây, chúng ta tạm gác vấn đề ân sủng lại để khỏi làm loãng vấn đề đang bàn cũng như làm “lạm phát” mục tiêu đề ra. Mặt khác, ân sủng được Chúa ban qua những tìm hiểu, những nỗ lực của chúng ta đối với bản thân, môi trường và tha nhân, nên việc tìm hiểu này tự nó cũng là một ân sủng rồi.

Để đi vào vấn đề thực tiễn, trước hết, cần bàn qua đôi nét lý thuyết của tâm lý học về nhân cách.

Theo các nhà phân tâm học, tiêu biểu là Freud, nhân cách của một người gồm hai phần là ý thức và vô thức. Ý thức chỉ như là phần nổi của tảng băng trôi, còn vô thức là phần chìm trong nước của nó. Hai phần của nhân cách lại do ba yếu tố cấu tạo nên, đó là bản năng nguyên thủy, bản ngã và siêu ngã. Bản năng nguyên thủy là phần nhân cách bẩm sinh, thiếu tổ chức, mục đích của nó là thúc đẩy người ta tức thời tìm cách giảm bớt các tình trạng liên quan đến các xung đột nguyên thủy. Bản ngã đối lại, lại kìm hãm năng lực này nhằm duy trì sự an toàn cho con người và giúp họ đủ tư cách làm thành viên của xã hội. Siêu ngã biểu trưng cho quan điểm đúng sai của xã hội, nó bao gồm lương tâm và bản ngã lý tưởng.[2] Ba yếu tố này tác động với nhau tạo nên nhân cách cá biệt của một con người.

Nhân cách phát triển qua nhiều giai đoạn, các kinh nghiệm và rắc rối gặp phải trong một giai đoạn nào đó sẽ ảnh hưởng lên tính cách của người đó sau này. Để giảm bớt trạng thái lo âu do sự xung đột giữa các thành phần trong cấu trúc tâm lý, các cơ chế phòng vệ được hình thành và vận dụng một cách vô thức để che đậy những nhu cầu, nhưng vô thức vẫn chờ cơ hội để biểu thị nó ra ngoài tầng ý thức. Cơ chế phòng vệ chủ yếu là “dồn nén / trấn áp”, trong đó các xung động bản năng không được chấp nhận hay không hài lòng sẽ bị đẩy trở vào vùng vô thức. Một cơ chế phòng vệ khác là biện pháp “chuyển dịch”, đó là sự biểu lộ một cảm giác hay ý tưởng gây khó chịu được lái chệch từ một cá nhân uy quyền, đe dọa hơn sang một kẻ yếu kém hơn. Cũng có khi cơ chế phòng vệ là “phóng ngoại nội tâm” được áp dụng, đây là một biện pháp tự vệ nhờ quy các xung động nội tâm và tình cảm khó chịu cho người khác. Nói rõ hơn, đây là tình trạng đổ cho người khác những lỗi lầm của mình.[3]

Cơ chế xã hội, gia đình, môi trường giáo dục có ảnh hưởng đặc biệt đến tính cách của người thụ hưởng. Theo Fromm, có mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân, gia đình và xã hội tương tác với nhau và ảnh hưởng lẫn nhau. Chẳng hạn, ông xem mối quan hệ cá nhân mang tính quyết định trong sự phát triển nhân cách trong khi cùng lúc những mối quan hệ cá nhân này chịu tác động của yếu tố xã hội, kinh tế rộng hơn. Nhân cách phát sinh trong bối cảnh kinh tế, xã hội của riêng nó, và được bối cảnh này định hình. Thái độ, giá trị và quan điểm của mỗi người thường nhất quán và được giai cấp xã hội và nền tảng gia đình định hình, nhưng không phải mang tính quyết định hoàn toàn nó cũng không tĩnh tại mà thay đổi theo thời gian và hoàn cảnh.

Có những loại nhân cách căn bản sau:

Nhân cách tiếp nhận: Những người thường cho rằng tất cả mọi điều tốt đều bắt nguồn từ bên ngoài – bên ngoài chính mình – thái độ vô hại, yêu thương sẽ giúp họ có đời sống tích cực. Những người như thế có khuynh hướng phụ thuộc lẫn nhau, lòng trung thành, thái độ tận tụy thái quá, tránh tự quyết bằng cách chuyển hết trách nhiệm cho người khác.

