Góp ý thêm vào Dự thảo luật tín ngưỡng, tôn giáo

LTS: Ngày 10-10-2016, đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội mời các nhà quản lý, chuyên gia nghiên cứu về tôn giáo đến góp ý cho dự thảo luật tín ngưỡng tôn giáo. Hội nghị do ông Ngọ Duy Hiểu, Phó đoàn đại biểu Quốc hội chủ trì. TS Phạm Huy Thông có bài tham luận đầu tiên, trình bày dưới đây.

Tôi có may mắn được tham gia góp ý vào bản Dự thảo luật tín ngưỡng, tôn giáo (dưới đây gọi tắt là dự thảo) ngay từ đầu. Phải ghi nhận rằng, so với những bản dự thảo trước, bản dự thảo ngày 19-9-2016 là bản thông thoáng nhất trong các văn bản quy phạm pháp luật về tôn giáo từ trước tới nay. Điều đó chứng tỏ, Ban soạn thảo đã lắng nghe, tiếp thu ý kiến đóng góp của các chuyên gia cũng như các tầng lớp nhân dân.

Tuy nhiên với mong muốn Dự thảo phải sát cuộc sống thực tế hơn nữa, tôi xin góp một số ý kiến như sau.

  1. Điều 2 khoản 10 định nghĩa về sinh hoạt tôn giáo nhưng không nói rõ đó là của cá nhân hay cộng đồng. Phải thêm điều này vào.
  2. Điều 13 quy định về lễ hội tín ngưỡng nói rằng nếu quy mô tổ chức trong một xã thì thông báo đến xã, trong huyện thì thông báo đến huyện, trong tỉnh thì thông báo đến tỉnh. Điều này rất khó cho cả cơ sở tín ngưỡng và chính quyền. Trước hết, cơ sở tín ngưỡng nói họ chỉ làm trong phạm vi địa phương nhưng giao thông bây giờ thuận lợi người tứ xứ kéo đến, cả người nước ngoài. Vậy tiêu chí nào nói quy mô tổ chức thuộc phạm vi xã, huyện, tỉnh, quốc gia. Lễ hội đền Trần Nam Định, vốn là phạm vi làng nhưng bây giờ người cả nước đến, có cả người nước ngoài cũng như Việt kiều. Vậy nó thuộc quy mô nào và xin phép ai?
  3. Điều 30 công nhận tư cách pháp nhân phi thương mại với các tôn giáo được Nhà nước công nhận nhưng các tổ chức tôn giáo trực thuộc tôn giáo này muốn có tư cách pháp nhân lại phải đăng ký có điều kiện. Theo điều này, Giáo hội Công giáo có tư cách pháp nhân nhưng các giáo phận, giáo xứ, dòng tu lại chưa có, muốn có phải làm thủ tục công nhận tư cách pháp nhân. Đây là điểm bất hợp lý. Đã công nhận bố mẹ là công dân Việt Nam thì đương nhiên con cái họ cũng là công dân Việt Nam chẳng phải đơn từ đề nghị công nhận nữa.
  4. Điều 32 khoản 2 nói về điều kiện người được phong chức phong phẩm tôn giáo phải là người không có án tích. Như vậy là kỳ thị. Nếu họ có án tích nhưng đã được xóa án tích trở thành công dân bình thường sao lại ngăn cản quyền công dân của họ. Chỉ cần họ có quyền công dân là đủ.
  5. Điều 33 khoản 2 cũng như nhiều điều trong Dự thảo có nói đến “cơ quan chuyên môn về tín ngưỡng, tôn giáo”. Cơ quan chuyên môn về lĩnh vực này phải là các Khoa, Viện nghiên cứu về tín ngưỡng, tôn giáo chứ không phải Ban tôn giáo các cấp. Ban tôn giáo là cơ quan chuyên trách quản lý Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo chứ không phải cơ quan chuyên môn.
  6. Điều 34 khoản 3 nói các tôn giáo phải gửi hồ sơ đăng ký người được phong phẩm, suy tôn đến cấp tỉnh. Hồ sơ có sơ yếu lý lịch, phiếu lý lịch tư pháp… Phiếu lý lịch tư pháp hiện nay do Sở Tư pháp cấp mà họ có cấp cũng căn cứ vào lý lịch xác nhận của địa phương. Vậy tại sao phải phiền hà như thế trong khi tất cả các cơ quan khi nhận người chỉ cần lý lịch là đủ. Khoản 4 điều 34 này, nói nếu không đáp ứng yêu cầu, Nhà nước có thẩm quyền không chấp thuận. Thực tế, Nhà nước có thể không chấp thuận nhưng chức sắc tôn giáo họ vẫn thực thi bổn phận vì họ làm việc tôn giáo. Tốt nhất là các cơ quan nếu có ý kiến thì ý kiến trước lúc phong phẩm, suy tôn. Còn khi đã phong rồi thì không nên can thiệp nữa.
  7. Điều 37 nói về chương trình đào tạo của tôn giáo phải có 2 môn đại cương về Pháp luật Việt Nam và Văn hóa Việt Nam nhưng phải nói rõ, ai đã có chứng chỉ hay điểm học môn này ở đại học thì không phải học nữa vì chủng sinh Công giáo buộc phải tốt nghiệp đại học và có bằng cử nhân ngoại ngữ rồi thì học lại là thừa vì dù học văn bằng hai hay thạc sĩ, tiến sĩ cũng không bao giờ bắt học lại cả.
  8. Điều 46 nói về các cuộc lễ ngoài cơ sở tôn giáo phải báo cáo trước 25 ngày rất khó thực thi. Ví dụ lễ an táng cho người chết của Công giáo ngoài nghĩa trang. Chết thì ai biết trước mà báo cáo văn bản và cũng chẳng biết những ai đến dự từ huyện, xã hay tỉnh mà báo cáo nữa. Chính quyền cho cũng khó mà cấm cũng không được.
  9. Điều 7 khoản 8 cũng như điều 55 cho phép các tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc được thực hiện các hoạt động giáo dục, đào tạo, y tế, bảo trợ xã hội và từ thiện nhân đạo. Các tôn giáo hoan nghênh, chờ đợi nhất điều này. Nhưng họ lại lo lắng vì có kèm theo câu “theo quy định của pháp luật liên quan” . Đoạn trên cho nhưng đoạn dưới lại không cho vì ai cũng biết, luật giáo dục hiện hành (điều 19) đâu có cho tôn giáo tham gia vào giáo dục. Nếu chưa được thì ít ra cho các tôn giáo được mở trường dạy nghề như trường trung cấp Hòa Bình của Công giáo ở Xuân Lộc, Đồng Nai hiện nay.
  10. Điều 61 quy định Ban tôn giáo Chính phủ là phải chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thực hiện quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Nhưng Ban tôn giáo Chính phủ hiện đang trực thuộc Bộ Nội vụ. Đây là điều không hợp lý. Có ý kiến nên chuyển Ban tôn giáo về Bộ Văn hóa nhưng cũng không phù hợp mà nên để độc lập trực thuộc Chính phủ vì Ban có đối tượng quản lý đặc biệt khác với các Bộ, ngành khác.

Trên đây là mấy ý kiến góp vào Dự thảo luật tín ngưỡng, tôn giáo để Dự thảo hoàn thiện hơn, tránh gây thắc mắc cho các tín đồ các tôn giáo trong nước cũng như cộng  đồng quốc tế.

TS. Phạm Huy Thông

Trưởng ban Tư duy Tôn giáo, Trung tâm Khoa học tư duy (CTS).

(Bài viết phản ánh ý kiến riêng của tác giả)

Share This Post