Giáo Hội Công Giáo với hòa bình và quyền con người

LTS: Ngày 29-9-2016, tại Ủy ban hòa bình Việt Nam đã diễn ra cuộc hội thảo: “Vai trò của hòa bình trong việc thúc đẩy quyền con người” phối hợp với Viện nghiên cứu con người. Hội thảo đã thu hút nhiều nhà khoa học, nhiều cựu đại sứ Việt Nam ở nước ngoài. Hội thảo do Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu- Chủ tịch Ủy ban điều hành. Trong 6 báo cáo trình bày tại hội thảo có tham luận của Đại đức Thích Trí Thuần, Giảng sư Ban Hoằng pháp Phật giáo Hà Nội và của TS Phạm Huy Thông, Trưởng ban Tư duy Tôn giáo, Trung tâm Khoa học tư duy (CTS).

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chúa Giêsu dạy: đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: đạo đức là nhân nghĩa” (1). Quả thật, hầu hết các tôn giáo trên thế giới đều khuyên tín hữu làm điều thiện, sống nhân ái, tốt lành. Nhưng thực tế hình như ngược lại. Khắp nơi trên trái đất đều có những cuộc xung đột bắt nguồn từ tôn giáo. Nào là Ấn giáo với Kitô giáo ở Ấn Độ, Hồi giáo với Công giáo ở Philippin, Tin Lành với Công giáo ở Bắc Ai Len. Rồi Hồi giáo với Hồi giáo ở Iraq, Syria… Tổ chức CCFD (Comité Catholique Contre la Faim et pour le développement) còn đưa ra kết quả thăm dò nguyên nhân của các cuộc chiến trong thế kỷ XXI thì tôn giáo chiếm lớn nhất là 27,4%, vượt xa các nguyên nhân về kinh tế 18,8% hay tình trạng vũ trang quá mức 17,3%. Còn trong cuốn “Xung đột giữa các nền văn minh” của GS S. Huntington xuất bản năm 1993 có đưa ra dự báo sẽ có xung đột giữa các nền văn minh trong tương lai như văn minh Hồi giáo với văn minh Kitô giáo và văn minh phương Tây. Trong bài này, tôi muốn xem xét lập trường của Giáo hội Công giáo về vấn đề hòa bình và quyền con người.

htCác đại biểu tham dự Hội thảo

1-Không thể có hòa bình nếu không có công lý

Ngay trong điều răn thứ năm trong “Thập giới” của đạo Công giáo viết: “Ngươi không được giết người”. Chiến tranh là giết người, giết rất nhiều người nên đương nhiên, chiến tranh bị loại trừ theo quan điểm của Công giáo. Đức Giêsu được coi là “Hoàng tử Hòa bình” vì trong đêm Ngài giáng sinh, khắp đất trời vang lên lời ca hát: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Hòa bình dưới thế cho người thiện tâm”. Trong bài giảng “Trên núi”, Đức Giêsu cũng tuyên bố, một trong bát phúc đó chính là kiến tạo hòa bình: “Phúc cho ai xây dựng hòa bình vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (Mt 5, 8). Đức Giêsu không dùng bạo lực để giành tín đồ mà chấp nhận chịu nhục, chịu đóng đinh trên Thập giá chỉ ra một con đường chiến thắng mới là đi qua khổ nạn Thập giá.

Lịch sử Giáo hội Công giáo cũng đan xen cả ánh sáng và bóng tối. Cũng có những trang đầy máu và nước mắt như các cuộc Thập tự chinh hay quá say sưa với việc truyền giáo một cách áp đặt như chính Giáo hoàng Gioan Phaolô II thừa nhận:

Họ đi cắm Thánh giá, phân phát niềm hy vọng Kitô giáo, phổ biến tiến bộ trí tuệ và kỹ thuật của họ. Nhưng họ cũng là những người xâm lăng. Họ đã cắm nền văn hóa của họ vào, họ chiếm tài sản của các bộ tộc khác mà thường là họ coi khinh truyền thống riêng và thường xuyên bắt phục tùng quyền lợi của họ một cách hung bạo” (2).

Các nhà thần học Công giáo như Augustino hay Thomas Auquino đồng ý là chính quyền có thể dùng bạo lực để ngăn chặn tội ác hay bảo vệ đất nước. Họ cũng đưa ra khái niệm “chiến tranh chính nghĩa” (Jusda bella ulciscutura injurias) với điều kiện nó có lý do chính đáng, ý định chính đáng và quyền lực chính đáng.

