Giải viết văn đường trường 2016 – Bản tin số 12

GIẢI VIẾT VĂN ĐƯỜNG TRƯỜNG 2016

BẢN TIN 12

vvdt

Thưa quý Tác giả và Bạn đọc,

Cuộc thi lần thứ IV Giải Viết Văn Đường Trường (2016) đang tiến dần tới ngày công bố kết quả. Ban Tổ chức chúng tôi xin đặc biệt cám ơn quý Tác giả đã quảng đại dành công sức và thời giờ tham gia cuộc thi. Sẽ có những người đạt giải và những người chưa đạt giải lần này. Tuy nhiên, cả Ban Tổ chức lẫn những người tham gia đều không nhìn đây như một cuộc so tài hơn thua mà chỉ là một sân chơi, một cơ hội để cùng giúp nhau rèn luyện tài năng phục vụ vinh quang Thiên Chúa và ơn cứu rỗi các linh hồn. Điều đáng mừng là qua chặng đường 4 năm, phần đông các Tác giả dự thi đã bắt đầu quen biết nhau, liên lạc với nhau, dần dần trở thành một cộng đồng những anh chị em cùng chí hướng dùng ngòi bút để loan báo Tin mừng. Vừa qua, tình thân ái này đã có thêm một điều kiện thuận lợi, cũng từ sáng kiến của chinh các anh chị em trẻ trong nhóm mong muốn cuộc thi được quảng bá rộng rãi hơn, đó là việc lập ra trang facebook Giải Viết Văn Đường Trường (https://www.facebook.com/groups/vanthoconggiao/) mà nhiều người trong quý vị và các bạn đã theo dõi và tương tác giao lưu.

Ngoài ra, Ban Tổ chức cũng xin nhắc lại là Giải Viết Văn Đường Trường có chương trình hỗ trợ các tác giả đã đạt giải (trong tất cả các năm cuộc thi tổ chức) xuất bản những tuyển tập riêng với những truyện ngắn Kitô giáo để giới thiệu đến độc giả bốn phương. Ước mong những Tác giả hiện đã có đủ số lượng bài để in một tập sách mạnh dạn gởi bản thảo về cho Ban tổ chức, để vườn truyện ngắn Kitô giáo thêm phong phú.

Chúng tôi xin giới thiệu đến mọi người 9 truyện dự thi cuối cùng đã được chọn qua vòng sơ loại. Chúng tôi sẽ cập nhật thêm thông tin về cuộc thi trên FB và trên các bản tin sau.

Xin chân thành cám ơn các trang truyền thông Công giáo đã và đang hỗ trợ truyền bá chương trình này, cám ơn quý tác giả đã gửi bài tham gia và cám ơn quý độc giả đang quan tâm theo dõi cuộc thi, đọc và bình chọn các truyện dự thi. Nguyện xin Thiên Chúa giàu lòng thương xót chúc lành cho tất cả chúng ta.

Qui Nhơn, ngày 15-07-2016

TM Ban Tổ chức

Lm Trăng Thập Tự

BÀI DỰ THI

Mã số: 16-132

TÌNH DUYÊN CÔNG GIÁO

Ngồi đờ đễnh trên chiếc ghế xổm bên ly cà phê vỉa hè, điếu thuốc anh kẹp hờ hững ở tay đã ngốn gần tới đót buông thòng xuống như cây cuối mùa hạn, chốc chốc từ điếu thuốc lại rơi rụng thứ tàn tro xám xịt nằm vương vãi trên nền gạch lát đường. Ngoài chị chủ quán ra, thì chẳng ai biết anh ngồi đó tự bao giờ, mà có lẽ cũng chẳng ai thèm ngó ngàng gì đến sự hiện diện của anh. Thi thoảng, anh lại đưa mắt hướng xa xăm về phía bùng binh đối diện, nơi xe cộ đang vồn vã xoay vòng rồi bủa ra các nhánh đường quanh nó, anh chợt thấy đời anh tựa như chiếc xe đang len lỏi trong dòng xe kia nhưng chẳng biết phải rẽ hướng nào, nó chật chội, ngột ngạt đến khó thở. Màn sương mỏng buổi sáng hòa lẫn với khói thuốc đặc sánh quánh lấy con người anh khiến bất cứ ai đi ngang qua cũng dợn dợn rùng mình bởi cái vẻ ảm đạm, phiền muộn toát ra từ anh. Mặc cho tiếng còi xe đang kêu inh ỏi, tiếng rồ ga rồi ngay sau đó lại thắng riết lên ken két trước mặt, anh cũng chẳng để ý đến. Anh nhếch miệng cười khẩy một cái, tự hỏi: “Chuyện sao thành ra thế này hả Minh?”, rồi lại thở dài một cách nặng nề. Anh mỏi mệt vội gạt chúng qua một bên, rồi thả tâm trí mơ màng với những kỷ niệm vui buồn của anh với Thy, chúng lướt qua tâm trí thật nhanh, mờ mờ ảo ảo nhưng anh có thể cảm nhận được từng ánh mắt, nụ cười và giọng nói ngòn ngọt đậm chất miền tây của Thy.

Anh nhớ cái ngày lần đầu tiên vào Sài Gòn dự thi Đại học, anh đã rất háo hức xen lẫn lo lắng, rồi niềm vui như vỡ òa khi anh nhận được giấy báo nhập học từ chính ngôi trường mà anh ao ước mấy lâu. Anh có thể cảm nhận được niềm hạnh phúc trên gương mặt của ba mẹ anh, đó không còn là gương mặt đỏ ửng vì nắng sau mỗi buổi chiều từ cánh đồng về, nhưng là gương mặt rạng ngời hạnh phúc vì biết tin anh đậu Đại học Y Dược TP.HCM. Cầm tờ giấy nhập học trong tay, ba anh cười lớn đầy tự hào, rồi quay sang nói với mẹ anh: “Như thế này thì phải làm một bữa cho ra trò để ăn mừng chứ, phải không em?”. Mẹ xoa đầu anh, hớn hở: “Để Chúa nhật này, mình xin một lễ tạ ơn Chúa, rồi làm một bữa ăn mừng…Có phải ai cũng đậu được Đại học Y như con mẹ đâu!”. Nghe ba mẹ nói, anh như mở cờ trong bụng, vui sướng cười tít cả mắt. Trong khi đó, hai đứa em của anh cứ không ngớt xuýt xoa khi nhìn vào bảng điểm, thì ba anh bảo: “Này, thấy anh Hai bây sao? Hai đứa cứ nhìn đó mà cố gắng học tập, rồi cũng sẽ có ngày vào được trường đó với anh Hai”.

*    *    *

Bảy năm Đại học là 7 năm anh thực sự cảm nhận được sự vất vả, hy sinh của ba mẹ và các em dành cho anh. Ngày nhập học, ba mẹ anh phải bán bầy heo và mượn thêm dì dượng mới đủ tiền cho anh mang theo đóng học phí và chi tiêu sinh hoạt trong những ngày đầu. Đó là một số tiền lớn đối với gia đình anh, vì thế, nó được mẹ anh chia thành nhiều phần nhỏ giấu kỹ ở mọi nơi trên người anh. Anh được cha sở giới thiệu cho một gia đình Công giáo gần trường nên giá nhà trọ cũng tương đối rẻ. Hôm anh đi, mẹ anh khóc suốt vì để anh đi một mình, mẹ cứ nài ba anh: “Hay là anh đi theo với con vô đó coi thử chổ ăn, chổ ở thế nào rồi về, chứ để con đi một mình như thế này, em không an tâm!”. Rồi mẹ anh ôm lấy anh khóc như rằng sẽ không còn được gặp lại anh nữa: “Con đi một mình vậy có được không con, lỡ có chuyện gì thì mẹ sống sao?”. Mẹ anh cứ khóc như vậy cho tới lúc xe chạy. Hành trang của anh ngoài một va ly áo quần, mùng, mền và mấy cuốn sách giáo khoa như bao tân sinh viên khác, thì anh còn có một mớ đồ lỉnh kỉnh nặng trịch gồm một bao gạo 25 ký, một hủ ruốc và một hủ muối xả với lời dặn: “Vào đó, nếu chưa biết chổ nào nấu ăn vệ sinh thì cứ nấu cơm ăn tạm như vậy đã, chứ ăn bậy bạ lại đau bụng rồi lỡ học”. Theo sự hướng dẫn của các sinh viên tình nguyện, anh đón xe buýt tới con đường chính, rồi từ đó, anh vác va ly và bao gạo trên vai men theo con hẻm dài ngoằn ngoèo tìm địa chỉ. Anh lê những bước đi nặng nhọc và có cảm tưởng như đôi vai anh sắp gãy rời ra bởi sức nặng của bao gạo. Chúng lồm cồm xuề xòa choán hết đôi vai của anh khiến anh muốn đổi bên cũng không được. Mệt quá, anh đành tựa bao gạo vào đường gờ của vách tường rào bên đường. Thấy có một đám bạn nữ đi tới, anh nhanh nhảu: “Mấy chị ơi, cho em hỏi nhà trọ cô Dung, số 234/7 ở đâu vậy?”.

Anh vừa hỏi dứt câu thì cả đám tỏ vẻ ngạc nhiên cười rúc rích, một cô trong đám đằng hắng gân cổ đáp: “Nè! Anh gì ơi! Anh gọi ai là mấy chị vậy?”.

Anh ấp úng: “Dạ, em mới tới nên không rành đường lắm. Chị cho em hỏi…”.

Anh chưa kịp nói hết câu, thì một cô khác cười nói: “Tụi này cũng mới tới đây trước anh có ba ngày thôi anh ơi!”.

Cô khác đứng đằng sau nói: “Vừa phải thôi tụi mày, đừng đùa nữa, biết thì chỉ cho người ta, chứ người ta còn vác đồ nặng, mồ hôi nhễ nhãi kia kìa”. Nghe cô này nói thế, mấy cô khác mới nhận ra bộ dạng đáng thương của anh. Chợt một cô lên tiếng: “Nhà trọ cô Dung hả? Sao nghe giống nhà trọ đối diện nhà mình vậy hơ!”. Cô khác vội đáp: “234/7 hả?…Đúng rồi chớ còn gì nữa….Anh đi theo tụi em, cũng gần tới rồi”.

– Vậy thì may quá, cảm ơn các chị!- Anh mừng rỡ reo lên, xóc xóc lại hai túi đồ trên vai quên hết cả đau.

– Sao anh cứ gọi tụi này là chị hoài vậy! Tụi này mới sinh viên năm nhất thôi.

– Cũng chưa phải là sinh viên năm nhất đâu anh, tụi em chỉ mới vừa mới tới trường đóng học phí thôi.

Cũng từ ngày đó, anh quen Thy, chính Thy là người đã nhận ra anh đang vác nặng hôm đó. Anh với Thy học chung trường nên thường đi cùng tuyến xe buýt, cùng đi chung con đường, và cùng tham gia các chiến dịch mùa hè xanh. Thy có dáng người nhỏ nhắn với làn da trắng ngọc miền sông nước, và bờ mi dài cong cong ôm trọn đôi mắt ướt nổi bật trên gương mặt hiền. Nhưng anh yêu Thy không phải vì vẻ đẹp đằm thắm bên ngoài đó, mà chính là tâm hồn và tính cách của Thy. Chỉ có một điều khiến anh bận tâm là gia đình Thy là người ngoại giáo. Suốt 7 năm Đại học, dường như mỗi lần có dịp mẹ anh đều nhắc: “Có quen ai thì phải quen người Công giáo cho mẹ”. Có lẽ mẹ anh sợ anh cũng rơi vào hoàn cảnh bi đát như vài người lấy vợ đạo theo trong xứ. Biết mẹ hay lo nên anh giữ kín chuyện anh quen Thy suốt những năm Đại học. Ngày nhận bằng tốt nghiệp là một ngày ngập tràn niềm vui khi hai gia đình gặp nhau tại trường và chấp nhận chuyện tình cảm của anh với Thy. Hôm đó, mẹ anh thỉnh thoảng lại giật giật tay anh xuýt xoa khen Thy hết lời, nào là dễ thương, nói năng nhỏ nhẹ lễ phép, gia đình thì tử tế. Anh nghe mẹ khen mà lòng sướng rơn, thầm cảm ơn Chúa đã cho anh gặp được Thy, và mẹ anh cũng yêu mến Thy.

*    *     *

Mặc dù Thy luôn đi lễ cùng anh, nhưng anh luôn cảm thấy ngại mỗi khi muốn đề cập với Thy việc theo đạo Công giáo. Anh muốn để Thy tự nguyện theo đạo khi Thy đã thực sự có niềm tin vào Chúa bởi anh biết đức tin là một hồng ân nhưng không của Thiên Chúa. Một lần sau thánh lễ, anh với Thy ra cầu nguyện trước đài Đức Mẹ, anh nhìn Thy rồi ngập ngừng hồi lâu: “Ờ, Thy nè, anh nói chuyện này, em đừng buồn mẹ anh nha?”.

– Anh cứ nói đi, chuyện gì mà anh cứ ấp úng hoài vậy?- Thy ngạc nhiên đáp.

– À, ngay từ hồi anh vừa vào Đại học, mẹ anh luôn dặn anh quen ai thì phải quen người Công giáo thôi. Nhưng người anh yêu không phải là người Công giáo. Anh chỉ muốn hỏi em….ờ..ờ”.

– Anh muốn em theo đạo phải không?

– Không phải, à…thì dĩ nhiên anh muốn, nhưng anh muốn hỏi ý kiến em vì anh nghĩ niềm tin thì không thể ép buộc được.

Nhìn nét mặt quan tâm của anh, Thy càng yêu anh nhiều hơn. Anh lúc nào cũng vậy, luôn nghĩ cho người khác. Ở bên anh, Thy luôn có cảm giác bình an, được yêu thương và ấm áp. Cô nắm lấy tay anh đưa lên má, mỉm cười: “Trước đây, ba má em cứ có ác cảm với đạo Công giáo vì nghe người ta nói theo đạo là bỏ ông bà tổ tiên. Nhưng em thấy giáo lý bên đạo đâu có dạy vậy?”.

– Ủa, mà sao em biết giáo lý bên anh hay vậy?

Thấy anh chăm chú, Thy cười đáp: “À, nhà em cũng ở gần nhà thờ, nên hồi nhỏ em thường đến đó chơi với chúng bạn. Thỉnh thoảng rãnh rỗi, em cũng đi lễ chủ nhật, rồi còn lẻn vào học giáo lý cùng với tụi nó cho biết bên đạo dạy gì…Đạo của anh, có nhiều điều em không hiểu, định có dịp sẽ hỏi anh đó”.

Anh đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, lòng mừng thầm: “Vậy em giải thích sao cho ba mẹ em hiểu bên đạo anh không bỏ ông bà tổ tiên hay vậy?”.

– Thì em nói con thấy nhà mình chỉ cúng ông bà ngày sóc, vọng, rằm, hoặc ngày kỵ, ngày giỗ, ngày tết. Còn bên Công giáo nhớ đến hằng ngày khi đọc kinh hay tham dự lễ, và mỗi lần ngày giỗ, ngày chạp vẫn xin lễ cầu cho người quá cố. Như vậy thì đâu có bỏ quên tổ tiên ông bà”. Nghe Thy nói mà anh thầm cảm phục và cũng cảm thấy thẹn hết sức vì nếu cho anh nói thì chưa chắc anh đã biết nói như Thy.

– Đúng rồi, nhiều người vẫn nghĩ theo đạo Công giáo là bỏ ông bà cha mẹ. Nhưng thật sự đâu phải vậy.

Thy ngồi tựa đầu vào vai anh, rồi tiếp: “Em thích nhất là lúc quỳ gối thinh lặng cầu nguyện á. Khi đó, em cảm thấy tâm hồn thật bình an, cảm giác đó lạ lắm anh. Ở đây, em đi lễ với anh riết, nên mỗi lần về nhà, em cũng đến nhà thờ để cầu nguyện với Chúa cho ba mẹ em, cho anh và cho em nữa”. Chợt Thy im lặng ngẫm nghĩ rồi hỏi: “Em thấy trên đời này phải có một Đấng quyền năng như Chúa của anh mới phải, đúng không anh?”. Nghe Thy nói mà anh như muốn hét lên sung sướng, anh không ngờ Chúa đã quan phòng cho người anh yêu được biết Chúa, và anh thấy hổ thẹn vì chưa lần nào anh thật sự tự đến nhà thờ để cầu nguyện như Thy. Chợt nét mặt anh chìm xuống bởi anh biết dù nói gì đi nữa thì Thy vẫn là người ngoại giáo và mẹ anh sẽ không chấp nhận Thy. Nhưng anh vẫn luôn cầu nguyện và hy vọng.

*   *    *

Anh thường nghe mẹ dặn thế, chứ anh đâu nghĩ mẹ anh lại cương quyết như vậy. Đó không phải lời khuyên suông cho có, nhưng với mẹ anh, đó như là điều kiện tiên quyết để người anh yêu có thể trở thành con dâu của mẹ. Anh chưa kịp giải thích thêm gì thì từ đầu dây bên kia, mẹ anh đã nổi giận, gằn giọng quát: “Mẹ nói con sao? Con không coi lời mẹ ra gì hay sao, hả? Biết bao người có đạo không quen mà đi quen người lương, hết con gái rồi hay sao? Con cứ nhìn mấy đứa lấy vợ lương coi…vui thì nó ở, không vui thì đòi li dị,…mà li dị thật. Mẹ không muốn con mẹ cũng như vậy, rồi còn cháu của mẹ nữa…Nghe mẹ, mẹ nói không được là không được”. Anh chưa kịp nói gì về Thy, thì ở đầu dây bên kia, mẹ anh đã dập máy chỉ còn lại tiếng “tít tít” liên hồi. Anh đứng đờ người ra, lòng rối bời.

*   *    *

– Con đừng nói nữa, ai chứ Thy thì không được, nhất định Thy không thể trở thành con dâu của cái nhà này được.- Mẹ anh cương quyết.

Anh nài nỉ: “Nhưng Thy khác mà mẹ, chẳng phải mẹ đã mến cô ấy ngay từ lần gặp mặt đầu tiên đó sao? Và mẹ cũng khen cô ấy hết lời nữa”.

Mẹ anh quay đi: “Khi đó mẹ tưởng nó là người Công giáo, mẹ tưởng con nghe lời mẹ quen người có đạo nên mẹ mới đồng ý”.

– Nhưng Thy mến đạo Công giáo. Cô ấy cũng muốn theo đạo mà mẹ. Tuy chưa theo đạo, nhưng Chúa nhật nào, Thy cũng đi lễ hết đó mẹ.- Anh cố thuyết phục, nhưng dường như không thể thay đổi được gì.

– Con thấy mấy đứa lấy chồng theo đạo coi? Lúc mới yêu nhau, đứa nào chẳng đi nhà thờ. Lấy nhau được hai ba năm mà cãi lộn thì đòi li dị. Con coi còn lễ lược gì nữa không?-_Thấy anh im lặng lắng nghe, mẹ anh dịu giọng: “Không phải mẹ ghét bỏ gì con Thy hết, nhưng nó là người lương không cùng niềm tin với mình, mà đời sống hôn nhân không phải lúc nào cũng xuôi thuyền mát mái và thơ mộng như khi yêu nhau… Con phải nhớ là Công giáo mình chỉ được chọn, chứ không được đổi đâu con à”.

– Mẹ ơi, con biết điều đó, nhưng con hiểu Thy. Cô ấy không phải chỉ đi lễ khi quen con đâu. Nhưng đi lễ từ khi còn ở dưới quê cô ấy lận.- Anh cố nài nỉ, thuyết phục nhưng chưa kịp nói hết câu, mẹ anh hằn giọng ngắt ngang: “Thôi đủ rồi, mẹ nói không được là không được”.

Ba anh thấy vậy, bước đến kéo anh lại, vỗ nhẹ lên vai anh: “Thôi con, mẹ đang nóng. Cứ thư thư đã. Còn có ba đây mà, để ba lựa lời nói với mẹ”. _Anh ngước nhìn ba, gật gật đầu, bước ra hiên, rồi không hiểu sao anh đi thẳng lên nhà thờ. Tới nơi, anh chợt nhớ đến Thy và những lời Thy nói. Giữa trưa, nhà thờ vắng tanh và yên lặng đến lạ, không gian dường như chỉ dành riêng cho anh và Chúa. Anh quỳ gối, nhìn lên Chúa Giêsu trên thánh giá và thì thầm cầu nguyện. Trời đã xế chiều, anh quỳ đó như quên thời gian. Anh không biết nước mắt đã chảy ra từ khi nào, nhưng anh đã khóc. Anh khóc với Chúa về những ưu phiền đang đè nén trong lòng anh. Nhưng bây giờ, nét mặt của anh đã tươi tỉnh hơn và lòng anh cảm thấy nhẹ nhỏm, bình an. Chợt có cánh tay nhẹ nhàng đặt lên vai anh: “Con coi có dịp nào đó, dẫn Thy về đây chơi cho biết nhà”. Anh vội quay lại thì bắt gặp ánh mắt trìu mến của mẹ với nụ cười trên môi mà anh vẫn thường thấy. Anh đứng phắt dậy, nắm lấy tay mẹ, rồi như anh không tin vào tai mình, anh lắp bắp, ú ớ: “Mẹ! thật hả mẹ. Ôi! Mẹ của con thật tuyệt vời. Con cảm ơn mẹ”.

