Hộ Giáo – sách bỏ túi của người Kitô hữu

HỘ GIÁO

Nguyên tác: Pocket Handbook of Christian Apologetics
(Hộ Giáo – sách bỏ túi của người Kitô hữu)

Apologetics - Hộ giáo

Tác giả: Peter Kreeft & Ronald K. Tacelli

“Hãy luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng trong anh em.” (1 Pr 3:15).
Hộ giáo là hoạt động tuân theo huấn lệnh này.

 

MỤC LỤC

1. Hộ Giáo

2. Đức Tin và Lý Trí

3. Các Luận Chứng về sự Hiện hữu của Thiên Chúa

4. Bản tính của Thiên Chúa

5. Tạo Dựng và Tiến Hoá

6. Phép Lạ

7. Vấn Đề Sự Dữ

8. Thiên Tính Của Chúa Kitô

9. Sự Phục Sinh

10. Kinh Thánh Huyền thoại hay Lịch sử?

11. Đời Sau

12. Thiên Đàng Và Hỏa ngục

13. Ơn Cứu Độ

14. Kitô Giáo và Các Tôn Giáo khác

15. Chân Lý Khách Quan

******** ********

-1-

HỘ GIÁO

 

Những lý do có Hộ Giáo

Nhiều người chê bỏ hộ giáo vì hộ giáo có vẻ quá trí tuệ, trừu tượng và duy lý. Họ cho rằng cuộc sống , tình yêu, luân lý và sự thánh thiêng thì quan trọng hơn những gì là lý luận.

Những ai lý luận như thế đều đúng cả; họ chỉ không chú ý rằng họ đang lý luận. Chúng ta không thể né tránh việc lý luận; chúng ta chỉ có thể né tránh lý luận cho tốt thôi.

Hơn nữa, lý trí là người bạn với đức tin (xem chương hai).

Lý do khác, sâu xa hơn giải thích tại sao một số người chê bỏ lý luận mang tính hộ giáo do bởi họ thường quyết định bằng con tim nhiều hơn bằng đầu óc của mình dù là để tin hay không tin. Con tim trung tâm của chúng ta, chứ không phải đầu. Nhưng hộ giáo đi đến con tim thông qua đầu. Đầu rõ ràng là quan trọng vì nó là cửa ngõ để đến con tim. Chúng ta chỉ có thể yêu những gì chúng ta biết.

Hơn nữa, ít nhất lý trí có quyền phủ quyết. Chúng ta không thể tin những gì chúng ta tin là sai sự thật, và chúng ta không thể yêu những gì chúng ta tin là không thật. Những tranh luận có thể không đưa bạn đến đức tin, nhưng chắc chắn chúng có thể giữ bạn xa đức tin. Vì vậy chúng ta phải tham gia các cuộc tranh luận.

Những tranh luận có thể mang bạn đến gần hơn với đức tin tựa như một chiếc xe hơi có thể đưa bạn đến bãi biển. Chiếc xe không thể bơi, bạn phải nhảy vào để làm điều đó (bạn phải tự bơi). Nhưng bạn không thể nhảy vào (để bơi) từ một nơi cách xa bờ biển một trăm dặm. Trước hết bạn cần chiếc xe đưa bạn đến địa điểm mà từ đó bạn có thể thực hiện một bước nhảy vọt của đức tin vào biển cả. Đức tin là một bước nhảy vọt, nhưng là một bước nhảy vọt trong ánh sáng, không phải trong bóng tối.

Chúng tôi mời gọi các nhà phê bình, những người hoài nghi, những người vô thần và các tín hữu trong các tôn giáo khác đối thoại với chúng tôi và viết cho chúng tôi, vì lợi ích tương hỗ của chúng ta trong việc theo đuổi chân lý và (ít quan trọng hơn nhiều) vì lợi ích của việc cải thiện các ấn bản tương lai của cuốn sách này. Một trong số ít điều trong cuộc sống mà có thể không gây hại rốt cuộc là việc chân thành theo đuổi chân lý.

Liên quan đến phương pháp

Một dẫn nhập hộ giáo thường bàn đến phương pháp luận. Chúng tôi thì không. Chúng tôi tin rằng hiện nay những câu hỏi bậc 2 thuộc phương pháp thường đưa đến sự phân tâm chú ý khỏi câu hỏi bậc 1 thuộc chân lý. Mục đích của chúng tôi là đưa “trở về căn bản.” Chúng tôi không có một lý do mang tính phương pháp riêng tư nào để làm việc đó và chúng tôi cố gắng sử dụng các tiêu chuẩn hiểu biết chung có tính duy lý cùng với các nguyên lý của logic được chấp nhận cách phổ quát trong tất cả các lập luận của chúng tôi.

Nhưng chúng ta phải nói một điều về phương pháp: tranh luận là một công việc của con người được thấm nhập trong một bối cảnh xã hội và tâm lý lớn hơn. Bối cảnh này bao gồm (1) tổng thể tinh thần của hai người tham gia vào các cuộc đối thoại, (2) mối tương quan giữa hai người, (3) tình hình trước mắt, trong đó họ tìm thấy chính mình và (4) hoàn cảnh xã hội, văn hóa và lịch sử lớn hơn xung quanh họ. Ngay cả các yếu tố quốc gia, chính trị, chủng tộc và giới tính cũng ảnh hưởng đến bối cảnh hộ giáo. Không nên sử dụng cùng một lập luận trong cuộc tranh luận với một phụ nữ Hồi giáo đến từ Tehran để sử dụng khi tranh luận với một thiếu niên người Mỹ gốc Phi đến từ Los Angeles.

Nói cách khác, lập luận giống như thanh kiếm hơn quả bom. Nó có ý nghĩa phần nào với người thả quả bom. Nhưng nó có ý nghĩa rất lớn với người sử dụng thanh kiếm, vì thanh kiếm như là một bộ phần thân thể nối dài của kiếm sĩ. Vì thế, một sự lý luận trong hộ giáo, khi thực sự được sử dụng trong cuộc đối thoại, là một phần nối dài của người lập luận. Giọng điệu của người lập luận, sự chân thành, chăm sóc, quan tâm, lắng nghe và tôn trọng cũng có ý nghĩa nhiều như hoặc có thể là hơn cả sự lý luận của người ấy. Thế giới đã được Chúa Kitô giành lại không phải bởi những lập luận nhưng do sự thánh thiêng: “Tôi khó có thể nghe bạn nói gì khi bạn lớn tiếng như vậy.”

Sự cần thiết của hộ giáo ngày hôm nay

Hộ giáo đặc biệt cần thiết trong thời nay, khi thế giới đang đứng ở ngã ba đường và những cuộc khủng hoảng.

Nền văn minh phương Tây, lần đầu tiên trong lịch sử của nó, đang trong tình trạng nguy hiểm có nguy cơ tử vong. Lý do thì rất thiêng liêng. Nền văn minh đang đánh mất đi cuộc sống, linh hồn của nó; linh hồn đó chính là đức tin Kitô giáo. Sự viêm nhiễm giết chết nó không bởi đa văn hóa – những tín ngưỡng khác, nhưng chính bởi chủ nghĩa đơn văn hóa tục hóa – không có niềm tin, không có linh hồn. Thế kỷ XX được đánh dấu bởi diệt chủng, hỗn loạn tình dục và tôn thờ tiền bạc. Nếu tất cả các ngôn sứ không phải là những kẻ dối trá, thì chúng ta sẽ bị kết án, trừ phi chúng ta ăn năn và “trở về với quá khứ” (bằng tâm linh chứ không phải bằng khoa học kỹ thuật.)

Chúng ta không chỉ ở trong một cuộc khủng hoảng mang tính dân sự và văn hóa, mà còn ở trong một cuộc khủng hoảng mang tính triết lý và trí thức. Cuộc khủng hoảng của chúng ta là “một cuộc khủng hoảng về sự thật” (sử dụng tựa đề sách của Ralph Martin). Càng ngày, chính ý tưởng về sự thật khách quan càng bị phớt lờ, bị tẩy chay hoặc bị tấn công – đặc biệt bởi những người thiết lập giáo dục và truyền thông, những người khuôn đúc tâm trí của chúng ta. (Xem chương mười lăm về đấu tranh cho sự thật khách quan.)

Mức độ sâu nhất của khủng hoảng nơi chúng ta không phải văn hóa hoặc trí thức nhưng tâm linh. Linh hồn vĩnh cửu của những con người mà Chúa Kitô đã chết cho họ đang lâm nguy. Có người nghĩ rằng cái chết đang đến gần. Chúng ta nghi ngờ về những dự báo như vậy, nhưng chúng ta biết chắc chắn rằng: nền văn minh của chúng ta có thể còn tồn tại đến thế kỷ sau, nhưng bạn thì sẽ không thể . Bạn sẽ sớm đứng trần trụi dưới ánh sáng của Thiên Chúa. Tốt hơn bạn nên học cách yêu mến và tìm kiếm ánh sáng đó trong khi bạn vẫn còn thời gian, để lúc đó sẽ là niềm vui của bạn chứ không phải sự sợ hãi đời đời. Thật là không hợp thời khi đưa những điều như vậy lên giấy mực – nhưng việc nói rất hùng hồn về sự lành mạnh tâm linh của thời đại không chịu nhìn thẳng vào sự thật của chúng ta.

Ki-tô giáo đơn thuần hay chính thống

Chúng tôi giới hạn mình trong cuốn sách này với những niềm tin cốt lõi chung cho tất cả các Kitô hữu chính thống – như những gì mà CS Lewis đã gọi “Kitô giáo đơn thuần.” Qua từ đơn thuần, chúng ta không có ý nói đến “mẫu số chung thấp nhất” trừu tượng nào đó nhưng là trung tâm hay bản chất của đức tin, như đã được tóm tắt trong Kinh Tin Kính của Các Tông Đồ. Cái cốt lõi cổ xưa và bất biến này hội nhất các tín hữu khác nhau lại và chống lại những người vô tín bên trong nhiều giáo hội và các giáo phái cũng như bên ngoài. Những nhà thần học phóng khoáng (hoặc với những người theo chủ nghĩa tân thời, hoặc những nhà khải huyền hoặc với những người theo chủ nghĩa xét lại) sẽ không thích cuốn sách này, đặc biệt những lập luận của nó về các phép lạ, tính đáng tin cậy của Kinh Thánh, sự thực về việc phục sinh, thiên tính của Chúa Kitô và sự thực về thiên đàng và địa ngục. Chúng tôi mời họ tham gia với những người tự nhận là vô tín trong cố gắng bác bỏ những luận cứ này. Chúng tôi cũng mời họ bắt đầu thực hiện chính xác hơn cái gọi là “sự thật dưới lớp vỏ bọc” trong việc mô tả quan điểm của họ.

[Về mục lục] ; Đọc tiếp: [2][3], [4], [5], [6], [7], [8], [9], [10], [11], [12], [13], [14], [15]   

*****

-2-

Đức Tin và Lý Trí

T

rong một ý nghĩa nào đó thì cuộc hôn nhân giữa đức tin và lý trí là vấn nạn quan trọng nhất trong hộ giáo bởi vì nó bao trùm mọi vấn nạn. Nếu đức tin và lý trí mâu thuẫn, thì hộ giáo không thể làm gì được. Vì hộ giáo là nỗ lực bảo vệ đức tin bằng những vũ khí của lý trí.

Định nghĩa Đức tin

Chúng ta phải phân biệt hành vi đức tin với đối tượng của đức tin, tin với cái được tin

Đối tượng của đức tin có nghĩa là tất cả những gì được tin. Đối với người Kitô hữu, điều này có nghĩa là tất cả những gì Thiên Chúa đã mặc khải trong Kinh Thánh; người Công giáo tin tất cả các tín điều cùng những giáo huấn bắt buộc có tính phổ quát của Giáo Hội. Đức tin này (đối tượng, chứ không phải là hành vi) được diễn tả trong các mệnh đề.

Có nhiều mệnh đề, nhưng đối tượng tối hậu của đức tin chỉ có một. Đối tượng tối hậu của đức tin không là lời nào khác ngoài Ngôi Lời của Thiên Chúa (số ít) – thật vậy, đó chính là Thiên Chúa. Nếu không có một tương quan sống động với Thiên Chúa hằng sống, các mệnh đề là vô nghĩa, vì hướng nhắm của mệnh đề là vượt qua chính nó để hướng về Thiên Chúa. (“Chỉ lên mặt trăng cần ngón tay, nhưng khốn cho kẻ nhầm lẫn ngón tay với mặt trăng,” theo lời một thiền sư khôn ngoan ). Nhưng không có các mệnh đề, chúng ta không thể biết hoặc nói cho ai khác chúng ta tin vào Thiên Chúa nào và những gì chúng ta tin về Thiên Chúa.

Hành vi đức tin còn hơn chỉ là hành vi niềm tin. Chúng ta tin nhiều thứ – ví dụ, Ngũ Hồ sẽ đổ ra biển Celtics, Tổng thống không phải là kẻ lừa đảo, Na Uy thì đẹp – nhưng chúng ta không sẵn sàng để chết cho những niềm tin này, cũng như chúng ta không thể sống những niềm tin này mọi mọi lúc. Nhưng đức tin tôn giáo là một cái gì đó để chết cho và là một cái gì đó để sống trong mọi thời điểm. Nó hơn hẳn niềm tin, và mạnh hơn nhiều, dù niềm tin là một phần hoặc khía cạnh của đức tin.

Chúng ta có thể phân biệt ít nhất bốn khía cạnh hoặc chiều kích của đức tin tôn giáo.

1. Đức tin mang tính cảm xúc là cảm giác an toàn hay tin tưởng hay xác tín nơi một người. Điều này bao gồm hy vọng (điều mạnh hơn nhiều so với mong muốn đơn thuần) và bình an (điều mạnh hơn nhiều so với tĩnh lặng đơn thuần).

2. Đức tin mang tính trí thức là niềm tin. Chính khía cạnh này của đức tin được công thức hóa trong các mệnh đề và được tóm trong các tín điều.

3. Đức tin thuộc ý chí là một hành vi của ý chí, một cam kết tuân phục thánh ý Thiên Chúa. Đức tin này là sự trung tín hay trung thành. Nó thể hiện mình trong hành vi, nghĩa là, trong các việc tốt.

4. Đức tin khởi đầu nơi trung tâm huyền nhiệm bí ẩn của hiện hữu chúng ta mà Kinh Thánh gọi là “con tim”. Con tim trong Kinh Thánh không có nghĩa cảm giác hay tình cảm hoặc cảm xúc, nhưng là trung tâm tối hậu của linh hồn, như con tim thể lý là trung tâm cơ thể. Solomon đã khuyên, “Hãy gìn giữ con tim cho thật kĩ vì từ đó mà sự sống phát sinh” (Cn 4, 23). Với con tim, chúng ta kén chọn “sự chọn lựa nền tảng” của chúng ta về việc vâng nghe hay không vâng nghe Thiên Chúa, và qua đó quyết định căn tính và số phận đời đời của chúng ta.

Định nghĩa Lý trí

Ở đây một lần nữa chúng ta phải phân biệt hành vi lý trí và chủ quan của cá nhân với đối tượng của lý trí.

Đối tượng của các lý trí là tất cả những gì mà lý trí có thể biết. Điều này có nghĩa là tất cả những chân lý mà lý trí con người có thể (a) hiểu bằng lý trí con người, (b) khám phá bằng lý trí con người và (c) được chứng minh bằng lý trí mà không có bất kỳ tiền đề nào được đức tin giả định vào mặc khải thần thiêng.

Lý trí liên quan đến sự thật; nó là cách để biết sự thật: hiểu biết nó, phát hiện nó hoặc chứng minh nó. Đức tin cũng liên quan đến sự thật; nó cũng là một cách để khám phá sự thật. Không ai sống trên đời mà không tin gì đó! Tất cả chúng ta đều biết hầu hết những gì chúng ta biết nhờ tin; có nghĩa là, qua việc tin vào những gì mà tha nhân – cha mẹ, thầy cô, bạn bè, các tác giả, xã hội – nói với chúng ta. Bên ngoài cũng như bên trong tôn giáo đức tin và lý trí là những con đường đưa đến chân lý.

Mối tương quan giữa các đối tượng của Đức tin và Lý trí

Sau khi chúng ta đã định nghĩa hai thuật ngữ trên, chúng ta sẵn sàng để hỏi về mối tương quan giữa chúng. Khi chúng ta đặt câu hỏi này, chúng tôi không có ý hỏi “Tương quan mang tính tâm lý giữa hành vi đức tin và hành vi lý trí là gì?” nhưng là “Tương quan mang tính logic giữa đối tượng của đức tin và đối tượng của lý trí là gì?” Làm thế nào mà hai nhóm chân lý – những gì có thể biết bởi những lý trí đơn độc của con người và những gì có thể biết bởi tin vào mặc khải thần thiêng tương quan đến nhau? Có ba loại khác nhau của chân lý:

1. Chân lý của đức tin mà không có lý trí

2. Chân lý của cả đức tin và lý trí

3. Chân lý của lý trí mà không có đức tin

Chân lý duy bởi đức tin là những điều được Thiên Chúa mặc khải, không thể hiểu, khám phá hoặc chứng minh bởi lý trí (ví dụ, Chúa Ba Ngôi hoặc sự kiện rằng Chúa Kitô đã chết để cứu chuộc tội lỗi chúng ta). Chân lý của cả đức tin và lý trí là những gì được Thiên Chúa mặc khải, và có thể hiểu, khám phá hoặc chứng minh bởi lý trí (ví dụ, sự hiện hữu của Thiên Chúa duy nhất, hoặc luật luân lý mang tính khách quan, hay đời sống sau khi chết). Chân lý lý trí mà không có đức tin là những gì không được Thiên Chúa mặc khải, nhưng được lý trí con người biết được (ví dụ, các khoa học tự nhiên). Nếu đúng như vậy, thì các nhà hộ giáo Kitô giáo có hai nhiệm vụ: chứng minh tất cả các mệnh đề trong loại 2 và trả lời tất cả các chống đối các mệnh đề trong loại 1 (xem hình 1).

Chúng ta không thể chứng minh các mệnh đề trong loại 1 (ví dụ như, Chúa Ba Ngôi), nhưng chúng ta có thể trả lời tất cả các chống đối. Ví dụ, giả sử một người theo thuyết nhất thể hoặc một người Hồi giáo chống đối mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi vì cho rằng “đó là đa thần giáo.” Chúng ta có thể chỉ ra rằng đây là một sự hiểu lầm; điều này không có nghĩa là ba vị Chúa, nhưng một Thiên Chúa trong ba Ngôi. Hoặc giả sử một nhà logic học nói rằng đó là một mâu thuẫn khi gọi bất cứ điều gì vừa một lại ba. Chúng ta có thể trả lời rằng Thiên Chúa là một bản tính, không phải ba, và là ba ngôi vị, không phải một. Đây không phải là một mâu thuẫn, cũng không khác gì nơi con người chúng ta: chúng ta là hai tính chất (tinh thần và động vật, trí tuệ và vật chất, hồn và xác), nhưng người chỉ có một.

Không phải tất cả các tư tưởng gia Kitô giáo đều đồng ý về có bao nhiêu mệnh đề đức tin có thể được chứng minh bằng lý trí, nhưng hầu hết cho rằng một số có thể chứng minh được (vì vậy, mà có hộ giáo), nhưng không phải tất cả (vì vậy, mà có sự giới hạn của hộ giáo)

Tại sao Đức tin và Lý trí Không bao giờ có thể mâu thuẫn với nhau?

Câu trả lời của thánh Tôma Aquinô cho câu hỏi này trong Tổng Luận Thần Học 1,7 dường như đối với chúng ta là đúng một cách không thể chối cãi được:

Chân lý mà lý trí con người được phú ban một cách tự nhiên để biết không thể đi ngược với chân lý trong đức tin Kitô giáo. Vì lý do này, những gì lý trí con người được phú ban một cách tự nhiên cho là đúng nhất; thì chúng ta không thể nghĩ về những chân lý như vậy là sai. [Nếu chúng ta chỉ hiểu ý nghĩa của các thuật ngữ trong các định đề hiển nhiên đúng như “toàn thể thì lớn hơn thành phần” hay “Có kết quả tất có nguyên nhân,” chúng ta không thể cho rằng những điều này sai]. Cũng như không thể chấp nhận được việc tin đó là sai điều chúng ta nắm giữ nhờ đức tin, vì điều này được xác nhận trong một cách quá rõ ràng là do Thiên Chúa. [Không phải là đức tin của chúng ta nhưng là đối tượng của nó, chính là Thiên Chúa, biện minh cho sự chắc chắn của chúng ta.] Vì thế, chỉ có điều sai trái thì ngược với điều chân thật, vì rõ ràng hiển nhiên đúng từ việc suy xét định nghĩa của chúng, điều không thể rằng chân lý của đức tin trái ngược với những nguyên lý mà lý trí con người biết cách tự nhiên.

Vì vậy, hoặc là Kitô giáo sai, hoặc lý trí sai, hoặc – nếu cả hai đều đúng – không thể có bất kỳ mâu thuẫn thực sự giữa chúng, vì sự thật không thể mâu thuẫn với sự thật.

Thánh Aquinô đưa ra một lý do thứ hai không kém thuyết phục cho cùng một kết luận:

Hơn nữa, điều gì được đưa vào tâm hồn của học sinh bởi người giáo viên thì được chứng thực trong kiến thức của giáo viên – trừ khi bài giảng của ông là hư cấu, mà điều này thì không thích hợp để gán cho Thiên Chúa. Bây giờ sự hiểu biết các nguyên lý mà chúng ta biết được cách tự nhiên [các định đề mang tính hiển nhiên cách duy lý] đã được Thiên Chúa cấy ghép trong chúng ta; vì Thiên Chúa là Tác giả của bản tính chúng ta. Vì thế, những nguyên lý này cũng được chứa đựng nơi Đấng Khôn Ngoan. Cho nên, bất cứ điều gì là trái ngược với các nguyên lý thì trái ngược với Đấng Khôn Ngoan và do đó không thể đến từ Thiên Chúa. Do vậy, những gì mà chúng ta nắm giữ được bởi đức tin nhờ sự mặc khải của Thiên Chúa không thể trái ngược với tri thức tự nhiên của chúng ta.

Nhiều người đồng ý với thánh Aquinô nhưng dè dặt ở điểm kế tiếp của ông. Nhưng điểm kế tiếp này một cách tất yếu theo điểm trước.

Từ đây chúng ta đi đến kết luận sau: bất kỳ lập luận nào được đưa ra nhằm chống lại giáo lý đức tin là những kết luận sai được rút ra từ các nguyên lý đầu tiên và hiển nhiên đúng nằm trong bản chất [lý trí con người]. Những kết luận như vậy không có sức thuyết phục; chúng là những lập luận mà hoặc có thể hoặc ngụy biện [có thể sai lầm]. Và như vậy có khả thể trả lời cho chúng.

Nói cách khác, mỗi lập luận khả thể chống lại giáo lý Kitô giáo có một sai lầm hợp lý ở đâu đó trong nó và do đó nó có thể được trả lời chỉ bằng lý trí.

Nếu điều này không phải như vậy, nếu thánh Aquinô sai ở đây, thì một trong những lập luận từ những người không tin chống lại một trong những giáo lý Kitô giáo, ít là, sẽ chứng minh cách đích thực rằng giáo lý này là sai lầm, nghĩa là, chứng minh Kitô giáo không đúng. Cái nhìn lạc quan của thánh Aquinồ về cuộc hôn nhân giữa đức tin và lý trí nhất thiết phải theo sau tiền đề cơ bản rằng Kitô giáo là chân thực. Như thế, “chủ nghĩa phi lý trí Kitô giáo” là tự mâu thuẫn.

Tuy nhiên, hãy nhớ rằng, chúng ta (và cả thánh Aquinô) không tuyên bố rằng tất cả các giáo lý Kitô giáo có thể được chứng minh bởi lý trí, mà chỉ tuyên bố rằng mỗi lý luận chống lại các tín điều có thể được giải quyết. Chúng ta cũng không tuyên bố rằng bất kỳ ai cũng có thể bác bỏ chúng. Lý trí thì hoàn mỹ cứ lý, nhưng không có một người lý lẽ nào là hoàn mỹ.

[Về mục lục] ; Trở về: [1], [2]Đọc tiếp:  [3], [4], [5], [6], [7], [8], [9], [10], [11], [12], [13], [14], [15] 

*****

-3-

Các Luận Chứng về Sự Hiện Hữu của Thiên Chúa

 

N

hiều người, cả người tín hữu lẫn người vô tín, nghi ngờ về việc sự hiện hữu của Thiên Chúa có thể được chứng minh hoặc ngay cả bàn luận đến. Nhưng không ai có thể nghi ngờ một cách hữu lý việc lưu tâm đến các luận chứng này có một vị trí nhất định trong bất kỳ cuốn sách về hộ giáo nào. Đó là bởi rất nhiều người tin rằng những luận chứng như thế là điều có thể, và một số trong các luận chứng đó thực sự hữu hiệu.

Họ cũng tin rằng một luận chứng hợp lý và hiệu quả về sự hiện hữu của Thiên Chúa là bước quan trọng đầu tiên trong việc mở ra cho tâm trí khả thể đi đến niềm tin.

Bạn có thể không cảm thấy rằng các luận chứng này có giá trị thực sự đối với bạn. Bạn có thể may mắn có được một cảm thức sống động về sự hiện diện của Thiên Chúa – bạn phải biết ơn sâu xa về điều này. Nhưng đó không có nghĩa là bạn không có nghĩa vụ phải suy nghĩ về những luận chứng. Vì nhiều người không được may mắn như thế. Những luận chứng này được dành cho họ – hay ít nhất một số người trong nhóm họ – để họ có được một loại trợ giúp mà họ thực sự cần đến. Thậm chí bạn cũng có thể được yêu cầu cung cấp cho họ trợ giúp đó.

Luận chứng về Nguyên nhân tác thành

Chúng ta nhận thấy rằng một số sự vật làm cho những sự vật khác hiện hữu (bắt đầu hiện hữu, tiếp tục hiện hữu, hoặc cả hai). Ví dụ, một người chơi đàn piano là nguyên nhân gây ra âm thanh mà chúng ta nghe thấy. Nếu anh ta dừng lại, thì âm thanh cũng dừng.

Bây giờ câu hỏi được đặt ra là: Phải chăng mọi vật hiện hữu hiện tại là do tác động của những sự vật khác? Giả sử điều này đúng, nghĩa là, giả sử rằng không có Hữu thể không có nguyên nhân, tức là không có Thiên Chúa thì không có gì tồn tại cả. Theo thuyết không có Thiên Chúa, tất cả mọi sự vật cần phải có một nguyên nhân hiện tại nằm bên ngoài bản thân chúng để tồn tại. Vì thế, ngay lúc này đây, tất cả mọi sự vật, bao gồm tất cả những sự vật mà chúng làm cho những sự vật khác hiện hữu, cần phải có một nguyên nhân. Chúng chỉ có thể cho sự hiện hữu bao lâu chúng nhận sự hiện hữu. Do đó, dựa trên giả thuyết này, mọi sự vật hiện hữu cần được làm cho hiện hữu.

Nhưng điều gì là nguyên nhân cho mọi sự vật hiện hữu? Vượt khỏi mọi sự vật hiện hữu thì chỉ có thể là hư không. Nhưng điều đó là vô lý: vì tất cả mọi thực tại là phụ thuộc – nhưng lại không phụ thuộc vào cái gì sao? Như thế, giả thuyết mọi hữu thể đều có nguyên nhân, rằng không có Hữu thể Không có nguyên nhân, là vô lý. Vì vậy, phải có một cái gì đó không có nguyên nhân, một cái gì đó mà tất cả mọi sự vật cần có một nguyên nhân tác thành hiện hữu tùy thuộc vào nó.

Sự hiện hữu giống như một món quà được trao ban từ nguyên nhân đến kết quả. Nếu không ai quà tặng thì món quà không thể truyền đến một chuỗi những người nhận, dù chuỗi đó dài hay ngắn. Nếu mọi người phải mượn một cuốn sách nào đó, nhưng không ai thực sự nó, thì không ai sẽ nhận được nó bao giờ cả. Nếu không có Thiên Chúa, Đấng có sự hiện hữu bởi tự bản chất đời đời riêng của Ngài, món quà hiện hữu không thể được truyền xuống chuỗi các thụ tạo và chúng ta không bao giờ có thể nhận được nó. Nhưng chúng ta lại nhận được nó; chúng ta hiện hữu. Như vậy phải có một Thiên Chúa: một Hữu thể Không nguyên nhân, Đấng không phải nhận sự hiện hữu như chúng ta – và như mọi mắc xích khác trong chuỗi những người nhận.

Luận chứng về Sự thay đổi

Thế giới vật chất mà chúng ta biết là một thế giới của sự thay đổi. Cô gái trẻ này cao 1m59, nhưng cô ta không luôn luôn ở chiều cao đó. Cây sồi cổ thụ trước mắt chúng ta lớn lên từ một hạt rất nhỏ. Khi sự vật hiện hữu trong một tình trạng nào đó, ví dụ xét về mặt kích cỡ trưởng thành, thì tình trạng đó không tự nó làm cho nó hiện hữu. Cho đến khi nó đi vào hiện hữu thì nó không hiện hữu, và nếu nó chưa hiện hữu, nó không thể gây nên bất cứ điều gì.

Còn về sự vật mà nó thay đổi, mặc dầu nó có thể là cái nó sẽ là, thì nó chưa là cái nó sẽ là. Ngay bây giờ nó thực sự hiện hữu trong tình trạng này (một hạt); nó sẽ thực sự hiện hữu trong tình trạng kia (một cây sồi to lớn). Nhưng nó chưa thực sự trong tình trạng đó bây giờ. Nó chỉ có tiềm năng đi đến tình trạng đó.

Một câu hỏi được nêu lên: Để giải thích sự thay đổi, chúng ta có thể xem xét sự vật đang thay đổi hay phải xem xét cả những vật khác mà cũng liên quan đến nó? Rõ ràng, những sự vật khác phải được gộp vào. Không gì có thể tự nó cho cái nó không có, và sự vật đang thay đổi không thể có ngay bây giờ cái nó rồi sẽ có. Kết quả của sự thay đổi không có thể hiện hữu thực sự trước sự thay đổi. Sự vật đang thay đổi bắt đầu với chỉ tiềm năng để thay đổi, nhưng nó cần được hiện thể hóa bởi những sự vật khác bên ngoài nếu tiềm năng đó được làm thành hiện thực. Ngược lại nó không thể thay đổi.

Không gì tự nó thay đổi. Xét mặt bên ngoài, những sự vật tự chuyển động, như cơ thể động vật, được chuyển động bởi ước muốn hay ý chí – các sự vật không gì hơn chỉ là các phân tử. Và khi động vật hay con người chết, các phân tử vẫn còn, nhưng cơ thể không còn chuyển động bởi vì ước muốn hay ý chí không còn có để điều khiển nó.

Giờ đây một câu hỏi khác xa hơn: phải chăng những sự vật khác bên ngoài sự vật đang thay đổi cũng thay đổi? Phải chăng tác nhân làm chuyển đông cũng chuyển động? Nếu thế, ngay bây giờ tất cả chúng chắc chắn cần được tác động bởi những sự vật khác, hoặc nếu không chúng không thể thay đổi. Bất chấp có bao nhiêu sự vật trong một chuỗi các sự vật đi chăng nữa thì mỗi sự vật cần những sự vật khác bên ngoài chính nó để hiện thể hóa tiềm năng của nó dẫn đến sự thay đổi.

Vũ trụ là tổng thể của tất cả những sự vật di chuyển này, dù là rất nhiều. Toàn bộ vũ trụ là trong quá trình thay đổi. Nhưng chúng ta đã thấy rằng sự thay đổi trong bất kỳ hiện thể nào đòi hỏi một lực bên ngoài để hiện thể hóa nó. Vì vậy, có một lực ngoài (bên trên) vũ trụ, một hữu thể thực siêu việt trên vũ trụ. Hữu thể này được hiểu là “Thiên Chúa.”

Tóm lại, nếu không có gì bên ngoài vũ trụ vật chất, thì không có gì có thể làm cho vũ trụ thay đổi. Nhưng nó thay đổi. Do đó phải có một cái gì đó ngoài vũ trụ vật chất. Nhưng vũ trụ là tổng thể của tất cả vật chất, không gian và thời gian. Ba phạm trù này phụ thuộc vào nhau. Vì thế hữu thể bên ngoài vũ trụ này thì ở ngoài vật chất, không gian và thời gian. Nó không là một sự vật đang thay đổi, nó là Nguồn không thay đổi của sự thay đổi.

Luận chứng về Thiết Kế

Các luận chứng về Thiết Kế có sức lôi cuốn lớn lao và lâu dài. Hầu hết mọi người thừa nhận rằng việc suy tư phản tỉnh về trật tự và vẻ đẹp của thiên nhiên đụng chạm đến phần rất sâu thẳm bên trong chúng ta. Nhưng liệu rằng trật tự và vẻ đẹp đó có là sản phẩm của một thiết kế thông minh và có chủ đích? Đối với những người theo thuyết hữu thần thì câu trả lời là đúng như thế. Các luận chứng cho sự thiết kế là những nỗ lực biện hộ cho câu trả lời này; cho thấy tại sao nó là câu trả lời hợp lý nhất được đưa ra. Các lập luận này được xây dựng trong những cách thức cũng đa dạng phong phú như kinh nghiệm mà ở đó chúng được bắt rễ. Điều sau đây cho thấy điểm cốt lõi hay cái nhìn trọng tâm.

1. Vũ trụ này tỏ lộ một lượng tính khả tri và khôn ngoan lớn lao đến kinh ngạc, cả bên trong những sự vật chúng ta quan sát và trong cách thức những sự vật này liên quan đến những sự vật khác ngoài chúng. Nghĩa là: cách mà chúng hiện hữu hay đồng hiện hữu cho thấy một trật tự phức tạp đẹp đẽ và đều đặn ngay cả những người quan sát tầm thường nhất cũng phải ngất ngây. Chính quy luật trong tự nhiên đối với nhiều hữu thể khác nhau làm việc cùng nhau đưa đến cùng một mục đích có giá trị – ví dụ – các cơ quan trong cơ thể làm việc cho sự sống và sức khỏe của chúng ta.

2. Hoặc trật tự khả tri này là sản phẩm của sự ngẫu nhiên hoặc là của một thiết kế thông minh.

3. Không phải ngẫu nhiên. Vì cái kém hơn (không trật tự) không thể làm nên cái tốt hơn (trật tự)

4. Do đó vũ trụ là sản phẩm của một thiết kế thông minh.

5. Thiết kế này chỉ đến từ một thượng trí, một nhà thiết kế.

6. Do đó vũ trụ là sản phẩm của một Nhà thiết kế thông minh.

Câu hỏi: Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu cái trật tự chúng ta kinh nghiệm được chỉ là một sản phẩm của trí óc chúng ta? Cho dù chúng ta không thể nghĩ được, hay nhìn được trong tâm trí mình tình trạng hỗn mang và mất trật tự cao độ nơi thực tại, thì thực tại vẫn có thể là rất hỗn mang và mất trật tự thì sao?