Công đồng Vaticano 2 đã có cái nhìn mới về chiến tranh và hòa bình. Hiến chế Gaudium et Spet viết:

Hòa bình không phải là vắng bóng chiến tranh, cũng không chỉ là giản lược vào sự quân bình giữa các lực lượng đối phương, cũng không phải xuất phát do một nền cai trị độc tài nhưng theo đúng định nghĩa thì hòa bình là “công trình của sự công bằng” (Is 32,7). Hòa bình là kết quả của một trật tự đã được chính Thiên Chúa, Đấng Sáng Lập ghi khắc vào xã hội loài người và phải nhờ những người luôn khát khao một nền công bằng hoàn hảo hơn thể hiện ra trong hành động… Do đó, hòa bình không bao giờ đạt được một lần là xong, nhưng phải xây dựng mãi mãi… Hòa bình là kết quả của tình thương, vượt xa những gì công bằng đem đến” (3).

Như vậy hòa bình là kết quả của công lý, của tình thương. Không có công lý, không có tình thương của con người với con người không thể có hòa bình.

Sau Công đồng Vaticano II, nhiều Giáo hoàng đã có những cử chỉ can thiệp, cổ vũ cho hòa bình. Giáo hoàng Paul VI đã viết thư cho cả chính phủ Mỹ và Việt Nam đề nghị sớm có giải pháp chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam năm 1967. Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã có sáng kiến mời tất cả các đại diện các tôn giáo trên thế giới về cầu nguyện cho hòa bình tại Assisi từ năm 1986 và ngày 20-9-2016 vừa qua, kỷ niệm 30 năm biến cố này, hơn 400 đại diện các tôn giáo trên thế giới đã về đây cầu nguyện và đã ra một tuyên ngôn chung:

Chúng tôi đã lắng nghe tiếng kêu của người nghèo, của trẻ em, các phụ nữ và bao nhiêu anh chị em đang đau khổ vì chiến tranh, cùng với họ. chúng tôi mạnh mẽ nói rằng: Không chấp nhận chiến tranh. Ước gì tiếng kêu than của bao nhiêu người vô tội được lắng nghe. Chúng tôi khẩn thiết xin các vị lãnh đạo các dân nước hãy giải trừ những động lực của chiến tranh, sự ham hố quyền bính và tiền bạc, lòng tham lam của những kẻ buôn bán vũ khí, những lợi lộc phe phái, những trả thù từ quá khứ. Xin gia tăng sự dấn thân cụ thể để loại trừ những cuộc xung đột, tình trạng nghèo đối, bất công chênh lệch, sự bóc lột và coi rẻ sự sống con người” (4).

Chính Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng là người có sáng kiến lấy ngày 1 đầu năm là ngày hòa bình thế giới và lấy ngày 20-9 hàng năm để cầu nguyện cho hòa bình trên trái đất.

Giáo hoàng Phanxicô đã có hành động cụ thể để giảm thiểu các xung đột giữa các quốc gia như đã góp phần quan trọng vào việc bỏ cấm vận của Mỹ đối với Cu Ba sau 51 năm mà nguyên thủ hai nước này đã ghi công ngài bằng cách chọn ngày công bố sự kiện này đúng sinh nhật của Giáo hoàng 17-12-2014. Giáo hoàng cũng đã mời được hai cựu thù là Tổng thống Ixrael Shimon Peres và Mahoud Abbas của Palestine đến Roma để cầu nguyện cho hòa bình ở Trung Đông năm 2014. Ngài cũng gặp Tổng thống Nga Putin để tìm giải pháp cho cuộc chiến ở Syria năm 2015. Mới đây, ngày 26-9-2016, Đức Phanxicô đã gặp Tổng thống Joseph Kabile của Conggo để bàn việc vãn hồ hòa bình cho nước này. Mặt khác Giáo hội Công giáo đang tìm cách đối thoại với các tôn giáo khác như Chính Thống, Tin Lành, Hồi giáo và đã đạt được nhiều kết quả kể cả Vatican phải thay đổi cả Giáo luật để đối thoại với các tôn giáo Đông Phương hay phải kêu gọi dùng bạo lực để ngăn cản IS. Giáo hoàng Phanxicô phản đối khái niệm chiến tranh tôn giáo:

Tôi muốn nói đến chiến tranh, không phải chiến tranh tôn giáo. Đấy là cuộc chiến tranh của lợi ích, của tiền bạc, của tài nguyên thiên nhiên, một cuộc chiến tranh để thống trị các dân tộc. Một vài người sẽ nói: đấy là chiến tranh tôn giáo. Không phải.Các tôn giáo đều muốn hòa bình. Chỉ những kẻ mưu lợi từ chiến tranh mới muốn chiến tranh”(5).

