Giáo Hội như là Người Mẹ

Dẫn Nhập

Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta giao tiếp được với nhau là nhờ các biểu tượng, hình ảnh. Đây là phương tiện hữu hiệu nhất cho phép chúng ta lĩnh hội, mô tả, và thông truyền thực tại. Thực tại càng sâu nhiệm thì đòi hỏi việc dùng biểu tượng, hình ảnh càng tinh tường, sao cho biểu tượng, hình ảnh đó không xa lạ với người tiếp nhận, đồng thời, có khả năng giúp họ tiếp cận thực tại cách dễ dàng hơn. Chẳng hạn, khi nói về tình yêu, người ta thường dùng biểu tượng hay hình ảnh con tim, bởi vì con tim được xem là trung tâm của cuộc sống con người qua việc tuần hoàn máu, cung cấp dưỡng chất cho cơ thể. Ngôn ngữ cũng là biểu tượng hay hình ảnh của một nền văn hóa, bởi vì, nhờ ngôn ngữ con người có thể tìm hiểu và khám phá thực tại cũng như chia sẻ những gì mình tìm hiểu, khám phá cho anh chị em đồng loại.

Ngôn ngữ tôn giáo là ngôn ngữ hình ảnh điển hình nhất. Chính Đức Giêsu trong khi rao giảng Tin Mừng cứu độ thường dùng hình ảnh. Để mô tả Nước Thiên Chúa hay Nước Trời, Đức Giêsu lấy những hình ảnh quen thuộc trong đời sống con người, chẳng hạn, Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng; Nước Trời giống như chuyện chiếc lưới thả xuống biển; Nước Trời giống như chuyện gia chủ kia, vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm việc trong vườn nho của mình; Nước Trời cũng giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba đấu bột, cho đến khi tất cả bột dậy men; Nước Trời cũng giống như chuyện hạt cải người nọ lấy gieo trong ruộng mình. Ngoài ra, Đức Giêsu còn dùng nhiều biểu tượng, hình ảnh, và dụ ngôn khác nữa nhằm làm cho mọi người có thể tiếp cận mặc khải của Thiên Chúa cách dễ dàng hơn.

Giáo Hội chính là thực thể được Đức Giêsu thiết lập trong lịch sử nhân loại. Công Đồng Vatican II minh định rằng “Giáo Hội ở trong Chúa Kitô như bí tích hoặc dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại.”[1] Thực thể tôn giáo có tên ‘Giáo Hội’ là thực thể hữu hình và vô hình hay nói theo ngôn ngữ của Công Đồng Vatican II “Giáo Hội là xã hội có tổ chức qui củ, và Nhiệm Thể Chúa Kitô, đoàn thể hữu hình và cộng đoàn thiêng liêng.”[2] Vì là thực thể đa phức, Giáo Hội thường được diễn tả qua nhiều biểu tượng, hình ảnh khác nhau từ những biểu tượng, hình ảnh phổ biến trong nền văn hóa Do Thái, nơi Giáo Hội phát xuất xét về lịch sử, chẳng hạn, ruộng lúa, đoàn chiên, cây nho đến những biểu tượng, hình ảnh sâu nhiệm nhất như thân thể, hiệp thông hay bí tích.

Bài viết này đề cập đến hình ảnh ‘Giáo Hội như là người mẹ’. Đây là hình ảnh đã được các Giáo Phụ quan tâm rất sớm từ những thế kỷ đầu của Kitô Giáo. Qua dòng lịch sử, hình ảnh này tiếp tục được quan tâm bởi các Đức Giáo Hoàng và các thần học gia. Bài viết không đi sâu vào việc tìm hiểu, phân tích, và lượng định các chi tiết liên quan đến hình ảnh ‘Giáo Hội như là người mẹ’, mà chỉ khái quát một số điểm quan trọng dựa trên kinh nghiệm phổ quát của mỗi người về người mẹ sinh học của mình, đặc biệt, dựa trên Kinh Thánh, Truyền Thống, và Giáo Huấn của Giáo Hội cũng như những quan điểm chung nhất của các thần học gia. Nội dung bài viết sẽ theo trình tự như sau: (1) Hình ảnh người mẹ trong môi trường nhân loại, (2) Hình ảnh người mẹ trong Kinh Thánh, (3) Giáo Hội như là người mẹ, (4) Hiệu quả của nhận thức Giáo Hội như là người mẹ.

  1. Hình Ảnh Người Mẹ trong Môi Trường Nhân Loại

Có một màn quảng cáo về sữa rất độc đáo như sau: Người mẹ nói với người con rằng ‘mẹ yêu con nhiều lắm’. Người con dang đôi tay của mình và nói rằng ‘mẹ yêu con nhiều bằng chừng này không?’ Người mẹ dang đôi tay của mình và nói rằng ‘mẹ yêu con nhiều như thế này cơ’. Sau đó hộp sữa xuất hiện và người con chỉ tay vào hộp sữa. Ý của công ty quảng cáo là: nếu mẹ yêu con dường ấy thì hãy mua loại sữa này cho con. Đối với người con, đôi tay của mình là dài nhất rồi, tuy nhiên, đôi tay của người mẹ còn dài hơn. Người mẹ luôn cho người con những gì tốt đẹp hơn những gì người con mong muốn.

Kinh nghiệm phổ biến, lớn lao, và đặc biệt nhất của mỗi người có lẽ là kinh nghiệm về người mẹ. Đây là kinh nghiệm sống động và liên lỉ thuộc bản năng con người cho dù lắm khi con người không ý thức. Giây phút đầu tiên của thực thể có tên gọi là ‘người’ không có địa chỉ nào khác mà là người mẹ. Sự hiện diện của người con trong lòng người mẹ là sự hiện diện độc nhất vô nhị, bởi vì, không nơi nào khác sự hiện diện của người con lại được yêu thương, chăm sóc, bảo vệ như trong lòng người mẹ. Người mẹ không chỉ chăm sóc về mặt thể lý cho người con, mà còn chuẩn bị cho người con những gì tốt đẹp để người con có thể lớn lên khỏe mạnh và có đủ điều kiện gia nhập môi trường nhân loại.

Những người mẹ có thể khác nhau về nhiều mặt, tuy nhiên, đều giống nhau ở sự thương yêu, chăm sóc, và hi vọng những điều tốt đẹp cho con cái mình. Tình thương, sự chăm sóc, sự hi sinh của người mẹ luôn vượt qua sự hiểu biết của người con. Mọi biến cố trong đời sống của người con đều có sự can thiệp của người mẹ. Lời ru của người mẹ đưa người con vào giấc ngủ, lời mời gọi của người mẹ đánh thức người con dậy. Khi người con cảm thấy khó chịu vì đau ốm, bị đe dọa hay nguy hiểm cách nào đó thì luôn có người mẹ bên cạnh. Khi người con đi xa, điều luôn quán xuyến tâm trí người mẹ đó là những thông tin về người con mình.

Hình ảnh người mẹ ôm người con vào lòng mình luôn lay động trái tim tất cả mọi người. Đối với người con, không nơi nào bình an hơn khi được nằm trọn trong vòng tay êm ái và dịu dàng của người mẹ. Đối với người con, người mẹ luôn là ưu tiên số một trong những người mà người con tiếp xúc. Tiếng ‘mẹ’ là tiếng đầu đời có ý thức của người con. Tiếng ‘mẹ’ (mum, mama, maman, me) là tiếng dễ nói nhất và tần suất xuất hiện nhiều nhất của người con trong những tháng năm đầu đời. Khi trưởng thành cũng vậy, hình ảnh người mẹ vẫn luôn là hình ảnh thân thương nhất của đời sống người con.

Con tim của người mẹ khởi nhịp trước con tim của người con. Con tim đó luôn bao dung, tha thứ, và mở ra cho người con dù người con bất xứng hay vướng mắc những lầm lỗi nghiêm trọng nhất. Người mẹ yêu người con trước khi người con yêu người mẹ. Người mẹ biết người con trước khi người con biết người mẹ. Người mẹ gọi tên người con trước khi người con gọi người mẹ. Người mẹ lo lắng cho người con trước khi người con nghĩ về người mẹ. Người mẹ hi sinh vì người con trước khi người con có thể làm được điều gì đó để đền đáp công ơn người mẹ. Những hi vọng tốt đẹp của người mẹ cho người con xảy ra trước khi người con hi vọng những điều tương tự cho chính mình. Người mẹ luôn dành những gì quí giá cho người con trước khi người con có thể mua tặng người mẹ thứ gì đó để thể hiện lòng trân quí người mẹ mình. Người mẹ trông đợi người con từ khi người con vắng nhà, trước khi người con nghĩ về người mẹ. Người mẹ hiểu người con trước khi người con nói cho người mẹ biết. Người mẹ biết người con cần gì trước khi người con hỏi người mẹ. Nhu cầu của người con, người mẹ thông suốt cả. Gánh nặng đời người con chồng trên đôi vai gầy của người mẹ.

Người ta dùng nhiều hình ảnh khác nhau để ‘định nghĩa người mẹ’ từ những hình ảnh cụ thể nhất đến những hình ảnh trừu tượng nhất, từ việc so sánh người mẹ với ‘cái gì’, ‘với ai’, đến việc ‘thần thánh hóa người mẹ’. Chẳng hạn, để trả lời cho câu hỏi ‘người mẹ là gì?’, người ta có thể nói: người mẹ là suối mát, là trăng thanh, là bếp lửa, là máy giặt, là vại muối, là tấm áo, là tài khoản, là hoa nở, là lá chắn, là ngôi sao, là tấm gương, là thế giới, là chuối ba hương, là xôi nếp một, là đường mía lau. Để trả lời cho câu hỏi ‘tình trạng người mẹ thế nào’, người ta có thể nói: người mẹ là bình yên, là êm dịu, là mùa xuân, là bóng mát, là giai điệu dân ca, là quê hương, là ngọt ngào, là hi sinh, là thân thương, là nguồn cảm hứng. Để trả lời cho câu hỏi ‘người mẹ là ai?’, người ta có thể nói: người mẹ là nữ tướng, là bà chủ, là lãnh đạo, là ca sĩ bốn mùa, là nhà ngoại giao, là người giữ lửa, là cô giáo, là họa sĩ, là thủ quĩ, là ô-sin. Hơn thế nữa, người ta cũng thần thánh hóa người mẹ, chẳng hạn: người mẹ là tiên, là phật, là thần giữ của, là thần ban ơn. Sẽ không có câu trả lời xứng hợp cho câu hỏi ‘bao nhiêu từ và những đặc tính gắn liền sau đó thì đủ để diễn tả hết thực tại có tên mẹ?’

Nhìn chung, trong bối cảnh gia đình, tương quan giữa người mẹ và người con gần gũi hơn giữa người cha và người con. Điều này không có nghĩa rằng tình thương của người cha đối với người con không bằng tình thương của người mẹ đối với người con. Ở đây, ta chỉ quan tâm đến yếu tố tự nhiên theo kinh nghiệm của mỗi người. Người cha yêu thương người con theo cách của người cha, cách mà người con khó có thể cảm nghiệm hơn là tình thương của người mẹ. Câu ca dao ‘công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra’ phản ánh điều đó. Trong gia đình, người cha là hình ảnh của trật tự, người mẹ là hình ảnh của hòa hợp. Trên bình diện tập thể của cộng đồng nhân loại, không nơi nào trật tự và hòa hợp được diễn tả tốt đẹp hơn trong gia đình giữa cha mẹ và con cái.

Vai trò của người mẹ trong nhân loại là vai trò không thể thay thế được. Trên nguyên tắc, người cha và người mẹ có vai trò tương đồng đối với con cái của mình. Tuy nhiên, xem ra, người mẹ đóng vai trò quan trọng đối với người con hơn là người cha, đặc biệt, trong những năm tháng đầu đời của người con. Xét về mặt nhân học, một người con vắng bóng người mẹ thì thiệt thòi nhiều hơn là người con đó vắng bóng người cha. Tình mẫu tử nhẹ nhàng nhưng xem ra mãnh liệt và lâu bền hơn tình phụ tử, điều này khó có thể lý giải được. Người ta có thể cho rằng vì người mẹ là con người của gia đình, người mẹ thường gần gũi người con hơn người cha, còn người cha thường xa nhà để lo cơm áo cho gia đình.

Những hình ảnh, những áng thơ, những bài hát về người mẹ luôn nhiều hơn người cha. Ngày Quốc Tế Phụ Nữ, Ngày Của Mẹ (Mother’s Day) thường được mọi người, cả nam lẫn nữ, quan tâm nhiều hơn trong thế giới hôm nay. Dấu ấn Ngày Của Mẹ (Mother’s Day) khởi đi từ thời cổ Hy Lạp và Rôma. Ngày Của Mẹ đã được chính thức công nhận là Ngày Lễ Công Cộng (Public Holiday) vào năm 1914 tại Mỹ. Hiện nay, nhiều nước trên thế giới công nhận Ngày Của Mẹ vào Chúa Nhật thứ hai, tháng Năm. Như thế, sự quan tâm đến người mẹ không chỉ trên bình diện cá nhân mà còn trên bình diện cộng đồng, quốc gia, quốc tế nữa. Dĩ nhiên, Ngày Của Cha cũng được một số nước thiết lập và công nhận sau này như để tạo sự quân bình với Ngày Của Mẹ nhằm đem lại cơ hội thuận tiện cho những người con tỏ lòng thảo hiếu tri ân những người cha của mình.

Từ ‘mẹ’ hay hình ảnh hoặc ý niệm mẹ không chỉ dùng để nói về con người và thế giới động vật, mà còn được sử dụng để diễn tả trong thế giới thực vật, chẳng hạn, cây mẹ và cây con. Nhìn chung, từ ‘mẹ’ hay hình ảnh hoặc ý niệm mẹ có thể dùng để diễn tả bất cứ thực tại nào mà từ đó các thực tại khác xuất hiện, chẳng hạn, một ngôn ngữ từ đó nhiều ngôn ngữ khác xuất hiện gọi là ngôn ngữ mẹ; hòn đá to giữa các hòn đá nhỏ khác gọi là hòn đá mẹ; đỉnh núi cao giữa các đỉnh núi khác gọi là đỉnh núi mẹ; hòn đảo lớn xung quanh có những hòn đảo nhỏ gọi là đảo mẹ. Từ ‘mẹ’ cũng được dùng để nói về vũ trụ hay môi trường tự nhiên.

Trong tiếng Latin, ‘natura’ có nghĩa là ‘tự nhiên’ hay ‘được dựng nên’ hay ‘thế giới thụ tạo’. Thế giới tự nhiên trở thành tác nhân sinh sản, tác nhân làm cho những thực thể mới xuất hiện, biến đổi, và sinh hoa kết trái. Từ lâu người ta đã ngôi vị hóa thế giới tự nhiên và gọi thế giới tự nhiên là Mẹ Tự Nhiên. Trái đất được gọi là Mẹ Đất hay Đất Mẹ. Các nền văn hóa lớn như Ai Cập, Lưỡng Hà, Assyria hay Ấn Độ xem thế giới tự nhiên như là Mẹ bởi vì thế giới tự nhiên đã sinh ra muôn vật muôn loài. Hơn thế nữa, thế giới tự nhiên không ngừng tái tạo và tiếp tục sinh sản. Trong văn hóa Hy Lạp trước Công Nguyên, người ta thần thánh hóa thế giới tự nhiên trong các câu chuyện dân gian, thần thoại. Thánh Phanxicô (1181-1226) cũng gọi thế giới tự nhiên hay địa cầu này là ‘Mẹ’ hay ‘Mẹ Đất’.

Ý niệm con người là chủ của thế giới tự nhiên, đặc biệt là chủ của trái đất đã ăn sâu vào tâm khảm của nhiều người. Do đó, nhiều nơi người ta đối xử với những gì trong thế giới tự nhiên như là nô lệ. Hậu quả là tài nguyên bị cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm, những thảm họa tự nhiên, chẳng hạn, động đất, bão lụt, xảy ra với tần suất ngày càng nhiều hơn. Mẹ tự nhiên không kêu gào than khóc nhưng vẫn âm thầm rên rĩ sao cho con cái mình ý thức hơn những công việc mình làm trên cơ thể mẹ. Mẹ tự nhiên đã bị khai thác, đã bị vắt kiệt sức vì sự tham lam vô độ của con cái mình. Hôm nay, con người ý thức hơn về thế giới tự nhiên. Con người hiểu ra rằng họ không chỉ là chủ của thế giới tự nhiên mà còn là người quản lý thế giới đó. Sự cộng tác của con người trong việc bảo vệ, duy trì, và khai thác thế giới tự nhiên cách xứng hợp luôn được khuyến khích.