Trả lời: Trí óc của chúng ta là phương tiện duy nhất ngang qua nó chúng ta có thể hiểu biết về thực tại. Chúng ta không có cách nào khác. Nếu chúng ta đồng ý với nhau rằng có những cái không thể tồn tại trong tư tưởng chúng ta, thì không thể đi tiếp và nói rằng nó có thể tồn tại trong thực tế. Khi đó chúng ta sẽ nghĩ về điều mà chúng ta khăng khăng là không thể được nghĩ đến.

Luận chứng Kalam

Từ Kalam trong tiếng Ả Rập nghĩa đen là “diễn thuyết,” nhưng nó biểu thị một loại thần học thuộc lãnh vực triết học nào đó – chứa đựng những chứng minh cho rằng thế giới này không thể có từ muôn thuở, vì thế nó phải được Thiên Chúa tạo nên. Kiểu chứng minh này có sức lôi cuốn lớn lao và lâu đời cho người Kitô hữu lẫn người Hồi giáo. Hình thức của nó thì đơn giản và dễ hiểu.

1. Bất cứ cái gì bắt đầu tồn tại đều có một nguyên nhân để nó đi vào hiện hữu.

2. Vũ trụ đã bắt đầu tồn tại.

3. Vì vậy, vũ trụ có một nguyên nhân để nó đi vào hiện hữu.

Chúng ta thừa nhận tiền đề đầu tiên. (Hầu hết mọi người (ngoại trừ những người trong nhà thương điên), thậm chí cả người vô học, xem nó không chỉ đúng nhưng chắc chắn và hiển nhiên đúng.)

Tiền đề thứ hai có đúng không? Phải chăng vũ trụ – tập hợp mọi sự vật bị giới hạn bởi không gian và thời gian – đã bắt đầu tồn tại? Tiền đề này gần đây đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ khoa học tự nhiên – từ cái gọi là vũ trụ luận Big Bang. Nhưng cũng có những tranh luận triết học ngay trong chính sự ủng hộ đó. Liệu rằng một nhiệm vụ vô hạn có bao giờ có thể được thực hiện hoặc hoàn tất hay không? Để đạt được một mục đích nhất định, nếu có nhiều vô cùng những bước phải đứng trước đó, thì có thể đến bao giờ mới đạt được mục đích? Tất nhiên câu trả lời là không, không ngay cả với một thời gian vô hạn. Vì một thời gian vô hạn sẽ không có kết thúc, tương tự như các bước. Nói cách khác, không bao giờ đạt được mục đích. Nhiệm vụ sẽ không bao giờ hoặc có thể bao giờ được hoàn tất.

Nếu vũ trụ luôn luôn đã là như thế, thì nó có từ muôn thuở. Nếu nó có từ muôn thuở, thì một lượng vô hạn về thời gian sẽ phải đã trôi qua trước ngày hôm nay. Và vì vậy một lượng vô hạn ngày đã phải được hoàn tất – ngày này tiếp nối ngày kia, một chút thời gian được thêm vào những gì đã đi trước, để cho ngày hiện tại đến. Nhưng điều này hoàn toàn tương ứng với vấn đề nhiệm vụ vô hạn.

Luận chứng bản thể học

Luận chứng bản thể học được đưa ra bởi thánh Anselmô thành Canterbury (1033-1109). Hầu hết những người đầu tiên nghe đến nó thì bị cám dỗ bỏ ngay lập tức như là một điều khó hiểu thú vị, nhưng các nhà tư tưởng nổi tiếng của mọi thời đại, trong đó có chúng tôi, đứng lên bảo vệ nó. Đây là bằng chứng mạnh mẽ nhất thuộc lãnh vực triết học về sự hiện hữu của Thiên Chúa; vị trí danh giá của nó không phải là ở lòng mộ đạo bình dân nhưng đúng hơn là ở sách giáo khoa và tạp chí chuyên nghiệp. Chúng tôi gồm tóm nó với sự thảo luận tối thiểu, không phải vì chúng tôi nghĩ nó đáng thuyết phục hay không thể bác bỏ được nhưng vì muốn cho đầy đủ.

1. Một sự vật hiện hữu cả trong tâm trí và thực tế thì lớn hơn khi nó chỉ ở trong tâm trí.

2. Thiên Chúa là “một hữu thể mà người ta không thể nghĩ được có một cái gì lớn hơn.”

3. Giả sử rằng Thiên Chúa hiện hữu trong tâm trí nhưng không có trong thực tế.

4. Lúc đó, một cái lớn hơn Thiên Chúa có thể được nghĩ đến (cụ thể là, một hữu thể có tất cả những phẩm chất mà tư tưởng về Thiên Chúa của chúng ta thêm vào sự hiện hữu thực sự).

5. Nhưng điều này là không thể, vì Thiên Chúa là “một hữu thể mà người ta không thể nghĩ được có một cái gì lớn hơn.”

6. Do đó Thiên Chúa hiện hữu trong tâm trí và trong thực tế.

Luận chứng về luân lý

1. Tuân theo tiếng nói lương tâm đích thực là một thực tế. Chúng ta bị bó buộc thực sự, đích thực và khách quan phải làm điều tốt và tránh điều ác.

2. Hoặc là quan điểm vô thần về thực tại là đúng, hoặc là quan điểm “tôn giáo” là đúng.

3. Nhưng người vô thần không tương hợp với việc tuân theo tiếng nói lương tâm.

4. Do đó quan điểm “tôn giáo” về thực tại là đúng đắn.

Chúng ta cần làm rõ tiền đề đầu tiên. Tiền đề này không có nghĩa rằng chỉ đơn thuần là chúng ta có thể thấy những người xung quanh có những trách nhiệm nhất định. Cũng không có nghĩa rằng có nhiều người đã nghĩ là họ đã bị bó buộc phải làm những điều nhất định (như mặc áo người ở trần) và họ phải tránh làm những điều khác (như phạm tội ngoại tình). Tiền đề đầu tiên khẳng định một điều gì đó hơn nữa: cụ thể là, chúng ta thực sự bị ràng buộc và trách nhiệm của chúng ta phát sinh từ cách mà những sự vật thực sự là, mà không chỉ đơn giản là từ những khát vọng hoặc những sắp đặt chủ quan của chúng ta. Nói cách khác, các giá trị đạo đức hay các bổn phận – không đơn thuần là niềm tin vào các giá trị đạo đức – là những hiện thực khách quan.

Ngay bây giờ, khi bàn đến hiện thực về việc tuân phục theo lương tâm, thì một vấn đề tự nhiên nảy sinh. Liệu hình ảnh về thế giới được trình bày bởi người vô thần có phù hợp với hiện thực này hay không? Câu trả lời là không. Người vô thần không bao giờ mệt để nói cho chúng ta biết rằng chúng ta là những sản phẩm ngẫu nhiên của những chuyển động vật chất, một chuyển động không có mục đích và mù mờ đối với mọi nỗ lực của con người. Chúng ta nên dùng chính ngôn từ và đòi hỏi của họ. Xét điểm này, một cách chính xác thì sự thiện đạo đức bắt nguồn từ điều gì? Tuân theo tiếng nói lương tâm khó có thể được bắt nguồn từ một chuyển động vật chất không rõ mục đích.

Giả sử chúng ta nói nó không được bắt nguồn từ cái gì sâu hơn cả ý chí và khát vọng của con người. Trong trường hợp đó, chúng ta không có tiêu chuẩn đạo đức nào dựa vào đó mà đánh giá những khát vọng của con người. Vì mỗi khát vọng sẽ khởi đi từ cùng một nguồn tối hậu – vật chất không mục đích, không lòng thương xót. Và như thế, điều gì trở nên sự bó buộc? Theo quan điểm này, nếu tôi nói có một bổn phận để nuôi người đói, đó là tôi nêu ra một thực tế về mong muốn và ước vọng của chính tôi chứ không phải điều gì khác. Tôi sẽ nói rằng tôi muốn người đói được ăn, và rằng tôi chọn hành động theo ước muốn đó. Nhưng điều này trở nên một sự thừa nhận rằng tôi cũng như mọi người không thực sự bị bó buộc cho người đói ăn, và rằng trên thực tế, không có bất kỳ ai có bổn phận thực sự nào cả. Do đó, quan điểm vô thần về thực tại là không tương hợp với việc tuân theo tiếng nói lương tâm chân thực.

Luận chứng từ Lương tâm

Ngày nay, vì chủ nghĩa chủ quan về đạo đức rất phổ biến nên các luận chứng về đạo đức phải mang lại hiệu quả, vì nó không giả định trước chủ nghĩa tương đối về đạo đức. Con người thời nay thường nói họ tin rằng không có nghĩa vụ ràng buộc về đạo đức một cách phổ quát, và rằng tất cả chúng ta phải làm theo tiếng nói lương tâm của riêng mình. Nhưng chính thừa nhận đó là đủ để chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa.

Điều đáng chú ý là không có ai, thậm chí cả những người hoàn toàn theo chủ nghĩa chủ quan nhất, lại tin rằng việc cố ý không tuân theo tiếng nói lương tâm của mình là điều tốt cả. Thậm chí nếu lương tâm của nhiều người khác nhau nói cho họ biết phải làm hay tránh những điều hoàn toàn khác nhau, thì vẫn còn một tiêu chuẩn tuyệt đối về đạo đức cho tất cả mọi người: không bao giờ không tuân theo tiếng nói lương tâm của mỗi người.

Bây giờ, bởi đâu mà lương tâm đã nhận được một thẩm quyền tuyệt đối như thế – một thẩm quyền được thừa nhận ngay cả bởi những người theo chủ nghĩa chủ quan và khách quan về đạo đức? Chỉ có bốn khả năng: (1) từ một cái gì đó kém hơn tôi (thiên nhiên); (2) từ tôi (cá nhân); (3) từ những người khác ngang bằng với tôi (xã hội); hoặc (4) từ một cái gì đó ở trên tôi (Thiên Chúa). Hãy xem xét mỗi một trong các khả năng này theo thứ tự.

1. Làm thế nào tôi có thể hoàn toàn tuân theo một cái gì đó kém hơn tôi, ví dụ, theo bản năng động vật hoặc theo nhu cầu thực tiễn cho sự sống còn về mặt vật chất?

2. Làm thế nào tôi có thể bó buộc phải tuân theo bản thân mình một cách tuyệt đối? Tôi có là tuyệt đối không? Tôi có quyền đòi hỏi bất kỳ ai, ngay cả bản thân mình vâng phục cách tuyệt đối không? Và nếu tôi là một người tự khóa bản thân mình trong nhà tù của sự bó buộc, tôi cũng có thể cho bản thân mình ra ngoài, nên sẽ phá hủy cái tuyệt đối của bó buộc mà chúng ta đã thừa nhận như là tiền đề của chúng ta.

3. Làm thế nào xã hội có thể bó buộc tôi được? Những người ngang bằng tôi lấy quyền gì mà áp đặt những điều đó lên tôi? Liệu số lượng làm nên chất lượng không? Liệu một triệu con người có làm cho một điều tương đối trở thành tuyệt đối không? “Xã hội” là Thiên Chúa hay sao?

4. Nguồn gốc duy nhất của việc tuân theo tiếng nói lương tâm cách tuyệt đối là một cái gì đó vượt trội trên tôi. Điều này gắn chặt với ý chí của tôi về mặt đạo đức, với những đòi hỏi chính đáng đối với việc vâng phục hoàn toàn.

Vì thế, Thiên Chúa hay một điều gì như Thiên Chúa là nguồn gốc và nền tảng duy nhất xứng đáng với việc tuân theo tiếng nói lương tâm cách tuyệt đối, tất cả chúng ta cảm thấy phải vâng phục lương tâm. Vì thế, lương tâm chỉ có thể được giải thích như tiếng nói của Thiên Chúa trong linh hồn.

Luận Chứng từ Ước muốn

1. Mọi ước muốn tự nhiên và bẩm sinh trong chúng ta tương ứng với những đối tượng có thực vốn có thể làm thỏa mãn ước muốn đó.

2. Nhưng tồn tại trong chúng ta một ước muốn bẩm sinh mà không gì trong thời gian, không gì trên mặt đất này, không một thụ tạo nào có thể làm thỏa mãn.

3. Do đó, phải tồn tại một điều gì đó vượt trên thời gian, trên mặt đất và trên các thụ tạo mới có thể làm thỏa mãn ước muốn này.

4. “Điều gì” ở đây là cái mà người ta gọi là “Thiên Chúa” và “sự sống với Thiên Chúa vĩnh viễn.”

Tiền đề đầu tiên ngụ ý một sự phân biệt các ước muốn thành hai loại: do bẩm sinh và do điều kiện bên ngoài, hay tự nhiên và không tự nhiên. Chúng ta ước muốn tự nhiên những thứ như thức ăn, thức uống, tình dục, giấc ngủ, kiến thức, tình bạn và vẻ đẹp; và chúng ta xa tránh cách tự nhiên những thứ như sự chết đói, cô đơn, vô tri và xấu xí. Chúng ta cũng mong muốn (nhưng không phải bẩm sinh hay tự nhiên) những thứ như xe thể thao, chức vụ chính trị, bay qua không khí như Siêu nhân, vùng đất Oz và một chức vô địch thế giới Red Sox.

Giờ đây có sự khác biệt giữa hai loại ước muốn. Ví dụ, chúng ta không nhận thấy rằng loại thứ hai, tức là loại không tự nhiên, thiếu hụt những trạng thái tương ứng với những ước muốn như chúng ta mong muốn cho loại thứ nhất. Không có từ nào như Ozlessness song song với sự khó ngủ. Nhưng quan trọng hơn những ước muốn tự nhiên đến từ bên trong, từ bản chất của chúng ta, trong khi những cái không tự nhiên đến từ bên ngoài xã hội, quảng cáo hay tưởng tượng. Điều khác biệt thứ hai này là lý do cho một sự khác biệt thứ ba: trong tất cả chúng ta đều có những ước muốn tự nhiên, nhưng những ước muốn không tự nhiên thì khác nhau từ người này đến người.

Sự tồn tại của những ước muốn không tự nhiên không nhất thiết có nghĩa rằng các đối tượng được mong muốn tồn tại. Một số tồn tại, một số không. Những chiếc xe thể thao tồn tại; vùng đất Oz không tồn tại. Nhưng có sự tồn tại của những ước muốn tự nhiên, trong mọi trường hợp có thể tìm thấy, có nghĩa là các đối tượng được ước muốn tồn tại. Không ai thấy có một trường hợp một ước muốn bẩm sinh tồn tại mà không có một đối tượng không tồn tại bao giờ cả.

Tiền đề thứ hai chỉ đòi hỏi cái nhìn nội tâm chân thực. Nếu ai đó chối bỏ nó và nói, “Tôi hoàn toàn hạnh phúc khi chơi với những cái bánh bùn, hoặc xe thể thao, hoặc tiền bạc, hoặc tình dục, hoặc năng lượng, chúng ta chỉ có thể hỏi, “có thực bạn như vậy không?” Nhưng chúng ta chỉ có thể mời gọi, chúng ta không thể bắt buộc. Chúng ta có thể nói đến một người như thế với lời chứng gần như phổ quát của lịch sử con người trong tất cả nền văn học vĩ đại của nó. Ngay cả triết gia vô thần Jean-Paul Sartre đã thừa nhận rằng “đến lúc người ta phải hỏi, thậm chí cả Shakespeare, cả Beethoven, ‘Đó có phải là tất cả không?”

C.S. Lewis, người sử dụng luận chứng này ở nhiều nơi, tóm tắt ngắn gọn như sau:

Mọi thụ tạo không sinh ra với những ước muốn trừ khi sự thỏa mãn cho những ước muốn này tồn tại. Một em bé cảm thấy đói; một cách tương ứng, có một điều như vậy là thực phẩm. Một vịt con muốn bơi lội; một cách tương ứng, có một điều như vậy là nước. Con người cảm thấy ham muốn tình dục; một cách tương ứng, có một điều như vậy là tình dục. Nếu tôi tìm thấy trong bản thân mình một ước muốn mà không kinh nghiệm nào trong thế giới này có thể đáp ứng, thì lời giải thích khả dĩ nhất là tôi đã được dựng nên cho thế giới khác. (Chỉ Kitô giáo, quyển 3,. chương. 10)

Luận Chứng từ Kinh Nghiệm Thẩm Mỹ

1. Có âm nhạc của Johann Sebastian Bach.

2. Như vậy, phải có một Thiên Chúa. Hoặc bạn có thể thấy Ngài hoặc bạn không thấy.

Cuộc đánh cược của Pascal

Giả sử bạn vẫn cảm thấy rằng tất cả các luận chứng này là không thuyết phục. Có một luận chứng khác, khác với loại luận chứng trên. Nó đã được biết đến như là một cuộc đánh cược của Pascal. Chúng tôi đề cập đến nó ở đây và làm cho nó thích ứng với mục đích của chúng ta, không phải vì nó là một bằng chứng cho sự hiện hữu của Thiên Chúa, nhưng vì nó có thể giúp chúng ta trong cuộc tìm kiếm Thiên Chúa trong khi không có bằng chứng thỏa đáng.

Theo đề xuất ban đầu của Pascal, cuộc đánh cược giả định rằng nó không đưa ra những lý lẽ ủng hộ hay chống lại sự hiện hữu của Thiên Chúa; nhưng vẫn có các lý lẽ ủng hộ cho cả hai bên. Vì lý trí không thể quyết định cho chắc chắn được, và vì vấn đề có tầm quan trọng như vậy, dù sao chúng ta cũng phải quyết định, chúng ta phải “đánh cược” nếu chúng ta không thể chứng minh. Câu hỏi được đặt ra là: Bạn sẽ đặt cược vào đâu?

Nếu bạn đặt cược vào Thiên Chúa, thì bạn chẳng mất gì, ngay cả khi Thiên Chúa không hiện hữu. Nhưng nếu bạn đặt cược không có Thiên Chúa, và bạn mắc sai lầm nếu Thiên Chúa thực sự hiện hữu, khi đó bạn mất tất cả: Thiên Chúa, đời sau, thiên đàng, ích lợi đời đời. “Chúng ta hãy đánh giá hai trường hợp: nếu bạn thắng, bạn được tất cả, nếu bạn thua, bạn chẳng mất tí gì” (xem hình 2)

Thiên Chúa hiện hữu          Thiên Chúa không hiện hữu

Tôi tin vào Ngài                 Tôi không tin vào Ngài

Cuộc đánh cược có thể có vẻ vụ lợi khó chịu và hoàn toàn ích kỷ. Nhưng nó có thể được diễn tả lại cho hợp với một động cơ đạo đức cao hơn: Nếu có một Thiên Chúa tốt lành vô cùng, và Ngài thực sự xứng đáng với lòng trung thành và lòng tin của tôi, thì tôi có nguy cơ làm điều bất chính nhất nếu không nhìn nhận Ngài.

Cuộc đánh cược không thể – hay không nên ép buộc tin. Nhưng nó có thể là một sự khích lệ chúng ta tìm kiếm Thiên Chúa, để học tập và tái nghiên cứu các luận chứng mà chúng cho thấy rằng có một Điều gì đó – hay – một Đấng nào đó là lời giải thích cuối cùng về vũ trụ và về cuộc sống của tôi. Nó có thể thúc đẩy “Lời nguyện của người theo thuyết hoài nghi”: “Lạy Thiên Chúa, tôi không biết liệu Ngài có hiện hữu hay không nhưng nếu Ngài hiện hữu, xin thương tỏ cho tôi biết Ngài là ai.”

Pascal nói rằng có ba loại người: những người đã tìm kiếm Thiên Chúa và đã thấy Ngài, những người đang tìm kiếm và chưa tìm thấy, và những người không tìm kiếm và cũng không thấy. Loại người đầu tiên thì khôn ngoan và đạt được hạnh phúc, loại người thứ hai thì khôn ngoan nhưng chưa hạnh phúc, loại người thứ ba thì chẳng khôn ngoan hay hạnh phúc. Nếu cuộc đánh cược khích lệ chúng ta ít là để tìm kiếm Thiên Chúa, thì nó cũng sẽ khích lệ chúng ta trở nên khôn ngoan. Và nếu lời hứa mà Chúa Giêsu hứa là đúng, thì tất cả những ai tìm kiếm thì sẽ thấy (Mt 7:7-8) và, do đó, sẽ được hạnh phúc.

[Về mục lục]Trở về: [1], [2], [3] Đọc tiếp: [4], [5], [6], [7], [8], [9], [10], [11], [12], [13], [14], [15] 
                   

*****

-4-

Bản tính của Thiên Chúa

B

ạn có thể nhận thấy rằng hầu hết các bằng chứng được trình bày trong chương ba bắt đầu với những điều quen thuộc với chúng ta – ví dụ, kinh nghiệm của chúng ta về sự thay đổi, hoặc về việc sống một đời sống đạo đức. Chúng mời gọi chúng ta chú ý đến những đặc điểm nào đó của những điều quen thuộc mà đang đánh đố chúng ta, chúng ta có thể – và nên – đặt ra các câu hỏi về những đặc điểm đó. Bây giờ nếu các câu hỏi được nêu ra nằm trong các bằng chứng là những câu hỏi thực tiễn – chẳng hạn như, làm thế nào vũ trụ vật chất có thể hiện hữu được? – nếu những vấn đề này thừa nhận một số loại câu trả lời, thì chúng ta có thể thấy, nếu chúng ta suy tư phản tỉnh, không tìm đâu được câu trả lời trong thế giới của những điều hữu hạn và quen thuộc này. Nói cách khác, bất cứ điều gì trả lời cho câu hỏi ấy thì sẽ là một câu hỏi thuộc loại hoàn toàn không quen thuộc với chúng ta.

Ngôn ngữ về Thiên Chúa

Nếu đây là vấn đề, thì làm thế nào chúng ta có thể nói về Thiên Chúa? Nếu Thiên Chúa quá bí ẩn, thì làm thế nào ngôn ngữ, là cái đề cập cơ bản đến thế giới kinh nghiệm quen thuộc của chúng ta, có thể được sử dụng một cách đúng đắn để nói về Ngài? Đây là một câu hỏi hay, nhưng không phải là một câu hỏi không có hy vọng trả lời được, như một số người nghĩ. Vì chính tính hợp lý của những câu hỏi cụ thể về thế giới khả nghiệm cho phép chúng ta suy nghĩ trong một cách có hệ thống về Thiên Chúa. Thiên Chúa là câu trả lời cho những câu hỏi này. Ngài là nguyên nhân của những hiện tượng này. Và bằng cách suy tư về kết quả, chúng ta có thể biết điều gì đó về nguyên nhân những sự vật, hé mở tia sáng nào đó về Thiên Chúa – thậm chí chỉ là một điểm sáng.

Một điều gì đó tương tự xảy ra trong khoa học. Ví dụ, các nhà vật lý nhận thấy những kết quả nhất định thường xuyên xảy ra và đặt tên cho cái sinh ra chúng. Họ không có sự quan sát trực tiếp đến những nguyên nhân mà họ đặt tên, và trong thực tế, họ biết rằng một số nguyên nhân có thể không bao giờ có thể quan sát được. Nhưng họ không có khó khăn gì trong việc gọi tên cho cái sinh ra các kết quả này – và ngay cả trong việc gán những đặc tính bất thường cho những thực thể có tính lý thuyết như thế dựa trên cơ sở của việc quan sát của họ.

Nhưng ở đây không có sự tương tự. Xét cho cùng, các hạt cơ bản là một phần của thế giới vật lý và chia sẻ những đặc tính căn bản của nó; mặt khác, Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa của thế giới. Ngài không thể hiện hữu trong cùng một cách như thế giới vật lý hiện hữu. Vì như chúng ta đã nhấn mạnh nhiều lần, chỉ những tính chất cần thiết cho thế giới vật lý mà phát sinh ra vấn đề mà câu trả lời cho những vấn đề ấy là Thiên Chúa. Về bản tính thiêng liêng, một số tác giả đem lại một ấn tượng mạnh mẽ rằng Thiên Chúa ngồi làm mẫu cho chân dung của họ. Chúng tôi hy vọng không tạo ra một ấn tượng như vậy. Chúng tôi đơn giản chỉ muốn bắt đầu từ việc bàn luận về sự hiện hữu của Thiên Chúa, phản tỉnh trên những chứng cứ được tìm thấy ở đó và nêu lên điều mà những chứng cứ này nói đến Đấng Duy Nhất mà chúng chứng minh sự hiện hữu của Ngài.

Các thuộc tính của Thiên Chúa

Thiên Chúa hiện hữu tuyệt đối. Nói rằng “Thiên Chúa hiện hữu tuyệt đối” chúng tôi không chỉ có ý rằng Thiên Chúa luôn luôn có đó hay Ngài không có xu hướng đi ra khỏi sự hiện hữu. Trong một nghĩa nào đó, điều này là đúng. Tuy nhiên, chúng tôi còn có ý nói đến điều gì đó hơn thế nữa.

Thiên Chúa là cội nguồn hiện hữu của mọi sự vật. Nhìn vào vũ trụ chúng ta thấy rằng trong mỗi sinh vật có sự khác biệt giữa yếu tính của nó và sự hiện hữu của nó; nghĩa là có một sự khác biệt giữa cái chúng là và sự kiện chúng là. Đó là lý do tại sao, như chúng ta đã thấy, những sự vật bị giới hạn là do bản chất của chúng vốn không có gì, tại sao chúng cần có một hữu thể mà chúng không thể tự cung cấp.

Nếu Thiên Chúa là câu trả lời cho câu hỏi về hữu thể hữu hạn này, thì Ngài không thể chịu bởi cùng một nhu cầu như thế. Nói cách khác, trong Thiên Chúa không hề có khoảng cách giữa cái Ngài là và sự kiện Ngài là. Việc Ngài hiện hữu không phải là một sự tình cờ thú vị, không hữu thể nào khác làm nguyên nhân cho sự hiện hữu của Ngài. Hiện hữu không thể tách rời khỏi những gì Ngài là, nó phải thuộc về Ngài tự bản chất. Nói một cách tận căn, Thiên Chúa đồng nhất với sự hiện hữu tròn đầy. Đó là những gì chúng tôi có ý khi nói rằng Thiên Chúa hiện hữu tuyệt đối.

Thiên Chúa là vô hạn. Chúng ta đã thấy rằng chính một hữu thể hữu hạn và giới hạn đặt ra cho chúng ta một vấn đề, mà dường như cần có một điều kiện hay nguyên nhân cho sự tồn tại của nó. Vì thế Thiên Chúa không thể bị giới hạn hay hữu hạn. Nói cách khác, Thiên Chúa phải vô hạn, hoàn toàn không giới hạn.

Thiên Chúa là duy nhất. Nếu Thiên Chúa là vô hạn, thì có thể có nhiều Thiên Chúa hay không? Rõ ràng là không, Thiên Chúa phải hiện hữu ngoài mọi ranh giới. Ngài phải là hữu thể tròn đầy vô hạn và không thể bị giới hạn bởi một Thiên Chúa nào khác ngoài Ngài. Do đó Thiên Chúa phải duy nhất.

Thiên Chúa là thiêng liêng. Nói Thiên Chúa là thiêng liêng, chúng tôi có ý rằng Thiên Chúa không phải là một hữu thể vật chất. Một hữu thể vật chất là phải có một thể xác. Nhưng một thể xác thì luôn luôn bị giới hạn và bị thay đổi bất cứ lúc nào.

Thiên Chúa là vĩnh cửu. Thiên Chúa không thể lệ thuộc vào thời gian, vì Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa mọi thụ tạo, vốn thay đổi, và làm nảy sinh vấn đề về chính sự hiện hữu của chúng. Mọi thụ tạo phụ thuộc vào thời gian, làm nảy sinh vấn đề trên. Thiên Chúa không thể giống như thế.

Mầu nhiệm nhập thể không mâu thuẫn điều này; đúng hơn, nhập thể tiền giả định điều này. Nhập thể nghĩa là Thiên Chúa mang lấy một bản tính con người, nơi Chúa Kitô; bản tính đó thì ở trong thời gian, không gian và vật chất. Điều này tiền giả định rằng bản tính Thiên Chúa thì khác bản tính con người. Phần khác đó thường được xem như là phần của Thiên Chúa không bị giới hạn bởi thời gian, không gian và vật chất. Chỉ một con chim không bơi trên biển nhưng bay trên trời mới có thể đi vào biển từ trên cao; chỉ có Thiên Chúa đấng ở ngoài thời gian mới có thể đi vào trong thời gian.

Thiên Chúa siêu việt và ở mọi nơi. Thiên Chúa không thể là một phần của vũ trụ. Nếu Ngài như thế, thì Ngài sẽ bị giới hạn bởi những phần khác của vũ trụ. Nhưng Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa của mọi thụ tạo, ban cho chúng hữu thể đầy đủ. Ngài không thể là một trong chúng, hay toàn thể chúng – vì mỗi thụ tạo, và toàn thể thụ tạo, phải được trao ban sự hiện hữu, phải nhận sự hiện hữu từ Thiên Chúa. Như thế Thiên Chúa phải là hơn thụ tạo của Ngài. Đây là điều mà chúng tôi gọi là tính siêu việt của Thiên Chúa.

Đồng thời Thiên Chúa phải hiện diện tròn đầy trong mọi thụ tạo. Chúng không thể chống lại Thiên Chúa, vì nếu thế Ngài sẽ bị giới hạn bởi thụ tạo. Shakespeare bị giới hạn bởi những người cùng thời nhưng không phải là các nhân vât của ông; ông bị giới hạn bởi Marlowe không phải bởi Hamlet.

Hãy lưu ý làm sao khẳng định về tính siêu việt và tính nội tại của Thiên Chúa tránh những cạm bẫy một mặt của thuyết phiếm thần (đồng nhất Thiên Chúa với bản chất vật chất) và thuyết tự nhiên thần giáo (cho rằng Thiên Chúa ở cách xa với thụ tạo, như thể Ngài có thể “lên giây cót” cho nó và để cho nó tự chạy).

Thiên Chúa thông minh. Thiên Chúa là Đấng Tạo dựng và Gìn giữ mọi sự. Ví dụ, Ngài là Đấng Tạo dựng và Gìn giữ tất cả các yếu tố vật lý, hóa học và tất cả sinh vật sống. Mỗi vật có một cấu trúc có thể tri giác và phù hợp trong một hệ thống cơ cấu có thể tri giác. Vì vậy, thật là hợp lý để khẳng định rằng mọi sự khả niệm tính bao la này mà Đấng Tạo Hóa ban cho thế giới, là công trình của một trí thông minh. Do đó, Đấng Tạo Hóa có một đặc tính là thông minh.

Thiên Chúa toàn tri và toàn năng. Nói rằng Thiên Chúa là toàn tri và toàn năng có nghĩa là không có những rào cản thực sự đối với sự hiểu biết hay hoạt động của Thiên Chúa. Ngoài mình ra, Thiên Chúa tạo dựng mọi sự, Ngài có thể biết và duy trì chúng hiện hữu. Vậy liệu có thể hiểu được rằng có cái gì đó mà Ngài không thể biết hoặc không có quyền lực trên nó hay không? Không thể nghĩ về một cái gì đó như là sự ngăn cản ý chí của Thiên Chúa, trừ khi chính Chúa cho phép sự ngăn cản – như trong sự lựa chọn tự do của con người để phạm tội. Nhưng đó là một trường hợp mà nó tiền giả định sự toàn năng và do đó không phải là một luận chứng chống lại sự toàn năng.

Tuy nhiên, một số người có thể nghĩ rằng chúng tôi đã nói quá ít. Họ thấy một khoảng cách rất lớn ở đây giữa Chúa Cha yêu thương được mặc khải trong Kinh Thánh và Đấng Tạo Hóa mầu nhiệm vô hạn được tỏ lộ trong suy tư triết học. Chúng ta thừa nhận điều này: tình yêu được biểu lộ nơi Chúa Giêsu thì vượt xa hơn những gì chúng ta có thể hy vọng biết từ triết học. Đó chính là lý do tại sao Chúa Giêsu mặc khải Chúa Cha cho chúng ta. Nếu chúng ta có thể học biết tất cả những gì chúng ta cần phải biết về Thiên Chúa từ triết học, thì chúng ta không cần sự mặc khải của Thiên Chúa. Nói đều này, tôi không có ý nói rằng những gì triết học đã cho chúng ta là không có giá trị. Nó cho thấy rằng, ở mọi thời điểm hiện hữu của chúng ta, chúng ta phụ thuộc vào Đấng Tạo Hóa về mọi thứ: sự hiện hữu, trí khôn, sự hiểu biết, sự thiện, ngay cả những sự lựa chọn tự do mà chúng ta phấn đấu để đạt được chúng.

Thiên Chúa có là một “Ông”?

Một trong những tranh luận nóng nhất hiện nay về Thiên Chúa liên quan đến việc sử dụng độc quyền truyền thống của đại từ ông. Hầu hết tất cả các Kitô hữu thừa nhận rằng (1) Thiên Chúa không phải là nam giới theo nghĩa đen, vì Ngài không có cơ thể sinh học, và (2) nữ giới không kém hơn nam giới về bản chất. Đây là các điểm gây nhầm lẫn.

Tuy nhiên, có hai lý do để bảo vệ cho việc sử dụng độc quyền đại từ thuộc phái nam và hình ảnh về Thiên Chúa. Lý do thứ nhất là liệu rằng chúng ta có thẩm quyền để thay đổi các tên gọi về Thiên Chúa được Chúa Kitô, Kinh Thánh và Giáo Hội sử dụng hay không. Việc duy trì truyền thống về hình ảnh phái nam đối với Thiên Chúa dựa trên giả thiết rằng Kinh Thánh là sự mặc khải của Thiên Chúa, không có tính tương đối về phương diện văn hóa nghĩa là có thể thương lượng hay thay đổi. Như CS Lewis nói, “Kitô hữu tin rằng chính Thiên Chúa đã dạy chúng ta biết cách nói về Ngài.”

Lý do thứ hai để gọi Thiên Chúa là “ông” là bởi lịch sử. Ngoại trừ Do Thái giáo, tất cả các tôn giáo cổ khác đã được biết đến đều có các nữ thần cũng như các nam thần. Mặc khải của người Do Thái thì khác biệt ở chỗ đại từ chỉ dùng thuộc phái nam, vì nó khác biệt trong nền thần học về tính siêu việt của Thiên Chúa. Điều đó dường như là điểm chính yếu của hình ảnh thuộc phái nam. Như một người đàn ông kết hợp với một phụ nữ từ ngoài vào và làm cho người đó thụ thai, thì Thiên Chúa tạo ra vũ trụ từ ngoài vào và ban đầy ân sủng cho linh hồn chúng ta hay cuộc sống siêu nhiên cũng từ ngoài vào. Như một phụ nữ không thể tự mình thụ thai, do đó, vũ trụ không thể tạo ra chính nó, cũng như linh hồn không thể tự cứu nó.

