Lam Hồng http://lamhong.org Những nẻo đường đức tin... Mon, 11 Dec 2017 02:43:51 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=4.8.4 Suy niệm các ngày trong tuần 02 Mùa Vọng http://lamhong.org/suy-niem-cac-ngay-trong-tuan-02-mua-vong/ Mon, 11 Dec 2017 02:43:51 +0000 http://lamhong.org/?p=27616 THỨ HAI

VÌ GHEN TỨC MÀ TRỞ THÀNH BẤT NHÂN!

(Lc 5,17-26)

Ghen ăn tức ở hay không ăn được thì đạp đổ vốn là thói xấu thường trực trong xã hội mọi thời. Bởi vậy, chúng ta không lạ gì vào thời Đức Giêsu, tình trạng này lại càng rõ nét nơi những người Pharisiêu và các Luật sĩ khi họ thấy Đức Giêsu được lòng dân và uy tín của Ngài ngày càng lan rộng. Vì thế, họ sinh ra căm phẫn và tức tối, nên muốn loại bỏ Đức Giêsu ra khỏi cuộc sống và xã hội.

Tuy nhiên, họ khó lòng kết tội cho Đức Giêsu khi Ngài làm việc thiện, việc tốt hay đứng lên bảo vệ công lý, công bình, giúp đỡ người nghèo, người không nơi nương tựa…. Bởi lẽ, nếu họ chống đối ra mặt những việc Đức Giêsu đã làm trên thì họ sẽ bị dân chúng phản đối và đương nhiên, khuôn mặt giả hình nhân đức của họ bị bại lộ. Như thế, hoàn toàn không có lợi cho bản thân và mưu kế của những người này. Chỉ có một cách là họ ghép Đức Giêsu vào tội lộng ngôn hay phản động thì sẽ dễ dàng hơn.

Thua keo này, họ bày keo khác…. Và, hôm nay là cơ hội để họ thực thi điều ác tâm đó với Đức Giêsu.

Tin Mừng thuật lại câu chuyện Đức Giêsu chữa người bất toại cách công khai và nhân đây Ngài cũng mặc khải Thiên Tính của mình khi nói: “Hỡi người kia, tội ngươi đã được tha!”. Khi nói như thế, Đức Giêsu bị những nhà lãnh đạo tôn giáo kết án Ngài nói lộng ngôn vì tự cho mình ngang hàng với Thiên Chúa khi tha tội cho người ta. Theo quan niệm của người Dothái thì những người mắc bệnh tật là do bị Thiên Chúa phạt vì tội lỗi của họ. Và đương nhiên, chỉ có Thiên Chúa mới có quyền tha tội. Khi họ không tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, thì hẳn là họ phủ nhận quyền tha tội của Ngài, như thế, họ có lý do để loại trừ Đức Giêsu bằng cái chết.

Về phía Đức Giêsu: khi Ngài bày tỏ uy quyền của mình bằng việc tha tội, ngay lập tức, người bất toại được lành, điều này cho thấy quyền năng và lòng thương xót của Đức Giêsu đã chứng minh sứ vụ Thiên Sai Con Thiên Chúa nơi Ngài, Ngài đến là để cứu chữa và ban ơn cứu độ cho mọi người.

Mặt khác, niềm tin của những người khiêng anh bại liệt cũng như niềm tin của chính người bại liệt đã để lại cho chúng ta bài học:

Tin tưởng vào quyền năng của Thiên Chúa, vì Ngài làm được mọi chuyện và Ngài biết điều gì tốt nhất cho ơn cứu độ của ta thì Ngài sẽ ban ơn.

Đức tin cần phải đi đôi với việc làm. Nếu người bại liệt đã tin vào Chúa, và khi được giải phóng khỏi tội lỗi là quyền lực của Ma Quỷ, anh ta đã cất tiếng ngợi ca Thiên Chúa, thì chúng ta, khi cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa trên cuộc đời, hãy có tâm tình tạ ơn.

Đức tin cần được biểu lộ qua đức ái. Vì thế, noi gương những người Dothái khi xưa, hãy sẵn sàng giúp đỡ những người nghèo đang cần đến sự giúp đỡ của chúng ta. Nhất là những người cô thế, cô thân, để tăng thêm niềm tin nơi họ ngang qua những việc thiện chúng ta làm.

Tránh những kiểu kỳ thị như những người Pharisiêu và Luật sĩ. Đừng vì ích kỷ hay hình thức bề ngoài mà ngăn cản ơn Chúa đến với mọi người, cũng như căm tức những người vì lòng tốt mà làm được nhiều việc thiện hơn ta.

Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa ban cho chúng con ơn đức tin để chúng con biết tin tưởng vào Chúa. Xin cũng cho chúng con luôn biết tạ ơn Chúa trong mọi hoàn cảnh và sống đức ái với nhau cách chân tình. Amen.

THỨ BA

TẤT CẢ VÌ TÌNH YÊU

(Mt 18, 12-14)

Đức Giêsu thường làm những chuyện gây “sốc” cho những người xung quanh. Vì thế, người đương thời với Ngài và đôi khi cả chính chúng ta cũng có lối suy nghĩ rằng: Ngài chuyên làm những chuyện ngược đời, nghịch lý và khó hiểu…!

Quả thật, nếu xét theo kiểu con người thì Đức Giêsu có rất nhiều những khuyết điểm. Những khuyết điểm đó là:

Ngài kém trí nhớ. Khi cả một đời tội lỗi ngập đầu, đến giờ chết xin Ngài tha thứ tội lỗi thì lại cho họ lên Thiên Đàng trước nhất: “Tôi bảo thật với anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc  23, 42-43).

Ngài cũng là một người không giỏi luận lý. Có đời thủa nào lại bày cho chủ tiệc đi mời những người nghèo nhất đến dự tiệc cưới của con mình: “…hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì để đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc…” (Lc 14, 12-14).

Ngài còn là một người không biết tổ chức công việc. Người làm đầu tiên cũng như người làm giờ chót, tất cả đều được một đồng! (x. Mt 20, 1-16). 

Trong mối liên hệ, bạn số một của Ngài lại là những người tội lỗi (x. Mt 9, 11. 12-13; Lc 15, 2; 19, 2. 5.7. 9…)

Hôm nay, Tin Mừng cũng thuật lại một sự nghịch lý đó ngang qua việc Đức Giêsu bỏ 99 con chiên lại để đi tìm một con chiên lạc. Điều này chứng tỏ Ngài không biết tính toán, là người dốt toán hạng chót…!

Nếu chúng ta đứng về phía những người làm kinh tế, hẳn chúng ta sẽ kết luận Đức Giêsu là kẻ điên khùng vì những điều bất thường trên!

Tuy nhiên, Đức Giêsu muốn dùng những nghịch lý đó để làm sáng tỏ chân lý. Chân lý đó chính là: Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Ngài cho mưa xuống trên kẻ dữ cũng như người lành. Ngài đến để cứu những gì đã mất. Ngài yêu thương đặc biệt những người tội lỗi….

Thật vậy, vì yêu thương, Đức Giêsu không để ý đến quá khứ tội lỗi của con người. Cũng vì yêu thương, Ngài đã chấp nhận chuộc những kẻ tội lỗi bằng tình yêu và cái chết.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy có cái nhìn như Chúa, hành xử như Chúa. Hãy tin tưởng cậy trông vào lòng thương xót của Thiên Chúa như Maria Mađalêna; Phaolô, Augustinô, Charles de Foucauld…. Thiên Chúa không kết án con người vì tội lỗi quá khứ của họ. Nhưng Thiên Chúa nhìn vào thực tại của chúng ta như chúng ta là… trong giây phút hiện tại này.

Mùa Vọng là Mùa mời gọi chúng ta quay về với lòng thương xót của Thiên Chúa bằng thái độ sám hối để được Đức Giêsu “vác lên vai, đưa về nhà”.

Mặt khác, Mùa Vọng cũng mời gọi chúng ta noi gương Đức Giêsu để “đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an bình vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm …”.

Lạy Chúa Giêsu, hình ảnh Chúa đi tìm con chiên lạc, khi tìm được, Chúa đã vác lên vai và yêu thương chúng đặc biệt, điều này đã khích lệ chúng con rất nhiều, bởi vì mỗi người chúng con đều cần đến sự tha thứ của Chúa như con chiên lạc khi xưa. Amen.

THỨ TƯ

HÃY MANG “ÁCH”“GÁNH” CỦA ĐỨC GIÊSU

(Mt 11, 28-30)

 “Anh em hãy mang lấy ách của tôi …”. Đây chính là lời mời gọi của Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay. Ngài lên tiếng mời gọi những ai muốn theo Ngài thì cũng phải mang lấy “ách”“gánh” của Ngài.

Tuy nhiên, “ách”“gánh” của Đức Giêsu thì hoàn toàn khác với “ách”“gánh” của các Rapbi Dothái. Nếu “ách”“gánh” của các thầy Dothái là những lề luật khắt khe và vụ hình thức, thì “ách”“gánh” của Đức Giêsu lại trở nên êm ái và nhẹ nhàng. Bởi vì “ách”“gánh” của Ngài cũng chính là đạo lý, cốt lõi Tin Mừng. Thế nên, hệ quả của “ách”“gánh” đó chính là trở nên hiền lành và khiêm nhường trong lòng.

Như vậy, khi mang “ách”“gánh” của Đức Giêsu, ấy là chúng ta tin Ngài để trở thành môn đệ. Trở thành môn đệ của Đức Giêsu thì phải trở nên giống như Ngài ở điểm khiêm nhường. Đồng thời học cho biết và sống sự hiền lành với tha nhân.

Nếu một khi chúng ta sống những đặc tính ấy của Đức Giêsu trong lòng mến, thì hẳn chúng ta sẽ được thanh thản và tâm hồn chúng ta sẽ được an vui bình an, nghỉ ngơi bồi dưỡng.

Ngày hôm nay, con người đang bị cơn lốc của kinh tế thị trường, của ăn chơi hưởng thụ, của những chân lý nửa vời lôi cuốn…, nên họ muốn cho mình được thoát ly khỏi Thiên Chúa. Nhưng khi họ đã mời Chúa đi chỗ khác, thì ngay lập tức, cuộc đời của họ trở nên trống rỗng, cô đơn, bất an và đau khổ…. Họ mong muốn được tự do, nhưng thực ra, con người đang trở thành nô lệ của những thứ mau qua chóng hết.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy mang lấy “ách”“gánh” của Đức Giêsu chính là từ bi, nhân hậu, hiền hòa, khiêm nhường, là những hy sinh, từ bỏ, và sẵn sàng vác Thập Giá hằng ngày mà đi theo Chúa. Sống mến Chúa trên hết mọi sự và yêu tha nhân như chính mình. Làm mọi việc thiện vì lòng yêu mến Chúa. Tránh kiêu ngạo, hình thức, vụ lợi. Không vì luật mà bỏ qua tình Chúa, tình người để rồi bất nhân với nhau.

Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa ban cho chúng con được trở thành môn đệ thực sự của Chúa khi mang trong mình và sống tinh thần của Chúa trong cuộc sống hằng ngày. Amen.

THỨ NĂM

GIOAN TẨY GIẢ LÀ NGƯỜI CAO TRỌNG

(Mt 11,11-15)

Trong các cuộc diễn nguyện, lời dẫn phải đi sâu vào nội dung, và người dẫn chương trình phải là người biết truyền cảm hứng cho thính giả thì nội dung mới được toát lên và hấp dẫn. Nhưng điều quan trọng là làm sao cho người tham dự rút ra được bài học từ những cuộc diễn xuất đó mới là điều đáng nói!

Thánh Gioan Tẩy Giả đã xuất sắc trong vai trò này khi ngài trở thành người tiền hô loan báo về Đấng Cứu Thế, và, ngài cũng thành công trong việc truyền cảm cho những người đương thời về tinh thần sám hối, chuẩn bị cho giáo huấn của Đức Giêsu. Ngoài những lý do trên, ngài còn là tiên tri cuối cùng của thời Cựu Ước, là người loan báo trực tiếp về Đức Giêsu. Cuối cùng, Gioan đã thực hiện thành công xuất sắc sứ mạng của mình bằng cái chết để làm chứng cho sự thật. Như vậy, ngài xứng đáng được Đức Giêsu khen ngợi: “Ta bảo thật các ngươi, trong các con cái người nữ sinh ra, chưa từng xuất hiện một ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả”.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy noi gương Gioan Tẩy Giả: sẵn sàng lên tiếng loan báo Đức Giêsu cho mọi người, dù thuận tiện hay không thuận tiện. Sẵn sàng sống sự khiêm tốn để cho nội dung lời loan báo có hồn và vui lòng nhường lại sân khấu cho diễn viên chính là Đức Giêsu. Có thế, chúng ta mới hy vọng Đức Giêsu khen ngợi là người có phúc như Gioan Tẩy Giả khi xưa.

Lạy Chúa Giêsu, thánh Gioan khi xưa đã hết lòng vì sứ vụ và đã sống chết cho sự thật. Xin Chúa cũng ban cho chúng con hôm nay biết làm chứng cho Chúa bằng sự khiêm tốn, can đảm và trung thành như Gioan khi xưa. Amen.

 

THỨ SÁU

TẠI SAO…?

(Mt 11,16-19)

Tin Mừng hôm nay tiếp nối bài Tin Mừng trước. Nếu hôm qua, Đức Giêsu khen ngợi sự xuất hiện và vai trò cũng như sứ mạng của thánh Gioan Tẩy Giả, thì hôm nay, Ngài khiển trách nặng nề đối với các vị lãnh đạo tôn giáo thời của Gioan. Tại sao vậy? Thưa vì Gioan đã kêu gọi dân chúng sám hối để đón chờ Đấng Cứu Tinh đến. Dân chúng đã tỏ lòng sám hối, xin chịu phép rửa thanh tẩy, còn những người lãnh đạo thì cứng lòng, ích kỷ và không chịu tin. Vì thế, Đức Giêsu đã mượn một trò chơi hát đối của trẻ em thời đó, nhằm diễn tả về thế hệ này vì sự cố chấp, kém tin của họ:

Các trẻ em thường chia làm hai phe. Bên xướng bên đáp. Nếu bên xướng hát những điệu buồn hay đưa đám thì bên đáp phải khóc lóc, than vãn…, còn nếu bên xướng hát lên những điệu nhạc vui, thì bên kia phải nhảy múa hân hoan….

Nếu đôi bên không hiểu ý nhau thì cuộc chơi mất vui. Tuy nhiên, trong thực tế, không phải lúc nào bọn trẻ cũng thành công trong trò chơi này, vì gặp phải những “đầu biếu” cố tình chọc ngoáy làm cho cuộc chơi mất vui. Vì vậy, bên chủ động bực tức nên mới nói: “Chúng tôi thổi sáo, sao các bạn không múa nhảy; chúng tôi than vãn, sao các bạn không khóc lên!”. Tệ hơn nữa là nhóm trẻ không chịu chơi đó lại còn trách móc đủ điều….

Sự xuất hiện của Gioan Tẩy Giả cũng vậy. Lời mời gọi của ngài không được giới lãnh đạo đáp ứng, mà ngược lại, họ còn coi ông như là: người bị quỷ ám. Đức Giêsu cũng chung số phận với Gioan vì Ngài cũng đã từng bị họ lên án là người “mê ăn mê uống, là bạn của quân thu thuế và những kẻ tội lỗi”. 

Tin Mừng hôm nay được đọc trong bối cảnh của Mùa Vọng, hẳn sứ điệp Lời Chúa mời gọi chúng ta hãy noi gương dân chúng thời Gioan khi xưa là: hãy hoán cải đời sống, ăn năn sám hối, trở về với Chúa trong phẩm giá người Kitô Hữu, để chuẩn bị tâm hồn đón mừng đại lễ Giáng Sinh. Bên cạnh đó, Lời Chúa còn mời gọi chúng ta hãy thực thi tinh thần sám hối cách thiết thực hơn nữa chính là những việc hy sinh, hãm mình, khổ chế, làm việc bác ái…, để nêu gương sáng cho hối nhân sám hối trở về với Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa ban cho chúng con biết đáp lại lời mời gọi của thánh Gioan để ăn năn sám hối, canh tân đời sống, ngõ hầu tâm hồn chúng con được xứng đáng đón tiếp chính Chúa Giáng Sinh hằng ngày qua việc đón nhận chính Mình và Máu Chúa. Amen.

THỨ BẢY

ĐAU KHỔ VÌ SỨ VỤ

(Mt 17,10-13)

Trong Mùa Vọng, người được nhắc nhiều nhất chính là Gioan Tẩy Giả. Bởi vì Ngài vừa là vị tiên tri cuối cùng của thời Cựu Ước, vừa là người loan báo, chuẩn bị dọn đường trực tiếp cho Đấng Cứu Thế. Có thể nói: Gioan Tẩy Giả là vị tiên tri kết thúc thời Cựu Ước, và khai mào cho thời Tân Ước.

Mặc dù ngài là người sống trong sa mạc, tuy nhiên, những lời giảng của ngài đã lay động nhiều tâm hồn, và ngày càng đông người đến để xin thụ huấn.

Sứ mạng của Gioan đến là để canh tân các tâm hồn, kêu gọi sám hối để được ơn cứu độ của Đấng Cứu Thế. Sứ mạng này cũng chính là của Êlia thời Cựu Ước.

Thật vậy, Êlia đến để loan báo về tình thương của Thiên Chúa trên dân Người, ngài cũng trở thành trung gian để khẩn cầu lòng thương xót của Thiên Chúa, làm nguôi cơn thịnh nộ của Người. Ngài còn đóng vai trò làm người giao hòa giữa mọi người với nhau, xây dựng sự hiệp nhất và bình an trong xã hội. Đến thời Gioan cũng vậy. Ông đến để kêu gọi dân quay trở lại đường chính nẻo ngay để chuẩn bị tâm hồn, dọn lòng thanh sạch để đón mừng Đức Giêsu đến. Hai con người nhưng cùng chung một sứ mạng. Hai thời điểm, nhưng cùng hướng về một mục đích. Vì thế, nếu Êlia đã phải chịu bách hại vì sứ vụ, thì Gioan cũng không thoát khỏi cảnh tù đầy và bị giết chết. Đặc biệt, chính Đức Giêsu, Ngài cũng đồng số phận với các tiên tri khi thực thi sứ mạng cứu chuộc nhân loại.

Điều này đã được Đức Giêsu nhắc lại trong bài Tin Mừng hôm nay, Ngài nói: “Êlia đã đến rồi, và họ không nhận biết ông, nhưng đã đối xử với ông như ý họ. Cũng vậy, Con Người sẽ phải đau khổ bởi họ”.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy sám hối, ăn năn vì những lỗi lầm thiếu sót của chính mình.

Noi gương Gioan Tẩy Giả, sống cuộc sống hy sinh để làm gương cho dân chúng noi theo. Đồng thời, chia sẻ bác ái cho những người khó khăn. Sẵn sàng loan báo Tin Mừng của Chúa cho mọi người bằng nhiều cách, nhất là bằng gương sáng.

Nếu có phải nguy hiểm đến tính mạng thì hãy nhớ rằng: đây chính là số phận của Êlia, Gioan Tẩy Giả và của Đức Giêsu cũng như những môn đệ của Ngài trên khắp thế giới.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết noi gương thánh Gioan Tẩy Giả mà hăng say vì sứ vụ, sẵn sàng dấn thân vì Chúa. Ước mong sao Mùa Vọng này, chúng con có được một tâm hồn mới, nhờ sự sám hối chân tình để xứng đáng đón mừng đại lễ Giáng Sinh sắp tới. Amen.

Tu sĩ: Jos. Vinc. Ngọc Biển, SSP

]]>
Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi bao điều cao trọng http://lamhong.org/dang-toan-nang-da-lam-cho-toi-bao-dieu-cao-trong/ Fri, 08 Dec 2017 13:39:51 +0000 http://lamhong.org/?p=27614 Hôm nay cùng với toàn thể Hội Thánh, chúng ta mừng trọng thể lễ Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội. Bài Tin Mừng mà chúng ta đọc trong thánh lễ này là Tin Mừng về biến cố Truyền Tin, một biến cố này gợi lên cho chúng ta nhiều ý nghĩa. Ở đây, chúng ta chỉ dừng lại một số điểm đáng quan tâm.

 

 

1- Điều vĩ đại ở trong âm thầm

Trước hết, biến cố truyền tin chứa đựng một điều rất đặc biệt về thời điểm quyết định cho vận mệnh nhân loại, giây phút Thiên Chúa trở thành người, giây phút thu hút sự chú ý và khiến chúng ta phải suy tư, vì nó xảy ra trong một sự thing lặng vĩ đại. Cuộc gặp gỡ giữa thiên sứ và Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm diễn ra mà không một ai chứng kiến, không ai biết, không ai nói về nó. Nếu biến cố này xảy ra trong thời đại chúng ta, có lẽ nó không xuất hiện trên các trang báo, tạp chí hay mạng internet, bởi lẽ, nó là một mầu nhiệm xảy ra trong âm thầm và thinh lặng. Một biến cố vĩ đại xảy ra không có một tiếng động nào! Một chương trình quan trọng được chuẩn bị và thực hiện từ một con người rất khiêm tốn. Điều này cho thấy rằng biến cố thực sự vĩ đại thường xảy ra mà không ai nhìn thấy và sự thinh lặng yên bình thường mang lại nhiều hoa trái hơn những hoạt động phô trương, rùm beng bên ngoài. Sự ồn ào náo nhiệt là đặc trưng nơi các thành phố hôm nay, và cũng là đặc trưng của Giêrusalem thời đó. Những bận rộn làm cho chúng ta không còn khả năng dừng lại, sống yên tỉnh, để lắng nghe tiếng nói của thinh lặng mà trong đó Chúa luôn nhắc bảo chúng ta bằng những tiếng nói thầm kín của Người. Trong ngày đó, Đức Maria đã lắng nghe lời loan báo của Thiên Thần, Mẹ là người hoàn toàn tỉnh lặng và luôn sẵn sàng để lắng nghe Chúa. Không hề có một cản trở nào nơi Mẹ; không hề có những bức tường, không hề có một điều gì ngăn cách Mẹ khỏi Thiên Chúa. Đây là kết quả của ơn thụ thai vô nhiễm nguyên tội: tương quan của Mẹ với Thiên Chúa không còn một sự rạn nức nào dầu nhỏ bé nhất; không hề có sự phân chia nào, không hề có bóng tối của ích kỷ, nhưng hoàn toàn là một sự hòa điệu tuyệt hảo: trái tim nhân loại nhỏ bé của Mẹ được cùng đập với trái tim vĩ đại của Thiên Chúa. Như thế, khi cử hành biến cố này, trước hết chúng ta được nhắc nhở rằng chúng ta không thể lắng nghe tiếng Chúa trong cảnh ồn ào huyên náo; chúng ta không thể đón nhận chương trình của Người cho đời sống cá nhân cũng như xã hội nếu chúng ta chỉ dừng lại ở bề mặt của các sự việc, nhưng chúng ta hạ mình xuống ở mức sâu hơn, nơi mà những sức mạnh luân lý và đạo đức đang hoạt động, chứ không phải là sức mạnh của chính trị và kinh tế. Vì thế, Đức Maria mời gọi chúng ta hạ mình xuống để đặt mình trong sự hòa điệu với hành động của Thiên Chúa.