Thế giới tự nhiên đòi hỏi sự tôn trọng về phía con người để có thể phục vụ con người. Quan điểm đúng đắn nhất là con người vừa không thần thánh hóa thế giới tự nhiên, vừa không coi thế giới tự nhiên như là ‘nô lệ’ của chính mình. Trái lại, con người cũng không thể nhân danh bảo vệ thế giới tự nhiên, chẳng hạn, lý luận rằng thế giới tự nhiên không đủ điều kiện cung cấp cho dân số quá đông, để chủ trương phá thai hay dùng những phương cách tinh vi khác nhằm loại trừ những người không có khả năng tự vệ. Người ta không thể nhân danh thế giới tự nhiên để tru diệt thế giới con người, không thể nhân danh môi trường tự nhiên để phá hủy môi trường nhân loại. Ngoài môi trường tự nhiên và môi trường nhân loại, con người còn có kinh nghiệm về môi trường siêu việt nữa. Ba câu hỏi lớn nhất của nhân loại từ cổ chí kim vẫn là con người, vũ trụ, và Thượng Đế (Trời hay thế giới siêu nhiên).

Ý niệm Trời Cha, Đất Mẹ ăn sâu vào các nền văn hóa Á Đông, Trời hay Ông Trời thường xuất hiện nơi cửa miệng của nhiều người. Khi biểu lộ sự ngạc nhiên, đau khổ hay vui mừng, người ta thường nói ‘Trời ơi!’ Đối với Đất Mẹ cũng vậy, người ta rất tôn trọng, bởi vì, Đất Mẹ nuôi dưỡng con người từ khi hình thành cho đến khi trở về tan biến trong Đất Mẹ, hòa nhập với Đất Mẹ. Nói đến Đất Mẹ là nói đến sự màu mỡ, phong nhiêu, sản sinh những gì thiết yếu cho đời sống con người. Từ Đất Mẹ muôn thảo vật được mọc lên, từ Đất Mẹ, muôn thú vật được nuôi dưỡng, từ Đất Mẹ muôn vật ký gửi tàn hơi cuối cùng của cuộc sống mình.[3]

Liên quan đến hình ảnh ‘mẹ’, chúng ta cũng nhận thấy rằng các vị thần nữ được xem như là những người mẹ tồn tại rất sớm trong các nền văn hóa quanh vùng Địa Trung Hải. Ở Ấn Độ hay các nền văn hóa Phương Đông cũng vậy, các thần nữ luôn được đề cập tới trong các tác phẩm văn chương cổ. Trong thế giới hiện đại, chúng ta thấy rằng rất nhiều thành phố, quốc gia, thể chế hay những công trình lớn, chẳng hạn, những chiếc tàu biển hiện đại được đặt tên giống cái. Tương tự như thế, người ta cũng đặt tên giống cái cho những cơn bão. Theo những quan sát và thống kê gần đây, những cơn bão có tên giống cái xảy ra trên thế giới gây nhiều tổn thất cho nhân loại hơn những cơn bão có tên giống đực! Như thế, hình ảnh người nữ, người mẹ vừa là những hình ảnh thân thương, dịu dàng, vừa là những hình ảnh dẻo dai, mạnh mẽ nữa.

  1. Hình Ảnh Người Mẹ trong Kinh Thánh
    a. Hình Ảnh Người Mẹ trong Cựu Ước

Một trong những hiện tượng nhân học kỳ diệu nhất mà chúng ta biết được đó là tỷ lệ gần như cân bằng giữa nam và nữ từ khi con người xuất hiện trên Đất Mẹ tới ngày hôm nay.[4] Những người ủng hộ thuyết tiến hóa có thể cho đó là ‘chọn lọc tự nhiên’. Những người khác có thể giải thích rằng có sự thiết kế hay điều tiết thông minh nào đó mà con người chưa thể lý giải được. Những người có niềm tin thì cho rằng đó là do Thiên Chúa quan phòng, bởi vì, nếu tỷ lệ đó bị chênh lệch quá nhiều thì thế giới sẽ đảo lộn và những người ủng hộ đa thê, đa phụ sẽ thắng thế. Theo mặc khải Kinh Thánh Cựu Ước, Thiên Chúa tạo dựng con người giống hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa tạo dựng họ có nam có nữ.

Để thực hiện chương trình cứu độ của mình, Thiên Chúa không tạo nên những biểu tượng hay hình ảnh mới. Người dùng chính những hình ảnh quen thuộc của con người nhằm thực hiện chương trình của mình. Mục đích cuối cùng là sứ điệp của Người được tiếp nhận, thông truyền, và chuyển tải. Nói thế không có nghĩa rằng Thiên Chúa sử dụng tất cả các hình ảnh trong một nền văn hóa nào đó để thực hiện. Trái lại, Người sử dụng những hình ảnh phù hợp nhất cho chương trình của Người. Những hình ảnh này có tầm phổ quát rộng lớn mà bất cứ nền văn hóa nào cũng có khả năng tiếp nhận, thông truyền, và chuyển tải, chẳng hạn, hình ảnh người cha, hình ảnh người mẹ, hình ảnh của sự thương yêu đùm bọc giữa những người trong gia đình, hình ảnh trái tim, hình ảnh nước, hình ảnh bóng tối, hình ảnh ánh sáng.

Điều đáng chúng ta quan tâm đó là nền văn hóa phụ hệ nảy sinh và hiện diện hầu hết ở các dân tộc trên thế giới, trong đó người nữ, người mẹ thường chịu thiệt thòi hơn người nam, người cha.[5] Dưới nhãn quan của các nền văn hóa quanh vùng Địa Trung Hải, đặc biệt văn hóa của các dân tộc vùng Palestine, người cha là chủ nhân của gia đình và tham gia đầy đủ các bổn phận trong xã hội. Vai trò của người mẹ là thứ yếu, liên quan đến những việc không tên của gia đình. Nghĩa ‘trật tự’ trong gia đình với thủ lãnh là người cha luôn lất át nghĩa ‘hòa hợp’ trong gia đình gồm nhiều thành phần trong đó người mẹ là biểu tượng. Với văn hóa phụ hệ, người nữ, người mẹ vừa chịu nhiều thiệt thòi trong gia đình, vừa chịu thiệt thòi trong xã hội. Không chỉ các nền văn hóa quanh vùng Địa Trung Hải mà thôi, hầu hết các nền văn hóa trong thế giới cổ là phụ hệ. Đến hôm nay, não trạng này còn in đậm dấu ấn ở nhiều nơi trên thế giới.[6]

Chúng ta không thể phủ nhận sự ảnh hưởng của não trạng phụ hệ trong văn hóa Do Thái đối với Kinh Thánh Cựu Ước. Tuy nhiên, chính Dân Do Thái đã cố gắng loại bỏ những gì không thích hợp từ các nền văn hóa xung quanh khi diễn tả Thiên Chúa và mặc khải của Người. Chúng ta không thấy nơi nào trong Kinh Thánh trực tiếp khẳng định rằng ‘Thiên Chúa là Mẹ’. Tuy nhiên, những đặc tính của người mẹ nhằm diễn tả Thiên Chúa không phải là ít. Dân Do Thái nhận được mặc khải rằng Thiên Chúa là cha, đồng thời, Thiên Chúa là Cha không có nghĩa rằng Thiên Chúa là người nam. Tương tự như vậy, khi dùng một số đặc tính của người mẹ để diễn tả Thiên Chúa không có nghĩa rằng Thiên Chúa là người nữ. Nói cách khác, đặc tính người cha hay người mẹ trong mặc khải của Thiên Chúa không cho phép chúng ta hình dung Thiên Chúa như con người vậy.[7] Việc Thiên Chúa mặc khải rằng Người là Cha không cung cấp cho Dân Do Thái bất cứ bằng chứng nào dẫn tới hệ luận rằng người nam quan trọng hơn người nữ.

Trong khi các tôn giáo trên thế giới nói chung và các tôn giáo miền Địa Trung Hải nói riêng thời Cựu Ước là các tôn giáo đa thần hay phiếm thần thì Do Thái Giáo là tôn giáo độc thần. Hơn thế nữa, các tôn giáo khác nhân loại hóa thần thánh của mình, nghĩa là các thần thánh cũng mang những đặc tính như con người, chẳng hạn, thần nam, thần nữ. Các vị thần cũng ghen tương, tranh giành quyền lực, và sự ảnh hưởng trên các dân tộc. Dân Do Thái thời Cựu Ước đã đón nhận mặc khải hết sức đặc biệt, Thiên Chúa của họ không phải là vị Thiên Chúa xa lạ nhưng là vị Thiên Chúa rất gần gũi với họ, gần gũi đến mức mà họ gọi Người là Cha. Tương quan giữa họ với Thiên Chúa không như tương quan với các vị thần của các dân tộc khác xung quanh, cũng không như tương quan giữa họ với các vị vua chúa trên trần gian.

Kinh Thánh Cựu Ước mặc khải về Vị Thiên Chúa toàn năng, toàn thiện. Đối với họ, Vị Thiên Chúa có giới tính thì chắc chắn không phải là Vị Thiên Chúa đích thật, bởi vì, giới tính biểu lộ sự không hoàn hảo, biểu lộ sự cần bổ khuyết của những thực thể khác. Chẳng hạn, người nam và người nữ cần nhau để bổ trợ cho nhau hầu có thể trở nên một xương một thịt với nhau và cộng tác với Thiên Chúa trong công trình sáng tạo.[8] Sách Sáng Thế tường thuật Lời Chúa rằng “con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó” (St 2,18). Con người cần trợ tá, còn Thiên Chúa thì không. Vị Thiên Chúa mà còn thiếu thốn điều gì đó hay cần bổ sung thứ gì đó thì chưa phải là Vị Thiên Chúa mà họ tin nhận.

Trong nhãn quan của Dân Do Thái thời Cựu Ước, Vị Thiên Chúa của họ là Đấng Tự Hữu, Đấng mà không ai có thể thấy mặt Người mà vẫn còn sống.[9] Điều này khác biệt với các tôn giáo cùng thời cũng như các tôn giáo hiện diện trên trần gian trước đó. Thiên Chúa toàn năng, Thiên Chúa tốt lành, Thiên Chúa ở khắp mọi nơi. Tuy nhiên, đối với họ, các đặc tính này cũng chỉ mô tả cách khập khiễng về Thiên Chúa mà thôi. Mỗi người nhận thức Thiên Chúa theo khả năng của mình, chứ không có một nhận thức đồng đều cho tất cả. Thiên Chúa hiện diện trong thế giới thụ tạo nhưng không bị giới hạn hay giam hãm trong thế giới đó. Thiên Chúa hiện diện khắp mọi nơi nhưng không phải mọi nơi là Thiên Chúa. Người hiện diện khắp mọi nơi nhưng vẫn luôn là Người trọn vẹn.[10]

Sách Sáng Thế có hai trình thuật về tạo dựng. Trình thuật thứ nhất ở Chương I được soạn thảo theo truyền thống Tư Tế diễn tả rằng Thiên Chúa tạo dựng mọi sự trong sáu ngày rồi Thiên Chúa nghỉ ngơi ngày thứ Bảy.[11] Điểm chính yếu của trình thuật này là Thiên Chúa tạo dựng mọi sự và con người được mời gọi cộng tác với Thiên Chúa trong công trình sáng tạo. Con người cần được nghỉ ngơi sau một tuần làm việc vất vả để dành thời gian phụng thờ Thiên Chúa và lấy lại sức lực cho chính mình. Trình thuật này diễn tả con người như là đỉnh cao của tạo dựng, vì Thiên Chúa tạo dựng muôn loài muôn vật trước khi tạo dựng con người. Trình thuật thứ hai ở Chương II, được soạn thảo theo truyền thống Gia-vít với nhiều hình ảnh sinh động hơn. Trình thuật này diễn tả con người như là trung tâm của tạo dựng. Trong khi trình thuật thứ nhất không cho chúng ta biết Thiên Chúa lấy gì để tạo dựng con người, trình thuật thứ hai cho chúng ta biết Thiên Chúa lấy bụi đất (Đất Mẹ) để tác tạo con người rồi thổi hơi vào làm cho con người trở nên sống động.

Hình ảnh nam, nữ, A-đam và E-và là những hình ảnh đáng chúng ta quan tâm nhất. Trong ngôn ngữ Do Thái (Hebrew), ish có nghĩa là người nam và ishsha có nghĩa là người nữ. Về mặt ngôn ngữ, chúng ta thấy người nam và người nữ có cùng gốc từ như nhau. Điều đó diễn tả rằng người nam và người nữ có cùng bản tính. Người nữ chỉ có đuôi từ giống cái để phân biệt với người nam mà thôi. Trong tường thuật tạo dựng thứ nhất, chúng ta không thấy trật tự giữa nam và nữ, nghĩa là Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa tạo dựng con người có nam có nữ. Trong tường thuật tạo dựng thứ hai, người nam được tạo dựng trước và người nữ được tạo dựng sau, từ người nam. Người nữ trở nên một xương một thịt với người nam. Tuy nhiên, cả hai tường thuật sáng tạo không đề cập đến sự trổi vượt của người nam so với người nữ về bản tính hay phẩm giá. Nói cách khác, người nữ và người nam đều do tay Chúa tác tạo và là hình ảnh của Thiên Chúa, trật tự trước sau không quan trọng.

Đối với Dân Do Thái thời Cựu Ước, Thiên Chúa là nguyên thủy của vạn vật, từ Người muôn vật hữu hình và vô hình được dựng nên. Con người vừa thuộc thế giới vật chất (mang những yếu tố sinh học, hạ giới), vừa thuộc thế giới tâm linh (mang những yếu tố thần thiêng, thượng giới). Thiên Chúa ở bên trênbên ngoài thế giới thụ tạo hay nói đúng hơn, Thiên Chúa siêu vượt thế giới thụ tạo, siêu vượt mọi suy tư, ngôn ngữ, biểu tượng, hình ảnh mà con người kinh nghiệm được. Vị Thiên Chúa mà nhân loại có thể lĩnh hội đầy đủ, có thể nắm bắt toàn vẹn, có thể mô tả rốt ráo không phải là vị Thiên Chúa thật, mà là sản phẩm của con người, là ngẫu tượng. Trong Sách Xuất Hành, Thiên Chúa nói với Dân Do Thái rằng “ngươi không được tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao, cũng như dưới đất thấp, hoặc ở trong nước phía dưới mặt đất, để mà thờ” (Xh 20,4).[12]

Mặc khải Kinh Thánh Cựu Ước còn cho chúng ta biết rằng tương quan giữa Thiên Chúa và Dân Do Thái được diễn tả qua các ẩn dụ (metaphors) hay kinh nghiệm về tương quan hôn nhân, tương quan vợ chồng. Trong đó, Thiên Chúa như là người chồng, người cha và Dân Do Thái như là người vợ, người mẹ. Người chồng luôn trung tín, còn người vợ lại bội tín; người chồng luôn thương yêu, còn người vợ luôn tìm đến những tình nhân hay ngẫu tượng khác. Hình ảnh này được nhiều sách trong Bộ Cựu Ước diễn tả.[13] Chẳng hạn, hình ảnh hôn nhân giữa ông Hô-sê và vợ ông diễn tả hôn nhân giữa Thiên Chúa và Dân Do Thái, trong đó, Hôsê là hình ảnh của Thiên Chúa, còn vợ ông là hình ảnh của Dân Do Thái: Hôsê trung tín, vợ ông phản bội; Hôsê quảng đại, vợ ông ích kỷ; Hôsê hi sinh, vợ ông hoang đàng; Hôsê tha thứ, vợ ông tội lỗi.[14]

Các hình ảnh Thiên Chúa của Kinh Thánh Cựu Ước, chẳng hạn, Gia-vê, Vua, Đấng An Ủi, Thẩm Phán, Mục Tử, Trang Chiến Binh, Bạn Đồng Hành, Quan Thầy là những hình ảnh đậm chất nam tính. Tuy nhiên, chúng ta cũng tìm thấy những hình ảnh đậm chất nữ tính của Người. Chẳng hạn, để diễn tả tình yêu của Thiên Chúa đối với Dân Do Thái, tình yêu vượt xa tình yêu cao quí nhất của nhân loại, tình yêu mẫu tử, Thiên Chúa nói trong Sách Tiên Tri I-sai-a rằng “có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ” (Is 49,15) hay cũng từ Sách Tiên Tri I-sai-a, chúng ta gặp được hình ảnh Thiên Chúa như người mẹ rất ấn tượng rằng “từ lâu Ta đã từng nín lặng, Ta làm thinh, Ta đã dằn lòng, như sản phụ lâm bồn, Ta rên siết, Ta hổn hển, Ta thở chẳng ra hơi” (Is 42,14).