– Mẹ chưa hoàn toàn đồng ý đâu, để coi con Thy có đảm đang không đã.- Mẹ anh vừa nói vừa lấy tay nhéo má anh một cái. Anh mừng rỡ “Dạ” một tiếng thật dài, thật lớn, rồi anh ngước lên nhà tạm: “Con cảm ơn Chúa, con tạ ơn Chúa”.

Rồi anh ôm chầm lấy mẹ, nước mắt hòa lẫn nụ cười sung sướng: “Con cảm ơn mẹ nhiều lắm, rồi mẹ cũng sẽ hiểu và yêu mến Thy cho mà xem. Không phải vì con của mẹ yêu Thy thôi đâu mà Chúa cũng yêu Thy nữa đó mẹ”.

Mã số: 16-133

ÁNH SAO ĐÊM

Trời về khuya, sương buông lớp màn lạnh lẽo phủ lên mọi vật. Dãy phòng bệnh viện trắng xóa, mùi khử trùng, mùi máu tanh tưởi xộc vào khứu giác. Bác sĩ Ly bước dọc hành lang rồi ngồi xuống chiếc ghế đá trước mặt. Cô thở phào như trút được nỗi lo. “Người này quen thật”, cô thầm nghĩ, mồ hôi vẫn còn nhễ nhại trên khuôn mặt sau ca mổ vừa hoàn tất.

Chốc lát, xe cấp cứu lại dừng trước cửa bệnh viện, băng ca đẩy xuống, một người đang oằn èo trong cơn đau. Từ đằng xa, mấy người tất tả chạy, gương mặt đầy lo lắng, tay cầm điện thoại nhấn số. Họ chắc là người nhà của nạn nhân vừa được đem vào. Ly vẫn bình thản, cô đã quen với những cảnh tượng đó vì nó diễn ra hằng ngày tại bệnh viện.

Cố lục lại đống kí ức trong đầu những gương mặt đã từng gặp gỡ trước đây, nhưng Ly vẫn không thể nhớ được nạn nhân lúc nãy đã gặp ở đâu. Biết bao nhiêu người cô từng chạm mặt và các bệnh nhân cô từng điều trị, thật khó để cô có thể nhớ nổi. Thả lỏng người cho sự thoải mái chảy dọc cơ thể, Ly cảm thấy hạnh phúc khi vừa cứu được một mạng người. Lúc mới chọn thi vào ngành y, cô thấy sợ, sợ nhiều thứ, sợ máu, sợ cảnh chết chóc,… Bạn bè khuyên cô nên chọn ngành gì đó dễ dàng hơn nhưng cô vẫn quyết định theo đuổi đam mê của mình. Và bây giờ, cô cảm thấy vui và hạnh phúc với sự lựa chọn của mình.

Đang ngắm nghía ngôi sao sáng và miên man suy nghĩ, bỗng dưng, giọng một người phụ nữ khẽ gọi làm cắt ngang dòng suy tưởng của Ly. Cô quay đầu.

– Con chào cô! – Ly khẽ gật đầu và chào hỏi vì nhận ra người vợ của bệnh nhân mới vừa cấp cứu. – Chú nhà cần một thời gian để hồi phục, cô đã vào thăm chú ấy chưa?

– Dạ rồi nhưng ổng vẫn còn hôn mê.

– Chú nhà cần kiểm tra đầu lại lần nữa, lúc nãy CT con thấy có dấu hiệu xuất huyết.

– Dạ! Tất cả tui nhờ vào bác sĩ. – Một giọt nước mắt lăn dài trên gương mặt sương gió của người phụ nữ. Bà dúi một phong bì trắng vào áo blouse của Ly. – Bác sĩ cố giúp tui, ổng là trụ cột của cả nhà, gia đình tui chẳng mấy khả giả chỉ có chút ít biếu bác sĩ.

Ly rút tay người phụ nữ ra khỏi túi áo.

– Dạ không, trách nhiệm của con là cứu người, cô cất đi con không nhận đâu.

Nhìn gương mặt lam lũ, Ly chạnh lòng. Cô vội chào rồi bước đi ngay để lại ánh mắt ngạc nhiên của bà đang ngước nhìn theo. Bà đâu hay biết, trước đây mẹ Ly đã mất cũng vì cái phong bì kia. Gia đình cô không đủ tiền đút lót cho bác sĩ điều trị và rồi bác sĩ Ly hiện tại đang đi trước mặt bà đã vĩnh viễn mất đi người mẹ thân yêu.

***

Ly lại tình cờ gặp người phụ nữ tại quầy thu phí của bệnh viện. Bà đang lo giấy tờ nằm viện cho chồng. Ánh mắt bà rụt rè, hơi lúng túng.

Hôm trước, chồng bà chạy xe ôm chở khách qua phía cầu Bình Triệu. Trên đường trở về nhà, tới đoạn vắng, hai tên say rượu đâm thẳng vào làm ông ngã xuống, ý thức rơi vào vùng tối đen. Nghe tin, bà hoảng hốt, liền bỏ dở công việc tại quán ăn phóng xe lên bệnh viện. Trong người bọc được bao nhiêu tiền, bà gởi Ly nhưng cô nhất định từ chối.

– Chào cô! Chú nhà có dấu hiệu khả quan hơn rồi, mà hôm bữa chú đi đâu mà gặp tai nạn vậy cô. – Ly hỏi.

– Ổng chạy xe ôm bác sĩ à! Giờ tui không biết tính sao nữa. – Mặt bà tỏ vẻ lúng túng, Ly quan tâm hỏi:

– Nhà cô ở đâu? Con cái đâu hết rồi?

– Vợ chồng tui trọ ở Tân Bình, lo cho đứa lớn học năm hai Đại học, còn đứa út ở dưới quê với nội tít Bạc Liêu. Ở đó nghèo quá nên lên đây kiếm việc. Đây là lần đầu gặp chuyện, tui không biết tính sao…!

– Dạ! Rõ khổ. Con cũng người Bạc Liêu, lên Sài Gòn này học rồi làm việc ở đây luôn. Lâu lâu có dịp, con hay về Cha Trương Bửu Diệp rồi ghé thăm một vài nhà bà con. Tính ra con còn may mắn hơn cô chú.

– Ủa… vậy là… vậy bác sĩ có Đạo? – Bà trợn mắt nhìn Ly.

-Dạ! Sao vậy cô?

– Tui cũng vậy nhưng vì công việc, vợ chồng tui nguội lạnh lắm.

Giữa Sài Gòn đất chật người đông, dễ gì kiếm được một người cùng tin Chúa. Mắt bà mừng rớn, sáng hẳn lên. Bà tiếp lời:

– Nói thật bác sĩ, lương lã vợ chồng tui không được mấy đồng, khoản nợ tui lo cho con cũng nhiều, giờ viện phí vậy tui không biết tính sao?

Bà thấy nghẹn ngào, như có thứ gì chặn ngang cổ. Nước mắt như chực trào. Bà cầm lấy tờ thủ tục trên bàn rồi cúi nhìn, cố che đi giọt nước mắt đang lăn dài trên má. Bà che cả sự xấu hổ, thẹn thùng, che cái nghèo của dân tỉnh lẻ, quê mùa. Ly nhìn bà, lòng thấy thương cảm. Ly nhớ lại những ngày bạo bệnh của mẹ, khoảng thời gian khó khăn của gia đình mình, lòng cô đồng cảm xót xa.

Bất chợt, thứ linh tính đã gặp chồng bà đâu đó lại chỗi dậy trong cô.

– Cô cho cháu mượn thủ tục tí!

Số tiền phải đóng ban đầu đã hơn năm triệu. Ly liếc nhìn vẻ mặt lo lắng của người phụ nữ rồi lại dán mắt lên tờ giấy. “Nguyễn Văn Tuấn – Nghề nghiệp: Xe ôm”, Ly thấy quen, quen lắm. Cô tần ngần rồi cất tiếng hỏi thử:

– Chú nhà thuộc đội xe ôm ngay chỗ hồ bơi Cộng Hòa – Quận Tân Bình phải không cô?

– Ờ… có gì không bác sĩ. Mà giờ ông chuyển ra Công viên Lê Thị Riêng rồi.

– Vậy là đúng rồi…! – Ly reo lên.

– Đúng sao bác sĩ? Sao bác sĩ biết chồng tui lái xe chỗ đó?

– Chuyện dài dòng lắm cô, có gì con nói cô nghe sau. Thôi, con có việc bận, con chào cô.

Ly vội quay bước về phòng, lần thứ hai cô làm cho người phụ nữ ngạc nhiên. Bà chẳng hiểu nổi cô bác sĩ này đang nghĩ gì, cứ mập mờ từ chuyện này đến chuyện khác.

Về đến phòng, Ly thở dài rồi ngã lưng xuống chiếc ghế xoay của bàn làm việc. Trở lại sự cô đơn của mình, đôi mắt Ly dừng lại ngay tấm ảnh em gái cô tặng mấy tháng trước. Tấm ảnh lòng Chúa thương xót đang mở rộng vòng tay để đón Ly vào lòng. Có phải chăng, Chúa đã chạm vào cuộc sống của Ly để cất đi những giọt nước mắt khổ đau hay chén đắng của sự mất mát. Ngài biến chén đắng của cô thành chén nồng tình yêu, giúp cô cứu chữa nhiều người. Ly cứ mãi suy nghĩ, cô lấy điện thoại từ túi áo rồi lục tìm danh bạ. “Em Lan”, Ly ngắm hình cô bé lưu cùng số điện thoại hồi lâu. Cô muốn báo tin cho nó nhưng rồi thôi.

***

Một tuần sau ngày ông Tuấn nhập viện.

Sài Gòn vẫn còn mưa, mưa lất phất rơi xuống đường. Mưa nhiều ngày làm nước lênh láng khắp các hẻm phố, đường đi. Bác sĩ Ly khép bớt cánh cửa sổ cho mưa khỏi tạt vào phòng bệnh. Căn phòng im lìm, chỉ còn tiếng tí tách khi mưa dội vào mặt kiếng, tiếng quạt trần rè rè phả gió nhẹ xuống người ông Tuấn. Ly kéo tấm chăn lên, ông chợt tỉnh giấc.

– Chú thấy trong người sao rồi? –  Ly đứng cạnh giường bệnh ông Tuấn.

– Tui khỏe hơn rồi bác sĩ.

Vợ ông Tuấn xách hai bị cháo bước vào phòng, bà cúi đầu khi nhìn thấy Ly.

– Chào bác sĩ! Bác sĩ đến thăm bệnh sớm vậy? – Bà cười – Mà ông…! Bác sĩ này nè, người nói biết ông đó. –  Bà đặt hai bị cháo xuống bàn, đưa tay chỉ về hướng Ly, ông Tuấn ngạc nhiên, hỏi:

– Ủa…! Tui gặp bác sĩ lần nào chưa ta?

– Dạ rồi nhưng chắc là chú quên con. –  Ly cười.

– Khi nào mà tui không nhớ! –  Ông Tuấn trợn mắt nhìn Ly như đắn đo suy nghĩ.

– Chú nhớ năm tháng trước, chú có lượm được chứng minh thư của con bé nào không? – Ly hỏi.

– À…Tui nhớ! Con bé đi tìm chứng minh trên đường nhà thờ Chí Hóa thì phải, gần chỗ tui chạy xe.

– Dạ! Đó là con Lan, em gái con. Ngày đó, dịp thi Đại học, nó từ quê vô thi, đi học nội quy thi về rồi ghé mua quà cho con trong nhà thờ Chí Hòa, bất cẩn làm rớt túi hồ sơ thi, may mà có chú. Con gặp chú khi chú chở nó về nhà con.

– Ờ…! Đúng rồi! Con Lan, tui mở túi hồ sơ, thấy giấy tờ ghi vậy, hình như cùng quê cùng Đạo với tui nữa. Thật có duyên.

– Dạ…! Ngày nó đậu Đại học, con có chở nó tới chỗ hồ bơi Cộng Hòa tìm chú để cảm ơn, mà không thấy chú ở đó.

– Trời! Ơn nghĩa gì đây, tui thấy sau chứng minh nó ghi tôn giáo: “Thiên Chúa”, tui tưởng mấy đứa trọ ở nhà thờ trong cái tiếp sức mùa thi nên tui tới đó, ai ngờ gặp nó giữa đường. Tui giúp nó rồi sau này có người giúp lại con tui. – Ông cười. – Mà giờ nó học gì rồi bác sĩ?

– Dạ! Nó đậu trường Đại học Y dược, học bác sĩ như con, mà…mà hắn chết rồi. – Ly lợm giọng.

Ông Tuấn giật mình, ngã người ra chiếc gối phía sau.

– Lạy Chúa! Sao vậy?

– Nó cũng bị tai nạn như chú, nhưng nó không qua khỏi. Mấy ngày nữa là 100 ngày của nó. Xin cô chú cầu nguyện cho nó với, linh hồn Catarina. Cái này con tặng cô chú để cầu nguyện, con Lan nó tặng cho con. Còn phần tiền công, cô chú để con lo, con báo vậy cho cô chú an tâm. – Ly đưa tấm ảnh lòng Chúa thương xót cho ông Tuấn, chào một tiếng rồi quay đi.

Một sự thinh lặng chộp lấy tâm khảm hai ông bà. Ly lặng lẽ bước đi để lại giọt nước mắt chưa kịp khô nơi cánh cửa phòng bệnh kia.

Đêm Sài Gòn, trời đã trút hết những giọt mưa cuối cùng xuống đất, không khí trong lành đang dần trở lại. Ngôi sao đêm sáng chói lại xuất hiện như vầng hào quang Chúa đặt trên bầu trời. Ánh sao thắp lên hy vọng của nhiều người, xóa tan những lo lắng, ưu tư của một vài tấm lòng trong bệnh viện. Ánh sao kia cũng thắp lên niềm tin của những người tin vào tình Chúa bao la.

Nằm trên giường bệnh, ông Tuấn đưa mắt ra xa qua ô cửa sổ, lòng vẫn bồi hồi xúc động. Ánh sao kia đang nhìn ông.

– Ý Chúa quá nhiệm mầu, con xin lỗi Chúa vì đã xa Ngài bấy lâu.

Mã số: 16-134

NHỮNG GIỌT NƯỚC MẮT

Thu đang đạp xe về sau ca dạy thêm chiều thì Sài Gòn đổ mưa. Cơn mưa đến nhanh rồi nặng hạt dần. Thu chỉ kịp dắt vội xe lên một mái hiên vắng, cố thu mình lại cho khỏi gió tạt mưa vào ướt người. Rồi lặng lẽ, hai tay ôm lấy thân mình, em đứng nhìn mưa, lòng nghẹn ngào.

Trời tối sầm lại trước mắt Thu. Em thấy hình ảnh mẹ lội mưa về trong đêm,với cái nón cời và mảnh áo mưa chắp vá, hai tay mẹ dắt chiếc xe đạp cà tàng có cái khung ngang phía trước đã mòn vẹt cả bánh, đây đó lớp sơn hoen ố tróc ra từng mảng, phía sau giàn đèo là bì cỏ đầy ắp, lại thêm ôm mùng to tướng cho bầy lợn đang réo inh ỏi cả nhà…

Mẹ vào ngồi bếp. Bếp nóng. Và những dải bồ hóng tối thui, đen ngòm rủ xuống đầy huyền ảo, vương lên đầu, lên tóc mẹ. Bóng mẹ in loang lổ trên vách nhà, dáng mẹ gầy gầy, thương thương…

Nước mắt Thu cứ thế chảy trào mà không ngăn được. Em thốt lên thành tiếng trong mưa: Mẹ! Mẹ ơi, anh…

Rồi mưa cũng ngớt, nhưng cái lạnh, cái đói cùng bao uất ức từ lúc sáng gặp Đông vẫn không hề vơi. Thu không khóc nữa, nhưng thay vào đó là những  tiếng nấc và những cái rùng mình lạnh cả sống lưng, em chậm rãi đạp xe men theo những lối quen về xóm trọ, cái khu trọ lụp xụp nát bươm như trong phim của Châu Tinh Trì. Ở cái chốn Sài Thành này, bên cạnh những nhà lầu, xe hơi sang trọng, bên cạnh những bữa tiệc buffet hóa đơn tính bằng cả triệu đồng là những mảnh đời bất hạnh, nghèo khổ, với đồng tiền eo hẹp và công việc tệ hại hết sức. Mọi người ở đây đều cố sống, gượng sống, dùng mọi nghị lực, thậm chí có khi, thủ đoạn, để cố bấu víu vào một cái neo vô hình nào đó, để khỏi bị trôi tuột đi. Thu vẫn luôn quý trọng những cảnh đời bên mình, em biết cách biết ơn cuộc sống.

Nhưng sao ngày hôm nay Thu thấy sợ. Giá như có mẹ ở đây, giá như mẹ còn sống, giá như…

Mẹ Thu mất đã bốn năm rồi, hồi đó Thu đang học lớp 12 và anh Đông đang học năm cuối ở trường Đại Học. Một mình mẹ đã nuôi nấng và dạy dỗ hai anh em từ cái buổi chiều định mệnh ba qua đời. Buổi chiều đó, Thu còn bé lắm, em cứ ôm ghì ảnh ba khi mẹ thầm thì vào đôi tai bé nhỏ: Chúa gọi ba về, con ạ. Rồi cũng một buổi chiều, buổi chiều của rất nhiều năm sau đó, Thu quỳ xuống bên mẹ, nhẹ nhàng ôm lấy mẹ, khẽ thì thầm: Chúa gọi mẹ về…

Mẹ đã để lại một gia tài vô giá cho hai anh em Thu, đó chính là Niềm Tin vào Chúa. Ngày đó, hai anh em đã hứa với mẹ sẽ luôn giữ Niềm Tin đó, rồi sau này sẽ lại trao cho con cái của mình.  Riêng với Thu, Niềm Tin đó giờ đây không còn là của mẹ trao cho mà đã là của chính em, với những tháng ngày không còn mẹ đồng hành, em cùng Chúa bước đi trên mọi nẻo đường đời ngang dọc. Và anh Đông cũng thế, Thu luôn tin là như vậy. Có một sự tin tưởng vững chắc như thành lũy trong Thu về Đông, cái thành lũy mà chưa có một giây phút Thu nghi ngờ.

Nhưng liệu trên đời này có cái gì là chắc chắn? Liệu cái thành lũy kia có thực sự vững bền?

Một buổi chiều khá muộn,  có một người bạn của Đông, chị Vân, đến tìm Thu. Hồi còn ở với anh, Thu đã gặp chị vài lần. Thỉnh thoảng,Thu có hỏi anh về chị, Đông vẫn luôn trả lời là ổn cả, em yên tâm. Và quả thực, Thu đã yên tâm. Cho đến buổi chiều ngày hôm đó.

– Có chuyện gì vậy chị?

– Chị xin lỗi em, Thu à.

Vân khóc, Thu đưa tay vỗ vỗ vào vai chị. Chắp nối giữa những tiếng nấc là câu chuyện Vân và Đông yêu nhau. Vân yêu Đông, một tình yêu mà chị cũng không hiểu được chính mình. Nhiều lúc đứt gãy, Đông không liên lạc nhưng chị không thể nào quên anh. Và lại làm lành, lại yêu, lại gãy. Rồi cái gì đến thì cũng đến, chị có thai, với Đông. Vân thẫn thờ nhìn Thu. Thu thở dốc, tim em đập mạnh từng hồi. Ngày biết tin, Đông im lặng. Rồi anh nhắn tin cho Vân: Bỏ nó đi.

Vân đưa điện thoại cho Thu, chị đẩy tập hồ sơ về phía Thu. Nhưng Thu không còn nhìn thấy gì nữa rồi, đôi tay em đã buông khỏi vai Vân tự lúc nào, giờ đang bấu chặt vào nền nhà xám lạnh. Mắt Thu ráo hoảnh, em không khóc nhưng hai vai em run lên, miệng em mặn đắng, toàn thân như bất động, trước mắt Thu chỉ là một khoảng không trống rỗng, em nghe như có gió rít qua tai mình.

– Chị xin lỗi em, chị không làm cách nào khác được. Đông đã không liên lạc với chị, chị không biết nữa, chị vẫn yêu anh ấy. Anh không cho chị nói với em, nhưng…

– Sao không sớm hơn? Sao không nói sớm hơn hả chị? Tại sao?…- Thu ngắt lời chị. Em không khóc, không la hét, không rên rỉ, nhưng giọng em nói nghe lạnh hẳn đi. Thu không trách Vân, Thu biết chị không có đạo… nhưng đứa bé đã mất rồi…

Vân ra về, nước mắt chị đã cạn rồi sau bao đêm ngày đau đớn. Không một tiếng động, Thu ngồi im như một pho tượng sầu thương giữa phòng. Em cứ ngồi như vậy không biết bao lâu, đến lúc giật mình tỉnh lại thì Thu đã gục mặt xuống nền nhà. Bóng đêm bao trùm không gian, chỉ còn nghe thấy tiếng xe chạy xa xa, lâu lâu lại có tiếng sủa của chú chó tội nghiệp nào trong đêm mất ngủ. Thu gượng đứng dậy, lê bước chân về phía bàn học, em thắp lên một ngọn nến, rồi gục xuống trước tượng Chúa Chịu Nạn. Nói gì bây giờ, cầu nguyện gì bây giờ? Thu ngước mắt lên, nghẹn ngào không thành tiếng: Chúa ơi! Con… con… mệt… con… muốn khóc…

Thu khóc. Bao nhiêu kìm nén suốt từ chiều chỉ đợi giây phút được trào ra…

Hôm sau, Thu bỏ luôn buổi sáng với ba tiết học ở trường để đi tìm gặp Đông. Quãng đường từ thành phố xuống Thủ Đức khá xa, đi xe bus mất chừng bốn mươi lăm phút. Thu nhắm nghiền mắt lại, cố tìm cho được một lý do, hy vọng hiểu được vì sao anh mình làm như thế, nhưng không, cho đến lúc đứng trước mặt Đông, đầu óc Thu vẫn hoàn toàn trống rỗng.