Nhân cách khai thác: Xem thế giới theo nghĩa cạnh tranh, ăn miếng trả miếng, tìm thấy sự thỏa mãn khi kiểm soát hay vượt trội hơn người khác. Xem thường những người mà họ thấy kém hơn mình, ít đồng cảm với người khác, đầy tham vọng, dám nghĩ dám làm, khát vọng thống trị và muốn thành công.

Nhân cách đầu cơ: Thu thập điên cuồng, khư khư giữ lấy những gì mình có, đến mức họ rất bảo thủ trong việc chấp nhận quan điểm mới hay đồng cảm với người khác. Họ ít tin tưởng vào bất cứ điều gì mới, xem sự an toàn cá nhân trên cơ sở đầu cơ và để giành những gì mình đã sở hữu. Loại này thường mang tính phá hoại, muốn thống trị, kiểm soát đời sống, con người, sự vật. Phá hoại là một cách để có được sự kiểm soát ấy.

Nhân cách tiếp thị: Khuynh hướng đánh giá giá trị cá nhân theo nghĩa thành công xã hội. Nếu không được mến mộ hay nổi tiếng thì cảm thấy mình vô dụng, không thích hợp. Vì thế họ giành nhiều thời gian để duy trì bản thân như những mặt hàng được nhiều người thèm muốn, có thể bằng cách tán thành quan điểm hợp thời hoặc trở thành một nguồn tiêu khiển – có khuynh hướng tuân thủ xu thế xã hội thịnh hành, họ nghĩ mình sẽ bị rủi ro nếu có thái độ không hợp thời.[4]

Sau khi đã tìm hiểu sơ qua về căn bản lý thuyết, chúng ta sẽ đi vào hoàn cảnh cụ thể của đối tượng nghiên cứu để hy vọng rút ra được điều gì đó có ích.

Điều đầu tiên chúng ta cần quan tâm là xem thử là hoàn cảnh xuất thân của giới chủng sinh, linh mục trẻ ở hai giáo phận Vinh và Thanh Hóa như thế nào.

2- Hoàn cảnh xuất thân của chủng sinh.[5]

Theo một cuộc tham khảo thông tin (hay gọi là điều tra xã hội học) của 90 chủng sinh Đại chủng viện Vinh Thanh vào tháng 10 năm 2011, có kết quả như sau:

* Nghề nghiệp gia đình

– 82,22% cho biết họ xuất thân từ gia đình nông dân,

– 2,22% là con của công chức nhà nước,

– 2,22% gia đình làm thương nghiệp,

– 15,56% còn lại làm các nghề khác.

* Điều kiện kinh tế gia đình, với biểu mẫu tự đánh giá qua 3 mức: Giàu, trung bình và nghèo, kết quả như sau:

– Giàu: 3,41%

– T. bình: 62,5%

– Nghèo: 34,09%

* Số anh chị em trong gia đình: Đa số xuất thân của chủng sinh là những gia đình đông con, số anh chị em trong gia đình giao động từ 6 đến 9 người, có những gia đình lên tới 10 người con. Nếu từ 4 con trở lên được xem là “đông con” thì ta có kết quả như sau:

– Từ 01 đến 03 con: 10,11%

– Từ 04 con trở lên: 89,89%

Như vậy, nói chung, hoàn cảnh xuất thân của chủng sinh đa số là từ gia đình nông dân, đời sống kinh tế nghèo hoặc trung bình (tạm đủ sống) và trong gia đình có đông anh chị em. Vậy, với môi trường xuất thân như vậy, chiều hướng tâm lý có thể có theo tâm lý – xã hội học như thế nào?

3- Các hệ quả tâm lý có thể có

Như trên đã nói, hoàn cảnh xuất thân của mỗi cá nhân có ảnh hưởng đến tính cách, giá trị, nhu cầu, thái độ, động lực và hoài bão của họ. Những người xuất thân từ một gia đình có hoàn cảnh khó khăn thì nhu cầu được thỏa mãn các yếu tố vật chất như ăn uống, nhà ở, phương tiện di chuyển… được đẩy lên cao hơn. Nguyên nhân là những thiếu thốn đã thúc đẩy, làm người ta chú ý hơn tới những loại nhu cầu này. Mặt khác, trong một gia đình đông con, việc phải nhường nhịn, chia sẻ bớt cho nhau những thực phẩm và phương tiện, vì thế, ước muốn có của riêng, muốn độc lập càng mãnh liệt hơn. Dĩ nhiên, trong hoàn cảnh đó, những nhu cầu của họ không được thỏa mãn dẫn đến sự dồn nén chúng vào vô thức. Có thể khi trưởng thành, họ có quan niệm nhẹ nhàng hơn với của cải vật chất, nhưng những tác động của vô thức thì vẫn còn đó. Những nhu cầu ở đây thuộc loại nhu cầu đạt được và thủ đắc, tức là mong muốn thực hiện những điều và những hoạt động có ý nghĩa cho mình, muốn chiếm hữu cái gì đó cho mình.[6]