Chắc chắn có một kết nối chặt chẽ giữa hai nét đặc sắc một cách căn bản của ba tôn giáo thuộc Kinh Thánh hoặc khởi nguồn từ Abraham (Do Thái Giáo, Thiên Chúa giáo và Hồi giáo): quan niệm duy nhất về một Thiên Chúa siêu việt tạo ra mọi sự từ hư không và sự khước từ gọi Thiên Chúa là “bà” bất chấp thực tế là Kinh Thánh gán cho Ngài các thuộc tính của nữ giới như sự chăm sóc đầy lòng thương xót (Is 49:15), sự nhẹ nhàng của tình mẫu tử (Is 66:13) và sự cưu mang đứa trẻ (Is 46:3). Đại từ phái nam bảo vệ (1) đặc tính siêu việt của Thiên Chúa khỏi ảo tưởng cho rằng mọi sự vật được sinh ra từ Thiên Chúa như một người mẹ hơn là được tạo ra và (2) ân sủng của Thiên Chúa khỏi ảo tưởng cho rằng chúng ta bằng cách nào đó có thể cứu chúng ta – hai ảo tưởng phổ biến và không thể tránh khỏi trong lịch sử tôn giáo.

[Về mục lục] ; Trở về: [1], [2], [3], [4] Đọc tiếp: [5], [6], [7], [8], [9], [10], [11], [12], [13], [14], [15]
                    

*****

-5-

Tạo Dựng và Tiến Hoá

C

ó nhiều vấn đề để nói về tạo dựng và tiến hoá. Tuy vậy, ở đây chúng tôi chỉ tổng hợp 5 câu trả lời cho 5 vấn đề chính yếu:

(1) Liệu tạo dựng có thể hay không?

(2) Sự khác biệt mà tạo dựng đưa ra là gì?

(3) Liệu tiến hóa có thể hay không?

(4) Sự khác biệt mà tiến hoá đưa ra là gì?

(5) Tiến hóa có đi ngược lại với tạo dựng chăng?

Liệu tạo dựng có thể hay không?

Khi các thần học gia Kitô giáo và Do Thái giáo lần đầu tiên đàm đạo với các triết gia Hy Lạp, các triết gia Hy Lạp nghĩ rằng khái niệm kinh thánh cho rằng Thiên Chúa tạo nên thế giới từ hư vô là một điều vô lý và thiếu cơ sở, bởi lẽ điều này xâm phạm đến luật tự nhiên vốn cho rằng từ hư vô thì chỉ có hư vô. Đáp lại điều này:

1. Đó quả thực là một quy luật tự nhiên, nhưng những quy luật tự nhiện không thể ràng buộc Đấng Tạo Hóa siêu việt của muôn loài được.

2. Bởi lẽ tất cả tự nhiên và sức mạnh có trong tự nhiên vốn dĩ là hữu hạn, nhưng Thiên Chúa thì vô hạn; không một sức mạnh hữu hạn tạo ra một sự thay đổi vô hạn từ không hiện hữu tới hiện hữu, nhưng quyền lực vô hạn thì có thể.

3. Ý tưởng cho rằng Thiên Chúa tạo dựng từ hư vô thì không phải là không hữu lý vì nó không tuyên bố rằng bất kỳ điều gì tồn tại lại không có một nguyên nhân thích đáng. Thiên Chúa không phải thình lình xuất hiện, và tự nhiên thực sự có một nguyên nhân thích hợp, đó chính là Thiên Chúa.

Sự khác biệt mà giáo thuyết về việc tạo dựng đưa ra?

Giáo thuyết về tạo dựng ảnh hưởng đến cách chúng ta quan niệm về Thiên Chúa. Nếu Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, ngài phải (1) có quyền năng vô hạn, (2) khôn ngoan vô biên, (3) một nghệ sĩ vĩ đại và (4) quảng đại vô cùng, vì một Hữu thể tự đủ và hoàn hảo không thể tạo dựng từ nhu cầu.

Nó cũng tạo nên sự khác biệt về cách chúng ta quan niệm về tự nhiên. Nếu tự nhiên được Thiên Chúa tạo dựng, thì tự nhiên là (1) khả niệm (không phải tình cờ mà khoa học phát sinh ở Tây phương theo tôn giáo, không ở Đông phương-phiếm thần); (2) tốt đẹp (Kitô giáo luôn kết án tất cả những hình thức phái Manikê và ngộ giáo là dị giáo) và (3) thực (Người phương Đông thường xem tự nhiên như là một ảo giác không thực được phóng chiếu bởi ý thức giác ngộ)

Cuối cùng, giáo thuyết về việc tạo dựng ảnh hưởng đến cách chúng ta quan niệm về chính bản thân mình. Nếu Thiên Chúa tạo dựng nên chúng ta, (1) chúng ta không có quyền chống lại Thiên Chúa. Làm sao Hamlet có quyền chống lại Shakespeare? (2) Sự hiện hữu của chúng ta thì đầy ý nghĩa nếu chúng ta ở trong một vở kịch, một thiết kế của Thiên Chúa và được tạo dựng một cách chủ ý hơn là do một sự tiến triển mù quáng nào đó. (3) và nếu như chúng ta nợ Thiên Chúa về sự hiện hữu của chính chúng ta, thì chúng ta nợ ngài mọi sự.

Liệu tiến hóa có thể hay không?

Nếu như sự tiến hóa không thể xảy ra, thì điều không thể này phải tới hoặc từ chính tạo vật hoặc từ Đấng Tạo Hóa.

Không phải tất cả các nhà khoa học và các triết gia đồng ý về việc liệu tiến hóa có thể xảy ra hay không, và liệu bản chất của các giống loài làm cho việc tiến hóa không thể xảy ra hay không. Cuộc tranh luận vẫn đang diễn ra, dẫu cho, nhiều nguời ở cả hai bên đã cảm thấy xác tín hoàn toàn và tuyệt đối. Xét về phía Đấng Tạo Hóa thì không phải là không thể. Nếu Thiên Chúa muốn sắp xếp cho các giống loài giúp nhau tiến hóa từ những phương thế tự nhiên, thì chắc hẳn ngài có thể tạo ra một thế giới như thế.

Vì trong khả năng hiểu biết của khoa học gia cũng như các thần học gia, việc tiến hóa thì có thể diễn ra. Cho dẫu nó có thực, cho dẫu nó đã thực sự diễn ra hay không thì cũng không phải là vấn đề mang tính quyết định. Lý thuyết này vẫn còn là một điều phiền hà mang tính khoa học. Có lẽ nó có thể được cứu chữa. Khoa học phải quyết định điều này.

Sự khác biệt mà Tiến hóa đem đến là gì?

Chúng ta phải phân biệt 3 ý nghĩa mà việc tiến hóa có thể mang lại:

Trước hết, nó chỉ đơn giản là một lý thuyết về cái gì đã xảy ra – những giống loài phức tạp hơn xuất hiện trên trái đất – và đã diễn ra thời nào, như di tích hóa thạch cho thấy. Thứ đến, nó là một lý thuyết về việc điều đó diễn ra như thế nào: bằng “chọn lọc tự nhiên,” “sự sống sót của những sinh vật phù hợp nhất.” Cuối cùng, nó có nghĩa là sự vắng mặt việc thiết kế của Thiên Chúa, như là sự tách biệt Thiên Chúa ra khỏi việc sử dụng chọn lọc tự nhiên. Ý nghĩa thứ ba này không hề mang tính khoa học, nhưng lại mang tính triết học và thần học. Một người có thể chấp nhận tiến hóa theo ý nghĩa thứ 1 chứ không phải thứ 2, hoặc theo thứ 1 và 2 mà không phải thứ 3. Chắc chắn có sự đối nghịch giữa Kinh Thánh và tiến hóa trong ý nghĩa thứ 3. Thế nhưng, tiến hóa theo cách hiểu này thì không hề là một lý thuyết khoa học.

Nếu chúng ta tiến hóa nhờ vào sự ngẫu nhiên mù mờ, không phải theo một thiết kế của Thiên Chúa, lúc đó đời sống của chúng ta sẽ không có ý nghĩa gì, không có một kế hoạch của Thiên Chúa được sắp đặt trước và cũng không có chương trình. Ý nghĩa, mục đích hay những giá trị duy nhất tồn tại là những điều mà chúng ta phát minh ra cho chính chúng ta. Những điều này chưa bao giờ đúng hoặc sai, được biện minh hay không được biện minh bởi một tiêu chuẩn cao hơn chính bản thân những ước muốn của ta đã tạo nên chúng. Vì thế, không có một lý do thực sự nào để yêu thích đạo đức Kitô giáo hơn là đạo đức Stalin, ngoại trừ những ước muốn của chính họ. Ước muốn trở thành lý do và sự biện minh của chính nó.

Không có sự đối nghịch về mặt logic giữa tuyên bố của Kinh Thánh cho rằng “khởi đầu Thiên Chúa đã tạo dựng trời và đất” (St 1:1) và tuyên bố cho rằng, ở đây, trái đất đã hình thành, các giống loài đã tiến hóa bởi sự chọn lọc tự nhiên. Khoa học giống như việc nghiên cứu sinh vật học nằm trong một cái bình nuôi cá; Kinh Thánh giống như một lá thư được gởi đến từ người đã thiết kế nên bình nuôi cá này. Chẳng những không hề loại trừ nhau, hai ý tưởng về tiến hóa và tạo dựng bao hàm và thừa nhận lẫn nhau. Một mặt, Kinh Thánh không nói rằng Thiên Chúa “đã tạo dựng” mỗi giống loài bằng một hành động tách biệt, nhưng nói: Đất phải sinh ra các sinh vật sống” (St 1:24). Mặt khác, một lý thuyết về tiến hóa mà giới hạn chính nó vào khoa học thực nghiệm thì không tuyên bố cho biết rằng liệu có một Đấng Thiết Kế sau những lực tự nhiên này hay không. Nhưng chắc chắn rằng một sự thiết kế tuyệt vời và có trật tự như thế gợi ý một cách mạnh mẽ về một Đấng Thiết Kế vũ trụ.

Không có một sự mâu thuẫn hợp lẽ nào giữa tuyên bố của Kinh Thánh rằng linh hồn con người (“hình ảnh của Thiên Chúa”) được Thiên Chúa “thổi hơi” (“ban thần khí”), và tuyên bố của việc tiến hóa rằng cơ thể của chúng ta thì được tiến hóa từ những hình thức thấp hơn. Sách Sáng Thế đoạn 2 câu 7 thậm chí còn gợi ý một nguồn gốc như vậy.

Tiến hóa có mâu thuẫn với Tạo dựng?

Khởi đầu Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ, vũ trụ có thể không tiến hóa, bởi vì không có gì cho nó để từ đó nó tiến hóa và thậm chí không có bất kỳ khoảng thời gian nào để nó tiến hóa. Nhưng về việc tiến hóa của sự sống thì sao? Thiên Chúa có thể tạo dựng một sự sống có hệ thống một cách trực tiếp hoặc Ngài có thể phát triển nó từ sự sống không có tổ chức thông qua những tiến trình tự nhiên; chúng ta không biết chắc chắn về điều này, cả về mặt thần học lẫn khoa học, Thiên Chúa hay tự nhiên, điều này khiến chúng ta không có một câu trả lời tuyệt đối chắc chắn.

Bây giờ thân thể con người là một hình thức sự sống có tổ chức. Nếu những hình thức sự sống có tổ chức đã tiến hóa bởi chọn lọc tự nhiên, thân thể con người cũng có thể được thực hiên theo cách đó. Hay Thiên Chúa có thể tạo dựng nó cách trực tiếp. Chắc chắn, một vị Thiên Chúa, đấng đã tạo dựng toàn thể vũ trụ từ hư vô có thể thực hiện các phép lạ trong vũ trụ này, bao gồm tạo dựng những điều tương đối nhỏ gọi là cơ thể con người, nếu điều đó là điều ngài muốn thực hiện. Chúng ta không biết điều gì về tự nhiên cũng như Thiên Chúa mà làm cho cơ thể chúng ta không thể tiến hóa cũng như không được tạo dựng một cách trực tiếp.

Tuy nhiên, linh hồn không thể tiến hóa. Thiêng liêng không thể tiến hóa từ vật chất, việc lấy máu từ một hòn đá thì dễ dàng hơn. Cho dù bạn sắp đặt các nguyên tử thành bao nhiêu hàng đi chăng nữa, hay các hàng của chúng phức tạp thế nào đi chăng nữa, thì bạn không thể có được một sự vật khác biệt hoàn toàn – suy nghĩ, ý thức, lý trí, tự thức – chỉ từ những miếng vật chất đơn thuần. Sự ý thức về vụ trụ vật chất thì không phải là một phần của vũ trụ đó. Sự hiểu biết về một sự vật thì không phải là một trong những thành phần của sự vật này. Nó thì trổi vượt hơn sự vật, một điều đến từ bên ngoài.

[Về mục lục] ; Trở về: [1], [2], [3], [4], [5]; Đọc tiếp: [6], [7], [8], [9], [10], [11], [12], [13], [14], [15]
                                              

*****

-6-

Phép Lạ

C

húng ta bắt đầu với một định nghĩa sơ khởi. Một phép lạ là một sự can thiệp nổi bật và quan trọng mang tính chất tôn giáo của Thiên Chúa vào hệ thống các nguyên nhân tự nhiên. Ở đây có hai điều lưu ý: (1) khái niệm về phép lạ giả thiết ý niệm hơn là gạt bỏ rằng tự nhiên là một hệ thống tự chứa đựng các nguyên nhân tự nhiên. Trừ những điều thông thường, thì chẳng có ngoại lệ nào cho chúng. (2) một phép là thì không phải là một sự mâu thuẫn. Một người đi xuyên qua một bức tường là một phép lạ. Một người vừa đi xuyên qua bức tường vừa không đi xuyên qua bức tường cùng một thời điểm và cùng một phương diện mới là một sự mâu thuẫn. Thiên Chúa có thể thực hiện những phép lạ nhưng không phải là những sự mâu thuẫn – chẳng phải vì quyền năng của ngài bị giới hạn nhưng bởi vì những sự mâu thuẫn thì vô nghĩa.

Hai vấn đề về phép lạ

Chúng ta phải phân biệt câu hỏi mang tính triết lý này – Phép lạ có thể diễn ra hay không? Với quan điểm lịch sử – Phép lạ có thực hay không? Đã bao giờ có một sự can thiệp như thế chưa? Để trả lời câu hỏi thứ hai đòi hỏi phải có một sự hiểu biết về các sự kiện lịch sử. Nó cũng đòi hỏi một cuộc điều tra về mặt lịch sử chứ không phải về mặt triết học. Điều mà các triết gia và các nhà hộ giáo có thể làm là tranh luận về tính khả thể của phép lạ. Vì hầu như tất cả những ai không thừa nhận rằng phép lạ có thể thực sự đã xảy ra đã làm như thế vì một vài lập luận mang tính triết lý nào đó đã được đưa ra để chứng minh rằng phép lạ không thể xảy ra.

Rõ ràng rằng, bạn không thể tin các phép lạ có thể xảy ra nếu bạn không tin rằng người thực hiện phép lạ tồn tại. Thực vậy, tất cả những ai tin vào phép lạ thì tin vào một Thiên Chúa nào đó. Tuy nhiên, không phải những ai tin vào Thiên Chúa đều tin vào phép lạ. Nếu có Thiên Chúa, phép lạ là có thể. Nhưng có lẽ Thiên Chúa đã không chọn để hiện thực hóa khả thể này. Có hai lập luận về tính khả thể của phép lạ: một đến tự Thiên Chúa, người thực hiện phép lạ, là nguyên nhân, và một đến từ phía thế giới, là hệ quả. Chúng ta phải chỉ ra rằng cả Thiên Chúa và thế giới đều mở ra, chứ không phải đóng lại trước phép lạ.

Trước hết, không có gì chống lại phép lạ xét trong bản chất của Thiên Chúa, không có gì đảm bảo rằng thiên Chúa sẽ không làm phép lạ. Vì nếu có Thiên Chúa, Ngài là đấng toàn năng và thực sự có thể làm phép lạ. Cho dẫu ngài có tự do chọn lựa để làm phép lạ hay không thì không phải là vấn đề chúng ta có thể biết trước. Vì nó phụ thuộc vào sự chọn lựa tự do của ngài. Một Thiên Chúa toàn năng không thể bị ép buộc để làm hay không làm một phép lạ. Vì thế, đối với Thiên Chúa, không có gì cản trở việc làm phép lạ. Nếu có Thiên Chúa, phép lạ thì có thể diễn ra.

Thứ đến, về phía thế giới tự nhiên, không có gì cản trở hay chống lại phép lạ. Nếu thiên Chúa đã tạo dựng nên thế giới tự nhiên trước hết, nghĩa là, nếu tự nhiên mở ra với khả thể hiện hữu hay không hiện hữu, thì tự nhiên cũng mở ra với khả thể có hay không có phép lạ. Nói cách khác, nếu Thiên Chúa tạo ra vũ nổ Big Bang của việc tạo dựng, thì ngài chắc chắn có thể làm ra những vụ nổ phép lạ nhỏ hơn của những phép lạ. Nếu tác giả tạo nên một vở kịch, người ấy có thể thay đổi nó.

Những phản biện chống lại phép lạ

Nhiệm vụ chính của nhà hộ giáo liên quan đến phép lạ là phải trả lời tất cả những chống đối vốn nỗ lực để chứng minh rằng phép lạ là không thể. Chúng ta hãy nhớ rằng, người chống đối ở đây không phải là sử gia, người đã nghiên cứu mọi sự kiện trong tất cả lịch sử nhân loại và kết luận rằng không có sự kiện nào là phép lạ cả. Chúng ta không phải giải quyết những chống đối này trên bình diện lịch sử bằng cách chỉ ra những sự kiện cụ thể nào đó là phép lạ. Đúng hơn, những chống đối này hoạt động trên bình diện triết học, bình diện khả thể tính. Mỗi chống đối nỗ lực để minh chứng rằng các phép lạ là không thể xảy ra hoặc hầu chắc là không thể. Nếu các phép lạ không thể xảy ra, thì chúng không có thực, và nếu không có phép nào đã thực sự xảy ra, thì chắc hẳn Kitô giáo là sai lầm. Vì tất cả các tuyên bố và giáo lý nền tảng của Kitô giáo là phép lạ: nhập thể, phục sinh, cứu độ, linh hứng. Nếu bất kỳ một trong những chống đố trên có giá trị, thì toàn thể Kitô giáo bị bác bỏ.

Chống đối 1: Các phép lạ xâm phạm đến nguyên lý đồng nhất của tự nhiên.

Đáp: “Nguyên lý đồng nhất của tự nhiên” nghĩa là gì? Nếu nó muốn nói rằng chúng ta có thể giải thích bất kỳ điều gì xảy ra một cách tổng thể dưới dạng hệ thống các nguyên nhân tự nhiên, khi đó chống đối này viện đến vấn đề này. Rốt cuộc nó chỉ muốn nói rằng “các phép lạ xâm phạm đến nguyên lý rằng phép lạ chưa bao giờ xảy ra.”

Chống đối 2: Xét về mặt định nghĩa, một phép lạ phải vi phạm luật tự nhiện nào đó, và do đó phải là một sự kiện tuyệt đối không thể diễn ra. Nhưng nó luôn luôn thích hợp để nói rằng sự kiện này chưa thực sự xảy ra như đã mô tả, hay rằng nó không thực sự vi phạm luật tự nhiên.

Đáp A: Một phép lạ thì không bao giờ “vi phạm” đến các luật của tự nhiện, hơn là trường hợp một hiệu trưởng vi phạm lịch học của một lớp bằng cách bỏ qua giờ thể dục để tập hợp một cuộc họp đặc biệt. Việc vi phạm chỉ diễn ra khi ai đó phải theo hoặc duy trì một trật tự đã được thiết lập nhưng lại không hoặc từ chối theo.

Đấng Tạo Hóa của vũ trụ có quyền trên tất cả các tạo vật. Thật vô lý khi nói ngài bỏ qua trật tự được tuân thủ một cách thường hằng này hay kia là hệ quả một “sự vi phạm,” như thể là điều gì đó ngài nên cảm thấy tội lỗi và xấu hổ. Một phép lạ thì không vi phạm điều gì. Khi một phép lạ xảy ra, Thiên Chúa đã xác định lịch trình của ngày đó (một cách nhân từ)

Đáp B: Tại sao các phép lạ được gọi là “tuyệt đối không thể.” Chắc chắn chúng là bất thường, nhưng làm thế nào chúng ta biết chúng có thể xảy ra hay không? Chỉ với điều kiện là chúng ta đã thực sự biết rằng Thiên Chúa có thực sự tồn tại hay không – hay ngài có bao giờ làm phép lạ hay chưa.

Chống đối 3: Làm sao chúng ta biết rằng phép lạ đến từ Thiên Chúa chứ không phải là từ một thần dữ đơn thuần (hay thậm chí là thần dữ), người sẽ chịu trách nhiện cho sự can thiệp này hay kia trong trật tự tự nhiên của các sự vật?

Đáp: Một lần nữa, ở đây bối cảnh là quan trọng. Ví dụ, khi chúng ta xem xét những việc làm ngoại thường được gán cho Chúa Giêsu và những mối tương quan đặc biệt với “Chúa Cha” (nghĩa là, Thiên Chúa) mà Ngài đã tuyên bố, thật khó để tránh một trong 3 kết luận sau:

Chúa Giêsu có thực sự là một kẻ mất trí, hay là một tên lừa gạt xấu xa, hay Ngài thực sự là Con Thiên Chúa – và những điều ngoại thường Ngài đã thực hiện là những phép lạ có ý nghĩa đầy đủ nhất. Ba khả thể này không chỉ nảy sinh từ những việc làm được xem xét từ chính bản thân chúng; mà nó còn nảy sinh một cách chính yếu từ đời sống, cá tính và sứ điệp của người đã thực hiện những việc này.

[Về mục lục]Trở về: [1], [2], [3], [4], [5], [6]; Đọc tiếp: [7], [8], [9], [10], [11], [12], [13], [14], [15]                                       

*****

-7-

Vấn Đề Sự Dữ

D

ường như có một sự đối lập một cách hữu lý được tạo nên để xác nhận những khẳng định sau:

  1. Thiên Chúa hiện hữu.
  2. Thiên Chúa thiện hảo.
  3. Thiên Chúa toàn năng
  4. Sự dữ tồn tại.

Và dường như khi chấp nhận bất kỳ ba khẳng định ở trên thì đương nhiên từ chối cái khẳng định còn lại.

Nếu Thiên Chúa hiện hữu, Ngài chỉ muốn những điều thiện hảo và toàn năng để làm được mọi điều Ngài muốn thì khi ấy sự dữ không tồn tại.

Nếu Thiên Chúa hiện hữu và chỉ muốn những điều toàn thiện, nhưng sự dữ tồn tại, thì Thiên Chúa không thể làm được mọi điều Ngài muốn. Vì thế, Ngài không phải là Đấng toàn năng.

Nếu Thiên Chúa hiện hữu và toàn năng, đồng thời sự dữ cũng tồn tại thì Thiên Chúa muốn sự dữ tồn tại. Ngài không thiện hảo.

Cuối cùng, nếu “Thiên Chúa” được hiểu là “một hữu thể Đấng vừa thiện hảo vừa toàn năng” và sự dữ cũng tồn tại thì một Thiên Chúa như thế không hiện hữu.

Năm Giải pháp khả thể

  1. Người vô thần chối từ khẳng định 1, Thiên Chúa hiện hữu.
  2. Người theo thuyết phiếm thần chối từ khẳng định 2, Thiên Chúa thiện hảo chứ không xấu xa.
  3. Người theo chủ nghĩa tự nhiên hiện đại và thuyết đa thần cổ xưa từ chối khẳng định 3, Thiên Chúa là Đấng toàn năng. Người theo thuyết đa thần giới hạn quyền năng của Thiên Chúa bằng cách phân chia Thiên Chúa thành nhiều thần nhỏ, một số tốt lành, một số xấu xa. Chủ thuyết tự nhiên hiện đại, chẳng hạn “thần học tiến bộ” , cũng làm tương tự khi giản lược Thiên Chúa như là một hữu thể thuộc thời gian và cũng có sự phát triển, một Thiên Chúa cũng có sự bất toàn và yếu đuối.
  4. Chủ nghĩa lý tưởng thì không cho rằng sự dữ có thực. Chủ thuyết này xuất hiện theo những cách thức khác nhau, như Ấn độ giáo Advaita, Khoa học Kitô giáo và nhiều tư tưởng Thời đại Mới. Tất cả họ đều nói rằng sự dữ là một ảo tưởng của ý thức con người chưa giác ngộ.
  5. Cuối cùng, thuyết hữu thần truyền thống (Kitô giáo chính thống, Do thái giáo và Hồi giáo) xác nhận tất cả bốn khẳng định trên và từ chối quan điểm cho rằng chúng mâu thuẫn với nhau. Điều này chỉ có thể xảy khi và chỉ khi có những thuật ngữ đa nghĩa nào đó.

Định nghĩa Sự Dữ

Hai nhầm lẫn thường xảy ra nhất đã làm cho vấn đề sự dữ trở nên phức tạp hơn mức cần thiết đó là (1) khuynh hướng coi sự dữ như là một hữu thể và (2) sự nhầm lẫn giữa hai loại sự dữ: thể lý và luân lý.

Nếu sự dữ là một hữu thể, thì vấn đề sự dữ không thể giải quyết được, vì nếu Thiên Chúa đã tạo nên nó thì Ngài không thiện hảo, còn nếu Ngài không tạo nên nó thì Ngài không là đấng tạo hóa toàn năng. Nhưng sự sữ không là một sự vật. Sự vật không là sự dữ trong chính nó. Ví dụ, một thanh gươm không phải là sự dữ. Thậm chí, nhát gươm chặt đứt đầu bạn cũng không phải là sự dữ trong hữu thể của nó – thực ra, nếu nó không là một nhát gươm “tốt” nó sẽ không chặt đứt đầu của bạn. Vậy, sự dữ ở đâu? Sự dữ ở nơi ý muốn, lựa chọn, ý định, chuyển động của tâm hồn mà khi đặt một trật tự sai lạc vào thế giới vật lý của sự vật và hành vi – một trật tự giữa thanh gươm và cái cổ của người vô tội, thay vì vào cái cổ của tên giết người hay những liên hệ của người vô tội .

Sự dữ có thực nhưng nó không phải là một sự vật thực. Nó không có tính chủ thể, mà nó cũng không là một thực thể. Thánh Âu-Tinh định nghĩa sự dữ như là tình yêu vô trật tự, ý chí vô trật tự. Sự dữ là một mối liên hệ sai lạc, một sự không phù hợp giữa ý muốn của chúng ta với ý muốn của Thiên Chúa. Thiên Chúa không tạo nên sự dữ. Chúng ta tạo nên sự dữ. Điều này được nói rõ trong chương 1 và 3 sách Sáng Thế về sự tạo dựng tốt lành của Thiên Chúa và về sự sa ngã của con người.

Hiểu lầm chính yếu thứ hai về sự dữ là việc không phân biệt được sự dữ thể lý và sự dữ luân lý, tội và đau khổ, sự xấu chúng ta làm cách chủ động và sự xấu chúng ta chịu một cách bị động, sự dữ chúng ta muốn một cách tự do và sự dữ chống lại ý muốn của chúng ta, sự dữ mà chúng ta chịu trách nhiệm trực tiếp và sự dữ không thuộc trách nhiệm của chúng ta.

Chúng ta cần hai loại giải thích khác nhau cho hai loại sự dữ khác nhau này để giải thích cả nguyên nhân của chúng và sự chữa lành của chúng. Nguồn gốc của tội là từ ý chí tự do của con người. Nguồn gốc tức thời của đau khổ là do thiên nhiên hay đúng hơn do mối liên hệ của chúng ta với thiên nhiên, chẳng hạn chúng ta bị vấp chân, bị viêm phổi, hay bị chết đuối.

Vì thế, dường như Thiên Chúa không bị chỉ trích về tội, nhưng là về đau khổ trừ phi đau khổ bởi tội mà ra. Đây là điều đã được nói đến trong chương 3 sách Sáng Thế. Không giải thích như thế nào, nó chỉ nói cho chúng ta biết rằng những vất vả, nỗi đau đớn khi sinh con, tất cả là hậu quả của tội lỗi chúng ta.

Mối liên hệ giữa Đau khổ và Tội lỗi: Sự sa ngã

Nối kết giữa đau khổ và tội lỗi chẳng lạ lẫm gì như nhiều người vẫn nghĩ, nếu chúng ta nhớ đến nguyên lý hiệp nhất thể lý và tinh thần. Nguyên lý này, được hầu hết các trường phái tâm lý nhìn nhận, khẳng định rằng chúng ta không phải là những bóng ma trong những cỗ máy, không là những linh hồn bị cầm tù trong thân xác hay cũng không là thiên thần, nhưng là tổng thể xác-hồn. Linh hồn hay nhân cách của chúng ta là mô thể, và thân xác chúng ta là chất thể, cũng như trong một bài thơ thì ý nghĩa là mô thể, còn âm thanh hay chữ viết là chất thể.

Một khi chúng ta chấp nhận nguyên lý này, thì có thể hiểu rằng nếu linh hồn trở nên xa lạ với Thiên Chúa bởi tội đã phạm, thì thân xác cũng sẽ trở nên xa lạ với Thiên Chúa và sẽ trải qua kinh nghiệm nỗi đau và sự chết như là những hậu quả không thể tránh khỏi của tội. Đây không phải là những sự trừng phạt bên ngoài, võ đoán được thêm vào. Cái chết thiêng liêng (tội) và cái chết thể lý đi đôi với nhau vì tinh thần (linh hồn, lương tâm) và thân xác của chúng ta gắn liền với nhau.

Theo lối giải thích truyền thống, mà chúng ta ủng hộ, vấn đề trọng yếu đó là liệu việc Sa ngã có thực sự xảy ra trong lịch sử loài người hay không, chứ không phải là việc bạn giải thích khu vườn, con rắn, những cây và quả của nó theo nghĩa đen. Vì nếu những người theo chủ nghĩa tân thời đúng, tức là chương 3 sách Sáng Thế không có tính lịch sử nhưng chỉ là một câu truyện ngụ ngôn dạy rằng mỗi người chúng ta đã phạm tội, và Adam, Eva chỉ là hình ảnh biểu tượng của Joe và Maria nào đó, thì khi đó chúng ta sẽ lãnh lấy hai hậu quả thật kinh khủng.

Trước hết, nếu đã chưa bao giờ có thời gian vô tội, thì có nghĩa là Thiên Chúa đã không tạo nên chúng ta tốt lành như trong chương 1 sách Sáng Thế đã viết. Nếu từ ban đầu chúng ta là những tội nhân, thì đã cp1 ngay từ chính lúc khởi đầu của chúng ta và từ “lúc khởi đầu là Thiên Chúa”. Vì thế, Thiên Chúa sẽ bị chỉ trích vì đã tạo nên những tội nhân.

Thứ đến, nếu sự Sa ngã chỉ là điều mà mỗi chúng ta làm, thì tại sao không một ai trong chúng ta từ chối ăn trái cấm? Nếu trong số 10 tỷ người, mà cả 10 tỷ người chọn A và không ai chọn B thì thật khó để chúng ta tin rằng chúng ta thực sự tự do để chọn hoặc A hoặc B. Nếu vở kịch trong vườn Eden chỉ là vở kịch của thời nay theo nghĩa biểu tượng, thì tại sao nó không gây ấn tượng cho thời đại ngày nay, tại sao nó không là một “cái nếu”?, tại sao không ai chọn Eden và sự trong trắng vô tội?

Có hai lập luận rất chắc chắn về sự thật lịch sử của chương 3 sách Sáng Thế. Hầu như mọi bộ tộc, quốc gia hay tôn giáo suốt dòng lịch sử đều có một chuyện kể rất giống nhau. Một trong những câu chuyện thần thoại phổ biến nhất trên toàn thế giới là câu chuyện về một thiên đường đã mất, một thời gian không có sự dữ, đau khổ và cái chết. Chỉ có sự kiện là mọi người đều tin một cách bẩm sinh như thế về cùng một điều, tất nhiên không chứng minh được điều ấy là sự thật; nhưng ít nhất, nó cũng là một bằng chứng có ý nghĩa. Và nếu chúng ta chân nhận điều mà Chesterton gọi “nền dân chủ của người chết” và mở rộng đến mọi người, không chỉ đến “chủ nghĩa thiểu số tập quyền kiêu ngạo và nhỏ bé của nười sống”, một số ít người may mắn đang đi về trong xã hội tục hóa nhất và xa lạ nhất trong lịch sử, thì nó đặt ra một gánh nặng của việc chứng minh cho một thiểu số người hiện đại là những người chỉ trích câu chuyện thần thoại có tính hoàn cầu này.

Một bằng chứng thực nghiệm thứ hai về thời gian vô tội mang tính lịch sử và một việc Sa ngã cũng có tính lịch sử là bốn yếu tố đáng ghi nhận về điều kiện của con người.

  1. Mọi người đều khao khát hạnh phúc tròn đầy.
  2. Không ai hạnh phúc trọn vẹn.
  3. Mọi người đều mong có sự an toàn tuyệt đối và sự khôn ngoan trọn vẹn.
  4. Không ai có được sự an toàn và sự khôn ngoan đầy đủ.

Hai điều mà chúng ta hết thảy đều muốn cũng là hai điều mà không ai trong chúng ta có. Chúng ta hành xử như thể chúng ta nhớ về Eden và không thể một lần nữa nắm bắt lại được nó, giống như những ông vua và bà hoàng trong những bộ đồ cũ lang thang khắp nơi trên thế giới để tìm lại ngai vàng của mình. Nếu chúng ta chưa bao giờ là trị vì, thì tại sao chúng ta tìm kiếm một ngai vàng làm gì? Nếu chúng ta mãi là những kẻ hành khất, thì tại sao chúng ta lại bất mãn? Những ai sinh ra là những người hành khất trong xã hội của những người hành khất thì chấp nhận chính mình như là người hành khất. Việc chúng ta, một cách vẻ vang và thiếu sáng suốt, không tuân theo lời khuyên trước hết và lớn nhất của những nhà tiên tri thời đại chúng ta (những nhà tâm lý xu thời) – rằng chúng ta không chấp nhận chính mình như mình là – điều đó đưa đến một kết luận mạnh mẽ rằng ít nhất là chúng ta khao khát một cách vô thức và cách nào đó nhớ về một tình trạng tốt hơn trước đây.

Để giúp hiểu việc tạo dựng và sự Sa ngã, thì hình ảnh về 3 chiếc nhẫn kim loại bị hút lơ lửng bởi một miếng nam châm sẽ thật hữu ích. Nam châm biểu trưng cho Thiên Chúa. Chiếc nhẫn đầu tiên là linh hồn, cái giữa là thân xác và cái cuối là tự nhiên. Bao lâu linh hồn nối kết với Thiên Chúa, thì đời sống gắn bó này giữ cho toàn bộ chuỗi đời sống thống nhất với nhau, từ đời sống thần thiêng đến đời sống linh hồn, đời sống thể xác và đời sống tự nhiên. Ba cái nhẫn này hòa hợp với nhau, hiệp nhất với nhau và gắn kết với nhau. Nhưng khi linh hồn tự do tuyên bố tách khỏi Thiên Chúa thì chiếc nhẫn đầu tiên tách mình khỏi nam châm và hệ quả không thể tránh được đó là toàn bộ chuỗi những chiếc nhẫn sẽ tách khỏi nam châm và tách rời khỏi nhau.