Đông không biết chuyện Vân gặp Thu nên lúc Thu hỏi anh hơi giật mình. Hai anh chị là bạn, em hỏi gì lạ vây? Thu nhìn thẳng vào Đông với ánh mắt nài van: Làm ơn nói cho em, em đã gặp chị Vân… Đông nhìn em, ánh mắt anh lảo đảo một cách mất tự chủ. Thu thấy anh mình đang run lên. Đông che giấu tất cả những bất thường đó bằng cách vịn chặt tay vào hai thành ghế và lớn tiếng với Thu: Đó không phải là chuyện của em. Để cho anh yên! Thu đau đớn khi thấy anh chẳng khác gì một con rối đang bị lên dây, em cố bình tĩnh : Anh à, em đã lớn rồi, anh đừng như vậy. Đừng giấu em. Đông quát lên: Đó không phải là chuyện của em, không cần quan tâm làm gì! Sao lại không? Em là em gái của anh cơ mà? Thu nấc lên, cơn bão ngầm trong em khéo chừng đã sắp vỡ ra. Đông nhìn Thu như van xin, dừng lại đi Thu, anh hết chịu nổi rồi. Nhưng không kịp nữa rồi, cơn bão ngầm trong Thu đã vỡ òa. Nếu như người đang ngồi trước mặt Đông là mẹ thì chắc chắn bà sẽ hiểu ra thông điệp kia, bà sẽ ngưng nói chuyện với Đông theo cách đó, và có lẽ, bà biết cách phải làm gì tiếp theo. Nhưng trước mặt Đông là Thu, Thu chứ không phải mẹ, Thu chỉ giống mẹ nét ngoài còn tính cách thì không, chí ít là trong trường hợp này. Thu nhìn thẳng vào ánh mắt sợ hãi đó của Đông, giọng em nghiêm nghị: Được rồi, vậy anh chỉ cần trả lời em là có hoặc không! Em thôi ngay đi, nếu anh không có với Vân thì anh cũng sẽ ra ngoài tìm một cô gái khác!

Đông đã nói như vậy với chính em gái mình. Và như một hành động hoàn toàn bản năng, Thu hất mạnh ly nước trên bàn vào mặt anh. Rồi đứng bật dậy, em nhìn vào mặt Đông với ánh mắt sát nhân: Đồ hèn!

Rồi em tức tưởi chạy đi.

Thu không thể nào tin được những lời chính tai em vừa nghe. Nó quá kinh khủng đối với Thu. Mặc dù em đã từng nghe mấy thằng bạn ở trường Đại Học kháo nhau rằng với đàn ông thì đó là một chuyện hết sức bình thường, được gọi là giải quyết nhu cầu sinh lí… Rồi những lần đạp xe đi dạy thêm chiều, Thu cũng nhìn thấy những cô gái thập thò dưới gốc cây. Lúc đạp xe qua họ, Thu không tò mò, không nhìn, không cười, không trách, không thương hại, Thu chỉ thầm xin dâng họ cho Mẹ Maria và một suy nghĩ “ước chi” le lói trong đầu. Với Thu đó là một thế giới hoàn toàn xa lạ, những người đàn bà xa lạ, những người đàn ông xa lạ. Em chỉ nghĩ được đến đó chứ không thể nào nghĩ ra được trong thế giới đó có anh trai mình, ngay cả trong cơn ác mộng khủng khiếp nhất em cũng không thể hình dung ra điều đó. Than ôi! Những cô gái! Những sinh linh! Chỉ vì cái gọi là giải quyết nhu cầu sinh lý kia ư? Thu thở không ra hơi khi chạy ra tới trạm đón xe, nước mắt chảy tràn, Thu nhớ mẹ đến vô cùng tận. Mẹ ơi, khi anh có suy nghĩ đó, khi anh làm điều đó, anh có mảy may nghĩ đến mẹ, đến con không? Những người đàn ông đó có nghĩ đến bà, đến mẹ, đến các chị em gái của họ không? Họ có nghĩ đến vợ, đến những đứa con gái của họ không? Tất cả cũng là phụ nữ như người phụ nữ qua đường đó thôi. Có gì khác nhau đâu khi tận sâu trong suy nghĩ của họ đó là giải quyết nhu cầu sinh lý? Có gì khác nhau giữa Thu và chị Vân? Có chăng là sự rõ ràng và không mụ mị, nhưng nếu Đông nghĩ đến Thu, anh sẽ phải nghĩ được rằng anh đối xử như thế với Vân thì cũng giống như có người khác đối xử với em gái anh như vậy. Ôi! Đứa cháu của em, đứa cháu mà mãi mãi em không bao giờ được gặp, đứa cháu mà mãi mãi em không bao giờ biết được là gái hay trai, đứa cháu mà anh trai của em nhẫn tâm vứt bỏ. Ôi! Thật đớn hèn. Than ôi! Là anh trai của em đấy ư?

Với Thu, đó là chuỗi những ngày dài lê thê, tất cả mọi thứ trở nên vô      nghĩa. Thổn thức. Nhức nhối. Vùng vằng. Thu không hiểu, không tài nào hiểu, em bị mắc kẹt trong một mớ suy nghĩ lộn xộn, vướng víu, bế tắc. Em không muốn nghĩ đến nó, không muốn nhớ đến nó. Thà em mất trí còn hơn là khơi dậy những bế tắc đó, mà không khơi thì nó vẫn cứ rõ ràng ở đấy, như một lưỡi gươm Đa-mô-clét treo trên đầu bằng sợi lông đuôi ngựa mỏng tang.

Rồi Thu về quê nghỉ tết sớm. Em không biết anh Đông có về không, em đã không nói chuyện với anh kể từ hôm ấy. Em chỉ nhắn “ Anh là anh trai của em, không thể có gì thay thế!…  Em mong anh đọc lại câu Kinh Thánh này: Những ai bị tính xác thịt chi phối thì không thể vừa lòng Thiên Chúa (Rm 8, 8), và mong anh nhớ lời hứa với mẹ”. Em cố tình không liên lạc với anh, không phải là em bỏ mặc nhưng em muốn anh có đủ khoảng lặng để nhìn lại chính mình.

Lên tàu khi đêm đã về khuya, trong ánh đèn leo lét cuối toa ngồi cứng, Thu làm dấu và thầm thĩ lời nguyện cầu quen thuộc – cho Đông.

Thu về đến nhà lúc trời chiều chạng vạng. Từng đàn bò cuốn nắng về tổ ấm, những chái bếp khói tỏa bay mịt mù, những ánh lửa hồng hồng bên vách. Đây đó hương của những ngày thân thuộc. Con đường qua nghĩa trang vẫn chẳng hề thay đổi sau bao biến cố bể dâu. Con đường cát, con đường đánh bi, con đường tuổi thơ kẻ chỉ nhảy lò cò. Con đường đó, người nay đâu… Thu lặng yên bên mộ ba mẹ, gió làm gì mà xoa tóc em như mẹ vậy? Thu nhớ mẹ đến se thắt trái tim…

Cót két! Cánh cửa gỗ vặn mình. Ánh đèn vừa được bật lên thì bỗng nhiên, mưa. Thu chạy vội ra ngoài. Em muốn trốn chạy, em muốn mưa rửa sạch tâm hồn mình, muốn mưa lấp đầy chỗ trống ấy. Những đợt gió ập vào em dữ dội, mưa cứ nặng hạt thêm. Thu chao đảo rồi ngã quỵ trong mưa. Em khóc òa, em cảm thấy mình rất cô đơn, lẻ loi trong cuộc đời này.

Ngồi trong ngôi Nhà thờ thân yêu, Thu nhìn lên Thánh Giá rồi nhìn sang bức hình Năm Thánh Lòng Thương Xót, Chúa Giê-su bị đóng đinh đang vác trên vai con người lầm lạc, Thu bắt gặp ở đó hai ánh mắt, hai ánh mắt với ba con mắt len sâu vào tâm trí Thu. Em ngồi đó, yên bình, thật lâu. Em cuộn người nằm trên dãy ghế dưới cái nhìn đầy yêu thương của Chúa, của Mẹ, của Thiên Thần Bản Mệnh em.

Chiều hai mươi chín Tết,Thu đang gói bánh thì Đông bước vào nhà . Anh gầy hẳn đi, cái mặt xanh lét màu chàm, nhưng ánh nhìn thì kiên định. Thu nhìn anh, mỉm cười, rồi nhẹ nhàng xuống bếp xách lên cho Đông ấm nước nóng. Đông tắm xong thì năm cái bánh chưng vuông vắn đã có mặt đủ trên bàn. Từ hồi mẹ còn sống, Tết năm nào cũng là năm chiếc bánh: Mẹ gói hai cái, Đông gói hai cái và Thu gói một cái. Riêng năm nay, một mình Thu đã làm thay cho cả mẹ và anh. Đông vội dành làm món canh khổ qua ba thích, còn Thu dặm thêm mắm muối vào hũ dưa hành. Rồi Đông ngồi canh lửa nồi bánh chưng, Thu gội đầu, mùi lá thơm bay ngào ngạt. Hai anh em không ai nói câu nào nhưng  ngôi nhà vẫn ấm và khói hương trầm vẫn bay. Trong bữa cơm bên di ảnh ba mẹ, Thu nói rằng em không cần anh trai giỏi giang, không cần anh thành đạt, em chỉ cần anh là một người anh đúng nghĩa.

Hai anh em đi Lễ Giao Thừa. Thu kéo anh lại quỳ trước bức ảnh Năm Thánh. Thu cầu nguyện, còn Đông, anh nhớ lại bữa cơm rồi nhớ đến mẹ, đến tin nhắn của Thu, cái tin nhắn đã làm anh trằn trọc biết bao đêm. Ngước nhìn lên bức ảnh, Đông lắp bắp: Thu ơi, sao lại ba con mắt? Sao thiếu mất một… Anh nhìn kĩ nha, thiếu nhưng mà không thiếu đâu. Rồi Thu mở cuốn Kinh Thánh đưa cho anh – Anh đọc từ câu em đã gửi cho anh đi! Đông cầm lấy cuốn sách từ tay Thu. Những ai bị tính xác thịt chi phối thì không thể vừa lòng Thiên Chúa. Nhưng anh em không bị tính xác thịt chi phối, mà được Thần Khí chi phối, bởi vì Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em. (Rm 8. 8-9). Thu dịu dàng: Chúa Giê-su bị đóng đinh đã cứu con người ra khỏi đêm đen của tội lỗi và sự chết. Khi vác lấy ta, Ngài chạm lấy thể xác ta và đôi mắt của Ngài kết hợp với đôi mắt của ta. Là ba con mắt, nhưng con mắt ở giữa là của cả hai. Chúa nhìn với con mắt của anh và anh nhìn với con mắt của Chúa. Đông bật khóc. Tất cả ùa về. Đông không biết đó là những giọt nước mắt thống hối, sung sướng hay khổ đau. Không phải, những giọt nước mắt ấy mang trong mình tất cả. Chúa ơi, Ngài ở trong con sao? Ngài vẫn tha thứ và thương xót con sao? Con phải làm gì bây giờ đây Chúa ơi? Xin Ngài xót thương con cùng…Ôi, Cha ơi…

Không một tiếng trả lời nào vọng về, chỉ có những giọt nước mắt vẫn rơi…

Mã số: 16-135

ĐỘNG LỰC

 

– Mày tên gì?

– Dạ, cháu tên Ngà, Nguyễn Thị Ngà ạ.

– Gớm! Thời nào rồi mà còn Ngà với Thị, bộ cha mẹ mày không còn cái tên nào nữa hả? Mà ở trong nhà tao gọi cô chú, xưng con, không cháu cháu gì hết. Và không dạ thưa lôi thôi. Tao ghét dài dòng.

– Dạ. Con hiểu rồi. Thưa cô.

– Lại nữa… Mà  thôi. Nhà tao hơi phức tạp, mày coi ở được thì ở. Tao thì tao đi Chùa, Phật dạy tao thương người…

Thực ra chính Ngà cũng  đã từng băn khoăn về cái tên của mình. Sao lại có dấu huyền? Mỗi Nga thôi có phải hơn rồi không? Lại còn thêm chữ Thị. Chao ôi! Chữ Thị này nó mới vô duyên làm sao. Bạn bè em bói không ra đứa nào chữ Thị ngay trước tên, chỉ có mỗi Thị Ngà. Còn nữa, sáu anh em trong nhà: Nhật Nguyên, Đức Hạnh, Duy Nhân, Thị Ngà, Thiên Phúc, Thiện Thảo. Lại cũng chỉ mình Ngà là Thị Ngà. Nếu Ngà là con đầu, em sẽ biện minh được ngay là vì ba mẹ chưa có kinh nghiệm đặt tên, nhưng em là con thứ tư kia mà. Không cách nào hiểu được, Ngà buồn.

Cho đến ngày em mười tám tuổi, Ngà nhận được một món quà từ tay ba mẹ em. Mẹ nói món quà đó đã được dành riêng cho em từ cái ngày em chào đời, ba mẹ đã giữ nó suốt ngần ấy năm. Đó là một cuốn Tân Ước màu nâu xỉn, cái màu loang lổ của thời gian năm tháng. Nó đã có từ ngày đó ư? Nó chứng kiến cuộc đời mình ư? Ngà run run mở cuốn sách ra, và kìa, một tờ giấy được kẹp ngay ngắn ở trang thứ sáu. Một bức thư với nét chữ quen thuộc của ba, bức thư hôm nay cũng tròn mười tám tuổi, bức thư trả lời cho tất cả mọi thắc mắc của em.

***

Lúc này Ngà mười chín tuổi, Ngà đi làm, khi ước mơ em vẫn còn dang dở. Con sẽ viết tiếp nó, còn bây giờ con dâng nó cho Cha – Ngà thầm thĩ nguyện cầu cùng Chúa.

Ngà làm cho nhà cô chú. Công việc của em, xã hội gọi là Ôsin, con út của cô, nhóc Ban, gọi là người ở. Ngà nghe thấy vậy hôm có đứa bạn đến chơi, nó chỉ vào Ngà lúc đó còn  đang cặm cụi lau nhà, hỏi:

– Ai vậy?

– Người ở…- Ban đáp gọn.

Nói rồi hai đứa chạy lên lầu.

– Con ngạc nhiên…và hơi buồn.- Ngà nói chuyện điện thoại  tối đó với ba.

– Con à, lời nói gió bay, tình yêu thương sẽ còn lại mãi… Nhớ hôm con đi ba nói gì với con?

– Dạ, ba dặn con: Hãy đến với Chúa những lúc con gặp khó khăn…

– Ừ – Người ba nghỉ mấy giây, như để câu nói đó, một lần nữa, ngấm vào cả hai – Con lần chuỗi Thương hôm nay, dừng lại ở Thứ ba thì ngắm nha! – Ông lại nghỉ mấy giây – Dâng con cho Mẹ Maria.

– Dạ, ba mẹ ngủ ngon.

Đã thành thông lệ, mỗi lần nghe ba nói “Dâng con cho Mẹ Maria” là Ngà biết ba đã nói với em xong và cũng như những lần khác, Ngà thấy lòng mình vơi nhẹ hẳn đi.

Ngà thắp lên một ngọn nến bên cạnh tượng Khổ Nạn, có Mẹ Maria và cuốn Tân Ước với bức thư viết cho riêng em nữa. Em nhìn đồng hồ, đã quá nửa đêm, gia đình cô chú chắc đã ngủ rồi. Trong ánh nến thân quen, Ngà làm dấu, thầm thì những lời kinh. Nâng chuỗi hạt lên, em lần Chuỗi Thương. Vào mỗi tối thứ ba và thứ sáu cả nhà em sẽ lần chuỗi Thương, nhưng sao hôm nay ba lại dặn em vậy nhỉ? Hôm nay là thứ hai mà. Ba còn dặn ngưng ở chuỗi thứ ba? Tay Ngà bắt đầu di chuyển trên chuỗi hạt… đến chuỗi thứ ba: Thứ ba thì ngắm… Đức… Chúa… Giê-su… chịu… đội… mão… gai… ta… hãy… xin… cho… được… chịu… mọi… sự… sỉ… nhục… bằng… lòng. Chịu sỉ nhục… bằng lòng…Thật chậm rãi…

Ngà nấc nghẹn. Nước mắt em tràn ra, an yên, lặng lẽ.

***

Reng! Tiếng chuông cửa reo lên khi Ngà vừa làm xong món rau cuối cùng cho bữa tối.

– Dạ, con chào chú!

– Ừ, nấu cơm chưa con?

Chú, chồng cô, là một người đàn ông trung niên thành đạt, ánh nhìn của ông nói cho Ngà biết đó là một con người không khoan nhượng, không thỏa hiệp, kiên quyết đến cùng. Ngà không sợ ánh mắt đó nhưng em biết trong ánh mắt ấy có gì đó muộn phiền.

Ngà dọn cơm. Em đi mời chú và mọi người trong nhà. Người con đầu tên Nam, hơn Ngà ba tuổi còn nhóc Ban đang học lớp 10. Ở phòng kế bên phòng ăn, cô đang bán hàng. Bữa cơm diễn ra với bốn con người, thiếu cô. Ngà xin phép chú và hai anh em rồi em làm dấu, thầm nguyện một kinh Lạy Cha, không quên xin Cha cho ba con người đang ngồi trước mặt mình ăn được bữa cơm trên bàn. Mở mắt ra, Ngà bắt gặp hai con mắt tròn xoe của  nhóc Ban. Ngà mỉm cười: Sao vậy em?- Nó thấy lạ đó! – Nam nói. Ngà nhìn anh Nam rồi nhìn sang nhóc “Thật hả?”. Ban cười lớn – Thật! Thế rồi tất cả bọn họ cười vang. À không, có một người vẫn lặng lẽ ngồi ăn, Ngà không thấy chú cười, mà giả như chú có cười thật thì chú cũng không để lộ ra cho em thấy.

Ngà dọn dẹp xong thì cô cũng vừa bán xong hàng. Em đun lại chén canh nóng và bưng khay cơm ra. Cô cảm ơn em và ngồi xuống ăn mấy muỗng canh. Ngà phụ cô xếp lại đống hàng, vừa làm cô vừa kể cho Ngà nghe chuyện hai cô chú ly dị rồi nhưng vì căn nhà chung này chưa bán được nên cô vẫn còn ở đây. Trong nhà mọi chi phí sẽ được chia đều, cô chịu một phần, chú chịu bốn phần, gồm của chú, Nam, Bờm, Ngà nữa. Sao chú lại phải chịu nhiều vậy ạ? Ổng giàu lắm, ông là phi cơ trưởng – captain đấy. Mày thấy cái xe Mercedes ngoài kia không? Của ông đấy!

Rồi cô kể ngày cô về làm dâu, cô không cắt được tiết con gà, bà mẹ của chú than: “Tội nghiệp thằng con tôi, lấy phải con vợ mà cắt có cái cổ gà cũng không được thì làm gì nên?”- Cô nhìn thẳng mặt bà, nói: “Con xin lỗi mẹ, chứ đầu hẻm nhà mẹ con có gánh cháo gà, một ngày bà đó bà làm không biết bao nhiêu con gà mà chồng bà bao năm vẫn cứ gánh nồi cháo đi bán, làm chi nên?”. Ngà cười lăn ra – Cô! Nói theo kiểu ở quê con thì cô thuộc dạng ghê gớm, kiểu đàn bà mổ mèo lấy cá đó. Cô cười giòn: Mày nói giống ông rồi đấy. Nhưng ổng sẽ thêm một câu: Em ra hỏi cả cái sân bay xem có ai là không biết tiếng em nữa không? – Vậy là chú còn thương cô? – Không biết nữa. Ly dị rồi. Mà thôi đi. À, mày có sợ không khi trong nhà này có đến ba người đàn ông? Dạ không – Ngà cười – Con là người tin Chúa, trong niềm tin của con thì chính Chúa đã cho con gặp cô chú. Chúa dẫn con đi và luôn ở bên con. Con chỉ việc sống thật tốt thôi. Vậy đó cô. – Ừ, tao nghĩ là mày đúng. Chúa của mày cũng đúng…

Nhìn cô một mình mỏi mệt lê bước trên cầu thang dẫn lên phòng, Ngà thấy thương chi lạ. Bên trong cánh cửa kia chắc chú cũng đang mệt mỏi cô đơn. Sao lại phải vậy nhỉ?

Ngà nhớ lại câu hỏi lúc nãy của cô. Em không sợ. Đúng vậy, có một niềm tin sắt đá trong em về Chúa, về mọi việc Chúa làm. Em tin Chúa luôn đúng. Thú thật, chưa bao giờ em mặc cả với chính mình hay để bản thân có giây phút hoài nghi về điều đó. Chúa luôn ở đó, em biết, giống như cây cột số chỉ đường.