Mặt khác, đối với xã hội Việt Nam chúng ta, giai cấp nông dân thường được nhìn với con mắt khinh thường, là những người quê mùa, nghèo, thiếu học, ít quyền hành, địa vị thấp và thường bị áp bức. Vì thế những người ra đời trong hoàn cảnh này, nhu cầu thành công, vươn lên địa vị cao hơn, nhu cầu khẳng định mình được khao khát hơn. Chúng ta thường thấy những bậc cha mẹ nông dân là những người mong muốn con mình thành đạt hơn cả. Dù kinh tế khó khăn đến mấy, họ cũng cố bươn chải để con có thể vào đại học, thậm chí lập nghiệp ở thành phố, thoát khỏi đời sống nông dân để vào làm việc công chức nhà nước hay thành tài trong doanh nghiệp. Đây là sự tổng hợp của các nhu cầu muốn thành công, thống trị phô trương. Theo đó, người có xu hướng này muốn trội hơn người, muốn tranh đua, làm tăng thêm đánh giá tốt về mình. Mặt khác, họ cũng muốn ảnh hưởng và đưa dẫn người khác và muốn lôi kéo sự chú ý của người khác đối với mình.[7]

4- Hoàn cảnh xã hội để họ có thể khẳng định bản thân

Ước muốn thành đạt với con đường học vấn, những người có gốc gác nông dân có ý chí kiên nhẫn, cần cù, thông minh và nghị lực khá cao. Vì thế, có nhiều người đã vượt lên được tương đối xa trong “nghiệp học”. Nhưng cánh cửa để họ bước vào một tầng lớp mới, một vị thế xã hội mới thật là quá khúc khuỷu. Nhận được tấm bằng đại học rồi, nhưng xin việc ở đâu? Với cơ chế hiện tại, kiếm được một công việc sao cho xứng đáng với công sức bỏ ra thật là nan giải. Mặt khác, việc theo đuổi con đường học vấn có thể đã làm kinh tế gia đình khánh kiệt và nợ nần. Muốn có công việc với thu nhập khá để trang trải và giúp đỡ cha mẹ, anh chị em thì phải “chạy việc”. Thực vậy, nạn tham ô, tham nhũng đã làm cho không ít người phải chùn bước! Muốn có việc, phải có tiền, mà bây giờ nói đến tiền trong khi đang cùng kiệt thì thật vô nghĩa!

Đối với người Công Giáo, tình trạng còn bi đát hơn. Nếu đã vượt qua được các chướng ngại trên, họ cũng không thể tiến xa hơn bao nhiêu trên nấc thang địa vị xã hội. Muốn có lương cao, muốn có quyền, muốn lãnh đạo phải gia nhập Đảng Cộng Sản! Nếu không gia nhập Đảng thì cứ lẹt đẹt hoài với mấy cái thứ công chức quèn! Đây quả thật là một cửa ải khó qua với sự lựa chọn quá ư đau đớn. Nếu nhắm mắt để tiến lên, họ có thể đạt được, nhưng gia đình, cha mẹ, bà con trong giáo xứ không khi nào chấp nhận được điều này (đó là chưa bàn đến Giáo Luật). Họ có thể bị loại trừ khỏi đời sống cộng đoàn và nguy cơ không được lãnh các bí tích là có thực. Nếu không tiến lên theo con đường đó thì những ngày tháng lao nhọc cho học hành, những hy sinh của gia đình… có thể là uổng công. Công việc họ có thể làm là giáo viên hay xin vào một doanh nghiệp tư nhân nào đó, nhưng lương tháng không được bao nhiêu và sự bất ổn trong công việc là khá cao.

Với điều kiện xuất thân, hoàn cảnh xã hội, bối cảnh gia đình, học đường… có nhiều bất trắc như vậy, những con người được sinh ra trong đó phải hứng chịu những hậu quả tai hại. Nhiều nhu cầu chính đáng thuở thiếu thời của họ không được thỏa mãn, nhiều ước mơ tươi sáng không thực hiện được vì bị kìm giữ, nhiều khát vọng tự do, thành đạt được ấp ủ nhưng không có cơ hội để thực thi. Tất cả những điều đó bị cơ chế phòng vệ của tâm lý tự động xử lý bằng cách “dồn nén / trấn áp” để đưa chúng vào vô thức, và những mảng tối của vô thức đó lại tìm cách lèo lái hành vi của họ để thỏa mãn những khát vọng đó. Cuối cùng, những điều tốt đẹp bị bóp méo và những nhân cách tiêu cực như “nhân cách khai thác”, “nhân cách đầu cơ”, “nhân cách tiếp thị” theo kiểu nói của Fromm, dần dần được hình thành và ẩn khuất đâu đó trong cá tính của họ mà chính họ cũng không hay biết.