2- Tình yêu lơn hơn ích kỷ

Chúng ta chuyển sang điểm thứ hai quan trọng hơn: Đức Maria Vô Nhiễm chỉ chúng ta biết rằng ơn cứu độ của thế giới không phải là công trình của con người, của khoa học, của kỷ thuật, của ý thức hệ, nhưng nó đến từ ân sủng Thiên Chúa. Điều này có nghĩa là gì? Ân sủng là tình yêu trong sự nguyên tuyền và đẹp đẽ của nó, chính là Thiên Chúa như được mạc khải trong lịch sử cứu độ, được Kinh Thánh kể lại và được hoàn thành trong Chúa Giêsu Kitô. Đức Maria được gọi là “Đấng đầy ân sủng” (Lc 1,28) và với căn tính này, Mẹ nhắc nhở chúng ta về sự tối thượng của Thiên Chúa trong đời sống mình và trong lịch sử của thế giới, Mẹ nhắc nhở chúng ta rằng quyền năng của tình yêu Thiên Chúa lớn hơn tội lỗi, nó có thể khỏa lấp mọi lỗ hổng mà lòng ích kỷ đã để lại trong lịch sử của con người, của các gia đình, các quốc gia trên thế giới. Những lỗ hổng này có thể trở thành một dạng của hỏa ngục mà trong đó đời sống con người bị rơi vào hư vô, không còn ý nghĩa và không còn ánh sáng. Những phương dược sai lầm mà thế gian đề nghị để lấp đầy những lỗ hổng này, chẳng hạn như là sử dụng thuốc phiện, hưởng lạc, trong thực tế chỉ đưa con người rơi vào vực thẳm sâu hơn. Chỉ có tình yêu mới có thể cứu độ chúng ta khỏi mọi sự sụp đổ này, nhưng không phải bất cứ tình yêu nào đều có thể cứu độ, mà chỉ một tình yêu nhờ ân sủng Thiên Chúa đã biến đổi thành tinh tuyền và làm mới mẻ, tình yêu này có thể mang lại luồng khí ôxy mới, bầu khí trong lành, năng lực mới của sự sống vào các buồng phổi đã bị nhiễm đầy bởi những khí độc tội lỗi. Đức Maria nói với chúng ta rằng con người dù có rơi xuống sâu bao nhiêu, thì cũng không quá sâu đối với Thiên Chúa, Đấng đã xuống thật sâu trong cõi âm ty; dẫu trái tim người có hẹp hòi đến bao nhiêu, nhưng Thiên Chúa vẫn luôn luôn “vĩ đại hơn trái tim chúng ta” (1 Ga 3,20). Làn gió nhẹ của ân sủng có thể xóa tan những đám mây đen tối nhất, làm cho cuộc đời đẹp hơn, phong phú và ý nghĩa hơn, ngay cả trong những hoàn cảnh bất nhân nhất.

3- Giêsu, niềm vui lớn nhất

Giờ đây chúng ta đi đến điểm thứ ba là điều mà Đức Maria Vô Nhiễm nói với chúng ta: Mẹ nói với chúng ta về niềm vui, một niềm vui thực sự tràn ngập tâm hồn vắng bóng tội lỗi. Tội lỗi mang lại buồn phiền, nó làm cho chúng ta khép kín trong chính mình. Ân sủng mang lại cho tâm hồm niềm vui đích thực. Niềm vui đó không phụ thuộc vào những điều chúng ta có, nhưng đúng hơn nó phát xuất từ trong sâu thẳm nhất của con người, không có gì và không ai có thể lấy đi được. Kitô giáo một cách chính yếu là “tin mừng,” “tin vui”, dẫu một số người nghĩ rằng Kitô giáo là sự cản trở niềm vui, bởi vì họ thấy trong đó một sưu tập những điều cấm chế và luật lệ. Trong thực tế, Kitô giáo là lời loan báo về chiến thắng của ân sủng trên tội lỗi, về sự sống trên sự chết. Và nếu Kitô giáo đòi hỏi sự hy sinh và kỷ luật của lý trí, con tim và cách hành xử, đó là điều chính đáng, bởi vì trong con người luôn có những gốc rễ độc tố ích kỷ, nó làm tổn hại đến chính mình cũng như người khác. Vì thế, thật cần thiết để học phải nói không với tiếng nói của ích kỷ và để học nói có với tiếng nói của tình yêu đích thực. Đức Maria được đổ tràn niềm vui bởi vì trong trái tim Mẹ không có bóng tối của tội lỗi. Niềm vui này cùng hiện hữu với sự hiện diện của Chúa Giêsu trong cuộc đời Mẹ: Chúa Giêsu được đầu thai và được cưu mang trong cung lòng Mẹ, từ đó, người con trẻ đó được phó thác cho sự chăm sóc của Mẹ, trở thành một thiếu niên, một thanh niên và người trưởng thành; khi có Chúa Giêsu trong gia đình, Mẹ đã trải qua từng giai đoạn với niềm tin, cho đến thập giá và phục sinh: Chúa Giêsu là niềm vui của Đức Maria và là niềm vui của Hội Thánh, của tất cả chúng ta.

Trong Mùa Vọng này, xin Đức Maria Vô Nhiễm dạy chúng ta biết lắng nghe tiếng Chúa đang nói trong thinh lặng; để đón nhận ân sủng Ngài, ân sủng đó giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi và khỏi mọi sự ích kỷ; nhờ đó chúng ta được tận hưởng niềm vui đích thực với Con Mẹ. Lạy Đức Maria Vô Nhiễm, Đấng đầy ân sủng, xin cầu cho chúng con. Amen!

 

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

]]>
Ánh sáng Mùa Vọng: Thiên Chúa không vui thích trong những ồn ào của cuộc sống bạn http://lamhong.org/anh-sang-mua-vong-thien-chua-khong-vui-thich-trong-nhung-on-ao-cua-cuoc-song-ban/ Thu, 07 Dec 2017 08:53:16 +0000 http://lamhong.org/?p=27612 Trong Mùa Vọng, hãy dành thời gian mỗi ngày để giảm bớt những điều ồn ào; dành “thời gian nghỉ ngơi” tâm linh tránh xa khỏi những xáo trộn xung quanh, từ đó chúng ta có thể học cách trở nên giống trẻ nhỏ hơn, và sẵn sàng nhìn mọi thứ như nó được biểu lộ.

Lời Chúa trong ngày 5/12/2017, ngày thứ 3 sau Chúa Nhật I Mùa Vọng có câu: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho những bậc khôn ngoan thông thái biết điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn”. (Lc 10, 21)

Chúng ta thường dùng từ “bé mọn” (như trẻ nhỏ) để nói đến sự khiêm nhường, vâng lời hay tín thác. Nhưng trẻ con cũng có thể là những đứa trẻ nói dối xảo trá, hay là những ông chủ vênh váo của gia đình, hay miễn cưỡng rời khỏi mắt bố mẹ trong cộng đoàn.

Liệu đó có chính xác là những gì Chúa Giêsu muốn nói?

Liệu những phẩm chất của một đứa trẻ có thể biểu lộ những công trình của Thiên Chúa cho chúng ta? Mỗi đứa trẻ là một cá thể dễ bị tổn thương. Đứa trẻ cần được nuôi nấng và che chở, chúng dựa vào bố mẹ để chống đỡ cho cuộc sống của chúng.

Chúng tìm đến với bố mẹ từ những nhu cầu đơn giản nhất.

Chúng nhìn vào thế giới ở giá trị bên ngoài: Mưa thì không phải gió. Những điều đáng sợ thì không tốt. Bánh qui thì rất ngon. Uyển ngữ (euphemism: cách nói tránh những điều tục tĩu) không tồn tại trong thế giới của chúng.

Chúng có nhiều câu hỏi, nhiều suy nghĩ và sẽ không ngừng hỏi cho tới khi có được câu trả lời hợp lý.

Chúng yêu và cần cảm nhận được yêu thương lại, hoặc sẽ khô héo dần và chết đi cả về thể xác lẫn tinh thần.

Một đứa trẻ cũng – và thường xuyên sẽ lớn tiếng, lảm nhảm những điều vô nghĩa cách thiếu suy nghĩ.

Khi chúng ta trưởng thành và trở nên độc lập, chúng ta cho rằng mình có đủ khôn ngoan và phương tiện cần thiết để điều khiển mọi thứ và trả lời tất cả các câu hỏi, tự nuôi dưỡng chính mình. Chúng ta sẽ không bằng lòng với sự lệ thuộc. Quan điểm “dễ bị tổn thương” trở nên vô nghĩa: “Đó có phải là một loại ‘chiến thắng’?”

Các Thánh, dù từ Têrêxa Avila, hay Têrêxa Lisieux đến Têrêxa Calcutta và tất cả các Thánh nam nữ đến trước hay sau đều chứng tỏ cho chúng ta thấy một điểm chung là sự sẵn lòng lệ thuộc vào Thiên Chúa trong mọi việc. Họ bằng lòng được mở ra với thế giới, với tình yêu và họ sẵn sàng để được yêu lại, với tình yêu toàn năng – nhưng không phải luôn luôn dễ hiểu của Thiên Chúa.

Họ giống như trẻ nhỏ về mọi mặt ngoại trừ việc: họ không lảm nhảm những điều vô nghĩa. Họ không thiếu suy nghĩ trong lời nói, không theo tâm lý đám đông hay làm ồn ào việc so sánh giữa họ và những người khác. Họ không mất tí thời giờ ngắn ngủi nào cho những lộn xộn trần tục hay thú vui, những điều lấp đầy ngày sống của chúng ta, đặc biệt việc sử dụng thời gian để “online”.

Chúa muốn sự dễ bị tổn thương và sự lệ thuộc của chúng ta, Ngài muốn những thắc mắc của chúng ta (những thắc mắc thể hiện điều chúng ta đang quan tâm), Ngài muốn chúng ta yêu thương và mở ra trước tình yêu của Ngài.

Còn tất cả những ồn ào khác?

Trong Mùa Vọng, hãy dành thời gian mỗi ngày để giảm bớt những điều ồn ào; dành “thời gian nghỉ ngơi” tâm linh tránh xa khỏi những xáo trộn xung quanh, từ đó chúng ta có thể học cách trở nên giống trẻ nhỏ hơn, và sẵn sàng nhìn mọi thứ như nó được biểu lộ.

Hãy tìm một góc yên tĩnh, đặt một chiếc ghế vững vàng. Thắp một ngọn nến nếu bạn có thể, nếu không cũng đừng lo lắng. Nhắm mắt lại. Hơi thở đều. Tiếp tục hít thở. Chỉ ngồi như vậy. Và hít thở không khí. Chỉ cần lặng lẽ, giữa bạn và Chúa Giêsu và thưa “xin vâng”. Hãy bằng lòng để được Thiên Chúa mở lòng bạn ra…

Tác giả: Elizabeth Scalia

Mary Nguyễn chuyển ngữ từ aleteia.org

]]>
Dọn đời – CN II MV B http://lamhong.org/don-doi-cn-ii-mv-b/ Thu, 07 Dec 2017 08:50:19 +0000 http://lamhong.org/?p=27610 Mở đường, vạch lộ, mong chờ Đức Chúa

San lũng, bạt đồi, tiếp đón thiên sai

Đó là lời kêu gọi trong Is 40:3-4. Chấn chỉnh là việc phải làm cả đời chứ không thể theo kiểu “phong trào”, hô thì mạnh mà làm chẳng bao nhiêu. Chấn chỉnh để có thể sẵn sàng đón Chúa đến, chờ đợi với mức độ như Thánh Vịnh gia: “Hồn tôi trông chờ Chúa, hơn lính canh mong đợi hừng đông” (Tv 130:6).

Cuộc sống đời thường có nhiều thứ phải dọn dẹp, sắp xép gọn gàng và làm vệ sinh. Có những việc phải làm hàng ngày, dọn dẹp liên tục, dù phạm vi chỉ là khoảng gia đình.

Thân thể chúng ta phải tắm hàng ngày, mặt mũi và tay chân phải rửa nhiều lần trong ngày. Xác đã vậy, hồn cũng thế, rất nhiều thứ bừa bộn, bẩn thỉu, đầy bụi tội lỗi, chắc chắn “dọn đời” là việc cần làm mọi lúc, cần được dọn dẹp và chấn chỉnh một cách nghiêm túc để duy trì tình trạng sạch sẽ, tươm tất. Thánh Vịnh gia mời gọi: “Hãy dọn đường cho Đấng ngự giá đằng vân” (Tv 68:5a).

Dọn đời cũng là dạng xét mình mỗi tối trước khi đi ngủ, xét mình trước khi xưng tội, và cũng là dạng đặc biệt như thể “dọn mình chết” vậy. Thật đúng là như thế, bởi vì “hôm nay còn gặp nhau đây, ngày mai biết có thế này hay không”. Thời giờ và tương lai thuộc quyền của Thiên Chúa.

HẸN GIỜ

Có nhiều dạng hẹn giờ. Ngày nay người ta có các thiết bị giúp hẹn giờ báo thức, cụ thể là chiếc điện thoại di động, có lẽ không mấy người lại không có loại thiết bị này. Nhưng nguy hiểm nhất là hẹn giờ nổ cho bom, mìn. Tuy nhiên, đó là chúng ta hẹn giờ chứ giờ không hẹn chúng ta, và chẳng ai biết điều gì sẽ xảy ra.

Với ý tưởng đó, nhạc sĩ Jay Livingston và Ray Evans đã viết ca khúc “What will be will be – Que Sera Sera – Điều Gì Đến Sẽ Đến (*) cho bộ phim “The Man Who Knew Too Much” (Người Biết Quá Nhiều, năm 1956), thủ vai chính là Doris Day và James Stewart. Gọi là “biết quá nhiều” nhưng lại chẳng biết được gì. Thời gian là của Chúa, chúng ta được Ngài cho quản lý.

Có khởi đầu ắt có kết thúc, sau thời gian mong chờ là lúc mãn nguyện (hoặc thất vọng). Đó là lẽ thường. Nhưng về tâm linh, chắc chắn chúng ta sẽ không thất vọng, vì Thiên Chúa đã xác định: “Hãy an ủi dân Ta: Hãy ngọt ngào khuyên bảo Giêrusalem, và hô lên cho Thành: thời phục dịch của Thành đã mãn, tội của Thành đã đền xong, vì Thành đã bị tay Đức Chúa giáng phạt gấp hai lần tội phạm” (Is 40:1-2). Làm gì Chúa cũng báo trước, Chúa bảo chúng ta mong chờ nghĩa là Ngài đã “hẹn giờ”, nhưng không ai biết chính xác là lúc nào, thế nên mới cần “dọn đời” sẵn sàng.

Chuỗi ngày tháng mong chờ đó được Chúa đến gắn kết chúng ta qua sự sám hối và đền tội. Ngôi Hai đến để thực hiện Lòng Thương Xót. Chính Lòng Thương Xót đó được thể hiện trọn vẹn đối với những người biết ăn năn và chấn chỉnh theo lời mời gọi: “Trong sa mạc, hãy mở một con đường cho Đức Chúa, giữa đồng hoang, hãy vạch một con lộ thẳng băng cho Thiên Chúa chúng ta. Mọi thung lũng sẽ được lấp đầy, mọi núi đồi sẽ phải bạt xuống, nơi lồi lõm sẽ hoá thành đồng bằng, chốn gồ ghề nên vùng đất phẳng phiu” (Is 40:3-4). Sa mạc ở đây không phải là sa mạc Sahara hay bất kỳ một sa mạc nào, mà đó là Sa-Mạc-Tâm-Hồn, sa mạc này ở ngay giữa những sinh hoạt đời thường ồn ào náo nhiệt. Tâm hồn cần tĩnh lặng như sa mạc để có thể lắng nghe Tiếng Chúa.

Chỉ có thể gặp Thiên Chúa nơi tĩnh mịch. Khi đã “gặp” được Ngài, người ta sẽ không thể im lặng mà sẽ thông báo cho người khác biết: “Kìa Đức Chúa quang lâm hùng dũng, tay nắm trọn chủ quyền” (Is 40:9-10), đồng thời lòng họ tràn ngập hạnh phúc vì nhận thấy “lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt” (Is 40:11). Đó là một thế giới đại đồng mà ai cũng hằng mơ ước.

Sự thật đó vừa minh nhiên vừa mặc nhiên vì Thiên Chúa “chúc bình an cho dân Ngài, cho kẻ trung hiếu và những ai hướng lòng trí về Ngài” (Tv 85:9). Thiên Chúa luôn trung tín trong mọi Lời Ngài đã tuyên bố, không bao giờ nuốt lời hoặc chậm trễ: “Chúa không chậm trễ thực hiện lời hứa, như có kẻ cho là Người chậm trễ. Kỳ thực, Người kiên nhẫn đối với anh em, vì Người không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người đi tới chỗ ăn năn hối cải” (2 Pr 3:9). Sự mong chờ Chúa đến sẽ được bù đắp: “Tín nghĩa ân tình nay hội ngộ, hoà bình công lý đã giao duyên. Tín nghĩa mọc lên từ đất thấp, công lý nhìn xuống tự trời cao” (Tv 85:11-12).

Trong xã hội, mỗi khi đón tiếp một vị chức sắc, dù đời và đạo, chúng ta luôn chuẩn bị chu đáo: Làm vệ sinh, dọn dẹp cho gọn gàng, sơn phết cho đẹp mắt, trang trí lộng lẫy,… huống chi đối với Thiên Chúa, Vua của các vua và Chúa của các chúa. Chúng ta cũng phải dọn tâm hồn cho sạch sẽ và ngay thẳng để đón tiếp Ngài, nhưng Ngài không muốn chúng ta dọn đường cho Ngài theo kiểu phàm tục mà theo Ý Ngài: “Công lý đi tiền phong trước mặt Ngài, mở lối cho Ngài đặt bước chân” (Tv 85:14). Ngài đến để cứu những gì đã mất (Lc 19:9) và phục hồi nhân phẩm cho chúng ta.

Mỗi dịp Giáng Sinh, người ta lo làm hang đá, trang trí nhà thờ, trình diễn Thánh Ca vàhoạt cảnh Giáng Sinh,… Tất cả các hoạt động đó cũng cần thiết, nhưng vẫn chỉ là thứ phụ, cái cần thiết nhất là chuẩn bị “máng cỏ tâm hồn” của chính mỗi chúng ta để Vương Nhi Giêsu ngự xuống. Thiên Chúa hẹn giờ với chúng ta rồi, vậy chúng ta cũng phải hẹn giờ với Ngài.

ĐIỂM GIỜ

Giờ đã được hẹn thì giờ sẽ điểm. Chắc chắn như vậy. Chú ý “nhìn’ vào các dấu chỉ của thời đại, các sự việc hoặc sự kiện vẫn xảy ra hàng ngày, chúng ta đủ thấy rõ: GIỜ ĐÃ BẮT ĐẦU ĐIỂM. Do đó mà không thể nấn ná, chần chừ, hoặc lần lữa, mà phải CẤP TỐC THAY ĐỔI CÁCH SỐNG cho kịp, càng sớm càng tốt!

Theo cách thức trần gian, con người chỉ có thể tính tháng, tính ngày, thời gian dài hay ngắn tùy mức độ sự việc. Có khi vài ngày cũng là dài, và có khi vài năm vẫn là ngắn. Nhưng Thánh Phêrô cho biết cách tính của Thiên Chúa: “Đối với Chúa, một ngày ví thể ngàn năm, ngàn năm cũng tựa một ngày” (2 Pr 3:8). Ngày của Chúa sẽ vô cùng bất ngờ, có thể ngay sau khi chúng ta vừa chợt nghĩ đến, Ngài đến như kẻ trộm và như chủ về bất ngờ: “Ngày đó, các tầng trời sẽ ầm ầm sụp đổ, ngũ hành bốc cháy tiêu tan, mặt đất và các công trình trên đó sẽ bị thiêu huỷ” (2 Pr 3:10). Chúa đến theo lời Ngài hứa, Ngài đến để ĐÒI CÔNG LÝ CHO CHÚNG TA. Thật là diễm phúc, vì nỗi mong chờ của chúng ta là “mong đợi Trời Mới và Đất Mới, nơi công lý ngự trị” (2 Pr 3:13). Tuy nhiên, chúng ta không thể giả bộ mong chờ, làm ra vẻ chờ đợi, nhưng phải sống như thánh Phêrô nói: “Trong khi mong đợi ngày đó, anh em PHẢI CỐ GẮNG sao cho Người thấy anh chị em TINH TUYỀN, không chi đáng trách và sống bình an” (2 Pr 3:14). Rất đáng quan ngại nên rất cần chú ý lời cảnh báo của Chúa Giêsu: “Liệu còn lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18:8). Một câu hỏi thật đáng quan ngại!

Ngày xưa, chính Chúa Cha đã sai sứ giả đi trước Chúa Con, sứ giả này sẽ dọn đường cho Chúa Con (x. Is 40:3). Sứ giả đó tên là Gioan và có “biệt danh” là Tẩy Giả – nghĩa là “người làm Phép Rửa”. Ông đã kêu gọi: “Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi” (Mc 1:3;  x. Is 40:3). Đó là “tiếng kêu trong sa mạc” nhưng không phải ông nói cho đất cát và không khí nghe, mà ông kêu gọi chính chúng ta. Theo lời của chính ông Gioan Tẩy Giả thuật lại, ông đã xuất hiện trong hoang địa, rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa để CHỨNG TỎ LÒNG SÁM HỐI và để ĐƯỢC ƠN THA TỘI. Thời đó, mọi người từ khắp miền Giuđê và thành Giêrusalem kéo đến với ông, họ thú tội và ông làm phép rửa cho họ trong sông Giođan (Mc 1:5).

Có lẽ chẳng ai “bụi đời” bằng ông Gioan, bởi vì ông sống quá giản dị: mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng (x. Mc 1:6). Theo lẽ thường, người giản dị là người sâu sắc, còn người coi trọng bề ngoài là người nông cạn (lấy bề ngoài che giấu cái trống rỗng bên trong). Hơn nữa, ông Gioan còn là người sống rất khiêm nhường. Ông xác định: “Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi KHÔNG ĐÁNG cúi xuống cởi quai dép cho Người” (Mc 1:7). Đức khiêm nhường rất quan trọng, bởi vì ĐỨC KHIÊM NHƯỜNG là NỀN TẢNG của “tòa nhà nhân đức”. Người sống khiêm nhường không hề quản ngại chi cả.

Trong khi tích cực “dọn dẹp” cuộc sống cho tươm tất, người ta không thể không sám hối và đền tội. Nhưng để có thể sám hối và đền tội, người ta phải sống khiêm nhường. Người khiêm nhường thì luôn giản dị, không cầu kỳ. Đúng là một chuỗi hệ lụy tuyệt vời: Người sống giản dị sẽ biết sống khiêm nhường, người khiêm nhường sẽ biết sám hối, người sám hối sẽ chịu đền tội, và hệ lụy tất yếu tiếp theo là ĐƯỢC CỨU ĐỘ. Ai chân thành “dọn đời” như vậy thì Vương Nhi Giêsu rất vui mừng ngự vào “máng cỏ” lòng họ.