Khi linh hồn tách khỏi Thiên Chúa thì thân xác tách rời khỏi linh hồn, nghĩa là, nó chết, và cũng tách khỏi tự nhiên, nghĩa là, nó chịu khổ. Vì thẩm quyền trên thân xác của linh hồn là thẩm quyền đại diện, như là thẩm quyền của con người trên tự nhiên. Khi Thiên Chúa bị từ chối thì người thừa quyền mà Người ủy nhiệm cho cũng bị khước từ. Nếu bạn nổi dậy chống nhà vua, thì những người thừa hành của vua sẽ không còn phục vụ bạn nữa. Vì vậy, cả đau khổ và tội lỗi là do con người chứ không phải do Thiên Chúa.

Định nghĩa “Ý chí Tự do”

Có lẽ, cách rõ ràng nhất để định nghĩa thuật ngữ quan trọng thứ hai của chúng ta, “ý chí tự do”, là đặt nó tương phản với nền triết học chối bỏ nó, đó là thuyết tất định.

Theo thuyết tất định, mọi điều chúng ta làm đều có thể được giải thích hoàn theo hai nguyên nhân: di truyền cộng với môi trường. Ý chí tự do thêm một nguyên nhân thứ ba cho hoạt động của chúng ta: ý chí của chúng ta, cái mà đến lượt nó, không hoàn toàn là kết quả của di truyền.

Di truyền và môi trường ảnh hưởng đến hành vi của chúng ta. Nhưng chúng không quyết định những hành vi ấy. Giống như nước sơn và cái khung tác động đến một bức tranh nhưng không quyết định nó. Chúng là những tác nhân cần nhưng không là những tác nhân đủ cho những hành vi tự do.

Luận chứng đơn giản nhất về sự hiện hữu của ý chí tự do là việc quan sát cách thức chúng ta sử dụng ngôn từ. Chúng ta ca ngợi, chỉ trích, ra lệnh, tư vấn, khích lệ hay dạy bảo nhau. Áp đặt những điều này cho những con rô-bốt thì thật là phi lý. Chúng ta không bắt những cỗ máy chịu trách nhiệm luân lý về điều chúng làm, cho dù những cỗ máy ấy có phức tạp đến đâu. Nếu không có ý chí tự do, tất cả ý nghĩa luân lý sẽ biến mất khỏi ngôn ngữ và cuộc sống.

Vấn đề tiếp theo là tại sao Thiên Chúa ban cho chúng ta tự do và cho phép chúng ta lạm dụng nó? Vấn đề này dễ làm chúng ta nhầm lẫn. Một người có thể làm cái bàn bóng lên hay cho đứa trẻ một con ngựa nhỏ, nhưng anh ta không làm cho tam giác có 3 cạnh, hay ban cho con người ý chí tự do. Ý chí tự do là phần bản chất của chúng ta. Không người nào không có tự do. Không có ý chí tự do thì không phải là một con người nhưng là một con vật hay một cỗ máy

Định nghĩa sự Toàn năng

Thuật ngữ thứ ba cần được định nghĩa là thuật ngữ toàn năng, vì vấn đề sự dữ rõ ràng là sự xung khắc giữa sự dữ với Thiên Chúa toàn năng và thiện hảo. Nếu “Thiên Chúa có thể làm được mọi sự” tại sao Ngài không tạo nên một thế giới không có tội lỗi?

Câu trả lời là Ngài đã làm, theo sách Sáng Thế chương 1 và 2. Nguồn gốc sự dữ không hệ tại quyền năng của Thiên Chúa nhưng ở nơi tự do của con người. Vậy, tại sao Thiên Chúa không tạo nên một thế giới trong đó con người không có tự do? Bởi vì nếu thế thì đó là một thế giới không có con người, một thế giới không có tình yêu lẫn thù hận. Tình yêu chỉ nảy sinh từ ý chí tự do. Loài vật không biết yêu, chúng chỉ thích hoặc có tình cảm mà thôi.

Nhưng không có một thế giới con người tự do nhưng không có tội lỗi à? Đúng là như thế. Và Thiên Chúa đã tạo nên một thế giới như thế. Nhưng một thế giới như thế – một thế giới trong đó không có chỗ cho tội lỗi – thì tất yếu cũng là một thế giới trong đó tội lỗi vẫn có chỗ. Và nếu có con người đi nữa, nghĩa là, những tạo vật có ý chí tự do, thì tùy thuộc vào sự lựa chọn tự do của họ mà khả thể có tội có tồn tại hay không.

Nhìn dưới khía cạnh khác, thậm chí sự toàn năng không thể tạo nên một thế giới trong đó con người thực sự tự do mà lại không thể phạm tội, vì lẽ tự do của con người bao hàm một tự do phạm tội. Thực ra, “Thiên Chúa có thể làm được mọi sự”, nhưng sự tự mâu thuẫn vô nghĩa như thế thì chẳng ý nghĩa gì. Một sự tự mâu thuận vô nghĩa là một thế giới trong đó có sự tự do chọn lựa đích thực, nghĩa là, khả thể chọn điều tốt hay điều xấu – và đồng thời không có khả năng chọn điều xấu. Hỏi rằng tại sao Thiên Chúa không tạo ra một thế giới như thế thì cũng giống như hỏi tại sao Thiên Chúa không tạo nên màu sắc không màu hay tạo nên hình vuông mà tròn.

Không phải tất cả những nhà tư tưởng Kitô giáo đồng ý với khái niệm toàn năng. Một vài người cho rằng quyền năng của Thiên Chúa bị giới hạn không bởi điều gì cả, thậm chí cũng không theo lối lý luận của chúng ta. Lối nhìn này dường như bị thúc đẩy bởi lòng sùng đạo và khao khát tin tưởng vào một Thiên Chúa hoàn thiện. Nhưng cái nhìn đó không miễn chước một sự nhầm lẫn thuộc nhận thức. Chúng ta tin rằng đây là sự hiểu lầm không chỉ về Thiên Chúa mà còn cả về mặt luận lý nữa.

Thật là một sự hiểu lầm về Thiên Chúa khi cho rằng việc tạo nên hay thực hiện một sự tự mâu thuẫn vô nghĩa như thế thì không phải là sự hoàn thiện của Thiên Chúa. Đúng hơn, đó là sự kiên định của Ngài – Thiên Chúa không bao giờ tự mâu thuẫn với chính mình – đó là sự hoàn thiện. Cũng có sự hiểu lầm ở đây về mặt luận lý. Luật không mâu thuẫn không phải là luận lý của chúng ta. Đó không phải là qui tắc do bởi con người, giống như điều luật chơi 9 lượt chứ không phải 10 lượt trong môn bóng chày. Luật không mâu thuẫn chính là chân lý khách quan cho mọi sự. Chúng ta khám phá ra nó, chúng ta không tạo ra nó. Nó không phải là việc lặp lại cùng một ý tưởng bởi những từ ngữ khác nhau, hay lặp lại bởi cùng một từ ngữ chẳng hạn như X = X. Nó là một chân lý phổ quát, vĩnh cửu, khách quan về thực tại. Nó dựa vào bản tính của Thiên Chúa như là Đấng duy nhất, không đổi, và nhất quán với chính Ngài. Liên hệ hóa, hay chủ quan hóa hay nhân tính hóa luật không mâu thuẫn là coi thường phẩm tính Thiên Chúa. Đó không phải là sự sùng kính.

Vì thế, cho dù một Thiên Chúa toàn năng thì Ngài cũng không thể mạnh mẽ ngăn cản tội lỗi mà không loại bỏ tự do của chúng ta. Điều “không thể” này không có nghĩa là quyền năng của Ngài gặp phải những cản trở ngoại tại, nhưng đúng hơn (như Lewis nói) “sự vô nghĩa không ngừng trở nên vô nghĩa khi chúng ta thêm những từ ngữ ‘Thiên Chúa có thể’ trước nó”.

Định nghĩa sự Tốt lành

Trước hết, chúng ta phải nhất trí rằng, sự tốt lành có nghĩa hơn cả “sự tử tế”. Tử tế là ý muốn giải thoát người mình yêu thương khỏi sự đau đớn. Thỉnh thoảng, tốt lành không hẳn phải tử tế. Nha sĩ, bác sĩ phẫu thuật, các huấn luyện viên, giáo viên, hay cha mẹ tất cả họ biết điều này. Nếu tốt lành chỉ có nghĩa là tử tế, thì một Thiên Chúa cho phép đau đớn xảy ra cho con người trong khi Ngài có thể hủy bỏ nó thì không phải là một Thiên Chúa tốt lành. Một Đức Kitô chỉ chữa lành vài ngàn người trên thế giới này nơi mà có hàng triệu người đang đau thương sẽ không còn là Đấng tốt lành nữa.

Nhưng chúng ta càng yêu nhiều, chúng ta càng vượt xa hơn sự tử tế đơn thuần. Chúng ta chỉ tử tế đối với con cái của những người xa lạ nhưng lại khắt khe hơn với con cái của mình. Chúng ta chỉ tử tế đối với loài vật; chúng ta giết chúng để chúng không còn đau đớn nữa. (Vì vậy, hầu hết những người ủng hộ an tử tin rằng con người chỉ là những con vật thông minh và tiến bộ). Nhưng chúng ta có những niềm hy vọng lớn hơn dành cho con người: chúng ta hy vọng không chỉ sự giải thoát khỏi nỗi đau, nhưng còn sự giải thoát khỏi những nết xấu, sự ngu dốt và tội lỗi.

Thiên Chúa cho phép có đau khổ và ít nếm trải cảm giác tuyệt dịu của sự thoải để giúp chúng ta hướng đến cái tốt đẹp lớn hơn từ sự giáo dục tinh thần và luân lý. Thậm chí những người ngoại biết rằng: các vị thần dạy khôn ngoan nhờ đau khổ.

Thiên Chúa để Gióp chịu đau khổ không phải vì Ngài thiếu yêu thương ông nhưng rõ ràng là vì Ngài yêu ông để dẫn đưa ông đến hạnh phúc được chiêm ngắm Thiên Chúa diện đối diện (Gióp 42:5). Đó chính là hạnh phúc tột bậc của con người. Đau khổ đào sâu nơi Gióp một khoảng không to lớn để ông có thể được Thiên Chúa lấp đầy bằng niềm vui và bằng chính Ngài. Kinh nghiệm này của Gióp trở nên kiểu mẫu cho mọi đau khổ của các vị thánh.

Thiên Chúa cho phép chỉ những đau khổ nào có thể mang lại lợi ích lớn hơn cho chúng ta. Không phải mọi điều chúng ta làm đều tốt, nhưng mọi điều Thiên Chúa làm đều tốt cho chúng ta, kể cả việc Ngài không can thiệp cách mầu nhiệm để giải thoát chúng ta khỏi mọi sự dữ. Giống như những bậc cha mẹ làm hết bài tập về nhà cho con cái mình.

Định nghĩa Hạnh phúc

Bây giờ chúng ta bàn đến thuật ngữ còn mù mờ, hạnh phúc. Cùng với hai thuật ngữ toàn năng và tốt lành, tính mù mờ (của thuật ngữ hạnh phúc) nằm ở giữa nghĩa phổ biến, nông cạn và nghĩa mang tính triết học, nghĩa sâu hơn. Nghĩa nông cạn tạo nên vấn đề sự dữ; nghĩa sâu hơn giải quyết nó.

Nghĩa nông cạn về hạnh phúc (theo nghĩa của thời đại chúng ta) trước hết, nó mang tính chủ quan. Hạnh phúc theo nghĩa này là một cảm xúc. Nếu bạn cảm thấy hạnh phúc, bạn hạnh phúc. Thứ hai, hạnh phúc này chỉ ở hiện tại, một hiện tượng tạm thời. Mọi cảm xúc đến và đi, cảm xúc hạnh phúc cũng thế. Thứ ba, hạnh phúc này phần lớn là “tình cờ”, nghĩa là do ngẫu nhiên hay do may mắn. Nó là “sự may mắn tốt lành”. Nó nằm ngoài kiềm soát của chúng ta. Cuối cùng, nguồn mạch của hạnh phúc này có tính ngoại tại. Nó bao gồm những thứ đại loại như trúng số, thắng trong cuộc chơi Super Bowl, khoái cảm thân xác, uy tín, hay sức khỏe. Nó có thể là tiền, sex và quyền lực, không phải là sống nghèo khó, phải giữ khiết tịnh hay vâng phục một ai.

Ý nghĩa sâu xa, cổ hơn về sự hạnh phúc thì rõ ràng bắt nguồn từ từ Hy Lạp eudaimonia. Trước hết, đây là một tình trạng khách quan, không phải là cảm xúc chủ quan. Điều đó không phải là nếu chỉ khi bạn cảm thấy hạnh phúc, bạn mới hạnh phúc. Một người ngồi trong bồn nước cả ngày, chơi với con vịt bằng nhựa và cảm thấy hài lòng nhưng anh ta không hạnh phúc. Nero tắm máu những người Kitô hữu và cảm thấy sung sướng, nhưng ông ta không hạnh phúc. Hạnh phúc đối với linh hồn giống như sức khỏe đối với thân xác. Bạn có thể cảm thấy mình khỏe mà không có cảm giác khỏe, và bạn có thể cảm thấy hạnh phúc mà không cảm thấy hạnh phúc thật. Bạn cũng có thể hạnh phúc mà không cảm thấy hạnh phúc, như Gióp chẳng hạn, ông đã học được sự khôn ngoan ngang qua đau khổ. Câu nói của Chúa Giêsu “Phúc (hạnh phúc khách quan) cho ai sầu khổ (cảm thấy một sự bất hạnh chủ quan)” (Mt 5:4) diễn tả sự phân biệt này.

Thứ đến, hạnh phúc chân thực là một tình trạng vĩnh viễn, là vấn đề của cả đời người, không phải là một khoảnh khắc thoáng qua. Nó do chúng ta chi phối và chọn lựa. Sự khôn ngoan và nhân đức là nguyên nhân tác thành hạnh phúc chân thực, cả hai điều này là những thói quen tốt chúng ta có được do thực hành, không phải quà tặng may mắn nhận được một cách tiêu cực. Cuối cùng, nguồn mạch của hạnh phúc mang tính nội tại, không có tính ngoại tại. Chính một tâm hồn tốt lành, chứ không phải một tài sản kếch xù trong ngân hàng đem lại hạnh phúc cho bạn.

Sự quan phòng của Thiên Chúa sắp xếp đời sống chúng ta trong ánh sáng của hạnh phúc chân thực, như cứu cánh của ta, bởi lẽ, Thiên Chúa là Đấng tốt lành và yêu thương. Điều này không nhất thiết bao hàm một hạnh phúc theo nghĩa nông cạn. Thực ra, để có hạnh phúc chân thực, chúng ta cần được lấy đi những thứ hạnh phúc theo nghĩa nông cạn này. Vì hạnh phúc chân thực đòi hỏi sự khôn ngoan, sự khôn ngoan đòi hỏi trải qua đau khổ. Như Rabbi Abraham Heschel đã nói giản đơn như sau: “Một người không trải qua đau khổ, thì thử hỏi anh ta có thể biết được gì?”

Hạnh phúc sâu xa ở trong tinh thần, không ở nơi xác thịt hay thậm chí cảm xúc. Nó giống như một cái neo cắm sâu và giữ chắc ở dưới đáy biển trong khi bão tố giận dữ trên bề mặt. Thiên Chúa cho phép những cơn bảo thể lý và tình cảm xảy ra để làm cho cái neo giữ chặt hơn, thiêu đốt để thử thách và làm cho chí khí của chúng ta thêm vững chắc. Tâm hồn chúng ta phải trở nên như lưỡi gươm sáng, chắc chắn, và sắc bén. Đây là số phận của chúng ta, là kế hoạch của Chúa. Chúng ta không phải là đồ chơi, chúng ta là những thanh gươm. Điều đó đòi hỏi phải được tôi luyện trong lửa. Thanh gươm của cái tôi được tạo nên để hát ca mãi mãi trong ánh sáng mặt trời, như các thiên thần Seraphim. Nếu chúng ta có thể có được một chút cái nhìn đúng về số phận dành cho chúng ta trên trời này, nếu chúng ta hiểu được tại sao chúng ta được tiền định để xét xử các thiên thần (Cr 6:3), thì chúng ta sẽ không cho là có vấn đề trong những đau khổ của Gióp. Thánh Têrêsa thành Avila đã nói rằng cuộc đời đau khổ nhất trên thế giới này, nếu được nhìn với viễn cảnh thiên đàng, chỉ như một đêm trong một khách sạn không được tiện nghi.

Sự quan phòng và Sự tự do

Một khi hiểu được năm thuật ngữ đã bàn ở trên, chúng ta có thể hiểu sâu hơn mối liên hệ giữa sự quan phòng của Thiên Chúa với tự do của con người.

Thiên Chúa thấu biết mọi sự, và sự hiểu biết của Ngài là vĩnh cửu. Vì thế, Ngài phải biết điều chúng ta sắp chọn trước cả khi chúng ta chọn nó. Thế thì làm thế nào chúng ta có thể chọn bất cứ điều gì một cách tự do? Tự do dường như bao hàm một sự chọn lựa; tôi có thể chọn con đường đức hạnh hay con đường trụy lạc. Nhưng nếu đã bị tiền định từ đời đời, tôi chỉ có thể chọn con đường này và không chọn con đường kia, như thế, tôi thực sự chẳng có tự do trong việc chọn lựa. Khi dựng nên tôi, Thiên Chúa dường như cũng đã tạo nên tất cả những chọn lựa của tôi. Vì thế, những chọn lựa của tôi hóa ra không là của tôi nhưng là của Chúa. Hai kết luận nguy hiểm này đưa đến những điều sau: (1) Nếu Thiên Chúa hiện hữu, tự do của con người là không thể có; và (2) Thiên Chúa là tác giả gây ra tội. Vấn đề này là vấn đề về sự quan phòng và sự tự do.

Chúng ta sẽ trả lời vắn tắt cho vấn đề này. Trước hết, khi chúng ta nói rằng sự hiểu biết của Thiên Chúa là vĩnh cửu hay từ đời đời Ngài biết những chọn lựa mà bạn sẽ thực hiện, thì chúng ta không có ý nói rằng ở một thời điểm trong quá khứ Ngài biết bạn sẽ chọn làm điều gì trong tương lai và sự biết này của Ngài ấn định bạn phải làm điểu đó. Thay vào đó, chúng ta có ý nói rằng loại hiểu biết Thiên Chúa có (giống như loại hữu thể Ngài có) không bị giới hạn trong bất cứ cách thức nào bởi những lực cản trần thế như xảy ra đối với sự hiểu biết của chúng ta. Thời gian là thước đo của những hữu thể chuyển động, biến dịch; nói cách khác, thời gian cũng là một thụ tạo như những thụ tạo khác. Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa, thì vượt quá thước đo này. Hữu thể Ngài siêu vượt thời gian và mọi sự vật giống như thế.

Một cách tự nhiên chúng ta nghĩ về sự vĩnh cửu của Thiên Chúa như thể là kéo dài mãi về quá khứ và hướng mãi đến tương lai. Đó là bởi vì ngôn ngữ của chúng ta phản ánh loại hữu thể chúng ta có: sự hữu hạn, thay đổi và giới hạn bởi thời gian. Chúng ta biết rằng hữu thể Thiên Chúa không như thế. Vì thế, sự hiểu biết của Ngài không thể nhìn tới hay nhìn lui. Thiên Chúa thấy với một cái nhìn duy nhất và vĩnh cửu tất cả những chọn lựa tự do của chúng ta như chúng thực sự hiện hữu, được đặt vào trong không gian, thời gian hay hoàn cảnh.

Thứ hai, nếu Thiên Chúa tạo nên chúng ta để được tự do, thì tự do của chúng ta là một quà tặng được tạo nên. Điều ấy có ý nói, quyền năng tạo dựng và gìn giữ của Thiên Chúa phải hiện diện trong mỗi hành vi tự do của chúng ta. Con người không có tự do tuyệt đối để có thể loại bỏ nhu cầu cần đến Thiên Chúa. Nếu Thiên Chúa thực sự là Đấng Tạo Hóa, là nguồn hữu thể của mọi sự, thì Ngài phải ban hữu thể ấy cho tự do của chúng ta. Quyền năng của Ngài không thể là một sự cản trở đối với những hành vi tự do của chúng ta, như điều ấy sẽ xảy ra nếu Ngài là một người khác, không phải là đấng có quyền năng vô cùng – giống như một người thôi miên, một người cực kỳ tài năng có thể khiến chúng ta làm theo mệnh lệnh của mình trong khi chúng ta lại nghĩ chúng ta hành động theo tự do riêng của chúng ta. Các thụ tạo có thể hành động theo tự do riêng mình đối với tạo vật khác; chứ không bao giờ là đối với Đấng Tạo Hóa. Không có Thiên Chúa không có tự do cho chúng ta. Và không có chúng ta để hưởng tự do.

Có nhiều bài thần học chuyên sâu viết về vấn đề quan phòng và tự do. Chúng tôi không đi vào dòng chảy tối tăm và vẫn còn nhiều khúc mắc này. Nhưng xét như là những Kitô hữu chúng tôi đưa ra suy tư này: nếu Thiên Chúa thực sự dấn thân mạnh mẽ vào việc trao ban hữu thể cho những chọn lựa tự do của chúng ta, cho mọi hành vi của chúng ta, hãy nghĩ xem tội lỗi phải là điều đáng sợ biết là dường nào. Thiên Chúa đã cam kết tạo nên và bảo dưỡng những điều đó cho chúng ta, những kẻ sử dụng món quà tự do ấy để gây tổn thương cho người khác và để ghét bỏ Thiên Chúa. Quyền lực của những người đóng đinh tay và chân Con yêu dấu của Thiên Chúa rốt cục lại đến từ chính Thiên Chúa. Nếu tự do có một cái giá rất đắt, thì chắc chắn Thiên Chúa phải trả cao hơn phần của Ngài.

Áp dụng thực hành

Vấn đề sự dữ như là luận chứng chống lại sự hiện diện của Thiên Chúa thì không quan trọng bằng việc sự dữ phá vỡ mối liên kết giữa con người với Thiên Chúa, một sự tách biệt thiêng liêng. Vì thế, việc trả lời hữu lý cho vấn đề sự dữ theo lý thuyết thì không quan trọng bằng việc mỗi cá nhân trả lời về vấn đề sự dữ trong thực tiễn. Đấng cứu độ thì quan trọng hơn một nhà hộ giáo.

Vấn đề lý thuyết khiến chúng ta thấy mình thiếu hiểu biết và thắc mắc. Vấn đề thực tiễn giúp chúng ta nhận ra tội lỗi của mình. Đức Kitô đến và giải quyết vấn đề thứ hai, không phải vấn đề đầu. Đức Kitô không phải là một triết gia.

Tội lỗi chỉ có thể được loại bỏ bởi Thiên Chúa, vì tội lỗi là hệ quả của việc phá vỡ giao ước với Thiên Chúa. Sự xấu hổ chỉ là hệ quả của nỗi sợ hay đổ vỡ của con người theo chiều ngang nhưng tội lỗi thì theo chiều dọc và siêu nhiên. Một nhà tâm lý tốt có thể giúp bạn vượt khỏi sự xấu hổ nhưng không giúp bạn tự do đối với tội. Ông ta có thể giúp bạn thoát khỏi mặc cảm tội lỗi nhưng không giúp bạn thoát khỏi tội lỗi thực sự. Ông ta có thể cho bạn thuốc gây mê, nhưng không thể chữa lành vết thương của bạn. Tâm lý có thể làm cho bạn cảm thấy tốt, nhưng chỉ tôn giáo nhờ tương quan với Thiên Chúa mới có thể làm cho bạn trở nên tốt.

Điều đó giải thích tại sao Thiên Chúa ban Con Một của Ngài, không ai trừ Đức Giêsu Kitô có thể đẩy lui tội lỗi. Tin vào hy tế đền bù của Ngài là giải pháp duy nhất cho vấn đề sự dữ. Niềm hy vọng duy nhất của chúng ta không phải ở nơi giải pháp tốt, nhưng ở nơi “tin tốt”, Tin Mừng.

Thần học gia vĩ đại Karl Barth được hỏi khi về già điều gì là tư tưởng sâu sắc nhất Ngài từng có trong nhiều năm làm thần học. Ngài đã trả lời khẳng khái rằng: đó là “Đức Giêsu yêu tôi.”

[Về mục lục]Trở về: [1], [2], [3], [4], [5], [6], [7]; Đọc tiếp: [8], [9], [10], [11], [12], [13], [14], [15]      

*****

-8-

Thiên Tính của Chúa Kitô

V

ấn đề thiên tính của Chúa Kitô nổi lên từ nguồn dữ liệu. Nguồn dữ liệu ở đây là bốn Tin Mừng, chúng thông tri cho chúng ta những sự thật mà Ngài công bố về chính mình và những điều người ta khẳng định về Ngài. Trong cả bốn Tin Mừng, lời khẳng định cực kỳ mạnh mẽ.

Chúa Giêsu gọi chính mình là “Con Thiên Chúa” – nghĩa là, cùng bản tính với Thiên Chúa. Một người con thì có cùng bản tính, cùng một giống loài, cùng một yếu tính như cha của mình. Chúa Giêsu gọi Thiên Chúa là Cha mình: “Cha tôi và Tôi là một” (Ga 10:30) và “Bất cứ ai thấy tôi là thấy Chúa Cha” (Ga 14:9).

Ngài cũng tự nhận mình vô tội: “Ai trong các ông chứng minh là tôi có tội?” (Ga 8:46). Ngài cũng tuyên bố tha thứ tội lỗi – mọi tội lỗi, chống lại mọi người. Người Do Thái phản đối: “Ai có thể tha tội ngoại trừ một mình Thiên Chúa?” (Lc 5:21). Người có quyền tha mọi tội lỗi chính là người bị xúc phạm bởi tội lỗi, nghĩa là chính Thiên Chúa. Tôi có quyền tha cho anh về những tội mà anh đã gây ra cho tôi, nhưng không thể tha những tội mà anh đã gây ra cho người khác.

Chúa Giêsu tuyên bố cứu chúng ta khỏi tội lỗi và cái chết. Ngài nói: “Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin ta thì dẫu có chết cũng sẽ sống” (Ga 11:25). Ngài nói Ngài đến từ trời chứ không phải từ đất, và sẽ trở lại vào ngày sau hết để phán xét thế gian (Mt 25: 31-46). Đồng thời, Ngài trao ban cho chúng ta thịt máu Ngài để ăn và nói rằng chính thịt máu ấy sẽ mang lại cho chúng ta sự sống đời đời (Ga 6:51).

Chúa Giêsu đã đổi tên Simon thành Phêrô (Ga 1:42). Đối với một người Do Thái, đổi tên là điều mà chỉ Thiên Chúa mới có thể làm, vì tên của anh không chỉ là một danh hiệu mang tính nhân loại, tùy ý, nhưng là căn tính thật của anh, là cái mà chính Thiên Chúa đã trao ban cho anh. Trong Cựu Ước, duy chỉ Thiên Chúa mới thay đổi tên và vận mạng của một số người: Abram trở thành Abraham, Sarai trở thành Sara, Giacóp trở thành Ít-ra-en. Một người Do Thái chính thống mà đổi tên một cách hợp pháp sẽ bị tuyệt giao.

Chúa Giêsu không ngừng hướng người ta về với mình khi nói: “Hãy đến với tôi” (Mt 11:28). Đức Phật nói: “Đừng nhìn vào tôi, nhưng nhìn vào con đường tôi đi (giáo lý của tôi).” Đức Phật cũng nói: “Anh em hãy thắp sáng chính mình” Chúa Giêsu đã nói: “Ta là ánh sáng thế gian” (Ga 8:12). Lão Tử cũng dạy về con đường; Chúa Giêsu đã nói: “Ta là đường” (Ga 14:6).

Đức Phật, Khổng Tử, Môhamed, và những nhà sáng lập tôn giáo khác đã chẳng hề hoàn tất một lời tiên tri nào, chẳng hề làm một phép lạ nào, và không sống lại từ cõi chết. Chúa Giêsu đã thực hiện những điều ấy.

Rõ ràng và mạnh mẽ nhất chính là việc, Ngài tự chuốc lấy khổ hình thập giá (hay ném đá) khi dám nói: “Thật tôi bảo cho các ông hay, [i.e., ở đây tôi không nói quá hay nói một cách biểu trưng, hãy hiểu nó trong nguyên nghĩa], trước khi có Abraham thì Tôi, Tôi Hiện Hữu” (Ga 8: 58). Ngài đã nói và công bố danh thánh mà chính Thiên Chúa đã mặc khải cho Môsê, là danh mà Thiên Chúa đã sử dụng để gọi chính mình (Xh, 3:14). Nếu ngài không là Thiên Chúa, thì trong lịch sử chưa từng ai lại dám nói lộng ngôn như thế, theo luật Do Thái, không ai lại đáng bị đóng đinh hơn Chúa Giêsu.

Tầm quan trọng của vấn đề

Vấn đề trở nên đặc biệt quan trọng ít nhất vì hai lý do.

1. Thiên tính của Chúa Kitô là một học thuyết trổi vượt hơn tất cả học thuyết Kitô giáo. Một cách chính yếu, một người Kitô hữu được định nghĩa như là người tin vào học thuyết này.

2. Học thuyết này có tác dụng như chiếc chìa khóa chủ chốt, mở ra mọi cánh cửa giáo thuyết khác của Kitô giáo. Người tín hữu tin từng điều trong số nhiều những giáo điều của họ không vì suy luận theo cách thức riêng của mình về chúng như là kết luận của một quá trình chất vấn thần học hay là kết quả của một số những kinh nghiệm thần bí, nhưng họ tin nhờ vào thẩm quyền thần thiêng của Đấng đã dạy họ, như đã được ghi lại trong Kinh Thánh và lưu truyền bởi Giáo Hội. Nếu Chúa Kitô chỉ là một con người, có lẽ ngài đã có nhiều sai lỗi. Thật vậy, bất cứ ai muốn có ý từ chối bất cứ những lời giảng dạy đặc thù nào về Chúa Kitô sẽ có ý chối bỏ thiên tính của ngài. Có những điều trong những giáo huấn của Ngài mà mỗi chúng ta sẽ thấy rất khó chịu khi chúng ta nhìn đến tổng thể những lời dạy ấy hơn là gian mình trong những điều dễ chịu và quen thuộc

Người Kitô hữu phải nhận ra rằng đối với người ngoại, học thuyết về thiên tính của Đức Kitô thật sự là khó hiểu, nhiều tai tiếng, chướng tai, khó tin và mù mờ đến độ nào. Họ phải nhận ra điều này vì hai lý do: vì mục tiêu hộ giáo để hiểu não trạng của những người sẽ được cải đạo trong tương lai, và cũng vì mục đích trân trọng niềm tin của riêng họ trong mọi đặc tính đáng ngạc nhiên của niềm tin ấy – là những điều có vẻ ngờ nghệch, đần độn so với những gì mà ta thấy đã quá thân quen.

Lập luận của chúng ta về tính chân xác của học thuyết này hệ ở hai bước. Bước đầu tiên là một sự dẫn nhập bao gồm sáu manh mối. Những manh mối này đơn thuần thể hiện khả thể về việc Thiên Chúa trở nên con người. Bước thứ hai nỗ lực để biểu đạt rằng điều này đã thực sự xảy ra nơi Chúa Giêsu.

Một số manh mối cho tính khả thi của Học thuyết

1. C.S. Lewis gọi nhập thể là “thần thoại lại trở nên điều có thực.” Xuất hiện lác đác trên diện rộng qua những thần thoại của thế giới cổ xưa là câu chuyện lạ lùng về một vị thần đã xuống thế. Một số người kể về một vị thần đã chết và phục sinh vì sự sống của con người (ví dụ, những vị thần ngũ cốc của các dân Odin, Osiris, và Mesopotamia). Cũng vậy, câu chuyện về vườn Eden và nạn hồng thủy cũng xuất hiện trong nhiều nền văn hóa khác nhau, có gì đó cũng giống câu chuyện của Chúa Giêsu.

Vì lý do lạ thường nào đó, nhiều người nghĩ rằng sự kiện này có nhiều điểm tương đồng và lời tiên báo mang tính thần thoại của trình thuật Công Giáo – nhắm đến những sai lầm trong trình thuật của người Công Giáo. Thật ra, càng nhiều chứng nhân kể về một câu chuyện tương tự thì câu chuyện ấy càng có khả năng đúng. Chúng ta càng tìm thấy nhiều lời tiên báo cho một sự kiện thì sự kiện ấy càng có khả năng xảy ra.

2. Có một sự loại suy trong nghệ thuật về khả thể của Nhập Thể, có một câu trả lời trước những chống đối cho rằng Nhập Thể là điều không thể và đó chỉ là một sự tự mâu thuẫn. Giả định rằng một tác giả tự vào vai một trong những nhân vật trong tiểu thuyết, vở kịch hay bộ phim của anh ta . Nhân vật này cũng có một bản tính kép và cũng “đến từ trời”, phải nói rằng – trời trong tâm trí tác giả – tuy nhiên anh ta cũng hoàn toàn có tính cách con người tương tác với các nhân vật khác trong câu chuyện. Alred Hitchcock thường làm điều này, cài chính mình vào trong phim như một nhân vật trong một khoảnh khắc nhất thời nào đó. Nếu anh ta có thể làm như vậy, tại sao Thiên Chúa lại không thể?

3. Điều đưa chúng ta đến luận điểm hết sức đơn giản và đầy tính luận lý là: làm thế nào các bạn, những nhà phê bình có quan điểm rằng cuộc Nhập Thể là không khả thi, biết nhiều đến độ có thể nói với Thiên Chúa điều Ngài có thể hay không thể làm? Những kẻ theo chủ thuyết hoài nghi nên nghi ngờ về chính mình nhiều hơn và hãy ít nghi ngờ về Thiên Chúa hơn.

4. Một cách tích cực hơn, điểm tương tự cũng có thể được đưa ra. Nếu một hữu thể tồn tại xứng với danh xưng “Thiên Chúa”, hữu thể ấy phải toàn năng, nghĩa là hữu thể ấy có thể làm bất cứ điều gì thực chất khả thi, đầy ý nghĩa, và không gồm chứa một sự tự mâu thuẫn (giống như một khối đá mà không phải là một khối đá, hoặc một khối đá quá nặng đến nỗi một sức mạnh vô cùng cũng không thể nhấc nổi). Tuy mang tính chất kỳ bí, Nhập Thể không phải là một sự tự mâu thuẫn. Do đó, việc Nhập Thể là khả thi.