5- Lựa chọn “cuối cùng”…

Nói ra điều này có lẽ không được mấy ai chấp nhận, nhưng đối với người Công Giáo Việt Nam, con đường giải thoát khỏi thế lưỡng nan trên là đi tu, tốt nhất là làm linh mục quản xứ. Xin lỗi vì sự đụng chạm này, vì thực ra, ý hướng đi tu của nhiều người có ngay từ buổi thiếu thời, là ước mơ của họ từ khi còn nhỏ. Chỉ một số sau khi đã trải nghiệm gian truân của đường đời, họ mới lựa chọn đi tu như là một ơn gọi muộn màng. Nhưng thực tình mà nói, có nhiều bậc cha mẹ gửi con vào nhà xứ để giúp cha xứ với ước muốn dâng con mình cho Chúa. Nhưng đằng sau đó cũng có nhiều lý do khác mà một trong số đó là vào ở với cha xứ thì có điều kiện để được học hành hơn, còn việc đi tu hay không thì tùy tương lai của đứa trẻ. Còn môt số khác cũng ước muốn đi tu từ hồi nhỏ, nhưng, có thể sự thất bại trong xã hội của những người đi trước đã “nêu gương” cho họ biết rằng, con đường thăng tiến trong xã hội là quá khó khăn.

Một nét nho nhỏ nhưng cũng có thể nói lên được điều gì đó cho vấn đề chúng ta đang bàn, đó là việc lựa chọn “nơi tu” và “cách tu” của những thí sinh tham dự kỳ thi vào Đại Chủng Viện Vinh Thanh. Theo như được biết vào mỗi kỳ thi, có một số thí sinh đã từng gia nhập (với tư cách là thỉnh sinh hay đại loại như thế) vào một cộng đoàn tu trì nào đó ở Miền Nam, nhưng đến kỳ thi, họ vẫn xin về thi với ước mong có được một chỗ trong Chủng Viện để sau này làm cha xứ. Một số khác thì ngược lại, lựa chọn Chủng Viện là ưu tiên số một, nếu sau vài ba lần không đỗ, họ mới chọn một dòng tu nào đó! Tại sao vậy? Không biết câu trả lời chính xác, nhưng dường như làm một ông cha xứ, đối với họ, vẫn thích hơn là một thầy dòng, vì quy chế, đời sống và địa vị của cha xứ khác hẳn thầy một ông thầy dòng!

Thực tế, địa vị, vai trò của một cha xứ có sự hội tụ nhiều yếu tố để có thể đảm bảo cho những xu hướng, nhu cầu, khát vọng của một nhân cách bị dồn nén mà chúng ta vừa mô tả ở trên.

Thứ nhất, về địa vị xã hội: Linh mục quản xứ được giáo dân trân trọng và xã hội cũng có phần nào kiêng nể. Ngài có học thức cao, với ít nhất là tấm bằng đại học của xã hội cộng với kiến thức triết học và thần học của gần cả thập niên ở Chủng Viện, điều đó không ai chối cãi được (miễn bàn đến kiến thức thực tế!). Ngài là lãnh đạo tinh thần (và nhiều khi cả vật chất) của một giáo xứ ít cũng là vài ba ngàn dân. Ngài luôn được chào hỏi, đề cập đến trước tiên trong các cuộc hội họp, ngài có uy thế trên tòa giảng. Lời ngài nói có trọng lượng và được thực thi. Ngài là người đứng ra giải quyết các tranh chấp trong giáo xứ, ngài là người “có quyền ban phát” các bí tích. Những buổi lễ, rước xách hoành tráng, áo mão cân đai đường đường… Tất cả những điều đó có thể thỏa mãn được khát vọng quyền hành và danh giá cho những người đang mang trong mình mầm mống loại “nhân cách khai thác” mà Fromm đã đề cập ở trên.