Là người diễm phúc được đi tiền phong và được coi trọng, nhưng Thánh Gioan khiêm nhường minh định: “Tôi làm phép rửa cho anh chị em trong nước, còn Người sẽ làm phép rửa cho anh chị em trong Thánh Thần” (Mc 1:8). Thật vậy, Chúa Thánh Thần là Đấng rất quan trọng trong cuộc đời chúng ta, đặc biệt là về đời sống tâm linh, thế nhưng Chúa Thánh Thần thường xuyên bị chúng ta lãng quên! Nhân dịp tốt là Mùa Vọng này, chúng ta cùng nhau cố gắng canh tân và chấn chỉnh, bởi vì Thiên Chúa đã ĐIỂM GIỜ thật rồi. Cầu xin Ngài thương cứu chúng ta!

Lạy Thiên Chúa tình thương, Ngài thực sự muốn tấm lòng nhân ái chứ đâu cần bất cứ loại lễ tế nào, bởi vì Ngài nhập thế không để kêu gọi người công chính mà để kêu gọi tội nhân (x. Mt 9:13). Vâng, lạy Chúa, mặc dù con khốn nạn và hoàn toàn bất xứng, nhưng con may mắn được nhận biết Ngài và chân thành tín thác nơi Ngài. Lạy Đấng Thiên Sai, xin Ngài đến canh tân và cứu độ nhân loại để mọi người được sống dồi dào (x. Ga 10:10). Con cầu xin nhân Danh Đấng Thiên Sai, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

Trầm Thiên Thu

+ Thưởng thức ca khúc WHAT WILL BE WILL BE:

  1. https://www.youtube.com/watch?v=xZbKHDPPrrc
  2. https://www.youtube.com/watch?v=CcWbZUgymkw (có ca từ)
  3. https://www.youtube.com/watch?v=aJVXMiFX-48 (thiếu nhi, có ca từ)
]]>
Hãy Dọn Đường Chúa – CN II MV B http://lamhong.org/hay-don-duong-chua-cn-ii-mv-b/ Thu, 07 Dec 2017 08:45:17 +0000 http://lamhong.org/?p=27608 Bước vào Chúa nhật II Mùa Vọng với chủ đề : Populus Sion … (Này hỡi Dân Sion) Chúa sắp ngự đến cứu độ muôn dân. Người sẽ lên tiếng thật oai hùng, khiến tâm hồn anh em hoan hủy… ” (Ca nhập lễ)  làm cho tâm hồn chúng ta rạo rực hẳn lên. Khơi dậy trong ta một lịch sử của sự tha thứ và khám phá ra lòng trắc ẩn của Thiên Chúa đối với con người. Lịch sử ấy có những đòi hỏi như Gioan Baotixita mách bảo chúng ta : “Hãy dọn đường Chúa cho ngay thẳng“, nghĩa là : hãy hoán cải  tâm hồn đón chờ Chúa đến.

Lời Chúa qua miệng tiên tri Isaia phán như một sự trấn an Dân Chúa trước cảnh nô lệ và tội lỗi : “Hỡi dân Ta, hãy an tâm, hãy an tâm! …Thời nô lệ đã chấm dứt, tội lỗi đã được ân xá, Chúa đã ban ơn nhiều gấp hai lần tội lỗi” (Is 40, 2). Và hơn thế nữa, Chúa truyền cho Isaia :  “Hãy nói cho các dân thành thuộc chi họ Giuđa rằng: Đây Thiên Chúa các ngươi, đây Chúa là Thiên Chúa các ngươi sẽ đến trong quyền lực; cánh tay Người sẽ thống trị. Người mang theo những phần thưởng chiến thắng và đưa đi trước những chiến lợi phẩm. Người chăn dắt đoàn chiên Người như mục tử. Người ẵm chiên con trên cánh tay, ôm ấp chúng vào lòng, và nhẹ tay dẫn dắt những chiên mẹ” (Is 40, 9-11). 

Để được như vậy, Dân Chúa phải thực hành không trì hoãn khi nghe thấy tiếng kêu trong hoang địa : “Hãy dọn đường Chúa … Hãy lấp mọi hố sâu và hãy bạt mọi núi đồi ” (Is 40, 3). 

Hố sâu và đồi núi gồ ghề sẽ gây cản trở người đi lại, khiến người ta khó đến với nhau. Lấp hố sâu và bạt núi đồi là dẹp bỏ lòng tự mãn kiêu căng của chính mình, là cản trở lớn nhất trên đường Chúa đến với chúng ta. Khi chúng ta thực hành nét đẹp của khiêm nhường và hạ mình xuống, chúng ta sẽ khám phá ra sự kiêu ngạo ẩn sâu trong lòng ta. “ Hãy sửa đường Chúa chúng ta trong hoang địa cho ngay thẳng. Con đường cong queo hãy làm cho ngay thẳng, con đường gồ ghề hãy san cho bằng ” ((Is 40, 3).

Gioan Tẩy Giả được Marcô (1, 2-8) trình bầy như vị tiên tri cuối cùng của Cựu Ước, ví ông như ” Thiên Thần của Ta đến trước mặt ngươi để dọn đường cho ngươi ”  (Mc 1,2; Ml 3,1) từ trong hoang địa, cất lời rao giảng “phép rửa sám hối cầu ơn tha tội” (Mc 1, 4).  Lời giảng tuy nghiêm nghị nhưng thu hút “cả miền Giuđêa và Giêrusalem” (Mc 1, 5). Gioan đã xuất hiện với những người đương thời như là hy vọng cuối cùng của một dân tuyệt vọng. Rất ít người nhận ra sứ vụ đích thực của ông là để “dọn đường cho Chúa“.

Gioan Tẩy Giả đi trước dọn dường cho Chúa Giêsu đến. Ông xuất hiện như Tiếng kêu trong hoang địa, mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da thú, và chúng ta đã có thể nghe được tiếng người hô lớn: “Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng” (Mc 1,3).

Có một số người tin rằng Gioan chính là Đấng Mêssia. Gioan đã nói như các vị tiên tri xưa, kêu gọi con người bước ra khỏi vũng lầy của tội lỗi, trở về với Chúa hầu thoát cảnh trừng phạt và được Chúa thương xót. Đây là sứ điệp cho con người ở mọi nơi mọi thời, Gioan tuyên bố rất khẩn trương. Thế là cả dân miền Giuđêa và Giêrusalem tuôn đến với người, thú tội và chịu phép rửa trong sông Giođan để nghe ông rao giảng (x.Mc 1, 5).

Tại sao ông Gioan lại thu hút người ta đến như thế? Chắc chắn ông đã lên án Hêrêđê và các nhà lãnh đạo tôn giáo Do thái, hành động can đảm này đã thu hút người dân. Ông cũng không ngần ngài nói với dân chúng cách mạnh mẽ rằng : Ai có tội cần phải thống hối ăn năn. Và, xưng thú tội lỗi, ông làm phép rửa cho họ tại sông Giorđan. Đó là lý do tại sao Gioan Baotixita thu hút họ, họ hiểu sứ điệp sám hối đích thực mà ông rao truyền. Một nghĩa cử sám hôn ăn năn thật lòng cái có giá trị hơn một lời xưng thú nhận tội lỗi! Sự sám hối ăn năn dựa trên niềm tin rằng chỉ Thiên Chúa mới tha thứ và tẩy xóa tội khiên, tha bỏ những nợ nần, làm cho đời sống luân lý của ta nên công chính.

Lời của Gioan vẫn vang dội qua các thời đại và như một sứ điệp cấp bách gửi đến với chúng ta ngày hôm nay. Kêu mời thay đổi nội tâm, bắt đầu từ việc thừa nhận và xưng thú tội lỗi của mình.

Mùa Vọng năm nay, chúng ta đang sống như thế nào, nếu không phải là chuẩn bị tâm hồn, giục lòng tin, cử hành Phụng vụ cho sốt sáng để lãnh nhận ân sủng mà Chúa Kitô đã mang đến trong thế gian cho mọi người hưởng nhờ. Bốn tuần của Mùa Vọng là như “tiền đường” để bước tiếp vào những ngày thánh. Chúng ta hãy chuẩn bị tinh thần bằng lời cầu nguyện, sẳn sàng tiếp đón Ðấng Cứu Thế ngự đến!

Ước gì Mùa Vọng và việc chờ đón “Hoàng Tử Bình An” đến, giúp chúng ta suy gẫm Lời Chúa. Hãy tránh ngủ quên, và cương quyết dọn đường cho Chúa, là nguồn mạch bình an, niềm vui, tình yêu và hy vọng, là Ðấng không ngừng đến để an ủi dân Người. Chúng ta hãy đặt tay ta vào tay Mẹ Maria, Trinh Nữ của sự chờ đợi, để Mẹ dẫn chúng ta đến gặp gỡ Chúa Giêsu Con Mẹ. Amen.

 

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

]]>
Sửa Đường Nội Tâm – CN II MV B http://lamhong.org/sua-duong-noi-tam-cn-ii-mv-b/ Thu, 07 Dec 2017 08:38:34 +0000 http://lamhong.org/?p=27605 Chúa nhật II Mùa Vọng, Giáo hội giới thiệu cho chúng ta khuôn mặt Gioan Tiền hô, một ngôn sứ luôn gắn bó với Thiên Chúa, rất gần gũi với con người. Lời Chúa Gioan chiêm niệm trong hoang địa qua nhiều năm tháng đã giúp ông tiếp xúc, gặp gỡ với nhiều hạng người qua những vùng ven sông Giođan. Lời Chúa Gioan nghe đã trở thành lời Chúa ông công bố. Tiếng Chúa gọi Gioan đã trở thành tiếng ông mời gọi mọi người.Gioan trở nên trung gian làm người dọn con đường tâm hồn cho anh chị em mình đến với Chúa Cứu Thế.

Gioan là vị ngôn sứ cuối cùng của Cựu ước. Sau 5 thế kỷ vắng bóng ngôn sứ, nay Gioan xuất hiện với sứ mạng Tiền hô. Ông đáp lại tiếng Chúa gọi, ra đi rao giảng về Nước Trời, dọn đường cho Chúa Giêsu, Đấng Cứu Tinh nhân loại đến trần gian. Ông đã chu toàn ơn gọi cách nhiệt thành và đã chết anh hùng cho sứ vụ. (x. Mt 14,3-12; Mc 6,17-19). Cuộc đời Gioan là một thiên anh hùng ca, bất khuất trước cường quyền, bao dung với tội nhân.

Gioan có một cuộc sinh ra kỳ lạ, một lối sống khác thường. Gioan chọn con đường tu khổ chế : ăn châu chấu và mật ong rừng, uống nước lã và mặc áo da thú. Sống trong hoang địa trơ trụi, vắng người, thiếu sự sống. Nhưng chính ở đó mà Gioan đã lớn lên và trưởng thành trong sự gặp gỡ thâm trầm với Thiên Chúa.

Gioan nhắc lại lời tiên tri Isaia: “Mọi thung lũng phải lấp cho đầy, khúc quanh co phải uốn cho ngay, đường lồi lõm phải san cho phẳng”. Gioan mời dân chúng sám hối. Không thể tiếp tục sống như xưa nữa. Đã đến lúc phải đổi đời, đổi lối nhìn, đổi lối nghĩ. Như thế, Gioan kêu gọi hãy dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến. Phải lấp cho đầy những hố sâu tham lam ích kỷ hẹp hòi. Phải uốn cho ngay những lối nghĩ quanh co, những tính toán lệch lạc. Phải san cho phẳng những đồi núi kiêu căng tự mãn. Phải bạt cho thấp những gồ ghề của bất công bất chính.

Đạo là con đường dẫn đến Thiên Chúa. Đạo là ngón tay chỉ mặt trăng. Nếu không có đường thì không đi đến đâu cả. Một đất nước có văn minh hay không là do hệ thống đường sá.

Đạo từ nguyên thuỷ luôn mang ý nghĩa trong sáng, ngay thẳng, công minh. Đạo dẫn đưa con người đến chân thiện mỹ.

Đạo là đường nên có thể nói sống đạo là sống ngoài đường, sống với người khác, sống với cuộc đời. Abraham khởi đầu cuộc sống thật bằng việc lên đường từ giã thành Ur để sang đất hứa. Và lịch sử Do thái là những chuyến xuất hành di cư, lang thang trong sa mạc, lưu đày và mất quê hương trong một thời gian dài.

Gioan rao giảng và làm phép rửa khắp mọi nẻo đường. Chúa Giêsu sống ở thế gian bằng những cuộc lên đường sang Ai cập, về Nazareth, lên sa mạc, vào đền thánh và trở lại Galilêa. Cuộc sống công khai của Chúa ít là có ba cuộc hành trình lên Giêrusalem. Và sau cùng Ngài lên đường về nhà cha.

Vì là đường nên nên đạo luôn mở ra nối kết và đón nhận cuộc sống, đón nhận mọi người, không phân biệt ai với tinh thần yêu thương của Thiên Chúa. Tin mừng chính là đạo, là con đường mà Chúa Giêsu vạch ra cho chúng ta đi theo Ngài.

Đường quan trọng nhất là đường vào cõi lòng. Đường ấy có nhiều ghồ ghề và lũng sâu do hận thù, ghen tị, hiểu lầm. Nó tạo là ngăn cách, làm cho hai người láng giềng cách nhau một bức vách không thể đến với nhau được, khiến cho hai người bạn cùng chung nơi làm không nhìn mặt nhau, thậm chí hai anh em ruột thịt, hai vợ chồng chung sống dưới một mái nhà, ngồi quanh một mâm cơm, nhưng tâm hồn xa xôi cách trở.

Gioan đã chỉ cho thấy rằng, mỗi con người đều có ít nhiều đồi núi kiêu ngạo, thung lũng ích kỷ, ghồ ghề khúc khuỷu trong các mối quan hệ. Có bao lối nghĩ quanh co, có bao tính toán lệch lạc, có những lũng sâu tăm tối thiếu vằng ánh sáng tình yêu. Sửa đường theo Gioan là sám hối. Nhìn lại con đường mình đã đi qua, sửa lại những sai lệch nếu có. Những gì cong queo, hãy san cho thẳng. Những gì gò cao cần phải bạt xuống. Lúc đó mới nhìn thấy ơn cứu độ của Chúa. Sửa cho thẳng, lấp cho đầy, uốn cho ngay, san cho phẳng, bạt cho thấp. Đó là sứ điệp Gioan gởi tới chúng ta trong Mùa Vọng này, để chúng ta dọn lòng mình thành đại lộ thênh thang mở ra với Chúa Cứu Thế.

Con đường Gioan mời gọi là đường vào cõi lòng. Con đường nội tâm của mọi người. Sửa con đường nội tâm là thay đổi cõi lòng, thay đổi cuộc sống để xứng đáng đón tiếp Chúa Cứu Thế. Sửa đường cho Chúa đến là cần thiết và hợp lý. Khi đón tiếp một vị khách quý, người ta thường sửa sang đường sá, làm sạch đẹp nơi vị khách sẽ đến. Như thế là biểu lộ lòng kính trọng đối với vị khách. Thiên Chúa là vị khách cao trọng nhất. Người hạ mình đến thăm và ở lại cùng sống với thần dân của Người. Đó là hạnh phúc tuyệt vời nên cần phải dọn tâm hồn xứng đáng. Như con đường cho Chúa đi qua; như căn nhà cho Chúa ngự tới; Chúa đứng ngoài cửa lòng và gõ cửa, ai mở thì Ngài đi vào. Con đường có thể có chông gai tội lỗi, có nỗi đam mê tiền lợi danh, có những tính hư nết xấu. Cho nên trong cõi lòng đó phải có im lặng như cõi lòng Mẹ Maria ghi nhớ, suy niệm và không nói gì. Chỉ nói những lời để giúp đỡ người khác. Và tâm hồn ấy bình an nên nghe rõ tiếng Chúa và chỉ nghe được tiếng Chúa mà thôi. Như thế dọn đường chính là tạo im lặng cho tâm hồn để nghe được tiếng Chúa và chỉ nghe được tiếng Chúa mà thôi.

Dọn đường còn là tỉnh thức đợi chờ Chúa đi xa trở về. Như năm cô khôn ngoan có sẵn dầu đèn. Như những đầy tớ làm lợi những nén vàng cho chủ. Như tên lính canh thành luôn chú ý những biến chuyển chung quanh. Mỗi cá nhân, ai cũng có những tật xấu, những khuyết điểm, vị kỷ kiêu căng tham lam đố kỵ ghen ghét lười biếng hèn nhát… Xã hội nào cũng có bất công, những lạm dụng quyền bính, những hủ tục, những tệ đoan, những điều ấy làm cho con người đau khổ, trì trệ, không phát triển.  

Dọn đường căn bản là ở trong nội tâm, sám hối để canh tân, sửa đổi để trở nên tốt lành thánh thiện hơn. Những con đường thường được làm bằng đất đá nhựa bê tông. Những con đường trên mặt đất, trên sông trên biển trên bầu trời là những con đường vật lý. Những con đường tâm lý, con đường tinh thần, con đuờng lòng người mới quan trọng hơn. Nguyễn Bá Học đã nói: đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà chỉ vì lòng người ngại núi e sông.

Sống đạo luôn là một thách đố đầy quyết liệt và phong phú. Hiểu đạo, tin đạo, giữ đạo xem ra khá dễ dàng vì thuộc lãnh vực cá nhân. Còn sống đạo thường khó khăn hơn vì liên quan đến tha nhân, đòi hỏi một sự quên mình, vượt thắng bản thân. Cũng như thực hiện việc dọn đường qua nghi thức sám hối bên ngoài như rửa tội, xưng tội khá dễ dàng, nhưng nếu mà trong lòng không thật tâm sám hối đưa đến canh tân bản thân, thì hành vi sám hối chỉ là việc làm lấy lệ hình thức mà thôi. Chính vì thế, Giáo hội muốn chúng ta sống 4 tuần lễ Mùa Vọng này như sống trong sa mạc: bình tâm hơn, ăn uống đạm bạc hơn, cầu nguyện nhiều hơn để biết rõ ý Chúa. Gioan đã giúp người ta sám hối, thú tội và lãnh nhận phép rửa, sữa đường nội tâm. Khi Chúa Giêsu xuất hiện, Gioan giới thiệu: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian” (Ga 1,29).

Sống đạo bao giờ cũng đòi hỏi nhiều cố gắng và tỉnh thức. Mùa Vọng, Giáo hội cho chúng ta chiêm ngắm mẫu gương của Gioan. Sống gắn bó với Thiên Chúa và gần gũi với con người. Như thế mỗi người sẽ sống đạo hôm nay với tất cả niềm vui hạnh phúc cho bản thân và cho tha nhân.

 Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 

 

]]>
Đệ Nhất Thánh Nữ http://lamhong.org/de-nhat-thanh-nu/ Wed, 06 Dec 2017 03:04:13 +0000 http://lamhong.org/?p=27601 Hồng ân cao cả vô nhiễm nguyên tội

Đức Mẹ giữ mình trinh khiết trọn đời

Vô nhiễm là một trong tứ ân đặc biệt mà Thiên Chúa dành riêng cho Đức Mẹ (*), thụ tạo đặc biệt của Thiên Chúa – Đệ Nhất Thánh Nữ với nhiều thánh hiệu được Giáo hội tôn vinh (x. Kinh Cầu Đức Bà). Theo ngữ nghĩa “nhiễm” là “nhuộm” – nghĩa bóng là lây lan, thấm sang, vương, vướng, dính – nhưng thường được dùng ở thể thụ động và mang nghĩa xấu. Nói ngắn gọn, “vô nhiễm” nghĩa là không bị nhiễm. Qua Tông sắc “Ineffabilis Deus” (Thiên Chúa Bất Khả Ngộ) ban hành ngày 8-12-1854, ĐGH Piô IX đã công bố Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Trong cuộc sống đời thường có nhiều dạng “nhiễm”: Nhiễm khuẩn, nhiễm trùng, nhiễm độc, nhiễm xạ, nhiễm bệnh,… Về thể lý, chắc chắn không ai miễn nhiễm, nghĩa là ai cũng đã từng bị bệnh, bị nhiễm một dạng virus nào đó, với mức độ khác nhau. Vì thế, người ta rất cần bảo vệ hệ miễn nhiễm của cơ thể, đặc biệt là cố gắng làm mạnh sức đề kháng. Thật kỳ diệu là đối với một số người Phi châu, họ miễn nhiễm với HIV (Human Immunodeficiency Virus), người ta gọi là “căn bệnh thế kỷ”, thường nói theo Pháp ngữ là SIDA (Anh ngữ là AIDS –  Acquired Immune Deficiency Syndrome), Việt ngữ gọi là “bệnh liệt kháng”. Đó là một dạng thiếu khả năng miễn nhiễm của cơ thể. Tuy nhiên, có một số người Phi châu không bị nhiễm HIV, đúng là dạng “vô nhiễm” rất kỳ lạ!

Theo giáo sử, Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm đã có tại Ðông phương từ giữa thế kỷ VII và VIII. Các vị giảng thuyết đã nói về sự Vô Nhiễm, thai sinh thánh thiện, nhưng không nêu lên vấn đề gì khác. Thời Trung cổ, lễ này được đưa vào Tây phương, rồi nhiều dòng tu ở Ðức và Rôma cũng đã mừng lễ này từ thế kỷ IX.

Các tu sĩ đưa lễ này vào Anh quốc năm 1060, rồi lễ này được lan rộng khắp Âu châu trong thời gian 1127-1128, dù Thánh Bênađô vẫn tỏ ra dè dặt trước “sự mới lạ” đó. Lúc đầu, đó là một phong trào sùng kính sốt sắng nhưng thiếu suy tư, nhất là bị ảnh hưởng những ý kiến mù mờ của thời đó.

Sau đó, cùng với Thánh GM TS Augustinô, người ta cho rằng việc giao hợp vợ chồng là hành động trác táng lưu truyền tội tổ tông. Như vậy, Đức Maria sinh bởi sự giao hợp của cha mẹ thì cũng không thoát khỏi “định luật thông thường” đó. Vả lại, thời đó người ta có quan niệm phi khoa học về việc thai sinh, như thể xác được cưu mang trước rồi linh hồn đến trong khoảng thời gian sau: Linh hồn con trai trước 40 ngày, linh hồn con gái phải lâu hơn mới hợp với thể xác vì bản tính con gái yếu kém. Ui da!

Trong cái “vòng lẩn quẩn” đó, các thần học gia cũng không biết làm sao thoát khỏi với điều này: Chúa Kitô là Ðấng cứu chuộc hết mọi người. Như vậy, nếu nói rằng Ðức Mẹ không vướng mắc tội lỗi, dù chỉ nói đến tội tổ tông, thì Chúa Kitô không còn là Ðấng cứu chuộc toàn thể nhân loại. Các nhà thần học thế kỷ XIII, kể cả Thánh TS Thomas Aquinô, đều cho rằng Ðức Mẹ vẫn có phần lệ thuộc tội lỗi, ít nhất là về thể lý trong thời gian mang thai.