5. Không chỉ khả thi từ phía Đấng Tạo Hóa nhưng cũng khả thi về phía thụ tạo. Trong một mức độ nào đấy, một người có thể được biến đổi, được lôi kéo vào trong Thiên Chúa như thể thức ăn bên ngoài được chuyển đổi vào trong cơ thể con người, các giao động vật lý được chuyển đổi thành âm nhạc tinh thần, các hình thái và màu sắc trở thành nghệ thuật, tình cảm tự nhiên trở thành đức ái hoặc ý thức bản ngã trở thành kinh nghiệm thần bí. Nguyên tắc chuyển đổi này vận hành khắp nơi trên thế giới. Sự tiến hóa, nếu nó thực sự xảy ra, là một ví dụ về sự chuyển đổi này. Người ta hầu như có thể xem Chúa Giêsu như một nấc thang kế tiếp trong quá trình tiến hóa. (Dĩ nhiên, điều khác nhau là nếu nó xảy ra, sự tiến hóa chỉ xảy ra trong tự nhiên, trong khi sự Nhập Thể lại xảy ra nhờ vào ân sủng siêu nhiên. Điểm chú ý ở đây là cả hai đều khả thi.)

6. Cuối cùng, việc một người có thể có hai bản tính trái ngược nhau có thể được nhìn thấy (như chúng ta đã xem xét ở trên) trong điều thân quen nhất của tất cả mọi thứ: trong chính bạn. Bạn là một ngôi vị, tuy nhiên bạn thuộc về lẫn không thuộc về phạm vi không gian này. Khoảng cách giữa bản tính thể lý và tinh thần của chúng ta, khoảng cách giữa một vài triệu electron chuyển động ngang qua kỳ tiếp hợp trong quá trình phân bào của bộ não Einstein và khám phá của nhà bác học này về E= MC2 cũng không kém ngạc nhiên hơn khoảng cách giữa hai bản tính của Chúa Kitô (Lưu ý: điều này không hàm ý rằng thiên tính và nhân tính của Chúa Kitô được đồng nhất với linh hồn và thể xác, hoặc cho rằng chúng liên quan với nhau trong cùng một cách thức như linh hồn và thể xác của chúng ta).

Những luận điểm về thiên tính của Chúa Kitô

Bây giờ, chúng ta tiến đến những luận điểm mạnh mẽ hơn: những luận điểm hiện thực, chứ không chỉ có thể, về thiên tính của Chúa Kitô.

Tính đáng tin cậy của Chúa Kitô. Những ai đọc các Tin Mừng đều đồng ý với nhau rằng Chúa Giêsu là một người thánh thiện và khôn ngoan, một thầy dạy cao cả và lỗi lạc. Hầu hết những người không tôn giáo, thậm chí nhiều người thuộc các tôn giáo khác, như Gandhi, nhìn nhận Ngài như là một thầy dạy luân lý vĩ đại nhất trong lịch sử. Tóm lại, Ngài hoàn toàn đáng tin cậy.

Nhưng liệu những gì mà một người thầy đáng tin cậy dạy có thể tin được không. Nếu Ngài đáng tin, thì chúng ta nên tin Ngài vì lẽ đó, nhất là về chính căn tính của Ngài. Nếu chúng ta không tin chính căn tính của người thầy ấy, thì chúng ta không thể nói Ngài đáng tin, nghĩa là cho rằng Ngài khôn ngoan và thánh thiện.

Tính bất khả thi của sự thay thế. Đâu là sự thay thế cho kết luận rằng Chúa Giêsu là Thiên Chúa? Người vô tín nói gì về luận điểm này? Chúa Giêsu khẳng định mình là Thiên Chúa, và Ngài đáng tin, vậy Ngài là Thiên Chúa. Kết luận theo sau các tiền đề. Vậy tiền đề nào có thể bị bác bỏ?

Bàn về tiền đề thứ nhất – tiền đề nói rằng Chúa Giêsu khẳng định mình là Thiên Chúa – có lẽ các các bản văn Tân Ước nói sai. Có lẽ giáo lý Công Giáo truyền thống là một thần thoại, một câu chuyện bịa đặt, một sự tưởng tượng. Nhưng điều này lại đưa đến những câu hỏi thậm chí còn khó trả lời hơn cả vấn nạn làm thế nào mà một con người lại có thể là một Thiên Chúa. Và đây là năm câu hỏi như thế.

1.Nếu các Tin Mừng nói sai sự thật, thì ai là người đã sáng chế ra sự dối trá ấy, và vì mục đích gì? Có phải do các môn đệ của Chúa Giêsu không? Họ đưa ra những lời chứng dối để làm gì? Tử đạo – khó có thể là một cám dỗ đầy hấp dẫn. Vì một kẻ nói dối thì luôn có một vài động cơ tư lợi nào đó.

2. Tại sao hàng ngàn người đã chịu tra tấn đến cùng cực và chịu chết vì lời chứng dối này nếu họ biết đó là một lời chứng dối? Sức mạnh nào đã đưa người tín hữu đến hang sư tử với những bài thánh ca trên môi? Có lời dối trá nào lại đã từng thay đổi thế giới đến như thế không?

3. Nếu đó không là một lời dối trá cố ý nhưng là một ảo giác hoặc là nhầm lẫn một câu chuyện thần thoại với câu chuyện có thật, thì ai là những kẻ ngớ ngẩn đầu tiên tin vào đó? Chẳng có một ý tưởng nào khác khiến một người Do Thái lại ít tin như ý tưởng này. Hãy tưởng tượng điều này: vị Thiên Chúa siêu vượt Đấng đã có từ muôn đời lại đã cấm ngặt dân riêng của mình nhầm lẫn mình với một thụ tạo khác như những người dân ngoại đã nhầm lẫn, Đấng Tạo Hóa này – Thiên Chúa đã trở nên một thụ tạo, một con người – một tên tội phạm bị đóng đinh. Thật khó để một thần thoại như thế lại nảy sinh cách tự nhiên trong đầu óc người Do Thái.

4. Và nêu không phải là người Do Thái nhưng là chính những người Dân Ngoại đã đã khởi xướng câu chuyện thần thoại này, thì trong Tân Ước, câu chuyện thần thoại này đến từ đâu? Trong số hai mươi bảy sách Tân Ước thì hai mươi lăm quyển đã được người Do Thái viết.

5. Cho dẫu là những người Do Thái hay dân ngoại đã khởi xướng câu chuyện thần thoại, có lẽ họ đã không làm như thế trong thời đại của những người biết Chúa Giêsu bằng xương bằng thịt, vì nó sẽ bị bài bác công khai bởi những nhân chứng – những người biết sự thật.

Thánh Tôma Aquinô lập luận rằng nếu cuộc nhập thể đã thực sự không xảy ra, thì một phép lạ khác thậm chí còn khó tin hơn đã xảy ra: sự hoán cải của nhân loại nhờ vào lời chứng dối lớn nhất trong lịch sử và sự thay đổi về mặt luân lý trong đời sống để trở nên vị tha, bình tâm trước những lạc thú thế gian và tầm cao mới của tất cả sự thánh thiện chỉ nhờ vào một câu chuyện thần thoại.

Đức Chúa, kẻ nói dối hay người điên? Song luận này cũng xưa như những nhà hộ giáo Kito giáo tiên khởi: “hoặc là Thiên Chúa hoặc là một kẻ tồi.” Đây là một luận điểm cổ điển được đưa ra, nó như thế này:

1. Chúa Giêsu hoặc là một Thiên Chúa (nếu Ngài không nói dối Ngài là ai) hoặc là một kẻ tồi (nếu Ngài đã nói dối).

2. Nhưng Chúa Giêsu không là một kẻ tồi.

3. Do thế, Chúa Giêsu là Thiên Chúa.

Vài người sẽ chất vấn tiền đề thứ hai. Nhưng nếu tiền đề thứ nhất được thêm vào, kết luận tất phải theo như vậy. Do đó, những người không phải là Kitô hữu phải chất vấn tiền đề thứ nhất. Vậy, điều gì bảo hộ cho tiền đề này?

Quan điểm chung. Ai khẳng định mình là Thiên Chúa mà không là Thiên Chúa thì không phải là một người tốt nhưng là một kẻ tồi.

Chỉ là một người tốt thôi là một điều gì đó mà có lẽ Giê-su không thể là. Bằng cách tuyên bố mình là Thiên Chúa, Ngài đã loại bỏ khả thể này. Vì một kẻ dối láo thì không là một người tốt, và ai lại nói dối về chính yếu tính của mình là một kẻ nói dối, và một người bình thường mà tự cho mình là Thiên Chúa, thì nói dối về chính căn tính đích thực của mình.

Thật hấp dẫn và lý thú khi nói rằng Chúa Giêsu chẳng phải là một kẻ tồi cũng chẳng phải là Thiên Chúa, nhưng là một người tốt. Nói rằng Ngài là một người xấu thì xúc phạm đến người Kitô hữu, và nói Ngài là Thiên Chúa thì nghịch ý những ai không là Kitô hữu. Chẳng nói điều nào thì không nghịch ý ai. Do thế, những người không tin không muốn nói đến điều nào cả.

Nhưng luận điểm ấy lại nghịch với luận lý.

Hoặc Chúa Giêsu tin chính lời công bố của Ngài rằng mình là Thiên Chúa hoặc Ngài không tin. Nếu Ngài tin, Ngài là một người mất trí (điên). Nếu Ngài không tin, Ngài là một kẻ nói dối. Trừ phi chắc chắn Ngài là Thiên Chúa.

Tại sao Ngài không thể là một kẻ nói dối hay là một người điên? Vì đặc tính của Ngài. Có hai điều mà mọi người đều thừa nhận về đặc tính của Chúa Giêsu. Ngài khôn ngoan và tốt lành. Một người điên thì không thể khôn ngoan, và một người nói dối thì không thể tốt lành.

Có những người điên trong những nhà thương điên, họ ngây ngô tin rằng mình là Thiên Chúa. “Nỗi ám ảnh về thiên tính” là một dạng thức được nhận thấy của bệnh tâm thần. Các đặc điểm nổi bật của căn bệnh này được nhận thấy là: tự cao, tự kỷ, khó uốn nắn, đần độn, có thể biết trước họ sẽ làm gì, mất khả năng hiểu biết và yêu mến người khác như bản chất thực của họ, và cũng không thể có tương quan sáng tạo với người khác. Nói cách khác, đây là một cực trái ngược đối với nhân cách của Chúa Giêsu. Vượt trên bất cứ con người nào trong lịch sử, Chúa Giêsu có ba nhân đức thiết yếu mà mọi người đều cần và muốn: khôn ngoan, yêu mến và sáng tạo. Mặt khác, nếu Chúa Giêsu là một người nói dối, thì Ngài hẳn phải là một kẻ dối láo thông minh, khéo léo, xảo quyệt, xấu xa hồ đồ, tệ hại nhất mà nhân loại từng biết đến, kẻ ấy đã quyến dụ thành công hàng tỉ người trao linh hồn vĩnh cửu của mình vào tay hắn. Nếu giáo lý Kitô giáo chính thống là một sự lừa gạt thì đó là một lời dối lừa lớn và tệ hại nhất từng được nói, và Chúa Giêsu là kẻ nói dối vĩ đại và tệ hại nhất. Nhưng trong mọi cách thức, Chúa Giêsu là một người hoàn hảo về mặt luân lý. Ngài có mọi nhân đức, cả mềm dẻo lẫn cứng rắn, tế nhị và mạnh mẽ. Hơn thế, Ngài đã chết cho “sự dối lừa” của mình. Điều gì khiến cho một kẻ dối lừa đầy ích kỷ và nham hiểm lại làm như thế?

Giả như không phải Chúa Giêsu nhưng là chính các môn đệ của Ngài đã phát minh ra “sự dối lừa này”? Các luận điểm tương tự cũng áp dụng cho các môn đệ, hoặc cho bất cứ ai trước nhất đã phát minh ra “sự dối lừa ấy”.

1. Họ không thể hiện những đặc điểm tâm lý của kẻ nói dối.

2. Chẳng có động lực nào để làm như vậy: Tất cả họ nhận từ đó cùng một điều Chúa Giê-su đã nhận: chịu đau khổ và chịu chết. Họ minh chứng sự chân thực của mình ngang qua việc tử đạo.

3. Họ có thể đã không tin rằng nó sẽ thành công vì họ phải biết mọi người Do Thái sẽ kinh ngạc và ghê tởm vì sự báng bổ này.

Chuyện gì xảy ra nếu các môn đệlà những người điên hay đơn giản họ chỉ là những kẻ bị lừa gạt? Biết đâu thiên tính của Chúa Kitô là ý tưởng của họ mà họ gán cho Ngài, sau đó viết lại trong các bản văn Tin Mừng? Các lập luận tương tự cũng áp dụng cho bất cứ ai “phát minh” ra Kitô giáo, cho dù đó là Chúa Giêsu, các môn đệ của Ngài hay giáo hội sơ khai.

1.Tác giả của các sách Tin Mừng chắc hẳn không phải là những người điên. Nếu họ phát minh ra Chúa Giêsu, họ đã tạo ra một nhân vật tiểu thuyết hấp dẫn nhất trong lịch sử. Không một người điên nào lại có thể viết nên, ít hay nhiều, dù chỉ một chương trong các sách Tin Mừng.

2. Cũng chẳng có sự điên rồ nào lại đem đến nhiều thay đổi khiến biết bao người sống tốt hơn qua nhiều thế kỷ. Suy xét sự nguy hại của những suy nghĩ điên rồ về việc lẫn lộn một con người với một Thiên Chúa, tiếp đến, suy xét sự nguy hại về việc thay đổi được thực hiện nơi hàng triệu người nhờ vào “sự điên rồ này” (ví dụ, đọc Tự Thú của thánh Augustinô), và bạn sẽ thấy rất khó để tránh khỏi phải tin.

3. Điều giải thích cho sự dối trá của bất cứ ai trước hết là do bị “gạt”? Giải thích nguồn gốc của sự điên rồ thì cũng khó khăn như việc giải thích nguồn gốc và động lực của “sự dối trá”.

Những nguyên cớ cho sự vô tín

Thế thì tại sao nhiều người không được thúc đẩy để tin?

1. Không vì những lý do duy lý. Không một lý do nào đã từng đưa đến sự chống đối Kitô giáo mà đã không bị bác bẻ (xem chương 2). Tuyệt đại đa số những ai không tin vào thiên tính của Chúa Kitô thì không tin vì những lý do khác, chứ không vì đối mặt với các luận điểm này.

2. Thường thì điều bị ghét bỏ và chối từ không phải là Chúa Kitô nhưng là các Kitô hữu. Chesterton nói rằng: “Luận điểm tốt duy nhất chống lại Kitô giáo chính là các Kitô hữu.”

3. Thường thì chính nỗi sợ Giáo Hội, giáo huấn cùng thẩm quyền của Giáo Hội mà làm cho người ta sợ hãi xa lánh đi. Giáo Hội là một thể chế cụ thể, hữu hình, và hiện thời, nó đưa ra những đòi hỏi đối với trí tuệ khiến chúng ta tin và trên ý chí khiến chúng ta thực hành toàn bộ cách sống ngược với các khuynh hướng tự nhiên của chúng ta. Chính xác như Chúa Giêsu, Đấng đã làm mọi sự trong cùng một cách thế. Giáo Hội không vận hành một câu lạc bộ nhưng giương cao một cây thập giá.

4. Sự lưỡng lự thường thì nằm ở phương diện luân lý. Thừa nhận rằng Chúa Giêsu là Thiên Chúa chính là thừa nhận thẩm quyền tuyệt đối của Ngài trên cuộc đời bạn, gồm cả đời sống cá nhân và tình dục của bạn. Liệu một người nghiện ma túy có thể nghĩ một cách rõ ràng và khách quan những sự thật luân lý khi anh ta sử dụng chất ma túy không? Tại sao một người nghiện tình dục phải nên khác biệt?

Tất cả chúng ta đều nghiện một cái gì đó – ít nhất là sự ích kỷ. Đó là ‎ ý nghĩa của tội, là chính thứ dịch bệnh mà Chúa Giêsu đến để cứu chữa. Chắc chắn, căn bệnh ung thư đã làm cho các nhà phẫu thuật phải sợ hãi. Đây chính xác là những gì mà bạn mong đợi. Đây không phải là nguyên do để không tin vào tuyên bố của nhà phẫu thuật rằng anh ta là chuyên gia. Đó chỉ là sự đối nghịch.

Cái tôi cũ trong chúng ta không xuẩn ngốc. Nó thấy rằng Chúa Kitô đến để hủy diệt nó. Nó biết Công giáo không phải là một thứ lý thuyết vô hại nhưng là một cái gì đó sống động và nguy hiểm đối với nó.

5. Một số người e sợ những điều thần bí và không kiểm soát được. Nếu Thiên Chúa đã làm một điều lạ lùng như thế khi trở nên một con người, thì thực tại cố thoát khỏi những chiếc hộp nho nhỏ ngăn nắp và thoải mái trong khi một số trong chúng ta lại thích nhét thực tai ấy vào lại bên trong.

6. Có lẽ cũng có một sự tự hào nho nhỏ, không muốn nới lỏng những điều thiết yếu nhất trong cuộc sống của bạn.

7. Thật là cũng không hợp thời tí nào cả để Tin Chúa Kitô như bất cứ thứ gì hơn là một người thầy nhân loại.

8. Cuối cùng, niềm tin tôn giáo sâu xa nhất của người Mỹ thường là bình đẳng. Quan niệm cho rằng chỉ mình Chúa Kitô là Thiên Chúa và tất cả các tôn giáo khác là không ngang tầm đã xúc phạm đến niềm tin về sự bình đẳng thực sự của chúng ta, là điều không hề đòi hỏi chúng ta phân biệt và chọn lựa ai và để biện minh cho sự chọn lựa ấy (xem chương 14).

Không điều nào trong số tám nguyên nhân trên là lý do cho sự vô tín, chỉ có một động cơ thôi; nghĩa là, chúng mang tính chủ quan chứ không khách quan, mang tính tâm lý chứ không mang tính luận lý.

[Về mục lục]Trở về: [1], [2], [3], [4], [5], [6], [7], [8]; Đọc tiếp: [9], [10], [11], [12], [13], [14], [15]    

*****

-9-

Sự Phục Sinh

M

ọi bài giảng mà Kitô hữu rao giảng trong Tân Ước tập trung vào sự phục sinh. Phúc âm hoặc “tin mừng” có nghĩa cơ bản là tin vào sự phục sinh của Chúa Kitô. Thông điệp này chiếu tỏa trên toàn thế giới trung cổ, làm cho bao trái tim bừng cháy, thay đổi bao cuộc đời và xoay chuyển một thế giới không mấy “nhân đạo.” Mọi người khôn ngoan đạo đức biết rằng; đó không phải là tin tức bình thường mà là tin về một con người, người mà đã khẳng định mình là Con Thiên Chúa và là Đấng Cứu độ thế giới, đã trỗi dậy từ cõi chết.

Một thách thức hợp lẽ dành cho những người hoài nghi là: nếu có thể chứng minh được rằng Chúa Giêsu thực sự đã trỗi dậy từ cõi chết, thì liệu bạn có tin vào Ngài không? Vì nếu Ngài thực sự trỗi dậy, điều đó xác nhận khẳng định Ngài là Thiên Chúa và không đơn thuần chỉ là con người, vì sự phục sinh từ cõi chết thì ngoài sức con người; và thiên tính của Ngài xác nhận chân lý của tất cả mọi sự khác Ngài đã nói, vì Thiên Chúa không thể nói dối.

Phục sinh có tầm quan trọng thực tiễn quyết định bởi vì nó hoàn tất việc cứu rỗi của chúng ta. Chúa Giêsu đến để cứu chúng ta khỏi tội lỗi và hậu quả của nó là cái chết Rm 6:23).

Phục sinh cũng làm nên sự khác biệt mạnh mẽ giữa Chúa Giêsu với tất cả các vị sáng lập tôn giáo khác. Xương của Abraham, Muhammad, Đức Phật, Khổng Tử, Lão Tử và Zoroaster tất cả vẫn còn trên trái đất này. Còn mộ Chúa Giêsu thì trống rỗng.

Những hệ quả hiện sinh của phục sinh có thể được thấy bằng cách so sánh các môn đệ trước và sau phục sinh. Trước, họ co cụm với nhau sau cánh cửa bị khóa chặt trong sợ hãi và hoang mang. Sau, họ được biến đổi từ những kẻ nhát đảm thành những vị thánh tự tin, những người truyền giáo làm thay đổi thế giới và là những vị tử đạo anh dũng.

Điều quan trọng nhất của phục sinh không phải là trong quá khứ-“Chúa Kitô đã phục sinh”, nhưng trong hiện tại, “Chúa Kitô đang phục sinh.” Vị Thiên Thần tại ngôi mộ đã hỏi các người phụ nữ, “Sao các bạn tìm người sống nơi kẻ chết?” (Lc 24:5). Ngày hôm nay, các nhà sử học và các học giả có thể được hỏi cùng câu hỏi đó. Nếu chúng ta đã không giữ Chúa Kitô nằm trong một quan tài được gán nhãn “lịch sử” hay “hộ giáo,” thì Ngài đã làm cho cuộc sống của chúng ta và thế giới bừng cháy ngọn lửa mạnh mẽ như Ngài đã làm hai thiên niên kỷ trước. Đó là việc nhập thân hiện sinh của sự phục sinh.

Chiến lược của Lập luân cho Phục sinh: Năm lý thuyết khả dĩ

Chúng ta tin rằng sự phục sinh của Chúa Kitô có thể được chứng minh ít là cũng rất chắc chắn như bất kỳ sự kiện nào được tin tưởng phổ biến và được ghi lại trong lịch sử cổ đại. Để chứng minh điều này, chúng ta không cần phải tiền giả định bất cứ điều gì có thể gây ra tranh luận (ví dụ, là phép lạ xảy ra). Nhưng những người hoài nghi cũng không phải tiền giả định bất cứ điều gì (ví dụ, là phép lạ không xảy ra). Chúng ta không cần phải giả thiết rằng Tân Ước là tuyệt đối đáng tin cậy hay được khởi hứng bởi Thiên Chúa hoặc thậm chí là chân lý. Chúng ta không cần phải tiền giả định rằng thực sự có một ngôi mộ trống rỗng, hoặc những lần hiện ra hậu phục sinh, như được ghi chép. Chúng ta cần tiền giả định chỉ hai điều, cả hai đều là dữ liệu thô, dữ liệu thực nghiệm, mà không ai phủ nhận: sự tồn tại của những bản văn Tân Ước như chúng ta có và sự tồn tại (nhưng không tất yếu là chân lý) của Kitô giáo như chúng ta thấy ngày hôm nay.

Câu hỏi đặt ra là: Giả thiết nào về điều thực sự đã xảy ra ở Giêrusalem vào ngày Chúa nhật Phục Sinh đầu tiên có thể giải thích cho nguồn dữ liệu?

Có năm giả thiết có thể có: Kitô giáo, ảo giác, huyền thoại, âm mưu và bất tỉnh.

Chúa Giêsu đã chết — Chúa Giêsu đã sống lại ——– (1) Kitô giáo

Chúa Giêsu không sống lại–các tông đồ đã bị đánh lừa –(2) Ảo giác

Các tông đồ là những người tạo nên huyền thoại—– (3) Huyền thoại

Các tông đồ là những người lừa đảo —-(4)Âm mưu

Chúa Giêsu đã không chết ———— – (5) Sự bất tỉnh

Phản bác giả thiết bất tỉnh: chín luận chứng. Phải chăng Chúa Giêsu đã không thực sự chết trong khi đóng đinh nhưng chỉ ngất đi? Chín chứng cứ phản bác giả thuyết bất tỉnh:

1. Chúa Giêsu đã không thể sống sót bởi việc đóng đinh. Cách thức thi hành việc đóng đinh của người La Mã là rất cẩn thận để loại trừ khả năng trên. Luật La Mã thậm chí đặt án tử hình cho bất kỳ người lính nào để cho một tù nhân trốn thoát vốn bằng cách nào đi nữa, kể cả việc làm hỏng một cuộc đóng đinh.

2. Việc người lính La Mã đã không đánh vỡ chân Chúa Giêsu, như anh ta đã làm với hai tội phạm bị đóng đinh khác (Ga 19:31-33), cho thấy người lính đã chắc chắn Chúa Giêsu đã chết. Đánh gãy chân làm cho chết nhanh hơn để có thể đưa xác xuống trước ngày sa-bát (Ga 19:31).

3. Gioan, một chứng nhân tận mắt, đã xác nhận rằng ông đã thấy máu và nước chảy ra từ cạnh sượn bị đâm của Chúa Giêsu (Ga 19:34-35). Điều này cho thấy phổi của Chúa Giêsu đã ép lại và Ngài đã chết vì ngạt thở. Bất kỳ chuyên gia y học nào cũng có thể xác minh cho điều này.

4. Cơ thể hoàn toàn được bọc trong những tấm vải liệm và được chôn (Ga 19:38-42).

5. Những lần hiện ra hậu phục sinh đã thuyết phục các môn đệ, thậm chí cả “Tôma nghi ngờ,” rằng Chúa Giêsu đang sống vinh hiển (Ga 20:19-29). Xét về mặt tâm lý, đó là điều không thể đối với các môn đệ để có được sự biến chuyển và tự tin lớn lao nếu Chúa Giêsu đơn thuần đã vượt qua cơn bất tỉnh nhờ đến một bác sĩ nào đó. Một người thương tật loạng choạng dở sống dở chết, người mà vừa trốn thoát một cách ngặt nghèo thì không thể được tôn thờ cách mạnh mẽ như là Thiên Chúa và là đấng chinh phục cái chết.

6. Làm thế nào những người lính bảo vệ La Mã tại ngôi mộ bị khuất phục bởi một cái xác bất tỉnh? Hoặc bởi những môn đệ không vũ trang? Và nếu các môn đệ đã làm điều đó, thì họ đã cố ý dối trá khi họ viết Phúc Âm, và chúng ta đi vào giả thuyết âm mưu, mà chúng ta sẽ phản bác ngay sau đây.

7. Làm thế nào một người dở sống dở chết đang bị ngất có thể dịch chuyển tảng đá lớn tại cửa mộ? Ai đã dời tảng đá nếu không phải là một thiên thần? Không có ai trả lời cho câu hỏi này bao giờ cả.

8. Nếu Chúa Giêsu tỉnh dậy sau cơn ngất, thì Ngài đã đi đâu? Hãy suy nghĩ điều này cho kỹ: bây giờ, bạn có một cơ thể sống để bàn luận, không phải là một cơ thể chết. Tại sao nó đã biến mất? Một người như vậy, với một quá khứ như vậy, sẽ để lại các dấu vết.

9. Một cách đơn giản nhất, giả thuyết bất tỉnh tất yếu biến thành giả thuyết âm mưu hoặc giả thuyết ảo giác, vì các môn đệ đã làm chứng rằng Chúa Giêsu đã không chết ngất nhưng thực sự đã chết và thực sự đã phục sinh.

Bác bỏ giả thuyết âm mưu: bảy luận chứng. Tại sao các môn đệ đã không thể tạo nên toàn bộ câu chuyện?

1. Pascal đưa ra một bằng chứng, đơn giản có cơ sở vững chắc về mặt tâm lý cho lý do tại sao giả thuyết này là không thể nghĩ ra được:

Giả thuyết cho rằng các tông đồ là những kẻ dối trá là hoàn toàn vô lý. Hãy theo điều này cho đến cuối, và hãy tưởng tượng mười hai người này gặp nhau sau cái chết của Chúa Giêsu và âm mưu để nói rằng Ngài đã trỗi dậy từ cõi chết. Điều này có nghĩa là chống lại tất cả các thế lực lúc bấy giờ. Lòng người thì rất dễ bị ảnh hưởng bởi những sự thất thường, bởi những thay đổi, bởi những lời hứa hẹn, hay bởi sự mua chuộc. Chỉ cần một trong số họ phủ nhận câu chuyện của mình bởi những xui khiến đó, hoặc hơn thế khi sợ bị cầm tù, tra tấn và chết, và như thế tất cả họ sẽ bị tiêu vong. Hãy kiên định như thế (322 Tư tưởng, 310)

2. Nếu họ tạo ra câu chuyện đó thì họ là những nhà viết chuyện viễn tưởng sáng tạo, tài tình, thông minh nhất trong lịch sử, vượt xa Shakespeare hay Dante hoặc Tolkien. “Những câu chuyện cá” của những ngư phủ không bao giờ tỉ mỷ, có sức thuyết phục, làm thay đổi cuộc sống và bền bỉ như thế.

3. Về phần các môn đệ, tính cách của họ cho thấy những lý do chống lại mạnh mẽ một âm mưu như thế, mà không ai có thể chống đối được. Họ là những người đơn sơ, trung thực, là những nông dân bình thường, không phải là những kẻ nói dối xảo quyệt, khôn ranh. Họ thậm chí không phải là luật sư. Lòng chân thành của họ được chứng minh bởi lời nói và hành động của họ. Họ rao giảng một Chúa Kitô phục sinh và họ sống một Chúa Kitô phục sinh. Họ sẵn sàng chết cho “âm mưu” của họ. Không gì chứng minh lòng kiên trung như việc tử đạo.

4. Không có thể có một động cơ cho một lời nói dối như thế. Lời nói dối luôn luôn được nói chỉ vì những lợi ích vị kỷ. Đâu là lợi ích mà “những kẻ âm mưu” có được từ “chuyện dối trá” của họ? Họ bị ghét bỏ, khinh miệt, bách hại, xua đuổi, giam cầm, tra tấn, lưu đày, chịu đóng đinh, luộc sống, nướng, chặt đầu, moi ruột và làm mồi cho sư tử – khó lòng mà đưa ra được một bảng liệt kê những lợi ích.

5. Nếu sự phục sinh là một lời nói dối, người Do Thái đã có thể đưa ra cái xác và bóp chết sự mê tín đáng sợ này ngay từ trong trứng nước. Mọi điều họ phải làm là đi đến ngôi mộ và tìm lại cái xác đó. Các binh sĩ La Mã và các nhà lãnh đạo của họ đứng về một phía, không phải là Kitô hữu. Và nếu người Do Thái không thể có được cái xác vì các môn đệ đã lấy trộm nó, thì làm thế nào mà các môn đệ thực hiện được điều đó? Những lập luận chống lại giả thuyết bất tỉnh cũng có hiệu lực ở đây: những kẻ quê mùa không vũ trang không thể chế ngự được những người lính La Mã hay lăn đi một tảng đá lớn, trong lúc lính canh ngủ khi làm nhiệm vụ.

6. Các môn đệ không thể tránh được những hậu quả do việc loan báo sự phục sinh ở Giêrusalem-cùng một thời gian, cùng một nơi chốn và đầy những nhân chứng – nếu đó là một lời dối trá. “Nếu có một âm mưu, chắc chắn nó sẽ bị phơi bày bởi các kẻ thù của các môn đệ, những kẻ có cả tiền tài và quyền lực để vạch trần bất cứ sự gian lận nào. Kinh nghiệm chung cho thấy rằng những mưu đồ như thế thì chắc chắn bị lột trần”. (Craig, Tìm hiều sự thật về sự Phục sinh, chương 6).

Phản bác giả thuyết ảo giác: mười ba luận chứng. Nếu bạn nghĩ rằng bạn thấy một người chết đi lại và nói chuyện, thì bạn không nghĩ rằng có nhiều khả năng là bạn bị ảo giác hơn là điều bạn đang nhìn thấy thật sự đấy chứ? Thế thì tại sao không nghĩ rằng cùng một điều về sự phục sinh của Chúa Kitô?

1. Có quá nhiều nhân chứng. Ảo giác là riêng tư, cá nhân và chủ quan. Chúa Kitô hiện với Maria Mađalêna, với các môn đệ trừ Tôma, với các đệ tử gồm cả Tôma, với hai môn đệ ở Emmaus, với các ngư phủ trên bờ biển, với Giacôbê (“anh em” hay anh em họ của Ngài) và ngay cả với năm trăm người cùng một lúc (1 Cr 15:3-8). Chỉ ba nhân chứng khác nhau là đủ cho một loại so sánh tam diện về tâm lý; hơn năm trăm người thì cũng là công khai như bạn có thể muốn. Và Thánh Phaolô nói trong đoạn văn này (câu 6) là hầu hết năm trăm người này vẫn còn sống, điều này mời gọi bất cứ độc giả nào kiểm tra tính chân thực của câu chuyện bằng cách tra vấn những người chứng kiến. Nếu đó không phải là sự thật, thì Ngài không bao giờ có thể mời gọi độc giả như thế và có lẽ đã từ bỏ việc mời gọi đó, và ngài cũng có thể bị quy phục bởi quyền lực, sức mạnh và số đông các địch thù.

2. Các nhân chứng là đủ điều kiện. Họ là những người đơn sơ, trung thực, đạo đức, là những người trực tiếp biết các sự kiện.

3. Các nhân chứng cùng thấy Chúa Kitô, tại cùng một thời gian và địa điểm.

4. Ảo giác thường kéo dài một vài giây hoặc vài phút; hiếm khi vài giờ. Còn điều này thì kéo dài trong khoảng bốn mươi ngày (Cv 1:3).

5. Ảo giác thường xảy ra chỉ một lần, ngoại trừ với người điên. Điều này trở lại nhiều lần, với những con người bình dân (Ga 20:19-21:14; Cv 1:3).

6. Ảo giác đến từ bên trong, từ những gì chúng ta đã biết, ít nhất là vô thức. Chúa Giêsu đã nói và làm những điều đáng ngạc nhiên và bất ngờ (1:4 Cv, 9) – như một con người thực và không giống như một giấc mơ.
7. Không chỉ các môn đệ không mong đợi sự phục sinh, lúc đầu họ thậm chí không tin – Phêrô, hay các phụ nữ, Tôma, cũng như mười một môn đệ. Họ nghĩ rằng Ngài là ma; Ngài đã phải ăn cái gì đó để chứng minh mình không phải ma (Lc 24:36-43).

8. Ảo giác không ăn uống. Chúa Kitô phục sinh đã ăn, ít nhất hai lần (Lc 24:42-43; Ga 21:1-14).

9. Các môn đệ đụng chạm Ngài (Mt 28:9; Lc 24:39; Ga 20:27).

10. Các môn đệ cũng đã nói chuyện với Ngài, và Ngài đã nói lại. Trí tưởng tượng của bạn không giữ những cuộc đối thoại sâu sắc, kéo dài, trừ khi bạn có các rối loạn tâm thần cô lập bạn. Nhưng “ảo giác” này nói chuyện với ít nhất mười một người cùng một lúc, trong bốn mươi ngày (Cv 1:3).

11. Các tông đồ không thể tin vào “ảo giác” nếu xác Chúa Giêsu vẫn còn trong mộ. Đây là điểm rất cơ bản và có hiệu lực; vì nếu là một ảo giác, thì xác chết ở đâu? Họ có thể kiểm định điều này, nếu nó ở đó, thì họ không thể tin.

12. Nếu các tông đồ bị ảo giác và sau đó loan truyền câu chuyện ảo giác của họ, thì người Do Thái đã có thể ngăn chặn nó bằng cách trưng ra xác chết, trừ khi các môn đệ đánh cắp nó, trong trường hợp này chúng ta trở lại với giả thuyết âm mưu với tất cả các khó khăn của nó.