Thứ hai, về tài sản: Linh mục quản xứ là những người không trực tiếp lao động sản xuất, nhưng xét trên mặt bằng xã hội, họ dường như là những người… giàu. Thử xem mỗi lần các cha xứ về tĩnh tâm hay thường huấn thì cũng khá rõ và khỏi bàn luận nhiều. Trong một xã hội năng động về kinh tế, GDP hàng năm được nâng cao hơn, nhiều người dần dần thoát nghèo và có của nả hơn, thì tất nhiên những giáo dân đó cũng quan tâm đến cha xứ là người họ kính trọng. Vì thế, họ giúp đỡ vật chất cho các cha để các ngài có điều kiện hơn về sức khỏe, phương tiện để phục vụ đắc lực hơn là điều tốt và đương nhiên. Tuy vậy, nếu trong tiềm thức của một ứng sinh linh mục đã chứa đựng kiểu “nhân cách đầu cơ”, “nhân cách khai thác” (theo kiểu nói của Fromm đã nêu ở trên) hay nhu cầu “đạt được và thủ đắc” quá lớn thì đó là một mục tiêu béo bở mà họ có thể nhắm đến để tiến thân.

Thứ ba, trở thành linh mục có thể thỏa mãn ước mơ của cha mẹ, gia đình và dòng họ thậm chí cả giáo xứ. Thật vậy, trong tâm thức người giáo dân Việt Nam, trong gia đình, dòng họ hay giáo xứ có người làm linh mục là một niềm tự hào lớn. Chúng ta thường gặp tình huống có nhiều người say sưa kể chuyện họ biết cha này, quen cha nọ, khoe rằng giáo xứ đã có bao nhiêu linh mục, dòng họ đã “cống hiến cho Giáo Hội” bao nhiêu tu sỹ và những bậc cha mẹ có con làm linh mục thì hãnh diện ra mặt vì điều đó. Để kiểm chứng điều này, tốt nhất là nhớ về một buổi lễ tạ ơn của một tân linh mục thì ai trong chúng ta cũng đủ sức tưởng tượng niềm vui vẻ và tự hào như thế nào của những người liên quan!

Điều này, tất nhiên là tốt! Đó là sự thể hiện lòng yêu mến và xây dựng Giáo Hội. Tuy vậy, nó cũng chứa đựng mặt trái của nó. Thật vậy, khi một lựa chọn trở thành linh mục mà có thể “vẹn cả ba đường” thì thật là lý tưởng. Đường thứ nhất: tránh được những khó khăn mà xã hội tạo ra, đường thứ hai: có thể tiến thân một cách tương đối chắc chắn và đường thứ ba: được cha mẹ, gia đình, dòng họ và giáo xứ ủng hộ “cả hai tay”!

6- Những năm tháng tại Chủng Viện

Thực tình mà nói, là một chủng sinh, cùng sống với anh em nhiều năm, nên bản thân nhận thấy hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả, đều rất thành tâm thiện chí trong đường hướng chọn lựa ơn gọi của mình. Ai cũng lo tu tâm, phát triển đời sống thiêng liêng, lo học hành đầy đủ. Đó là điều có thật. Tuy vậy, điều đang bàn ở đây là những mặt trái đang có thể tiềm ẩn đâu đó cần được tự mình suy gẫm và phanh phui nó ra hầu giải tỏa động lực cho chính mình.

Trúng tuyển vào Chủng Viện dường như là mục tiêu đã đạt được một nửa. Môi trường Chủng Viện yên bình, thánh thiện cùng với sự giáo dục của Chủng Viện đã làm biến đổi những suy nghĩ cũng như hành động. Chủng sinh ngày càng suy nghĩ chín chắn hơn và có trách nhiệm hơn với ơn gọi của mình. Mặc dù không phải luôn luôn tốt như đòi hỏi của chương trình đào tạo và của các giáo sư, nhưng sự cố gắng và biến đổi là có thật, cả chất lượng lẫn số lượng (vì thế, khi tiếp xúc với giáo dân, họ thường khen các thầy hiền lành, đạo đức, dễ thương… như bà cô ở giáo xứ nọ được nhắc đến ở đầu bài). Mặt khác, động lực thúc đẩy sự cố gắng là mục tiêu đang ở phía trước, phải phấn đấu đến ngày lãnh thừa tác vụ linh mục mới được xem là mục tiêu đã đạt được. Trong khi theo đuổi mục tiêu, thì những nhu cầu khác sẽ bị quên lãng hoặc bị kìm nén một cách tự động, nhưng chưa hẳn là nó đã được dũ bỏ, được giải thoát trong vô thức.