Hình ảnh người nữ, người mẹ còn được dùng để nói về những địa danh quan trọng trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.[15] Chẳng hạn, Giê-ru-sa-lem được mô tả như là Hiền Thê của Thiên Chúa, là mẹ của muôn dân rằng “ngươi [Giê-ru-sa-lem] sẽ là ngọc miện huy hoàng trong lòng bàn tay Đức Chúa, sẽ là mũ triều thiên vương giả Thiên Chúa ngươi cầm ở tay. Chẳng ai còn réo tên ngươi: ‘Đồ bị ruồng bỏ!’ Xứ sở ngươi hết bị tiếng là ‘phận bạc duyên đơn’. Nhưng ngươi được gọi: ‘Ái khanh lòng Ta hỡi!’ Xứ sở ngươi nức tiếng là ‘Duyên thắm chỉ hồng’. Vì ngươi sẽ được Đức Chúa đem lòng sủng ái, và Chúa lập hôn ước cùng xứ sở ngươi. Như tài trai sánh duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về. Như cô dâu là niềm vui cho chú rể, ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ’” (Is 62,3-5). Chúng ta cũng tìm thấy ý tưởng Giê-ru-sa-lem (hay Xi-on) như là người mẹ của muôn dân ở trong Thánh Vịnh rằng “thành Xi-on được lập trên núi thánh. Chúa yêu chuộng cửa thành hơn mọi nhà của dòng họ Gia-cóp. Thành của Thiên Chúa hỡi, thiên hạ nói bao điều hiển hách về thành! Chúa phán: ‘Ta sẽ kể Ba-by-lon và Ai-cập vào số những dân tộc nhận biết Ta. Kìa xứ Phi-li-tinh, thành Tia cùng xứ Cút: Tại đó, kẻ này người nọ đã sinh ra’. Nhưng nói về Xi-on, thiên hạ bảo: ‘Người người sinh tại đó’. Chính Đấng Tối Cao đã củng cố thành. Chúa ghi vào sổ bộ các dân: ‘Kẻ này người nọ đều sinh ra tại đó’. Và ai nấy múa nhảy hát ca: ‘Xi-on hỡi, mọi nguồn gốc của tôi ở nơi thành’” (Tv 87,1-7).[16]

Kinh Thánh Cựu Ước cho chúng ta nhận thức rằng Thiên Chúa quan tâm đặc biệt đến những người nữ, những người mẹ, đặc biệt những người cô thế cô thân. Như đã được đề cập ở trên, hình ảnh người nữ xuất hiện ngay buổi đầu tạo dựng, có cùng phẩm giá như người nam, vì đều là hình ảnh của Thiên Chúa. Người nữ này có tên đàng hoàng (E-và), bà là mẹ của tất cả chúng sinh. Thiên Chúa hứa với Áp-ra-ham rằng vợ ông, bà Sa-ra sẽ sinh con. Dòng dõi của Áp-ra-ham sẽ ‘nhiều như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển’. Rút sinh cho Bô-át một con trai. Bà An-na đã sinh Sa-mu-en cách đặc biệt nhờ bà kiên trì cầu khẩn Thiên Chúa.[17] Chính Thiên Chúa đã làm những điều kỳ diệu trước mặt mọi người, “Người làm cho đàn bà son sẻ thành mẹ đông con, vui cửa vui nhà” (Tv 113,9).

Sự cảm nhận Thiên Chúa như là người mẹ thân thương và đem lại sự an bình được tác giả Thánh Vịnh diễn tả rằng “đường cao vọng, chẳng đời nào bước, việc diệu kỳ vượt sức, chẳng cầu; hồn con, con vẫn trước sau giữ cho thinh lặng, giữ sao thanh bình. Như trẻ thơ nép mình lòng mẹ, trong con, hồn lặng lẽ an vui” (Tv 131,1-2) hay “đưa con ra khỏi thai bào, vòng tay mẹ ẵm Chúa trao an toàn” (Tv 22,10). Tình yêu trong gia đình, tình yêu của cha mẹ và con cái được coi là cao quí, tình yêu của Thiên Chúa đối với con người còn cao quí hơn. Tác giả Thánh Vịnh đã cảm nghiệm được điều đó khi thốt lên rằng “dầu cha mẹ có bỏ con đi nữa, thì hãy còn có Chúa đón nhận con” (Tv 27,10). Hình ảnh người mẹ là hình ảnh tình yêu của Thiên Chúa được diễn tả cách cụ thể hơn trong Biến Cố Đức Kitô (the Christ Event) của Tân Ước.

b. Hình Ảnh Người Mẹ trong Tân Ước

Họa sĩ tài ba người Hà Lan, Rembrandt Harmenszoon van Rijn (1606- 1669), đã vẽ bức tranh ‘sự trở về của đứa con hoang đàng’. Đây là một trong những bức tranh nổi tiếng thế giới của họa sĩ này. Bản gốc hiện tại ở viện bảo tàng Hermitage thuộc thành phố Saint Petersburg.[18] Bức tranh mô tả người con phung phá đến thân tàn ma dại (tóc gần như rụng toàn bộ, áo quần rách tả tơi, dép mòn hết đế) trở về quì gối trước mặt cha mình. Hình ảnh người cha tiều tụy không kém (khuôn mặt hốc hác, đôi mắt gần như bị mù, bộ râu không cạo, có lẽ kể từ ngày người con ra đi). Ngoài những nét thể hiện đặc sắc về người cha và người con, họa sĩ vẽ đôi tay hết sức đặc biệt: bàn tay trái là bàn tay thô cứng của người cha, còn bàn tay phải là bàn tay mềm mại của người mẹ.

Họa sĩ vẽ bức tranh này được gợi hứng từ dụ ngôn ‘sự trở về của đứa con hoang đàng’ hay nói đúng hơn là dụ ngôn ‘người cha nhân hậu’ trong Tin Mừng Đức Giêsu Kitô theo thánh Lu-ca.[19] Đây là dụ ngôn mà hầu hết Kitô hữu thuộc lòng từng chi tiết. Bức tranh được thực hiện vào những năm cuối đời của họa sĩ, một người tin tưởng vào Thiên Chúa. Chúng ta có thể nhận định rằng qua hình ảnh người cha đón người con hoang đàng họa sĩ như muốn nói lên kinh nghiệm về sự bất xứng của mình và lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Đó cũng là kinh nghiệm của biết bao người trong lịch sử nhân loại, trong đó có mỗi người chúng ta.

Đức Giêsu dùng dụ ngôn này để nói lên tình yêu vô bờ của Thiên Chúa đối với toàn thể nhân loại, đặc biệt, những người lầm lỗi. Đức Giêsu cho nhân loại biết rằng tình yêu của Thiên Chúa vượt xa tình yêu của con người. Sự tha thứ của Thiên Chúa vượt xa sự tha thứ của con người. Vấn đề chính yếu là đừng ai thất vọng vì những lầm lỗi của mình, cho dù đó là những lầm lỗi nặng nề nhất. Họa sĩ Rembrandt vẽ đôi bàn tay (một của cha, một của mẹ) để nói lên tình yêu không thể lớn hơn nữa đối với kinh nghiệm và nhận thức của con người, bởi vì, đó là tình yêu gấp đôi (tình yêu của cha và đặc biệt là tình yêu của mẹ bao phủ người con hoang đàng, người con tội lỗi). Tuy nhiên, tình yêu gấp đôi đó không thể sánh với tình yêu của Thiên Chúa, tình yêu thể hiện bằng đôi tay vô biên vô tận, đôi tay siêu vượt không gian, thời gian, siêu vượt mọi trương độ của thế giới thụ tạo.

Tiếp tục với mặc khải Cựu Ước ‘Thiên Chúa là Cha’, mặc khải Tân Ước cho chúng ta biết về Thiên Chúa Ba Ngôi.[20] Tuy nhiên, khi đề cập đến Ngôi Vị của Thiên Chúa, Ngôi Cha, Ngôi Con, và Ngôi Thánh Thần, chúng ta không thể hiểu theo ý niệm thuần lý. Chúng ta gọi Ngôi Cha, Ngôi Con, và Ngôi Thánh Thần là để phân biệt sự đa dạng trong bản thể duy nhất của Thiên Chúa. Tính duy nhất của Thiên Chúa không triệt tiêu tính đa dạng và ngược lại tính đa dạng của Thiên Chúa không triệt tiêu tính duy nhất của Người. Thiên Chúa luôn là một, là duy nhất, tuy nhiên, Thiên Chúa không đơn độc, Thiên Chúa như một cộng đoàn, Thiên Chúa như một gia đình. Thiên Chúa là Cha, Con, và Thánh Thần. Tình yêu của người cha hay người mẹ cho phép con người có được nền tảng cần thiết để tiếp cận tình yêu Thiên Chúa.

Khi mặc khải cho nhân loại qua bối cảnh lịch sử, văn hóa, và truyền thống, Thiên Chúa tỏ mình như là người Cha nhân hậu. Chắc chắn khi nói rằng Thiên Chúa là Cha xem ra phù hợp với bối cảnh văn hóa chung của nhân loại hơn, đặc biệt, các nền văn hóa nơi Kinh Thánh Kitô Giáo hình thành. Trong mặc khải nền tảng với Biến Cố Đức Kitô, Thiên Chúa trong thân phận con người là một người nam.[21] Như đã được đề cập ở trên, việc Thiên Chúa mặc khải mình như là người cha hay trong Biến Cố Đức Kitô không dẫn tới hệ luận rằng trong xã hội, người nam gần gũi Thiên Chúa hơn người nữ, bản tính và phẩm giá người nam quan trọng hơn bản tính và phẩm giá người nữ, do đó, chức năng của người nam trong gia đình và xã hội quan trọng hơn chức năng của người nữ. Trong nhãn quan Kinh Thánh, người nam hay người nữ đều là hình ảnh của Thiên Chúa và có khả năng phản ánh vinh quang của Người trong môi trường thụ tạo.

Những câu đầu tiên của bộ Tân Ước, Tin Mừng Đức Giêsu Kitô theo thánh Mát-thêu, trình bày về gia phả của Đức Giêsu. Tương tự như các nền văn hóa vùng Địa Trung Hải thời đó, dưới ngòi bút của thánh Mát-thêu, gia phả của Đức Giêsu cũng liệt kê chủ yếu là những người nam. Ưu tiên của thánh Mát-thêu khi viết Tin Mừng là cho người Do Thái, do đó, trong gia phả Đức Giêsu, người đầu tiên được liệt kê là Áp-ra-ham và người cuối cùng được liệt kê là Giuse, bạn Đức Trinh Nữ Maria.[22] Điểm đặc biệt trong gia phả này là bốn người nữ hay nói đúng hơn là bốn bà mẹ xem ra không mấy tốt đẹp xét về mặt luân lý và thế giá chủng tộc: Ta-ma, Ra-kháp, Rút, và Bát-se-ba.[23] Đối với xã hội Do Thái thời đó, người nữ bị coi thường, họ khuất dạng hay thinh lặng trong các lễ nghi công cộng, tiếng nói của họ chẳng mấy ai quan tâm. Tên họ được ghi vào gia phả là rất hiếm. Hơn nữa, theo lẽ thường, nếu có ghi, người ta sẽ chọn những người nữ, chọn những bà mẹ danh thơm tiếng tốt trong dòng tộc. Tuy nhiên, thánh Mát-thêu đã không làm như vậy. Thánh nhân đã liệt kê trong dòng tộc của Đức Giêsu những người nữ, những người mẹ không mấy tốt đẹp nhằm làm nổi bật chương trình của Thiên Chúa đối với nhân loại. Thiên Chúa đến không chỉ để cứu những người thánh thiện mà là tất cả mọi người.

Quả thực bốn người nữ, bốn người mẹ này đã tham dự vào công trình cứu độ của Thiên Chúa cho dù họ bất xứng, lầm lỗi dưới nhãn quan Do Thái thời bấy giờ cũng như của thế giới hiện đại hôm nay. Tuy nhiên, tư tưởng Thiên Chúa không như tư tưởng con người, đường lối Thiên Chúa không như đường lối con người.[24] Điều này đã được ứng nghiệm nơi Đức Giêsu trong sứ mệnh công khai của Người giữa lòng thế giới. Chính Đức Giêsu nói rằng “hãy về học cho biết ý nghĩa của câu này: ‘Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi’’’ (Mt 9,13). Khi đưa hình ảnh bốn người nữ, bốn người mẹ này vào trong gia phả Đức Giêsu, thánh Mát-thêu muốn nhấn mạnh rằng Thiên Chúa không phân biệt giữa người nam và người nữ, giữa người thánh và kẻ tội lỗi, giữa người Do Thái và dân ngoại. Nói cách khác, không ai nằm ngoài biên giới của ơn Thiên Chúa cứu độ.

Trong thân phận con người, Đức Giêsu tiếp nhận, học hỏi, lớn lên, và hòa nhập nền văn hóa Do Thái nhưng Người không mang não trạng phụ hệ. Chính Người đã biến đổi nền văn hóa đó qua việc Người đối xử với những người nữ không như những người Do Thái cùng thời, đặc biệt những người trí thức và lãnh đạo trong xã hội Do Thái như các kinh sư, biệt phái, luật sĩ. Không nơi nào trong Tin Mừng đề cập đến sự phân biệt đối xử của Đức Giêsu gây bất lợi cho những người nữ. Đây thật là điểm rất quan trọng, là bằng chứng hùng hồn về thiên tính của Đức Giêsu. Người không lệ thuộc não trạng văn hóa Do Thái nặng tính phụ hệ, trọng nam khinh nữ.

Tiến trình loan báo Tin Mừng của Đức Giêsu luôn có sự đồng hành của Đức Maria và những người nữ khác từ thôn quê đến thành thị, đặc biệt, ở Giê-ru-sa-lem. Đức Giêsu dùng những dụ ngôn liên quan đến những người nữ để chuyển tải sứ điệp của Người, chẳng hạn, để nói về lòng nhân từ của Thiên Chúa đối với người tội lỗi, Đức Giêsu đưa hình ảnh người phụ nữ mất tiền: “người phụ nữ nào có mười đồng quan, mà chẳng may đánh mất một đồng, lại không thắp đèn, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được” (Lc 15,8). Đức Giêsu đã nói chuyện với người phụ nữ Sa-ma-ri khi bà đến lấy nước. Ma-ri-a Mác-đa-la là người đầu tiên loan tin ‘Chúa sống lại’.[25] Đức Giêsu bảo vệ những người phụ nữ là nạn nhân của văn hóa Do Thái liên quan đến chuyện ly dị.[26] Đức Giêsu bảo vệ người phụ nữ ngoại tình khỏi bị ném đá.[27] Những người phụ nữ cùng đi với Đức Giêsu trên đường khổ giá, còn đa số môn đệ nam giới của Người thì bỏ chạy tán loạn.[28]

Đức Giêsu dùng hình ảnh mẹ để diễn tả tình yêu Thiên Chúa đối với con cái mình. Điều đặc biệt là Đức Giêsu không chỉ dùng hình ảnh mẹ là người nữ, Người còn dùng hình ảnh mẹ trong các hình thức khác nữa. Chẳng hạn, người nói rằng “Giê-ru-sa-lem, Giê-ru-sa-lem! Ngươi giết các ngôn sứ và ném đá những kẻ được sai đến cùng ngươi! Đã bao lần Ta muốn tập họp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập họp gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu” (Lc 13,34). Hình ảnh gà mẹ ấp ủ gà con dưới cánh là hình ảnh thân thương, trách nhiệm, an bình, có khả năng đánh động tất cả mọi người, kể cả những người có con tim cứng cỏi nhất. Gà mẹ còn yêu mến, săn sóc, bảo vệ con mình như thế huống chi là Thiên Chúa đối với nhân loại, thụ tạo mang những đặc tính cao trọng về phẩm giá trong chương trình sáng tạo của Người.

Các môn đệ của Đức Giêsu cũng như những ai tiếp cận Người hầu như chưa nhận ra hay học hỏi đủ về sự quan tâm của Đức Giêsu đối với người nữ, đặc biệt, cách người tôn trọng phẩm giá người nữ. Chẳng hạn, các tác giả Tin Mừng không tránh khỏi não trạng phụ hệ của văn hóa Do Thái. Gioan tường thuật rằng “Đức Giê-su nói: ‘anh em cứ bảo người ta ngồi xuống đi’. Chỗ ấy có nhiều cỏ. Người ta ngồi xuống, nguyên số đàn ông đã tới khoảng năm ngàn”’ (Ga 6,10); còn Mát-thêu thì “số người ăn có tới năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con” (Mt 14,21), chỗ khác, “số người ăn có tới bốn ngàn người đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con” (Mt 15,38); Mác-cô cũng thế, “số người ăn bánh là năm ngàn người đàn ông” (Mc 6,44); tương tự, đối với Lu-ca “quả thật có tới chừng năm ngàn đàn ông. Đức Giê-su nói với các môn đệ: ‘anh em hãy bảo họ ngả mình thành từng nhóm khoảng năm mươi người một’’’ (Lc 9,14). Chắc chắn rằng có nhiều người nữ và trẻ em nữa cùng hiện diện nhưng họ không được đếm!