13. Một ảo giác giải thích chỉ với các lần hiện ra hậu phục sinh; nó không giải thích ngôi mộ trống được, tảng đá bị lăn ra hoặc không có khả năng tìm ra xác chết. Không có giả thuyết nào có thể giải thích tất cả những dữ kiện này, ngoại trừ một sự phục sinh thực sự.

Phản bác giả thuyết huyền thoại: sáu luận chứng. Làm thế nào để chúng ta biết sự phục sinh của Chúa Giêsu không là một huyền thoại?

1. Văn phong của Phúc âm thì khác căn bản và rõ rệt với văn phong của tất cả thể loại huyền thoại. Bất kỳ học giả văn học nào biết và đánh giá đúng về huyền thoại có thể xác minh điều này. Không có sự kiện nào là rỗng tuếch, ngoạn mục, hay phóng đại kiểu trẻ con. Không có gì là tùy tiện. Tất cả mọi thứ ăn khớp với nhau. Mọi thứ là có ý nghĩa.
Bàn tay của một bậc thầy làm việc ở đây.

Chiều sâu tâm lý là ở một mức cực đại. Trong huyền thoại chiều sâu đó là ở mức cực tiểu. Trong thần thoại, những sự kiện ngoạn mục bên ngoài như thế xảy ra, sẽ trở nên sao nhãng nếu thêm chiều sâu bên trong của tính cách. Đó là lý do tại sao chính những người bình thường như Alice, nhân vật chính của những cuộc phiêu lưu phi thường như Miền đất kỳ diệu. Chiều sâu tính cách và sự phát triển của mọi người trong Phúc Âm, dĩ nhiên, đặc biệt là Chúa Giêsu-là đáng lưu tâm.

Phúc Âm cũng được thực hiện với một sự kiệm lời khó tin. Thần thoại thì dông dài; Phúc Âm thì súc tích.
Cũng có những dấu hiệu mang ý nghĩa của sự mô tả của chứng nhân, như chi tiết nhỏ về việc Chúa Giêsu viết trên đất khi được hỏi liệu có được ném đá người phụ nữ ngoại tình hay không (Ga 8:6). Không ai biết tại sao điều này được đưa vào, nó chẳng mang lại điều gì. Lời giải thích duy nhất là tác giả đã thấy điều đó. Nếu chi tiết này và những chi tiết khác tương tự xuyên suốt trong cả bốn Phúc âm đã được phát minh ra, thì một người thuế thu (Matthêu), một “người trẻ tuổi” (Maccô), một bác sĩ (Luca) và một ngư dân (Gioan) thuộc thế kỷ thứ nhất, tất cả đã phát minh một cách độc lập một thể loại siêu tưởng hiện thực mười chín thế kỷ trước khi nó được tái tạo lại trong thế kỷ thứ hai mươi này.

2. Một vấn đề thứ hai là không có đủ thời gian cho huyền thoại phát triển. Các nhà chống huyền thoại nguyên thủy đã giữ lập trường của họ rằng các bản văn Phúc Âm được viết vào ngày cuối thế kỷ thứ hai; phải mất nhiều thế hệ trôi qua trước khi các yếu tố thần thoại được thêm vào mới có thể được tin một cách sai lầm là hiện thực.

Julius Muller thách thức những người thế kỷ mười chín cùng thời với ông đưa ra một dẫn chứng đơn lẻ bất cứ nơi nào trong lịch sử về một huyền thoại lớn hoặc truyền thuyết phát sinh xung quanh một nhân vật lịch sử và được tin một cách đại thể trong vòng ba mươi năm sau cái chết của nhân vật đó. Không một ai đã trả lời ông.

3. Giả thuyết huyền thoại thiết lập hai lớp. Lớp đầu tiên là Chúa Giêsu lịch sử, người không phải là thần thánh, không xác nhận thiên tính, không thực hiện phép lạ và không sống lại từ cõi chết. Thứ hai, lớp huyền thoại là Phúc Âm như chúng ta có, với một Chúa Giêsu đã tuyên bố mình là Thiên Chúa, đã thực hiện phép lạ và sống lại từ cõi chết. Vấn đề với giả thuyết này chỉ đơn giản rằng không có bất cứ một tí bằng chứng gì về sự tồn tại của lớp đầu tiên như thế. Giả thuyết hai lớp có lớp đầu tiên đã làm nên toàn bộ diện mạo.

4. Một chi tiết nhỏ, ít khi được nhận thấy, là sự phân biệt đáng kể giữa Phúc Âm với huyền thoại: các nhân chứng đầu tiên của sự phục sinh là những người phụ nữ. Trong Do Thái giáo thế kỷ thứ nhất, phụ nữ có địa vị xã hội thấp và không có quyền pháp lý để làm nhân chứng. Nếu ngôi mộ trống là một truyền thuyết được phát minh, thì người sáng chế chắc chắn sẽ không để cho các phụ nữ khám phá ra ngôi mộ, lời chứng của họ được coi là vô giá trị. Mặt khác, nếu các tác giả viết lại một cách đơn giản những gì họ đã thấy, thì họ phải nói sự thật, dù khó khăn về mặt xã hội và pháp lý.

5. Tân Ước không thể là huyền thoại đã bị giải thích sai và nhầm lẫn với thực tế, bởi vì cần phân biệt rõ hai điều sau và loại trừ việc giải thích mang tính thần thoại (2 Pr 1:16). Vì nói một cách rõ ràng rằng nó không phải là huyền thoại, nếu nó là huyền thoại, thì đúng hơn phải nói là một lời nói dối có chủ ý chứ không phải là huyền thoại. Lưỡng đề vẫn đứng vững: hoặc là sự thật hoặc là lời nói dối, hoặc cố ý (âm mưu) hay vô tình (ảo giác). Không thoát khỏi thế lưỡng đao luận này. Khi một đứa trẻ hỏi ông già Noel là có thật không, câu trả lời “có” của bạn trở thành một lời nói dối, không phải là huyền thoại, nếu ông ta không có thật hiểu theo nghĩa đen. Khi Tân Ước phân biệt giữa huyền thoại với thực tế, nó sẽ trở thành một lời nói dối nếu sự phục sinh không phải là sự thực. R. L. Purtill tóm tắt trường hợp văn bản chết như sau:

Nhiều sự kiện được coi là vững chắc được chấp nhận về mặt lịch sử (1) có chứng cứ tài liệu ít hơn nhiều những sự kiện trong Kinh Thánh, (2) và những bản văn mà các nhà sử học dựa vào đối với lịch sử nhân loại được viết sau rất nhiều những sự kiện ghi trong Kinh Thánh. (3) Hơn nữa, chúng ta có rất nhiều bản sao của những trình thuật trong Kinh Thánh hơn những bản sao của lịch sử nhân loại, và (4) các bản sao còn tồn tại thì có sớm hơn nhiều so với những bằng chứng của chúng ta đối với lịch sử nhân loại dựa vào. Nếu những trình thuật trong Kinh Thánh không chứa các sự kiện lạ lùng … thì lịch sử Kinh Thánh rất có thể sẽ được coi là vững chắc hơn nhiều so với hầu hết những sự kiện lịch sử đã được xác nhận, nói theo Hy Lạp và La Mã cổ điển. (Suy tư về Tôn giáo, tr. 84-85)

Nếu tất cả những gì chúng ta đã nói cho đến nay là đúng, thì một hệ quả đáng ngạc nhiên tất yếu như sau: chỉ có hai điều cần thiết cho bất cứ ai được hoán cải trở về với Đức Kitô. (Tất nhiên, ân sủng Thiên Chúa là cần thiết, nhưng Thiên Chúa cũng sẵn sàng ban ân sủng của mình cho bất kỳ ai sẵn sàng tìm kiếm và đón nhận nó.) Hai điều nay là nhận thức về dữ kiện, và tính trung thực hợp đạo đức và khôn ngoan. Đây là chính thái độ đối với những người vô tín cần có: lòng chân thực không cảm tính, có tính hoài nghi, có tính khoa học, và hợp logic. Vâng, nếu họ thực sự có điều đó, nó sẽ dẫn họ tới Chúa Kitô.

[Về mục lục]Trở về: [1], [2], [3], [4], [5], [6], [7], [8][9]; Đọc tiếp: [10], [11], [12], [13], [14], [15]   

*****

-10-

Kinh Thánh
Huyền Thoại hay Lịch Sử?

K

inh Thánh, phép lạ và sự phục sinh được liên kết chặt chẽ trong hộ giáo hiện đại. Chúng đứng vững vàng hay sụp đổ cùng nhau. Hầu hết những người không tin rằng Chúa Kitô sống lại từ cõi chết về mặt thể lý vì hai lý do. (1) “Phép lạ như thế không thực sự xảy ra”, và (2) “Kinh Thánh là huyền thoại, không phải lịch sử.”

Ngay từ đầu, rất quan trọng để làm rõ trình tự logic và mối quan hệ giữa ba vấn đề Kinh Thánh, phép lạ và sự phục sinh, bởi vì những người lập luận chống lại sự phục sinh và chống lại phép lạ dựa trên cơ sở rằng Kinh Thánh là chuyện huyền thoại, không phải lịch sử, như thế là họ đang lập luận ngược. Trình tự logic đi theo một hướng khác: nếu sự phục sinh thực sự đã xảy ra thì giả định “phép lạ không xảy ra” bị loại trừ; trong trường hợp đó, những câu chuyện phép lạ trong Kinh Thánh có thể là lịch sử, không là huyền thoại.

Chúng ta hãy đặt điểm logic đó theo một cách khác. Lập luận rằng sự phục sinh đã không thực sự xảy ra bởi vì Kinh Thánh là huyền thoại là câu trả lời không có câu hỏi. Đối với những người không tin khi được hỏi tại sao họ nghĩ rằng Kinh Thánh là huyền thoại hơn là lịch sử, họ nói đó là vì nó đầy những câu chuyện thần kỳ không thể tin được như sự phục sinh. Đây là lập luận lòng vòng. Lập luận rằng sự phục sinh là chuyện hoang đường bởi vì Kinh Thánh là huyền thoại, và Kinh Thánh là huyền thoại bởi vì nó rõ ràng chứa những câu chuyện lạ lùng huyền hoặc giống như sự phục sinh.

Vai trò của Kinh Thánh trong Hộ giáo

Chúng tôi muốn tránh hai thái cực ở đây: thái cực những người theo chủ nghĩa chính thống và thái cực những người theo chủ nghĩa tân thời.

Thái cực những người theo chủ nghĩa chính thống. Hầu hết những người theo chủ nghĩa chính thống, cũng như nhiều người gọi mình không là chính thống nhưng là người rao giảng Tin Mừng, sẽ làm hộ giáo chỉ từ điểm khởi đầu về thẩm quyền của Kinh Thánh. Chúng tôi nghĩ rằng đây là một lỗi trong phương pháp. Có ba điểm đối với phương pháp của họ có vẻ đáng nghi vấn.

  1. Họ cho rằng điều thật là cần thiết để bắt đầu bằng cách thuyết phục bạn về thẩm quyền của Kinh Thánh, vì họ nghĩ rằng chỉ một mình lý trí con người tự nhiên, ngoài Kinh Thánh, là không đủ mạnh hoặc đủ tốt để hướng những người không tin tới niềm tin.
  2. Vì thế, họ nghĩ rằng chỉ trật tự đúng trong hộ giáo đầu tiên là chứng minh thẩm quyền của Kinh Thánh, và sau đó chuyển sang những vấn đề hộ giáo khác với tất cả vũ khí quan trọng trong tay.
  3. Họ nghĩ rằng những tiêu chuẩn đặc biệt phải được sử dụng để hiểu và giải thích Kinh Thánh vì, không giống như tất cả các sách khác, nó không phải là lời của con người về Thiên Chúa, nhưng là lời của Thiên Chúa về con người.

Nhưng hãy nhớ điều này: nhiều năm đầu các nhà hộ giáo Kitô giáo và các giáo phụ lập luận khá hiệu quả cho Kitô giáo mà không hề Kinh Thánh Tân Ước như được định nghĩa cách có thẩm quyền, vì giáo luật chưa được thiết lập cho đến các thế hệ sau đó. Và thực tế qua các thế kỷ có nhiều người đã được dẫn đến với niềm tin – ít nhất là niềm tin vào một Thiên Chúa Tạo Hóa và trong khả năng của sự cứu rỗi – qua những lập luận hợp lý không dựa trên Kinh Thánh. (Tất nhiên, đức tin cứu độ, khác biệt với niềm tin lý trí, không phải là công việc của một mình lý trí.)

Ngoài ra, ban đầu rất khó khăn để chứng minh thẩm quyền của Kinh Thánh cho người không tin. Dễ dàng hơn nhiều để chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa (chương ba), hoặc ngay cả thiên tính của Chúa Kitô (chương tám), ở đó các luận chứng có thể đơn giản, ngắn và rõ ràng theo một cách thế mà các luận chứng đối với thẩm quyền của Kinh Thánh có thể không bao giờ là như thế. Hộ giáo truyền thống, Tin Lành cũng như Công giáo, thường sử dụng hơn trật tự đối ngược, về thẩm quyền của Kinh Thánh sau này. Thay vì

1. Kinh Thánh là tuyệt đối đáng tin cậy;

2. Thế nên Chúa Kitô là đáng tin;

3. Vậy Chúa Kitô là Thiên Chúa;

Thứ tự thuyết phục hơn là

1. Kinh Thánh là đáng tin cậy như ghi chép lịch sử, như nguồn dữ liệu;

2. Những khẳng định của Chúa Kitô về thiên tính của Ngài được tìm thấy trong Kinh Thánh;

3. Sau đó đến lập luận cho sự thật của những khẳng định này (chương tám).

Ngay từ đầu bạn không cần phải chứng minh tính không sai lầm của Kinh Thánh để đối chất với ai đó về các khẳng định của Chúa Kitô.

Khó khăn thứ ba là những người không tin sẽ không chấp nhận bất kỳ việc sử dụng các tiêu chuẩn đặc biệt hoặc các giả định hay các thái độ nào hướng về Kinh Thánh từ ban đầu, vì họ rõ ràng thừa nhận một câu trả lời cho một câu hỏi không được hỏi. Bạn phải chứng minh trước tiên rằng Kinh Thánh xứng đáng như Lời của Thiên Chúa, và bạn phải chứng minh điều này mà không cần tiền giả định nó, mà không trao cho Kinh Thánh vai trò đặc biệt đó. Nếu không, bạn lập luận luẩn quẩn giả thiết những gì bạn cần để chứng minh.

Thái cực những người theo chủ nghĩa tân thời. Những người theo chủ nghĩa tân thời mắc sai lầm ngược với những người theo chủ nghĩa chính thống về Kinh Thánh. Nếu những người theo chủ nghĩa chính thống tôn sùng Kinh Thánh thì những người theo chủ nghĩa tân thời vất bỏ nó. Nhưng lạ thay, cả hai thái cực cùng có một sai lầm chung. Cả hai đều sử dụng các tiêu chuẩn đặc biệt để đánh giá Kinh Thánh, các tiêu chuẩn không được sử dụng để đánh giá những cuốn sách khác.

Những người theo chủ nghĩa chính thống giải thích tất cả mọi thứ, hoặc tất cả mọi thứ mà họ có thể, theo từng chữ và khẳng định ngay từ đầu vào một thái độ tin tưởng hướng về Kinh Thánh. Những người theo chủ nghĩa tân thời giải thích tất cả mọi thứ, hoặc ít nhất là tất cả mọi thứ phi thường hoặc siêu nhiên (hoặc không phổ biến về mặt đạo đức), không theo nghĩa đen và nhấn mạnh ngay từ đầu vào một thái độ không tin tưởng hay hoài nghi đối với Kinh Thánh.

Giới học giả Kinh Thánh tân thời tiêu biểu thì không khách quan hay không phải là giới trung lập, có tính lịch sử và trung thành với bản văn. Đó là lối chú giải Kinh Thánh bằng cách đưa tư tưởng mình vào (tìm một ý nghĩa nào đó) thay vì chú giải Kinh Thánh (giải thích như nó là); giới này đọc theo một thế giới quan hiện đại riêng biệt – chủ nghĩa tự nhiên, từ chối tính siêu nhiên và các phép lạ – đi vào trong các văn bản và đánh giá các văn bản trên cơ sở thế giới quan đó. Quả thực, người theo chủ nghĩa tân thời mắc phải một dạng y khuôn của chính cái lỗi mà họ lên án những người theo chủ nghĩa chính thống, đối với những người theo chủ nghĩa chính thống là chỉ đọc vào bản văn cùng thế giới quan nó có – chủ nghĩa siêu nhiên – trong khi những người theo chủ nghĩa tân thời áp đặt một thế giới quan lạ lẫm và hiện đại vào nó. Những người theo chủ nghĩa chính thống không thêm các phép lạ vào dữ liệu bản văn; những người theo chủ nghĩa tân thời loại trừ chúng. Đây là sự chắp vá vụng về để dữ liệu phù hợp với lý thuyết – Sai lầm cơ bản của một khoa học thiếu phương pháp. Chính những người theo thuyết tân thời thì không khoa học ở điểm này.

Những người không tin nói rằng (1) Kitô giáo là những gì Tân Ước dạy và (2) Kitô giáo là sai lầm. Còn người Kitô hữu thì nói (1) Kitô giáo là những gì Tân Ước dạy và (2) Kitô giáo là đúng đắn. Các nhà thần học theo chủ nghĩa tân thời muốn dung hòa với cả hai bên, do đó, họ nói rằng (1) xét về giá trị bề mặt, Kitô giáo không phải là điều Tân Ước dạy mà thay vào đó là những gì mà những người theo chủ nghĩa tân thời chọn ra từ Tân Ước (những gì là đạo đức về tình thương không có những điều nhiệm mầu) như là điều sẽ được chấp nhận cho cả những người không tin và người tin (2) điều này tái định nghĩa Kitô giáo là đúng đắn.

Nhưng phải chăng Kinh Thánh sẽ cho phép Kitô giáo được tái định nghĩa? Để có một câu trả lời, xem thư Galat 1:8.

Về mặt lý thuyết, toàn thể Kinh Thánh, “Ngôi Lời của Thiên Chúa”, là biểu lộ và dẫn chúng ta đến với Chúa Kitô là “Ngôi Lời của Thiên Chúa” trong xác phàm. Trong chương về thiên tính của Chúa Kitô, lập luận của chúng ta đã giả định các dữ liệu lịch sử của Phúc Âm. Bây giờ chúng ta phải lý luận cho dữ liệu đó. Vì trong lập luận của chúng ta về thiên tính của Chúa Kitô, cả ba giả thuyết – Thiên Chúa, kẻ nói dối và người mất trí – giả định rằng Chúa Giêsu đã xác nhận thiên tính mình. Giả sử Ngài không xác nhận. Giả sử việc này là một huyền thoại (trong nghĩa hư cấu). Giả sử kẻ nói dối không phải là Chúa Giêsu, nhưng là các bản văn Tân Ước.

Giả thuyết này thì rất phổ biến, đó là lý do tại sao các Kitô hữu trong thế kỷ XX mất đi đức tin của họ. Vì mỗi người nghĩ rằng vấn đề sự dữ hay sự tiến bộ của khoa học loại trừ tôn giáo, có người nghĩ rằng giới học giả theo bản văn, với các “phương pháp lịch sử-phương pháp phê bình” và “phê bình cao hơn” biến đổi các bản văn Tân Ước thành huyền thoại. Không phải các triết gia vô thần hay các nhà khoa học theo chủ nghĩa hoài nghi nhưng các nhà thần học Kinh Thánh thực hiện phép lạ đổi rượu thành nước này, đức tin thành huyền thoại.

Các dữ liệu tự nó làm cho các giả thuyết huyền thoại là điều không thể. Đây là lý do tại sao:

1. Nếu cùng một phương pháp trung lập, khách quan, khoa học được sử dụng trên những bản văn Tân Ước như được sử dụng trên tất cả các tài liệu cổ xưa khác, thì các bản văn chứng minh thật đáng tin cậy. Giả thuyết phức tạp, tinh vi tiếp sau một giả thiết khác với sự nhanh chóng gây hoang mang và sự phức tạp trong cố gắng tuyệt vọng để vạch trần, để “loại bỏ những đặc tính thần thoại” hay để hạ thấp dữ liệu – thì giống như nhổ móng vuốt một con sư tử vậy. Không có cuốn sách nào trong lịch sử bị tấn công như thế, bị chơi khăm, được tái tạo và đứng vững như là Tân Ước. Tuy nhiên, nó vẫn sống như chính Chúa Kitô.

2. Tình trạng của các bản viết tay là rất tốt. So với bất kỳ và tất cả các tài liệu cổ xưa khác, Tân Ước đứng vững gấp mười lần. Ví dụ, chúng ta có năm trăm bản sao khác nhau trước năm 500. Bản văn đáng tin cậy nhất tiếp theo chúng ta có là Iliad, mà chúng ta chỉ có bản năm mươi bản sao trong thời điểm đó từ năm trăm năm hoặc ít hơn sau khi nó xuất hiện.

Chúng ta chỉ có một bản viết tay rất muộn là Biên niên sử của Tacitus, nhưng không ai do dự xem nó như lịch sử đích thực. Nếu các sách Tân Ước không chứa những mô tả về các phép lạ hoặc đưa ra những khẳng định quyết liệt, không nhẹ nhàng về cuộc sống chúng ta, thì chúng sẽ được chấp nhận bởi tất cả các học giả trên thế giới. Nói cách khác, nó không phải là khoa học khách quan, trung lập nhưng thành kiến chủ quan hay hệ tư tưởng đổ đầy giới học giả Kinh Thánh theo chủ nghĩa hoài nghi.

Các bản chép tay mà chúng ta có, bên cạnh tính cổ xưa, thì chúng cũng củng cố lẫn nhau và thống nhất với nhau. Có rất ít sự khác biệt và không có sự khác biệt nào thực sự quan trọng. Và tất cả những khám phá về những bản chép tay sau này, như các Cuộn sách ở Biển Chết, xác nhận hơn là bác bỏ những bản chép tay tồn tại trước đó trong mọi điểm quan trọng. Đơn giản là không có bản văn cổ nào khác gần thời điểm đó có hình dạng tốt như thế.

3. Nếu thiên tính của Chúa Giêsu là một huyền thoại được tạo ra bởi các thế hệ sau này (“cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên”, thường được gán cho là “các nhà phát minh của huyền thoại”), thì phải có được ít nhất hai hoặc ba thế hệ giữa những chứng nhân ban đầu về Chúa Giêsu lịch sử và niềm tin phổ quát về Chúa Giêsu mới, huyền thoại, thần thiêng; ngược lại, huyền thoại không bao giờ có thể đã được coi như là thực, bởi vì nó sẽ bị bác bỏ bởi những chứng nhân về Chúa Giêsu thực. Cả các môn đệ và kẻ thù đã có thể có lý do để phản đối huyền thoại mới này.

Tuy nhiên, chúng ta thấy không có bằng chứng nào ở tất cả những người phản đối cái gọi là huyền thoại về Chúa Giêsu thần thánh nhân danh Chúa Giêsu mà trước đó chỉ đơn thuần là một con người. “Những người theo chủ nghĩa loại trừ tính huyền thoại” ban đầu khẳng định rõ ràng rằng các bản văn Tân Ước đã được viết sau năm 150 (để huyền thoại bắt đầu có một hiệu quả.) Nhưng ngày hôm nay không học giả có đủ khả năng nào phủ nhận hầu hết tất cả Tân Ước thuộc thế kỷ thứ nhất – các thư của thánh Phaolô, trong đó khẳng định rõ ràng và tiền giả định thiên tính của Chúa Giêsu và thực tế rằng giáo thuyết này đã là chính thống Kitô giáo phổ quát.

4. Nếu một “lớp” huyền thoại đã được thêm vào sau đó về một Chúa Giêsu mà ban đầu chỉ đơn thuần là con người, thì chúng ta nên tìm một số chứng cứ, ít nhất là gián tiếp và bởi con đường gián tiếp, về lớp trước này. Chúng ta thấy sự vắng mặt tuyệt đối và hoàn toàn của bất kỳ bằng chứng như thế ở bất cứ nơi nào, hoặc nội bộ (trong chính các bản văn Tân Ước) hoặc bên ngoài, bất cứ nơi nào khác, những nguồn trong Kitô giáo, chống Kitô giáo hay không Kitô giáo.

5. Văn phong các Phúc Âm không phải là văn phong huyền thoại nhưng là thể văn của hiện thực, mặc dù sự mô tả nhân chứng không khoa học. Bất cứ ai nhạy cảm với các văn phong có thể so sánh các Phúc Âm với bất kỳ văn phong tôn giáo thần thoại nào của thời đại, và sẽ thấy sự khác biệt đáng kể và không thể nhầm lẫn được: ví dụ, lối văn chương Khải huyền thuộc Tân ước của cả người Do Thái và dân ngoại, hoặc huyền thoại ngoại giáo như Metamorphoses của Ovid hay câu chuyện về người công nhân tuyệt vời Apollonius thành Tyana (năm 220) của Flavius Philostratus.

Nếu những sự kiện ghi trong Phúc Âm đã không thực sự xảy ra, thì các tác giả này đã phát minh ra điều tưởng tượng về hiện thực mang tính hiện đại cách đây mười chín thế kỷ. Các Phúc Âm thì đầy những chi tiết nhỏ mà chỉ được tìm thấy trong những mô tả bởi nhân chứng hay điều tưởng tượng về hiện thực mang tính hiện đại. Chúng cũng bao gồm hàng tá các chi tiết của cuộc sống của dân Do Thái ở thế kỷ thứ nhất mà không thể được biết đến bởi những ai không sống trong thời gian và địa điểm đó (ví dụ, xem Ga 12:03). Và không có sự sai lệch niên đại thế kỷ thứ hai trong ngôn ngữ hay nội dung.

6. Khẳng định Chúa Giêsu là Thiên Chúa làm cho cuộc cám dỗ và cuộc khổ nạn thập giá của Ngài có ý nghĩa. Thái độ của người Do Thái về sự phạm thượng là duy nhất, không một ai ngoài người Do Thái lên án tử cách cuồng nhiệt cho một khẳng định về thần tính. Trong khi thế giới La Mã, thái độ lúc bấy giờ hướng về các vị thần là “càng nhiều, càng hạnh phúc.”

Về thái độ chính trị của Chúa Giêsu thì không thể giải thích việc đóng đinh Ngài. Ngài không có tham vọng chính trị. Lý do chính khiến hầu hết người Do Thái bác bỏ khẳng định của Ngài là Đấng Messia chính là Ngài đã không giải phóng họ khỏi sự áp bức chính trị của La Mã.

Tại sao sau đó Ngài bị đóng đinh? Giới chính trị lấy cớ rằng Ngài là đối thủ của Caesar, đây là một lời nói dối được bịa ra để biện hộ cho cuộc hành hình của Ngài, vì luật La Mã đã không công nhận sự phạm thượng như là cơ sở để hành hình và theo luật người La Mã, người Do Thái không có quyền lực pháp lý để thi hành luật pháp của chính tôn giáo của họ về hình phạt tử hình.

7. Có bốn Phúc Âm, không phải chỉ là một. Matthêu, Maccô, Luca và Gioan được viết bởi bốn tác giả khác nhau, tại bốn thời điểm khác nhau, có thể cho bốn đối tượng độc giả khác nhau và với bốn mục đích và tầm quan trọng có phần khác nhau. Vì vậy, nhiều việc kiểm tra chéo là điều có thể. Bởi một phép lượng giác học hoặc phép tam giác trắc lượng bản văn, chúng ta có thể sửa chữa được những sự kiện với sự bảo đảm chắc chắn hơn ở đây so với bất kỳ nhân vật cổ đại nào khác hay chuỗi các sự kiện nào. Những mâu thuẫn chỉ nằm trong tiến trình thời gian (chỉ Tin Mừng Luca thì theo thứ tự chính xác) và những mâu thuẫn trong những điều thứ yếu như số (ví dụ, có phải các phụ nữ đã nhìn thấy một hay hai thiên sứ tại ngôi mộ trống hay không?).

8. Nếu Chúa Giêsu thần thánh của Phúc Âm là một huyền thoại, thì ai là người phát minh ra nó? Cho dù đó là môn đệ đầu tiên của Ngài hoặc một vài thế hệ sau đó, thì không có động cơ khả thể có thể đưa ra lời giải thích nào cho phát minh này. Cho đến khi Sắc lệnh Milan vào năm 313, thì các Kitô hữu là đối tượng bị bách hại, bị tra tấn và bị hành hình thường xuyên, bị ghét bỏ và bị áp bức vì niềm tin của họ. Không ai phát minh ra một trò đùa công phu để bị đóng đinh, bị ném đá hay bị chặt đầu cả.

9. Người Do Thái và các Kitô hữu thế kỷ thứ nhất không có khuynh hướng tin vào những chuyện huyền thoại. Họ đã là “những người bác thần thoại” hơn bất cứ dân nào khác. Người chính thống thì cứng rắn, thậm chí khó tính và cố chấp, đối lập với các ngoại giáo huyền thoại và với bất kỳ đa thần giáo phổ biến nào. Cũng không có bất cứ ai ít nhầm lẫn giữa truyền thuyết và thực tế hơn là một người Do Thái. Thánh Phêrô làm rõ điểm này, Phúc Âm là sự kiện lịch sử, không phải là “những chuyện huyền thoại khéo léo được nghĩ ra” (2 Pr 1:16).

10. Cuối cùng, nếu bạn đọc Phúc Âm với một tâm trí và tấm lòng rộng mở, bạn có thể kết luận cùng với Dostoyevsky và Kierkegaard rằng không có người nào có thể có khả năng phát minh ra câu chuyện này.

[Về mục lục]Trở về: [1], [2], [3], [4], [5], [6], [7], [8][9], [10]; Đọc tiếp: [11], [12], [13], [14], [15]  


*****

-11-

Đời Sau

N

hân loại đã đưa ra sáu luận chứng căn bản về những gì sẽ xảy đến cho chúng ta khi chúng ta chết:

1. Chủ nghĩa duy vật: Không có gì tiếp tục tồn tại; cái chết chấm dứt mọi thứ của tôi. Điều này hiếm được chấp nhận vào khoảng thời gian trước thế kỷ XVIII, tuy nhiên ngày nay chủ nghĩa duy vật là một quan điểm tuy nhỏ mà mạnh mẽ trong các quốc gia đã được công nghiệp hóa. Nó là một sản phẩm đính kèm mang tính tự nhiên của chủ thuyết vô thần.

2. Chủ thuyết ngoại giáo: một nửa con người mờ ảo hay một bóng ma vẫn còn sống và đi đến một nơi chết chóc, Địa ngục tối tăm, ảm đạm.

3. Thuyết đầu thai: Linh hồn của một người vẫn sống sau khi chết và được tái nhập vào trong một thể xác khác.

4. Thuyết phiếm thần: Cái chết chẳng thay đổi gì cả, những gì tồn tại sau khi chết cũng giống như những gì có thực trước khi nó chết: chỉ là một, một Thực Tại không thay đổi, vĩnh hằng, hoàn hảo, tinh thần, thần thiêng, có tính bao hàm, và thỉnh thoảng được gọi với cái tên “Brahman” và thỉnh thoảng không được gọi như thế (như trong Phật giáo).

5. Thuyết linh hồn bất tử: Linh hồn của mỗi người vẫn sống sau khi người ấy chết, nhưng thể xác thì không.

6. Thuyết phục sinh: Khi chết, linh hồn tách lìa khỏi thể xác và được tái hiệp nhất với chính thân xác đã được làm mới, đã được phục sinh, bất tử vào ngày cánh chung nhờ vào quyền năng của Thiên Chúa. Đây là quan điểm của Kitô Giáo. Sự phục sinh siêu nhiên của thể xác hơn là chỉ nói về bản tính bất tử vốn có của chỉ linh hồn, quan điểm là chính quan điểm về đời sống sau khi chết trong Kinh Thánh. Quan điểm này vốn đã được tiên báo và hi vọng một cách mơ hồ trong Cựu Ước, nhưng đã được mặc khải rõ ràng trong Tân Ước. Cả hai quan điểm 5 và 6 đều đề cập đến việc linh hồn vẫn sống sau khi thể xác chết đi. Đây là điểm mà chúng ta sẽ chứng minh.

Luận chứng về tính đơn nhất của linh hồn

Đại tiền đề: Cái gì không được gộp lại thì không thể bị tách rời. Bất cứ thứ gì được gộp lại từ những phần khác nhau thì có thể được tách ra thành những phần khác nhau: một phân tử được tách ra thành những nguyên tử, một tế bào được tách thành những phân tử, một cơ phận có thể được tách ra thành những tế bào, một thân thể có thể được tách ra thành những bộ phận, một con người có thể được tách ra thành linh hồn và thể xác. Điều gì không thể được cấu nên từ các phần thì không thể được tách ra thành những phần khác nhau.

Tiểu tiền đề: Linh hồn thì không phải được cấu nên từ các bộ phận. Không như thể xác, nó không có những bộ phận có thể đếm hay đo lường được. Bạn có thể cắt thể xác ra làm đôi nhưng không thể làm được như thế đối với linh hồn; bạn không thể có một nửa linh hồn. Bạn không thể cắt ra được một tí của linh hồn khi cắt tóc.

Kết luận: Vậy linh hồn thì không thể bị chia tách.

Chỉ có hai cách bị hủy diệt đi: bị chia tách thành từng phần, như trường hợp của thể xác, hoặc bị hủy diệt hoàn toàn nguyên trong một tổng thể. Nhưng chúng ta biết rằng không gì lại bị hủy diệt xét như là một tổng thể. Không gì lại tự dưng đi vào hiện hữu. Nếu linh hồn không chết cả trong các bộ phận (bởi sự chia tách) lẫn trong trường hợp một thể xác nguyên vẹn (bởi sự hủy diệt), thì linh hồn không thể chết.

Luận chứng về việc năng lực linh hồn dẫn dắt thể xác.

Đại tiền đề: Giả sử năng lực của linh hồn không đến từ thân xác, điều này cho thấy rằng linh hồn không là một phần hay là một chức năng của thân xác. Đến lượt nó, điều này cũng chỉ ra rằng linh hồn không phụ thuộc vào những quy luật của thân xác, bao gồm cả cái chết.

Tiểu tiền đề: Một năng lực như thế của linh hồn hiện hữu thì không đến từ thân xác. Chính nó là năng lực làm cho thể xác hiện diện. Thể xác không thể hiện diện bởi chính nó, không thể là đối tượng nhận thức của chính nó, không thể biết về chính mình. Để cụ thể hóa X, tôi phải hơn X. Tôi có thể biết một hòn đá như là một vật thể chỉ vì tôi không chỉ là một hòn đá xét như là một vật thể. Một cái máy chiếu có thể phóng chiếu các hình ảnh lên màn hình chỉ vì nó không là một hình ảnh. Tôi có thể nhớ quá khứ của mình chỉ vì tôi vượt trên nó; tôi là một con người hiểu biết trong hiện tại. (Hiện tại của tôi thì sống động, quá khứ của tôi đã chết rồi). Tôi có thể biết thể xác của tôi là một vật thể chỉ vì tôi vượt trên thể xác của mình. Chủ thể nhận biết phải vượt trên đối tượng đựợc nhận biết.