7- Những năm đầu làm linh mục

Lễ truyền chức và những ngày tạ ơn là đỉnh cao của cả một quá trình phấn đấu, nhưng sau những hào nhoáng đó, cuộc sống lại xuôi về đường nẻo thanh bình thường ngày với những điều vụn vặt và tầm thường. Như một số người thường nói đùa với anh em tân linh mục: sau tuần trăng mật là vỡ mật!

Có lẽ vậy, những hoài bão ấp ủ trong bao ngày ở Chủng Viện, những điều tôi sẽ làm, tôi sẽ giữ, tôi sẽ… bất chợt bị phá sản bởi thực tế quá phủ phàng. Thực tế thì bao giờ cũng bất trắc và phức tạp hơn ta tưởng. Với quy mô của một giáo xứ và công việc ngập đầu ngập cổ, từ những chuyện lớn đến tận chuyện tẻo teo đều phải chờ đến sự can thiệp của cha. Việc cử hành các bí tích, quản trị giáo xứ, xây dựng cơ sở vật chất, từ thiện… chiếm hết thời gian của cha. Rồi những chuyện riêng tư của những người trong giáo xứ cha cũng phải đứng ra xét xử, từ chuyện làm ăn đến chuyện chửi nhau vì mấy con gà sang bươi của hàng xóm cũng kéo nhau vào thưa kiện. Bọn trẻ thì không chịu học hành giáo lý, nói rát cả họng mà chẳng đứa nào chịu nghe, nhưng đến khi cần chứng chỉ giáo lý thì lại kéo nhau vào ì èo kêu nài, thuyết phục. Trong giáo xứ lúc nào cũng có dăm bảy anh thuộc thành phần “cứng cổ”, gây ra nhiều chuyện đổ vỡ giữa nhóm này với nhóm kia, hội đoàn này với hội đoàn nọ… tóm lại là một lô những công việc không đâu đã ngốn hết quỹ thời gian và sức lực của cha.

Giáo dân cũng không phải vừa, họ đòi hỏi nhiều quá mà làm sao cũng không vừa lòng được tất cả. Các nhóm “cấp tiến” và “bảo thủ” thay nhau hành hạ cha. Hiền thì họ bảo là cục đất, cứng rắn một chút thì họ gọi là “lửa”… Chẳng biết đường nào mà lần!

Với điều kiện như vậy, bản tính ôn hòa tu luyện được dần dần rơi rụng. Mật độ “nóng” của cha xứ trẻ ngày càng dày đặc hơn, vì thuyết phục, nhẹ nhàng xem ra không hiệu quả bằng dùng quyền và ra lệnh. Quả thực, “văn hóa nạt” cũng có những nguyên nhân và tác dụng của nó! Trong hoàn cảnh như vậy, những nhu cầu được tiềm thức ấp ủ dần dần được tuồn ra. Dùng quyền, nạt nộ vừa được việc mà lại cảm thấy thảnh thơi, nhẹ nhàng! Với “quy tắc chuồi dốc”, ban đầu còn ngại ngùng nhưng lâu dần thành quen. “Nhân cách đầu cơ”,nhu cầu thành công, thống trị và phô trương tiềm ẩn trong vô thức dần dần làm chủ và xác lập tính chất của nó một cách vững chắc hơn trong hành vi của cha.

Mặt khác, việc nóng nảy và hay quát nạt cũng phản ánh sự xem thường người khác, muốn thống trị, muốn khẳng định mình. Như trên đã nói, linh mục là những người có học vấn khá cao, trong khi đó, giáo dân phần đông là tầng lớp nông dân hoặc tương đương, vì thế, hay to tiếng cũng là một cách để khẳng định uy thế của mình, hạ thấp và thiếu tôn trọng người khác. Đây cũng là một cách biểu hiện của các nhu cầu và nhân cách tiêu cực mà chúng ta đã đề cập ở trên.

Trên đây chỉ lấy ví dụ điển hình là áp lực công việc để làm bối cảnh xuất hiện các nhu cầu của vô thức. Vì nếu chúng ta đặt câu hỏi: Các cha già ngày xưa phải kiêm 5-7 xứ, công việc có thể nói là nhiều hơn, tại sao đa số họ vẫn hiền hòa đến mức mà ngày nay nhiều người vẫn gợi lại với cảm tình tiếc nuối?