Tác giả Sách Tông Đồ Công Vụ cũng có não trạng như vậy, chẳng hạn, “trong đám người nghe lời giảng, có nhiều kẻ đã tin theo, và số người đàn ông lên đến chừng năm ngàn” (Cv 4,4). Ngôn ngữ của thánh Phaolô đối với người nữ (trong một số hoàn cảnh) xem ra rất nặng nề, mặc dù, thánh Phaolô không cố ý xem thường người nữ, chẳng hạn, “khi nghe lời dạy dỗ, đàn bà phải thinh lặng và hết lòng phục tùng. Tôi không cho phép đàn bà giảng dạy hay thống trị đàn ông, trái lại họ phải thinh lặng; vì A-đam được tạo dựng trước, rồi mới đến E-và” (1 Tm 2,11-13). Tuy nhiên, nếu chúng ta xem xét toàn bộ nội dung các thư của thánh Phaolô, chúng ta nhận thức rằng theo thánh Phaolô, phẩm giá của người nam và của người nữ là như nhau. Chẳng hạn, thánh Phaolô cho chúng ta biết: “Quả thế, bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Ki-tô, đều mặc lấy Đức Ki-tô. Không còn chuyện phân biệt Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Ki-tô” (Gl 3,27-28).

Tương quan giữa Đức Giêsu và Đức Maria, Mẹ của Người, hết sức đặc biệt ở chỗ ngoài việc Đức Giêsu luôn tôn trọng và vâng nghe Đức Maria, Đức Giêsu còn mặc khải cho chúng ta hiểu thêm ý nghĩa ‘mẹ’ cũng như ‘anh em’ Người. Đức Giêsu cho chúng ta biết rằng những ai theo Người cần phải sinh trái bằng cách lắng nghe Lời Chúa và thực hành Lời Chúa. Thánh Mát-thêu thuật lại: “Có kẻ thưa Người rằng: ‘Thưa Thầy, có mẹ và anh em Thầy đang đứng ngoài kia, tìm cách nói chuyện với Thầy’. Người bảo kẻ ấy rằng: ‘Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi?’ Rồi Người giơ tay chỉ các môn đệ và nói: ‘Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi’” (Mt 12,47-50). Đối với Đức Giêsu, ai thi hành ý muốn Thiên Chúa đều trở thành mẹ và anh em Người. Đức Giêsu không từ chối Đức Maria là Mẹ của mình. Tuy nhiên, Người cho biết rằng gia đình người lớn hơn gia đình theo nghĩa sinh học. Khi con người thi hành ý muốn Thiên Chúa họ thuộc gia đình của Người.

Đức Giêsu đến trần gian để thiết lập Giao Ước Mới với Dân Tộc Mới. Thánh Gioan Tẩy Giả mô tả Đức Giêsu như là chú rể còn mình như là phụ rể, “ai cưới cô dâu, người ấy là chú rể. Còn người bạn của chú rể đứng đó nghe chàng, thì vui mừng hớn hở vì được nghe tiếng nói của chàng. Đó là niềm vui của thầy, niềm vui ấy bây giờ đã trọn vẹn. Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi” (Ga 3,29-30). Cùng dùng hình ảnh hôn nhân để mô tả tương quan giữa Thiên Chúa và nhân loại, tuy nhiên, chúng ta thấy rằng trong khi tương quan giữa Thiên Chúa và Dân Do Thái, Dân Riêng của Người trong Cựu Ước là tương quan xa hơn so với tương quan giữa Đức Giêsu với Dân Tộc Mới mà Người thiết lập, Dân không lệ thuộc sắc tộc, màu da, đẳng cấp xã hội, đó là Giáo Hội.

Trong Kinh Thánh Tân Ước, chúng ta thấy có sự diễn tả tương quan giữa Đức Giêsu và Giáo Hội theo nhãn quan của thánh Phaolô (điển hình là Thư Gửi Tín Hữu Ê-phê-xô và Thư Thứ Hai Gửi Tín Hữu Cô-rin-tô) và theo nhãn quan của Gioan (điển hình là Tin Mừng Đức Giêsu Kitô theo thánh Gioan và Sách Khải Huyền). Kinh Thánh Tân Ước còn cho phép chúng ta hưởng kiến hừng đông của việc kết hợp giữa Đức Giêsu và Dân Tộc Mới trong cảnh thái bình thịnh trị qua hình ảnh Hôn lễ Con Chiên. Tác giả Sách Khải Huyền mô tả “vì nay đã tới ngày cử hành hôn lễ Con Chiên, và Hiền Thê của Người đã trang điểm sẵn sàng, nàng đã được mặc áo vải gai sáng chói và tinh tuyền” (Kh 19,8). So sánh giữa Tin Mừng Đức Giêsu Kitô theo thánh Gioan và Sách Khải Huyền, chúng ta thấy có những điểm tương đồng, chẳng hạn, “hôm sau, ông Gio-an thấy Đức Giê-su tiến về phía mình, liền nói: ‘Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian’” (Ga 1,29) và “hạnh phúc thay kẻ được mời đến dự tiệc cưới của Con Chiên!” (Kh 19,9) hay “Lại đây, tôi sẽ chỉ cho ông thấy Tân Nương, Hiền Thê của Con Chiên” (Kh 21,9). Những trích đoạn này cho phép chúng ta nhận thức rằng mặc khải của Thiên Chúa đề cao hình ảnh người nữ, người mẹ, hình ảnh tốt nhất cho phép con người lĩnh hội tình yêu và ý định của Thiên Chúa trong chương trình cứu độ.

Chúng ta thấy được hình bóng của Giáo Hội trong Cựu Ước được thể hiện trong Tân Ước, đồng thời, chúng ta cũng thấy được viễn cảnh của Giáo Hội trong thời cánh chung như Sách Khải Huyền diễn tả. Hình ảnh Giáo Hội cánh chung chính là Giê-ru-sa-lem mới, ở đó, tiệc cưới cánh chung được cử hành và Hiền Thê của Đức Giêsu không tỳ vết được điểm trang lộng lẫy. Khi đó, hình ảnh Giáo Hội như là Trinh Nữ, Cô Dâu, Người Mẹ được trọn vẹn. Cựu Ước tiên báo sự kết hợp giữa Đức Giêsu và Giáo Hội, Tân Ước hiện thực hóa sứ kết hợp này qua việc Đức Giêsu thành lập Giáo Hội. Tuy nhiên, Giáo Hội vẫn là thực thể chưa trọn vẹn bao lâu trên đường lữ hành. Hình ảnh của Dân Do Thái bất trung được ví như con điếm trong Cựu Ước vẫn in bóng trong đời sống và sứ mệnh của con cái Giáo Hội giữa lòng đời.

Maria0

  1. Giáo Hội như là Người Mẹ
    a.
    Căn Tính của Giáo Hội như là Người Mẹ

Trong khi có nhiều tranh luận liên quan đến việc sử dụng biểu tượng, hình ảnh, ngôn ngữ đậm tính nam giới để diễn tả mặc khải của Thiên Chúa cũng như tương quan giữa Thiên Chúa và nhân loại thì việc sử dụng hình ảnh Giáo Hội như là người mẹ hầu như không gây bất cứ tranh luận nào đáng kể trong lịch sử Giáo Hội. Ý niệm Mẹ Giáo Hội (Mater Ecclesia) đã hiện diện trong các tác phẩm Kitô Giáo cổ thời. Thánh Clêmentê được xem là người đầu tiên trình bày Giáo Hội như là người mẹ, cho dù thánh nhân không trực tiếp dùng hạn từ như ‘Giáo Hội Mẹ’, ‘Mẹ Giáo Hội’, ‘Giáo Hội là Mẹ chúng ta’ hay ‘Giáo Hội như là người mẹ’.[29] Theo thánh nhân, Giáo Hội đã từng cằn cỗi nay lại sinh hoa kết trái dồi dào vì được Thiên Chúa ban cho nhiều con cái.[30] Như thế, ý niệm mẹ của Giáo Hội đã được xác định. Cách rõ ràng nhất, thánh Cyprianô (200-258) nói về Giáo Hội như là người mẹ rằng “không ai có thể có Chúa là Cha mà lại không có Giáo Hội là mẹ.”[31] Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo cũng dạy rằng “chỉ có Thiên Chúa ban ơn cứu độ; nhưng bởi vì chúng ta lãnh nhận đời sống đức tin qua Hội Thánh, nên Hội Thánh là mẹ chúng ta.”[32] Nói cách khác, Giáo Hội không phải là tác giả của ơn cứu độ nhưng là phương tiện hay khí cụ của ơn cứu độ Thiên Chúa. Nhờ Giáo Hội, các Kitô hữu trở thành thành viên của gia đình Giáo Hội, gia đình Thiên Chúa.[33]

Việc nhìn nhận ý niệm mẹ hay đặc tính mẹ của Giáo Hội đã trở thành phổ biến trong lịch sử Giáo Hội cũng như các nền văn hóa. Đối với các ngôn ngữ có phân chia giống, danh từ Giáo Hội là danh từ giống cái, chẳng hạn, Ecclesia trong tiếng La Tinh, Kirche trong tiếng Đức hay Église trong tiếng Pháp. Các đại từ tương ứng với các danh từ này cũng thuộc giống cái như vậy. Trong văn chương Kitô Giáo cũng như suy tư thần học, chúng ta gặp thấy những khuôn mặt điển hình quan tâm đặc biệt đến hình ảnh Mẹ Giáo Hội, chẳng hạn, Tertullian, Ambrose, John Chrysostom, Augustine, Matthias Joseph Scheeben, Hans Urs von Balthasar, Henri de Lubac, Đức Giáo Hoàng Piô XII, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô I, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Đức Giáo Hoàng Phanxicô (đương nhiệm) cũng thường đề cập đến những hạn từ như ‘Mẹ Giáo Hội’, ‘Giáo Hội Mẹ’, ‘Giáo Hội như là người mẹ’, hoặc ‘Giáo Hội là Mẹ chúng ta’.

Như đã được đề cập ở trên, trong Cựu Ước, Sách Sáng Thế cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa tạo dựng con người có nam có nữ. Tuy nhiên, nam và nữ, A-đam và E-và đã làm cho chương trình tạo dựng của Thiên Chúa hư hỏng, biến dạng. Thiên Chúa tiếp tục công trình tạo dựng mới nhờ Ngôi Hai Thiên Chúa, Đức Giêsu Kitô và Giáo Hội của Người.[34] Với công trình tạo dựng mới này, Giáo Hội trở thành E-và mới của đàn con đông đúc. Như vậy, chương trình của Thiên Chúa đối với thụ tạo nói chung và nhân loại nói riêng không bị tận diệt do Tội Nguyên Tổ nhưng được đổi mới nhờ Biến Cố Đức Kitô. Phân biệt với E-và, Giáo Hội vừa là Hiền Thê của Đức Giêsu Kitô, vừa là Trinh Nữ và là Mẹ của những ai thiết lập mối tương quan liên vị với Đức Giêsu Kitô và là nhân chứng cho Tin Mừng của Người trên trần gian này.[35]

Khi lưỡi đòng đâm thâu cạnh nương long Đức Giêsu, máu và nước liền chảy ra. Biến cố này gợi lên trong chúng ta hình ảnh E-và được sinh ra từ cạnh sườn A-đam. Như E-và được sinh ra từ cạnh sườn A-đam, Giáo Hội được sinh ra từ cạnh sườn Đức Giêsu. Nói đúng hơn, Giáo Hội được sinh ra từ trái tim Đức Giêsu.[36] Như E-và là mẹ của các chúng sinh ngay buổi đầu sáng tạo, Giáo Hội là mẹ của các chúng sinh ngay khi được tái tạo trong Đức Kitô và nhờ Chúa Thánh Thần. E-và kết hợp với A-đam thế nào, thì Giáo Hội cũng kết hợp với Đức Giêsu như vậy, tuy nhiên, sự kết hợp của Giáo Hội với Đức Giêsu sâu nhiệm và mang tầm vóc trổi vượt hơn, bởi vì, Đức Giêsu thì hơn A-đam và Giáo Hội thì hơn E-và xét về căn tính, sự tự do, và lòng vâng phục ý định của Thiên Chúa. Đức Giêsu và Giáo Hội trở nên một trong Giao Ước Mới, Giao Ước Vĩnh Cửu giữa Thiên Chúa và nhân loại cùng toàn thể thế giới thụ tạo.[37]

Trong Tân Ước, tương quan giữa Thiên Chúa với nhân loại được thể hiện cách cụ thể trong tương quan giữa Đức Giêsu Kitô và Giáo Hội. Giao ước giữa người nam và người nữ trong nhân loại đặt nền tảng trên mẫu thức Giao Ước giữa Đức Giêsu Kitô và Giáo Hội của Người. Mẫu thức này được thánh Phaolô diễn tả cách rõ nét nhất trong Thư Gửi Tín Hữu Ê-phê-xô rằng “người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Ki-tô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh; như vậy, Người thánh hoá và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống, để trước mặt Người, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào nhưng thánh thiện và tinh tuyền” (Ep 5,25-27). Tương quan giữa người chồng và người vợ là tốt đẹp, tuy nhiên, tương quan giữa Đức Giêsu Kitô và Giáo Hội còn tốt đẹp hơn.

Như đã được đề cập ở trên, theo một nghĩa nào đó, hình ảnh Giáo Hội như là người mẹ được phát triển từ hình ảnh Giáo Hội như là Hiền Thê của Đức Giêsu Kitô. Từ hình ảnh Giáo Hội như là Hiền Thê của Đức Giêsu Kitô đến Giáo Hội như là người mẹ là trật tự phù hợp.[38] Chúng ta nhận thức rằng khoảng cách từ hình ảnh Giáo Hội như là Hiền Thê đến hình ảnh Giáo Hội như là người mẹ là không xa theo kinh nghiệm con người. Hình ảnh Giáo Hội như là người mẹ phù hợp với bản tính Giáo Hội là trao ban sự sống của chính Đức Giêsu Kitô cho toàn thể mọi người. Người mẹ sinh học sinh ra con người với bản tính Tội Nguyên Tổ, Mẹ Giáo Hội sinh ra con người với bản tính được định dạng theo khuôn mẫu Đức Giêsu Kitô và Tin Mừng Sự Sống của Người. Trong thông điệp Mater et Magistra (Mẹ và Thầy), Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII nói rằng Giáo Hội là Mẹ và Thầy của muôn dân được Đức Giêsu Kitô thiết lập và rằng Mẹ Giáo Hội vừa trao ban sự sống cho con cái mình vừa giảng dạy và hướng dẫn con cái mình, cá nhân cũng như cộng đoàn, trên đường lữ hành dương thế nhằm dẫn đưa họ tới ơn cứu độ viên mãn.[39] Ơn cứu độ này không tìm được nơi đâu khác ngoài Biến Cố Đức Kitô, Biến Cố thực hiện một lần cho tất cả.[40]

Trong Tân Ước, hình ảnh Giáo Hội như là người mẹ gắn liền với hình ảnh Giê-ru-sa-lem mới lộng lẫy và sáng đẹp hơn Giê-ru-sa-lem Cựu Ước. Thánh Phaolô gọi thành này là mẹ. Thánh nhân diễn tả rằng “còn Giê-ru-sa-lem thượng giới thì tự do: đó là mẹ chúng ta. Thật vậy, có lời chép: reo mừng lên, hỡi người phụ nữ son sẻ, không sinh con; hãy bật tiếng reo hò mừng vui, hỡi ai chưa một lần chuyển dạ, vì con của phụ nữ bị bỏ rơi thì đông hơn con của phụ nữ có chồng” (Gl 4,26-27). Tương tự như vậy, tác giả Thư Gửi Tín Hữu Do Thái viết rằng “anh em đã tới núi Xi-on, tới thành đô Thiên Chúa hằng sống, là Giê-ru-sa-lem trên trời, với con số muôn vàn thiên sứ. Anh em đã tới dự hội vui, dự đại hội giữa các con đầu lòng của Thiên Chúa, là những kẻ đã được ghi tên trên trời” (Dt 12,22-23).[41]