Kết luận: Do thế, linh hồn không tùy thuộc vào tính phải chết của thể xác.

Luận chứng về hai hoạt động phi vật chất.

Đại tiền đề: Nếu tôi thực hiện những hoạt động mà trong đó thân xác không đóng một vai trò quan trọng hay thiết yếu nào, thì đấy không phải là những hoạt động trên thân xác, vì lẽ đó, tôi vượt trên thân xác mình; tôi cũng có một linh hồn phi vật chất (nó không chết khi thân xác chết đi).

Tiểu tiền đề: Hai hoạt động này là (1) suy nghĩ, phân biệt khỏi những cảm giác bên ngoài và những cảm giác bên trong (sự tưởng tượng) và (2) ý chí có suy xét, hữu lý và trách nhiệm, phân biệt khỏi ý thích theo bản năng, khát vọng hay cảm giác.

Kết luận: Tôi có một linh hồn phi vật chất và bất tử.

Chứng minh (1): Nhờ nội quan, ta có thể biết rằng suy nghĩ của chúng ta không bị giới hạn vào những hình ảnh, ví như những hình chóp, nhưng cũng có thể hiểu những nét bản chất và những quy tắc trừu tượng, phi vật chất và phổ quát, ví như tính tam giác và lượng giác học. Chúng ta không thể tưởng tượng ra được sự khác biệt giữa một hình có 103 cạnh và một hình có 104 cạnh như khi chúng ta hình dung sự khác biệt giữa một hình có 3 cạnh và một hình có 4 cạnh; nhưng chúng ta có thể hiểu sự khác biệt giữa một hình có 103 cạnh và một hình có 104 cạnh, cho dù chúng ta không thể tưởng tượng ra nó. Do thế, sự hiểu biết của chúng ta thì trổi vượt trên sự tưởng tượng của chúng ta.

Chứng minh (2): Nếu ý chí chỉ là khát vọng mang tính bản năng, sẽ có hai kết luận ngờ nghêch theo sau: (a) Chẳng ai trong chúng ta tự do và kiểm soát được ý chí của mình, do thế, chẳng ai trong chúng ta sẽ chịu trách nhiệm cho chọn lựa của mình, tất cả lời tán dương, lời khiển trách và trách nhiệm sẽ là viển vông, (b) Nếu trong chúng ta chỉ có bản năng mà không có ý chí, thì bản năng mạnh nhất sẽ luôn luôn thắng. Nhưng điều này không đúng, vì tôi có thể và thỉnh thoảng tôi chọn điều trái ngược với bản năng mạnh nhất của mình (ví dụ khi tôi chọn để theo bản năng yếu hơn là thương cảm thay vì theo bản năng mạnh hơn là sợ và tự bảo toàn trong việc sẵn sàng giúp một nạn nhân đang sắp chết đuối hay đang bị trấn lột.)

Luận chứng tự mâu thuẫn của người chống chủ nghĩa duy vật.

Một máy tính thì không đáng tin nếu nó đã được lập trình một cách tình cờ chứ không theo một thiết kế hữu lý (ví dụ, do bởi một cục mưa đá tình cờ rơi trên bàn phím của nó.)

Bộ não con người và hệ thống thần kinh của nó là một chiếc máy tính. Chúng có thể hơn cả một chiếc máy tính, nhưng cũng có thể không bằng một chiếc máy tính. Do thế, bộ não con người sẽ không đáng tin cậy nếu nó chỉ được lập trình cách tình cớ.

Nhưng nếu chủ nghĩa duy vật là đúng, nếu linh hồn chỉ là bộ não, nếu chẳng có tinh thần, chẳng có linh hồn con người và Thiên Chúa, thì bộ não con ngươi đã đơn thuần được lập trình cách tình cờ. Mọi chương trình mà bộ não của chúng ta đã nhận được ngang qua di truyền (di truyền học) và môi trường (xã hội), thì chung cục chỉ là sự tình cờ ngu muội, tuỳ tiện, ngẫu nhiên, những sự kiên thô kệch, những nguyên nhân thuần vật chất , không có những lý do hợp luận lý.

Do thế, chủ nghĩa duy vật không thể đúng. Chủ nghĩa ấy phản bác chính mình. Nó huỷ diệt tính khả tín của mình. Nếu bộ não chẳng có gì ngoại trừ những nguyên tử không nhìn thấy, chúng ta chẳng có lý do gì để tin nó khi nó mách bảo cho chúng ta về bất cứ điều gì, gồm cả chính nó và các nguyên tử. Do thế, nếu ở đây chẳng có gì ngoại trừ những nguyên tử, chúng ta chẳng có lý do gì để tin rằng ở đây chẳng có gì ngoại trừ những phân tử.

Nếu chủ nghĩa duy vật không đúng, điều này nghĩa là có một thực thể phi vật chất hiện hữu. Và thực tại phi vật chất ấy – thường được gọi là tinh thần hay linh hồn – không cần tuỳ thuộc vào những quy luật của thực tại vật chất, gồm cả quy luật phải chết.

Luận chứng từ sự Công bình Tối hậu.

Vì sự công bình thường không được thực hiện trong một hành trình vắn vỏi của đời người trên trái đất, hoặc (1) sự công bình phải được thực hiện trong một hành trình dài – trong trường hợp này phải có một “hành trình dài”, một đời sống sau cái chết – hoặc một cái gì đó khác (2). Đòi hỏi thiết yếu mà này cho chúng ta biết ý nghĩa luân lý và công bình tối hậu thì không được đáp ứng bởi thực tại nhưng chỉ là một sự tránh né mang tính chủ quan của tâm lý con người – trong trường hợp đó, sẽ chẳng có một nền tảng nào trong thực tại thỏa mãn những khuynh chiều luân lý sâu xa nhất của chúng ta, không có môt hiệu lực khách quan hay sự biện minh cho công bình. Mệnh đề “Tôi muốn công bình” chỉ nói vài điều về chúng ta, giống như “Tôi cảm thấy muốn ốm,” không phải về thực tại khách quan, không phải điều thực sự là hay điều thực sự nên là.

Luận chứng này không minh chứng được đời sau một cách đơn giản và hoàn toàn, nhưng nó cho thấy cái giá nào phải trả cho việc từ chối nó: cái giá về tầm quan trọng mang tính luân lý. Một khi chúng ta không còn tin rằng giá trị luân lý có một cơ sở trong thực tại khách quan, một khi chúng ta bắt đầu tin rằng giá trị luân lý không gì hơn là những cảm xúc và ước muốn chủ quan, một khi chúng ta giảm thiểu công bình từ một định luật của vũ trụ xuống một sở thích riêng tư, chúng ta không còn xem nó như một sự bó buộc hay phải sợ hãi, để rồi không tuân theo nó khi nó mang lại bất tiện. Như Dostoyevsky ghi chú, “Nếu không có sự bất tử, mọi thứ đều được cho phép.”

Cuộc đánh cược của Pascal

Đối với Pascal, cuộc đánh cược là một luận chứng về việc tin vào Thiên Chúa. Nó cũng có thể được sử dụng như là một luận chứng cho việc tin vào đời sau.

Đối với những người có khuynh hướng ngờ vực, những luận chứng dựa trên sự kiện chúng ta không biết điều gì – những luận chứng từ sự vô tri – thì thuyết phục hơn những luận chứng dựa trên những kiến thức giả định, điều mà người hoài nghi có thể đặt vấn đề. Ví dụ, đối với một người hoài nghi như thế, thì một luận chứng chống lại việc phá thai khởi đi từ sự kiện bạn không thể đoan chắc rằng bào thai không phải là một con người thì mạnh hơn luận chứng khởi đi từ tiền đề chúng ta biết chắc rằng bào thai là một con người.

Luận chứng “đánh cược” không chứng minh rằng có sự tồn tại của đời sau, nó chỉ chứng minh rằng thật ngu ngốc khi không tin vào đời sau.

Nếu lời tuyên bố của người Kitô giáo là đúng, thì cơ hội duy nhất để đạt được hạnh phúc vĩnh cửu là phải tin. “Bất cứ ai không tin sẽ bị kết án” (Mc 16,16). Có lẽ điều ấy sai – nhưng cũng có thể đúng. Thật ngớ ngẩn nếu lờ đi khả thể thứ hai. “Vì ích lợi gì nếu một người đạt được cả thế gian mà mất linh hồn?” (Mc 8,36).

Luận chứng từ Seknsucht (Ước muốn mãnh liệt)
Đại tiền đề: Mọi ước muốn tự nhiên bẩm sinh ở trong chúng ta – khác biệt với ước muốn có điều kiện hay tự tạo – tương ứng với một đối tượng thực sự có thể đáp ứng mong muốn đó. Nếu đói, thì có thực phẩm; nếu khát, thì uống; nếu ham muốn tình dục, thì có giới tính; nếu tò mò muốn biết, thì có kiến thức, nếu cô đơn, thì có xã hội. Thật là điều hết sức lạ lùng nếu chúng ta thấy những sinh vật đang yêu trong một thế giới không có giới tính.

Tiểu tiền đề: Trong chúng ta có một ước muốn mà không có gì trong cuộc sống này có thể đáp ứng được, một ước muốn mãnh liệt (Sehnsucht) khác với tất cả những ước muốn khác trong đó đối tượng của nó là không thể định nghĩa được và không thể đạt trong cuộc đời này.

Mặc dù chúng ta không hiểu rõ chính xác điều chúng ta muốn là gì, trong thực tế tự bản chất mọi người chúng ta đều mong muốn một cõi cực lạc, một thiên đường, vĩnh cửu, một đời sống thần thiêng. Thánh Âu Tinh nói, “Trái tim của chúng ta bồn chồn khắc khoải cho đến khi tìm nghỉ ngơi trong Ngài” – ngay cả khi chúng ta không biết “Ngài” đây là ai hoặc cái gì”. Một cái gì đó sâu thẳm trong linh hồn của chúng ta không được thỏa mãn trong cả thế giới thời gian và phải chết này.

Kết luận: Vì thế, đời sống vĩnh cửu tồn tại.

Nại một điều gì cho thấy rằng phải có một sự thay thế, một điều gì đó nhiều hơn và tốt hơn. Chúng ta không phàn nàn về sự hiện hữu, hoặc về 2 + 2 = 4. Nhưng chúng ta phàn nàn về đau khổ, sự thiếu hiểu biết và nghèo đói. Chúng ta cũng phàn nàn về thời gian, bao giờ đủ thời gian, ngay cả bây giờ, và chắc chắn khi chúng ta hấp hối. Chúng ta muốn nhiều thời gian hơn; chúng ta muốn sự vĩnh hằng. Vì vậy phải có sự vĩnh hằng. Chúng ta phàn nàn về thế giới này. Nó không bao giờ là đủ tốt. Vì vậy phải có một thế giới khác đủ tốt. Chúng ta không thể đạt được nó, cũng giống như chúng ta có thể chết vì đói. Nhưng sự khát mong bẩm sinh về thế giới đó chứng minh rằng nó tồn tại, giống như sự đói khát bẩm sinh về thực phẩm chứng minh rằng thực phẩm tồn tại.

Luận chứng từ Tình Yêu

Luận chứng từ tình yêu, được khởi hứng bởi Gabriel Marcel, thì ít “chặt chẽ”, nhưng sâu xa hơn so với hầu hết những luận chứng khác, nó phụ thuộc nhiều vào một “cuộc gặp gỡ” hơn về sự bó buộc luận lý nghiêm ngặt. Tuy nhiên, nó có thể được thiết lập một cách logic như sau.

1. Tình yêu ở đây có nghĩa là agape, không là eros; tình yêu trao ban, chứ không phải tình yêu đòi hỏi, tình yêu vì người khác nhau, chứ không phải tình yêu vì lạc thú.

2. Tình yêu này thì không mù quáng. Nó có đôi mắt. “Con tim có lý lẽ của nó.” Tất cả chúng ta đều biết điều này theo bản năng, vì nếu chúng ta được hỏi rằng ai là người hiểu biết chúng ta nhất, một người kém thông minh yêu thương chúng ta nhiều hơn hay một người thông minh yêu thương chúng ta ít hơn, chúng ta đều biết rằng người yêu thương chúng ta nhất thì biết chúng ta nhất. Eros có thể mù quáng, nhưng agape thì đối nghịch lại sự mù quáng. Làm thế nào tình yêu có thể mù quáng nếu Thiên Chúa là tình yêu? Thiên Chúa thì không mù quáng!

3. Điều mà tình yêu thấy chính là giá trị nội tại của người yêu. Nếu tôi không yêu bạn, tôi thấy bạn như là một trong nhiều đối tượng trong thế giới của tôi – một điều gì đó có thể thay thế, như một cầu thủ bóng chày hay một diễn viên. Giá trị của bạn là khả năng của bạn thực hiện những chức năng nào đó, mà những người khác cũng có thể thực hiện, vì vậy bạn không phải là không thể thiếu. Nhưng một điều mà không ai có thể làm được là trở nên bạn. Tôi biết sự tất yếu của bạn chỉ khi tôi yêu bạn vì lợi ích của riêng bạn, không vì lợi ích của tôi hoặc vì lợi ích mục đích của bạn.

4. Trên cơ sở này, bây giờ tôi có thể lập luận rằng điều không thể chấp nhận được về mặt luân lý là: điều không thể thiếu lại thiếu, điều không thay thế lại bị thay thế.

5. Tại sao tình trạng không thể chấp nhận được về mặt luân lý này lại không có thể là thật được ? Bởi vì nếu nó là thật, thì thực tại – tối hậu, thực tại phổ quát và mang tính hoàn vũ – rốt cục sẽ làm cho tất cả mọi người những gì là không thể chấp nhận được về mặt luân lý, những gì chúng ta không bao giờ nên làm, trong trường hợp đó, giá trị của chúng ta sẽ không có mặt trong thực tại.

6. Vì vậy, hoặc là giá trị luân lý là không có căn cứ, hoặc con người không phải bị loại trừ nhưng sống mãi mãi. Con mắt của cái chết có vẻ như để nhìn thấy phần khuất của tình yêu, nhưng con mắt của tình yêu nhìn thấy phần khuất của cái chết. Do đó CS Lewis có thể viết những lời đáng lưu tâm trên mộ chí của người bạn Charles Wiliams mình như sau: “Không có sự kiện nào chứng thực niềm tin của tôi về đời sau như Charles Williams đã làm đơn giản chỉ bằng chết. Vì khi ý tưởng về cái chết và ý tưởng của Williams gặp nhau trong tâm trí của tôi, đó là ý tưởng của cái chết đã được thay đổi. “

Điểm yếu của luận chứng này là sự yếu đuối của chính tình yêu: nó tự do, không phải là một sự ép buộc. Nếu bạn không chọn để yêu, thì bạn sẽ không gặp gỡ. Nhưng nếu bạn thực sự muốn biết, bạn có thể thực hiện các thử nghiệm thích hợp. Con đường đến sự chắc chắn về sự bất tử có thể là một thử nghiệm tích cực, không chỉ là một suy nghĩ, và điều này có thể là nhiều hơn, chứ không ít hơn, thuyết phục hơn bất kỳ luận chứng lý thuyết nào. Như nhân vật Cha Zossima của tác giả Dostoyevsky nói trong tác phẩm Anh em nhà Karamazov với “người phụ nữ kém đức tin” là người thắc mắc làm thế nào để lấy lại niềm tin của cô bị mất về sự bất tử, “Theo mức độ bạn tiến tới trong tình yêu, bạn sẽ chắc chắn hơn về sự hiện hữu của Thiên Chúa và về sự bất tử của linh hồn. Điều này đã được kiểm nghiệm. Điều này là chắc chắn.” Con đường này được dành cho mọi người tìm kiếm chân thành với lời hứa rằng nếu họ thực sự tìm kiếm nó họ chắc chắn sẽ thấy.

Luận chứng từ Phục sinh của Chúa Kitô

Điều gì sẽ là bằng chứng thuyết phục nhất cho sự sống đời sau? Những người hoài nghi có lẽ sẽ trả lời: Chỉ khi chúng ta có thể nhìn thấy và đụng chạm một người chết, người đã sống lại và tỏ mình ra cho chúng ta, chúng ta mới có thể hoàn toàn chắc chắn.

Một người chết đã sống lại và hiện ra cho nhiều người trên trái đất này. Chúa Kitô phục sinh đã được nhìn thấy và được đụng chạm (1 Ga 1:1-3). Người Kitô hữu được đảm bảo cuộc sống đời sau trước hết không phải thông qua các luận chứng, nhưng thông qua các nhân chứng. Giáo Hội là chuỗi của các nhân chứng, bắt đầu với các tông đồ.

Vì thế câu trả lời của người Kitô hữu cho câu hỏi đáng nghi ngờ nhất, “Bạn thực sự biết điều gì về cuộc sống sau khi chết? Bạn có bao giờ ở đó chưa? Bạn trở lại để nói cho chúng tôi hay chứ?” là “Không, nhưng tôi có một người bạn rất tốt, người đã làm như thế.”

[Về mục lục]Trở về: [1], [2], [3], [4], [5], [6], [7], [8][9], [10], [11] ; Đọc tiếp: [12], [13], [14], [15] 

*****

-12-

Thiên Đàng và Hỏa ngục

B

ên cạnh ý niệm Thiên Chúa, thì ý niệm thiên đàng là một ý niệm lớn nhất đi vào trong tâm tưởng nhân loại. Nếu thời nay nó bị chối từ và bị công kích hơn trong quá khứ, thì các người hộ giáo ngày nay cần phải giải thích và bảo vệ ý niệm này tốt hơn thời xưa và chắc chắn không để nó trôi đi hay phớt lờ nó.

Thậm chí có một điều khó để bảo vệ hơn là ý niệm thiên đàng là ý niệm hỏa ngục. Thực vậy, hỏa ngục là một học thuyết Kitô giáo khó bảo vệ nhất, một gánh nặng nhất để tin và là điều đầu tiên đáng loại bỏ. Sự phê phán chống lại nó dường như rất mạnh, và những người tin nó dường như không thể chịu nổi.

Trọng tâm của chương này là giải đáp những công kích của những người vô tín chống lại thiên đàng và hỏa ngục.

Thiên đàng

Chúng tôi liệt kê dưới đây mười bảy vấn nạn về ý niệm thiên đàng. Ý định của chúng tôi là không cung cấp một thần học về thiên đàng, cũng không cho thấy một bức tranh thiên đàng hướng đến những khát vọng hay những soi sáng mang tính cá nhân. Còn rất nhiều điều cần phải nói sau khi trả lời những câu hỏi này

Vấn nạn 1: Sự đầu thai là một điều đáng tin.

Người Kitô giáo chống đối lại sự đầu thai vì tám lý do.

1. Nó mâu thuẫn với Kinh Thánh (Dt 9,27)

2. Nó mâu thuẫn với truyền thống chính thống trong tất cả giáo hội Kitô giáo.

3. Nó ám chỉ rằng Thiên Chúa đã phạm sai lầm trong việc dựng nên linh hồn chúng ta tồn tại trong thân xác, chúng ta là những linh hồn thực sự thuần khiết đang ở trong tù ngục của thân xác hay là những thiên thần trong bộ y phục thân xác.

4. Nó mâu thuẫn với tâm lý và những cảm thức chung, vì quan điểm về các linh hồn như bị giam cầm trong những thân xác lạ lẫm chối từ sự hơp nhất tinh thần thể xác cách tự nhiên.

5. Nó đưa đến một quan điểm rất thấp về thể xác như là một ngục tù, hay một hình phạt.

6. Ý niệm chúng ta được đầu thai để học những bài học mà chúng ta đã thất bại trong kiếp trước thì trái với cảm thức chung và tâm lý giáo dục căn bản. Tôi không thể học một điều gì đó nếu không có tính liên tục của trí nhớ. Tôi có thể học từ lỗi lầm của tôi chỉ khi tôi nhớ chúng. Người ta thường không nhớ “kiếp” trước của mình.

7. Bằng chứng về sự đầu thai được đưa ra, như là việc nhớ về cuộc sống trước đây bằng cách thôi miên hay “sự hồi quy cuộc sống quá khứ”, có thể được giải thích – nếu chúng thật sự xảy ra – như là một sự ngoại cảm từ xa thuộc tinh thần từ những hữu thể sống khác, từ những linh hồn của người chết trong luyện ngục hay hỏa ngục, hoặc từ ma quỷ. Khả thể sau cùng làm cho chúng ta cực kỳ sợ hãi về việc linh hồn chúng ta quy hồi về cuộc sống trước đây.

8. Sự đầu thai tự nó không thể giải thích. Tại sao linh hồn chúng ta bị giam cầm trong thân xác? Có phải sự đầu thai là những hình phạt tội lỗi mà chúng ta đã phạm ở kiếp trước? Nhưng tại sao kiếp trước là cần thiết? Vì cùng một lý do. Nhưng khởi đầu tiến trình giam cầm linh hồn vào trong thân xác ở nơi đầu tiên phải quay trở lại một chuỗi các cơ thể. Chúng ta phạm tội như thế nào trong tình trạng của một tinh thần hoàn hảo, nguyên tuyền, thuộc thiên giới? Hơn nữa, nếu chúng ta phạm tội trên thiên đàng thì rốt cục đó chẳng phải là chốn vĩnh hằng. Tuy nhiên, đó là tình trạng mà sự đầu thai được đưa ra để dẫn chúng ta quay trở về sau khi khao khát đầu thai qua đi.

Vấn nạn 2: Không có những bằng chứng khoa học về thiên đàng.

Trả lời A: Chẳng có nhiều ý niệm mà mọi người thừa nhận là có căn cứ, thậm chí cả nhà khoa học. Khi họ đóng cửa phòng thí nghiệm, về nhà và hôn vợ, họ không tin rằng chẳng có gì nơi đó cả ngoại trừ hóc môn, hệ thần kinh và các phân tử.

Trả lời B: Không có cái gọi chứng cứ khoa học dành cho khái niệm là không có gì tồn tại ngoại trừ những gì được khoa học chứng minh. Người chống đối khẳng định rằng bất cứ thứ gì mà không có bằng chứng khoa học thì không tồn tại (ví dụ: không có chứng cứ khoa học về thiên đàng, vì thế thiên đàng không có). Thế nhưng không có bằng chứng khoa học cho cái giả thiết đó; thiên đàng không thể chứng minh bằng phương pháp khoa học. Thực tế, đó chỉ đơn giản là một giả thiết; đó là một khẳng định võ đoán của ý chí để thu hẹp mối dây thực tại với mối dây phương pháp khoa học.

Vấn nạn 3: Thiên đàng rõ ràng là một ý tưởng đáng ước ao. Nếu không có thiên đàng, thì chúng ta phải tạo ra nó. Nó là một “giấc mơ tất yếu.”

Trả lời A: Thiên đàng trong Kinh thánh không tương ứng với giấc mơ hay ý tưởng đáng ao ước của chúng ta. Đó là một tình yêu quên mình, vị tha và là sự thánh thiêng, không phải là phần thưởng của những ao ước ích kỷ.

Trả lời B: Thậm chí nếu có một sự tương ứng giữa những ao ước bẩm sinh của chúng ta và ‎ ý niệm về thiên đàng, mà sự tương ứng ấy có thể được giải thích một cách công bằng bởi việc Thiên Chúa tạo dựng chúng ta vì thiên đàng hơn là tạo ra thiên đàng vì chúng ta. Găng tay được làm vì bàn tay, hay bàn tay được làm vì găng tay.

Vấn nạn 4: Chính cái khuôn mẫu hay cấu trúc về ý niệm thiên đàng chỉ là huyền thoại hay truyền thuyết. Những con đường bằng vàng là phiên bản khác của “vùng đất săn bắn hạnh phúc” hay cánh đồng nơi các vị thần ở.

Trả lời A: Cần phân biệt hình ảnh khỏi bản chất. Không tin vào bản chất là bởi vì bạn nhầm lẫn hình ảnh dành cho sự diễn tả theo nghĩa đen, sự nhầm lẫn đó thì cũng ngớ ngẩn như việc không tin vào mặt trăng bởi vì bạn nhầm lẫn “con người trên mặt trăng” là một con người theo nghĩa đen.

Trả lời B: Thực tế là mọi tôn giáo và văn hoá đều có viễn tượng nào đó về thiên đàng. Đó là bằng chứng cho tính hiện thực tại nó, chứ không phải ngược lại. Nếu mọi người (hay gần như mọi người) tin vào một câu chuyện, chỉ có sự ngạo mạn mới kết luận rằng câu chuyện ấy là sai lầm hơn là đúng đắn.

Vấn nạn 5: Việc tin vào thiên đàng là phi thực tế..

Trả lời A: Câu trả lời mạnh mẽ nhất đối với chủ nghĩa thoát ly thực tế là câu hỏi đơn giản của C.S Lewis: “Ai là người chống lại ‘chủ nghĩa phi thực tế’? Thưa là những tù nhân.” Hãy nghĩ về điều đó.

Trả lời B: Có là phi thực tế hay không đối với một đứa bé chưa được sinh ra khi tự hỏi về cuộc sống sau khi sinh? Có là phi thực tế hay không đối với một người hành hương khi tự hỏi về định mệnh thánh thiêng của mình? Có là phi thực tế hay không đối với một thủy thủ bị đắm tàu ở trên chiếc bè khi mơ về đất liền? Có là phi thực tế hay không đối với hạt giống khi mơ về những bông hoa? Con sâu bướm mơ thành con bướm? Juliet mơ về Romeo? Thiên đàng thì không phải phi thực tế bởi vì nó là sự tròn đầy của mọi ước vọng tốt đẹp trần gian.

Trả lời C: Thiên đàng không phải phi thực tế bởi vì nó có thực. Ý niệm là “phi thực tế” chỉ nếu đó là một lời nói dối. Gọi ý niệm phi thực tế về thiên đàng thì phải giả định thuyết vô thần nhưng không có sự rõ ràng hay sự can đảm để nói như thế. Nếu thiên đàng là thật thì chính người phi thực tế không nghĩ về nó mà là chính người thực tế.

Vấn đề đầu tiên về bất cứ ý niệm nào là liệu nó có phi thực tế hay là nó có thực. Cái nhãn “phi thực tế” thì tự nó đã là phi thực tế; những người sử dụng từ ngữ đó thì đang cố tránh trách nhiệm sơ đẳng để chứng minh sự sai lầm về ý niệm thiên đàng.

Vấn nạn 6: Thiên đàng là một sự đánh lạc hướng. Dù đúng hay sai thì thiên đàng làm chúng ta sao nhãng khỏi những nhiệm vụ hiện thời của chúng ta.

Trả lời A: Nếu thiên đàng là thực và là mục đích tối hậu của chúng ta, thì những nhiệm vụ hiện thời thường làm chúng ta xao lãng khỏi nhiệm vụ căn bản của chúng ta hơn.

Trả lời B: Mối bận tâm với những sự trên trời không làm giảm hay hạ thấp mối bận tâm về những sự dưới thế vì lý do tương tự một người mẹ mang thai lo lắng cho tương lai của đứa con trong bụng mình không làm giảm, hạ thấp hay xao lãng khỏi mối bận tâm về giây phút hiện tại của con mình. Nếu người mẹ tin rằng con mình sẽ chết hay nếu muốn con mình chết (nghĩa là, phá thai), thì cuộc sống của đứa bé sẽ bị hạ thấp và giảm giá trị, và bà ta sẽ ngừng chăm sóc cho đứa bé. Nếu chúng ta tin rằng cuộc sống này kết thúc với cái chết, giống như phá bỏ một thai nhi, thì chúng ta sẽ còn chăm sóc nó nhiều như là nếu chúng ta tin rằng chính cái thai đó sẽ sinh vào trong sự bất diệt.

Những con đường buổi đầu dẫn đến California và những mỏ vàng thì được lát gạch và được chăm chút cách tốt đẹp. Những con đường dẫn đến thị trấn ma quái đã bị phá hủy. Nếu trái đất là con đường dẫn đến thiên đàng thì chúng ta sẽ chăm sóc nó. Nếu nó chẳng dẫn đến đâu nhưng lại dẫn đến những ngôi mộ thì chúng ta sẽ chẳng cần để ý đến nó.

Trả lời C: Ngang qua lịch sử, có những người tin cách mạnh mẽ nhất vào thiên đàng nơi tạo ra sự khác biệt lớn nhất đối với trái đất, gồm cả bản thân Đức Giêsu. Vì nếu bạn tin vào tổ quốc, bạn sẽ quan tâm tới lãnh địa của phần đất ấy.

Vấn nạn 7: Thiên đàng là một sự mua chuộc. Thiên đàng làm cho tôn giáo trở nên ích kỷ. Bạn ra sức vì phần thưởng thiên đàng, không vì tình yêu nguyên tuyền mà là vì hám lợi.

Trả lời: Có là hám lợi hay không đối với Romeo khi muốn cưới Juliet? Đối với một đội bóng khi phải chơi cật lực để dành lấy chiến thắng? Hay đối với một sinh viên ngoại ngữ khi muốn học đọc và nói cách lưu loát ngoại ngữ đó? Có một số phần thưởng không vụ lợi nhưng tự nhiên và đúng đắn. Chúng không được đính tạm một cách gượng gạo vào trong hoạt động chúng ban thưởng, như một cấp trật trong một khóa học, mà là chính hoạt động ấy trong một tình trạng hoàn hảo. Thiên Đàng là như thế. Nó không là phần thưởng được thêm vào bên ngoài cho tình yêu Thiên Chúa và tha nhân, nhưng tình yêu đó tự nó đã hoàn hảo.

Vấn nạn 8: Thiên Đàng thì quá ích kỷ. Thật kêu ngạo làm sao nếu nghĩ rằng bạn được tiền định mệnh để kết hôn với Chúa một cách thiêng liêng!

Trả Lời: Thiên Chúa đã nói điều đó chứ không phải chúng ta. Quả vậy, điều ấy thật kinh ngạc. Thiên Chúa thì diệu kỳ.

Vấn nạn 9: Thiên Đàng sẽ là chán chường. Không có gì để làm ngoại trừ việc thờ phượng – một nghi thức phụng vụ vô tận.

Trả lời A: Chán nản là một cảm xúc thất bại và riêng biệt thuộc thế gian. Thậm chí hơn nữa, chán nản mang tính hiện đại cách đặc biệt; cách chung từ chán nản không tồn tại trong bất kỳ ngôn ngữ tiền hiện đại nào. Chúng ta sẽ không chán nản trên thiên đàng bởi vì chúng ta sẽ tốt lành và khôn ngoan. Thậm chí ở đây trên trần gian này, các thánh không bao giờ chán nản.

Trả lời B: Thiên đàng sẽ không chán nản bởi vì thiên đàng không là sự mãn nguyện đơn thuần là điều gây ra chán nản, mà là niềm hoan lạc không có chán nản.

Trả lời C: Thiên đàng không chán nản bởi vì thiên đàng là tình yêu và công việc hoàn hảo. Thậm chí Freud biết rằng hai điều mà mỗi người cần để làm cho cuộc sống đáng sống là tình yêu và công việc. Tình yêu-công việc nào ở trên thiên đàng? Đó là hiểu biết và yêu mến: Thiên Chúa, tha nhân và chính bản thân. Thậm chí trên thiên đàng sáu điều này thì vô tận và không chán nản. Chúng là cuộc tổng dợt cho thiên đàng.

Vấn nạn 10: Chúng ta hạnh phúc như thế nào trên thiên đàng nếu như người thân yêu của chúng ta lại ở hỏa ngục? Nếu chúng ta ngừng yêu họ, chúng ta sẽ không tốt; nếu chúng ta giữ tình yêu đối với họ, chúng ta sẽ không hạnh phúc.

Trả lời A: Chúng ta hãy bắt đầu với dữ kiện mà chúng ta chắc chắn biết. Chúng ta biết rằng sẽ không có nỗi buồn trên thiên đàng, dù cho chúng ta không thể biết cách mà Thiên Chúa xếp đặt điều này như thế nào. Thiên Chúa “sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa.” (Kh 21,4).

Thiên Chúa làm cho không còn đau buồn nữa, dầu cho những người mà Ngài tạo dựng và yêu thương đang ở hỏa ngục. Thiên Chúa là tình yêu và niềm hoan lạc vô tận, dù cho ai đó có đi vào hỏa ngục đi chăng nữa. Điều này có thể được thực hiện, vì nó được thực hiện: Thiên Chúa thực hiện điều đó. Nếu Thiên Chúa thực hiện điều đó thì Ngài sẽ dạy chúng ta cách để làm điều đó.

Trả lời B: Nếu con người sống trong hỏa ngục, và thiên đàng cũng tồn tại song song với hỏa ngục trong thời gian như trái đất và sao hỏa là những thế giới song song, thì có vẻ như không có câu trả lời cho vấn nạn này. Tuy nhiên, hỏa ngục là nơi của sự chết đời đời, chứ không phải là sự sống vĩnh hằng; và những gì đi vào hỏa ngục là một con người chứ không phải là “cái xác” (xem C. S. Lewis, Vấn đề đau khổ, chương 9). Thiên đàng va hỏa ngục không phải là hai thế giới tương đương trong thời gian. Vì thế, tất cả giả thiết minh nhiên về vấn nạn này là sai.

Trả lời C: Nếu những người mà bạn yêu và diễn tả sâu sắc đến nỗi bạn không thể biết làm thế nào mà bạn có thể hạnh phục mãi mà không có họ, thì một trong những công trình mà Chúa có thể đặt bạn trên địa cầu này là để bạn làm mọi thứ vì ơn cứu độ của họ cũng như cho chính bạn. Có lẽ mối bận tâm của bạn là một manh mối cho câu trả lời này: Có lẽ Thiên Chúa đã đặt để gánh nặng ấy vào tim bạn để bạn cùng Ngài nêu nó lên để giải quyết nó.

Vấn nạn 11: Thiên Đàng là vĩnh hằng. Nhưng dường như sự vĩnh hằng thì không thuộc con người vì không có thời gian thì cũng chẳng có sự thăng tiến, không thay đổi, chẳng có công trình gì. Sự thờ phượng cách thụ động và chẳng một chút thay đôi gì có vẻ chỉ hợp với các thiên thần chứ không phải cho chúng ta.

Trả lời: Ai dám nói nơi thiên đàng không có thời gian, công việc và sự thay đổi? Có lẽ sự vĩnh hằng bao hàm cả thời gian hơn là loại trừ nó. Có lẽ thay vì chỉ một khoảng nhỏ của hữu thể thời gian hiện diện (những gì mà chúng ta gọi là “hiện tại”), tất cả thời gian cũng có thể hiện hữu trong thiên đàng. Còn về công việc, cũng có công việc trong thiên đàng, và công việc đó là yêu thương. Yêu thương là một công việc. Trước khi sa ngã, công việc cũng là tình yêu. Chỉ sau khi sa ngã, công việc ấy mới trở nên nặng (Sáng thế 3,17-19). Thiên đàng sẽ phục hồi và trổi vượt hơn mọi điều tốt đẹp vốn có trong vườn địa đàng (Ê-đen), gồm cả những sự tốt lành trong công việc, trong sự thay đổi và thời gian.