Thật ra mà nói, có nhiều nguyên nhân khác cũng tác động để làm các nhu cầu vô thức lộ ra, nhiều khi công việc của cha rất nhàn nhã, nhưng cha vẫn đổi tính! Ví dụ như cha bị vỡ mộng vì những điều ấp ủ trong Chủng Viện nay không thực hiện được, vì cha cảm thấy cuộc sống linh mục cô đơn và “tầm thường” hơn trong tâm tưởng của cha, vì cha bất đồng với linh mục đoàn, thậm chí với Giám mục, vì cha cảm thấy mình bị đối xử bất công, vì không ưng ý với giáo xứ này, vì bị hiểu lầm, vì thấy đời sống thiêng liêng của mình cứ khô khan mãi… Tất cả những lý do đó đều là điều kiện tốt để vô thức thực hiện “ý đồ” của mình.

Trở lại câu hỏi trên, tại sao các linh mục già ngày xưa không bị hoàn cảnh chi phối nhiều, tại sao họ vẫn sống hiền hòa được trong một bối cảnh còn vất vả hơn ngày nay rất nhiều? Có lẽ câu trả lời là động lực dấn thân vào ơn gọi linh mục của họ không có hoặc có ít sự tác động của hoàn cảnh và vô thức. Sự quyến định theo ơn gọi linh mục là một sự chấp nhận hiến thân, họ thấy trước được khó khăn, thách đố của đời sống linh mục nhiều hơn là hào nhoáng để tiến thân. Vì thế, mảnh đất vô thức của họ có lẽ trong sạch cỏ dại hơn của chúng ta ngày nay!

Một điều nữa cần lưu ý là sự tiềm tàng của “nhân cách khai thác” với nhu cầu đạt được và thủ đắc.

Khi quá trình phấn đấu đạt đến chức linh mục kết thúc thì đó cũng là lúc mà những nhu cầu thiếu thốn trong quá khứ lên tiếng, vì bây giờ là lúc phải “khai thác” để “đòi lại” những gì đã mất. Giáo dân thì tốt, nhiều người đang phất lên giàu có, lại có sẵn tấm lòng yêu mến các cha. Vậy, đây là một cơ hội tốt để ra tay? Không phải như vậy và phần chắc là các cha sẽ không nghĩ như vậy khi nhận những đồng tiền của bà con. Thực ra thì những giúp đỡ của giáo dân là cần thiết và sự tiếp nhận của cha là điều tốt. Cha phải có phương tiện để làm việc, để phục vụ và bảo đảm sức khỏe, đó là điều tất nhiên. Có nhiều khi ban đầu, các cha không hề muốn, thậm chí là coi thường điều đó, nhưng sự thất bại của công tác mục vụ như đã nêu ở trên, sự ốm đau của thân xác, yếu kém của sức khỏe… cũng làm cho cha cảm thấy bất ổn, và thu tích tiền bạc, của cải cũng là một cách để tìm kiếm sự an toàn. Dần dần, với “quy tắc chuồi dốc”, nỗi đam mê chiếm hữu trỗi dậy, sự chừng mực không còn, khi đó sẽ trở thành đua đòi, xe tốt lại muốn tốt hơn nữa để “hơn người”, điện thoại phải thay cho hợp mốt mới của công nghệ… Đó là những dấu hiệu phản ánh nhu cầu thủ đắc để bù đắp cho những thiếu thốn trong quá khứ.

8- Kết luận

Quyền lực, danh vọng và tiền của (ngoài ra còn có tình cảm nữa) là các cơn cám dỗ hàng đầu mà ai ai cũng phải đối mặt. Riêng đối với người linh mục, điều này càng phải đề phòng cẩn thận hơn, vì chức năng và sứ mạng của ngài đòi hỏi phải dấn thân và sống trong sạch, đòi hỏi phải bắt chước triệt để Chúa Giêsu nghèo khó, hiến thân phục vụ. Những lỗi lầm của bậc tu sỹ trong lĩnh vực này chưa chắc đã trầm trọng bằng người đời, nhưng hành vi của họ thường được quan tâm đặc biệt hơn và thổi phồng quá mức so với người khác cũng mắc những lỗi lầm đó.

Mặt khác, bối cảnh xã hội của chúng ta ngày nay giống như một đứa trẻ đang thời kỳ khủng hoảng của tuổi dậy thì. Chúng ta vừa từ một nước kém cỏi, nghèo túng bước vào môi trường thế giới với nhiều trào lưu chóng mặt trong khi phẩm chất con người chưa được chuẩn bị đầy đủ để đón những làn gió mạnh đó. Vì thế, sự khủng hoảng là chung cho toàn xã hội chứ không phải chỉ riêng cho Giáo Hội Việt Nam hay của hai giáo phận Vinh và Thanh Hóa. Sự khập khiểng trong tâm lý của con người thời đại chúng ta là một dấu chỉ. Hy vọng những khủng hoảng trên là khủng hoảng để lớn lên, để đồng bộ con người với môi trường sống, bối cảnh xã hội, để từ đó cân bằng tâm sinh lý của mỗi chúng ta. Hy vọng các linh mục không phải là “đổi tính” như bà giáo dân kia nói, nhưng đó là một cơn chóng mặt khi thời tiết thay đổi, mong rằng, dần dần cơ thể sẽ thích nghi mà không để lại hậu quả lâu dài.