Theo nhãn quan của thánh Phaolô, Đức Giêsu và Giáo Hội trở nên một xương một thịt. Người nói: “Sách Thánh có lời chép rằng: Chính vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Ki-tô và Hội Thánh” (Ep 5,31-32). Âm vang của Cựu Ước được thánh Phaolô mô tả ở đây trong bối cảnh của những thực thể mới, Đức Giêsu Kitô và Giáo Hội cùng các thành phần trong đó. Thực thể này bền vững cho đến tận thế.[42] Như Đức Giêsu ban tặng Giáo Hội những gì tốt nhất, đến lượt mình, Giáo Hội cũng vậy, Giáo Hội ban cho con cái mình những gì tốt nhất qua việc cử hành các bí tích, giảng dạy Lời Chúa, loan báo Tin Mừng.[43]

Giáo Hội được thánh Phaolô mô tả như là một thân thể sống động bao gồm nhiều chi thể và mỗi chi thể góp phần mình cho sự thành toàn của thân thể. Như vậy, câu hỏi của chúng ta về thực thế Giáo Hội không chỉ là ‘Giáo Hội là gì?’ mà còn ‘Giáo Hội là ai?’ Tương quan giữa các tín hữu và Giáo Hội không phải tương quan của những nhân vị đơn lẻ với một tổ chức nhưng là tương quan của những cá nhân trong cùng Thân Thể. Theo thánh Phaolô, “cũng như trong một thân thể, chúng ta có nhiều bộ phận, mà các bộ phận không có cùng một chức năng, thì chúng ta cũng vậy: tuy nhiều nhưng chỉ là một thân thể trong Đức Ki-tô, mỗi người liên đới với những người khác như những bộ phận của một thân thể. Chúng ta có những đặc sủng khác nhau, tuỳ theo ân sủng Thiên Chúa ban cho mỗi người” (Rm 12,4-6). Như thế, Giáo Hội không phải là một tổ chức như bao tổ chức trần thế khác qui tụ các thành viên lại cùng nhau nhưng là thân thể trong đó mỗi người là chi thể có cùng phẩm giá nhưng phân biệt về chức năng.[44] Phẩm giá của mỗi người được thánh Phaolô diễn tả rằng “tất cả chúng ta, dầu là Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất” (1 Cr 12,13).

b. Đời Sống của Giáo Hội như là Người Mẹ

Như đã được đề cập ở trên, Giáo Hội chính là người mẹ của chúng sinh mới, đông đảo. Với Mẹ, toàn thể chúng sinh cũ được thanh tẩy, được biến đổi, được hòa nhập vào môi trường Thiên Chúa ngay khi còn trên đường lữ thứ trần gian này.[45] Là Mẹ, Giáo Hội vừa đón nhận ân sủng của Thiên Chúa vừa trao ban ân sủng đó cho con cái mình. Lãnh nhận và trao ban không phải là những biến cố rời rạc hay riêng lẻ trong đời sống Giáo Hội mà là tình trạng hay đúng hơn trở thành đời sống của Giáo Hội trên đường lữ hành trần thế. Giáo Hội nhận và trao ban theo cách Đức Giêsu Kitô, nghĩa là lãnh nhận tất cả và trao ban tất cả. Hình ảnh Đức Giêsu Kitô ‘trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự’ trở nên khuôn mẫu cho đời sống Mẹ Giáo Hội.[46]

Con cái Giáo Hội được sinh ra trong đức tin, sinh ra theo cách diễn tả của thánh Gioan Tông Đồ rằng “những ai đón nhận [Ngôi Lời], tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa. Họ được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông nhưng do bởi Thiên Chúa” (Ga 1,12-13). Cũng trong Tin Mừng này, ở nơi khác, Đức Giêsu nói về việc sinh lại với ông Ni-cô-đê-mô rằng “tôi bảo thật ông: không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí” (Ga 3,5). Việc trở thành con cái Giáo Hội hệ tại ở việc sinh ra bởi Thần Khí chứ không bởi xác thịt. Dĩ nhiên, việc sinh bởi xác thịt cũng là một hồng ân cao quí, hồng ân nhưng không Thiên Chúa tặng ban cho con người. Việc sinh bởi Thần Khí thì kỳ diệu hơn, bởi vì, để có được sự sinh hạ này, Con Thiên Chúa đã xuống thế làm người, đã sống trong thân phận con người, đã chết, đã phục sinh, và trao ban Thần Khí. Nói cách ngắn gọn hơn, việc sinh ra theo cách tự nhiên thật kỳ diệu nhưng việc sinh ra theo cách siêu nhiên còn kỳ diệu hơn.

Sự sống của con cái Giáo Hội được Đức Giêsu diễn tả qua hình ảnh cây nho và cành nho: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5). Là Thân Thể Mầu Nhiệm của Đức Kitô, Giáo Hội là cây nho với nhánh vươn khắp trần gian, vươn tới vô tận. Giáo Hội luôn quan tâm đến những nhu cầu của con cái mình. Đồng thời, dựa trên lời dạy của Đức Giêsu Kitô, Giáo Hội không ngừng thực thi chức năng cắt tỉa sao cho các nhánh trên cây nho luôn khỏe mạnh và tiếp tục sinh trái.

Cơ thể Giáo Hội không ngừng lớn lên về mọi phương diện cho tới ngày sung mãn là chính Nước Thiên Chúa. Thánh Phaolô nói rằng “sống theo sự thật và trong tình bác ái, chúng ta sẽ lớn lên về mọi phương diện, vươn tới Đức Ki-tô vì Người là Đầu. Chính Người làm cho các bộ phận ăn khớp với nhau và toàn thân được kết cấu chặt chẽ, nhờ mọi thứ gân mạch nuôi dưỡng và mỗi chi thể hoạt động theo chức năng của mình. Như thế Người làm cho toàn thân lớn lên và được xây dựng trong tình bác ái” (Ep 4,15-16). Giáo Hội nuôi dưỡng con cái mình bằng Lời Chúa và các bí tích. Con cái của Giáo Hội được lớn lên về đời sống đức tin, đức cậy, và đức mến nhờ tham dự cách đầy đủ các buổi cử hành phụng vụ và lãnh nhận các bí tích trong cuộc sống của họ.[47]

Nhờ Bí Tích Rửa Tội, con cái Giáo Hội được trở nên các thành phần trong Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Kitô, được hiệp nhất với Thiên Chúa và hiệp nhất với nhau. Nhờ Bí Thích Thêm Sức, con cái Giáo Hội có thêm sức mạnh của Chúa Thánh Thần để có thể làm chứng cho Đức Giêsu Kitô và Tin Mừng của Người giữa lòng thế giới. Nhờ Bí Tích Thánh Thể, con cái Giáo Hội được nuôi dưỡng bằng Bánh Trường Sinh, Bánh Ban Sự Sống, là chính Đức Giêsu Kitô. Nhờ Bí Tích Hòa Giải, con cái Giáo Hội hòa giải với Thiên Chúa và với nhau. Nhờ Bí Tích Xức Dầu, con cái Giáo Hội được nâng đỡ hồn xác, đặc biệt trong khi đau yếu, và gia tăng niềm hi vọng vào tương lai tốt đẹp hơn của thân phận con người. Nhờ Bí Tích Truyền Chức Thánh, con cái Giáo Hội được thánh hóa, được giảng dạy, và được phục vụ. Nhờ Bí Tích Hôn Phối, con cái Giáo Hội được in dấu trong việc cộng tác với Thiên Chúa để tiếp tục công trình sáng tạo của Người.[48]

Hình ảnh Thiên Chúa thánh thiện và Dân Do Thái lầm lỗi luôn là hình ảnh mà Giáo Hội quan tâm trong đời sống của mình. Như Thiên Chúa hằng yêu thương tha thứ tội lỗi, bất xứng của Dân Do Thái, đến lượt mình, nhân danh Thiên Chúa, Giáo Hội luôn yêu thương tha thứ tội lỗi của con cái mình. Như Thiên Chúa luôn cho Dân Do Thái có đủ thời gian và cơ hội để ăn năn hoán cải, Giáo Hội không ngừng kêu gọi con cái mình trở về trong vòng tay êm ái mình. Như thế, năng quyền tha thứ và hòa giải mà Thiên Chúa trao ban và ủy thác cho Giáo Hội phải là năng quyền được thực hiện thường xuyên trong đời sống Giáo Hội.

Giáo Hội như là người mẹ luôn yêu thương tất cả con cái mình, cho dù con cái mình có những đứa hư hỏng nhất. Mẹ Giáo Hội liên kết với Đức Giêsu Kitô thế nào thì con cái Mẹ Giáo Hội cũng liên kết với Người như vậy. Giáo Hội đơm hoa kết trái thế nào thì con cái Giáo Hội cũng đơm hoa kết trái như vậy. Nói cách khác, những gì diễn tả đời sống Giáo Hội xét như là cộng đoàn được Đức Giêsu Kitô thiết lập, được Chúa Thánh Thần thánh hóa, và hướng về Nước Thiên Chúa vinh hiển đều diễn tả đời sống mỗi người trong gia đình Mẹ Giáo Hội. Do đó, con cái Giáo Hội không thể sống cách khác hơn là liên kết với bản tính của Mẹ mình là thánh thiện, tinh tuyền, vô tì tích, bản tính Giáo Hội nhận được từ Chúa Ba Ngôi.[49]

Câu hỏi đặt ra là ‘tại sao Giáo Hội phải là thánh thiện, tinh tuyền, và vô tì tích?’ Câu trả lời là vì sự đòi hỏi của Chàng Rể, Đức Giêsu Kitô. Trong kinh nghiệm hằng ngày, chúng ta biết rằng khi người ta càng giống nhau bao nhiêu thì sự kết hợp giữa họ càng sâu đậm bấy nhiêu. Những người thánh thiện thường có bè bạn là những người thánh thiện. Những người bất lương thường có bạn bè là những kẻ bất lương. Người thánh thiện có sống với kẻ bất lương, tội lỗi thì cũng để hoán cải họ, chứ không đồng lõa với họ. Tương tự như thế, Giáo Hội yêu thương con cái mình, đặc biệt những người tội lỗi, những người chưa tham dự vào đời sống Giáo Hội và dang tay đón họ không phải để đời sống Giáo Hội nên như đời sống của họ nhưng là giúp họ hướng về Giáo Hội và nhờ đó họ được lãnh nhận ơn thiêng của Thiên Chúa.

Giáo Hội luôn bảo vệ con cái mình khỏi những sai lạc trong thế giới đầy tăm tối nguy hiểm này. Sự bảo vệ của Giáo Hội đối với con cái mình là thường xuyên, là luôn mãi chứ không chỉ trong một khoảng không gian, thời gian nào đó. Giáo Hội bảo vệ con cái mình bằng nhiều phương thế khác nhau, chẳng hạn, dựa trên Tin Mừng, Giáo Hội thiết lập các qui chuẩn về đức tin và luân lý cho con cái mình. Giáo Hội đưa ra những chỉ dẫn cần thiết cho con cái mình trong đời sống xã hội. Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội là nền tảng cho hành xử của con cái mình trong môi trường nhân loại đầy thách đố và khó khăn này. Giáo Hội không ngừng lặp lại lời dạy của Đức Giêsu đối với các môn đệ khi trao ban sứ mệnh cho họ rằng ‘sống giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian’.[50]

c. Sứ Mệnh của Giáo Hội như là Người Mẹ

Sứ mệnh của Mẹ Giáo Hội là làm cho tất cả mọi người trên trần gian trở thành con cái trong gia đình với Thiên Chúa là Cha và Giáo Hội là Mẹ như thánh Cyprianô đã đề cập từ thế kỷ thứ III của kỷ nguyên Kitô Giáo.[51] Trong gia đình này, Đức Giêsu Kitô vừa là khởi nguyên, vừa là trưởng tử của tất cả con cái Thiên Chúa.[52] Trong gia đình này không ai đơn lẻ, bởi vì tất cả được nên một với Đức Giêsu Kitô và nên một với nhau. Trên đường lữ hành trần gian, các thành phần trong Giáo Hội vừa là con cái của một gia đình cụ thể, gia đình sinh học, vừa là con cái của gia đình thiêng liêng, gia đình Thiên Chúa.[53]

Mẹ Giáo Hội có sứ mệnh làm cho Dân Tộc Mới của Thiên Chúa được tăng triển và lan rộng khắp nơi. Dân Do Thái cũ, là Dân Thiên Chúa thời Cựu Ước được xây dựng trên nền tảng mười hai chi tộc, hậu duệ của Áp-ra-ham. Giáo Hội được thiết lập dựa trên nền tảng mười hai Tông Đồ, hậu duệ của Đức Giêsu Kitô. Giáo Hội chính là Dân Thiên Chúa Mới với Hiến Chương mới và những dẫn xuất của Hiến Chương đó.[54] Căn tính của các thành phần Dân này không lệ thuộc các yếu tố địa lý, sinh học hay bất cứ yếu tố khả giác hay trương độ nào đó, mà chỉ lệ thuộc vào sự đón nhận của họ đối với chương trình cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện qua Giáo Hội.

Ngay từ buổi sơ khai, Giáo Hội ý thức mình được thiết lập và sai đi làm cho muôn dân trở thành con cái Chúa qua việc trở thành con cái Giáo Hội.[55] Giáo Hội luôn ý thức rằng khi trở thành con cái Giáo Hội họ không phải từ bỏ quê hương, văn hóa, công việc, và các điều kiện khác của bản thân cũng như cộng đồng. Những gì tốt đẹp và lành thánh trong chính cuộc sống họ không bị mất đi nhưng được tiếp nhận, được thăng tiến và tích hợp vào đời sống của Giáo Hội.[56] Họ không lạ lẫm khi đón nhận những yếu tố mới từ sự sống Giáo Hội, bởi vì những yếu tố này không gây bất cứ phương hại nào cho đời sống tinh thần và thể xác họ. Hơn nữa, những yếu tố này thúc đẩy họ trong việc tìm kiếm ý nghĩa của cuộc sống mình giữa lòng nhân thế đầy bấp bênh này.[57]

Giáo Hội khuyến khích con cái mình chú trọng văn hóa gặp gỡ, văn hóa đối thoại với tất cả mọi người để đem lại những khởi sắc cho chính Giáo Hội và thế giới. Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói rằng một Giáo Hội không có gì mới mẻ, không có gì thay đổi là dấu hiệu của một Giáo Hội không lành mạnh.[58] Sự đối thoại với các nền văn hóa, các tôn giáo, các thể chế hay tổ chức xã hội luôn cần thiết trong sứ mệnh của Giáo Hội. Ý thức về phẩm giá của mình, Giáo Hội không đến với các nền văn hóa, các tôn giáo, các thể chế và tổ chức xã hội trong tư cách là một thực thể tương đồng nhưng trong tư cách là một thực thể được Đức Giêsu Kitô thiết lập và đổ tràn Thần Khí. Giáo Hội xác tín rằng Chúa Thánh Thần, tác nhân công trình sáng tạo, cũng là tác nhân công trình loan báo Tin Mừng của Giáo Hội, đồng thời, cũng là tác nhân làm cho Giáo Hội và các thực thể nhân loại khác gặp gỡ nhau và cùng nhau hành động nhằm xây dựng gia đình Thiên Chúa ngay trên trần gian này.[59]

Cùng với sứ mệnh thiêng liêng của mình, Giáo Hội không ngừng quan tâm đến tất cả các nhu cầu của mọi người trong môi trường xã hội. Ưu tiên của sứ mệnh Giáo Hội là chăm sóc về mặt đức tin và luân lý của con người trong gia đình nhân loại.[60] Tuy nhiên, sự hòa hợp trong đời sống con người luôn được Giáo Hội quan tâm. Giáo Hội không thể dửng dưng trước những đau khổ và khát vọng của con người cho một thế giới an bình, hạnh phúc, và nhân bản hơn. Do đó, sự quan tâm về chiều kích tâm linh của Giáo Hội phải đi đôi với sự quan tâm về chiều kích xã hội nữa.[61]

Giáo Hội luôn hướng dẫn con cái mình đi đúng hướng giữa xã hội luôn biến đối không ngừng với nhiều khó khăn. Một trong những khó khăn của xã hội hôm nay là con người xem ra mất định hướng hay chỉ định hướng vào những gì thuộc thế giới này. Thế giới vật chất, thế giới trương độ, thế giới khả giác xem ra đang dần xâm chiếm tâm hồn của họ hơn là thế giới linh thiêng, thế giới siêu việt, thế giới chân thiện mỹ đích thật. Do đó, một mặt, Giáo Hội giới thiệu cho toàn thể nhân loại Giáo Huấn Xã Hội của mình, mặt khác, Giáo Hội không ngừng tìm hiểu những nhu cầu cần thiết của nhân loại để có thể cung cấp những phương tiện hữu hiệu nhất nhằm nâng cao phẩm giá và đời sống của họ. Mục đích của Giáo Hội không phải là sự vinh thắng của mình trong con tim và khối óc của mọi người nhưng là Tin Mừng tình yêu, Tin Mừng sự sống, Tin Mừng hòa hợp của Thiên Chúa đến với mọi người. Để được như thế con cái Giáo Hội vừa loan báo Tin Mừng vừa làm chứng cho Tin Mừng đó bằng chính cuộc sống mình.