2- Giáo hội với quyền con người

Trong Tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích lại nội dung bản Tuyên ngôn của Pháp năm 1791 và Mỹ năm 1776 :

Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”…“Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” (6).

Tinh thần những bản Tuyên ngôn trên thấm đẫm tinh thần Kitô giáo vì văn minh Âu- Mỹ vốn bị ảnh hưởng tinh thần này. Có thể nói rằng, đóng góp của Kitô giáo với văn minh nhân loại là đã đưa ra khái niệm “nhân vị”. Con người là một ngôi vị có nhân tính. Chúa đã dựng lên con người giống hình ảnh của Chúa. Thiên Chúa xuống thế làm người, cứu chuộc con người khỏi tội lỗi là để nâng con người lên làm con Thiên Chúa. Vì vậy, Giáo hội Công giáo luôn khẳng định: “Trật tự xã hội và sự phát triển của xã hội phải luôn nhắm tới lợi ích của con người, vì trật tự sự vật phải lệ thuộc vào trật tự con người chứ không phải theo cách ngược lại” (7). Giáo hội Công giáo cũng cho rằng có sự bình đẳng giữa nam và nữ, bình đẳng giữa các dân tộc, giữa các quốc gia. Giáo hoàng Gioan Phaolô II coi bản Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền được Liên hiệp quốc chấp nhận ngày 10-12-1948 là “một cột mốc thực sự trên con đường tiến bộ đạo đức của nhân loại”. Huấn quyền coi nguồn gốc của các quyền con người nằm ngay trong chính phẩm giá của mỗi con người. Những quyền này mang tính phổ quát, bất khả xâm phạm và bất khả nhượng. Có nghĩa là quyền con người phổ biến mọi lúc, mọi nơi, không ai được tước đoạt, xâm phạm chúng. Quyền con người được nói đến đầu tiên là quyền được sống từ lúc thụ thai đến lúc chết. Quyền tự do tôn giáo cũng nằm trong số các quyền của con người.

Tất nhiên, con người muốn được hưởng các quyền của mình một cách tự nhiên cũng phải có điều kiện như môi trường sống phải được ổn định, hòa bình. Nếu chiến tranh thì quyền sống đầu tiên bị đe dọa và kéo theo nhiều quyền khác khó thực thi. Hay quyền lợi mà không gắn với nghĩa vụ thì cũng khó mà đáp ứng. Huấn quyền viết: “Bởi đó, những ai đòi hỏi quyền lợi mà quên hay bỏ qua không thi hành các nghĩa vụ của mình là những người tay này xây dựng nhưng tay kia lại phá hoại” (8).

Đất nước ta có may mắn được sống trong ổn định và hòa bình. Đấy là điều kiện cần thiết để quyền con người được thực thi. Nhưng cũng phải thừa nhận, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục ở nước ta cũng còn nhiều vấn đề chưa theo kịp với những nước phát triển vì vậy, quyền con người cũng chưa được đáp ứng đầy đủ theo nhân phẩm của con người. Giải quyết vấn đề đó, không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước, của xã hội mà còn là của các tôn giáo nữa.

TS. Phạm Huy Thông *

Chú thích

*Trưởng ban Tư duy, Trung tâm Khoa học Tư duy (CTS);

1, 6- Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào Công giáo, Huy Thông tuyển chọn và giới thiệu, Nxb CTQG 2004, tr.198; tr.27

2- Lui Accatoli: Quan le Pape demande pardon, Nxb Abia Michel 2000, tr.212-213.

3- Thánh Công đồng Vaticano 2, Giáo hoàng học viện Đà Lạt xuất bản 1972, tr.851

4- Vietcatholic/News ngày 21-9-2016

5- Phanxico.vn/2016/08/06/jonj

7- Hội đồng Giám mục Việt Nam: Tóm tắt học thuyết xã hội của Giáo hội Công giáo, Nxb Tôn giáo 2007, tr.114

8- Giáo hoàng Gioan Phaolô II: Thông điệp Pacem in Terris, AAS 55, 1963, pag. 264

 

Share This Post