Một buổi chiều, khi đã xong xuôi mọi việc, Ngà lên sân thượng thì thấy nhóc Ban đang ngồi trên ghế, hai tay chống cằm, nó đang phồng má giả làm một con cá. Trên bàn là một lô một lốc những sách vở, tài liệu, giáo trình ôn thi. Chán lắm hả? – Ngà hất mặt về phía nhóc, cười hỏi. Ừ, chán! Sao thế? Nếu là bài tập thì chị có thể giúp được em đó. Ha ha! Để xem chị thông minh sao nhé! Sẵn sàng! Gói mì tôm ngon nhất là…? Bao xúp! Ok, hai con mèo đi trước hai con mèo, hai con mèo đi giữa hai con mèo, hai con mèo đi sau hai con mèo, có tất cả bao nhiêu…? Bốn con mèo. Ok, vậy sao con mèo kêu meo meo thì gọi là con mèo, con chó sủa gâu gâu lại gọi là con chó? Ừ, thế sao lúc em vừa sinh ra, em khóc oe oe mà bố mẹ không đặt tên em là Oe Oe? Hay như giờ em là Ban, sao em không suốt ngày kêu ban ban đi? Tuyệt, hay quá chị!…

 Và sau đó là đủ mọi chuyện trên đời. Có chuyện ông thầy cứng nhắc, quan liêu ở trường: Chị biết không, em ngồi học ông mà ức chế… rồi không chỉ em mà còn nhiều thế hệ học trò tiếp nữa. Thật đáng thương! – Ừm, không biết lịch sử đi đến đâu rồi mà người ta vẫn còn dạy học y như cái thuở vua Hùng dựng nước vậy ha. Cơ mà khi đã chọn nghề giáo thì chị tin là họ yêu nghề, có chăng chỉ là do cái nhiệt huyết thời trai trẻ đã dần lùi vào một cái thời quá vãng xa xăm nào đó và đang-cần-ai-đó-giúp-họ-kéo-về? Ngà nhìn Ban, nó nghiêng nghiêng cái đầu, lại phồng má: Biết đâu?

Hai chị em đứng trên ban công, Ban chỉ về phía nơi gia đình nó trước kia đã từng sống một thời hạnh phúc, những tháng ngày mà nó nói – hạnh phúc nhất của cuộc đời nó… Ngà kể nó nghe về tuổi thơ và gia đình em, về căn bệnh của mẹ, đôi tay lở loét, ứa máu, đau đớn của ba vì xi măng ăn vào sau những ngày công thợ nề mệt nhọc, về giấc mơ chưa thành của em – Qua Tết này chị sẽ xin phép bố mẹ em để đi học buổi tối. Chị sẽ đi học tiếp và viết tiếp giấc mơ của mình. Em và chị, chúng ta cùng thắp lên ngọn lửa hy vọng nào! Nói rồi Ngà chạy xuống phòng, cầm lên một cây nến – Cầu nguyện cùng chị nha. Hai chị em ngồi xuống, Ngà làm dấu, Ban vụng về làm theo. Ngà cười: Em nói với Chúa… những ý nghĩ, nỗi buồn, ước mơ… mọi thứ nhé. Có một Đấng… là Chúa của chị… của cả em nữa… đang nghe. Như chị nè. Rồi Ngà cầu nguyện, tiếng  nói em ngắt quãng với những nặng lo, nỗi trống trải, bao xáo động, nghĩ suy…

Còn chú nhóc kia, sau một hồi loay hoay cũng bập bẹ được thành lời: Chúa ơi, con…

– Chúa không đáp lại chị nhỉ? – Ban mỉm cười nhìn Ngà.

– Ừ, Ngài im lặng. Nhưng em thấy gì nào?

– Tuyệt, chị ạ. Chúa im lặng, nhưng em vẫn cảm nhận được một sự hiện diện.

– Cảm giác của hai tâm hồn gặp nhau?

– Đúng! Tâm hồn em gặp Ngài. Em thấy lòng bình an lắm.

– Ơ chị ơi! Sao mình không làm vậy cùng với bố mẹ và anh Nam nữa nhỉ?

– Ơ, được không? Mà tại sao không chứ? – một ý tưởng lóe lên trong đầu hai đứa – Chúng ta phải chuẩn bị thế này…

Đêm ấy về phòng, Ngà lại thắp lên ngọn nến. Em nghe thấy tiếng thở đều đều từ sau những cánh cửa kia. Ngà nhìn lên Thánh Giá, nhìn vào bức thư… em nghe như giọng nói của ba mẹ nhẹ nhàng chảy qua tai “ước mong đời con là một tiếng yêu thương sống động dành cho Chúa, cho mọi người”. Em chọn là tiếng yêu thương cho gia đình này, vào lúc này, theo sự quan phòng của Thiên Chúa Tình Yêu. Em dâng cô chú cho gia đình Thánh Gia và cầu xin Chúa chúc lành cho những ngày tiếp theo, những ngày mà nhóc Ban gọi là triển khai kế hoạch.

– Tán thành! Anh đồng ý! – Nam nhìn hai chị em với đôi mắt rưng rưng. Vậy là đã có đồng minh, một sự bảo trợ chắc chắn! – Ban reo lên, Nam xoa đầu em – Ngốc ạ.

Những ngày đó, trong ngôi nhà đó, có rất nhiều tiếng cười vang lên. Và ngọn nến vẫn được thắp lên mỗi tối, với hai đứa trẻ, rồi thì ba đứa.

Ba con người trẻ, dùng mọi cơ hội để khiến cho hai người tuổi đã tứ tuần phải bật ra những nụ cười vốn dĩ còn đang bị trói. Và Nam đã thay Ngà làm cái công việc gọi chú xuống ăn cơm bằng cách bí mật lắp một cái loa nhỏ trong phòng bố với bộ điều khiển ở dưới phòng ăn. Trước giờ cơm, ba anh em tập trung, Nam tằng hắng giọng rồi nói vào bộ đàm: Bố! Bố! Tổng đài gọi bố! – Tổng đài gọi bố! – Ban lặp lại. Sau đó là giọng Ngà nghiêm trang: Dạ, con mời chú xuống dùng cơm.

Người đàn ông đi xuống, nhịn cười nhìn ba đứa trẻ với vẻ mặt gần như là sát nhân. Nam lại tằng hắng – Bố! Tổng đài muốn bố đi mời một người! – Xin chào! Tôi được lệnh hộ tống đồng chí – Ban nhanh tay kéo bố sang phòng bên, không quên liếc nhìn anh Nam lúc này đang chắp tay lại trước ngực. Vừa lúc nãy, Ban đã cầu nguyện rồi, em tin tưởng dẫn bố đi. Ở bên kia, Ngà đang thương lượng với cô về những gì sẽ xảy ra vào mấy giây tiếp đó.

– Lúc đó con chỉ sợ mẹ hét lên và đuổi cổ tất cả ra khỏi phòng – Nam cười nói.

– Con thì cầu nguyện Chúa cho bố im lặng và mẹ mỉm cười. Và đã xảy ra như vậy. Quá tuyệt vời bố mẹ ạ! – Ban reo lên.

– Được rồi. Mẹ xin lỗi ba bố con, vì giả như, mẹ có hay la hét như vậy.

– Và cô chú cảm ơn con, Ngà ạ. Cảm ơn con – Chú khẽ vỗ vào vai Ngà, chú cười, nụ cười hạnh phúc.

Đó là câu chuyện sau đó, của một đêm nào đó không có trong kế hoạch, trong phòng Ngà, dưới ánh nến và Thánh Giá, họ cám ơn Chúa, họ cám ơn nhau. Họ nói về gương mặt của Chúa trong cuộc đời của họ.

Ngà lặng lẽ mỉm cười. Khi con người ta có một niềm hạnh phúc quá lớn lao, lúc đối diện với chính mình, người ta chỉ biết cười lặng lẽ như vậy.

Ngà nhìn lên Thánh Giá rồi đọc lại bức thư… Ngà khóc… Tình Yêu ấy, ước nguyện ấy…  mãi cháy sáng trong em động lực để đi và đến.

  1. 12. 1992

Con ạ,

vào lúc chào đời:

mắt con nhắm chặt

miệng con khóc lớn.

Nguyện cho từng ngày sống trong cuộc đời

đầu con ngẩng cao

mắt luôn trong sáng

và miệng tươi cười

với mọi người mọi lúc.

Để khi mắt miệng nhắm và tay xuôi

thì cả đời con

toàn thân con

là một tiếng yêu thương sống động

dành cho Chúa

cho mọi người.

 

27.12.1992

Con ạ,

hôm nay con nhận lãnh Bí tích Thánh Tẩy

ba mẹ đặt tên cho con.

Mẹ con đặt tên con là Kim Nga

ba đồng ý

ba xin Mẹ Maria làm Bổn Mạng con

mẹ con nói: để con tự chọn ngày

ba bế con lên

nhìn con

và kể con nghe các danh hiệu Đức Mẹ:

Mẹ Thiên Chúa?

Mẹ Dâng Chúa trong Đền Thờ ?

Mẹ Thăm Viếng ?

Mẹ Lên Trời?

Mẹ Mân Côi?

Mẹ Vô Nhiễm?

Mẹ Maria Nữ Vương?

Mẹ Dâng Mình?

 Con vẫn nằm yên, hai mắt con cứ nhìn vào ba thôi.

Ba đưa mắt nhìn quanh nhà

rồi  dừng ở tượng Khổ Nạn

ba nhìn xuống con:

Mẹ Sầu Bi?

Con liền mở miệng cười tươi

hai mắt con long lanh ánh lên tia hạnh phúc

nụ cười tươi thắm đầu tiên trên môi con

là dâng cho Mẹ Sầu Bi

dưới chân Thánh Giá.

Mẹ con bế con từ tay ba

 mẹ nhìn con

và miệng mẹ nói với ba:

Vậy tên con không còn là Nga nữa

nhưng là Ngà

thêm một dấu huyền

một nét mác

một nét bình

an yên

gom về

lặng thầm

sâu sắc.

Không còn là Kim Nga

con là Ngà, Thị Ngà

con nhé!

Mã số: 16-136

LINH MỤC ĐIÊN

 

Thời gian vùn vụt tựa bóng câu, điều gì Chúa muốn Ngài ắt thực hiện.

Chuỗi ngày tu luyện trong chủng viện kết thúc. Thầy Lộc ung dung trở về giáo phận với số điểm cao nhất khóa. Trong khi đó, các giáo sư lắc đầu ngao ngán về bài luận của thầy Hoàng. Sửa đi sửa lại trầy trật, cuối cùng thầy Hoàng cũng có một bài luận tạm gọi là ổn với số điểm trung bình.

            Đức Giám mục quyết định đặt tay truyền chức linh mục cho thầy Hoàng và các thầy cùng lớp. Vì là anh em linh tông nên sau khi thụ phong, cha Hoàng và cha Lộc được sai về giúp cha cố một năm nữa để có thêm kinh nghiệm mục vụ.

            Sau một năm làm cha giúp, Đức Giám mục bổ nhiệm các cha đi làm cha xứ. Cha Hoàng đi coi một xứ miền quê còn cha Lộc về coi một xứ lớn nằm giữa thị trấn. Hai xứ cách nhau chừng hơn chục cây số nên thỉnh thoảng, cha Lộc lại tới thăm cha Hoàng. Mỗi dịp như thế hai anh em lại thức thâu đêm hàn huyên tâm sự.

            Từ nhỏ, cha Lộc đã hiện rõ là một người tràn đầy năng lực. Nay Chúa thương chọn làm linh mục, cha càng có điều kiện để phát huy khả năng vốn có. Với tính cách lanh lẹ, hoạt bát cha Lộc nhanh chóng bắt kịp đời sống của giáo xứ nên giáo dân yêu quý và chiều chuộng. Đặc biệt, Chúa cho cha khả năng giảng thuyết hấp dẫn. Ngoài chuyện giảng Lễ cuốn hút, cha Lộc còn rất quan tâm đến việc kiến thiết cơ sở hạ tầng. Ở xứ chưa đầy bốn năm mà cha đã xây được một nhà thờ và hai nhà nguyện, mua sắm sửa sang nhiều công trình. Thế nên, Đức Giám mục chỉ định cha Lộc làm cha linh hướng cho cộng đoàn Lòng Chúa Thương Xót trong toàn giáo phận. Được trao bổn phận mới, cha Lộc như hổ mọc thêm cánh, cha thường xuyên đi dâng Lễ khắp nơi trong giáo phận. Cuối năm trước, cha Lộc tậu ngay chiếc xe bóng nhoáng gần tỉ rưỡi bạc.

            Trong khi đó, cha Hoàng lại trầm ngâm ít nói. Ngài không có khả năng giảng thuyết và cũng chẳng có tài xây dựng. Vì thế, giáo dân hay so sánh ngài với các cha khác. Nhiều người cay nghiệt gọi cha là linh mục trẻ nhiều tuổi. Không có khả năng giảng và xây nhà thờ, Chúa lại bù cha Hoàng trái tim rộng mở. Chiều chiều, cha Hoàng bách bộ tới thăm từng gia đình trong giáo xứ. Những người lương dân trong vùng đều biết và quý cha lắm. Đặc biêt, cha Hoàng được ơn riêng trong bí tích hòa giải. Cha tận tình khuyên bảo hướng dẫn hối nhân. Ai đến xưng tội với cha khi về đều cảm thấy an yên. Cha Hoàng dành riêng ngày thứ sáu để giải tội cho giáo dân. Ban đầu giáo dân chưa quen, chẳng có người cha Hoàng vẫn kiên trì ngồi tòa chờ đợi. Về sau thành nếp cứ thứ sáu, giáo dân lại thu xếp rủ nhau đi xưng tội. Người trong giáo xứ rỉ tai nhau, giáo dân các xứ lân cận cũng kéo đến xưng tội “ké”. Rồi những người lương dân cũng kéo đến xin xưng tội với cha, xin cha khuyên bảo. Người ta thường xuyên bình luận về cha Hoàng. Mấy năm về đây, ông cha Hoàng không xây được cái nhà thờ nào, chẳng có bài giảng nào ra hồn nhưng ai cũng muốn xưng tội với ông, cũng có hơn hai chục người gia nhập đạo. Kể cũng lạ.

            Vào buổi sáng đầu đông se lạnh, cha Hoàng tản bộ trong khuân viên nhà xứ. Cha vừa đếm những chiếc lá rơi, miệng vừa lẩm nhẩm lần hạt. Điện thoại kêu, số điện thoại lạ hoắc. Bên kia giọng một người phụ nữ vang lên.

– Alo… Cha Hoàng đấy ạ…

– Phải rồi! Xin lỗi ai vậy ạ…

– Dạ. Con là Hồng, bạn của cha Lộc. Cha Lộc cho con số điện thoại của cha.

– Chào chị Hồng. Chị có chuyện gì mà lại gọi cho tôi vậy.

– Thưa cha. Qua cha Lộc, con biết cha đang coi ở mộ xứ nghèo đường xá khó khăn. Vợ chồng con được Chúa thương cho của ăn dư giả nên con muốn giúp cha một số tiền để cha mua ôtô đi lại cho tiện…

– Dạ cảm ơn chị… tôi… tôi không biết lái xe với lại…

– Không sao cha ơi, con sẽ giúp cha thi bằng lái xe, lái xe dễ lắm…

– Nhưng…

– Không nhưng gì hết, cha cứ nghe con. Thế cha nhé. Con sẽ gửi tiền cho cha.

– Vậy chị để tôi suy nghĩ đã. À không. Chị có thể giúp tôi việc khác được không.

– Việc gì vậy cha. Con sẽ giúp nếu có thể.

– Chị có thể mà. Tôi đang muốn xây dựng một ngôi nhà tình thương, vậy chị có thể lấy số tiền cho tôi mua xe để giúp tôi mua đất cất nhà được không?

– Ôi! Lạy Chúa. Con chẳng thấy ai hâm như cha. Ôtô không muốn mua lại đi xây nhà tình thương. Nhưng không sao, con thích cái hâm của cha. Con sẽ giúp cha. Con sẽ gặp cha vào một ngày gần nhất.

– Vậy cảm ơn chị trước. Hôm nào rảnh, mời chị qua nhà xứ tôi chơi.

– Dạ vâng con chào cha…

Tiếng loa điện thoại vừa dứt mà lòng cha Hoàng nở tràn niềm vui. Ước nguyện bao năm nay của cha giờ bỗng dưng Chúa thương nhận lời bất ngờ đến thế. Đúng là, kẻ Chúa thương dầu có ngủ/ người vẫn ban cho đủ tiêu dùng.

Chẳng bao lâu sau nhờ sự giúp đỡ của vị ân nhân tên Hồng bạn cha Lộc, cha Hoàng đã mua được đất rộng gần năm ngàn mét cách nhà xứ hơn một cây số. Cha cho xây hai dãy nhà cấp bốn, mỗi dãy năm gian. Nhà cửa ổn định cha đi mời những người không có nhà cửa đến ở, không phân biệt người lương người giáo. Lúc đầu, thấy cha làm như vậy nhiều người có cả giáo dân ra mặt phản đối, có người ác mồm ác miệng bảo cha là đồ điên. Những người nghèo được cha mời nghi ngại không dám đến. Cha Hoàng buồn lắm, nhưng cha biết việc của Chúa ắt Chúa sẽ làm. Thế rồi, cũng có gia đình đến xin ở nhờ nhà tình thương của cha. Đó là mẹ con Huy. Bố Huy bị chết đuối từ hồi Huy còn đỏ hỏn. Mẹ Huy ở vậy tần tảo nuôi con ăn học. Huy thương mẹ, chăm chỉ học hành. Nhưng cuộc đời chớ chêu. Khi Huy đang học mười hai, mẹ Huy bị tăng huyết áp rồi tai biến nên liệt nửa người. Huy phải bỏ học để chăm sóc mẹ. Để chữa trị cho mẹ, Huy phải ngậm nước mắt bán đi căn nhà và toàn bộ ruộng đất. Đang êm ấm bỗng dưng trở thành vô gia cư, Huy không biết phải đưa mẹ đi đâu thì cha Hoàng tới mời hai mẹ con về ở nhà cha. Hai mẹ con là người ngoại đạo nhưng vốn đã nghe biết về cha Hoàng. Đang buồn ngủ gặp chiếu manh, ngay hôm sau Huy đưa mẹ và dọn đồ tới nhà tình thương của cha Hoàng.

Huy nhanh nhẹn, tháo vát giúp được cha Hoàng rất nhiều việc. Cha Hoàng thương Huy phải bỏ học dở chừng. Năm sau, cha tìm người đỡ đầu giúp Huy đi học trở lại. Thật không may, ở chưa được bao lâu, mẹ Huy tái bệnh hôn mê sâu phải đưa ra bệnh viện trung ương cấp cứu. Bác sĩ bảo, muốn giữ mạng sống và hồi phục được phải chồng ra ba trăm triệu. Huy lặng người đi, cậu gọi điện cho cha Hoàng đến đón và lo giúp hậu sự cho mẹ. Cha Hoàng hiểu chuyện, khuyên Huy bình tĩnh chờ cha đến. Cha Hoàng chạy xe máy tới, trên tay cầm một bọc ni-lông đen ngòm vuông vắn. Cha đưa cho Huy và bảo, tiền đây con, con an tâm chữa bệnh cho mẹ nhé. Sau này, khi có tiền con trả cha sau cũng được…

Đón mẹ Huy từ viện trở về, cha Hoàng quyết định giao cho Huy đứng tên toàn bộ mảnh đất đó. Thấy mẹ Huy được cứu và sống vui vẻ, nhiều người trước đây từ chối lời mời của cha Hoàng chạy đến xin cha được vào ở đó. Cha Hoàng vui vẻ nhận lời không từ chối một ai. Người ở càng ngày càng đông, mỗi ngày cha Hoàng phải đến đó thu xếp, dọn dẹp, nấu nướng và tắm rửa cho những người bất toại. Khi mọi việc đã ổn định, cha mời sơ bề trên cho các sơ đến giúp. Thấy cha Hoàng có tấm lòng rộng mở, sơ bề trên chẳng có cách gì từ chối.

Mọi việc tưởng như đang tiến triển tốt đẹp thì bỗng nhiên một cú sét giáng xuống đầu cha Hoàng. Giữa buổi trưa hè oi bức, Huy kéo theo một nhóm người lạ mặt về phá tan hoang tường rào nhà tình thương và đuổi hết những người đang ở đó. Ông trùm chạy đến xem xét thì bị túm cổ đánh dúi dụi. Huy không nói lời gì, cứ đứng thẫn thờ, trên khuân mặt cậu có những vết tím bầm do ai đó đánh.

Cha Hoàng đành bất lực. Mọi giấy tờ đều nằm hết trong tay Huy. Nhà đất đều là của cậu ta, cha Hoàng chẳng có quyền hành gì trên đó. Mãi sau này, người ta mới biết đó là một cái bẫy, Huy cũng chỉ là nạn nhân mà thôi. Khi đi nộp hồ sơ thi đại học, Huy bị người ta ép ký vào một tờ đơn tố cáo cha Hoàng. Huy không chịu ký, và họ bắt trói Huy và tra tấn cậu dã man. Biết cậu là người đứng tên nhà đất, họ đưa cậu về đó làm bình phong để phá tan ngôi nhà tình thương của cha Hoàng.