Đến cuối thế kỷ XIII, thần học gia tu sĩ Gioan Duns Scott và tu sĩ William Ware (Dòng Phanxicô) đã có công tìm hiểu và đảo ngược lý luận trên. Chân phước tu sĩ Duns Scott lý luận rằng đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội của Ðức Mẹ chẳng những không làm tổn thương đến vinh dự Đức Kitô và Công Cuộc Cứu Chuộc của Ngài, nhưng càng làm tỏ rạng sự sung mãn của công cuộc ấy. Nhân loại thực sự được thoát khỏi Nguyên Tội khi lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy. Nơi Đức Maria, công việc của Chúa Giêsu có sức ngăn ngừa tội lỗi. Vì Ðấng Cứu Chuộc hoàn hảo phải là Ðấng không chỉ có thể CHỮA LÀNH tội lỗi mà còn NGĂN NGỪA tội lỗi. Lý luận thật tuyệt vời, và Thánh Ý Chúa thật là mầu nhiệm! Thật vậy, vào ngày 25-3-1858, chính Đức Mẹ đã hiện ra với Thánh nữ Bernadette tại Lộ Đức và xác nhận: “Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội”. Điều này cho thấy Chúa Thánh Thần thực sự tác động mạnh trong đời sống Giáo hội Lữ hành và minh chứng ơn bất khả ngộ của Đấng kế vị Thánh Phêrô, vì lúc đó Giáo hội mới công bố tín điều Mẹ Vô Nhiễm được gần 4 năm.

Qua trình thuật St 3:9-15, chúng ta thấy đó là một cuộc “xưng tội công khai” của Ông Bà Nguyên Tổ trước Tôn Nhan Thiên Chúa.

Sách Sáng Thế cho biết: Thuở hồng hoang, Đức Chúa là Thiên Chúa gọi con người và hỏi: “Ngươi ở đâu?”. Con người thưa: “Con nghe thấy tiếng Ngài trong vườn, con sợ hãi vì con trần truồng, nên con lẩn trốn”. Đức Chúa là Thiên Chúa hỏi: “Ai đã cho ngươi biết là ngươi trần truồng? Có phải ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi ăn không?”. Con người thưa: “Người đàn bà Ngài cho ở với con, đã cho con trái cây ấy, nên con ăn”. Đức Chúa là Thiên Chúa hỏi người đàn bà: “Ngươi đã làm gì thế?”. Người đàn bà thưa: “Con rắn đã lừa dối con, nên con ăn”. Đức Chúa là Thiên Chúa phán với con rắn: “Mi đã làm điều đó, nên mi đáng bị nguyền rủa nhất trong mọi loài súc vật và mọi loài dã thú. Mi phải bò bằng bụng, phải ăn bụi đất mọi ngày trong đời mi. Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó”.

Lạy Chúa tôi, con người thật chua ngoa và tồi tệ! Đó là một dây-chuyền-tội-lỗi: Ông đổ lỗi cho bà, bà đổ lỗi cho con rắn. Cuộc đời người ta “chết” vì những cái VÌ, BỞI, TẠI, NẾU, GIÁ MÀ, GIẢ DỤ,… và không phục thiện. Thật nguy hiểm vô cùng!

Chàng Adam được Thiên Chúa ban cho “mỹ nhân” (chắc là xinh đẹp và dễ thương lắm) nên chàng Adam nhà ta khoái chí lắm, liền đặt tên cho “vợ yêu” là Eva – tên này có nghĩa là “mẹ của chúng sinh” (St 3:20). Như một chuỗi lô-gích liên quan lẫn nhau, người ta có một câu danh ngôn thú vị thế này: “A-xít làm CHÁY tiền, tiền làm CHÁY tim đàn bà, nước mắt đàn bà làm CHÁY tim đàn ông”. Ôi chao, thú vị mà cay cú, nhưng cũng chí lý đấy chứ!

Người ta gọi phụ nữ là “liễu yếu đào tơ”, nhưng đôi khi quên rằng phụ nữ mềm mà cứng, yếu mà mạnh. Quả thật, chính sự yếu mềm đó lại chính là thế mạnh của họ, nhất là họ vừa trẻ vừa đẹp, ngày nay còn “chân dài” nữa, nó “khoèo” một cái là lũ đàn ông té hàng loạt như bão mạnh thổi tung vậy. Khốn thay! Thật vậy, giọng cô ả chỉ “nhựa” một chút và ẻo lả một chút khi nói “Anh ơi!”, thì hỡi ôi, chàng chợt mềm nhũn như bún thiu ngay thôi. Chẳng thế mà Samson khỏe như voi cũng “chết ngắc” chỉ vì một phụ nữ, đường đường là một quốc vương như Đa-vít mà cũng “tiêu” chỉ vì một phụ nữ, và rồi gã Hê-rô-đê cũng sẵn sàng “làm liều” chỉ vì một phụ nữ, dám “thí” nửa nước như một món đồ chơi vậy. Đúng vậy, chỉ MỘT phụ nữ mà quý ông đã “tiêu diêu miền tình ái” chứ chưa cần nhiều phụ nữ đâu. Thật khủng khiếp quá chừng!

Xưa nay người ta vẫn ví von thế này: “Phụ nữ muốn là trời muốn”. Và người ta cũng so sánh: “Nhất vợ, nhì trời,…”. Trời còn đứng hàng thứ chứ nói gì phàm phu tục tử. Đáng sợ là khoảng giữa “cái có” và “cái không” ở phụ nữ thì dù một sợi tóc cũng không thể lọt vào. Tinh vi quá đỗi! Đàn ông là sóng cồn nhưng đàn bà là sóng ngầm. Sóng ngầm không thấy mà tránh và có sức cuốn mất hút dù trời không hề giông bão.

Tuy nhiên, Thiên Chúa không làm ngơ. Chỉ vì một phụ nữ tội lỗi mà nhân loại chịu kiếp đọa đày, đó là Bà Cố Tổ Eva; nhưng lại nhờ một phụ nữ thánh thiện, nhu mì và tuân phục, mà nhân loại được giải án tuyên công, người đó chính là Đức Maria. Thật diễm phúc cho phàm nhân chúng ta!

Khi đã thực sự nhận ra “cái may” to lớn như thế thì người ta phải biết tạ ơn chân thành và không ngừng. Thật vậy, Thánh Phaolô đã bày tỏ tâm tình đó: “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Trong Đức Kitô, từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần” (Ep 1:3). Không chỉ vậy, Thánh Phaolô còn xác định chi tiết: “Trong Đức Kitô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người. Theo ý muốn và lòng nhân ái của Người, Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu Kitô, để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng Người ban tặng cho ta trong Thánh Tử yêu dấu” (Ep 1:4-6). Rất rõ ràng, mạch lạc, và dễ hiểu.

Và rồi Thánh Phaolô còn nói thêm: “Thiên Chúa là Đấng làm nên mọi sự theo quyết định và ý muốn của Người, đã tiền định cho chúng tôi đây làm cơ nghiệp riêng theo kế hoạch của Người, để chúng tôi là những người đầu tiên đặt hy vọng vào Đức Kitô, chúng tôi ngợi khen vinh quang Người” (Ep 1:11-12). Quả thật, hồng ân Thiên Chúa quá bao la, cao vời và khôn ví. Chúng ta chỉ còn biết suốt đời cúi đầu mà cảm tạ liên lỉ từng phút, từng giây, trong suốt cuộc đời này.

Ơn là ơn, ân sủng là ân sủng, hồng ân là hồng ân, chúng ta không thể xác định ơn nào to hay nhỏ – đại ân hoặc tiểu ân. Chỉ có Thiên Chúa mới là người xác định mức độ, vì chỉ một mình Ngài là người thi ân giáng phúc. Đức Mẹ và các thánh chỉ là những người cầu thay nguyện giúp, đại diện cầu xin thay cho chúng ta (vì họ “uy tín” hơn chúng ta), họ là “ống dẫn” để chuyển ơn thánh từ Thiên Chúa tới chúng ta.

Trình thuật Lc 1:26-38 nói về cuộc Truyền Tin, ngày khởi đầu quan trọng đối với công trình cứu độ. Thánh sử Luca kể: Bà Êlisabét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Galilê, gọi là Nadarét, gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giuse, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Maria.

Vừa gặp Trinh Nữ Maria, Sứ thần liền nói: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà”. Nghe lời ấy, Cô Maria rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì. Sứ thần biết Cô Maria đang lo lắng nên trấn an ngay: “Cô Maria ơi, xin đừng sợ, vì Cô đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây Cô sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận”.

Chu choa, răng mà kỳ vậy hè? Người ta đã khấn giữ đồng trinh mà tự dưng nói chuyện mang thai và sinh sản. Kỳ ghê đi, mắc cỡ thí mồ, ngại hết sức! Thế nên Cô Maria thưa với sứ thần: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!”. Sứ thần liền giải thích cặn kẽ và minh chứng cụ thể: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Kìa bà Êlisabét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”.

Thì ra là thế! Nói đến Thiên Chúa thì miễn bàn, vì Cô Maria hết lòng tin kính Ngài. Thế là hai năm rõ mười. Tỏ rõ khúc nhôi. Chắc hẳn Cô Maria nhà ta thở phào nhẹ nhõm. Và rồi Cô Maria dịu dàng nói ngay với sứ thần: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa CỨ LÀM cho tôi như lời sứ thần nói”. Nghe vậy, sứ thần cũng “an tâm” mà từ biệt ra đi…

Alleluia! Thế là “chốc ấy Ngôi Thứ Hai xuống thế làm người”, và ở cùng chúng ta… Ngài chính là Đấng Thiên Sai, mệnh danh Emmanuel (Is 7:14; Mt 1:23). Đức Maria tự nhận là một Nữ Tỳ hèn mọn nhưng lại thật là vĩ đại, đã trở thành Đấng Theotókos (Θεοτόκος – God-Bearer – Người-Mang-Thiên-Chúa). Xin kính chào Đấng Emmanuel, và xin “kính mừng Maria đầy ơn phước”… Tạ ơn Thiên Chúa – Deo gratias!

Ly M Maria

Đấng Vô nhim Nguyên ti

Luôn tin yêu tuyt đối

Nơi Thiên Chúa tình yêu

M sáng rc ngàn sao

Trng trong như Bch Hu

Nêu gương cho hu du

Trinh nguyên c xác hn

Ly Thánh Mu t nhân

Xin ch che, nâng đỡ

Du đời bao sóng gió

Vn mt lòng tin yêu

Lạy Thiên Chúa quan phòng và tiền định, xin làm mạnh hệ miễn nhiễm tâm linh để con đủ sức đề kháng cái xấu. Lạy Thánh Nữ Vô Nhiễm, xin giúp con can đảm khi noi gương Mẹ sống khiêm nhu và tuân phục vô điều kiện. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

 

Trầm Thiên Thu

 

(*) 1. Thánh Mẫu Thiên Chúa [01-01], 2. Mông Triệu [15-08, Hồn Xác Lên Trời], 3. Đồng Trinh Trọn Đời [22-08, Maria Trinh Vương], 4. Vô nhiễm Nguyên tội [08-12].

+ Thánh Ca Đức Mẹ:

  1. MẸ VÔ NHIỄM: https://www.youtube.com/watch?v=9zPvmPWaLcg

2. CON HÁT MẸ NGHE (phổ thơ Paul Claudel): https://www.youtube.com/watch?v=Na9elYGC55g

]]>
Đừng làm nghèo Tiếng Việt http://lamhong.org/dung-lam-ngheo-tieng-viet/ Mon, 04 Dec 2017 09:00:15 +0000 http://lamhong.org/?p=27598 Mục đích cải cách chữ quốc ngữ Việt, hay tiếng Việt, là làm cho tiếng Việt đơn giản, dễ nói, dễ nghe, dễ viết, dễ hiểu; chẳng những cho mọi người Việt trong nước và ở hải ngoại mà còn cho bất cứ người ngoại quốc nào muốn học tiếng Việt. Tuy nhiên, không phải vì muốn tiếng Việt trở nên đơn giản mà làm cho tiếng Việt thành ra kệch cỡm, khó nghe, khó nói do thiếu sự phối hợp hài hoà giữa các ngữ tố, ngữ âm hay âm tiết trong một ngữ cảnh, và gây khó khăn trong việc viết đúng chính tả và đúng ngữ pháp tiếng Việt. Hơn nữa Bùi Hiền (BH) không có phát minh, sáng kiến gì cả, vì BH rõ ràng đã ăn cắp vài dấu ký âm trong công trình tự điển của “Tiền Bối Nguyễn Văn Khôn” ở thời kỳ Miền Nam VNCH mấy chục năm trước 1975 còn có bằng chứng trên giấy trắng mực đen như sau: VIỆT – ANH ANH – VIỆT TỪ ĐIỂN LOẠI THÔNG DỤNG TÁC GIẢ NGUYỄN VĂN KHÔN DO NHÀ SÁCH KHAI TRÍ ẤN HÀNH LẦN THỨ NHẤT XONG NGÀY 14-4-1967 TẠI NHÀ IN RIÊNG CỦA NHÀ XUẤT BẢN. GPKD SỐ 987 TBTTCB/BC3/XB NGÀY 6-4-1967.

Sau đây chúng ta hãy xem xét cái kiểu viết chữ quốc ngữ Việt, hay tiếng Việt, do ông PGS.TS. Bùi Hiền (BH), nguyên Hiệu Phó trường ĐHSP Ngoại Ngữ Hà Nội, vừa phát minh và đề xuất cải cách! Tiếng Việt thường phát âm như thế nào thì viết ra như thế nấy, vì ngay từ đầu người sáng tạo ra chữ quốc ngữ Việt đã cố gắng sử dụng các mẫu tự Latinh để phiên âm và biểu đạt càng đúng tiếng Việt chừng nào càng tốt chừng nấy; tuy nhiên, không phải vì vậy mà hiểu lầm những dấu ký hiệu phiên âm, còn gọi là dấu ký âm của tiếng Việt là những mẫu tự rồi dùng chúng để thay cho mẫu tự với cái biện luận hàm hồ là chúng có thể rút ngắn, tiết kiệm nét chữ viết!

BH đã đề xuất cải tiến bảng mẫu tự và chính tả tiếng Việt, BH cho biết rằng trải qua gần một thế kỷ, đến nay chữ quốc ngữ ở Việt Nam đã bộc lộ nhiều điểm bất hợp lý, nên cần phải cải tiến để giản tiện, dễ nhớ, dễ sử dụng, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm bút-giấy-mực. BH đã biện luận những điểm bất hợp lý là: “Hiện tại, chúng ta sử dụng 2, 3 mẫu tự để biểu đạt một âm vị phụ âm đứng đầu. Ví dụ c, q, k trong các chữ “cuốc, quốc, ca, kali”; tr, ch trong các chữ “tra, cha”; s, x trong các chữ “sa, xa” v.v… Bên cạnh đó, lại dùng 2 chữ cái ghép lại để biểu đạt âm vị của một số phụ âm đứng cuối vần như ch, ng, nh trong các chữ “mách, ông, tanh”, v.v…” Vì vậy BH đề nghị bỏ chữ “đ” ra khỏi bảng mẫu tự tiếng Việt hiện tại và bổ sung thêm một số chữ cái tiếng Latinh như “f, j, w, z” và thay đổi giá trị âm vị của 11 chữ cái hiện có trong bảng mẫu tự tiếng Việt cụ thể là “c” thay thế “ch, tr”; “d” thay thế “đ”; “g” thay thế “g, gh”; “f” thay thế “ph”; “k” thay thế “c, q, k”; q thay thế ng, ngh; s thay thế s, x; x thay thế kh; w thay thế th; z thay thế d, gi, r. Vì âm “nhờ” của chữ cái “nh” chưa có ký tự, hay còn gọi là dấu ký âm, mới để thay thế nên BH đề nghị tạm thời dùng ký tự ghép n’ để biểu đạt. Hầu như các ngôn ngữ trên thế giới không có chữ cái nào là n’ (n phẩy lửng) trong khi tiếng Việt có chữ cái phụ âm “nh” ở đầu tiếng và ở cuối tiếng như trong chữ “nhanh”.

Chữ quốc ngữ Việt cải tiến của Bùi Hiền chỉ dựa trên giọng nói của riêng thủ đô Hà Nội cả về âm vị cơ bản và 6 thanh điệu tiêu chuẩn (sắc, huyền, nặng, hỏi, ngã, bằng); nguyên tắc là mỗi chữ chỉ biểu đạt một âm vị, và mỗi âm vị chỉ có một chữ cái tương ứng biểu đạt. Như vậy chữ quốc ngữ cải tiến của BH không biểu đạt được cả nước bao gồm giọng nói của người Sài Gòn, Miền Tây Hậu Giang, Miền Trung Quảng Nam – Đà Nẵng – Huế. Ngôn ngữ của một quốc gia cần phải có tính đa dạng phong phú của các địa phương tiêu biểu, chứ không riêng giọng nói ở thủ đô; trong khi đó giọng nói thủ đô Hà Nội hiện nay rõ ràng chưa phải là chuẩn mực cho cả nước học nói theo và còn nhiều sai sót. Một cách khách quan và cụ thể chúng ta hãy xem xét những đề xuất cải tiến chữ quốc ngữ Việt của Bùi Hiền như sau: Không thể dùng chữ “d” thay chữ “đ”; vì “da” khác với “đa”, “do” khác với “đo”, “di” khác với “đi”, v.v… và cách phát âm hai chữ này hoàn toàn khác nhau.

Không thể dùng chữ “c” thay chữ “ch”, “tr”; vì “chờ” khác với “trờ”, “chữ” khác với “trữ”, “chung” khác với “trung”,v.v… Cách phát âm chuẩn của “ch” với “tr” hoàn toàn khác nhau; nếu phát âm “ch” và “tr” giống nhau như một số đông người Hà Nội hiện nay nói không phân biệt được “ch” và “tr” thì rõ ràng họ đã phát âm sai. Có một phát hiện ở đây là Bùi Hiền đã “ăn cắp” dấu ký âm “c” của một học giả và là một nhà làm tự điển Việt – Anh và tự điển Anh – Việt có tên NGUYỄN VĂN KHÔN ở Miền Nam VNCH thời kỳ mấy chục năm về trước. Trước năm 1975 Tiền Bối Nguyễn Văn Khôn đã dùng dấu ký âm “c” để phiên âm mẫu tự kép “ch”, trong các chữ “cha chú, chế, chi, chủ, v.v…” được phiên âm là “ca cú, cé, ci, củ”.

Không thể dùng chữ “g” thay chữ “g”, “gh”; vì “gi” khác với “ghi”, v.v… Qui tắc viết chính tả tiếng Việt không được viết “gê” mà phải là “ghê”, không được viết “ge” mà phải là “ghe”; cũng như không được viết “gha”, “ghu”, “ghư” mà phải là “ga”, “gu”, “gư”, v.v…

Không thể dùng chữ “s” thay chữ “s”, “x”; vì “sương” khác với “xương”, “sung” khác với “xung”, “sô” khác với “xô”, v.v… Cách phát âm chuẩn của “s” với “x” hoàn toàn khác nhau; nếu phát âm giống nhau thì rõ ràng phát âm sai. Hiện tại có một số rất đông người Hà Nội phát âm không phân biệt “s” với “x” một cách rất tự nhiên đáng ngạc nhiên!

Không thể dùng “x” thay chữ “kh”; vì “xung” khác với “khung”, “xông” khác với “không”, v.v… Cũng có một phát hiện ở đây là Bùi Hiền đã “ăn cắp” dấu ký âm “x” của một học giả và là một nhà làm tự điển Việt – Anh và tự điển Anh – Việt có tên NGUYỄN VĂN KHÔN ở Miền Nam VNCH thời kỳ mấy chục năm về trước. Trước năm 1975 Tiền Bối Nguyễn Văn Khôn đã dùng dấu ký âm “x” để phiên âm mẫu tự “kh”, trong các chữ “kha khá, khế, khi, khô, khu, v.v…” được phiên âm là “xa xá, xé, xi, xo, xu”.

Không thể dùng “z” thay chữ “d”, “gi”, “r”; vì “dông”, “giông”, “rông” được phát âm chuẩn hoàn toàn khác nhau; nếu phát âm giống nhau thì rõ ràng phát âm sai. Ở đây một lần nữa nhắc tới người Hà Nội trong việc phát âm cẩu thả, không chuẩn, không rõ, không phân biệt các âm của “d”, “gi”, “r” một cách đáng tiếc!

Không thể dùng “k” thay chữ “c”, “q”, “k”; vì qui tắc viết chính tả và phát âm chuẩn của “cuốc” khác với “quốc”; hơn nữa “k” khi ghép với “h” để thành chữ cái phụ âm kép “kh” ở đầu một chữ thì phải phát âm rất khác với “k”; như trong các chữ “kê” và “khê”, “cô” và “khô”, “ki” và “qui” và “khi”. Cách phát âm chuẩn và qui tắc viết chính tả của những chữ này hoàn toàn khác nhau, nếu gọp chung lại để thay thế bằng một mẫu tự “k” đúng là một chuyện phá bỏ qui tắc chính tả một cách không thông minh.

Không thể dùng chữ cái “q” thay chữ cái phụ âm kép “ng”, “ngh”; vì mẫu tự “q” không có ở cuối hay ở đầu của một chữ trong tiếng Việt. Nếu dùng một chữ cái “q” để thay thế “ng” và “ngh” trong chữ “nghe ngóng” để trở thành “qe qóq” thì đúng là quái đản lập dị. Qui tắc viết chính tả tiếng Việt chữ “ng” ở đầu chữ được viết với “a, o, ô, u, ư” thành những chữ “nga”, “ngo”, “ngô”, “ngu”, “ngư”. Chữ “ngh” ở đầu chữ được viết với “i, y, e, ê” thành những chữ “nghi”, “nghy”, “nghe”, “nghê”. Như vậy theo đề xuất của BH thay chữ “ng”, “ngh” bằng một chữ “q” thì phải bỏ qui tắc viết chính tả rất hoàn chỉnh của tiếng Việt! Đúng là một đề nghị rất sai trái và ngu xuẩn không thể chấp nhận được!

Không thể dùng “f” thay chữ cái phụ âm kép “ph”, vì đây là một dấu ký âm. Hơn nữa “f” là một dấu ký âm trong công trình tự điển của Tiền Bối Nguyễn Văn Khôn ở thời kỳ Miền Nam VNCH mấy chục năm trước 1975. Thí dụ các chữ “pha, phải, phê, phi, phu, v.v…” được phiên âm “fa, fải, fe, fi, fu”.

Không thể dùng chữ cái “w” thay cho “th”, vì “w” hoàn toàn xa lạ với tiếng Việt và cách phát âm của “w” gần giống với một bán nguyên âm của các chữ “oa, oai, oe, oan, qua, quai, que, quan, v.v…” trong khi cách phát âm của “th” là một phụ âm khi phát âm lưỡi phải chạm vào răng trên, vì vậy “w” và “th”, một là bán nguyên âm và một là phụ âm, không tương đồng thì không thể dùng thay thế cho nhau. Rất rõ ràng là chữ cái “w” có trong chữ “wong” của tiếng Trung Quốc. Mẫu tự “w” không nằm trong bảng chữ cái và cách phát âm của tiếng Việt, nhưng trong tiếng Anh, Pháp, Tàu thì có chữ cái “w”.

Hoa Văn cũ hay chữ Tàu truyền thống không thay đổi nhưng khó học, khó nhớ, nên Trung Quốc chỉ cải tiến bổ sung một hệ thống Hoa Văn mới được đơn giản hoá bằng những mẫu tự ít nét chữ viết. Để cho học sinh Trung Quốc và người nước ngoài dễ học loại tiếng Tàu mới này; Trung Quốc cũng đã tạo ra một loại tiếng Tàu mới viết bằng những mẫu tự Latinh ABC theo cách phiên âm của chữ Tàu để học nói nhanh chóng. Thí dụ: Chữ “dào” nghĩa là “đáo, tới”; và “dāo” nghĩa là “đao, cây dao”. Nhưng tiếng Trung Quốc không có đầy đủ dấu giọng hay dấu âm tiết. Có một đặc điểm khác biệt lớn giữa tiếng Việt và tiếng Trung Quốc là trong khi tiếng Việt có đầy đủ sáu “dấu giọng – accent marks” (sắc, huyền, nặng, hỏi, ngã, bằng) còn tiếng Trung Quốc thì không có đủ. Khi nghe một người Việt nói tiếng Việt có những âm tiết khác nhau khiến cho ngữ

điệu tiếng Việt líu lo như nghe chim hót.