Lời của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI vẫn luôn có tính thời sự. Ngài nói rằng “con người hôm nay muốn lắng nghe những chứng nhân hơn là những thầy dạy, và nếu họ lắng nghe những thầy dạy, bởi vì những thầy dạy là những chứng nhân.”[62] Đức Giáo Hoàng nói về sự hòa hợp giữa ‘chứng nhân’ và ‘thầy dạy’, tuy nhiên, xem ra ngài ưu tiên ‘chứng nhân’ hơn ‘thầy dạy’ và muốn nhấn mạnh rằng ‘hành động có tiếng vang xa hơn lời nói’. Trên nguyên tắc ai cũng có thể vừa là ‘chứng nhân’ vừa là ‘thầy dạy’. Trong thực tế thì rất hiếm, không phải ai cũng có thể trở thành ‘thầy dạy’ nhưng ai cũng có thể trở thành ‘chứng nhân’. Câu nói của Đức Giáo Hoàng không chỉ áp dụng cho con cái của Mẹ Giáo Hội, mà còn cho tất cả mọi người, trong mọi thời và khắp mọi nơi.

Mẹ Giáo Hội đóng góp phần mình trong việc đưa ra những tiêu chuẩn đạo đức, luân lý, và mục vụ cần thiết để bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống của gia đình nhân loại. Mẹ Giáo Hội làm cho mọi người ý thức rằng người ta không thể yêu mến Thiên Chúa mà không yêu mến những gì phát xuất từ Người. Thế giới thụ tạo là công trình kỳ diệu của Thiên Chúa ban tặng cho nhân loại. Tất cả mọi người được mời gọi làm cho công trình này ngày càng sinh sôi nảy nở và xinh đẹp hơn. Hệ luận rút ra là khi con người không thể chiêm ngưỡng và thưởng thức được dấu ấn của Thiên Chúa trong thế giới thụ tạo thì con người khó có thể chiêm ngưỡng và thưởng thức tình yêu cũng như vẻ đẹp vĩnh hằng của Người.

Sứ mệnh của Mẹ Giáo Hội là chỉ cho con cái mình biết đâu là NguồnĐích của hi vọng con người. Kinh nghiệm lịch sử cho chúng ta thấy rằng khủng hoảng chính yếu của con người qua mọi thời là khủng hoảng hi vọng, bởi vì thế giới xem ra như thị trường hi vọng rộng lớn, trải dài khắp nơi và mỗi người chọn cho mình niềm hi vọng mà mình ưa thích. Như người mẹ, Giáo Hội không chỉ nuôi dưỡng chăm sóc con cái mình trong cuộc sống hiện tại, mà còn dẫn con cái mình trên đường tiến tới Nguồn cũng là Đích của hi vọng và sự sống bất diệt bên kia bóng tối tội lỗi, sự dữ, đau thương, thất vọng, và sự chết.[63]

Bổn phận của con cái là luôn mở lòng đón nhận sự hướng dẫn của Mẹ Giáo Hội, đồng thời, luôn biết học hỏi và xây đắp tinh thần tin tưởng vào Mẹ Giáo Hội. Sự tin tưởng ở đây không có nghĩa rằng Mẹ Giáo Hội là cứu cánh của mình nhưng theo nghĩa rằng Mẹ Giáo Hội đáng để con cái mình đặt niềm tin vì kinh nghiệm dẫn dắt của Mẹ Giáo Hội nằm trong sự bảo trợ của Chúa Thánh Thần. Như là người mẹ, Giáo Hội không chỉ quan tâm đời sống hiện tại của con cái mình, mà còn cung cấp viễn cảnh cho con cái mình, viễn cảnh của trời mai xán lạn, nơi tình yêu và quyền năng Thiên Chúa ngự trị.

Động lực của Mẹ Giáo Hội chính là Chúa Thánh Thần, Người vừa duy trì đời sống Giáo Hội vừa là nhân tố làm cho Giáo Hội trở nên khí cụ của Thiên Chúa giữa lòng thế giới trong việc kêu gọi mọi người hướng tới việc gia nhập gia đình Thiên Chúa. Chính Chúa Thánh Thần luôn hiện diện và hoạt động trong đời sống của Mẹ Giáo Hội và trong tâm hồn rộng mở của tất cả mọi người. Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói rằng Giáo Hội là một người mẹ, người mẹ dạy dỗ con cái mình như người mẹ trong gia đình. Người mẹ tốt lành nhận ra những gì Thiên Chúa muốn ban tặng cho con cái mình.[64] Người mẹ tốt lành ý thức về sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong cuộc sống, đọc được dấu chỉ của Chúa Thánh Thần và hành động theo những dấu chỉ đó cách trung tín nhất.

Nhờ Chúa Thánh Thần, Giáo Hội được dạy dỗ, được hướng dẫn để có thể vững bước trước những nảy sinh và thách đố của thời đại. Nhờ Chúa Thánh Thần, Giáo Hội hiện diện và hoạt động giữa lòng thế giới để biến đối thế giới bằng men, muối, và ánh sáng của Tin Mừng. Nhờ Chúa Thánh Thần, con cái Mẹ Giáo Hội biết yêu thương nhau, biết tha thứ cho nhau, biết mở rộng con tim để đón nhận nhau cho dù còn đó những dị biệt. Nhờ Chúa Thánh Thần, Giáo Hội như là người mẹ không ngừng nhắc nhủ con cái mình rằng mỗi người là Đền Thờ của Thiên Chúa và là nơi cư ngụ của Chúa Thánh Thần.[65] Đồng thời, nhờ Chúa Thánh Thần, Giáo Hội không ngừng dạy bảo con cái mình chiêm ngắm Đức Maria trong mọi biến cố của đời sống.

d. Đức Maria như là Mẫu Gương của Giáo Hội

Để cứu độ nhân loại, Thiên Chúa có thể thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn, Người có thể cứu độ nhân loại bằng chính quyền năng vô biên của Người hay Người có thể cứu độ nhân loại mà không cần sự Nhập Thể của Ngôi Hai Thiên Chúa, Đức Giêsu Kitô. Tuy nhiên, Thiên Chúa đã không chọn con đường nào khác ngoài con đường Ngôi Hai Thiên Chúa mang lấy thân phận con người, sinh bởi Đức Maria và hiện diện giữa lòng thế giới.[66] Thánh A-tha-na-xi-ô (297–373) nói rằng Đức Giêsu Kitô chuẩn bị cho mình một thân thể trong cung lòng Đức Trinh Nữ Maria như là đền thờ của Người để tỏ mình và cư ngụ.[67] Chúng ta không bao giờ có được sự trả lời đầy đủ cho câu hỏi tại sao Thiên Chúa đã chọn Đức Maria cộng tác vào chương trình cứu độ của Người.

Mỗi dấu ấn của Đức Giêsu trên đường đời đều có sự tham dự của Đức Maria, đặc biệt, Đức Maria đã tham dự vào cuộc khổ nạn và phục sinh của Đức Giêsu. Dưới chân thập giá Đức Giêsu có Đức Maria và thánh Gioan, môn đệ yêu dấu của Người, Đức Giêsu nói với Đức Maria rằng ‘thưa Bà, đây là con của Bà’ và nói với môn đệ Gioan ‘đây là mẹ của anh’.[68] Đức Giêsu không nói với Đức Maria rằng ‘thưa Mẹ, đây là con của Mẹ’, cũng không nói với Gioan rằng ‘hãy nhận Mẹ của tôi làm Mẹ của anh’. Đây thật là mặc khải lớn lao: Đức Maria là Mẹ của tất cả những ai nhận mình là môn đệ của Đức Giêsu. Như thế, mặc khải của Đức Giêsu dưới chân thập giá là mặc khải về sự hình thành Giáo Hội cũng như các tương quan của Giáo Hội, trong đó Đức Maria chính là Mẹ Giáo Hội và thánh Gioan đại diện cho toàn thể con cái Giáo Hội. Đức Maria cưu mang, sinh trưởng, và chăm sóc Đức Giêsu, Giáo Hội cưu mang, sinh trưởng, và chăm sóc con cái mình là các tín hữu.[69]

Giáo Hội sinh ra dưới chân thập giá khi Đức Giêsu gục đầu xuống và trao ban Thần Khí cùng với trái tim bị đâm thủng, máu và nước chảy ra trước sự chứng kiến của Đức Maria và thánh Gioan.[70] Kinh nghiệm này cũng được thánh Gioan diễn tả trong Thư của mình rằng “phàm ai tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, kẻ ấy đã được Thiên Chúa sinh ra. Và ai yêu mến Đấng sinh thành, thì cũng yêu thương kẻ được Đấng ấy sinh ra. Chính Đức Giê-su Ki-tô là Đấng đã đến, nhờ nước và máu; không phải chỉ trong nước mà thôi nhưng trong nước và trong máu. Chính Thần Khí là chứng nhân, và Thần Khí là sự thật. Có ba chứng nhân: Thần Khí, nước và máu. Cả ba cùng làm chứng một điều” (1 Ga 5,1.6-8). Như đã được đề cập ở trên về sự hình thành nhân loại cũ khi Thiên Chúa tác tạo A-đam từ bụi đất và thổi Sinh Khí vào, rồi từ cạnh sườn ông, E-và được dựng nên, sự hình thành Giáo Hội thật kỳ diệu với máu, nước, Thần Khí trước sự hiện diện của Đức Maria và thánh Gioan.

Những gì thánh Phaolô diễn tả về tương quan giữa A-đam và Đức Giêsu Kitô cũng có thể áp dụng để diễn tả về tương quan giữa E-và và Đức Maria.[71] E-và phạm tội, bất tín, bất tuân, ích kỷ, Đức Maria vô tội, trung tín, vâng phục, xả kỷ. E-và làm cho bản tính nhân loại bị biến dạng, hư hỏng, Đức Maria cộng tác với Thiên Chúa trong việc hồi phục bản tính đó, hơn thế nữa, làm cho nhân loại không chỉ trở về với tình trạng nguyên thủy là hình ảnh của Thiên Chúa mà còn là con Thiên Chúa, em của Đức Giêsu, và bạn hữu của Người.[72] Đức Giêsu đã trở nên một xương một thịt với Đức Maria trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Chính sự trở nên một xương một thịt giữa Đức Maria và Đức Giêsu cho phép chúng ta hiểu sâu hơn về tương quan giữa Đức Maria và Giáo Hội.

Giáo Hội theo khuôn mẫu của Đức Maria, là Mẹ của chúng sinh được tái tạo, được đổi mới, được hưởng sự yêu thương, tha thứ, và lòng quảng đại bao dung của Thiên Chúa. Đức Maria sinh con mà vẫn luôn tinh tuyền, tương tự như thế, Giáo Hội sinh con mà vẫn luôn tinh tuyền. Giáo Hội được Thiên Chúa gìn giữ và bảo toàn để thi hành tác vụ thánh hóa muôn người. Là bí tích của Đức Giêsu Kitô, Giáo Hội trở nên một xương một thịt với Đức Maria, Trinh Nữ, Hiền Thê và là Mẹ. Như vậy, chúng ta thấy tương quan mật thiết giữa Giáo Hội và Đức Maria. Đức Maria là Mẹ của Đức Giêsu, do đó, Đức Maria cũng là Mẹ của Giáo Hội. Các tước hiệu như Giáo Hội là Mẹ (Mater Ecclesia), Giáo Hội trinh khiết (Virgo Ecclesia), Giáo Hội vô nhiễm (Ecclesia Immaculata) đều được khởi xướng từ những tước hiệu của Đức Maria. Những gì chúng ta nói về Đức Maria thì cũng có thể nói như vậy về Giáo Hội.

Bản tính tội lỗi của E-và được gột rửa khỏi con cái Giáo Hội khi chịu Bí Tích Rửa Tội, tuy nhiên, hậu quả của tội vẫn còn đó. Hình bóng E-và, mẹ của chúng sinh cũ vẫn còn trong tâm hồn của con cái Mẹ Giáo Hội. Cám dỗ ăn trái cấm không hoàn toàn bị triệt tiêu khỏi tâm hồn con cái Mẹ Giáo Hội. Do đó, để có thể vượt thắng hình bóng E-và, con cái Giáo Hội cần chiêm ngắm Đức Maria, người Nữ tinh tuyền, không vương bóng tội. Đức Maria là người Mẹ như bao người mẹ khác trên trần gian này, ngoại trừ đặc ân được Thiên Chúa bảo toàn khỏi Tội Nguyên Tổ. Do đó, tất cả mọi người với kinh nghiệm người mẹ sinh học của mình dễ dàng đến với Đức Maria trong mọi hoàn cảnh, đặc biệt, nhờ sự bầu cử của Đức Maria trong việc thanh luyện bản thân mình hầu có thể tham dự cách đầy đủ hơn vào môi trường Thiên Chúa ngay trên trần gian này.[73]

Sự thánh thiện của Đức Maria là sự thánh thiện tham dự, tức sự thánh thiện được Thiên Chúa phú bẩm, bởi vì, Đức Maria là thụ tạo của Thiên Chúa. Đức Maria vô nhiễm nguyên tội, do đó, Người không chịu hậu quả trực tiếp của nguyên tội, Người luôn tinh tuyền, vẹn sạch. Tuy nhiên, Đức Maria tham dự hoàn toàn trong môi trường nhân loại, môi trường chịu ảnh hưởng của nguyên tội, do đó, Đức Maria chịu tất cả những đau khổ và bất cập của nhân loại. Tương tự Đức Maria, sự thánh thiện của Giáo Hội cũng là sự thánh thiện tham dự. Như đã được đề cập ở trên, khi nói rằng Giáo Hội thánh thiện, chúng ta hiểu rằng bản chất thánh thiện của Giáo Hội có được từ Nguồn Thánh Thiện là Thiên Chúa. Như thế, chúng ta cần phân biệt sự thánh thiện bởi bản tính của Thiên Chúa và sự thánh thiện của Đức Maria và của Giáo Hội. Hai hình thức thánh thiện này không tương đương nhau. Sự thánh thiện của Đức Maria và của Giáo Hội dẫn xuất từ sự thánh thiện của Thiên Chúa.

Theo Công Đồng Vatican II, Giáo Hội vừa là trinh nữ vừa là mẹ theo khuôn mẫu Đức Maria. Công Đồng minh định rằng “khi chiêm ngưỡng sự thánh thiện kỳ bí và noi gương đức ái của Ðức Maria, và khi trung thành chu toàn thánh ý Chúa Cha, Giáo Hội cũng được làm mẹ nhờ lời Thiên Chúa mà Giáo Hội trung thành lãnh nhận… Giáo Hội cũng là trinh nữ đã giữ gìn toàn vẹn và tinh tuyền lòng trung nghĩa đã hiến cho Phu Quân; và noi gương Mẹ Chúa mình, nhờ thần lực của Thánh Thần, Giáo Hội bảo tồn cho tinh tuyền một đức tin toàn vẹn, một đức cậy bền vững và một đức mến chân thành” (LG 64). Như thế, những đức tính của Đức Maria, đặc biệt, đức tin, đức cậy, và đức mến cũng chính là những đức tính của Giáo Hội.

Đức Maria là mẫu gương cho Giáo Hội về đức tin, bởi vì, là thụ tạo với những giới hạn nhất định, Đức Maria không hấp thu toàn bộ mặc khải của Thiên Chúa. Đức Maria chịu cảnh tăm tối của trần gian. Đức Maria đã hạ sinh Đức Giêsu trong đêm tối, trốn sang Ai Cập trong đêm tối. Cả cuộc đời Đức Maria tràn ngập đêm tối. Tuy nhiên, chính đêm tối đã tôi luyện tâm hồn Đức Maria, chuẩn bị để Đức Maria đón nhận đêm tối khủng khiếp nhất, đêm tối khi con yêu dấu của mình bị treo trên cây thập tự. Niềm tin của Đức Maria trở thành niềm tin cho Giáo Hội, niềm tin vững vàng giữa những thử thách và đêm tối lớn lao nhất.