Từ hôm nhà tình thương bị phá tường, cha Hoàng suy sụp hoàn toàn. Cha không kịp định hình xem chuyện gì đang xảy ra. Cha Hoàng cũng không đi đâu được xa vì cứ ra khỏi nhà xứ là lại có mấy người bám đuôi. Biết chuyện, cha Lộc đến đến động viên cha anh nhưng khi về cũng gặp biết bao chuyện khó dễ.  Cha Hoàng bị cách ly, không ai dám đến gần, nhà xứ thành nơi nội bất xuất ngoại bất nhập, nhà thờ không có người đến đọc kinh, không có Thánh Lễ. Không đi đâu được, cha Hoàng dành thời gian lần hạt xin Đức Mẹ phù trợ. Cha nhớ về biến cố gặp Đức Mẹ trong mơ. Cha cứ ngẩn ngơ đếm từng chiếc lá rơi rồi lại lẩm nhầm đọc kinh lần hạt. Có mấy người thân tín với cha, thỉnh thoảng lén đến thăm và tiếp tế thực phẩm cho cha thấy cha như vậy họ buồn lắm. Họ về kể với mọi người về hoàn cảnh bi đát của cha. Chẳng hiểu nguồn ra sao mà bỗng dưng trong vùng đồn cha Hoang bị điên, ngày nào cũng ra sân nhặt lá rồi lẩm nhẩm đọc linh tinh.

Mấy hôm sau, một toán giáo dân họ lẻ mà cha Hoàng coi sóc kéo đến nhà xứ. Họ đến để tra vấn cha Hoàng về số tiền ba trăm triệu Tòa Giám mục giúp đỡ giáo họ ngôi nhà thờ đang dang dở. Cha Hoàng buồn lắm, cha mời họ về chờ cha bình tâm rồi mới trả lời. Nhưng họ không đồng ý, họ tổng sỉ vả cha Hoàng một trận thậm tệ. Họ chửi cha là đồ điên, đem hết tiền xây nhà thờ cho gái, xây nhà cho gái ở, giờ không có tiền chu cấp nữa nên bị thằng con phá tan hoang nhà cửa. Cha Hoàng không nói được gì nữa, cha quá bất ngờ, cha chỉ biết quỳ sụp trước tượng Đức Mẹ. Sỉ vả cha Hoàng chán chê, họ kéo nhau lên ôtô đang chờ sẵn chạy thẳng ra Tòa Giám mục để đâm đơn tố cáo cha Hoàng.

Cha Hoàng ở lại thui thủi một mình. Cha nhìn lên tượng Đức Mẹ. Trong suốt cuộc đời, chưa bao giờ cha cảm thấy buồn và thất vọng đến vậy. Người đời có thể chửi cha đủ thứ, thậm chí có thể đánh cha, giết cha, nhưng còn gì đắng cay cho bằng những lời nhục mạ, xúc xỉa lại được thốt ra từ miệng những giáo dân mà hàng ngày cha vẫn đến cho hiệp lễ. Cha thấy đời tu, sao rẻ mạt thế, sao trái ngang thế, sao đắng cay thế. Nhà thờ hôm nay không xây, ngày mai có thể xây nhưng mạng người không cứu ngay thì chẳng còn có cơ hội để cứu nữa. Thoáng phút chốc, cha ngẩng lên nhìn về phía Đức Mẹ. Hình như mắt Mẹ đang chảy xuống hai hàng máu đỏ tươi. Cha Hoàng chợt nhớ về lời Đức Mẹ dặn dò trong giấc mơ. Cha thiếp ngủ bên chân Mẹ.

Sau khi biết mọi sự xảy ra với cha Hoàng và giáo xứ, ngay lập tức Đức Giám mục giáo phận cho người cùng với cha Lộc đến đón cha Hoàng về Tòa Giám mục. Cha Hoàng vừa gặp cha Lộc mà lòng vừa mừng, vừa tủi. Cha òa khóc như một đứa trẻ.

***

…Hoàng thấy cánh đồng hoa hồng mênh mông phủ đầy những bông tuyết trắng. Cậu thả mình theo những cánh bướm đang đùa giỡn trong gió sớm. Những nàng bướm dịu dàng trong bộ cánh vàng óng ánh tung tăng múa lượn. Ông mặt trời nhô lên, ánh sáng tỏa lan cả vùng trời phía đông. Một cơn gió mạnh từ phía mặt trời quất vào mặt Hoàng. Hoàng co người, da gà nổi lên. Cơn gió cuốn theo đám lá khô nghe xào xạc. Đàn bướm đang tung tăng bỗng bị hút vào đám lá. Tất cả tạo nên một chiếc vòi rồng khổng lồ lượn khắp cánh đồng hoa hồng. Chiếc vòi rồng đột ngột dừng lại trước mặt Hoàng. Nó cắm sâu vào luống hoa, tỏa ra một lớp sương trắng xóa. Đám sương tan đi, một người phụ nữ mặt sáng chói lòa hiện ra. Tà áo dài bà mặc được dệt vàng óng ánh. Trước luồng sáng rực rỡ, mắt Hoàng bị lóa không còn nhìn rõ sự gì. Cậu cúi gập người xuống, lấy tay che mắt. Người phụ nữ nở nụ cười phúc hậu. Hoàng từ từ ngẩng đầu lên. Hoàng thấy trên tay bà đang bế một đứa trẻ hình cột lửa sáng rực. Hoàng hoảng hốt. Cậu thấy toàn thân mình nóng ran như có lửa vây đốt. Chân tay cậu run, môi miệng lập cập. Cậu quỳ sụp xuống, giọng thều thào không ra hơi: “Tấu lạy bà… bà… bà đầy ơn phúc…”

Người phụ nữ vẫn cười hiền hậu. Đứa con hình cột lửa bà bế trên tay bỗng chốc tan biến đâu mất. Người phụ nữ đưa đôi tay về phía Hoàng và cất lời: “Đứa con bé bỏng của ta ơi! Hôm nay, ta đến thăm con. Ta biết con có lòng sùng mến chuỗi Mân côi. Vì thế, ta ban tặng cho con một chuỗi Mân côi được kết bằng những sợi tơ vàng của đàn bướm, trên đó có gắn năm mươi chiếc lá và năm bông hoa hồng. Từ nay, con hãy chăm chỉ lần chuỗi Mân côi. Và con hãy nhớ khi thấy một chiếc lá rơi, con phải âm thầm đọc một Kinh Kính Mừng thật sốt sáng. Mỗi chiếc lá ấy như là một linh hồn trong luyện ngục đang chờ con cầu nguyện. Con phải nhớ thực hành lời ta dặn. Ta sẽ đồng hành cùng với con…”. Người phụ nữ tiến sát lại Hoàng. Hoàng cảm thấy sức nóng từ người phụ nữ phát ra như khiến cậu tan chảy. Cậu ấp úng không nói nên lời. Người phụ nữ cúi người, khoác lên cổ hoàng…

…Hoàng giật mình tỉnh giấc. Mồ hôi toàn thân toát ra đâm đìa như tắm. Nhìn sang giường bên, Hoàng thấy Lộc đang ngáy khò khò. Ngay lập tức, Hoàng bật dậy khỏi giường. Cậu tức tốc chạy ra vườn. Cậu hái tất cả những bông hoa hồng trong vườn. Cậu tước một sợi dây bằng tơ chuối rồi tỉ mỉ sâu những chiếc lá và cánh hoa hồng lại với nhau. Cậu chạy đến bên tượng Đức Mẹ. Cậu đặt tràng hoa lá dưới chân Mẹ. Cậu quỳ bên Mẹ và cầu nguyện.

Sáng sớm, mặt trời nhú ra khỏi đám manh lanh lảnh trắng. Từ trong nhà xứ, Lộc vừa ngáp vừa hỏi: “Đại ca khỏi ốm rồi sao, cha cố bảo đại ca vào ăn bát cháo nóng cho chóng lành bệnh”. Hoàng đi cùng Lộc vào bếp mà tâm hồn cứ rạo rực như có lửa đốt. Chiều tà, cậu chạy ra tượng Đức Mẹ để lần hạt. Lần hạt xong, cậu xin Đức Mẹ tràng hoa lá đem về phòng treo. Kể từ đó, cậu coi chuỗi hoa lá đó như bảo bối bất khả phân ly. Dù đi tới đâu, cậu cũng đem theo nó để mỗi khi buồn cậu lại đem nó ra ngắm nghía rồi mỉm cười.

*

Đang say mê lần chuỗi Mân côi, cha Hoàng giật thót mình vì tiếng gọi của cha chánh văn phòng: “Thưa cha! Đức cha muốn gặp cha gấp”. Cha Hoàng gật gật cái đầu và thưa: “Cảm ơn cha, con sẽ lên ngay”.

Phòng của Đức Giám mục nằm ở cuối hành lang tầng hai. Căn phòng cũ kĩ, không có nhiều đồ đạc, không có điều hòa, không có tủ lạnh. Cha Hoàng lấy hết sức bình sinh ngồi thật nhẹ xuống chiếc ghế mây được kê sát chiếc bàn gỗ nứt nẻ. Chiếc ghế õng ẹo, đu đưa như chiếc võng. Đức cha từ tốn rót ly nước mời cha Hoàng. Đức cha là người trầm tính lại sống khó nghèo nên đâm ra ít nói. Người ta bảo Ngài là con lai vì có đôi mắt xanh và mái đầu hói trắng.

– Cha có khỏe không? – Đức giám mục lên tiếng hỏi cha Hoàng.

– Dạ thưa Đức cha! Con vẫn khỏe. – Cha Hoàng từ tốn trả lời.

– Mời cha uống nước đi, nước lọc thôi. Cha nghĩ sao khi người ta bảo cha bị điên ? – Đức cha hỏi xong mà đôi mắt xanh trầm chậm buồn.

– Dạ thưa Đức cha! Con chẳng nghĩ gì cả vì con không bị điên hoặc con có bị điên thì cũng chỉ là điên trong Đức Ki-tô mà thôi. – Cha Hoàng dõng dạc trả lời.

– Vậy thì tốt rồi! Tôi chỉ cầu mong cha luôn bình an. Kể từ nay, cha sẽ ở lại Tòa Giám mục dưỡng bệnh. Mỗi sáng cha qua đây dâng lễ cùng tôi. Tôi biết cha rất siêng năng lần hạt nhưng thế là chưa đủ, bắt đầu từ thứ hai tuần sau, mỗi ngay cha sẽ phải ngồi Tòa giải tội ít nhất là sáu tiếng. Còn nữa, số tiền ba trăm triệu xây nhà thờ kia đã có người giúp cha rồi nên cha an tâm. Vậy cha có đồng ý không.

– Lạy Chúa! Con tạ ơn Chúa cám ơn Đức cha. Con lại làm phiền Đức cha và giáo phận rồi. Con xin vâng theo mọi sự sắp xếp của Đức cha.

– Vậy thì tốt rồi! Cha cứ về phòng nghỉ ngơi, có gì tôi và cha sẽ trao đổi thêm.

– Dạ. Vâng. Con cảm ơn Đức cha. Con chào Đức cha.

Cha Hoàng trở về phòng với đôi mắt ngấn lệ. Cái cảm giác bâng khuâng vừa vui vừa buồn xen lẫn nhau. Cha vui vì Đức cha đã hiểu và tháo gỡ khó khăn nhưng lại buồn vì đã làm phiền giáo phận. Cuộc sống luôn là vậy. Khi ta cố gắng giúp đỡ người này thì chắc chắn sẽ làm ảnh hưởng đến không ít người khác. Chẳng thế mà người ta vẫn thường nói “một người làm thánh, cả họ tử đạo”.

Chiếc điện thoại đen trắng nằm trên cuốn sách “Đường Hy Vọng” đang rung lên bần bật. Cha Hoàng đeo kính cẩn thận rồi nhẹ nhàng cúi xuống cầm chiếc điện thoại lên xem. Đầu dây bên kia, tiếng cha Lộc lanh lảnh vang lên:

– Bác làm gì mà em gọi cả chục cuộc không được.

– Ờ… mình… lên gặp Đức cha, bỏ máy ở phòng…

– Úi trời! Đúng là ông già thánh thiện. Chắc Giám mục lại bảo ở đó dưỡng bệnh hả…

– Sao cậu biết…

– Thì ai mà chả biết. Mỗi bác không biết thôi. Giờ ai cũng bảo bác bị điên thì ai dám cho bác đi giữ xứ nữa. Bác cứ ở đó mà lần hạt đi. Bảo mãi không chịu nghe.

– Cậu đừng nói chuyện này cho cha cố biết nhé.

– Ui… dào… Cha cố biết rồi! Ngài bảo mọi chuyện phải thế thôi… Mà em gọi bác có chuyện gấp… suýt quên…

– Có chuyện gì vậy cha nói đi…

– Ừ chả quan trọng lắm đâu. Mẹ của thằng Huy trời đánh thánh vật ấy giờ bệnh cũ tái phát đang nằm trong viện. Nó muốn gặp bác…

– Vậy sao cha Lộc. Mẹ của Huy nằm ở đâu. Tôi sẽ đến đó ngay.

– Thì vẫn ở chỗ cũ thôi.

– Vậy được. Cảm ơn cha. Tôi sẽ đến đó. Có gì tôi sẽ gọi cho cha sau.

Chiếc xe bóng nhoáng của cha Lộc chạy vù vù trên đường cao tốc. Cha Lộc mới bán chiếc xe cũ một tỉ để thêm tiền mua chiếc xe hơn hai tỉ này. Đây là lần đầu tiên cha Hoàng được ngồi lên chiếc xe mới kính coong của cha Lộc. Cha Lộc chậm giãi đạp chân ga, chiếc xe lao vun vút băng qua các hết tất cả các loại xe cộ. Khi thấy đường quang vắng, cha Lộc chậc lưỡi rồi như trách cha Hoàng.

– Em đã bảo bác rồi! Làm linh mục thì chỉ cần giảng Lễ hay và xây nhà thờ to là được. Bác ái thì đã có người khác lo, can chi đến bác. Mà mẹ con cái thằng Huy giời đánh đó, bác kệ mẹ nó đi… quan tâm làm gì.

– Chú khác – tôi khác. Tôi không thể dửng dưng như chú. Tôi không thể cứ đi dâng Lễ khắp nơi rồi vào nhà đại gia chơi để kiếm phong bì như chú được…

– Thôi ông già im đi. Ông già thánh thiện thì ai chẳng biết. Đến cả cái xe máy cha cố mua cho mà ông còn đem bán để lấy tiền cho mẹ của cái thằng giời đánh thánh vật chữa bệnh nữa thì cả thế giới chịu ông rồi. Số tiền ba trăm triệu để xây nhà thờ ông đem cho mẹ con nó vẫn chưa đủ sao. Nó hại ông thân tàn ma dại biến ông thành “Linh mục điên” như vậy mà ông vẫn chịu được sao. Hay ông già bị điên thật rồi…

– Tôi bị điên đấy. Nhưng là điên trong Đức Ki-tô. Chú hiểu không. Nếu chú cảm thấy phiền vì phải đưa tôi về thì chú cho tôi xuống đây. Tôi tự đi bộ về được.

– Thôi ông già ngồi im đi. Ông già điên vừa thôi. Vừa nói thế mà đã điên ngay được rồi. Ngồi im thằng em này đưa về.

– Ừ. Kể ra trong cõi đời này, ngoài cha cố ra chỉ còn có cậu là người hiểu và quan tâm tôi nữa thôi. Xin lỗi chú.

Chiếc xe bóng nhoáng lao vút vào sân Tòa Giám mục. Bánh xe cuộn chặt đám lá thu rồi kéo đi. Những chiếc lá bị một lực mạnh ép chặt đột ngột rít lên những tiếng thảm thiết. Cánh cửa xe chầm chậm mở ra, cha Hoàng từ từ bước xuống. Cha Lộc cũng xuống xe, tiến lại bắt tay ông anh của mình và căn dặn.

– Em về, bác nhớ giữ gìn sức khỏe. Có gì cứ gọi em, em đến ngay.

– Cảm ơn chú. Chú về đi, tối còn đi dâng Lễ. Đi chậm thôi, đường tối có nhiều sương mù đấy. Cẩn thận đừng chủ quan, giờ có tuổi rồi đừng nghĩ mình là thanh niên.

– Thôi con chào ông già lẩm cẩm con về. Lần nào cũng nhắc nhở linh tinh. Ở đây ngoan, giám mục còn cho đi giữ xứ…

Cha Lộc lên xe, tiếng sập cửa vào nghe rất thanh và êm. Cha Lộc nổ máy, chiếc xe rít lên rồi lao đi như tên bắn. Một đám lá sấu bật tung đan cuốn lấy bụi quất thẳng vào người cha Hoàng. Cha nhắm chặt đôi mắt và đưa tay đón lấy đám lá đang tung bay. Cha nắm chặt những chiếc lá trong tay, đi thẳng tới linh đài Đức Mẹ. Cha đặt toàn bộ giấy tờ nhà tình thương mà Huy vừa trả lại cha dưới chân Đức Mẹ và cứ ngồi đó lần hạt suốt hồi lâu. Có mấy người phụ nữ đi tập thể dục ngang qua thì thầm với nhau “hình như đó là ông linh mục điên thì phải?”.

Mã số: 16-137

GÃ ĐIÊN CHỈ NÓI QUO VADIS*

Lùi, lùi, lùi nữa…       

Hắn vừa cười vừa lấy tay chỉ lên trời, đấm đấm vào khoảng không. Trên mặt hắn mũi dãi lòng thòng. Đám trẻ con xúm xít reo hò inh ỏi: “Thằng dở, thằng dở, thằng dở!”. Hắn lùi mãi rồi trụt xuống cái ao nồng nặc mùi nước thải gần đó.

Hắn không vội lên bờ mà cúi xuống ngậm một ngụm nước, tay vỗ mạnh xuống làn ao đầy váng màu nâu đục đang loang rộng ra rồi lại cười, ho sặc sụa. Từ đàng xa, mấy con chó ngúng nguẩy đuôi, xô lại sủa rất hăng.

Lúc sắp ngã xuống ao, hắn mặc hai mươi ba cái quần với tám cái áo. Nhìn người hắn căng phồng trông như được bơm hết cỡ vậy. Với cây đòn tre đã khô, gồng gánh nào túi bóng, cốt ngô, giẻ lau đi khắp.

Cũng thời gian ấy, Mọi người trong ngôi làng ấy đang xì xào về chuyện cô gái nọ ngày càng xanh xao, gầy rộc đi. Ai cũng thấy lạ.

Điều lạ nữa. Cái bụng cô gái ngày càng to dần ra, khuôn mặt cô bé trở nên lờn lợt dần.

Thỉnh thoảng, cô khóc ré lên như một người điên ngỡ mình là con lợn bị chọc tiết. Cô bé giãy giụa, lấy tay đập đập vào bụng.

Hắn lử đử bước đi và vẫn cười huyên náo cả một góc làng, thỉnh thoảng rú lên mấy tiếng: Quo Vadis, Quo Vadis, Quo Vadis…

Tiếng chuông nhà thờ vẳng lên báo hiệu mười hai giờ trưa. Hắn lại tìm đến phía đó. Tiếng cười khản cả giọng của hắn dường như chẳng còn ai nghe rõ nữa. Hắn đã đứng dưới chân tháp chuông và không còn cười nữa. Hắn ngước nhìn lên cây thánh giá rồi khẽ gạt hai giọt nước trên má.

Ở góc phía ngoài gian cung thánh, cô gái ấy cũng đang cào cào bờ tường. Bàn tay lấm luốc xước sát rỏ cả máu.

Quo Vadis, Quo Vadis, Qua Vadis. Hắn lặp đi lặp lại từ đó. Đám đông nhìn trong ngơ ngác. Họ xích lại gần hơn nhìn hai con người mất trí này.

Bất chợt cô gái đập đầu vào tường, khuỵu xuống và xỉu đi. Hắn lao đến trước tiên đỡ cô gái dậy. Mọi người nhao nhao xúm lại đưa cô gái đi viện. Họ tính sau khi chữa lành vết thương ở tay cô và thay bộ quần áo cho hắn, sẽ đưa cả hai vào bệnh viện tâm thần.

Trong phòng cấp cứu, nạn nhân có gì đó không bình thường khi liên tục nổi lên một hòn di động trên bụng. Các bác sĩ tiến hành chụp cắt lớp não và siêu âm vùng bụng của cô gái. Họ không thể xác định nổi những hình ảnh lạ lùng. Kinh nghiệm mấy chục năm của vị bác sỹ già nhất vẫn khiến ông dụi mắt liên tục vì bệnh nhân này.

Lọn tóc mềm của cô gái vắt lên ngực. Cô đang nhắm mắt nhưng vẫn có hai dòng nước nhỏ chảy về phía tai. Ở bên ngoài, hắn vẫn lếch thếc dọc hành lang ngóng vào. Mọi người ở đó không còn nói một câu nào.

Căn phòng bỗng trở nên sáng hơn.

Cô đang mơ màng tới hình phạt dưới nơi luyện ngục khi vẫn đang quỳ gối khóc than cho số phận lúc còn sống. Một bóng người từ đàng xa chìa một bàn tay ngửa lên trời gọi tên cô bé. Trên nền tuyết trắng mênh mông có hai hàng vết trũng của đầu gối lê đi.