Hơn nữa tiếng Việt cũng như tiếng Trung Quốc là tiếng đơn âm, mỗi chữ là một âm có một nghĩa riêng biệt và có đặc tính ghép chữ; khi ghép 2 hoặc 3 chữ lại với nhau thành 1 chữ mới với một nghĩa mới riêng biệt.

Thí dụ Chữ 女 nghĩa là “đàn bà” và 子 nghĩa là “trẻ con”. Khi ghép hai chữ này lại với nhau, 女 và 子 trở thành một chữ 好 …và có nghĩa là “tốt”. Như vậy “đàn bà” + “trẻ con” = “tốt” trong tiếng Trung Quốc.

Trong tiếng Việt chữ “phá” được ghép với các chữ “án, cửa, đám, gia, giới, hoại, kỷ lục, trật tự, v.v…” thành những chữ mới có nghĩa mới khác nhau “phá án, phá cửa, phá đám, phá gia, phá giới, phá hoại, phá kỷ lục, phá trật tự”.

Hiện nay rất đông người Việt có tệ nạn nói tắt, viết tắt trong tiếng Việt; điều này làm tiếng Việt trở nên kỳ cục, nghèo nàn trên phương diện nói và viết. Thí dụ: như chữ “bác” có thể ghép với các chữ để thành “bác sĩ”, “bác học”, “bác vật”, “bác Hồ”, “bác ái”, “bác nông dân”, “bác tiều phu”, uyên bác”, “bác cổ”, “bác nhã”, “bác án”, “bác đơn”, bác bỏ”, “bác tạp”, v.v… Với bao nhiêu chữ ghép với “bác”, vậy nếu nói tắt hay viết tắt “bác sĩ” chỉ bằng một chữ “bác” thì phải hiểu thế nào, “bác sĩ” hay “bác Hồ”? Chúng ta không thể bắt chước theo tiếng Anh, một thứ tiếng đa âm trong một chữ dài nên người ta có khuynh hướng nói tắt cho gọn; như chữ “doctor” được nói tắt là “doc”; “favorite” nói tắt là “fav”, nhưng khi viết phải viết nguyên chữ. Việc nói hay viết rút ngắn tiếng Việt không đúng cách, không đúng chữ, không đúng ngữ cảnh chỉ làm nghèo tiếng Việt và khiến tiếng Việt trở nên kệch cỡm.

Để nâng tiếng Việt lên ngang tầm một ngôn ngữ quốc tế như tiếng Anh, tiếng Pháp, đã có những cố gắng tạo ra và giới thiệu với các giới ngôn ngữ học quốc tế một hệ thống dấu ký hiệu phiên âm quốc tế – International Phonetic Alphabet (IPA) hoàn toàn dùng một bảng dấu ký âm quốc tế để biểu đạt cho tất cả chữ cái nguyên âm và chữ cái phụ âm của tiếng Việt; việc này cũng là nhắm vào mục đích giúp cho người nước ngoài dễ học và phát âm đúng tiêu chuẩn tiếng Việt. Vào năm 2005 đã có một cuốn sách dạy người nước ngoài học tiếng Việt được xuất bản và bán trên toàn thế giới, trên Amazon; trong cuốn sách này “SIMPLE VIETNAMESE FOR YOU” có một bảng dấu ký âm quốc tế IPA đi kèm với bảng mẫu tự tiếng Việt tương tự như bảng ký âm quốc tế IPA của tiếng Anh, tiếng Pháp.

Link Amazon https://www.amazon.com/s/ref=nb_sb_noss?url=search-alias%3Dstripbooks&field-keywords=simple+vietnamese+for+you

Hoặc là vào Google tìm SIMPLE VIETNAMESE FOR YOU với Link Google

https://www.amazon.com/Simple-Vietnamese-You-Nguyen-Thanh/dp/1419607111

Quả thật, trải qua thời gian hơn 400 năm tiếng Việt đã được hình thành, tu chỉnh, cải tiến và hệ thống hóa cho người dân Việt Nam có một loại chữ viết riêng, rất độc đáo, rất chính xác tương đồng với tiếng Việt nói; điểm quan trọng nhất là để dứt khoát tách ra khỏi bị ảnh hưởng nặng nề của hệ thống chữ Hán truyền thống của Trung Quốc hay chữ Hán Nôm. Cho đến nay người Việt chắc chắn đã có được một kho tàng văn học đồ sộ và phong phú với rất nhiều bộ sách quý, bộ tài liệu giá trị, bộ sách lịch sử, địa lý, khoa học, tác phẩm văn chương, thi ca, triết học, luận lý, đạo đức, tu từ học, ca dao tục ngữ và truyện cổ tích.

Cho đến thời kỳ Tự Lực Văn Đoàn kéo dài tới hiện tại, tiếng Việt đã ổn định hình thức và nội dung; những qui tắc của cách viết và cách học tiếng Việt như hiện tại đã rất vững chắc không cần những thay đổi mà chúng có thể làm nghèo tiếng Việt và gây xáo trộn trong cách viết và cách học tiếng Việt của người Việt trong nước và ở hải ngoại, cũng như gây khó khăn cho người ngoại quốc muốn học tiếng Việt. Chúng ta hãy tự hỏi nếu có những thay đổi, núp dưới chiêu bài cải tiến, trong tiếng Việt như vậy thì chúng mang lại lợi ích gì trong thực tế của nước Việt Nam?

Bây giờ toàn thể người dân Việt Nam phải cảnh giác đề phòng vì đây có thể là âm mưu của Tàu Cộng muốn phá hoại tiếng Việt, làm cho thế hệ tương lai của Việt Nam không thể đọc được chữ Việt, không hiểu được tư tưởng và đạo đức của người Việt Nam. Một điều quan trọng nhất là thế hệ tương lai Việt Nam sẽ không biết được lịch sử của nước Việt Nam, và lúc đó trở nên lớp người mất nguồn gốc ở ngay quê hương của mình. Rồi Tàu Cộng sẽ đồng hoá người Việt Nam rất dễ dàng.

Tóm lại, đừng làm nghèo tiếng Việt; ngược lại, phải làm cho tiếng Việt ngày càng nhuận sắc và phong phú hơn. Cho nên những đề xuất cải tiến của Bùi Hiền đã rất viễn vông, không thực tế, không thích hợp với tình hình của chữ quốc ngữ Việt hiện tại, và Bùi Hiền đã không đưa ra được một lý do chính đáng để cải tiến chữ Việt. Hơn nữa BH không có sáng kiến gì cả, vì BH đã ăn cắp vài dấu ký âm trong công trình tự điển của Tiền Bối Nguyễn Văn Khôn, bằng chứng như đã nêu trên. Trong khi tiếng Việt đã là một hệ thống chữ viết ký âm cố gắng biểu đạt được chính xác cách nói, cách viết của người Việt trong cả nước. Như vậy có thể khẳng định rằng tiếng Việt là một hệ thống ngôn ngữ hoàn chỉnh đã trải qua hơn 400 năm từng được tu chỉnh, cải tiến, và hệ thống hoá. Tiếng Việt sẽ có cơ hội tốt để trở thành một ngôn ngữ quốc tế như tiếng Anh, tiếng Pháp.

Cái quan trọng và thiết yếu nhất là nước Việt Nam cần cải cách chính trị, vì trước nhất phải cải cách chính trị là tiếp theo đó mọi việc cần thiết cho cuộc sống của toàn thể người dân Việt sẽ tự động cải cách theo cho thích hợp với chính thể mới của nước Việt Nam./.

Nguyễn Thành Trí

Sài Gòn, Chúa Nhật 3/12/2017

]]>
Hy vọng http://lamhong.org/hy-vong/ Sat, 02 Dec 2017 03:47:12 +0000 http://lamhong.org/?p=27595 Trong ba nhân đức hướng Chúa, đức cậy ít được nhắc đến hơn cả, có lẽ bởi vì người ta quan niệm rằng tất cả nòng cốt của đời sống Kitô hữu được tóm lại vào hai mối: “những điều phải tin” và “những điều phải giữ” (tín lý – luân lý); như vậy đức tin và đức mến đã đủ rồi, đức cậy trở nên thừa thãi. Người ta quên rằng Kitô giáo còn mang chiều kích tương lai nữa, và đó là vai trò của đức cậy. Thật ra, từ “cậy” không nằm trong ngôn ngữ thường nhật bởi vì không gợi lên ý tưởng gì hấp dẫn. Nhưng điều này có lẽ do lỗi dịch thuật. Tên của nhân đức đang bàn trong tiếng La tinh là spes; danh từ này thường dịch là “hy vọng” (chẳng hạn như tựa đề của Hiến chế mục vụ của công đồng Vaticanô II, Gaudium et spes: vui mừng và hy vọng). Từ ngữ này hấp dẫn hơn nhiều: nếu thiếu hy vọng thì làm sao sống được?

Câu chuyện từ ngữ đưa chúng ta đến nhiều nhận xét thú vị khác. Danh từ spes (tiếng La tinh) được dịch sang tiếng Anh là hope (danh từ và động từ), nhưng tiếng Pháp có hai danh từ khác nhau espoirespérance: danh từ thứ nhất ám chỉ hy vọng trong cuộc sống nhân sinh, danh từ thứ hai dành cho nhân đức đối thần. Khi nghiên cứu các bản văn Kinh thánh, spes tương đương với elpis trong tiếng Hy lạp trong Tân ước; thế nhưng danh từ ấy không có tương đương trong tiếng Do thái của Cựu ước; nói đúng hơn, Cựu ước dùng rất nhiều từ ngữ để diễn tả niềm hy vọng.

Dĩ nhiên ở đây chúng ta không bàn về những niềm hy vọng trong tương quan xã hội trần thế, nhưng là niềm hy vọng trong tương quan đối với Thiên Chúa.

Chúng tôi sẽ trình bày 3 điểm: 1/ Kinh thánh. 2/ Lịch sử thần học. 3/ Suy tư.

 

I. Kinh thánh

Tưởng nên nhắc lại là Kinh thánh chưa nói đến hy vọng như là một “nhân đức”. Niềm hy vọng (hoặc lòng trông mong) bao gồm nhiều khía cạnh, vì thế dựa theo sự phân biệt thần học về đức tin giữa khía cạnh chủ thể (fides qua) và khía cạnh khách thể (fides quae), chúng tôi cũng muốn áp dụng việc phân biệt hai khía cạnh ấy cho hy vọng. Khía cạnh “chủ thể” (spes qua) nói lên những thái độ tâm tình, chẳng hạn như: trông mong, đợi chờ, tin tưởng (hy vọng là gì?); Khía cạnh “khách thể” (spes quae) ám chỉ những đối tượng của niềm hy vọng (hy vọng cái gì?). Sự phân biệt này nhằm làm rõ nghĩa, tuy biết rằng hai khía cạnh liên hệ rất chặt chẽ với nhau.

A. Cựu ước

Trước hết, một nhận xét về từ ngữ. Trong tiếng La tinh, tên của nhân đức đang bàn là spes, trước đây dịch là “đức cậy” và ngày nay gọi là “hy vọng”. Thực ra, spes còn có thể dịch bằng nhiều từ khác tương đương: trông cậy, trông mong, trông chờ, cậy dựa, tin tưởng… Điều này cũng xảy ra đối với tiếng Do thái trong Cựu ước. Không có một danh từ nào tương đương với elpis trong tiếng Hy lạp; hay nói đúng hơn, các dịch giả bản LXX đã dùng danh từ này để dịch 28 từ tương đương trong tiếng Do thái, trong đó quan trọng nhất là ba từ: quawah (trông chờ, mong đợi, kiên nhẫn), jahal (chờ đợi), batah (tín thác, tin tưởng). Xét vì nội dung súc tích, chúng ta phân chia làm hai ý tưởng chính: khía cạnh chủ thể và khách thể của niềm hy vọng.

1/ Khía cạnh chủ thể

Hy vọng là một thái độ tự nhiên của con người. Tác giả sách Gióp nhận xét rằng: “nếu thiếu niềm hy vọng thì con người không thể nào sống nổi” (G 17,15; 14,7-10). Tuy nhiên, sách Châm ngôn cũng cảnh giác con người hãy thận trọng, biết đặt hy vọng cho đúng chỗ (Cn 23,17; 26,12; 34,1). Kinh thánh đã cho ta thấy những mối hy vọng tiêu cực, sai lầm. Thật vậy, hy vọng bị coi là “hão huyền” khi đặt lòng tin tưởng vào vũ lực (Hs 10,13; Is 31,1; Gđt 9,7), tiền của (G 32,14; Cn 28; Tv 49,6), hoặc các ngẫu tượng (Kn 13,10; Kb 2,18; Is 47,13-15). Nguy hơn nữa là ông Giêrêmia tuyên bố rằng niềm tin tưởng vào đền thờ cũng là hão huyền khi niềm tin tưởng ấy có tính ma thuật hơn là tuân theo ý Chúa (Gr 7,4-10). Những thứ hy vọng ấy sớm tan ra mây khói (Cn 10,28; 11,7). Ông Gióp mỉa mai rằng kẻ bất nhân chỉ có một mối hy vọng duy nhất là tắt thở (G 11,20).

Hẳn nhiên, niềm hy vọng chân thật duy nhất là Thiên Chúa: duy có Ngài là núi đá vững bền (Is 26,4; Tv 18,2; Đnl 32,3), là chốn nương náu trú ẩn cho con người (Tv 91,9; 94,22; 62,8). Chỉ có Thiên Chúa mới là hy vọng cho con người (Tv 71,5), cho toàn dân (Tv 65,6; Gr 14,8).

2/ Khía cạnh khách thể

Người Hy lạp quan niệm rằng Thượng đế không can thiệp vào sự vận hành của thế giới. Người Do thái thì ngược lại: họ thâm tín rằng Thiên Chúa không chỉ dựng nên vũ trụ, nhưng còn điều khiển dòng lịch sử, cách riêng Ngài đã thiết lập giao ước với dân tộc. Lịch sử này có một khởi điểm (bắt đầu) và một đích điểm (kết thúc): đích điểm không có nghĩa chấm dứt (ngưng hoạt động), nhưng là đạt tới cứu cánh.

Khởi đầu của lịch sử cứu độ là sáng kiến của Thiên Chúa, Ngài hứa sẽ ban hạnh phúc cho con người. Lời hứa này được thực hiện cách tiệm tiến: Thiên Chúa thực hiện lời đã hứa. Nhưng chính lúc thực hiện thì Ngài lại hứa thêm nữa, khơi lên niềm hy vọng nơi con người. Rồi cứ thế, lịch sử cứu độ là sự căng thẳng (giằng co) giữa điều đã xảy ra và điều sẽ xảy ra. Điều này được các nhà nghiên cứu Tân ước đặt tên là “rồi mà chưa” (already and not yet, déjà et pas encore): “thần học hy vọng” là như thế.

Một cách cụ thể, người ta ghi nhận năm giai đoạn chính trong lịch sử Cựu ước xét về đối tượng của hy vọng. Chung quy, đối tượng của hy vọng là hạnh phúc, nhưng có sự tiến triển về quan niệm hạnh phúc: từ những thực tại cụ thể dưới đất cho đến những thực tại trên trời, và thậm chí chính Thiên Chúa là hạnh phúc đích thực. Các giai đoạn tiến triển có thể tóm lại như sau: a. Abraham; b. Môsê; c. Đavit; d.Ngôn sứ; e. Khải huyền.

a) Lịch sử giao ước mở đầu với tổ phụ Abraham (St 12,1-2). Ông nhận được lời Chúa hứa sẽ ban một miền đất và một hậu duệ. Lời hứa ấy được thực hiện phần nào nơi mảnh đất Canaan (St 12,5: 15,7) và người con là Isaác (St 17,19). Chỉ có thế thôi sao? Không, phần thưởng mà Chúa hứa còn lớn hơn nữa, bởi vì trước đó Ngài đã nói rằng phần thưởng rất lớn (St 15,1), và Ngài mời ông Abraham hãy nhìn xa hơn nữa, “hãy ngước mắt lên trời và đếm thử các vì sao xem có đếm nổi không” (St 15, 5).

b) Ông Môsê đã được Chúa gọi để thực hiện lời hứa với các tổ phụ về miền đất được ban làm gia nghiệp (Xh 6,7-8). Khi dân Israel vào đất Canaan, họ ý thức rằng đây là đất mà Chúa hứa ban. Tuy nhiên, họ nhận được lời mời hãy nhìn về một tương lai xa hơn nữa. Các ngôn sứ nói đến một cuộc xuất hành mới (Is 40, 3), một giao ước mới (Gr 31,31-34).

c) Với vua Đavít, lịch sử của Israel chuyển sang một chặng mới. Israel trở thành vương quốc của Thiên Chúa. Qua miệng ông Nathan (2 Sm 7,4-17), vua Đavít nhận được lời hứa là một người con sẽ ngồi trên ngai của ông để tiếp tục làm vua dân Israel, và dòng dõi của ông sẽ tồn tại mãi mãi. Tuy nhiên, Salômôn chỉ là hình ảnh của một vua lý tưởng được chính Chúa nhận làm con và cai trị muôn dân muôn nước (Tv 110,3).

d) Cuộc tàn phá Giêrusalem năm 587 đã gây một cuộc khủng hoảng cho Israel: còn đâu nữa lời hứa về dòng dõi trường tồn của vua Đavit? Còn đâu nữa lời hứa sẽ bảo vệ dân tộc? Các ngôn sứ đã được phái đến để nâng đỡ niềm tin của dân chúng: Thiên Chúa không thể nào quên giao ước đã ký kết với dân Israel. Các ngôn sứ loan báo sự phục hưng của Israel, hơn thế nữa, của cả vũ trụ “vào những ngày sau hết” (Is 2,2; Hs 3,5; Mk 4,1; Gr 23,20; Ed 38,16). Trong bối cảnh này, chúng ta thấy xuất hiện thành ngữ “ngày của Giavê” (Am 5,18), nghĩa là cuộc can thiệp quyết liệt của Thiên Chúa để phán xét (Is 34,8). Sau cùng, Thiên Chúa sẽ thiết lập vương quyền của Người: dân Israel sẽ được quy tụ và cùng với các dân khác, họ sẽ được chính Chúa cai trị (Ml 2,12). “Ngày của Giavê” hoàn tất mọi cuộc can thiệp của Thiên Chúa vào lịch sử.

e) Cho tới đây, dù biên cương của các niềm hy vọng có thay đổi (từ một bộ tộc du mục, đến một liên minh bộ tộc, một vương quốc), nhưng tựu trung đều loay hoay trong những thực tại ở dưới trần thế. Sách Đaniel và các sách Khải huyền tiến một bước nhảy vọt. Thiên Chúa từ trời cao sẽ can thiệp để thiết lập vương quyền bền bỉ đến muôn đời. Nó mang tính cách siêu việt, vượt qua biên cương của không gian và thời gian, bởi vì nó được đồng hóa với chính Thiên Chúa (Đn 7,13-14).

Tóm lại, đối tượng của niềm hy vọng của Israel được mở rộng dần dần, từ những thực tại cụ thể cho đến thực tại siêu việt là chính Thiên Chúa: “Ta sẽ là Chúa của chúng, và chúng sẽ là dân của Ta” (Gr 31,33; x. Is 55,3; Ed 36,28). Ngoài ra, từ giai đoạn bốn, họ ngóng trông vào “những ngày sau hết”, “thời cuối cùng”, “ngày của Giavê”. Tân ước sẽ sử dụng những từ ngữ này khi nói đến thời cánh chung, bắt đầu với việc Đức Giêsu thiết lập “vương quốc của Thiên Chúa” cho đến khi “Thiên Chúa được ở trong mọi sự” (1Cr 15, 28).

B. Tân ước

Nhận xét về từ ngữ. Các học giả đã đưa ra một nhận xét thú vị về các bản văn Tân ước. Trong tiếng Hy lạp, hy vọng là elpis (danh từ) và elpizein (động từ). Tin mừng nhất lãm không sử dụng danh từ, và động từ cũng xuất hiện họa hiếm. Đối lại, nơi thánh Phaolô, danh từ được dùng 40 lần (trên tổng số 53 lần của toàn Tân ước) và động từ được dùng 20 lần (trên tổng số 31 lần). Vì thế thánh Phaolô đáng được gọi là “tông đồ của hy vọng”. (Cũng nên biết là trong ngôn ngữ của người Hy lạp, từ “hy vọng” không bao giờ áp dụng cho các thần linh).

Người ta tìm cách giải thích hiện tượng như thế này. Tin mừng nhất lãm thuật lại các bài giảng của Chúa Giêsu dành cho dân Do thái. Họ đang trông mong một vua chính trị. Vì thế Đức Giêsu tìm cách giải thích vai trò của vị Mêsia theo nghĩa thiêng liêng, và hướng dẫn tâm trí của thính giả về sự hoàn tất lời của các tiên tri: “triều đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông” (Lc 11,20; 17,20-21), qua các dấu hiệu: người đói được ăn, người bệnh được chữa lành, tội nhân được tha thứ, người chết được sống lại. Đứng trước thực tại ấy, thái độ không phải là hy vọng, nhưng là tin. Mặt khác, vương triều Thiên Chúa chỉ mới được khai mào, và cần tăng trưởng cho đến thời cánh chung. Các môn đệ cần sống trong sự tỉnh thức, đợi chờ, cách riêng là phải kiên nhẫn khi gặp cơn bách hại (x. Mt 10,22; Lc 21,19).

Thánh Phaolô giảng Tin mừng cho dân ngoại, và không sợ những ngộ nhận. Vì thế người không ngần ngại sử dụng thuật ngữ “hy vọng”.[1] Đối tượng của niềm hy vọng là cuộc quang lâm của Đức Kitô (1Tx 1,3; 2,19; 1Cr 1,7; 2Cr 1,14; Pl 3,20). Lúc ấy mọi điều tốt lành sẽ đạt được, mọi sự dữ sẽ bị khai trừ. Những đau khổ hiện tại không sánh vào đâu với vinh quang dành cho chúng ta ngày nay. Nền tảng của niềm hy vọng là cuộc phục sinh của Đức Kitô, qua đó ta nhận thấy rằng sự dữ đã bị tiêu diệt: sự dữ thể chất (tượng trưng nơi cái chết) cũng như sự dữ tinh thần (tượng trưng nơi tội lỗi). Biến cố này là bảo chứng cho sự giải phóng toàn diện con người và toàn thể loài người khi Ngài đến trong vinh quang. Hiện thời, Thánh Linh được ban cho ta như bảo chứng.