Đức Maria hạnh phúc vì được tham dự vào chương trình của Thiên Chúa đối với nhân loại. Hạnh phúc của Đức Maria đi đôi với cảnh sầu thương, đau khổ của kiếp người. Tuy nhiên, Đức Maria chưa khi nào vơi bớt hi vọng vào hừng đông bừng sáng và sự vinh thắng của Thiên Chúa trên đêm tối và quyền lực của ma quỉ. Đức Maria tỏ bày tiếng Fiat đối với Thiên Chúa trong hi vọng, Giáo Hội cũng luôn vâng theo thánh ý Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh. Tiếng Fiat của Đức Maria cũng là tiếng Fiat, xin vâng trong hi vọng, của Giáo Hội trên đường lữ hành.

Tình yêu Đức Maria thật lớn lao vì đã tiếp cận và nối kết với tình yêu nhiệm mầu của Thiên Chúa trước khi sứ thần Gáp-ri-en đến loan báo Tin Mừng rằng Đức Maria sẽ cưu mang Đức Giêsu. Đức Maria tin tưởng và hi vọng vào chương trình của Thiên Chúa với tình yêu mến chân thành. Chính tình yêu này là động lực thúc đẩy đời sống của Đức Maria giữa bao lầm than khổ cực của cuộc đời. Tình yêu của Đức Maria siêu vượt tình mẫu tử mà những người mẹ trên trần gian có thể kinh nghiệm, bởi vì, Đức Maria đã yêu mến Thiên Chúa cách đặc biệt, đã cưu mang Con Thiên Chúa, đã chạm đến tình yêu của Thiên Chúa, tình yêu hi sinh, tình yêu quên mình, tình yêu cứu độ. Giáo Hội được Đức Giêsu ủy thác để loan báo tình yêu này, tình yêu của người chết vì bạn hữu mình.[74]

Chúng ta nhận thức rằng Giáo Hội vừa liên kết với Thiên Chúa vừa liên kết với nhân loại. Công Đồng Vatican II nói rằng “Ðức Maria đã lãnh nhận sứ mệnh và vinh dự cao cả là được làm Mẹ Con Thiên Chúa, do đó làm ái nữ của Chúa Cha và cung thánh của Chúa Thánh Thần. Nhờ lãnh nhận ân sủng vô cùng cao quí này, Ngài đã trổi vượt mọi tạo vật trên trời dưới đất. Nhưng đồng thời, vì thuộc dòng dõi A-đam, Ngài cũng liên kết với tất cả mọi người cần được cứu rỗi” (LG 53). Đức Maria vừa là Mẹ Giáo Hội, vừa là thành phần của Giáo Hội bởi vì Đức Maria là thành phần của Nhiệm Thể Đức Kitô. Nhờ gương sáng Đức Maria, Giáo Hội ý thức hơn về căn tính, đời sống, và sứ mệnh của mình giữa lòng thế giới. Một mặt, Giáo Hội không ngừng hướng về Thiên Chúa trong mọi biến cố của đời sống mình. Mặt khác, Giáo Hội không ngừng hướng về nhân loại để cùng chung nhịp đập với con tim của tất cả mọi người. Nói cách khác, Giáo Hội vừa ý thức phẩm giá của mình vừa ý thức sứ mệnh cao cả của mình trong gia đình nhân loại.

Sự thiếu vắng hình ảnh Đức Maria hay không quan tâm đúng mức hình ảnh này trong đời sống Giáo Hội cũng như đời sống của con cái Giáo Hội ảnh hưởng không nhỏ đến sứ mệnh của Giáo Hội cũng như con cái mình. Những gì xảy đến cho cuộc đời Đức Maria cũng xảy đến cho Giáo Hội. Con đường của Đức Maria, con đường theo thánh ý Thiên Chúa, con đường đau khổ, cũng chính là con đường của Giáo Hội giữa lòng nhân thế. Giáo Hội qua bao thế kỷ và cho đến tận thế vẫn luôn là Giáo Hội tử đạo. Lưỡi gươm đâm thâu trái tim Đức Giêsu, lưỡi gươm đâm thâu tâm hồn Đức Maria, cũng chính là lưỡi gươm đâm thâu tâm hồn Mẹ Giáo Hội.[75]

Đức Maria trở thành mẫu gương cho toàn thể Giáo Hội cũng như con cái của Giáo Hội và tất cả mọi người từ tạo thiên lập địa cho đến tận thế. Tương tự như Đức Maria, Mẹ của Đức Giêsu Kitô, Giáo Hội tham dự vào đời sống và sứ mệnh của Đức Giêsu Kitô trong tinh thần tin cậy mến và phó thác. Bởi vì, như Đức Maria, Giáo Hội dõi theo ánh sáng của mặc khải Thiên Chúa giữa bóng đêm dày đặc của sự dữ và nhiều hình thức bất hòa hợp khác. Đời sống của Giáo Hội chỉ có thể tiến triển đúng đắn khi qui hướng về đời sống Đức Maria. Công Đồng Vatican II nhấn mạnh rằng “đời sống của Ðức Nữ Trinh là một gương sáng của tình mẫu tử thắm thiết. Tình mẫu tử ấy phải là động lực của tất cả những ai cộng tác vào sứ mệnh tông đồ của Giáo Hội để tái sinh nhân loại” (LG 65).

Thiên Chúa đến với nhân loại qua Đức Maria, mẹ Đức Giêsu Kitô. Cùng thể thức ấy, Thiên Chúa luôn đến với nhân loại qua Mẹ Giáo Hội để nhờ Mẹ Giáo Hội, con cái Thiên Chúa biết noi gương Đức Maria và nhờ việc kết hợp với Con Đức Maria họ được chung hưởng phần thưởng Nước Trời như Đức Maria. Công Đồng Vatican II minh định rằng ”ngày nay Mẹ Chúa Giêsu đã được vinh hiển hồn xác trên trời, là hình ảnh và khởi thủy của Giáo Hội sẽ hoàn thành đời sau; cũng thế, dưới đất này, cho tới ngày Chúa đến, Ngài chiếu sáng như dấu chỉ lòng cậy trông vững vàng và niềm an ủi cho dân Chúa đang lữ hành” (LG 68). Như thế, Đức Maria vinh hiển là hình ảnh tiên báo cho Giáo Hội vinh hiển cùng toàn thể con cái mình mai ngày.

  1. Hiệu Quả của Nhận Thức Giáo Hội như là Người Mẹ

Như đã được đề cập ở trên, hình ảnh Giáo Hội như là người mẹ là hình ảnh phù hợp với nội dung đức tin Kitô Giáo. Trong khi chúng ta dùng hình ảnh người mẹ để nói về Thiên Chúa có thể dẫn tới những tranh luận đa chiều, thì việc chúng ta dùng hình ảnh người mẹ để nói về Giáo Hội phù hợp với tâm thức mọi người, đồng thời, đem lại hiệu quả tốt đẹp trong đời sống của họ.[76] Hình ảnh Giáo Hội như là người mẹ luôn được trân quí nơi các tín hữu trên bình diện cá nhân cũng như tập thể qua dòng thế kỷ. Thiên Chúa dùng Mẹ Giáo Hội như khí cụ để thực hiện chương trình của Người trên trần gian. Giáo Hội trao ban sự sống, cưu mang, và dạy dỗ con cái mình, cũng là con cái Thiên Chúa.

Việc nhận thức Giáo Hội như là người mẹ cho phép chúng ta có đủ ánh sáng cần thiết để có tầm nhìn hòa hợp hơn khi tiếp cận Kitô Học (Christology), Giáo Hội Học (Ecclesiology), và Thánh Mẫu Học (Mariology). Theo đó, chúng ta không thể tiếp cận, đào sâu, khai triển, và diễn tả một trong những lĩnh vực thần học này mà không quan tâm đến những lĩnh vực kia. Chẳng hạn, khi chúng ta tìm hiểu về Giáo Hội, chúng ta không thể không quan tâm đến căn tính, vai trò, và sứ mệnh của Đức Maria và Đức Giêsu. Tương tự như thế, chúng ta không thể tìm hiểu Biến Cố Đức Kitô mà lãng quên rằng Người vừa là Con Thiên Chúa vừa là Con Đức Maria, vừa là Đấng thành lập Giáo Hội vừa là Đấng làm cho Giáo Hội trở nên Thân Thể mình.

Nhận thức Giáo Hội như là người mẹ dẫn chúng ta đến sự hiểu biết thấu đáo hơn về phẩm vị và vai trò của thẩm quyền trong đời sống Mẹ Giáo Hội. Chẳng hạn, phẩm vị và vai trò của thánh Phêrô tiếp tục trong Giáo Hội như dấu chỉ bảo vệ Giáo Hội khỏi những hiểm nguy trên đường đời như Thiên Chúa hằng bảo vệ Đức Maria. Phẩm vị và vai trò của Đức Giáo Hoàng cũng như các thừa tác vụ tông đồ khác là để bảo vệ Giáo Hội là Trinh Nữ, Hiền Thê, Mẹ và duy trì trật tự và hòa hợp cần thiết trong đời sống của Mẹ Giáo Hội cùng với con cái mình. Hơn thế nữa, Giáo Hội không chỉ là thực tại thiêng liêng mà còn là thực tại xã hội nữa, do đó, sự tồn tại phẩm vị trong Giáo Hội ngoài ý nghĩa thần học còn có ý nghĩa nhân học nữa.[77]

Từ những thập niên hậu bán thế kỷ 20 đến nay, nền thần học nữ giới nhấn mạnh đến sự cần thiết phải dùng ngôn ngữ thích hợp khi diễn tả Thiên Chúa và mặc khải của Người. Thay vì diễn tả Thiên Chúa và mặc khải của Người theo ngôn ngữ phụ hệ truyền thống, những người chủ trương thần học nữ giới cho rằng cần phải dùng ngôn ngữ quân bình hơn nhằm tránh những diễn tả quá như nhân về Thiên Chúa, về mặc khải của Người và những hệ lụy của việc diễn tả này trong đời sống Giáo Hội cũng như xã hội.[78] Hậu quả của não trạng phụ hệ tạo những ngăn cách và phân biệt đối xử không đáng có giữa các thành phần nam, nữ trong Giáo Hội và xã hội. Việc nhận thức Giáo Hội như là người mẹ khơi dậy mọi người ý thức hơn về chương trình của Thiên Chúa cho toàn thể nhân loại, chương trình loại bỏ mọi rào cản phái tính, nhằm thăng tiến phẩm giá con người trên mọi phương diện trong cuộc sống trần gian này.

Chúng ta nhận thức rằng trong thân thể Mẹ Giáo Hội, sự bình đẳng nam nữ chính là mỗi người làm việc đúng với ơn gọi và căn tính của mình. Ơn gọi làm người thì quan trọng hơn người đó là nam hay nữ. Sự bình đẳng nam nữ trong đời sống Mẹ Giáo Hội là sự bình đẳng về phẩm giá con người, sự bình đẳng vừa mang tính trật tự vừa mang tính hòa hợp. Trật tự ở chỗ mỗi người thi hành tác vụ riêng biệt từ cộng đoàn nhỏ nhất là gia đình sinh học tới cộng đoàn lớn nhất là gia đình Giáo Hội, gia đình Thiên Chúa. Hòa hợp ở chỗ không ai thấy mình thấp kém xét về phẩm giá trong khi tác vụ của mỗi người khác nhau.

Từ ơn gọi chung là ơn gọi làm người, còn có những ơn gọi cụ thể khác trong gia đình Giáo Hội. Con cái của Mẹ Giáo Hội luôn quan tâm về ơn gọi cụ thể của mình. Những người sống trong bậc độc thân dâng hiến hay trong bậc vợ chồng luôn nhận thức ơn gọi của mình có ý nghĩa trong đời sống Mẹ Giáo Hội. Chẳng hạn, những người nữ độc thân dâng hiến luôn sống xứng đáng với Phu Quân của mình là Đức Giêsu Kitô, hình ảnh quán xuyến trong đời sống họ là hình ảnh Đức Giêsu Kitô. Những người nam độc thân dâng hiến luôn sống xứng đáng với Hiền Thê của mình là Giáo Hội, hình ảnh quán xuyến trong đời sống họ là hình ảnh Giáo Hội.[79] Con người là nam hay nữ không chỉ là vấn đề thể xác mà thuộc về bản chất riêng biệt của mỗi người trong chương trình tạo dựng của Thiên Chúa. Vấn đề chính yếu không phải ý thức mình làm gì nhưng mình là ai, không phải là làm việc gì nhưng là nồng độ tình yêu trong công việc mình làm. Trong Giáo Hội tất cả mọi người đều có chung ơn gọi đặc biệt, đó là ơn gọi tình yêu. Hình thức ơn gọi này được thánh Phaolô mô tả kỹ lưỡng trong Thư Thứ Nhất Gửi Tín Hữu Cô-rin-tô.[80] Chính thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giêsu qua bao năm trằn trọc suy tư đã ngộ ra ơn gọi này và trở thành một trong những vị thánh đặc biệt nhất của Mẹ Giáo Hội.

Ơn gọi tình yêu được diễn tả bằng ngôn ngữ tình yêu. Như thế, ngoài những ngôn ngữ quen thuộc của mỗi người gắn liền với sắc tộc, quốc gia, vùng miền, con cái Giáo Hội cùng chung ngôn ngữ của Mẹ Giáo Hội (mother tongue), ngôn ngữ tình yêu.[81] Ngôn ngữ này chính là ngôn ngữ của Chúa Thánh Thần đến với các Tông Đồ trong ngày Lễ Ngũ Tuần.[82] Con cái Giáo Hội không chỉ biết học ngôn ngữ của Mẹ Giáo Hội mà còn phổ biến ngôn ngữ này cho nhiều người khác nữa, bởi vì, Giáo Hội là cho tất cả mọi người, Giáo Hội là bí tích cứu độ hoàn vũ.[83] Giáo Hội như là người mẹ kêu mời tất cả con cái mình trở nên mẹ trong mọi hoàn cảnh của đời sống giữa lòng đời, bởi vì, tất cả đều được mời gọi sinh hoa kết trái cho Mẹ Giáo Hội nhờ ngôn ngữ tình yêu.

Khi chúng ta ý thức rằng Thiên Chúa là Cha và Giáo Hội là Mẹ, đồng thời, chúng ta cũng ý thức rằng chúng ta không bao giờ bị chia cắt, không bao giờ bị loại trừ, không bao giờ vắng bóng Cha, không bao giờ thiếu bóng Mẹ, chúng ta sẽ tự tin hơn trong cuộc sống hằng ngày. Khi tất cả mọi người trong gia đình nhân loại hiểu được rằng Thiên Chúa là Cha còn Giáo Hội là Mẹ thì tương quan giữa mọi người trong gia đình này sẽ tiến triển theo chiều hướng tốt hơn. Giáo Hội, gia đình của Thiên Chúa, một gia đình vừa có phẩm trật vừa có hòa hợp. Gia đình này không theo mẫu quân chủ, dân chủ hay bất cứ hình thức chính trị, dân sự nào mà là theo mẫu gia đình yêu thương của Thiên Chúa. Việc ý thức về gia đình rộng lớn và siêu việt này có ảnh hưởng rất quan trọng về mặt nhân loại học và xã hội học. Khi mọi người ý thức rằng họ là anh chị em của nhau trong gia đình Thiên Chúa chắc chắn rằng sự cư xử của mọi người với nhau sẽ công bằng và đầy tình thương hơn.[84]

Việc nhận thức Giáo Hội như là người mẹ của tin cậy mến giúp chúng ta phát triển hơn về đức tin, đức cậy, và đức mến của mình. Chúng ta tin tưởng vào Thiên Chúa toàn năng nhờ chính niềm tin của Mẹ Giáo Hội, niềm tin không lay chuyển giữa những gian lao, thử thách. Chúng ta trông cậy vào Thiên Chúa toàn năng nhờ chính niềm trông cậy Mẹ Giáo Hội, niềm trông cậy vững vàng vào quyền năng vô biên của Thiên Chúa. Chúng ta yêu mến Thiên Chúa nhờ vào chính tình yêu của Mẹ Giáo Hội, tình yêu bởi đó Mẹ Giáo Hội được hình thành, tồn tại, và phát triển. Như người mẹ tốt lành, Giáo Hội luôn quan tâm đến mọi chiều kích của đời sống con cái mình, đồng thời, luôn dẫn dắt con cái mình đi đúng hướng về Quê Vĩnh Phúc đích thật.