– Queeeeng…

Vị bác sĩ già lùi lại một bước, tay ông quờ quạng xung quanh, môi mấp máy điều gì đó. Chiếc hộp đựng dao kéo mổ vừa ụp xuống vì hành động của ông.

Giữa hai khe đùi của cô gái đang có một mẩu thịt sần sùi toài ra ngoài cùng với máu. Mẩu thịt ngo ngoe như cố rướn ra rồi lại dừng lại, nó hươ hươ rồi gục xuống tấm khăn trải giường, nó ngoặt ngoẹo một lát rồi bập cái đầu dẹt dẹt lên phía bụng của cô. Cứ thế phần trong của nó cứ tuôn ra như được ai đó kéo dần dần vậy.

– Lạy trời! Một con đỉa khổng lồ. 

Ai đó hét toáng lên. Cái mẩu thịt đầy gai trên lưng kia vẫn nhoi nhoi như con sâu đo gang vậy. Thân nó phủ khắp trên bụng và ngực cô gái tội nghiệp. Xung quanh, các y tá và bác sĩ há hốc mồm, họ đang giữ áo nhau để quan sát bỗng tất cả ngã xô vào nhau khi có hai người ngất xỉu đi.

Mọi người trong phòng tớn tác chạy quanh. Vị bác sĩ già nhấc con đỉa đặt lên bàn cân trẻ sơ sinh, mũi kim chỉ gần tới vạch hai kilogam. Cánh cửa phòng bật tung, một y tá chạy ra ngoài thông báo thông tin cho những người hiếu kỳ đang thấp thỏm chờ bên ngoài.

Hắn vẫn cười rũ rượi. Vừa biết được tin ấy, hắn khụy chân xuống, nằm úp xuống đất lăn tròn mấy vòng rồi ngửa mặt lên trời, hét lớn: Đây mới chính là sự thật, Quo Vadis, Quo Vadis, Quo Vadis. Hắn nhảy vào ôm lấy cô gái, cả hai cùng khóc.

      * tên 1 tiểu thuyết của  Henryk Sienkiewicz                       

Mã số: 16-138

QUO VADIS ?

 

(Truyện được viết theo thông tin trong Tân ước

 và sử liệu về Thánh Phê-rô khi trốn khỏi Rome

 vào khoảng thời gian từ năm 64-67,

 gặp Chúa hiện ra trên đường, hiểu được Thánh ý Chúa

 nên quay trở lại Rome, bị giam trong ngục

 và chịu đóng đinh ngược, tử đạo)

Màn đêm đã buông xuống quảng trường Campodoglio, đồi Palatino xa xa chìm dần trong sương đục. Dưới ngục Mamertina, một người đàn ông râu tóc xoắn, trán cao cương nghị đang ngồi tựa vào vách đá, lặng thinh ngắm mảnh trăng xanh xao yếu ớt qua ô cửa nhỏ trên cao. Bên phải ông, một người lính gác ngồi xếp bằng, lưng hơi cúi xuống, bưng chiếc bình sành rót đầy bát nước, kính cẩn mời người đàn ông.

– Thưa cha, vì sao cha đã đi khỏi rồi lại quay trở về thành?

Người đàn ông nhìn anh lính gác, ánh mắt nhanh nhẹn và hiền từ.

– Processus, sao ngươi muốn biết?

– Con muốn biết sức mạnh nào đã đưa cha quay lại đây, chấp nhận chịu tống giam đày đoạ trong nhà ngục kinh khủng này, và có thể phải chịu chết.

– Không. Ta không phải về đây để chịu chết. Ta về đây để được sống.

– Đây là nơi nào cha biết chứ. Làm sao như vậy được, thưa cha?

Người đàn ông mỉm cười, đặt tay lên vai người lính gác.

– Processus, ngươi đang chết mà tưởng đang sống, ngươi có cõi sống đời đời mà ngươi lại nghĩ rằng đó là cõi chết.

Người lính gác tròn xoe mắt ngạc nhiên, sững sờ.

– Đã nhiều lần ta nói với ngươi về Thiên Chúa của chúng ta. Ta đã được cùng ăn, cùng ở trên khắp nẻo đường rao giảng với Người. Ta đã chứng kiến phút giây Người bị bắt, bị đóng đinh và chịu chết trên cây thập giá. Người đã chiến thắng thần chết và sống lại, hiện ra giữa anh em chúng ta. Ta đã ngẩng trông Người bay về Nước Trời, nơi có sự sống vĩnh hằng Người hứa ban cho chúng ta đời sau. Ta đã đi cùng trời cuối đất để làm chứng về điều đó. Biết bao lần ta nói cho ngươi hay, ngươi vẫn chưa hiểu sao?

– Thưa cha, con vẫn còn nghi ngại…

– Điều gì? Ngươi nói đi.

– Thưa cha, con là kẻ chuyên đi bách hại những người như cha. Bàn tay con đã vấy máu, làm sao con có thể…

– Processus, ta hỏi ngươi. Ngươi có tin kính Thiên Chúa duy nhất, toàn năng, Đấng tạo thành trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình không?

Người lính gác ngục tên Processus gật đầu:

– Thưa cha Petrus, con tin.

– Ngươi có tin kính Ðức Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, Chúa chúng ta, đã chịu khổ hình và mai táng, đã sống lại từ cõi chết và đang ngự bên hữu Ðức Chúa Cha không?

– Thưa cha, con tin.

– Vậy ngươi có tin Thiên Chúa luôn giàu lòng thương xót ngươi không?

Processus ngước nhìn người đàn ông tên Petrus, lắp bắp:

– Nhưng con là kẻ có tội…

– Vậy theo ngươi, Chúa xót thương ai?

– Thưa cha, chắc chắn phải là những người trong sạch, liêm chính.

– Không, ngươi sai rồi. Chúa chỉ xót thương những con người tội lỗi, những kẻ phản Chúa, dối Chúa như ta và ngươi. Chính vì nhân loại này ngập chìm trong tội lỗi, không lối thoát, nên Đức Jesus, Con Một Thiên Chúa mới phải xuống thế gian này ban cho chúng ta một con đường cứu độ, con đường đi đến sự sống đời đời.

– Sao cha lại là một kẻ tội lỗi như con được?

Petrus ngước nhìn gợn mây mong manh lơ đãng từ từ trôi qua ô cửa ngục,. Mảnh trăng đang hắt vào chút ánh sáng dịu dàng lên những phiến đá lạnh ẩm ướt. Chợt có tiếng xích sắt kéo lê trên nền gạch khô khốc xa xa vọng lại, tiếng lách cách mở cửa, rồi tất cả lại chìm vào màn đêm tĩnh lặng. 

– Ta không chỉ là một kẻ tội lỗi bình thường. Ta còn phản bội chối bỏ Đức Chúa của ta đến ba lần chỉ trong vài canh giờ…

Người lính gác hết sức ngạc nhiên, chờ đợi Petrus nói tiếp.

– Trong bữa ăn tối cuối cùng của Đức Jesus với anh em ta, Ngài đã nói trước với ta rằng ta sẽ chối bỏ Ngài đến ba lần trước khi gà gáy sáng. Lúc ấy, làm sao ta tin được. Ta một mực phủ nhận điều đó, còn hùng hồn khẳng định lòng trung thành của ta. Ngài chỉ mỉm cười nhân hậu. Ngài cũng đã nói sẽ có một trong số người anh em ta, môn đệ của Ngài, vì những đồng tiền vàng mà phản bội giao nộp Ngài cho quân dữ. Tất cả các anh em ta, Ngài đều biết rõ sẽ bỏ Ngài mà chạy trốn trong giờ phút ấy.

Petrus cầm bát nước uống một hớp, giọng xúc động:

– Ngài biết rõ vậy, nhưng Ngài vẫn bỏ dỡ bữa ăn tối mà quỳ mọp xuống rửa chân cho từng môn đệ, kể cả kẻ sẽ phản bội giao nộp Ngài. Ngươi có can đảm tưởng tượng một ngày nào đó hoàng đế Nero của đế quốc La Mã này sẽ quỳ mọp xuống rửa chân cho ngươi không?

Processus lắc đầu quả quyết:

– Không đời nào, thưa cha.

– Vậy mà Thiên Chúa của ngươi, là Vua trên tất cả các vị vua, đã quỳ mọp xuống rửa chân cho anh em chúng ta. Thiên Chúa đã làm một việc của những kẻ đầy tớ dành cho chủ mình. Ngươi có biết tại sao không?

– Thưa cha, con không thể nào hiểu nổi.

– Tất cả chỉ vì Lòng Thương Xót của Chúa, đã chịu hạ mình, quên mình, và hơn hết đã tự hiến mình, như Chiên Vượt Qua chịu sát tế để giải thoát nhân loại. Không phải giải thoát dân Chúa khỏi kiếp nô lệ thể xác, mà giải thoát con người khỏi ách nô lệ của tâm hồn. Không phải giải thoát ra khỏi đất Ai cập như xưa, mà Chúa giải thoát chúng ta khỏi vương quốc ma quỷ. Thiên Chúa đã quỳ mọp để rửa chân cho các môn đệ, cho những kẻ tội lỗi, không phải chỉ để rửa sạch bàn chân lấm lem bụi đường. Chúa muốn rửa sạch chúng ta khỏi thói kiêu ngạo, ích kỷ vốn có của con người. Ai cũng muốn nâng mình lên, muốn ở trên kẻ khác, muốn được phục vụ. Nhưng Thiên Chúa đã hạ mình xuống, như một kẻ tôi tớ để phục vụ chúng ta. Chúa muốn rửa sạch chúng ta khỏi thói ham mê hưởng thụ, ham mê vật chất, nô lệ cho tiền bạc. Judas, người anh em đáng thương của ta, cũng vì ba mươi đồng bạc mà phản bội Chúa. Nhưng Ngài vẫn rửa chân cho Judas. Chúa cũng muốn rửa sạch cho chúng ta lòng hận thù oán ghét lẫn nhau, để biết chia sẻ yêu thương nhau. Chúa là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho các môn đệ. Vậy tại sao chúng ta không thể yêu thương rửa chân cho nhau. Judas bán Chúa. Ta đã chối Chúa. Tất cả các anh em ta đều bỏ chạy lo lấy thân khi Chúa sa vào tay quân dữ. Nhưng Thiên Chúa xót thương chúng ta, rửa chân chúng ta, lấy yêu thương đáp lại và xóa bỏ hận thù.

Người lính gác chợt thảng thốt:

– Cha ơi, giờ con mới hiểu vì sao chúng con đã bắt bớ cha, hành hạ đánh đập cha, nhưng cha vẫn vui cười nói lời tha thứ và cầu nguyện cho con…

– Này Processus, ngươi phải biết rằng ta đã phải bội Chúa của ta đến ba lần, nhưng Thiên Chúa đã ban ơn hoán cải cho ta, cho ta nhận biết được Lòng Thương Xót của Ngài là vô hạn. Ta có thù ghét Chúa, xúc phạm đến Chúa, phản bội Chúa, nhưng chỉ cần ngươi có lòng hối cải ăn năn, phó thác trông cậy vào Lòng Chúa Thương Xót, ngươi sẽ được tha thứ, được yêu thương. Vì như ta đã nói với ngươi, Lòng Chúa Thương Xót chỉ dành cho những kẻ tội lỗi như ta, như ngươi.

Petrus ngừng lại, vẻ thẫn thờ, chừng như những câu chuyện dĩ vãng vừa thức dậy lại khiến ông bàng hoàng, chua xót. Bát nước đã cạn. Người gác ngục lại bưng chiếc bình sành lên rót đầy cho ông.

– Vậy còn ông Judas bán Chúa đã ra sao?

Petrus lắc đầu, thở dài:

– Ôi Judas Itscarios đáng thương… Sau khi bán Chúa, chứng kiến Chúa bị nhục hình và chịu đóng đinh, lương tâm của Judas đã được đánh thức. Ông ta ăn năn hối hận, nhưng lại thất vọng về mình. Ông ta đã không tin vào Lòng Thương Xót của Chúa, không tin vào sự thứ tha của Chúa đối với những kẻ có tội. Ông ta không đủ can đảm để đi đến Thánh Giá, thăm hầm mộ Chúa và gặp lại các anh em trong nhóm Mười hai. Judas đáng thương tưởng rằng chỉ có một cách duy nhất để giải thoát tội lỗi, và đã treo cổ tự tử chết. Trong khi tất các môn đệ của Đức Jesus đều là những kẻ phản bội Ngài, kẻ cách này, kẻ cách khác, nhưng vẫn bền bỉ tin vào Lòng Chúa Thương Xót, đã trở lại. Sau cùng, tất cả chúng ta đã được gặp Chúa Phục Sinh, đã được Ngài thứ tha mọi lỗi lầm yếu đuối, và rao giảng trên khắp các nẻo đường thế gian, làm chứng nhân cho công cuộc cứu độ nhân loại của Ngài.

Người lính gác lắng nghe từng lời Petrus trong nỗi xúc động mỗi lúc một trào dâng. Cây giáo bên cạnh đã được vứt bỏ lăn lóc ra xa từ lúc nào, lẻ loi trong một góc tối. Người lính hoàn toàn thinh lặng, như đang chìm trong suy nghĩ riêng, đến lúc Petrus khẽ hỏi:

– Này anh lính, anh đã hiểu vì sao ta quay lại nhà ngục này rồi phải không?

Processus ngẩng lên, giọng nghẹn ngào:

– Thưa Cha, có phải Lòng Thương Xót của Chúa đã gọi cha về lại đây? Để cha không phải hèn nhát trốn chạy, phản bội lại con đường Chúa đã đi. Cha muốn theo chân Đức Jesus, đứng giữa bầy quỷ dữ chúng con, và bằng yêu thương nhẫn nhục, thậm chí cả cái chết, cha muốn đem Tin mừng Chúa cứu độ để rao giảng, cảm hoá thành Rome này, như cha làm chứng cho Chúa Phục Sinh tại các vùng Jerusalem, Antiokia, Samari…

– Ôi Processus, vì đâu ngươi đã thoát khỏi nơi tối tăm, và nhìn thấy ánh sáng trong chốn ngục tù này. Quả thật Đức Jesus đã gọi ta quay về đây. Ta đã tưởng kế hoạch trốn khỏi Rome của ta tuân theo ý Chúa, được Chúa giúp sức. Nhưng không. Trên con đường Appia gần cửa Capena, Đức Jesus đã hiện ra, oằn vai lầm lũi lê từng bước nặng nhọc vác Thánh Giá đi về phía Rome. Ta đã được mở mắt để nhìn thấy Ngài. Ta đã được Thần Khí giúp mở lời. Quo Vadis, Domine? Thưa Thầy, Thầy đi đâu? Thầy đi đâu cho con theo với. Chúa đã đáp, ta vào Rome để chịu đóng đinh thêm lần nữa.  Thánh ý của Chúa đấy. Thánh Ý Chúa khác với ý muốn của loài người chúng ta. Thiên Chúa có kế hoạch của Thiên Chúa. Ta phải vâng phục. Ta đang vui sướng hạnh phúc vì được vâng phục Chúa, vì được đi theo Chúa vào Rome.

– Cha có thể phải chịu đóng đinh mà chết, thưa cha, vì cha không phải là dân thành Rome.

– Điều đó không vui sướng sao, Processus? Khi ta đang được đi theo con đường Đức Jesus đã đi. Ta chỉ là một tên ngư dân hèn mọn trên hồ Galile, đã được Chúa mời gọi theo Ngài, hàng chục năm nay, đến tận bây giờ. Và ta lại được Ngài cho đi theo về Rome, sửa soạn cho ta một cái chết vinh quang trên thập giá như Ngài, để làm rạng danh Thiên Chúa chúng ta. Ta đã được Lòng Thương Xót của Chúa ban cho ân sủng quá lớn lao này. Ta còn gì mong muốn hơn nữa, Processus?

– Thưa cha, vậy phải chăng con cũng đang cảm nhận được Lòng Chúa Thương Xót đổ tràn xuống con? Dù con chỉ là một kẻ tội lỗi, hèn mọn, và bàn tay con đã vấy máu của bao nhiêu người theo Chúa.

– Lòng Chúa Thương Xót luôn ở cùng con, dù con có thế nào. Con hãy mở lòng đón nhận, hãy lắng nghe tâm hồn con mách bảo, Processus.

– Thưa cha, con muốn được chung phần với cha. Con muốn được ơn cứu độ. Con xin được có lòng tin.

Petrus nhìn thẳng vào mắt người lính gác ngục. Trong giây phút ngắn ngủi ông cảm thấy sự hiệp thông thấu hiểu giữa hai người. Không khí như đọng lại trong khoảng khắc.

– Processus, ngươi sẽ phải chịu cực hình, tra tấn. Ngươi có thể phải chết.

– Con vui sướng lãnh nhận tất cả, thưa cha. Con xin được làm chứng về cha, về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa chúng ta.

Đêm ấy, trong một buồng giam lạnh lẽo, dưới ánh trăng xanh dịu dàng hắt qua ô cửa ngục Mamertina, một người lính gác tù đã vất bỏ gươm giáo xuống đất, quỳ cúi đầu thành kính dưới chân một tù nhân. Người tù nhân hai tay xiềng xích nâng bình nước đã được thánh hoá, tưới lên đầu người lính gác, cất giọng trầm trầm đầy thần khí:

– Processus, ta rửa con. Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.

Người lính gác cúi thấp đầu, chậm rãi đưa tay làm dấu Thánh giá, thưa:

– Amen.

Mã số: 16-139

HAI PHÍA CON ĐƯỜNG

  1. Tôi vứt chiếc cặp lên bàn, nằm uỳnh xuống giường, cuối cùng cũng kết thúc 10 tiết học dài đằng đẵng.Vừa thiu thiu chợp mắt, điện thoại đổ chuông. Một tin nhắn mới, Phong, thằng bạn cấp ba gửi. Tin nhắn vỏn vẹn: “6 giờ, quán cũ.”. “OK.” Tôi đáp gọn.  Quán cũ mà thằng Phong nhắc đến là một quán nhậu bình dân trên đường Lê Lai, chắc nó lại thất tình. Mới 6 giờ mà quán đã đông người. Trong lúc đợi nó tới, tôi tranh thủ gọi món. 15 phút sau, nó tới, vừa kéo ghế ngồi xuống, nó hỏi thay cho lời chào:

– Mày gọi đồ nhấm chưa?

– Rồi, còn bia mầy tự gọi.

            Nó vẫy tay về phía phúc vụ, gọi lớn:

– Anh ơi cho em một thùng bia Sài Gòn

            Tôi lau chén đũa đưa sang nó, quen miệng nên hỏi:

– Mấy thằng kia đâu?

– Thằng Tùng dẫn người yêu đi chơi, thằng Nam về quê rồi. – Nó vừa nói vừa gắp thức ăn bỏ vào miệng nhai nhồm nhoàm.

            Tôi chậc lưỡi, cuối cùng chỉ còn hai thằng bạn chí cốt ngồi với nhau.

            Phục vụ nhanh chóng đem ra một thùng bia, cẩn thận đặt thùng đá kế bên, chiếc gắp inox sáng loáng bỗng trở nên nổi bậc trong ánh đèn lờ mờ của quán. Nó khui bia, tôi gắp đá bỏ vào ly, vẫn câu hỏi quen thuộc:

– Sao nay nhậu sớm vậy mầy? 

– Thất tình. – Nó vừa nói vừa rót bia vào ly, bọt trào ra.

            Đợi cho bọt tan bớt, nó nâng ly, tôi cũng nâng ly, hai chiếc ly chạm vào nhau đánh cốp. Luật bất thành văn, ly đầu phải cạn, tôi đánh ực một hơi, rồi thản nhiên đặt ly xuống, chêm thêm bia vào. Bàn kế bên mấy đứa nhóc tập tò làm người lớn cũng vừa uống xong, chúng nhăn mặt bảo nhau: Sao bia đắng dữ? Tôi lắc đầu, ngày xưa tôi cũng như vậy, tuổi trẻ luôn thích học đòi.

            Thấy thằng bạn ngồi im lặng, tôi định tìm câu an ủi nó, nhưng thừa biết câu cửa miệng của nó là: “Thời đại này làm gì có tình yêu thực sự, chơi chán thì bỏ!” nên thôi. Mà không riêng gì nó, đa số người  trẻ bây giờ đều vậy, họ đến với nhau quá dễ dàng nên không biết trân trọng nhau, rồi sau này hối tiếc, chỉ tội cho các sinh linh chẳng bao giờ được khóc chào đời.

            Nhưng có vẻ tôi đã lầm, hình như nó buồn thật. Sau khi nốc cạn bốn, năm lon, nó bắt đầu kể về một cô gái nào đó tên Lan, nó bảo cô ta rất đặc biệt: Trong thời đại càng hở càng tốt, cô lại ăn mặc rất kín đáo, trong khi các cô gái khác tranh nhau làm quen với những chàng trai đẹp mã, giàu có, cô lại rất trầm lặng. Nghe mấy đứa bảo, hình như cô có rất nhiều người theo đuổi cô nhưng cô không đáp lại người nào, chính điều này càng làm nó muốn chinh phục cô hơn. Suốt một thời gian dài nó tán tỉnh cô nhưng cô chẳng rung động, ngược lại nó lại bị cái nết na, thùy mỵ của cô làm cho chùng lòng. Rồi nó lại kể về một cậu sinh viên nào đó, cậu ta có vẻ rất thân với con Lan, nó đã mấy lần bắt gặp cậu ta chở Lan về, thằng này lại ăn mặc rất lịch sự, điều này càng làm cho thằng Phong thêm ghét tên đó. Rồi nó kết luận, thằng đó chỉ giả vờ lịch sự như vậy để lừa mấy đứa con gái.