1/ Khía cạnh khách thể

Khi so sánh với Cựu ước, ta thấy sự mới mẻ của Tân ước nằm ở chỗ sự can thiệp mới của Thiên Chúa trong lịch sử nhân loại nhờ Đức Giêsu Kitô. Không lạ gì mà thánh Phaolô khẳng định rằng: “Đức Kitô Giêsu là niềm hy vọng của chúng ta” (1Tm 1,1). Đức Kitô không chỉ loan báo niềm hy vọng, nhưng đã thể hiện niềm hy vọng nơi chính bản thân của Người, đặc biệt là nhờ cuộc sống lại từ cõi chết của Người mà sự dữ đã bị diệt và sự sống vĩnh cữu được ban cho nhân loại. Đức Kitô là Amen của Thiên Chúa, nơi mà các lời hứa của Thiên Chúa trở thành thực tại (2Cr 1,20).

Từ đó, niềm hy vọng Kitô giáo mang những đặc điểm sau đây.

a) Đối tượng là những điều tốt lành của thời cánh chung: gặp gỡ Đức Kitô (1Tx 4,13-18); hưởng gia nghiệp dành cho những kẻ đồng thừa kế với Đức Kitô (Rm 8,17; Pl 3,20-21); đời sống vĩnh cửu (Tt 1,2; 3,7); chia sẻ vinh quang Thiên Chúa (Rm 5,2; x.8,18; Ep 1,18), vào vương quốc Thiên Chúa (Rm 5,17; 1Cr 6,19; 15,50). Nói vắn tắt, đối tượng của hy vọng là ơn cứu độ (1Tx 5,8) nhằm toàn diện con người, bởi vì bao gồm sự cứu chuộc thân xác (Rm 8,23) và sự phục sinh (1Cr 15,19) cũng như sự giải thoát vạn vật khỏi sự hư nát (Rm 8,19-22). Những điều này thuộc về tương lai, hiện thời ta chưa thấy, nhưng chúng ta mong chờ lời Chúa sẽ thực hiện (Rm 8,24t).

b) Động lực của niềm hy vọng là việc Thiên Chúa đã kêu gọi chúng ta (1Tx 5,24) do lòng yêu thương chúng ta (Rm 8,28-33), và Ngài là Đấng trung tín giữ lời hứa (2Tm 2,13), Đấng đầy quyền năng, Đấng quan phòng an bài mọi sự theo kế hoạch yêu thương. Kế hoạch này đã được thể hiện khi Ngài cho Đức Kitô sống lại từ cõi chết, hoa trái đầu mùa cho những người chết sẽ được sống lại (1Cr 15,18.20). Hiện nay, Thánh Linh được ban cho chúng ta (Rm 5,5) như bảo chứng cho cuộc sống lại của chúng ta trong tương lai (2Cr 1,22; Ep 1,13).

c) Nguồn mạch của hy vọng là Thánh Linh. Thánh Linh là hồng ân cánh chung, đang hiện diện trong chúng ta (Rm 8,11), để soi sáng, nâng đỡ, khích lệ niềm hy vọng, Ngài thôi thúc chúng ta cầu nguyện và hoạt động cho Nước Chúa.

2/ Khía cạnh chủ thể

Các Kitô hữu được định nghĩa như là những người có niềm hy vọng (1Tx 4,11), khác với dân ngoại “sống không có niềm hy vọng” (Ep 2,12). Thánh Phêrô cũng nói rằng người Kitô hữu được “tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng” (1Pr 1,3). Hy vọng là một hồng ân do Chúa ban (2Tx 2,16), dường như một ơn gọi (Ep 4,4). Người tín hữu cần chứng tỏ niềm hy vọng này không những qua việc giải thích lý do trước mặt người đời, theo như lời khuyên của thánh Phêrô (1Pr 3,15), nhưng còn qua nếp sống.

Thánh Phaolô đã nói nhiều đến sự liên hệ giữa hy vọng với các đức tính khác: hy vọng là tin tưởng, là chờ đợi, là kiên nhẫn.

– Hy vọng không thể nào tách rời khỏi đức tin, bởi vì cả hai dựa trên những lời Chúa hứa và nhắm đến tương lai (Gl 3,11; 5,5). Nếu không tin vào Đức Kitô thì làm sao hy vọng được; nhưng tin mà không hy vọng là hão huyền, vô nghĩa (1Cr 15,14.17). Hy vọng cũng gắn liền với yêu mến, bởi vì niềm hy vọng dựa trên lòng tin tưởng vào công trình yêu thương của Thiên Chúa, và tình yêu này đã được đổ xuống tâm hồn chúng ta (Rm 5,5; 1Tx 3,12; 2Tx 2,16).

– Hy vọng sinh ra lòng kiên nhẫn chờ đợi. Sự kiên nhẫn là kẻ đồng hành của niềm hy vọng (Rm, 5,3t; 2m 2,12; x. Mc 13,13). Nó nâng đỡ ta trong những thử thách, và giúp ta bền chí (1Tx 1,10). Những đau khổ giúp chúng ta được thông dự vào những đau khổ với Đức Kitô (Pl 2,10-12; Cl 1,24) và đưa chúng ta đến cuộc phục sinh với Người (Rm 8,17).

– Hy vọng tạo nên sự trông mong, đợi chờ tỉnh thức, cùng với việc cầu nguyện và tiết độ, cũng như những công việc bác ái (1Pr 4,7tt).

– Hy vọng cũng gây cho ta nỗi lo sợ (Pl 2,12). Tuy rằng người tín hữu tin tưởng vào quyền năng của Thiên Chúa (1Cr 2,5), nhưng bởi vì còn sống trong thân xác mỏng dòn, gặp nhiều thử thách, cho nên cũng lo sợ không biết có bền đỗ hay không (1Cr 10,12). Dù sao, họ không xao xuyến lo âu, bởi vì họ tin rằng Thiên Chúa không để mình bị thử thách quá mức.

– Một đặc tính nữa của hy vọng là niềm vui (Rm 15,13). Những đau khổ đời này ví như cơn đau quặn của bà mẹ lúc sinh nở, nhưng sự thâm tín của một sự sống mới mang lại niềm an ủi (Rm 12,12), và là nguồn sức mạnh và can đảm. Cách riêng, đối với Phaolô, niềm hy vọng gây ra sự bạo dạn can đảm (parresia) làm chứng cho Đức Kitô (2Cr 3,12), sẵn sàng đương đầu với mọi vất vả (1Tm 4,10).

Trước khi kết thúc việc khảo sát Kinh thánh, thiết tưởng nên nói đôi lời về các văn phẩm của thánh Gioan. Từ ngữ “hy vọng” không được sử dụng trong Tin mừng thứ bốn, và chỉ xuất hiện 1 lần trong thư thứ nhất (1Ga 3,3). Tuy nhiên, thực tại được diễn tả bằng nhiều từ ngữ và hình ảnh khác. Trong thư thứ nhất, tác giả diễn tả thực tại tương lai mà chúng ta mong đợi là được kết hiệp với Thiên Chúa, được chiêm ngưỡng diện đối diện (1Ga 3,2). Sách Khải huyền có thể gọi là “quyển sách của hy vọng” bởi vì hướng độc giả đến cuộc chiến thắng chung quyết của Đức Kitô trên tất cả mọi lực lượng sự dữ. Tác phẩm kết thúc với lời khẩn nài của Hội thánh như hiền thê “Xin hãy đến” (Kh 23,17), và tất cả mọi người đều họa lại: “Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến” (Kh 22,20).

 

II. Lịch sử thần học: những lối tiếp cận

Việc khảo sát tư tưởng về niềm hy vọng trong Kinh thánh cho thấy nhiều lối tiếp cận: 1/ Một sự phân biệt đơn giản hơn cả là hy vọng nhìn dưới khía cạnh chủ thể (hy vọng là gì), và dưới khía cạnh khách thể (hy vọng cái gì). 2/ Dưới khía cạnh chủ thể, vấn đề cũng có thể phân biệt làm hai góc độ: cá nhân hay cộng đoàn.

Thần học Trung cổ nghiên cứu Hy vọng như một nhân đức hướng Chúa, nhìn dưới khía cạnh chủ thể và cá nhân. Vào thời cận đại, khía cạnh cộng đoàn được chú ý hơn, và trở thành đối tượng của môn cánh- chung-luận. Chúng ta có thể nhận thấy hai khuôn mẫu tiếp cận ấy nơi thánh Tôma Aquinô và nơi công đồng Vaticanô II.

A. Thánh Tôma Aquinô

Lối tiếp cận này khởi đi từ “hy vọng” như là một “nộ dục”, nghĩa là một phản ứng của con người đứng trước một điều tốt trong tương lai, cam go nhưng có thể đạt được.[2] Từ “hy vọng tự nhiên”, tác giả bước sang “hy vọng siêu nhiên” là một nhân đức có đối tượng là hạnh phúc vĩnh cửu, một điều mà ta mong ước nhưng khó đạt được.[3] Dầu vậy, ta dám hy vọng là bởi vì Thiên Chúa đã hứa ban cho ta cùng với những phương tiện cung cấp cho ta.

1. Về đối tượng, có thể phân biệt: đối tượng chính và phụ. Đối tượng “chính” của đức hy vọng là hạnh phúc vĩnh cửu, tức là chính Thiên Chúa. Đối tượng “phụ” là những phương tiện cần thiết để đạt đến cứu cánh. Đối tượng siêu nhiên thì đòi hỏi các phương tiện siêu nhiên: ơn thánh, các bí tích, cầu nguyện. Những phương tiện này cũng được bao gồm trong đối tượng của hy vọng, bởi vì không những chúng cần cho ta đạt đến cứu cánh, mà còn bởi vì chúng vượt quá khả năng của ta. Ngoài những phương thế chính yếu vừa kể, chúng ta cũng hy vọng Chúa sẽ ban những phương thế thứ yếu và tự nhiên nhưng cần thiết cho chúng ta trên đời này (tựa như: sức khoẻ, tài sản, công ăn việc làm, tình cảm, gia đình…)

2. Động lực của hy vọng là sự toàn năng của Thiên Chúa, kèm theo lòng thương xót và lòng trung tín với lời hứa.

3. Chủ thể của hy vọng là ý chí, bởi vì bản chất của nó là một ước muốn hướng đến điều tốt (khác với đức tin là đối tượng của lý trí).

4. Chỉ những ai có đức tin thì mới được Chúa ban đức cậy. Người tín hữu có thể có đức cậy mà không có đức mến khi họ phạm tội trọng. Đức cậy chỉ hiện hữu nơi các tín hữu trên đường lữ hành trần gian và nơi các linh hồn đang chịu thanh luyện. Các phúc nhân trên trời và các người bị trầm luân không còn đức cậy nữa.

B. Công đồng Vaticanô II

Lối tiếp cận cổ điển về đức hy vọng mang tính “chủ thể” (nhìn về phía con người) và “cá nhân” (xét nơi mỗi người tín hữu). Công đồng Vaticanô II bàn đến hy vọng về phía “khách thể” (những điều hy vọng) và “cộng đồng” (dành cho Hội thánh và nhân loại). Việc thay đổi lối tiếp cận nhằm đáp ứng với những thách đố của thời nay.

Một thách đố của thời cận đại là chủ nghĩa nhân bản vô thần. Theo họ, xưa nay tôn giáo đã làm cho con người tha hóa bởi vì đã dạy con người trông mong sự trợ lực trên trời thay vì tự tin vào khả năng của mình. Đối với dân nghèo, nạn nhân của tình trạng bất công trong xã hội, tôn giáo khuyến khích họ nhẫn nại chịu đựng, chờ đợi phần thưởng ở đời sau. Đã đến lúc con người phải vùng lên, phải giành lại vai trò chủ động để điều khiển lịch sử, xoá bỏ các bất công qua cuộc cách mạng, xóa bỏ tình trạng nghèo khổ bằng việc xúc tiến cải cách kinh tế. Nói tóm lại, thay vì mơ một thiên đường xa vời, con người cần biết nỗ lực xây dựng thế giới mà mình đang sống, tạo ra hạnh phúc cho toàn dân. Điều này có thể thực hiện được nhờ các tiến bộ khoa học.

Không thể chối cãi những thành tựu mà khoa học kỹ thuật đã mang lại cho nhân loại trong những thế kỷ gần đây. Nhưng không thể khẳng định rằng đơn giản khẳng định rằng con người thời nay hạnh phúc hơn xưa: một đàng bởi vì những phúc lộc vật chất chưa thỏa mãn những khao khát thâm sâu nhất của con người; đàng khác, thế giới hôm nay vẫn còn phải đương đầu với những lo âu trước những cuộc khủng hoảng kinh tế, nạn ô nhiễm mô trường, những đe doạ của bạo lực.

Trong bối cảnh ấy, “thần học hy vọng” đã ra đời vào thập niên 60 của thế kỷ XX[4] nhằm tìm câu trả lời cho những thách đố của chủ nghĩa Marx cũng như các chủ thuyết vô thần nhân bản: làm thế nào để cho niềm hy vọng vào hạnh phúc mai hậu không làm người tín hữu hờ hững với việc xây dựng trần thế? Mặt khác, cũng cần nêu bật rằng những tiến bộ khoa học kỹ thuật không thể nào thoả mãn những khát vọng về hạnh phúc tuyệt đối nằm trong thâm tâm của mỗi người.

Công đồng Vaticanô II đã không bỏ qua những vấn đề quen gọi là “cánh chung”. Cần hiểu chính xác ý nghĩa của “cánh chung”: ta đừng quá để ý đến “chung” (chấm dứt, kết thúc, tựa như cái chết kết liễu cuộc đời, hoặc tận thế kết thúc dòng lịch sử), mà quên “cánh”, tức là cứu cánh, mục đích. Hiến chế Lumen gentium về Hội thánh đã dành chương Bảy để bàn về đặc tính cánh chung của Hội thánh, trong đó nêu bật chiều kích cộng đồng trước chiều kích cá nhân. Toàn thể nhân loại được kêu gọi họp thành một đại gia đình hiệp nhất trong Thiên Chúa. Hiến chế Gaudium et spes tìm cách giải thích các vấn đề nhân sinh (sự sinh tử, tương quan xã hội, lao động và khám phá khoa học) dưới ánh sáng của cuộc Phục sinh của Đức Kitô và dưới động lực của Thánh Linh. Thánh Linh gợi lên trong tâm hồn mỗi người lòng khao khát hướng tới Chân Thiện Mỹ, hướng tới thế giới huynh đệ đại đồng (GS 93).

Đức Kitô đã mạc khải Thiên Chúa cho con người và mạc khải con người cho con người (GS 22). Đức Kitô tỏ cho con người biết thiên chức cao cả của mình, soi sáng ý nghĩa của cuộc sống, ý nghĩa của đời sống cộng đồng, ý nghĩa của lao động và những nỗ lực xây dựng trần thế. Những gì tốt đẹp mà con người thực hiện hôm nay sẽ được bảo tồn và nâng cao, chứ không bị huỷ diệt trong thế giới mai hậu. Đối lại, niềm hy vọng vào trời mới đất mới không làm cho các tín hữu sao nhãng các bổn phận trần thế, nhưng lại trở thành động lực mạnh mẽ hơn để dấn thân vào công tác xã hội (GS 39).

Sau công đồng, nhiều văn kiện Toà thánh đề cập đến ơn cứu độ toàn diện con người, bao gồm cả linh hồn và thể xác, cả cá nhân và cộng đồng, cả sự phát triển ở trần thế và hạnh phúc vĩnh cửu. Điều này được nhận thấy rõ nơi các văn kiện về giáo huấn xã hội, chẳng hạn như thông điệp Populorum progessio (năm 1967) hoặc tông huấn Evangelii nuntiandi (năm 1974). Các văn kiện này một đàng nhằm trả lời những luận điệu tố cáo tôn giáo làm tha hóa con người, đồng thời cũng cho thấy giới hạn của những chính sách chỉ chú trọng đến sự phát triển kinh tế kỹ thuật mà bỏ qua chiều kích tâm linh tôn giáo.

Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo không bỏ qua việc trình bày những khía cạnh khác nhau của đức hy vọng. Lối trình bày cổ điển về nhân đức hướng Chúa có thể tìm thấy ở các số 1817-1821 và 2090-2092 trong phần luân lý, cũng như ở số 2657, khi bàn về cầu nguyện. Mặt khác, người tín hữu hy vọng và cầu nguỵên đồng thời với việc hành động cho Triều đại Thiên Chúa (số 2632; 2816-2821; 2855). Đoạn văn số 39 của hiến chế Gaudium et spes được trưng dẫn ở các số 1049 và 2820, để nhắc nhở rằng “ơn gọi của con người vào sự sống muôn đời không bãi bỏ nhưng củng cố nhiệm vụ của họ là phải sử dụng các năng lực và phương tiện do Đấng Tạo hoá ban, để phục vụ công lý và hoà bình trên trần gian”.

Gần đây, trong thông điệp Spe salvi (30-11-2007), đức thánh cha Bênêđictô XVI đã muốn kết hợp cả hai lối tiếp cận ấy, nghĩa là kết hợp khía cạnh chủ thể và khách thể, khía cạnh cá nhân và cộng đồng của đức hy vọng, cũng như mối liên hệ giữa niềm hy vọng cánh chung với sự dấn thân xây dựng trần thế.

Như vậy, ta thấy có hai lối tiếp cận về niềm hy vọng Kitô giáo: lối tiếp cận thứ nhất chú trọng đến “nhân đức”, thuộc lãnh vực thần học tâm linh; lối tiếp cận thứ hai chú trọng đến “đối tượng hy vọng”, đề tài của thần học cánh chung. Ở đây chúng tôi giới hạn vào lãnh vực thần học tâm linh.

III. Suy tư thần học

Như đã nói trên đây, tuy nhân đức thứ hai quen gọi là “đức cậy” (trong bộ ba tin-cậy-mến), nhưng chúng tôi muốn gọi là “hy vọng” cho sát với ngôn ngữ thường nhật hơn, mặc dù biết rằng đức hy vọng cũng bao hàm ý tưởng “tín thác, cậy trông, mong đợi”. Chúng tôi sẽ trình bày ba điểm chính: 1/ Bản chất đức hy vọng. 2/ Vài đặc tính. 3/ Những tội trái nghịch.

A. Bản chất đức hy vọng

Trước khi đi vào chi tiết, thiết tưởng cần nhắc lại rằng bộ ba “tin-cậy-mến” gắn bó mật thiết với nhau. Chúng ta phân tích để tìm hiểu bản chất của từng nhân đức, nhưng trên thực tế, chúng không thể tách rời nhau. Mối liên hệ giữa bộ ba không những được thánh Phaolô nhấn mạnh ở cuối bài ca đức mến trong chương 13 của thư thứ nhất gửi Côrintô, mà ngay từ trong phần chính, tác giả đã viết: “đức mến tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả” (1Cr 13,7). Sự liên hệ giữa tin và cậy cũng được nói nhiều trong Kinh thánh. Trong Cựu ước, tin được diễn tả bằng hai từ ngữ amanbatah, hàm ngụ ý tưởng “tín thác, tin tưởng”, gần giống tiếng Việt. Cách riêng, trong Tân ước, tác giả thư Hípri định nghĩa bản chất đức tin là “bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy” (Hr 11,1). Những điều hy vọng (đối tượng của đức cậy) cũng trùng hợp với đối tượng của đức tin. Chúng ta tin vào những điều mà ta hy vọng, vào những điều Chúa hứa ban. Tác giả đã trưng dẫn rất nhiều tấm gương của các tổ phụ đã làm chứng cho niềm tin vào lời hứa (11,4-40). Niềm hy vọng là đối tượng của việc tuyên xưng (10,23). Tư tưởng này cũng được gặp thấy nơi nhiều đoạn văn của thánh Phaolô, chẳng hạn như trong thư gửi Rôma (8,24-25): “Quả thế chúng ta được cứu độ, nhưng vẫn còn phải trông mong. Thấy được điều mình trông mong, thì không còn phải là trông mong nữa; vì ai lại trông mong điều đã thấy rồi?” Ông Abraham tổ phụ đức tin cũng là gương mẫu cho đức cậy “mặc dầu không còn gì để trông cậy, ông vẫn trông cậy và vững tin” (Rm 4,18: “contra spem in spem credidit”). Thánh Phêrô cũng mời gọi các tín hữu hãy trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của mình (1Pr 3,15), tức là đối tượng của niềm tin.

Về bản chất của đức hy vọng, ta có thể tìm thấy hai câu định nghĩa trong sách GLCG. Câu định nghĩa thứ nhất ở số 1817: “Đức cậy là nhân đức hướng Chúa, nhờ đó chúng ta khao khát Nước Trời và đời sống vĩnh cửu là vinh phúc của chúng ta, khi đặt lòng tin tưởng của chúng ta vào các lời hứa của Đức Kitô và cậy dựa vào sự trợ giúp của ân sủng của Thánh Linh, chứ không vào sức mạnh của chúng ta”.

Câu định nghĩa vừa rồi cho thấy bản chất đức hy vọng ở thế “tĩnh”. Số 2090 cung cấp một định nghĩa theo khía cạnh “động” (nghĩa là nguồn gốc và động lực) như sau: “Khi Thiên Chúa mạc khải và kêu gọi con người, con người không thể đáp lại trọn vẹn tình yêu thần linh bằng sức riêng mình. Họ phải trông cậy, Thiên Chúa sẽ ban cho họ khả năng để yêu lại Ngài và khả năng để hành động theo các giới răn của đức mến. Đức cậy là sự mong đợi đầy tin tưởng sự chúc lành của Thiên Chúa và sự vinh phúc hưởng kiến Thiên Chúa; đức cậy cũng là việc sợ xúc phạm đến tình yêu của Thiên Chúa và sợ bị trừng phạt”.

Qua hai câu định nghĩa ấy, chúng ta có thể vạch ra vài nét chính sau đây của đức hy vọng:

1. Hy vọng nằm trong bản tính con người, vốn hướng về tương lai nhiều hơn là an thân với quá khứ và hiện tại. Ai cũng mong rằng “ngày mai sẽ tươi sáng hơn”. Cách riêng, con người khát mong hạnh phúc. Con người không chỉ mơ ước hạnh phúc mà còn cố gắng cải thiện điều kiện sinh hoạt để sống hạnh phúc hơn. Đó là động lực thúc đẩy những cuộc chinh phục, khám phá và thậm chí của các cuộc tranh đấu dẫn tới chiến tranh đẫm máu nữa. Tuy nhiên, con người, xét như cá nhân cũng như cộng đồng, sớm nhận ra rằng các thứ hạnh phúc mà mình cố gắng tạo ra đều có giới hạn. Giới hạn kinh hoàng nhất là cái chết, kết liễu cuộc sống trên đời này. Đang khi đó, con người mang một khát vọng được hạnh phúc bất diệt.

2. Thiên Chúa đã mạc khải cho chúng ta biết bí quyết của hạnh phúc: chỉ duy nơi Thiên Chúa, con người mới tìm thấy hạnh phúc đích thực, làm thoả mãn tất cả các khát vọng của mình: sự sống dồi dào, tình yêu thắm thiết, hiểu biết tường tận. Làm cách nào đạt được những ước ao đó? Chính Thiên Chúa đã trả lời rằng Ngài sẽ giúp chúng ta thực hiện được ước nguyện, xét về cá nhân cũng như cộng đồng. Ngài hứa ban cho ta sự sống bất diệt. Ngài hứa ban cho nhân loại “trời mới đất mới, nơi công lý ngự trị”. Đó là ý nghĩa của ơn cứu độ, bao gồm toàn thể con người và toàn thể nhân loại.