Kết Luận

Hình ảnh người mẹ sinh học in dấu trong tâm hồn mỗi người từ khi hình thành tới lúc từ biệt cõi đời. Đây là hình ảnh quen thuộc nhất. Người ta có thể lãng quên ai đó, chứ không lãng quên người mẹ cưu mang, nuôi dưỡng và chăm sóc mình. Vì sự phổ quát và tính biểu tượng trổi vượt, người ta thường dùng hình ảnh mẹ để diễn tả nhiều thực tại khác nhau trong môi trường tự nhiên cũng như môi trường xã hội. Đặc biệt, người ta dùng hình ảnh mẹ để diễn tả những thực tại mà từ đó các thực tại khác được hình thành, hiện hữu và hoạt động.

Đối với Giáo Hội của Đức Giêsu Kitô, hình ảnh Giáo Hội như người mẹ không phải là hình ảnh được đề cập phổ biến như các hình ảnh khác, chẳng hạn, Giáo Hội như là đoàn chiên với Đấng Chăn Chiên là Đức Giêsu, như là đồng ruộng hay vườn nho được Thiên Chúa gieo trồng, như là tòa nhà của Thiên Chúa, như là đoàn người hành hương về Nước Thiên Chúa hay như là Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Kitô. Tuy nhiên, từ những xem xét và đánh giá trên đây cho phép chúng ta kết luận rằng hình ảnh Giáo Hội như là người mẹ là hình ảnh không xa lạ với nội dung Kinh Thánh. Hình ảnh này được minh định rất sớm trong lịch sử Giáo Hội và được Huấn Quyền Giáo Hội cũng như các thần học gia danh tiếng quan tâm. Chúng ta có thể nói rằng đây là hình ảnh ít trừu tượng nhất về Giáo Hội.

Ngoài những hình ảnh Giáo Hội được diễn tả trong Kinh Thánh, theo dòng lịch sử với sự phát triển của thần học, Giáo Hội được diễn tả qua nhiều hình ảnh hay mô hình khác nữa, chẳng hạn, Giáo Hội là thể chế, Giáo Hội là bí tích, Giáo Hội là hiệp thông, Giáo Hội là tôi tớ, Giáo Hội là tác nhân loan báo Tin Mừng. Chúng ta nhận thức rằng hình ảnh Giáo Hội như là người mẹ không xa lạ với các hình ảnh hay mô hình này. Cách nào đó, chúng ta có thể nói rằng các hình ảnh hay mô hình này diễn tả nội dung của hình ảnh Giáo Hội như là người mẹ. Nói cách khác, các hình ảnh hay mô hình này diễn tả Giáo Hội như là người mẹ trong hành động. Chẳng hạn, khi chúng ta nói rằng Giáo Hội là tác nhân loan báo Tin Mừng là chúng ta nói về việc Giáo Hội Mẹ thi hành sứ mệnh căn bản của mình hay khi chúng ta nói rằng Giáo Hội là tôi tớ là chúng ta nói về việc Giáo Hội như là người mẹ theo nghĩa phục vụ con cái mình và cộng đồng nhân loại.

Việc nhận thức Giáo Hội như là người mẹ cho phép chúng ta hiểu biết sâu xa hơn về căn tính, đời sống, và sứ mệnh của Giáo Hội giữa lòng thế giới. Theo đó, thực thể có tên ‘Giáo Hội’ được tiên báo trong Cựu Ước và trở thành hiện thực trong Tân Ước với Biến Cố Đức Kitô. Giáo Hội chính là thực thể tiếp tục Biến Cố này cho đến tận thế. Giáo Hội vừa là Nhiệm Thể Đức Kitô, vừa là hiền Thê của Người, vừa là Mẹ của tất cả những ai thiết lập mối tương quan liên vị với Đức Kitô và định hướng cuộc sống mình theo giáo huấn của Người.

Theo khuôn mẫu Đức Maria, Giáo Hội như là người mẹ luôn trung thành với Thiên Chúa và mặc khải của Người giữa lòng thế giới. Ý thức rằng mình là công cụ, là dấu chỉ của Nước Thiên Chúa giữa lòng thế giới, Giáo Hội như là người mẹ luôn quan tâm đến mọi nhu cầu của cuộc sống nhân loại, đồng thời, Giáo Hội luôn diễn tả mình như là ánh sáng của Thiên Chúa, ánh sáng tình yêu, ánh sáng cứu độ, ánh sáng đem lại sự hiệp thông, an bình, và hòa hợp cho nhân loại. Nhờ liên kết với Giáo Hội như là người mẹ, các Kitô hữu được liên kết mật thiết với Thiên Chúa, đồng thời, luôn được ơn thiêng của Người bồi dưỡng để có thể làm chứng cho Đức Giêsu và Tin Mừng của Người trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống.

Pet. Nguyễn Văn Viên

_________________

[1] Công Đồng Vatican II (1962-1965), Lumen Gentium 1.

[2] Công Đồng Vatican II, Lumen Gentium 8.

[3] Đối với văn hóa Việt Nam, ý niệm Trời Cha, Đất Mẹ không phải là ý niệm hay sản phẩm vay mượn từ nền văn hóa Lão-Khổng. Ý niệm Trời Cha, Đất Mẹ ở Việt Nam có trước khi đất nước Việt Nam chịu sự đô hộ của Tàu. Theo sử liệu, trống đồng Việt Nam có từ khoảng 1000 năm trước Công Nguyên. Trống đồng diễn tả ý niệm Trời – Đất – Người hòa hợp với nhau. Vạn vật cũng như con người được sinh ra bởi sự giao hòa giữa Trời Cha và Đất Mẹ, con người sống và hiện diện giữa Trời Cha và Đất Mẹ. Sự hòa hợp giữa Trời – Đất – Người chính là niềm hạnh phúc và hi vọng của tất cả mọi người.

[4] Đối với các loại động vật hay thực vật khác, xem ra có sự bất cân bằng hơn giữa giống đực và giống cái.

[5] Về mặt nhân học, người ta có thể lý luận rằng sở dĩ người nam chiếm ưu thế trong xã hội là do sự tiến hóa. Trong xã hội loài người nguyên thủy, người nam lo việc săn bắn, người nữ lo việc sinh con cái và nội trợ trong gia đình. Các cộng đồng nhân loại sơ khai sống giữa dã thú, sự bảo vệ của mỗi cộng đồng dựa trên những người nam khỏe mạnh và lanh lẹ. Dần dần, não trạng này ăn sâu vào các chiều kích khác trong xã hội. Hậu quả là người nam chiếm ưu thế thượng phong và người nữ chịu số phận của những người lệ thuộc.

[6] Hệ thống hiến pháp và pháp luật của nhiều nước trên thế giới qui định về sự bình quyền, bình đẳng nam nữ. Tuy nhiên, trong thực tế, não trạng trọng nam khinh nữ vẫn còn tiếp diễn. Người nam thường lợi thế hơn trong đời sống gia đình cũng như đời sống xã hội.

[7] Hình ảnh vẫn luôn là hình ảnh. Nhiều hình ảnh tham chiếu một thực tại thì tốt hơn ít hình ảnh. Hình ảnh tốt hơn là hình ảnh gần với thực tại. Chẳng hạn, chúng ta dùng hình ảnh một người nào đó để mô tả một người khác thì tốt hơn là dùng hình ảnh một cái gì đó để mô tả về con người. Hình ảnh Thiên Chúa là Cha vẫn luôn là hình ảnh quán xuyến trong Kinh Thánh cũng như trong kinh nghiệm của Kitô Giáo qua dòng thế kỷ.

[8] Đối với những người có niềm tin, Thiên Chúa có thể tạo dựng con người mà không cần sự tham dự của cha mẹ. Tuy nhiên, Thiên Chúa đã không làm như vậy, Người tạo dựng con người có nam có nữ và để họ cộng tác vào công trình tạo dựng của Người. Sự hiện diện của mỗi người trên trần gian không phải ngẫu nhiên, mù quáng nhưng do sự quan phòng của Thiên Chúa.

[9] Xem Xh 33,20.

[10] Đặc tính của Thiên Chúa là thiêng liêng, không thuộc thế giới trương độ. Do đó, mọi hình ảnh mô tả Thiên Chúa đều thiên kiến và có nguy cơ làm méo mó hình ảnh trung thực của Thiên Chúa.

[11] Xem ra Thiên Chúa cũng mệt nhọc và cần nghỉ ngơi!

[12] Xem thêm Đnl 5,1-33.

[13] Xem 2 V 17,7-8; Tv 50,22; Tv 78,59-62; Am 3,1-3; Am 9,8; Đnl 7,1-2; 1 Sm 8,7-8; Nkm 9,13-17; Is 1,10-11; Gr 3,8-10.

[14] Xem Hs 1,2; Hs 3,1-5.

[15] Xem thêm Tông Huấn Verbum Domini 40 (2010).

[16] Trong Kinh Thánh, Xi-on là tên được dùng thay cho Giê-ru-sa-lem. Từ Xi-on lần đầu xuất hiện ở 2 Sm 5,7, theo các học giả Kinh Thánh vào khoảng năm 630–540 trước Công Nguyên. Ở Giê-ru-sa-lem có một ngọn núi có tên là Xi-on.

[17] Xem St 3,20; St 17,16; St 22,17; R 4,14; 1 Sm 1,27.

[18] Thành phố lớn thứ hai của Nga, sau Moscow xét về dân số.

[19] Xem Lc 15,11-32.

[20] Giáo Hội trải qua gần 4 thế kỷ để minh định tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi.

[21] Xét về tầm mức thì việc Thiên Chúa làm người quan trọng hơn so với việc Thiên Chúa trở thành người nam.

[22] Xem Mt 1,1-25.

[23] Tên bà Bát-se-ba không được nêu trực tiếp, Mát-thêu ghi: “vua Đa-vít lấy vợ ông U-ri-gia sinh Sa-lô-môn” (Mt 1,7).

[24] Thiên Chúa phán trong Sách Tiên Tri I-sai-a rằng “tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta” (Is 55,8).

[25] Xem Mc 16,1-8; Lc 24,1-10; Ga 20,1-10.

[26] Xem Mt 19,9; Mc 10,11-12; Lc 16,18.

[27] Xem Ga 8,2-11.

[28] Xem Mt 27,55-56; Mc 15,40; Lc 23,49; Ga 19,25.

[29] Thánh Clêmentê là Giáo Hoàng được thánh Phêrô tấn phong và trị vì từ năm 92-99.

[30] 2 Clêmentê 2,1. Có những tranh luận đặt vấn đề về tính xác thực của Thư này (dưới hình thức một bài giảng): của chính thánh nhân hay ai đó viết nhân danh người?

[31] Thánh Cyprianô (Giáo Hoàng), On the Unity of the Church 6 (He can no longer have God for his Father, who has not the Church for his mother).

[32] Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo 169.

[33] Xem thêm Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI, Caritas in Veritate 78 (2009).

[34] Nói đúng hơn, công trình tạo dựng của Người mang lấy tinh thần mới, chương trình tạo dựng cũ được biến đổi tận căn qua Biến Cố Đức Kitô với sự cộng tác của Giáo Hội.

[35] Xem thêm Kh 12,17; Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Veritatis Splendor 95 (1993).

[36] Hơn cả E-và nữa, E-và được sinh ra từ cạnh sườn, còn Giáo Hội được sinh ra từ trái tim Đức Giêsu vì lưỡi đòng đâm thâu tận trái tim Người.

[37] Xem thêm St. Ép-rem, Thập Giá Đức Kitô là ơn cứu độ của loài người (Bài Đọc 2 Kinh Sách, thứ Sáu, tuần III Phục Sinh); Rm 8,18-27.

[38] Xem thêm Ep 5,25-27; 2 Cr 11,2.

[39] Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII, Mater et Magistra 1 (1961); xem thêm GLGHCG 167, 507, 757.

[40] Xem thêm Ga 10,10; Dt 10,10.

[41] Xem thêm Kh 3,12; Kh 21,2; Kh 21,10.

[42] Xem thêm Mc 16,14-18; Lc 24,36-49; Ga 20,19-23; Cv 1,6-8.

[43] Xem thêm Đức Giáo Hoàng Piô XII, Mystici Corporis Christi 19 (1943).

[44] Xem thêm GLGHCG 1203.

[45] Xem thêm St 3,20.

[46] Xem Pl 2,6-11.

[47] Xem thêm Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Familiaris Consortio 49 (1981).

[48] Xem thêm Thánh I-rê-nê, Adversus Haereses, III, 24,1; GLGHCG 1141.

[49] Sự thánh thiện của Giáo Hội không lệ thuộc vào sự thánh thiện của con cái mình, bởi vì, sự thánh thiện của con cái mình chính là dẫn xuất của sự thánh thiện Giáo Hội. Do đó, sự lầm lỗi của con cái mình không làm cho đặc tính thánh thiện của Giáo Hội bị triệt tiêu.

[50] Xem Ga 15,18-26.

[51] Xem thêm Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII, Mater et Magistra 178.

[52] Xem Cl 1,18.

[53] Xem thêm Post-Synodal Apostolic Exhortation Ecclesia in Africa 63 (1995).

[54] Xem Mt 5,1-12; Lc 6,20-23.

[55] Công Đồng Vatican II, Ad Gentes 2.

[56] Xem thêm Công Đồng Vatican II, Nostra Aetate 2.

[57] Xem thêm Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Evangelii Nuntiandi 20 (1975).

[58] Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Evangelii Gaudium 49 (2013).

[59] Xem thêm Công Đồng Vatican II, Gaudium et Spes 43.

[60] Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII, Mater et Magistra 3.

[61] Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII, Mater et Magistra 262.

[62] Xem Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Evangelii Nuntiandi 41. Câu nói này là của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI trong Tông Huấn Loan Báo Tin Mừng Evangelii Nuntiandi (1975). Tuy nhiên, nội dung câu nói này đã được Đức Giáo Hoàng đề cập tới trong buổi gặp mặt một số thành viên của Ủy Ban Giáo Hoàng về Giáo Dân năm 1974.

[63] Xem thêm GLGHCG 2016.

[64] Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Evangelii Gaudium 139.

[65] Thánh Phaolô nói rằng “anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?… Đền Thờ Thiên Chúa là nơi thánh, và Đền Thờ ấy chính là anh em” (1 Cr 3,16-17) hay “anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao? Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh em. Như thế, anh em đâu còn thuộc về mình nữa, vì Thiên Chúa đã trả giá đắt mà chuộc lấy anh em. Vậy anh em hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em” (1 Cr 6,19-20).

[66] Xem thêm Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Redemptoris Mater 27 (1987)

[67] St. Athanasiô, On the Incarnation, 8,3.

[68] Xem Ga 19,25-27.

[69] Xem thêm Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Evangelii Gaudium 285.

[70] Xem Ga 19,28-34.

[71] Xem Rm 5,12-21.

[72] Xem Ga 1,12; Cl 1,18; Ga 15,13-15.

[73] Xem thêm Công Đồng Vatican II, Apostolicam Actuositatem 4.

[74] Xem thêm Ga 15,12-15.

[75] Xem thêm Lc 2,35; Ga 19,34.

[76] Năm 1978, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô I nói rằng Thiên Chúa là Cha chúng ta, thậm chí là Mẹ chúng ta. Xem John Paul I, Osservatore Romano, English edition (21 September 1978) 2. Xem thêm Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Evangelium Vitae 43 (1995).

[77] Xem thêm Công Đồng Vatican II, Lumen Gentium 8.

[78] Theo quan điểm của một số người ủng hộ thần học nữ giới, chính việc dùng ngôn ngữ nam tính dẫn đến những hậu quả tiêu cực trong cộng đồng nhân loại. Nhà thần học người Mỹ Mary Daly biện luận rằng “if God is man, then man is God.” Xem Mary Daly, Beyond God the Father: Toward a Philosophy of Women’s Liberation (Boston: Beacon Press, 1973), 19.

[79] Chẳng hạn, các linh mục hành động in persona Christi capitis (nhân danh Đức Kitô là đầu). Xem GLGHCG 1548; Công Đồng Vatican II, Lumen Gentium 10; Lumen Gentium 28; Sacrosanctum Concilium 33; Christus Dominus 11; Presbyterorum Ordinis 2.

[80] Xem 1 Cr 13.

[81] Giáo Hội trở thành Mẹ của tất cả con cái mình nhờ đức tin, đức cậy và đức mến. Trong đó, đức mến là vững bền, là trường cửu bởi vì Thiên Chúa chính là tình yêu (Đức Mến), Nguồn và Đích của mọi nhân đức thuộc thế giới thụ tạo (1 Cr 13,8-13).

[82] Xem Cv 2,1-13.

[83] Xem thêm Công Đồng Vatican II, Lumen Gentium 48.

[84] Xem thêm GLGHCG 2212.

_____________________________

Share This Post