Bản thân là một chủng sinh xuất phát từ hoàn cảnh nói trên, nên những điều suy nghĩ ở đây trước hết là cho chính mình. Nó như một động tác “soi gương” để tự nhận diện mình, tự biết mình có những xu hướng nào, có thể mắc phải những điều gì, sâu thẳm trong con người, tiềm thức của mình đang gào thét điều gì. Khi biết mình rõ hơn, nhận diện được những “tên nội gián” đang ẩn núp trong con người mình mới có thể khắc phục nó một cách hữu hiệu hơn.

Điều cần lưu ý là trong suốt bài viết này chỉ nói theo kiểu giả định, có thể, vì bên cạnh những biểu hiện tiêu cực, cũng có nhiều điều tích cực đang phát sinh và nở hoa, những linh mục thánh thiện và chín chắn. Vậy, đây không phải là sự vơ đũa cả nắm hay kết luận thiên kiến. Xin nhắc lại, ở đây chỉ nói điều có thể mà thôi. Hơn nữa, vì lý thuyết Phân tâm học còn nhiều tranh cãi nên chưa chắc những kết luận của lý thuyết này là xác thực. Bên cạnh đó, nếu những suy nghĩ này làm khó chịu thì cũng thường mà thôi, vì theo Freud, ý thức con người thường phủ nhận những gì thuộc vô thức của họ, không chấp nhận chúng, nên các người được phân tâm ít khi coi kết luận của các nhà phân tâm là chính xác. Vì thế ở đây cũng hy vọng chỉ giúp mỗi người tự phản tỉnh lại chính mình, xem xét mình có những thúc đẩy, những nhu cầu được nói tới hay không để hiểu mình hơn và điều chỉnh hành vi của mình.

Mặt khác, với đức tin Kitô giáo, chúng ta tin chắc có ân sủng của Chúa sẽ trợ giúp mỗi người tùy trong hoàn cảnh, như lời Chúa nói với Phaolô: “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối”.[8] Mặc dù chúng ta là những con người hết sức bất toàn, cho dù động cơ ban đầu của chúng ta là gì đi nữa, hoàn cảnh của ta ra sao, thì với ơn Chúa, chúng ta sẽ được biến đổi để trở nên hữu ích. Chúng ta là những công cụ tồi trong tay Chúa, nhưng Chúa sẽ dùng nó để làm những việc vĩ đại, vì những gì thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan, và những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh; những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để huỷ diệt những gì hiện có, hầu không một phàm nhân nào dám tự phụ trước mặt Người.[9] Trong lịch sử Giáo Hội chẳng đã cho thấy có nhiều vị thánh xuất thân từ giai cấp bần cùng hoặc xuất phát từ những động cơ rất hèn mạt đó sao?

Antôn Nguyễn Thanh Tịnh

[1] x Roberst Feldman, Tâm lý học căn bản (Hà Nội: Nhà xuât bản Văn Hóa – Thông Tin, 2004) 413-470
[2] x Roberst Feldman, Tâm lý học căn bản, 508
[3] x.Roberst Feldman, Tâm lý học căn bản, 478-480
[4]x.Nicky Hayes, Nền tảng tâm lý học, (Hà Nội, Nhà xuất bản Lao Động, 2005), 353-354
[5] Đề tài đang bàn về đối tượng là chủng sinh – linh mục trẻ tại hai giáo phận Vinh và Thanh Hóa trong thời điểm hiện nay, tuy nhiên, để khỏi dài dòng khi nhắc đến đối tượng nghiên cứu, từ đây sẽ chỉ sử dụng từ “chủng sinh” để nói về đối tượng nghiên cứu.
[6] Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương, Giáo trình đào tạo trưởng thành nhân bản cho đời sống linh mục, Vinh Thanh, 2011
[7]Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương, Giáo trình đào tạo trưởng thành nhân bản cho đời sống linh mục, Vinh Thanh, 2011
[8] 2Cr 12,9
[9] 1Cr 1, 27-29

Share This Post