3. Những lời hứa của Thiên Chúa đã được thực hiện nơi Đức Kitô, một tôi tớ trung tín của Thiên Chúa. Người loan báo triều đại Thiên Chúa đã đến, Người đã chứng tỏ tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại qua việc chữa lành người ốm đau bệnh tật, an ủi người nghèo khổ, tha thứ cho tội nhân. Người đã chứng tỏ tình yêu đến mức tột độ khi hiến mạng sống mình cho loài người. Người đã được Thiên Chúa cho sống lại, và mang lại cho nhân loại niềm hy vọng vượt qua được cái chết và những sự dữ khác. Người cho chúng ta thấy rằng phàm ai đi theo Người thì cũng được chia sẻ với Người vào vinh quang Thiên Chúa.

4. Đức hy vọng được Chúa ban cho những ai tin vào lời hứa của Thiên Chúa. Nhờ nhân đức hy vọng, không những các tín hữu ước ao được hạnh phúc, nhưng còn chắc chắn rằng ước ao ấy có thể thực hiện được, dựa vào quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa.

B. Vài đặc tính

1. Đối tượng của đức hy vọng là hạnh phúc tương lai. Tuy nhiên, con người sống đức hy vọng trong hiện tại. Thực ra, người tín hữu không hy vọng vào cái gì, cho bằng hy vọng vào ai. Đức hy vọng dựa trên một mối tương quan: tương quan với Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, tương quan với Đức Kitô là Đầu của thân thể Hội thánh mà ta là phần tử, tương quan với Thánh Linh, đang hiện diện trong chúng ta. Chúng ta sống trong tương quan với Thiên Chúa tam vị trong ân sủng, hưởng trước sự kết hiệp với các Ngài mai sau trong nơi vĩnh cửu.

2. Nhờ sống mối tương quan ấy, hy vọng trở nên “trông cậy”: người tín hữu biết rằng mình dựa vào quyền năng của Thiên Chúa tình yêu. Không gì có thể tách chúng ta khỏi tình yêu của Đức Kitô (x. Rm 8,35). Nhờ nương tựa vào sức mạnh ấy, người tín hữu thâm tín rằng mình có thể làm được tất cả, như thánh Phaolô đã khẳng định (Pl 4,13). Lòng can đảm này mang lại nghị lực để đương đầu với những gian truân thử thách, cách riêng trong việc tuân hành ý Chúa. Dù nói thế nào đi nữa, người tín hữu không tự phụ vì sức riêng của mình, nhưng khiêm tốn nhìn nhận hồng ân của Thiên Chúa (2Cr 12,9-10).

3. Tin mừng nhất lãm thường gắn liền lòng tín thác vào Cha nhân lành với việc cầu nguyện và tin tưởng vào Cha quan phòng: Cha luôn ân cần lo lắng cho con cái, và xếp đặt mọi sự tốt lành cho chúng (Mt 6,25-34). Người có lòng tin cậy thì biết rằng tất cả mọi việc xảy ra đều có ích cho mình.

4. Được nâng đỡ bởi niềm hy vọng và được nuôi dưỡng bởi lòng yêu mến, người tín hữu cũng tìm cách phục vụ Nước Trời đang đến bằng cách hoạt động cho công lý và hòa bình trong xã hội.

5. Cũng như mọi nhân đức khác, chúng ta chỉ mới nhận được đức hy vọng như hạt mầm, và cần tìm cách để nó được tăng trưởng. Ở đây, một điều đáng nêu bật là theo thánh Tôma, cấp độ cao của đức hy vọng là linh ân kính sợ Chúa (S.Th. II-II, q.19). Điều này cũng được Sách GLCG nhắc đến ở số 2090 trích dẫn trên đây. Chúng ta có thể giải thích như thế này. Chúng ta đặt niềm hy vọng vào Thiên Chúa là nhân lành và toàn năng. Do đó không có lý do gì khiến ta phải sợ Ngài. Tuy nhiên, nỗi lo sợ xảy ra về phía chúng ta, bởi vì chúng ta nhận thấy mình thất thường, dễ thay đổi và thất trung với Chúa. Chính vì thế mà đức hy vọng được gắn liền với ơn kính sợ: chúng ta sợ rằng mình sẽ không đạt được hạnh phúc đời đời vì lỗi của mình. Thần học phân biệt nhiều thứ sợ hãi:

– Sợ hãi thế tục: sợ mất những của cải trần gian. Điều này không phải là tốt lành.

– Sợ hãi nô lệ, hoặc sợ sẽ bị phạt. Nó thúc đẩy ta giữ luật Chúa vì sợ sẽ phải trừng phạt. Đây là sự sợ hãi thúc đẩy dân Ninivê sám hối hoặc người con hoang đàng trở về với Cha.

– Sợ hãi con thảo: nỗi sợ của người yêu mến Chúa, không muốn làm mất lòng Ngài, bởi vì Ngài là cha nhân lành.

Chính tâm tình này mà đức hy vọng được liên kết với ơn kính sợ, là một ân huệ của Thánh Linh ban, nhờ đó linh hồn ngoan ngoãn tùng phục thánh ý Chúa vì tôn kính yêu mến Chúa. Nhờ ân huệ này, con người có cảm thức sâu xa về sự cao cả của Thiên Chúa. Từ đó con người kinh tởm tội lỗi, và đau buồn vô hạn nếu đã phạm tội. Nhờ ân huệ này, con người tỉnh thức để tránh lánh bất cứ cơ hội nào khiến ta có thể làm mất lòng Chúa, và siêu thoát khỏi sự ràng buộc của thụ tạo.

C. Những tội trái nghịch đức hy vọng

Truyền thống luân lý công giáo kể ra hai tội trái nghịch đức hy vọng, hoặc vì bất cập hoặc vì thái quá. Tội do khiếm khuyết là “thất vọng” (desperatio); tội do thái quá là “tự phụ” (praesumptio). Điều này được sách GLCG lặp lại ở các số 2091-2092.

1/ Tuyệt vọng

Ở đây, chúng ta đang bàn về thất vọng (hay tuyệt vọng) liên quan đến hạnh phúc vĩnh cửu, chứ không nói đến sự thất vọng trong những lãnh vực khác (chẳng hạn sau nhiều lần thất bại trong công ăn việc làm). Người ta phạm tội “tuyệt vọng” (hay “ngã lòng trông cậy”. Pháp: désespoir / Anh: despair) khi không còn hy vọng gì vào đời sống vĩnh cửu, không hy vọng vào ơn cứu độ mà Thiên Chúa sẽ ban cho mình. Sự tuyệt vọng có thể diễn ra dưới nhiều hình thức, chẳng hạn như: khước từ ơn Chúa giúp; khước từ hạnh phúc đời đời vì cho rằng không thể đạt được; hoặc nghĩ rằng tội lỗi của mình không đáng được Chúa tha; từ đó không muốn giữ luật luân lý nữa. Tội này trái nghịch với sự tốt lành của Thiên Chúa, nghịch với lòng thương xót của Ngài.

Tội này có thể bắt nguồn từ những sai lầm về đức tin liên quan đến ơn cứu độ. Nó cũng có thể bắt nguồn từ việc mải mê với thế giới vật chất, lấy khoái lạc làm cứu cánh cuộc đời, và không còn nghĩ đến những thực tại thiêng liêng. Nó cũng có thể bắt nguồn từ sự suy nhược về đường tâm linh, khiến con người không còn sức để tuân giữ luật Chúa, và từ đó họ đành buông xuôi.

Đừng nên lẫn lộn tội tuyệt vọng (ngã lòng trông cậy) với những tâm trạng chán chường, có thể gây ra do một cuộc khủng hoảng tinh thần, hay sự suy nhược sức khoẻ. Để vượt qua tình trạng này, ngoài những phương tiện tự nhiên nhằm phục hồi sự quân bình tâm linh, một phương tiện hữu ích là nhớ lại những hồng ân mà Chúa đã ban cho ta, cũng như xin ơn để biết nhẫn nại trong cơn thử thách. “Hy vọng không phải là lạc quan. Hy vọng không phải là xác tín rằng việc ta làm sẽ thành công. Hy vọng là chắc chắn rằng điều ta đang làm có một ý nghĩa, cho dù thành đạt hay không”.[5]

2/ Tự phụ

Dĩ nhiên, chúng ta đang bàn đến lãnh vực ơn cứu độ, chứ không đụng đến những lãnh vực khác. Ở đây, “tự phụ” (hoặc “kiêu căng, ngạo mạn”. Pháp: présomption; Anh: presumption) được hiểu về kẻ nghĩ rằng họ tự mình có thể đạt được sự cứu độ mà không cần đến ơn Chúa. Trường hợp này xảy ra khi một người quá tự tin vào sức mình để được cứu độ, chứ không cần ơn Chúa. Người ta thường trưng dẫn quan điểm của phái Pêlagiô làm điển hình. Một trường hợp khác cũng có thể xảy ra là những người nắm chắc phần rỗi và ơn tha thứ mà không hợp tác với ơn Chúa hoặc không tránh tội. Như vậy, không phải là những người này quá tín thác vào Thiên Chúa nhưng là một sự tín thác lệch lạc, dẫn đến việc coi thường việc nên thánh hoặc coi nhẹ công lý của Chúa. Nguyên nhân của tội này là sự sai lầm đạo lý về bản chất của ơn cứu độ. Ơn cứu độ là một hồng ân Chúa ban chứ không phải là kết quả của sự chinh phục do công lênh của con người. Tuy nhiên, hồng ân của Chúa cũng đòi hỏi sự đáp trả và hợp tác về phía con người.

3/ Thiếu hy vọng

Vào thời nay, xem ra các vị mục tử không quan tâm đến những tội trái nghịch với đức hy vọng, cho bằng tình trạng “thiếu hy vọng” của con người sống trong văn minh thế tục hóa. Chúng ta có thể nhận ra trong tông huấn Ecclesia in Europa của đức thánh cha Gioan Phaolô II (28-6-2003) và thông điệp Spe salvi của đức thánh cha Bênêđictô XVI. Đúng ra, con người thời nay có nhiều ước mơ và hy vọng, nhưng đó là những hy vọng muốn được thoả mãn nhất thời, chứ không phải là niềm hy vọng cao cả, có khả năng định hướng cho toàn thể cuộc đời.[6] Họ đã tạo ra nhiều thần tượng, nhưng các thần tượng lần lượt sụp đổ, để lại một sự hoang mang trống rỗng trong lòng của biết bao người. Những dấu hiệu của cuộc “khủng hoảng hy vọng” của châu Âu, điển hình của một lục địa Kitô giáo, được mô tả như sau:

– Sợ đương đầu với tương lai, bởi vì mất ý nghĩa cuộc sống. Từ đó ta hiểu được lý do của việc giảm sinh sản, ngập ngừng khi phải dấn thân suốt đời, dù là trong bậc hôn nhân hay trong bậc tu trì (Ecclesia in Europa số 8).

– Thiếu tình liên đới xã hội, từ đó con người có cảm giác cô đơn, sống trong vỏ ốc của mình. Tha nhân gây cho mình sự sợ hãi thay vì cảm thông, từ đó ta hiểu được nguyên nhân của những xung đột ngay từ trong gia đình, hoặc giữa các phe nhóm, những cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị trên thế giới.

Sự tiến bộ khoa học không đương nhiên mang lại hạnh phúc cho con người khi con người thiếu hy vọng. Vì thế, cần phải học tập và rèn luyện hy vọng. Thông điệp Spe salvi (số 32-48) đã giới thiệu ba “trường học hy vọng”: 1. Cầu nguyện; 2. Hành động và đau khổ; 3. Sự phán xét chung thẩm (sự công bình của Thiên Chúa).

Bình Hòa, O.P

 


[1] Những đoạn văn quan trọng giải thích hy vọng: Rm 5,1-11; 8,17tt.

[2]Tổng luận thần học, I-II, q.40. X. Đời sống tâm linh tập VIII, trang 126.

[3] Trong sách Tổng luận thần học, đức cậy được bàn ở II-II, qq.17-22, với nội dung như sau: bản chất của đức cậy (q.17), chủ thể của đức cậy (q.18), ơn kính sợ (q.19), sự tuyệt vọng (q.20), sự tự phụ (q.21), các mệnh lệnh (q.22).

[4] Jurgen Moltmann, Theologie der Hoffnung, Munchen 1964.

[5] Vaclav Havel, văn hào và tổng thống Séc (1936-2011).

[6] Thông điệp phân biệt “những hy vọng” (nhỏ hay lớn) và “Hy vọng toàn diện” (số 31).

]]>
Tình yêu trong văn hóa http://lamhong.org/tinh-yeu-trong-van-hoa-2/ Sat, 02 Dec 2017 03:35:06 +0000 http://lamhong.org/?p=27593
  • Khung cảnh của vấn đề
  •  

    I a – “Hãy yêu đi rồi làm gì thì làm”(ama et fac quod vis)

     

    Câu nói của đại văn hào Thánh Augustinô là âm vang phổ quát nhất đi lọt vào tất cả các nền văn hóa cổ kim, đông cũng như tây, trong tất cả các chiều kích của cuộc sống con người. Thật thế tôn giáo là gì nếu không phải vì yêu thương mà con người được tạo dựng, vì yêu thương mà có cứu độ! Và yêu thương không phải là hơi thở và cứu cánh của tôn giáo hay sao! Kinh Thánh Kitô giáo đînh nghĩa Thiên Chúa Tối Thượng là tình yêu, và đức Kitô Đấng cứu độ là hiện thân của tình yêu ấy. Đức Phật thì vì lòng thương tha nhân (từ bi) mà lên đường khai đạo; Đức Khổng thì vì nhân ái; Mặc tử thì vì kiêm ái… Ngay cả những đổi thay xã hội, các cuộc cách mạng đầy bạo lực, hận thù và bài xích tôn giáo  (như cuộc cách mạng Pháp 1789, cuộc cách mạng cộng sản vào đàu thế kỷ 20), những nhóm phản kháng bụi đời hay ngược đời bất chấp tôn giáo, các giá trị tinh thần và xã hội hiện hành… thì cũng nhân danh tình yêu (make love!) để biện minh cho hướng đãu tranh hay thái độ sống của mình.

    Thông thường, người ta hay nói rằng: Có nhiều cách diễn đạt khác nhau để nói lên cùng một nội dung; nhưng trong trường hợp nầy thì ngược lại: cùng một nội dung yêu thương mà mỗi người lại hiểu một cách khác. Và chúng ta sẽ thấy tùy cách hiểu về tình yêu mà chúng ta sẽ có những định chuẩn nhận ra nhiều hình thái văn hóa khác nhau trong lịch sử. Có thể nói tiếp theo lời của Thánh Augustinô như thế nầy: hành động nào của con người thì cũng vì yêu thương, nhưng thảm kịch là mỗi người hiểu yêu thương một cách khác nhau, và đó là vấn đề.

    I b – Hôn nhân và gia đình, một thách đố của thời đại “toàn cầu hóa “

    Chúng ta cứ cố định nghĩa con người như một cục sỏi đứng một mình, nằm ì ra đó. Nhưng con người tự tại một mình là sản phẩm, một loại phóng ảnh của trí óc hữu hạn, một ý niệm mà thôi. Con người ấy không bao giờ hiện hữu cả. Con người sống là một mối tương giao chằng chịt, con người có cha, có mẹ, có anh em, bạn bè, có đất dưới chân và trời trên đầu, có khí để thở, có xã hội để học hỏi và liên đới… Con người một mình không thể có và nếu có thì đó là sai lệch (như sách Kinh Thánh từng  nói: ở một mình không tốt,-  xem. sách Sáng Thế). Sống là sống với ai, và trong cuộc sống trên  nhân thế, khi hai người sống chung thì tương quan nầy được thiết lập thành định chế có tính cách cộng đồng, xã hội. Và định chế khởi nguyên, cơ bản, phổ quát  nhất xuất hiện trong bất cứ một cộng đồng nhân loại nào trong lịch sử là định chế hôn nhân và gia đình, mặc dầu có những hình thái thể hiện đa biệt. Và định chế hôn nhân và gia đình trong thực tế xã hội hiện nay cũng là định chế được các nhà luật pháp dân sự, tôn giáo đề cập và nghiên cứu nhiều hơn cả.

    Nhưng điểm đáng nêu lên trong thời đại gọi là thời tân kỳ của chúng ta, với những trào lưu xã hội đối nghịch (chủ nghĩa xã hội tập thể tối thượng và chủ nghĩa tự do cá nhân tuyệt đối), đi kèm với những khám phá và can thiệp có tính cách kỹ thuật vào sự sống, phái tính và hình thành thể xác con người nhân danh tiến bộ khoa học, thì hôn nhân và gia đình không phải đang biến hóa một cách nào đó, nhưng đang chứng kiến thách thức sống còn: hôn nhân và gia đình còn tồn tại hay không trước sự kiện thụ thai hoàn toàn không cần can thiệp của đôi người nam nữ, khế ước hôn nhân-gia đình của hai người đồng tính…?

    Thách thức xã hội nầy trong bối cảnh “toàn cầu hóa” đặt lại cho toàn nhân loại một câu hỏi có tính cách văn hóa về bản chất và cứu cánh con người: hoặc con người là gì trong giới hạn định nghĩa của hiểu biết sự vật, của khoa học  và khả năng biến chế sản xuất, hoặc con người là ai trong tương quan của yêu thương. Hôn nhân và gia đình còn có giá trị gì hay không tùy thuộc vào bối cảnh của câu hỏi nền tảng nầy.

     

    Ic – Hội nhập

    Xã hội Việt nam chúng ta vào thời tiền chiến đã từng chứng kiến hai luồng văn hóa đối nghịch: một bên là xã hội phong kiến, được xem là truyền thống, trong đó tâm tình yêu thương và cuộc sống cá nhân chịu sự chi phối của những tập tục khắc nghiệt nhân danh quyền lợi của tập thể nào đó tùy cấp độ như gia tộc, làng xã, “đạo lý truyền thống”…, và bên kia là trào lưu cải cách xã hội của nhiều nhóm trẻ, trong đó Tự Lực Văn Đoàn gây nhiều  ảnh hưởng hơn cả.

     Người bảo thủ nếp cũ thì nhân danh truyền thống ngàn đời, đạo lý cha ông, đôi lúc nhân danh cả tình tự dân tộc để bám víu những hủ tục vô nhân; nhưng phía các trào lưu tiến bộ cũng hấp tấp, nóng lòng muốn bắt chước mẫu mực nếp sống cá nhân chủ nghĩa Tây Phương (và Tây Phương ở đây thực sự chỉ giới hạn trong một nếp sống thị thành nào đó hoặc trong tiểu thuyết ), muốn lật nhào toàn bộ nếp cũ của xã hội ngàn đời của dân tộc. Trong thực tế lịch sử,  xã hội chúng ta đã uyển chuyển chọn con đường cải cách chừng mực, không “đoạn tuyệt” “thoát ly” với truyền thống cộng đồng và gia đình để chỉ biết đến tự do cá nhân.

    Xã hội Việt nam trong và ngoài nước hôm nay cũng đang trải qua những dao động tương tự. Nhưng lần nầy không có những trào lưu cải cách, những cơ cấu hay nếp sinh hoạt cộng đồng bảo thủ áp ức. Từ toàn bộ vận hành quốc gia và quốc tế, trong mọi lãnh vực từ tôn giáo, văn hóa, chính trị… mỗi cộng đồng, mỗi gia đình và mỗi cá nhân đều chới với trước những thực trạng xã hội đang xâu xé cuộc sống của mình. Ngoài ảnh hưởng một xã hội thời tân kỳ của toàn thế giới nói chung, xã hội Việt nam bị hụt chân vì những đứt đoạn do hoàn cảnh chiến tranh, chính trị: đổi thay có tính cách đứt đoạn vì cuộc “cách mạng” văn hóa rốt ráo của “xã hội chủ nghĩa” chuyên chế; các cuộc di dân qui mô vì chiến tranh, tị nạn chính trị, vì chính sách và cuộc sống kinh tế; vai trò ảnh hưởng trong gia đình đổi thay vì chênh lệch trình độ chuyên môn và khả năng kinh tế của thế hệ trẻ so với bậc phụ huynh; các loại quyền uy cộng đồng về đạo lý trên cuộc sống cá nhân như kỷ luật gia đình, dư luận và chế tài xã hội, niềm tin tôn giáo, ảnh hưởng giáo dục… không còn hữu hiệu nữa. Thực trạng xã hội trong và ngoài nước không khác xa nhau là mấy, người ta không còn một giải pháp nào hơn là để mặc cho hoàn cảnh đẩy đưa. Trong bối cảnh đó, tình yêu, hôn nhân và gia đình được cảm nghiệm một cách kỳ lạ; chúng xuất hiện trong tâm tư mỗi người như một  món trang sức, một món đồ cổ có tính cách thi vị,  bên cạnh thực tế xã hội mà ưu tư về kinh tế chi phối hầu như toàn bộ cuộc sống cá nhân. Và vấn đề hội nhập thường được mọi giới nêu lên còn có nghĩa gì khác hơn ngoài vấn đề giải quết vấn đề kinh tế, nghĩa là kiếm được một việc làm? Và điều đáng ngạc nhiên hơn cả là giới hữu trách về cuộc sống tinh thần như tôn giáo, giáo dục, văn hóa… vì không thấy vấn đề, hoặc vì muốn làm thinh, đã hội nhập một cách hầu như đương  nhiên thực trạng và tâm tư nầy !

    • Tình yêu và văn hóa

     

    “Yêu đi rồi làm gì thì làm”, và bởi vì ngày nay người ta hầu như mỗi người đều chủ trương làm đều mình thích, nhưng người ta hoặc không yêu ai ngoài yêu cá nhân mình hoặc không còn yêu chi cả, nên mọi định chế (ngay cả định chế phổ quát nhất là hôn nhân và gia đình), mọi giá trị con người như chỉ là hiện tượng nhất thời và tương đối. Đó là thực trạng của thời tân kỳ chúng ta đang sống.

    Nhưng yêu là gì? Yêu liên quan gì với cuộc sống con người?

    Trong các thập niên gần đây, nhiều nhà nghiên cứu người Việt nam về văn minh, văn hóa đối chiếu đông-tây thường mạnh dạn nói một cách đơn giản: Tây phương trọng lý trí, còn đông phương và nhất là người Việt chúng ta thì đề cao chữ tình. Nhưng tình phải chăng là cảm xúc chủ quan, xung động tình cảm bất chừng, hay khóc hay hờn…, và lý trí phải chăng chỉ được hiểu là nhận thức sự vật bên ngoài, cân đo đong đếm như một máy tính điện tử thời nay?

    Để có thể phanh phui một vài nét chính yếu về nội dung chữ tình yêu trong những nền văn hóa ảnh hưởng nhiều đến nếp sống và tâm tư người Việt chúng ta, chúng ta sẽ nêu lên một vài mẩu chuyện tiêu biểu thường được nền văn hóa liên hệ tiếp nhận như là có giá trị chỉ dẫn. Chúng ta chọn bốn khung văn hóa tiêu biểu:

    • văn hóa hy lạp và Tây phương truyền thống,
    • văn hóa Tây phương thời tân kỳ,
    • mạc khải Kitô giáo,
    • tam giáo ( Phật, Lão, Khổng) hài hòa trong truyền thống văn hóa Việt nam.