             Cứ liên tục như vậy, hết kể lại uống, chẳng mấy chốc vỏ bia đã ngổn ngang dưới gầm bàn. Tôi bắt đầu thấy có cảm giác lâng lâng, hình như bia đã ngấm. Tôi nhìn sang xung quanh, đám nhóc lúc nãy cũng đã về. trong quán, người  ra vào đã ít hơn nhưng những tiếng khui bia, tiếng cụng ly, tiếng tranh cãi vẫn còn rất ồn ào. Chợt thằng Phong ngồi bật dậy, nó bảo tôi:

– Giờ tao với mầy đi xử thằng đó. Tao điều tra rồi, tối nào nó cũng đi nhà thờ, giờ cũng sắp về rồi.

            Tôi nghĩ thầm, chẳng lẽ thằng Phong muốn đánh nhau thật. Nghĩ đến đánh nhau, tôi rùng mình. Lúc nhỏ tôi nhiều lần no đòn cũng vì tội này. Sau mỗi trận đòn ba luôn bắt tôi quỳ trước bàn thờ, đọc đi đọc lại câu Lời Chúa: “ Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.” (Mt 5,9). Mà nếu đúng như thằng Phong kể thì cậu sinh viên đó là người Công giáo, vậy càng không thể đánh, không thể đánh chính anh em mình. Nghĩ tới nghĩ lui mà không tìm ra cáh giải quyết, tôi chợt nhớ lại cách lúc nhỏ hay làm mỗi khi rơi vào thế bí, tôi khẽ làm dấu thánh giá để xin ơn Chúa soi sáng. Xong xuôi, tôi chậc lưỡi, thôi thì lựa lời khuyên nó rồi tính tiếp:

– Thôi Phong! Bỏ đi mầy. Vì gái mà đánh nhau không đáng.

– Tao tức. – Nó cầm ly bia ực một hơi. – Thằng đó ngoài vẻ đạo đức thì có gì hơn tao.

            Chẳng biết phải nói vơi nó như thế nào, tôi giả vờ xem đồng hồ, rồi vỗ vai nó:

– Thôi cạn ly cuối rồi về, tối nay tao có việc.

            Câu nói dối của tôi không lừa được nó, nó nốc cạn ly bia, rồi đặt mạnh xuống bàn, những viên đá trong ly nảy lên, rơi xuống lạo xạo:

– Mày đừng nói dối tao! Mày có phải anh em tao không?

            Bị nói đúng tim đen, tôi bối rối.Thực sự tôi không biết phải làm sao. Không đi thì không được, tính thằng này nóng lại đang có men, không khéo xảy ra chuyện gì thì tôi áy náy lắm. Thôi thì nhờ Chúa rồi tùy cơ ứng biến.

  1. Sau vài phút chạy xe, nó dừng lại ở một con hẻm vắng, nơi ánh đèn bị che khuất sau một tán cây. Đợi chưa quá 5 phút, một bóng người xuất hiện. Thằng Phong hất mặt về cái bóng:

– Nó đó.

            Phía xa xa, dưới ánh đèn nhờ nhờ hắt ra từ nhà dân, một cậu thanh niên ăn mặc lịch sự, sơ vin gọn gàng xuất hiện. Mắt tôi bỗng giật giật, trông người này rất quen nhưng tôi không tài nào nhớ ra đã gặp ở đâu. Rượu bia làm cho đầu óc mụ mị. Cậu thanh niên vẫn từ từ tiến đến, đâu biết rằng phía trước cậu là một tên say đang muốn đánh mình. Vừa đi qua chỗ hai người lạ đang đứng, bất ngờ cậu bị chặn lại. Thằng Phong lên tiếng trước:

– Tao muốn nói chuyện với mầy.

– Anh là ai? – Cậu thanh niên cố tỏ ra bình tĩnh.

– Mày là gì với Lan? – Phong hỏi.

– Anh muốn nói Lan nào? – Cậu ta có vẻ thận trọng hơn khi ngửi thấy mùi bia sộc ra từ hơi thở của kẻ đối diện

– Hương Lan, lớp Giáo Dục Mầm Non.

– Chúng tôi là bạn bè bình thường? – Cậu thanh niên hơi lùi lại, khi thấy tôi tiến đến.

            Nhìn kĩ cậu ta, tôi chợt nhận ra, đúng rồi, chính là cậu ta…Tôi chưa kịp mừng thì đã thấy Phong đã giơ nắm đấm, giọng mỉa mai:

– Còn dám chối à? 

            Câu thanh niên biết mình không thể đánh lại hai người vội đưa tay lên ôm đầu tự vệ, tôi vội cản tay Phong.

– Người này không thể đánh.

Thằng Phong bất ngờ vì người đỡ đòn lại là tôi, cảm giác bất ngờ ấy nhanh chóng chuyển thành tức giận. Như một con thú vồ trượt con mồi, nó nhào tới lần nữa, lại bị tôi hất ra;

            – Nó là bạn tao. – Tôi giải thích.

            Trong lúc cấp bách tôi hơi mạnh tay, thằng Phong đã chếnh choáng, lại bị tôi hất mạnh, mất đà, ngã xuống đất. Tôi quay về phía cậu thanh niên:

– Đi mau! Nó là bạn tôi. Tôi lo được

            Thấy cậu ta vẫn chần chừ, tôi quát:

– Đi mau!

            Chờ cậu ta khuất vào con hẻm nhỏ, tôi quay lại phía thằng Phong, đưa tay định kéo nó đứng dậy. “Bốp.” Một cú đấm giáng thẳng vào mặt tôi. Tôi choáng váng, quai hàm chấn động, đầu tôi ong ong. Mọi thứ quay cuồng. Tai tôi lùng bùng tiếng thằng Phong:

– Mầy là thằng phản bạn.

            Rồi có tiếng xe máy rồ ga. Rồi mọi thứ trở lại yên tĩnh. Tôi lơ mơ nhận ra tôi vừa bị đánh. Không có cảm giác nào khó chịu bằng cảm giác bạn thân phản bội và cũng không có cảm giác nào đau đớn bằng bị chính bạn thân đánh. Rồi tôi tự hỏi vì sao nó đánh tôi. Vì say? Vì giận? Vì tình? Hay vì tôi cản nó đánh bạn tôi? Tôi chẳng biết câu trả lời. Tôi ngồi khuỵu xuống vỉa hè vừa để cho cơn đau dịu lại, vừa nghĩ về những việc mới xảy ra. Tôi chợt nhận ra lòng người rất dễ thay đổi. Mới cách đây vài tiếng, thằng Phong còn tìm tôi để lai rai tâm sự vậy mà giờ đây cũng chính nó đánh tôi. Đau thật. Tôi chợt nghĩ về người tôi vừa giúp đêm nay.

  1. Người tôi vừa giúp đên nay là Huy, một người bạn cùng tổ với tôi trong nhóm Sinh Viên Công Giáo, cậu ta là tổ trưởng. Lần đầu gặp cậu ta, tôi chẳng có gì ấn tượng gì nhiều ngoài cách ăn nói rất lịch sự và rất siêng năng đi lễ, nghe mọi người nói, hình như cậu ta muốn đi tu. Lúc còn ở nhà, tôi hay nghe mẹ bảo: “Khi người ta muốn tận hiến cho Chúa, Thiên Chúa sẽ gửi đến những thiên thần để bảo vệ họ.” Tôi mỉm cười chua chát, tôi vừa bảo vệ cậu, chẳng lẽ tôi là thiên thần. Có lẽ đúng…nhưng là đã từng… Đó là cách đây hai năm, khi mới vào đây, khi ấy tôi rất siêng đi lễ, còn bây giờ, vài tuần tôi đến nhà thờ một lần. Những giờ cầu nguyện được thay bằng những cuộc chè chén thâu đêm. Từ bao giờ tôi bắt đầu hư hỏng. Nghĩ đến đó, tôi thấy mình tội lỗi. Tôi gục đầu mặc cảm, tự khinh bỉ chính mình. Chợt một bàn tay đặt lên vai tôi:

– Anh bị sao vậy?

            Tôi ngước lên, là Huy, tôi hỏi ngược lại:

– Cậu ra đây làm gì?

– Tôi sợ anh có chuyện gì nên quay lại…

– Không sao. – Tôi đáp.

– Tôi thấy anh quen quen, hình như gặp ở đâu rồi? – Huy hỏi.

– Trong nhóm sinh viên, tôi và cậu chung tổ.

– Cậu là Khang? – Huy mừng rỡ. – Lâu nay sao không thấy cậu tham gia sinh hoạt với nhóm.

– Lâu nay bận quá. – Tôi ngụy biện..

            Huy đưa điện thoại cho tôi, vui vẻ nói:

– Cậu bấm số đi, khi nào nhóm sinh hoạt, tôi rủ cậu đi cho vui.

            Rồi khi biết nhà tôi ở xa, cậu nhất quyết đòi chở tôi về. Tôi phì cười vì sự nhiệt tình của cậu. Lúc cậu ta dắt xe ra cổng, một cô gái đi ngang qua, thấy cậu, cô ta hỏi:

– Muộn rồi còn ra ngoài à Huy?

– Ừ! Huy chở bạn về. Lan đi đâu về đó?

– À! Lan đi sinh hoạt với lớp dự tu. Thôi Huy đi cẩn thận nha.

            Quái lạ, sao lắm người tên Lan thế, chẳng lẽ cô gái đó là người mà thằng Phong nhắc đến.

            Một mình trong phòng trọ, tôi mệt mỏi ngả lưng ra giường. Cái hàm bị đánh bắt đầu sưng, tôi không sao ngủ được. Gác tay lên trán, tôi suy nghĩ về quãng đời sinh viên của mình. Có quá nhiều sa ngã  bởi vì chính tôi cho phép mình sa ngã. Tôi nhìn lên trần nhà, nơi có những mảng loang lổ như cuộc đời của mình. Tôi vẫn nhớ ngày đầu tiên vào đây, khi ấy mặc cho bạn bè rủ rê, tôi vẫn quyết tâm ở một mình. Tôi muốn có không gian riêng để cầu nguyện. Đến bây giờ tôi vẫn ở một mình nhưng chẳng bao giờ cầu nguyện. Chợt nghĩ đến Huy, cậu ta cũng giống tôi, hai chúng tôi đều có chung một con đường của người Ki tô hữu vậy mà lại rẽ hai hướng khác nhau. Huy ngày càng sốt sắng, còn tôi ngày càng bê tha. Cảm thấy mình tôi lỗi, tôi nhắm nghiền mắt lại, mong để chìm vào giấc ngủ để quên đi mọi chuyện. Vậy mà giấc ngủ không đến. Tôi xoay người ngồi dậy, chợt nhìn thấy tấm ảnh Lòng Thương Xót Chúa, tôi bất chợt lặng thinh. Tôi đưa tay lau đi lớp bụi trên tấm ảnh, một đôi mắt thật buồn nhìn thẳng vào tôi. Tôi rùng mình khiếp sợ. Bỗng dưng một mãnh lực nào đó thúc giục tôi. Tôi quỳ gối xuống, đưa tay làm dấu thánh giá, rồi mắt cứ chăm chăm nhìn vào nơi có hai luồng sáng phát ra. Một giọt nước mắt lan dài: Lạy Chúa, xin tha tội con.

  1. Mấy ngày nay, thằng Phong không đi học. Gọi không được, nhắn tin không trả lời. Nếu trước đây tôi đã chậc lưỡi, thôi kệ, vài bữa nữa nó sẽ lại gọi đi nhậu. Vậy mà bây giờ tôi lo lắng cho nó. Tôi chắp tay trước ảnh Lòng Thương Xót Chúa, cầu nguyện:

– Lạy Chúa, xin che chở cho bạn của con.

            Gần tuần nay, không có nó, chẳng ai gọi tôi nhậu nhẹt, tôi có nhiều thời gian để thinh lặng. Tôi bắt đầu đọc sách. Quyển Youcat thật hay. Đang nghiền ngẫm cuốn sách trên sân thượng, chợt nghe văng vẳng tiếng chuông chiều. Tự dựng lòng thấy nao nao. Tự dưng muốn đến nhà thờ.

            Thánh đường vẫn còn vắng người. Tôi nhìn về phía cung thánh, có một luồng sức mạnh vô hình thúc giục tôi bước vào bên trong. Tôi bước đi như một kẻ mộng du. Tôi quỳ xuống dãy ghế đầu tiên, tôi ngước nhìn lên cây thập tự, bỗng dưng bao nhiêu nỗi lòng tôi tuôn ra. Mắt tôi nhòe đi, còn lòng thanh thản lạ kì. Tôi gạt dòng cảm xúc để bắt đầu thánh lễ. Thánh lễ hôm nay có rất nhiều người mặc áo vàng, có cả Huy và Lan. Thì ra hôm nay là lễ sinh viên, lễ dành riêng cho những người như tôi. Sau lễ, các bạn sinh viên tập trung vòng tròn sinh hoạt. Trước đây tôi từng rất tự hào là thành viên trong vòng tròn ấy, còn bây giờ tôi thấy mặc cảm. Tôi bước ra xa, chợt vòng tròn mở ra, một bàn tay kéo tôi vào, và tôi nhận ra tôi luôn được chào đón để bắt đầu lại từ đầu.

            Sau thời gian biệt tăm, cuối cùng thằng Phong cũng đi học lại. Thấy nó tôi mừng rỡ:

– Mấy ngày nay ở đâu, sao tao gọi không được? – Tôi hỏi vồn vập.

– Về quê. Điện thoại hết tiền – Nó đáp cộc lốc.

– Chuyện hôm bữa, tao xin lỗi, tao không cố ý. – Tôi phân trần.

– Chuyện gì? Sao tao không nhớ.  – Nó cười.

            Tôi cũng phì cười, thằng này là vậy, mau nóng mà cũng chóng nguội. Tôi thở phào nhẹ nhõm, vậy là đã xong. Biết nó đã chịu nghe, bây giờ tôi mới có dịp giải thích chuyện đêm đó. Nó chỉ im lặng nghe, chẳng nói gì. Mọi chuyện lại trở về bình thường. Không những thế, thời gian sau đó, cứ mỗi khi Huy gọi rủ tôi đi sinh hoạt nhóm, tôi lại kéo thằng Phong đi cùng. Lúc đầu thì chỉ là chương trình đổi quà đêm Giáng Sinh. Rồi đi thăm cô nhi viện. Rồi gom ve chai làm từ thiện… Ban đầu nó còn ngại, vậy mà sau đó nó còn hăng hái hơn cả tôi. Nhờ những hoạt động ấy, nó cũng bớt ăn chơi, nhậu nhẹt. Và còn một điều mà tôi không thể ngờ tới, đó là nó và Huy đã hóa giải hiểu lầm, không những thế mà bây giờ  tôi, nó, Huy và Lan còn trở thành bạn thân của nhau nữa. Nhiều lúc đi chơi chung nó còn đùa với chúng tôi:

– Nhóm mình bốn đứa, ba đứa bay có đạo, còn một mình tao, chắc tao nghỉ chơi với tụi bay quá.

            Lan tươi cười bảo nó:

– Hay là Phong cũng theo đạo đi.

            Nó giả vờ vuốt râu, tỏ vẻ đăm chiêu:

– Giờ thì chưa được còn sau này thì vẫn chưa biết.

            Cả đám phá lên cười. Chuông chiều vừa ngân lên những tiếng đầu tiên. Tôi dõi mắt về phía xa xa, cuối con đường rẽ lại là lối chung.

Mã số: 16-140

THƯƠNG XÓT

 

Chiều nay tôi đã tình cờ gặp lại một người quen cũ. Cũng đã hơn 4 năm rồi kể từ ngày đầu chúng tôi trò chuyện. Thời gian là một liều thuốc vạn năng xoa dịu đi sầu khổ, đôi mắt u ám ngày nào giờ đã ánh lên bao niềm hy vọng, chất chứa tình yêu thương căng tràn. Ngày ấy tôi không nghĩ rằng sẽ được thấy niềm vui trong khoé miệng cười của chị như ngày hôm nay tôi đã thấy. Ngày ấy, tôi gặp chị giữa một chiều mưa…

@@@@

Trời bắt đầu xám xịt, từng cơn gió thốc lên lạnh lẽo, dạo nhanh bước chân vào gian nhà nguyện nhỏ tôi vội vã khép cánh cửa tránh gió. Tôi thở dài:

– Không biết mưa gió thế này mạ non mới cấy có trụ nổi được không? Cầu Chúa thương đàn chiên của Ngài…

Tôi quỳ xuống trên bậc đá lạnh lẽo trước gian Cung Thánh và bắt đầu đọc kinh cầu nguyện như mọi lần. tiếng gió rít lên mỗi lần một dữ dội, những hạt mưa nặng trĩu rơi xuống từ trời và vỡ tan trên hàng ngói ngôi thánh đường đã phủ màu phong rêu. Tiếng mưa rơi nhanh dần, nặng dần, hoà vào tiếng kinh cầu:

– Kính mừng Maria đầy ơn phúc. Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giê-su con lòng Bà gồm phúc lạ. Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử. Amen

Bỗng trong tiếng mưa nặng nề vọng lại tiếng khóc nức nở, ai oán của một người nữ. Tôi lặng im lắng tai nghe, tiếng khóc chìm hẳn trong tiếng mưa và gió giật. Tôi trộm nghĩ: Ai vậy nhỉ? Trời đang mưa gió thế này sao lại có tiếng người khóc ở ngoài kia? Ai lại đi ra ngoài vào lúc này? Hay là do mình tưởng tượng ra? Xua đi ý nghĩ ấy trong đầu, tôi tiếp tục lần chuỗi kinh Mân Côi. Nhưng tiếng khóc lại vọng tới nức nở trong tiếng cầu:

– Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử… tha cho chúng con… kẻ có tội… khi nay và trong giờ lâm tử…, tha cho con.. kẻ có tội… lâm tử…

Quái nhỉ? Ai lại cầu kinh giữa trời mưa gió thế này ngoài kia. Sao không bước vào nhà thờ? Hay là do nghĩ nhà thờ khoá cửa nên không vào? Tôi quyết định đứng dậy mở cánh cửa nhà thờ, nheo mắt cố nhìn rõ cảnh vật bên ngoài đang lay động trong cơn mưa gió. Tôi giật mình vội lao ra ngoài bầu trời tối đen kia. Một cô gái đang quỳ sụp trước tượng đài Đức Mẹ ẵm Hài Nhi Giê-su mà khóc lóc, than van, tay đấm ngực liên hồi, miệng không ngớt cầu xin: Maria Đức Mẹ Chúa Trời… tha cho con… xin tha cho con là kẻ có tội. Tôi kéo cánh tay cô, hét lớn át đi tiếng gió:

– Con làm gì ngoài trời mưa này, muốn cầu nguyện hãy vào nhà thờ.

– Kệ tôi! Hãy tránh xa tôi ra! Hãy để tôi một mình! Cô gái cố vùng vẫy, giật mạnh cánh tay khỏi bàn tay tôi. Tôi là kẻ có tội. tôi không xứng đáng vào trước mặt Chúa.

Kể từ khi làm linh mục tới nay, đã biết bao nhiêu lần tôi chứng kiến những con chiên một đời lầm lạc vùng vẫy trong tội lỗi. Bởi khi mang trong mình mặc cảm tội, họ cố giấu, cố xa lánh đời và xa lánh đứng trước ngai toà Chúa. Mối tương quan thánh thiêng không còn nữa, họ càng lún xuống bùn nhơ mà không thoát ra được. Cái họ cần là một cơ hội, để sự thứ tha nơi lòng thương xót Chúa hàn gắn những rạn nứt trong tâm hồn họ và qua đó nối lại giao ước với Người .

– Đứng dậy và đi!- Tôi kiên quyết – Hãy mau mau vào nhà thờ. Chúa đang đợi con…

Cô gái vùng vẫy, nhưng trước sự kiên quyết của tôi, cô ấy bị khuất phục. Bước thật chậm vào nhà thờ, nước mắt cô hoà lẫn với nước mưa. Ôi thật đáng thương sao!

Tôi im lặng. Cô gái cũng im lặng. Tôi hiểu, tôi cần để cô có một không gian riêng để suy nghĩ về mình và trò chuyện sám hối cùng Chúa. Còn tôi- một kẻ tôi tớ- chỉ hoàn thành công việc là kẻ trung gian mà thôi. Sau hồi thinh lặng, cô gái lên tiếng:

– Cha nghĩ con có được Chúa tha thứ không khi con nhẫn tâm sát hại con gái con khi nó còn nằm trong bào thai?

– Con thấy bản thân mình xứng đáng được tha thứ không?

– Con không xứng đáng. Con đã giết người. Chỉ vì muốn bảo vệ mẹ, con đã giết đi đứa con gái nhỏ bé của con. Chúa sẽ không bao giờ tha cho con…

– Con giết đứa con gái vì bảo vệ mẹ của con sao?