    II a – Tình yêu hướng thượng của văn hóa truyền thống Tây phương

     

    Trong tác phẩm Bữa Tiệc, một tác phẩm trong thời kỳ thứ II, thời khai sinh triết học[1], Platon ghi lại hai mẩu chuyện về tình yêu (EROS) được người về sau xem là tiêu biểu. (Chính vì thế có thành ngữ tình yêu lý tưởng theo “Platon”, amour platonique).

     

    – Thần thoại người lưỡng tính nguyên sơ:

                    Trong một bữa tiệc, khi được hỏi đến nội dung của EROS, nhà hài kịch thời danh Aristophane[2] đã nêu lên chuyện con người nguyên thủy vốn lưỡng tính. Ngày trước, nhân loại chỉ gồm những người lưỡng tính, có hai đầu, bốn tay và bốn chân. Vì tài năng uy dũng, các loại người nầy sinh kiêu căng chống lại thần thánh. Thần Zeus không chịu nổi sự hỗn láo đó nên đã chặt họ làm hai phần. Cái rún nơi bụng con người là dấu tích về sự phân đôi đó.

    ” Bây giờ nửa phần nầy chạy đuổi bắt nửa phần kia, cố nối kết như cũ. Hai phần cứ thế mà ôm ghì trói chặt lại với nhau thành một thân mà thôi. Do đó mà trở nên bất động, không làm gì được vì không phần nào muốn hành động mà không có phần kia. Thần Zeus mới đưa các bộ phận sinh dục ra phía trước của mỗi bên – trước đó chúng ở phía lưng – để đôi bên có thể giao hợp bảo đảm sinh sản chủng loại hoặc thỏa mãn dục tính.” [3]

     

    ” Chính vì vậy mà từ thủa xa xưa ấy, tình yêu người nầy đối với người kia ghi khắc nơi tâm hồn con người; cũng chính vì tình yêu nầy bản tính nguyên sơ của con người kết hợp; tình yêu ấy  muốn kết hợp hai bên thành một thể, vì thế nó chữa lành nhân tính chúng ta” [4]

     

    – Thần thoại về nguồn gốc EROS

                  Truyện nầy do chính Socrate kể, nhắc lại một giai thoại gặp gỡ  giữa ông và đồng nữ Diotime de Mantinée (một nhân vật có thể là tưởng tượng tiêu biểu cho thi hứng). Bà đồng nữ kể rằng Eros được thụ thai trong ngày mừng sinh nhật của thần  Ái- Ân Aphrodite:

    ” Các thần đang dự tiệc, có mặt cả con trai thần Khôn Ngoan tên là Dư-Đầy. Khi mọi người dùng bữa xong, thì cô  Nghèo đến ăn xin vì thức ăn còn thừa; cô đến tựa cửa ra vào. Cũng trong lúc ấy, thần Dư-Đầy  say mèm vì uống nhiều mật hoa đi lạc vào vườn Thần Zeus và lăn lưng ngủ ở đấy. Bấy giờ nàng Nghèo nghĩ đến thân phận nghèo hèn của mình nên định tâm có một người con với thần Dư-Đầy. Nàng đến nằm bên cạnh chàng, nhờ vậy mà Eros đã được thụ thai” [5]

     

    Tiếp đó Socrate tự minh giải câu truyện như thế nầy:

    ” Tình yêu là trung gian giữa hiểu biết và ngu muội. Trong các thần thánh, không ai cần triết lý, không ai muốn trở thành khôn ngoan, vì họ là những kẻ khôn ngoan rồi… Từ đó ta hiểu tình yêu là triết lý (tức là : yêu chính là yêu sự khôn ngoan = philo-sophia); tình yêu đúng là trung gian giữa hiểu biết và ngu muội” [6]

     

    – Minh giải

                  

    Cả hai mẩu truyện về tình yêu được Platon trình bày trong cuốn Bữa Tiệc qua miệng của hai nhân vật được biết là đối thủ của nhau, đều trình bày cùng một nội dung với những nét tương đồng. Muốn am tường nội dung tình yêu trình bày ở đây, thiết tưởng phải nêu lên nét cơ bản nhất trong triết học Platon. Đối với Platon, nền tảng vững chãi cho suy tư, cho mọi hiện hữu phải là hữu thể tự tại, vĩnh cửu, bất biến vượt lên trên thời gian đổi thay và không gian có giới hạn. Con người đang ở trong thời gian, vì mang lấy thể chất thân xác mà có sinh có tử, có đổi thay.. Như vậy, cái gì gắn bó với vật chất, đổi thay như thân xác là tiêu cực so với khả năng hiểu biết thuộc lý trí thuộc thế giới không thay đổi. Con người trong thân phận tại thế với thân xác mình là tình trạng bất toàn; nhưng con người có tình yêu thúc đẩy như một động lực hướng về lại sự toàn thiện, tức là hữu thể thuộc lý trí hiểu biết. Ở giai đoạn còn mang thân xác làm người tại thế, tình yêu đó gọi là triết lý;  khi đạt đến hữu thể chân thật, hay cứu cánh toàn bích thì không còn triết lý, không còn tình yêu, nhưng sẽ chỉ là hữu thể, là khôn ngoan.

    • Bản chất và cứu cánh con người là hữu thể tự tại, vĩnh cửu, thông biết mọi sự. Bản chất đó là một thực thể siêu vượt thời gian và không gian đang giam hãm con người. Còn hiện hữu tại thế là một sự sa sẩy, một giai đoạn bị chia cắt hay còn thiếu, nghèo đói hữu thể; trong hoàn cảnh nầy thân xác là yếu tố tiêu cực trì kéo bước thăng tiến của con người tiến về sự hoàn mãn.
    • Tình yêu chỉ là một động lực thúc đẩy con người hướng về hữu thể tự tại, hướng về sự khôn ngoan qua việc giúp con người khám phá những giá trị tích cực của hữu thể, đặc biệt là giá trị đẹp. Nó thuộc lãnh vực phương tiện, là thứ yếu so với khả năng hiểu biết của lý trí. Thần thánh và con người toàn mãn không cần đến yêu thương.
    • Tình yêu phát xuất từ sự thèm muốn (của cô Nghèo), từ dưới đi lên, muốn đi tìm những giá trị mà mình đã biết trước (xét về mặt hữu thể học) không tiên liệu những bất ngờ, những bí mật diệu kỳ nào khác; nhưng hữu thể chân thật và các giá trị không nằm trong cõi trần nầy, thế giới bây giờ và ở đây liên hệ đến vật chất hữu hình và cuộc sống thân xác.[7]

    II b – Tình yêu ” bây giờ và ở đây” của thời Tân Kỳ

               Về mặt tư tưởng văn hóa, Thời tân kỳ (les Temps Modernes) phát xuất và phát triển trên cùng một nền tảng hữu thể học Hy lạp-Tây phương mà Platon đã khai triển. Nghĩa là hữu thể, chân lý là bản chất muôn đời bất biến, tự tồn tại và tự đủ cho mình. Nhưng nếu Platon tưởng tượng ra rằng thế giới chân thật là những ý tưởng có trước và tách biệt với thế giới hữu hình, vật chất, thân xác, thì thời tân kỳ là thời nói ngược lại thế giới ý tưởng của Platon và các giá trị đi kèm. Câu nói của Faust, một nhân vật điển hình của con người tân kỳ trong kịch bản nổi tiếng của văn hào Goethe, giúp ta hiểu rõ đường hướng nầy :

    ” Ta đã nghe tiếng vui rộn của làng; đúng là địa đàng của dân chúng; già cả và trai trẻ, lớn nhỏ nhảy nhót mừng vui: nơi đây ta cảm thấy mình là người, nơi đây ta dám làm người” [8]

               Hữu thể, chân lý được cảm nghiệm không phải là nhớ lại một thế giới bên ngoài, để từ đó đánh giá cái gì càng xa thì càng cao, càng trọng, nhưng đặt nền trên kinh nghiệm bây giờ và ở đây của cá nhân tôi (Descartes: cogito ergo sum ); hữu thể không phải là một bản chất bất động đi ngược với lịch sử nhưng là lịch sử đang hình thành (Hegel);  sự hiểu biết  và trật tự, các ý niệm rõ rệt định vị cá thể của mỗi ý tưởng, các giá trị qui chiếu vào trật tự thế giới nầy (thế giới linh tượng của Platon, thế giới được Nietzsche gọi tên là tác phẩm của Apollon) phải nhường chỗ cho sự sống sôi động, cởi bỏ biên giới tù ngục của lý trí để trầm mình vào Đại Nhất nhờ tình yêu mang tên Dionysos.

               Ngược lại không phải là khác đi, nhưng làm đảo ngược: nếu trong tình yêu lý tưởng (platonique) thân xác bị miệt thị thì nay tình yêu là thể hiện thèm muốn của thân xác; nếu tình yêu trước đây lệ thuộc lý trí, trật tự, khám phá các giá trị được tiền kiến là cao đẹp bền vững, thì nay tình yêu là lãnh vực hoàn toàn thuộc cảm xúc, những xung động bất chừng của tâm sinh lý cá nhân, giai đoạn, tùy thời tiết nắng mưa.

               Hai hình ảnh đặc trưng của con người thời đại tân kỳ liên quan đến cảm  xúc trai gái (thay cho tình yêu lý tưởng  Platon) mà văn chương phổ biến là Faust và Don Juan. Hai nhân vật có trong lịch sử được biến thành nhân vật thần thoại, chuyên chở những nội dung tiên phong báo hiệu một hướng đi của thời đại tân kỳ. Trước hết là Faust (được Goethe diễn tả rất thần kỳ trong bản kịch Faust của ông): Faust thông minh, tài ba, nhưng thất vọng về kiến thức trường ốc của xã hội truyền thống từ Platon. Ông chấp nhận bán linh hồn cho quỷ  Méphistophélès, kẻ tự nhận mình là “ta là thần luôn chối bỏ”,[9] để ăn ” đất” [10]  một cách khoái lạc thay vì suy tư những chuyện vĩnh cửu trên trời. Ăn bụi đất  ở đây là khát vọng hiểu biết, là nhu cầu hành động, hưởng thụ tối đa thèm muốn của thân xác. Vì đam mê, Faust đã chinh phục Marguerite ngây thơ vô tội. Nhưng chán chê nàng, Faust bỏ bê Marguerite, kéo theo sự thất vọng của Marguerite và nàng giết cả đứa con từ bụng dạ nàng. Faust lại đến thăm và rủ nàng trốn. Marguerite không chọn con đường trốn thoát nhưng chấp nhận hối hận và án tử hình để đền tội.

              Don Juan là biểu tượng cho anh hùng tình yêu thời mới. Nhân vật kỳ lạ nầy có tài chinh phục phụ nữ khắp nơi mỗi lần hắn gặp trên cuộc sống phiêu lưu vô định của hắn. Phụ nữ đối với Don Juan là nét mới lạ, phong phú, đa biệt của âm-tính (tức là thời gian, không gian, bây giờ-ở đây, thế giới vật chất trong tầm tay) mà kinh nghiệm sẽ tổng hợp thành Tổng Thể (la Totalité).

            Vào thời ban đầu (thời Phục hưng đến giai đoạn phổ biến văn chương lãng mạn), Faust, Don Juan chỉ là giấc mơ của tuổi dậy thì, một dự tính thoát ly và đoạn tuyệt với quá khứ viển vông và thiếu sức sống của chủ nghĩa duy lý.[11] Nhưng Faust và Don Juan không còn có gì là nhân vật thần thoại tiểu thuyết, nhưng là thực tế phổ biến của thời đại chúng ta.

            Khi tình yêu là xung động bất chừng của cá nhân hay của thời đại, hôn nhân và gia đình cũng thoái hóa thành những định chế tùy nghi của nhu cầu chính trị phe phái, hay một vài trào lưu văn chương nhất thời.

    II c- Tình yêu trong mặc khải Kitô giáo

     

                Có thể nói rằng mạc khải Kitô giáo và toàn bộ Thánh kinh của tôn giáo nầy là sự biểu lộ tình yêu mà thôi. Thượng Đế có tên là Tình yêu [12], hiện thân Tình yêu nầy là Đức Kitô. Con người không thể có hữu thể nào khác hơn là hình ảnh phản chiếu của Thiên Chúa, nói cách khác bản chất con người là  tình yêu tức là sự sống nối kết với Thượng Đế trong tình Cha-con. Kitô giáo không tìm định nghĩa con người qua đặc tính hiểu biết. Định nghĩa nầy là định nghĩa văn hóa Hy-Lạp. Mặc khải Kitô giáo về con người toàn diện, thành toàn nơi Đức Kitô là  Tình Thương của Thiên Chúa đối với con người và cho mỗi người cụ thể chứ không có gì khác.

                Tình yêu đó không nhằm một đặc tính của một bản chất nào bất kỳ: như đẹp tốt, thật v.v. Không phải yêu vì giá trị đẹp, vì tập thể chủng loại, vì số lượng nhiều, ngay cả vì tốt lành… Trong Kinh Thánh có ghi lại bài giảng của Đức Kitô mạc khải việc người chăn chiên lành để lại 99 con chiên ngoan để đi tìm một con chiên lạc.

                Và trái nghịch với triết học và các chủ trương khôn ngoan của con người, tình yêu trong mạc khải Kitô giáo không phải là xúc tác đi tìm lại bản chất cái tôi nào đó (người lưỡng  tính nguyên thủy của Aristophane) do trí khôn mình nghĩ ra [13], không phải sự thèm khát từ bên dưới đi tìm sự viên mãn tốt lành bên trên theo định kiến của mình như nàng  Nghèo đi tìm Thần Dư-Đầy mà Socrate gợi ý. Tình yêu phát xuất từ trên đi xuống xuống, là cho nhưng không và có cứu cánh nơi chính nó. Thiên Chúa, nguồn tình yêu, Ngài yêu con người, đi tìm gặp con người trước[14]. Và Ngài đã thể hiện tình yêu đối với con người bằng cách chọn lấy cái chết cho bản thân[15] và hóa thành không “thân phận của chính Ngài” [16].

                  Và trong tình yêu cứu độ  Đức Kitô đã đến làm Con của loài người (le Fils de l’homme) và sống 30 năm trong khung cảnh một gia đình[17]; và khi lên đường công khai loan báo Tình Yêu của Thiên Chúa, Ngài đã đến dự tiệc cưới người thân quen với mẹ Ngài tại Cana.[18]

                 Nếu tình yêu Kitô giáo không thể là phản ứng của xúc động thể lý và tâm lý nhất thời, thì tình yêu Kitô giáo ấy cũng không hề miệt thị thân xác khi mà chính hiện thân tình yêu của Thượng Đế là Đức Kitô đã mang lấy thân xác. Và cũng đừng hiểu lầm rằng tình yêu Kitô giáo là dụng cụ của trí năng hay một giá trị nào ngoại tại như tập tục, gia tộc, tiến bộ nhân loại nào đó…, nhưng qua sự thể hiện tình yêu của Thiên Chúa nơi Đức Kitô, tình yêu chính là bản tính linh ư vạn vật đưa con người lên hàng thần thánh chứ không phải trí năng hiểu biết. Đến đây ta có thể hiểu tại sao Thánh Augustinô lên tiếng “yêu đi rồi làm gì thì làm”.

    II d – Tình yêu trong văn hiến Việt nam [19]

             Câu chuyện tình luôn nằm trong tâm khảm của mỗi một người Việt Nam có lẽ là mối tình nguyên sơ giữa hai thủy tổ Lạc Long Quân và Âu Cơ.

            Theo sách Lĩnh Nam Chích Quái [20] do Trần Thế Pháp ghi lại và sau đó Vũ Quỳnh hiệu chính, thì tại nước Xích Quỉ phương Nam có Sùng Lãm Lạc Long Quân cai trị dân sống trong trật tự hạnh phúc. Nhưng Lạc Long Quân là thần nhân nên thường ẩn mặt (nơi Thủy Phủ). Lợi dụng lúc vắng mặt của Lạc Long Quân, Đế Lai là vua Phương Bắc đến phương Nam bắt Âu Cơ làm ái thê. Đế Lai tham lam của ngon vật lạ, của cải giàu có mà bỏ bê Âu Cơ.

              Lạc Long Quân trở về nhân gian và thấy Âu Cơ bị khống chế, nên đưa về Long Trang kết nghĩa vợ chồng. Đế Lai không đủ sức giành lại Âu Cơ nên trở về Phương Bắc. Long Quân và Âu Cơ ăn ở với nhau giáp một năm thì sinh được một bọc trăm trứng. Sau bảy ngày thì mỗi trứng nở một con trai không cần ăn ưống mà tự nhiên khôn lớn.

             Nhưng Long Quân là thần nên lại ẩn giấu. Không thấy và gặp được Long Quân, Âu Cơ lại nhớ Phương Bắc và lên đường về quê của Đế Lai. Nhưng Hoàng Đế là vua Phương Bắc lúc bấy giờ ngăn cản nên trong lúc túng quẫn, mẹ con nàng nhớ và cầu cứu Lạc Long Quân. Long Quân hẹn gặp nàng tại Tương Dạ. Nhưng trong lần gặp gỡ nầy, Long Quân cho nàng hay thân phận của chàng là thần thánh nên giữa chàng và nàng nay cách trở. Mối liên kết của nàng Âu Cơ và Long Quân là sự sống của nàng và thể hiện trong nỗi nhớ.

    Giải minh

     

            Trước khi biết Lạc Long Quân, Âu Cơ đã biết một mối tình với Đế Lai, nhưng Đế Lai là hiện thân của sự sa đọa, vong thân của con người. Đối với Đế Lai, Âu Cơ chỉ còn là cớ để tranh giành uy lực với Lạc Long quân, và cả cuộc sống của ông  chỉ là cuộc đuổi bắt đồ vật bên ngoài, đến nỗi quẳng bỏ Âu Cơ mà không hề bận tâm. (Đây là ràng buộc của dục và chấp ngã trong tư tưởng nhà Phật)

             Mối tình chân thật đến với Âu cơ do từ bên trên, do Thần Thánh, ban cho nàng và nâng nàng lên ngang thần thánh. Tình yêu đó đủ sức đẩy lui tình trạng vong thân, tình yêu ấy cứu độ nàng. (Âu Cơ ngộ được duyên cứu độ).

            Và mối tình Long Quân và Âu Cơ được tồn dưỡng chẳng những không phải chỉ do những giá trị vật chất bên ngoài mà Đế Lai tìm kiếm, hoặc ngay cả những cảm xúc vui buồn bất chừng bên ngoài vì có mặt hay không có mặt, nhưng còn do sự nối kết nguyên sơ bên trong (tâm đạo), do nguồn gốc thần thánh của tình yêu.

    Thay lời kết

               Như thân phận Âu Cơ khi Thần Thánh Long Quân ẩn mặt, chúng ta choáng váng trước những dòng nước xoáy cuốn hút chúng ta, gia đình, con em chúng ta vào những vùng đất vô định. Chúng ta cảm thấy cô đơn đang lội nơi dòng sông mà kỳ thực mình không hề quen thuộc. Những giá trị yêu thương giữa đôi lứa, giữa các thành phần trong gia đình cha con, anh em… như bị thách thức không phải chỉ vì phương cách biểu lộ khác nhau, mà hình như biến thái về bản chất đến độ chúng ta không biết còn mối tương quan vợ chồng, thân thuộc nào nữa, ngoài những liên lạc sổ sách kinh tế và trợ cấp do luật pháp xã hội qui định!  Đã đến lúc chúng ta thấy cứu nhà, cứu nước không phải chỉ thuộc lãnh vực  chính trị mà thôi mà còn thuộc lãnh vực văn hóa; và cao điểm và cùng đích của văn hóa là yêu thương. Nhưng yêu thương thế nào thì mới phải lẽ ?

    Nguyễn Đăng Trúc 

    [1] Những tác phẩm tời kỳ đầu của Platon ghi lại trung thưc con người và tưởng của Socrate. Những tác phẩm thời kỳ II của ông là tư tưởng của một Platon chịu ảnh hưởng của phái ngụy biện (sophistes trong đó có Aristophane.).Trong những tác phẩm thời kỳ II nầy, Socrate đượcc nêu lên chẳng qua là phóng ảnh của Platon.

    [2] Aristophane là người đương thời với Socrate, một thi sĩ say sưa, đã từng mai mĩa Socrate trong tác phẩm Mây Mù (les Nuées) và sau đó đã lên án Socrate.

    [3] PLATON, Le Banquet 189 d.

    [4] Sđd  191 d.

    [5] Sđd  203 b-c.

    [6] Sđd  203-204.

    [7] Tích cách thoát tục coi nhẹ thân xác, đề cao cõi vô hình và đồng hóa vô hình – vô cảm với siêu nhiên … trong tư tưởng Platon chi phối văn hóa Tây Phương thời Trung cổ và Thượng cổ ;  đường hướng đó cũng có những nét tương đồng với nhiều văn hóa khác trong lịch sử nhân loại. Mặc khải Kitô giáo như chúng ta sẽ thấy lấy Tình Yêu là bản tính và cùng đích : một trực giác khác biệt hoàn toàn với triết học Platon. Tuy nhiên trong một thời kỳ « hội nhập », lịch sử Kitô giáo và nhiều nhà thần học đã xem Platon như là một nhà tư tưởng « dọn đường » cho Kitô giáo. Nền đạo đức Kitô giáo do đó chịu ảnh hưởng rất nhiều quan điểm siêu nhiên nầy của Platon. Theo đó, siêu nhiên được  hiểu là vô hình, vượt trên thân xác hũu hình, chứ không phải là thấm nhập tình yêu thương mà Thiên Chúa ban cho con người qua Đức Kitô.

    [8] GOETHE, Faust. Bản dịch của Gérard DE NERVAL, GF, Paris, 1964, tr. 60.

    [9] « Je suis l’esprit qui toujours nie», Sđd  tr. 69.

    [10] « Je veux qu’il mange la poussière avec délices, comme le serpent mon cousin » Sđd  tr. 45.

    [11] Văn chương  lãng mạng tiền chiến Việt nam dường như sao chép dự phóng nầy. Chúng ta nhớ lại mấy vần thơ của Xuân Diệu :

    Là thi sĩ nghĩa là ru với gió

    Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây,

    Để tâm hồn ràng buộc bởi muôn giây,

    Hay chia sẽ bởi trăm tình yêm mến.

    [12] IGa 4, 7-8.

    [13] Đây là điểm khác  biệt căn cơ giữa Kitô giáo và truyền thống văn hóa Hy lạp-Tây phương. Hũu thể căn nguyên  nền tảng của văn hóa Hy lạp là bản chất tự đủ cho mình, vĩnh cửu và bất biến nhưng không yêu kẻ khác bao giờ. Nền tảng tối thượng của Kitô giáo là Thiên Chúa-Yêu Thương, là Cha của mọi người. Mẫu mực nhân tính nơi Đức Giêsu Kitô là Logos, một Tình Thương, một mối Tương Giao giữa Thiên Chúa và con người và giữa con người với nhau, chứ không phải là tự-thân (le soi) đóng kín, tự đủ cho mình.

    [14] Ga 15, 16.

    [15] Ga 15, 13.

    [16] Xem Pl 2,6-11.

    [17] Lc 2, 39-40.

    [18] Ga 2,1-12.

    [19] Xem NGUYỄN Đăng Trúc, Văn hiến, nền tảng của minh triết, xb Định Hướng, Reichstett, 1999.

    [20] Bản dịch của Gs Lê Hữu Mục.

    ]]>