– Con là đứa con gái hư hỏng. Bố con là một người đàn ông gia trưởng, mê rượu chè. Mỗi lần say là lôi mấy mẹ con ra đánh cho sướng tay … Con không muốn cam chiụ như mẹ. Con đã từng chống đối ông ấy. Con muốn thoát ra khỏi cái nhà tù túng ấy lâu rồi. Cơ hội đến khi con lên Đại học, con thoả sức tung bay trong tự do của mình. Cái thai là kết quả của cuộc tình chóng vánh. Con đã rất sợ hãi. Con đã muốn tự tử khi gã đàn ông phụ tình ấy bỏ đi…

– …

– Con là đứa con gái đáng kinh tởm. Con làm ô danh dòng họ, làm bố mẹ con nhục nhã với mọi người. mẹ con sẽ bị bố con giày vò cho đến giây phút cuối cùng của cuộc đời bà. Lúc ấy, con chợt loé lên suy nghĩ: chỉ mình con phạm tội còn hơn để chuyện tồi tệ đó xảy ra. Và con đã đi phá bỏ cái thai ấy…

– …

– Nhưng khi nhìn thấy thai nhi tan nát tấm thân nhỏ bé, con không thể chịu nỗi. nỗi đau đớn, tội lỗi dằn vặt bản thân con.. đứa con của con… con đã giết nó. Cha ơi, sao con có thể được con gái của con tha thứ? Sao Chúa tha thứ cho con được?

Tôi nhìn thấy hình ảnh người đàn bà ngoại tình đáng thương qua ánh mắt và khuôn mặt của cô ấy. Tôi và chính xã hội này đều là những kẻ mang trong mình những gánh tội nặng nhẹ khác nhau, tôi có quyền kết án cô ấy không? Tôi được Chúa thương tha tội lỗi thông qua bí tích Hoà Giải và bằng Mình và Máu Ngài trong chính bí tích Thánh Thể. Tôi nên làm gì đây? Kết án hay thương xót?

– Con hãy đến với Chúa trong bí tích Giải tội. Chúa là Đấng nhân lành Ngài sẽ thương tha thứ tội con.

 Cô ấy, trong chính buổi chiều mưa gió ấy, đã đến với Chúa trong bí tích Giải tội bằng hết tấm lòng ăn năn. Trên khuôn mặt u tối ấy vương lên niềm hy vọng. Trước khi tiễn cô ra về, tôi nhắn nhủ bằng câu Kinh Thánh Chúa nói với người đàn bà ngoại tình như nói với tôi, nói với cô và với tất cả những ai phạm tội như một lời cảnh tỉnh:

– “ Con hãy đi và từ nay đừng phạm tội nữa”

@@@@

Đã bốn năm trôi qua, tình cờ gặp lại, giờ cô đã là một “bà mẹ nuôi”. Sự tỉnh thức và giải thoát khỏi xiềng xích tội lỗi ngày hôm ấy đã giúp cô đủ mạnh mẽ vượt qua được sự ích kỷ cá nhân và sức mạnh của thế gian. Cô đã dấn thân vào công việc giúp cảnh tỉnh các bà mẹ lầm lỡ: khuyên họ bằng chính trải nghiệm cá nhân cô, nhận nuôi những đứa trẻ bị chính mẹ bỏ rơi, nhận xác các thai nhi mang chôn cất cẩn thận trong nghĩa trang nhỏ mà cô dùng chính tiền của mình mua nó làm nơi chôn cất các em… Nhìn thấy tôi, cô chỉ cười và nói:

– Tạ ơn lòng thương xót Chúa đã dành cho con. Cảm ơn Cha đã lắng nghe và đưa con về bên Chúa. Giờ con đang chuộc lại lỗi lầm của mình như lời xin lỗi tới Chúa và con gái con trên Thiên Đàng. Trong giấc mơ, con gái con đã mĩm cười với con…

Mã số 16-143

CON ĐƯỜNG ẤY

 

   (Giữa cuộc đời trăm vạn nẻo đường,
xin chọn con đường yêu thương.)

 

Đường Giêsu, con đường Tình yêu. Con đường ấy chị đã chọn, đã dấn thân và đã sống. Con đường ấy có nắng xuân trải lụa, có tiếng chim hót vui ca nhưng cũng không thiếu gai góc, sỏi đá, không thiếu những chướng ngại vật cản lối chị đi. Có những lúc chị đã muốn bỏ cuộc, muốn quay trở về lối khác. Không biết sợi dây vô hình nào đã cột giữ để chị cứ phải đi, đi đến tận cuối con đường, ở nơi đó Giêsu đang đón đợi.

Cuộc sống thật nhiều điều bí ẩn, nó cứ bắt chị phải liên tục khám phá mỗi ngày. Chị! Một nữ tu năng nổ nhiệt huyết, có nhiều ước mơ và hoài bão. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình khá đạo đức theo lăng kính của người đời. Ngay từ nhỏ chị đã có một ước mơ “đi theo con đường ấy – đường Giêsu”, sống với Giêsu và làm chứng về Giêsu. Sau khi tốt nghiệp bác sĩ y khoa, chị đã bỏ lại tất cả công danh sự nghiệp sau lưng, và đáp lại tiếng gọi mãnh liệt để đi theo “con đường Giêsu” trở thành một nữ tu truyền giáo. Chị đã từng nghe nói đến những vùng đất: Sudan thuộc Phi Châu, Sri Lanka ở Ấn Độ…chị cảm thấy thích thú và khát khao được đặt chân tới đó, được nói về tình yêu của Chúa cho những con người nghèo khổ ở nơi đây. Chị cảm động khi nghe bài hát “đẹp thay bước chân của những sứ giả tin mừng”. Trải qua bao nhiêu giằng co giữa vật chất và tâm linh, giữa tình Chúa và tình đời. Cuối cùng chị cũng đạt được ước nguyện của mình, gia đình đã chấp nhận để chị thực hiện được khát khao ấy. Ngày chị lên đường qua Phi Châu đứa em gái út của chị mới tròn bốn tuổi. Sau mười hai năm rong ruổi khắp đó đây để nói về tình yêu, về lòng thương xót của Chúa cho mọi người, chị thực sự rất thành công. Nhiều người tin và trở lại nhờ những bài giảng bằng cuộc sống chứng tá của chị. Nhưng để có được mùa gặt bội thu ấy, không phải chỉ có mình chị nhưng là sự cộng tác của biết bao “hạt giống thân yêu” của chị đã phải chấp nhận “mục nát”, chấp nhận “chết đi”. Trong đó có mẹ và người em gái nhỏ đáng thương của chị đã sẵn sàng hy sinh cả tuổi thanh xuân, cả những gì quý nhất của người con gái để chị được giữ tròn ước nguyện, thực hiện được ước mơ.

Nghĩ đến đây chị lại khóc, chị không ngờ con đường chị đang đi, ước mơ chị đã chọn lại phải đánh đổi cả một cái giá quá đắt. Quỳ trong ngôi nhà thờ rộng lớn thênh thang nhưng không có một bóng người. Giờ này người người, nhà nhà đều đang vui vầy đoàn tụ trong cái giây phút giao thừa linh thiêng. Chị vẫn quỳ đó, một mình lặng lẽ trước nhà tạm. Ở bên ngoài, những tiếng pháo bông đì đùng, những tiếng chạm ly kêu leng keng hòa lẫn những lời hát xuân rộn rã, rồi những lời chúc mừng cứ vang lên không dứt hai hàng nước mắt chị lại rơi. Chưa bao giờ tâm trạng chị rối bời như lúc này, chị giận bản thân mình vì đã không thể làm gì để giúp đỡ gia đình. Mang tiếng là người có học vị, có tri thức nhưng từ nhỏ đến khi lấy tấm bằng cử nhân xong chị chỉ là một người ăn bám gia đình. Chưa làm được gì để bù đắp công ơn cha mẹ thì chị lại đi theo lý tưởng của mình. Từ đó chị lại tiếp tục “yên thân trong nhà tu”, để cho đứa em gái nhỏ của chị, nó mới chỉ mười sáu tuổi, cái tuổi chưa đủ trưởng thành… “Chúa ơi! Giờ con phải làm sao hả Chúa, chẳng lẽ con tiếp tục con đường ấy, chẳng lẽ con làm ngơ trước nỗi đau của gia đình, làm sao con có thể bù đắp cho sự mất mát của đứa em bé bỏng của mình”. Chị đã khóc rất nhiều, con đường ấy giờ sao lối mòn nhỏ lại, gai góc đang bắt đầu bít lối, phía trước thật mịt mù.

Một bàn tay đặt nhẹ lên bờ vai chị. Trong cơn đau tột cùng ấy, chị quỳ đó và  thiếp đi. Chị mơ thấy Chúa, thân hình trầy trụa máu me, Ngài đã ngã xuống ở chặng cuối cùng, hai mắt mờ đục, chân tay Ngài run rẩy. Ngài đã kiệt sức, hoàn toàn kiệt sức tưởng chừng cây thập giá to đè nặng thân hình yếu nhược của Ngài làm cho Ngài sẽ nằm lại nơi này mãi mãi. Thế mà bỗng chị thấy Ngài rướn mắt lên trời rồi dùng chút sức lực còn lại, cố gượng dậy để tiếp tục đi. Ngài oằn lưng vác tiếp cây thập giá đến núi sọ mà không ai trợ giúp. Cảm thương chị chạy theo xin “vác đỡ” nhưng Ngài nói: “Cây thập giá của con vẫn còn nằm chỗ cũ. Con mới chỉ đến chặng thứ nhất thôi, đường lên núi sọ còn dài, còn rất nhiều khúc quanh, còn nhiều gai góc, không biết con có đủ sức đi tiếp “con đường ấy”?

–           Sơ ơi! Về nhà thôi,

Chị giật mình tỉnh dậy. Không ngờ từ nãy tới giờ Tuấn đã nghe hết những tâm tình của chị với Chúa.

–           Tuấn, sao không đón giao thừa?

–           Đã qua giây phút giao thừa lâu rồi. Sao sơ vẫn còn ngồi đây, để mình đưa sơ về nhé.

–           Không cần đâu, cảm ơn cậu, mình muốn ngồi ở đây thêm một chút nữa.

–           Sao sơ cứ phải dằn vặt mình như vậy, sơ tưởng cứ ngồi ở đây khóc lóc rồi tự trách mình như thế thì sẽ giải quyết được mọi vấn đề sao? Sơ đau khổ một thì má và em gái sơ còn đau khổ gấp mười. Vì muốn sơ đi trọn con đường thập giá mà họ đã chấp nhận vác phần nặng nhất thay sơ. Lẽ ra lúc này sơ phải là chỗ dựa, là nguồn động viên, an ủi cho mẹ và em gái thì sơ lại trở nên yếu nhược như thế. Sơ có biết là em sơ vừa nãy đã định tự tử không? Thế mà sơ còn ngồi đây nỉ non.

–           Cái gì, Kiều O…a….n…..h ….tự tử?

–           Đúng vậy, nó nói chết đi để rửa nhục cho chị gái. Nó không muốn chị gái của nó là một ma sơ mà lại có đứa em…

–           Không, huhuhu em ơi, chị xin lỗi em. Chị không hề trách em, chị chỉ buồn vì sao em không cho chị biết để cùng giải quyết mà em lại chịu đựng một mình, huhuhuu.

Chị không ngờ tết năm nay, cái tết đầu tiên chị được ở gia đình lại là cái tết đầy nước mắt. Cách đây hơn một tuần, khi chị vừa từ Sri Lanka trở về Viet Nam, chị thật háo hức cho cái ngày thăm quê. Chị cứ nghĩ lần về quê này sẽ rất vui, sau mười hai năm xa gia đình chị nhớ lắm mái ấm thân yêu, nơi đã chấp cánh ước mơ để chị bay vào đời. Nhớ người mẹ tảo tần, nhớ người cha dãi nắng dầm mưa vất vả nuôi hai chị em chị nên người. Nhớ người em gái nhỏ mà chị yêu quý nhất. Những năm trước gia đình vẫn đều đặn gởi thư, vẫn cho chị biết diễn tiến sinh hoạt, chị vẫn được nhìn thấy sự lớn lên từng ngày của đứa em gái qua từng tấm ảnh. Chị hình dung ra em chị thật đẹp, nó xinh xắn và dễ thương. Chị ước ao được ôm chầm lấy đứa em gái ấy trong vòng tay của mình giây phút đầu tiên về nước.

Bẵng đi mấy năm nay chị không còn nhận được những cánh thư với dòng chữ dí dỏm của em, chỉ có má lâu lâu gọi điện hỏi thăm sức khỏe và cho chị biết diễn tiến sinh hoạt của gia đình, má bảo dạo này em bận nhiều việc và đi làm xa. Chị tin những gì má nói và thấy an tâm vì gia đình vẫn bình an. Chị đâu có ngờ má đã giấu chị mấy năm nay. Cảm giác đầu tiên khi chị đặt chân về nhà là một sự trống vắng. Đã 27 tết, trên đoạn đường từ đầu làng trở về, nhà nào chị cũng thấy nhộn nhịp, ấm cúng, chỉ có nhà chị vẫn im lìm. Chẳng hiểu chuyện gì nhưng linh tính cho chị biết gia đình đang có chuyện gì đó chẳng lành.

–           Có ai ở nhà không?

Một phút, hai phút rồi năm phút trôi qua, chị chỉ nghe thấy một sự im lặng. Căn nhà sập xệ, hình như đã lâu nó không được quét dọn, mảnh vườn nhỏ phía trước rậm rạp y như căn nhà bỏ hoang. Vừa ngạc nhiên vừa thấy buồn.

Bình thường ba má rất gọn gàng, sạch sẽ. Hồi chị ở nhà, ngày nào cũng thấy má quét dọn từ trên xuống dưới. Nên mỗi lần đi đâu xa trở về căn nhà như trở về tổ ấm đầy yêu thương.

–           Ba má đi đâu? Hay căn nhà này đã bán cho ai rồi? Lâu ngày không về nên mình chẳng biết, đứng đây nhỡ giờ không phải nhà mình thì…nhưng hồi nãy bà Tám dẫn mình về đây mà. Có ai ở nhà không?

Gọi mãi chị mới nghe thấy một tiếng trả lời rất nhỏ từ bên trong, nhận ra giọng nói của má. Chị ngạc nhiên vì chẳng còn nhận ra má. Má gầy trông thấy, thân hình chỉ còn da bọc xương, má đang nằm co ro bởi cơn đau hành hạ. Nhìn má chị không nín nổi cảm xúc, liền òa lên khóc. Má cũng khóc.

–           Má ơi! Có chuyện gì vậy má? Tại sao lại ra nông nỗi này?

–           Con về sao không cho má biết.

–           Má còn chưa trả lời con mà. Gia đình mình có chuyện gì hả má?

–           Má xin lỗi vì đã giấu con, má không muốn con bị phân tâm, không muốn vì gia đình mà làm mất ơn gọi của con nên má đã cố giấu con mọi chuyện. Má biết điều đó là không nên nhưng má không biết phải chọn lựa thế nào.

Mãi lúc này chị mới thực sự biết mọi chuyện sảy ra trong gia đình mấy năm nay. Ở trong nhà dòng mọi sự đều an toàn, cho dù cuộc sống chung cũng có những thách đố, những va chạm, nhưng chị vẫn thấy bình an, chị mê muội tin tưởng những gì mẹ chị nói. Chị còn luôn tạ ơn Chúa về gia đình mình. Chị đâu có biết rằng mấy năm nay mái ấm gia đình chị đã bị ba – người mà chị vẫn kính trọng, vẫn yêu mến ấy phá vỡ tanh banh hạnh phúc mà bao nhiêu năm qua mọi người cùng cố gắng xây đắp. Biết tin ba bỏ nhà ra đi, chị rất buồn, nhưng chị không buồn và đau khổ bằng chị biết được sự thật còn phũ phàng hơn nữa. Em gái chị, đứa em bé bỏng mà chị yêu quý nhất ấy. Vì thương mẹ đau ốm và muốn cho chị trọn vẹn đời tu nên em đã đi làm một cái nghề mà xã hội dè bỉu, khinh chê. Từ khi ba đi theo người phụ nữ khác má rất đau khổ, suy sụp rồi phát bệnh. Nhưng má tuyệt nhiên không cho chị biết, má sợ chị buồn và thất vọng về gia đình, về người cha không tốt của mình. Nhất là em gái chị cũng giấu khi phát hiện ra căn bệnh nan y của má, em sợ chị lo lắng, sợ chị sẽ bỏ cuộc không thể thực hiện được ước mơ nên em đã quyết định đi làm cái nghề “nhanh có tiền” để chữa trị cho má. Nghĩ đến cái giá em chị phải trả quá đắt chị càng thương em. Lúc này chị hoàn toàn bế tắc, chị không biết phải làm gì bù đắp cho sự mất mát của em.

“Chúa ơi, tại sao con dấn thân cho Chúa. Con hết lòng với giáo Hội, con đâu có làm gì sai mà Chúa lại để cho gia đình con như thế? Con những nói với người ta về Chúa, con được giao cho công tác hàn gắn những đổ vỡ trong các gia đình, con thường tự hào về gia đình của con, con vẫn thường kể cho người khác về gia đình của mình như một mẫu mực. Thế mà giờ đây gia đình con lại trở nên sự đàm tiếu cho người khác. Con phải làm gì? Con không thể tiếp tục đời tu, tiếp tục an phận trong nhà Chúa trong khi gia đình con, em gái con phải chịu ….Từ trên cao, ánh mắt Chúa vẫn nhìn chị rất trìu mến, ánh mắt ấy như đang nói với chị rằng “Cha hiểu nỗi đau khổ của con lúc này và Cha cũng đang cùng đau khổ với con”.

–           Sơ à về thôi, khuya lắm rồi. Mình tin Chúa sẽ có cách giúp sơ và gia đình.

Hahaha, chị cười lên chua xót.

–           Chúa có cách gì? Giờ cách gì cũng chẳng thể lấy lại được danh dự, được sự trinh trong của một đời con gái.

Chị lại khóc, “Chúa ơi, tại sao Chúa lại đối xử với con, với gia đình con như vậy? Đó có phải là cách Chúa thường đối xử với bạn Chúa không ạ. Em ơi, giờ chị phải làm gì cho em”?

Tuấn cũng đang quỳ, hướng nhìn cây thập giá. Trong đêm khuya thanh vắng, tối mịt. Cây thập giá nổi bật bởi ngọn đèn chầu của Nhà Tạm hắt lên. Những lỗ đinh ở tay, chân Chúa há rộng như đang muốn chôn chặt tất cả tội lỗi của nhân gian vào trong đó. Tuấn nhìn vào đó và như chợt hiểu ra, Tuấn lay lay vào người chị.

–           Sơ ơi, nhìn thập giá kìa, Chúa chúng ta dù đã sống lại nhưng những dấu đinh đóng vào tay chân Chúa vẫn còn nguyên, chẳng mất một dấu vết nào. Mình nghĩ, việc làm của em sơ là một việc làm thật tốt đẹp. Em sơ vì thương mẹ, muốn cứu mẹ nhưng em cũng rất thương sơ, em chỉ muốn sơ tiếp tục “con đường thập giá” mà sơ đã chọn, đã dấn thân nên em sẵn sàng hy sinh cái quý nhất của đời con gái. Mình cảm nhận nó là của lễ đẹp nhất mà em đã dành cho mẹ và chị mình. Cũng như Chúa Giêsu đã dùng chính mạng sống mình làm hiến lễ cho Cha và nhân loại. Em không làm điều đó vì xác thịt, vì thú vui nhưng em làm vì nghĩ đến người khác hơn là nghĩ đến bản thân. Em vẫn biết rằng khi em làm như vậy thì em sẽ mất tất cả, nhưng em đã chấp nhận. Chúa chúng ta trước khi chịu chết, Ngài cũng biết trước những đau khổ đang chờ đón Ngài nơi đồi golgotha nhưng Ngài đã chấp nhận lên tới đó vì muốn Cứu Độ con người. Vết đinh ở tay chân Chúa là bằng chứng của một tình yêu hy hiến đến cùng. Mình nghĩ tình yêu của em dành cho má và cho sơ cũng vậy. Đó là một tặng ân quý giá sơ ạ.

–           Chị ơi, chỉ một lần ấy đủ số tiền chữa trị thôi ạ, em đã từ bỏ ngay sau đó.- Chị nghe rõ tiếng em đang thanh minh sau khi chị biết được mọi chuyện và tỏ ra bức xúc.

–           Em ơi, chị sai rồi. Giờ em muốn chị phải làm gì, chị sẵn sàng làm tất cả vì em.

–           Sơ à, về thôi, giờ này chắc má và Kiều Oanh đang mong sơ.

–           Uhm, má ơi, em ơi con sẽ về, chị sẽ về với em đây.

Nói xong chị chạy ra khỏi nhà thờ, lao đi trong màn đêm tối mịt nhưng lúc này chị cảm nhận một sự bình an từ chính cây Thập giá ấy. Tuấn chạy theo sau.

“Chúa ơi! Con đường Chúa đã đi là con đường đau thương, con đường của tủi nhục và Chúa đã dùng con đường ấy để Cứu Độ nhân loại ư?” – “Đúng vậy con à, và con chỉ có thể tiếp tục con đường ấy bằng tình yêu”. Chị nhìn thấy con đường chị đang đi dù nhiều gai góc nhưng nó đang mở ra, đôi chân chị lại tiếp tục tiến bước trên “con đường ấy” vì một tình yêu và một sứ vụ lớn hơn.

 

Share This Post