Vấn nạn 12: Trong thiên đàng, chúng ta có tự do để phạm tội hay không? Nếu không, chúng ta là những người máy không có tự do, những con người không có ý chí tự do. Nếu có, thì thiên đàng cũng nguy hiểm như trái đất vậy. Và nếu có ai ở đó chọn lựa để phạm tội thì vườn Ê đen và sự sa ngã lại tái diễn thêm lần nữa.

Trả lời: “Tự do đối với tội” thì cũng giống “một căn bênh lành mạnh”. Nghĩa là “sự tự do khỏi tình trạng nô lệ”.

Ý chí tự do, hay chọn lựa tự do, là phương tiện để tới tự do cao hơn. Sự tự do thấp hơn là phương tiện để được tự do khỏi những ràng buộc. Sự tự do cao hơn là cùng đích, để được tự do khỏi sự dữ.

Trong thiên đàng, sẽ không ai phạm tội vì chẳng ai muốn như thế. Ở đó, hết thảy chúng ta sẽ chiêm ngưỡng vẻ đẹp, niềm hoan lạc và hấp dẫn của Thiên Chúa và sự tốt lành; chúng ta cũng sẽ thấy sự xấu xa, buồn phiền và ngớ ngẩn của tội rõ đến nỗi chúng ta không mảy may ao ước phạm tội.

Vấn nạn 13: Nếu tất cả chúng ta là những vị thánh hoàn thiện trong thiên đàng, thì đâu sẽ là yếu tố cá vị? Hàng tỉ những bản sao của Thiên Chúa dường như là vô tri.

Trả lời A: Những bản sao của nhau là vô tri; còn bản sao của Thiên Chúa là sống động vô hạn. Thiên Chúa trông như một viên kim cương có vô vàn khía cạnh. Mỗi một vị thánh phản ánh một khía cạnh khác nhau.

Trả lời B: Thậm chí hiện nay, các vị thánh là những cá nhân chân thật nhất. “Buồn thảm làm sao những kẻ bạo chúa và những kẻ tội lỗi; Vinh quanh biết chừng nào các vị thánh!” (C. S. Lewis, Duy chỉ Kitô giáo).

Hãy để Thiên Chúa cai quản linh hồn và cuộc sống của bạn, tính thánh thiêng thì cũng như muối vậy: nó mang lại những hương vị độc đáo cho mỗi loại thực phẩm khác nhau mà nó ướp. Nó làm cho cá nên cá hơn, thịt nên thịt hơn và trứng nên trứng hơn. Nó làm cho thánh Âu Tinh mang tính Âu Tinh hơn, thánh Tôma mang tính Tôma hơn, thánh Têrêxa mang tính Têrêxa hơn và Maria mang tính Maria hơn.

Vấn nạn 14: Nếu ánh sáng và và chân lý của Thiên Chúa ngập tràn thiên đàng, thì sẽ chẳng có gì là bí mật riêng tư cả. Điều này thật là quá quắt.

Trả lời: Sự riêng tư – như quần áo, những ổ khóa và những nhân viên cảnh sát – lúc này đang cần đến chỉ vì tội mà thôi. Chúng ta ẩn mình khỏi người khác vì (a) chúng ta xấu hổ và (b) chúng ta sợ người khác hiểu nhầm hay loại trừ chúng ta. Trên thiên đàng, chẳng có sự xấu hổ (vì tội không còn nữa) và chẳng có sự hiểu lầm hay loại trừ nào bởi Thiên Chúa và các thánh. Trên thiên đàng, chúng ta sẽ vui hưởng sự thân mật mà chúng ta vốn sợ (tuy nhiên lại rất khao khát).

Vấn nạn 15: Liệu trên thiên đàng có tình dục hay không? Nếu không, hầu hết con người hôm nay không muốn vào nơi ấy. Nếu có tình dục, thì thiên đàng chẳng khác nào trái đất, nó mang tính trần tục quá.

Trả lời A: Nói rằng nhiều người không muốn vào Thiên đàng thì chẳng có hại gì đối với thiên đàng, có chăng là có hại cho kẻ không muốn vào mà thôi.

Trả lời B: Chắc hẳn có giới tính trong thiên đàng. Giới tính, hay căn tính tính dục, là một phần của nhân tính được tạo nên vốn mang tính chất thần thiêng của chúng ta, và nó không bị xóa bỏ đi nhưng được chuyển đổi. Chúng ta sẽ “như các thiên thần” (Mt 22: 30) không bởi do bị thiến hoạn nhưng do không lập gia đình.

Giới tính trước tiên là cái chúng ta , không phải là cái chúng ta làm. Nếu vấn đề là không biết chúng ta có thể “thực hiện điều ấy” (nghĩa là giao hợp) trong thiên đàng hay không, câu trả lời có lẽ cũng giống như câu trả lời cho một cậu bé sáu tuổi khi cậu hỏi không biết cậu còn có thể chơi với những mô hình máy bay trong khi làm tình khi cậu lớn hay không.

Vì chúng ta sẽ có những thân thể thực, điều ấy sẽ là có thể, giống như ta có thể ăn vậy; Chúa Kitô đã ăn trong thân xác phục sinh. Nhưng có lẽ chúng ta không bao giờ nghĩ vậy – không vì điều ấy có vẻ là đáng tủi hổ, ngớ ngẩn, hay thô tục nhưng vì trong thiên đàng chúng ta sẽ hưởng nếm niềm niềm hoan lạc bất tận. Có lẽ niềm hoan lạc này sẽ bao gồm sự liên kết hoàn toàn nào đó với các linh hồn khác mà sự tương giao thể lý giờ đây chỉ là một sự ngượng ngùng và là một sự tiên báo đầy nhầm lẫn. Không phải những người yêu nhau tìm kiếm một sự thân mật và nên một hoàn toàn, và họ chỉ luôn đạt đến một sự nên một tạm thời và chỉ là phần nào thôi sao?

Vấn nạn 16: Yêu mến thiên đàng là trở thành kẻ phản bội đối với trái đất, là bỏ nó lại đàng sau như một con chuột chạy trốn khỏi một con tàu đang chìm. Điều đó thật bất trung.

Trả lời: Nếu Kinh Thánh không sai, trái đất không là nhà của chúng ta, thiên đàng mới là nhà của chúng ta. Bất trung với thiên đàng mới sai chứ bất trung với trái đất thì không có gì là sai cả.

Vấn nạn 17: Thiên đàng nghe có vẻ xa lạ, xa xôi, là một nơi khác, đầy sự đe dọa, “không thích hợp cho con người cư ngụ.” Giống như thử một bộ quần áo không phù hợp và nói: “Cái này không dành cho tôi.”

Trả lời: Một điều bạn sẽ cảm thấy chắc chắn trong thiên đàng là cảm giác đó là nhà của bạn, đấy là điều được thiết kế và làm ra cho bạn. Thiên Chúa là một thợ may tài ba; Ngài may khít khao những bộ áo quần nước trời cho mỗi một khách hàng của ngài.

Hỏa ngục

Thiên đàng thì quan trọng hơn nhiều so với hỏa ngục. Chúng ta biết nhiều về nó, và nó quy hướng tâm trí của chúng ta về đó cách mạnh mẽ. Nhưng trong trận chiến, người chiến binh phải ưu tiên bảo vệ phần lãnh thổ bị tấn công dữ dội nhất hoặc phần lãnh thổ được xem là yếu nhất, và lý thuyết này ngày nay vẫn hữu dụng. Mỗi học thuyết đều quan trọng. Lấy một hòn đá khỏi đống đá và bỏ mọi thứ khác không thể đụng chạm được thì cũng giống như loại một cơ phận quan trọng khỏi một thân thể, tất cả cơ phận khác đều bị ảnh hưởng và thậm chí là bị hủy diệt.

1. Tin rằng chẳng có giả định hỏa ngục nào cả mà Kinh Thánh và Giáo Hội đều nói dối, vì rõ ràng cả hai đều dạy về thực tại hỏa ngục.

2. Nếu Kinh Thánh và Giáo Hội không nói dối về những gì mà Chúa Giêsu đã nói về hỏa ngục, thì giả định rằng Chúa Giêsu là kẻ nói dối. Vì Ngài khẳng quyết về hỏa ngục hơn bất cứ ai khác trong Kinh Thánh.

Trái lại, một người Kitô hữu mà không tin vào hỏa ngục lại là một điều nghịch lý, vì một Kitô hữu là người tin vào Chúa Kitô và Chúa Kitô là người tin vào hỏa ngục. Cách duy nhất để tin vào Chúa Kitô mà không tin vào hỏa ngục là tái cấu trúc lại Chúa Kitô theo những khao khát riêng của bạn. (Ngài muốn tái cấu trúc bạn theo ý riêng của ngài!)

Nếu không có hỏa ngục, Chúa Kitô không chỉ là một thầy dạy bịp bợm nhưng còn là một kẻ khốn nạn, vì Ngài dọa nạt chúng ta một cách không cần thiết, sai lạc và đầy nguy hiểm.

Thật tế là, con người tốt lành nhất, hiền lành nhất, đầy yêu thương và lòng trắc ẩn đã từng mở miệng cảnh báo chúng ta với sự nghiêm túc, mạnh mẽ, chắc chắn nhất về hỏa ngục. Đó là luận đề không thể tranh cãi được về hỏa ngục.

3. Nếu chúng ta bỏ qua hỏa ngục vì nó không thể chịu được đối với chúng ta, điều ấy giả định một nguyên tắc là chúng ta có thể thay đổi bất cứ học thuyết nào mà chúng ta thấy là khó có thể chịu được hay khó có thể chấp nhận được; nói cách khác, học thuyết ấy là khả dĩ thay đổi. Kitô giáo do thế sẽ trở nên một thứ ý thức hệ của con người, chứ không phải là một sự mặc khải từ Thiên Chúa.

4. Nếu không có hỏa ngục, những chọn lựa trong cuộc sống sẽ không đưa đến một sự khác biệt vĩnh hằng nào. Độ cao của một ngọn núi và độ sâu của một thung lũng, tầm quan trọng của thắng và thua trong một trận chiến hay một trò chơi – hai yếu tố này trở thành thước đo cho nhau. C. S. Lewis nói ông chưa bao giờ gặp một người có niềm tin sống động vào thiên đàng mà lại không có một niềm tin sống động vào hỏa ngục. “Nếu một cuộc chơi được tổ chức cách nghiêm túc, thì thua trong cuộc chơi là một điều khả dĩ”. (Vấn đề đau khổ).

5. Nếu không có hỏa ngục, thì sự cứu độ là phổ quát và tự động. Nếu sự cứu độ là phổ quát và tự động, thì chung cục sẽ chẳng có ý chí tự do. Ý chí tự do và hỏa ngục cùng song hành, nếu bàn qua ý niệm về ý chí tự do, bạn sẽ thấy ẩn bên dưới nó là khả thể về hỏa ngục.

6. Nếu không có hỏa ngục để được cứu khỏi đó, thì Chúa Giêsu không phải là Đấng Cứu Độ của chúng ta mà chỉ là một vị thầy, một ngôn sứ, một vị guru hay mẫu mực của chúng ta mà thôi.

7. Nếu không có hỏa ngục, một sự dửng dưng tôn giáo sẽ đi kèm theo đó. Nếu đức tin vào Chúa Kitô như là một Đấng Cứu Độ là không cần thiết, thì chúng ta cũng nên nhớ đến tất cả những nhà truyền giáo và tạ lỗi với tất cả những vị tử đạo. Nếu không có một thứ như lửa bộ phận cứu hỏa sẽ là một điều vô ích và lãng phí.

9. Nếu không có lý do gì để tin vào học thuyết đáng ghét về hỏa ngục, thì cũng chẳng có lý do gì để tin vào một học thuyết đáng yêu nhất trong Kitô giáo: học thuyết về Thiên Chúa là tình yêu. Học thuyết được yêu mến này là lý do mà các nhà phê bình hay trưng ra nhất cho việc bất tin vào học thuyết đáng ghét kia; tuy nhiên, cả hai học thuyết đều cùng dựa trên một nền tảng.

Tại sao chúng ta phải tin rằng Thiên Chúa là tình yêu? Không phải bởi lý do triết lý. Đâu là điểm luận lý có thể chứng minh rằng Đấng toàn hảo, độc lập, không cần bất cứ nhu cầu nào, Đấng đó lại yêu thương những thụ tạo của mình quá nhiều đến nỗi mà đã trở thành một trong số những thụ tạo đó để chịu đau khổ và chết cho họ?

Làm thế nào mà chúng ta biết được Thiên Chúa là tình yêu? Không bởi quan sát tự nhiên, cũng chẳng bởi suy tư triết học. “Tự nhiên đẫm máu trong răng và móng vuốt” không tỏ lộ tình yêu.

Không bởi khoa học. Chẳng có thực nghiệm khoa học nào đã từng minh chứng tình yêu Thiên Chúa, hoặc đo lường, cân đong hay thậm chí là quan sát nó.

Không bởi lương tâm, vì lương tâm thì vô cảm – “cứng như những chiếc đinh.” Lương tâm cho ta biết điều gì đúng, sai và cũng cho chúng ta biết rằng chúng ta hoàn toàn bị bó buộc để làm điều đúng và tránh điều sai, nhưng nó không nói cho chúng ta biết chúng ta được tha thứ.

Cũng chẳng bởi lịch sử. Lịch sử không xảy ra bởi tình yêu phổ quát nhưng là bởi sự ích kỷ phổ quát. Có một và chỉ một lý do để mọi người nghĩ rằng Thiên Chúa là tình yêu, đầy lòng thương xót và tha thứ – và đó là bằng chứng thuyết phục duy nhất cho tính đúng đắn của niềm tin này. Lý do này là đặc nét của Thiên Chúa được mặc khải trong Kinh Thánh, đạt đết đỉnh điểm nơi Chúa Giêsu Kitô. Cũng chính niềm tin vào Thiên Chúa là tình yêu mà chúng ta tin rằng có hỏa ngục. Hoặc chúng ta chấp nhận cả thiên đàng và hỏa ngục, hoặc chúng ta loại bỏ cả hai vì chúng đều dựa trên cùng một nền tảng.

10. Nhiều người tin rằng vì có hỏa ngục nên Thiên Chúa phải là Thiên Chúa của sự giận giữ, báo oán và hận thù. Nhưng không phải vậy. Có lẽ chính tình yêu của Thiên Chúa đã cấu nên sự thống khổ của tội nhân trong hỏa ngục. Tình yêu ấy đe dọa và dày vò tính ích kỷ mà những tội nhân bị đọa đày bám víu và khăng khăng giữ lấy. Một đứa trẻ trong cơn giận, nín bặt và căm ghét bố mẹ, có thể cảm thấy sự ôm ấp và những nụ hôn của bố mẹ chúng là sự tra tấn. Thể theo cùng một nguyên tắc tâm lý, cái hay, cái đẹp vượt mức của một bản nhạc kịch có thể là một sự hành hạ đối với những ai ganh tỵ một cách mù quáng đối với người soạn nên nó. Vì vậy, lửa hỏa ngục có thể được tạo nên bởi chính tình yêu của Thiên Chúa, hoặc hơn thế, bởi mối hận bị đọa đày của tình yêu ấy.

“Sự giận giữ của Thiên Chúa” là một cách diễn đạt có tính chất kinh thánh. Nhưng (a) có lẽ nó là một thứ ẩn dụ, một hình ảnh mang tính con người, giống như “cánh tay hùng mạnh của Thiên Chúa” hoặc Thiên Chúa thay đổi ý định của Ngài. Điều ấy không hiểu theo mặt chữ. Và (b) nếu nó không là một hình ảnh ẩn dụ nhưng là một sự giân giữ đúng nghĩa (hận), nó là sự phóng chiếu chính mối hận của chúng ta lên Thiên Chúa hơn là mối hận trong chính Thiên Chúa. Và (c) nếu đó là một sự thật khách quan nơi Thiên Chúa hơn là một sự phóng chiếu mang tính chủ quan từ chúng ta, thì nó ám chỉ đến sự thánh thiên và công bình của Thiên Chúa chứ không là một sự oán hận ngấm ngầm; đấy chính là sự giận dữ của Thiên Chúa trước tội lỗi chứ không phải đối với tội nhân. Thiên Chúa thực thi những gì Ngài đã rao giảng cho chúng ta: yêu mến tội nhân, ghét bỏ tội lỗi. Như những nhà phẫu thuật yêu mến bệnh nhân của họ, họ phải ghét những căn bệnh ung thư nơi bệnh nhân. Những kẻ bị đọa đày là những kẻ không chịu xa lánh tội lỗi bằng việc ăn năn thống hối. Mọi tội lỗi ắt gặp một kết cục tất yếu: bị loại trừ khỏi thiên đàng. Chỉ khi bám chặt vào tội lỗi, chúng ta mới bám chặt vào định mệnh ấy.

Thiên Chúa đầy lòng thương xót và sự tha thứ, nhưng chúng ta phải làm rõ về ý nghĩa của điều này. Tha thứ đòi hỏi sự tự do, nó phải được trao ban và đón nhận cách tự do giống như bất cứ món quà nào. Nếu chúng ta không ăn năn và cầu xin sự tha thứ của Thiên Chúa, chúng ta không thể nhận được món quà ấy – không vì Thiên Chúa giữ nó lại nhưng vì chính chúng ta tự giữ lại mình lại.

11. Một số người đã dạy hoặc cho rằng những người bị đọa đày là những người bị ép vào hỏa ngục, họ bị quẳng vào hỏa ngục ngược với ý mình. Điều này xem ra ngược với lý do căn bản cho sự hiện hữu của hỏa ngục: chọn lựa tự do của chúng ta và Thiên Chúa tôn trọng tự do ấy. Những kẻ bị đọa đày trong hỏa ngục không hưởng nếm hỏa ngục nhưng muốn điều ấy bởi nuông chiều sự ích kỷ thay vì tình yêu, cái tôi thay vì Thiên Chúa, tội lỗi thay cho sự ăn năn. Chẳng thể có thiên đàng nếu không có tình yêu tự hiến. Điều mà những kẻ bị đọa đày ao ước – hạnh phúc cho chính bản tính ích kỉ của họ – là điều bất khả thi thậm chí cả đối với Thiên Chúa. Điều ấy không hiện hữu và không thể hiện hữu.

12. Nếu hỏa ngục được chọn lựa cách hoàn toàn tự do, thì vấn đề không còn là sự giao hòa giữa hỏa ngục và tình yêu Thiên Chúa nhưng là giao hòa giữa hỏa ngục với tình trạng lành mạnh của con người. Trừ phi bị mất trí, có ai lại thích hỏa ngục hơn thiên đàng một cách tự do hay không? Câu trả lời là tất cả chúng ta đã chọn lựa như thế lúc này hay lúc khác. Mỗi một tội đã phản ánh sự nghiêng chiều này.

13. Có lẽ những lời phóng đại nhất về hỏa ngục được tìm thấy trong học thuyết của Calvin (không phải ai thuộc trường phải Calvin cũng tin) về một sự tiền định kép. Theo học thuyết này, Thiên Chúa quyết định và tạo ra một số linh hồn dành cho hỏa ngục trước khi chúng được sinh ra; Thiên Chúa muốn họ bị đọa đày. Điều này trái ngược với cả Kinh Thánh (Mt 18,14) lẫn chuẩn mực luân lý; làm sao người ta có thể yêu mến một Thiên Chúa ác nghiệt như thế?

Thật sự có một sự tiền định cho thiên đàng, giống như loại bản đồ chỉ đường giúp hướng đến con đương đúng cho một kỳ nghỉ hạnh phúc. Từ được tiền định sự tiền định có sử dụng trong Kinh Thánh (Rm 8,29-30; Ep 1,5.11). Tiền ở đây không thể được giải thích theo nghĩa đen vì Thiên Chúa không ở trong thời gian. Nhưng vấn đề quan trọng là Thiên Chúa ở đây là ai (loại Thiên Chúa nào). Chúng ta không được nghĩ rằng vì có hỏa ngục nên Thiên Chúa giống như một người cầm quyền ở một trại tập trung thần thiêng và Ngài, một cách thất thường, đã đẩy một số tù nhân vào phòng hơi ngạt và lại tha cho một số khác. Người Kitô hữu tin chính Thiên Chúa đã nói với họ là nên nghĩ về Ngài như thế nào, và họ luôn giữ trong trí những hình ảnh yêu thương về Ngài: người cha, người chủ chăn tốt lành, và như gà mẹ ủ ấp con thơ (Mt 23, 37)

Cách sử dụng đúng đắn và cách lạm dụng học thuyết về hỏa ngục

Những chống đối gay gắt nhất đối với học thuyết hỏa ngục thực sự là những chống đối hướng đến các bậc thầy tôn giáo – những người đã lạm dụng học thuyết này (Điều này đặc biệt thường thấy ở nơi những người Mỹ theo chủ thuyết nền tảng và những người Công Giáo Ai-len). Sự chống đối hệ ở chỗ: hỏa ngục có lẽ được phát minh ra vì sự thù ghét, sợ hãi, khao khát kiểm soát và vượt trội trên người khác, vì đó là hoa trái mà học thuyết này mang lại.

Tuy nhiên, sự chống đối tương tự cũng có thể được sử dụng để phản bác lại học thuyết thiên đàng: học thuyết thiên đàng cũng bị lạm dụng, đưa đến việc người ta thiếu lưu tâm thích đáng đến thế giới này và lung lạc người ta giống như củ cà rốt trên một cây gậy. Thật sự, bất cứ ý tưởng nào, dù đúng hay sai, cũng có thể bị sử dụng sai hoặc bị lạm dụng. Điều này chẳng nói gì cho chúng ta về sự đúng đắn hay sai lầm của nó.

Tại sao chúng ta phải tin và dạy về hỏa ngục? Trước tiên, lý do duy nhất đúng cho việc tin hay dạy bất cứ điều gì là: vì nó là sự thật, vì nó hiện diện. Nói cách khác, vì sự thành thật. Thứ đến, vì yêu mến, vì thương cảm, vì sợ rằng bất cứ một linh hồn đáng quý và được yêu mến nào đó sẽ phải kết thúc trong hỏa ngục vì không tin những dấu chỉ cảnh báo, như những đứa trẻ bị chìm vì tưởng mặt băng đủ dầy và những dấu hiệu cảnh bào đã bị lờ đi. Khi chiến tranh xảy ra, điều tối thiểu nhất mà chúng ta có thể làm là kêu gào “bình an, bình an khi chẳng có bình an” (Gr 8,11).

Những ai rao giảng sự thật này sẽ bị ghét bỏ, sợ hãi, gièm pha và chế nhạo như là những kẻ ngớ ngẩn, thống ái và là những kẻ lôi kéo. Cũng vậy, người Kitô hữu ngày nay cũng sợ hãi việc chia sẻ sự thánh thiện đặc thù của Thiên Chúa hơn là chia sẻ về hỏa ngục. (Bạn không đóng đinh một người vào thập giá vì người ấy nói với bạn những điều mà bạn thích nghe!) Bị gọi bằng một cái tên xấu xa là một giá nhỏ phải trả cho đặc ân đóng góp một đoạn trong sợi dây thừng dùng để cứu vớt một con người bé nhỏ nhưng đáng quý mà Chúa Kitô đã chết cho họ.

[Về mục lục]Trở về: [1], [2], [3], [4], [5], [6], [7], [8][9], [10], [11], [12]Đọc tiếp: [13], [14], [15]

*****

-13-

Ơn Cứu Đ

M

ột trong các giám mục thời danh nhất trong lịch sử New York đã gây sốc cho một đám đông cử tọa ở Bronx trong bài diễn văn nhận chức của mình cách đây nhiều năm. Người tiền nhiệm của ngài là một nhà quản trị, nhà gây quỹ, nhà tổ chức và là một “quí ông” lịch lãm có tiếng. Tuy nhiên, vị tân giám mục tuyên bố: “Tôi hiện diện nơi đây chỉ vì một lý do duy nhất. Mọi thứ tôi làm cho anh chị em chỉ nhắm một mục đích duy nhất: để cứu vớt linh hồn anh chị em.” Tiếc thay, hầu hết mọi người đã chưa bao giờ nghe ai nói như thế trước đây.

Lý do duy nhất để gây quĩ, để in Kinh Thánh và sách hát, để quét bụi dưới mỗi chỗ ngồi, chính là ơn cứu độ: sự kết hiệp với Thiên Chúa (theosis trong cách gọi của Chính Thống Giáo Đông Phương). Đó là công việc mà Giáo Hội đảm nhận.

Dường như Giáo Hội cũng dấn thân trong công tác phục vụ xã hội, tư vấn, quyên góp, chăm sóc hàng ngày – hàng tá những việc có giá trị tương tự mà trần thế dấn thân. Tại sao? Điều gì biện minh cho những công tác này? Mục đích chung cục của Giáo Hội trong tất cả những công việc này thì khác hẳn mục đích của thế gian, đó là ơn cứu độ. Đây là “sản phẩm” đặc trưng của Giáo Hội.

Tại sao lại cung ứng một sản phẩm giống y như những sản phẩm của các công ty khác đã có trên thị trường? Làm sao người ta lại hi vọng sẽ bán được một sản phẩm như thế? Đó là lý do Kitô giáo theo chủ nghĩa hiện đại hay tự do chẳng bán được gì, dù cho việc phục vụ của nó có bác ái đi chăng nữa. Lý do duy nhất cho bất kỳ một hoạt động nào của Giáo Hội, lý do duy nhất cho chính sự tồn tại của Giáo Hội cũng là chính là lý do Chúa Giêsu đến thế gian: để cứu độ nhân loại đáng thương và lạc lối. Giáo Hội, suy cho cùng, cũng mang lấy cùng một công việc như Đầu của mình.

Chúa Giêsu không đến để làm một vị triết gia hay bác sĩ. Nếu làm thế, Ngài đã thất bại. Ngài đã không giải quyết phần lớn các vấn đề của triết gia. Ngài chữa lành một vài người, nhưng đã để cho phần lớn thế giới yếu đau như trước đó. Ngài chữa lành một vài thân xác để cho thấy Ngài có thể chữa lành mọi linh hồn.

Ơn cứu độ không chỉ là lý do cho sự tồn tại của Giáo Hội, mà còn là lý do chung cục cho sự hiện hữu của bạn: tận cùng, mục tiêu, điểm nhắm, mục đich, niềm hi vọng, nguyên nhân chung cuộc, hạnh phúc tột đỉnh, ý nghĩa của bạn. Sự khác nhau giữa thành công và thất bại trong nhiệm vụ đầu tiên của cuộc đời – trở nên người mà bạn phải trở nên – không phải là sự khác biệt giữa giàu và nghèo, hữu danh và vô danh, khỏe mạnh và bệnh tật, niềm sướng vui và đớn đau, hoặc đáng yêu và xấu xí, nhưng là sự khác nhau giữa ơn cứu độ và sự đọa đày. Leon Bloy viết, “Chỉ có một tấn bi kịch: không trở thành một vị thánh”. Chúa Giêsu nói: “Đạt được cả thế gian mà mất linh hồn thì ích gì?” Trong lịch sử, chưa từng ai hỏi một câu thực tiễn hơn câu đó. Nói khác đi, đừng tham chiếm mọi thứ nhưng lại làm hỏng cuộc đời.

Đó là lý do tại sao những người bình dân, khác với các học giả, luôn đặt vấn đề ơn cứu độ khi họ nghĩ về tôn giáo. Và đó là lý do tại sao một quyển sách hộ giáo phải trình bày đề tài này; đó cũng là lý do hiện hữu của tôn giáo.

Đức tin và Việc làm

Vấn đề ơn cứu độ đã khơi dậy cuộc cải cách Tin Lành và làm Giáo Hội chia rẽ. Dường như đồng thời, cả người Tin Lành và Công Giáo giảng dạy hai tin mừng khác biệt tận căn, hai tôn giáo, hai câu trả lời cho điều căn bản nhất của mọi câu hỏi: Tôi phải làm gì để được cứu độ? Người Công Giáo nói rằng bạn phải tin lẫn làm việc lành để được cứu độ. Luther, Calvin, Wycliffe và Knox khăng khăng rằng chỉ có đức tin mới cứu bạn. Tiếc thay, cả hai bên đã công kích nhau trong suốt 450 năm qua. Nhưng có một bằng chứng mạnh mẽ cho thấy rằng đó căn bản là một sự hiểu lầm và đã đến lúc sự hiểu lầm ấy được giải tỏa.

Cả hai bên đều sử dụng những từ khóa, đức tinơn cứu độ, nhưng với những ý nghĩa khác nhau.

1. Người Công Giáo sử dụng thuật ngữ ơn cứu độ để chỉ toàn bộ tiến trình, từ khởi đầu của nó trong đức tin, ngang qua toàn bộ đời sống Kitô hữu với những việc bác ái trên trái đất, đến sự hoàn tất của nó trên thiên đàng. Khi Luther nói về ơn cứu độ ông ám chỉ bước khởi đầu – giống như đi vào trong con thuyền Noê.

2. Với từ đức tin, người Công Giáo chỉ về một trong ba “nhân đức đối thần” cần thiết (tin, cậy, mến), mà đức tin là niềm tin lý trí. Đối với Luther, đức tin nghĩa là chấp nhận Chúa Kitô với trọn con tim và linh hồn.

Như thế, vì người Công Giáo sử dụng từ ơn cứu độ theo một nghĩa lớn hơn và từ đức tin theo một ý nghĩa hẹp hơn, còn Luther thì sử dụng từ ơn cứu độ trong một ý nghĩa hẹp hơn và từ đức tin trong một ý nghĩa rộng hơn, nên người Công Giáo đã phủ nhận một cách hữu lý và Luther đã xác nhận một cách đúng đắn rằng chúng ta được cứu độ chỉ bởi đức tin.

Người Công Giáo dạy rằng ơn cứu độ gồm nhiều điều hơn đức tin, cũng như một cái cây gồm nhiều thứ hơn rễ cây. Ơn cứu độ cần đến thân cây (đức cậy) và hoa trái (đức mến) cũng như cả cội rễ (đức tin). Luther dạy rằng những việc lành không thể mua được ơn cứu độ, rằng tất cả những gì bạn cần làm và có thể làm để được cứu độ là chấp nhận ơn cứu độ, chấp nhận Đấng Cứu Độ, nhờ đức tin. Cả hai đều đúng.

Sự đồng thuận thực sự trong bản chất ẩn dưới một sự bất đồng bề mặt trong ngôn từ chẳng có gì đáng ngạc nhiên, vì cả người Công Giáo và Tin Lành đều chấp nhận chung một nguồn dữ liệu, Tân Ước.

Tân Ước dạy cả hai điểm: rằng ơn cứu độ là một ơn nhưng không, đạt được không nhờ việc tuân phục lề luật; và rằng đức tin chỉ là khởi điểm của đời sống bác ái Kitô giáo; rằng “sự công chính hóa” (được làm cho nên công chính với Thiên Chúa), nếu là thực, phải đưa đến “sự thánh hóa” (được nên thánh thiện, đức hạnh, tốt lành), rằng “đức tin không có việc làm là đức tin chết”.

Chân thành thôi chưa đủ

Vấn đề: Tại sao Thiên Chúa đòi hỏi một người phải tin vào Chúa Giêsu mới được cứu độ! Thiên Chúa còn muốn gì hơn ngoài một tấm lòng chân thành!

Trả lời: Trong bất kỳ lĩnh vực nào, trừ ra trong tôn giáo, không ai chấp nhận rằng chân thành thôi là đủ. Chân thành có thể là cần thiết nhưng không đủ. Liệu bác sĩ phẫu thuật, nhân viên kế toán hay người đại lý du lịch của bạn chỉ chân thành là đủ? Liệu chân thành thôi có đủ để cứu bạn khỏi ung thư, sự phá sản, tai nạn hoặc cái chết? Hẳn là không. Vậy tại sao bạn lại nghĩ rằng chân thành là đủ để cứu bạn khỏi sa hỏa ngục?

Giả định phía sau phản bác này đến từ một thay đổi quan trọng trong tư duy tôn giáo suốt mười chín thế kỷ qua. Trong khi hầu như tất cả những người thời xưa (không chỉ những Kitô hữu) tin rằng tôn giáo bàn đến những chân lý khách quan, cũng như y khoa, kinh tế học hay địa lý học bàn về các chân lý khách quan, những người đặc trưng cho thời hiện đại không tin như vậy. (Xem chương mười lăm về chân lý khách quan).

Người hiện đại tiêu biểu quan niệm về tôn giáo khác với hầu hết người tiền hiện đại ở bốn điểm căn bản.

1. Người hiện đại coi tôn giáo là chủ quan hơn là khách quan, như thể một cái gì đó trong chúng ta và trong nhận thức của chúng ta hơn là cái mà chúng ta và nhận thức của ta nằm trong nó. Những thầy dạy về tôn giáo hiện đại ít nói về Chúa hơn là về kinh nghiệm và việc thực hành tôn giáo của chúng ta.

2. Người hiện đại thấy tôn giáo mang tính thực tiễn hơn là lý thuyết, tốt lành hơn là đúng đắn, luân lý hơn là thần học, một khuôn mẫu để sống hơn là một bản đồ về thực tại. Thật vậy, nó trở nên thực dụng và tương đối: nếu nó tốt cho bạn, hãy sử dụng nó.

3. Người hiện đại coi tôn giáo như là một điều gì đó do con người tạo ra hơn là do Thiên Chúa; điều gì đó ta tạo ra hơn là khám phá ra; con đường ta đến với Chúa hơn là con đường Chúa đến với ta.

4. Người hiện đại nhìn nhận tôn giáo như là một phép cộng hơn là một phép trừ; một sự tự lớn lên hơn là tự chết đi; một thực tập hơn là phẫu thuật. Vì não trạng hiện đại đặc trưng không tin vào một thứ ôn dịch được định tên là tội. Nhưng chỉ chân thành thôi thì không đủ để loại bỏ tội, y như nó không thể loại trừ căn bệnh ung thư. Bạn cần một bác sĩ thực thụ. Bạn không thể tự mình trị căn bệnh. Bạn cần nhiều hơn một sự chân thành; bạn cần một Đấng Cứu Độ.

Liệu người ngoài Kitô giáo có được cứu độ?

Dù chúng ta trả lời có hoặc không cho câu hỏi liệu người ngoài Kitô giáo có được cứu độ hay không, ta dường như rơi vào thế lưỡng nan. Nếu ta trả lời không, sự phản đối tất bùng lên: vậy thì tất cả những người ngoài Kitô giáo đều sa hỏa ngục, ngay cả người ngoại tốt lành như Socrates. Ông ta đâu có lỗi gì khi không sống đúng thời hoặc không đúng nơi để gặp Chúa Giêsu hay một thừa sai Kitô giáo. Thật bất công và vô tâm khi Thiên Chúa đẩy hầu hết nhân loại vào hỏa ngục! Nếu chúng ta trả lời rằng người ngoài Kitô giáo như Socrates có thể được cứu, một vấn đề tự nhiên nảy sinh: Vậy thì trở nên một Kitô hữu để làm chi? Nếu cái mà Socrates có là đủ để lên thiên đàng, sao phải thêm một đòi hỏi nghiêm ngặt rằng Đức Giêsu là con đường duy nhất? Nói cách khác, nếu Socrates không được vào thiên đàng, Thiên Chúa không công bằng; còn nếu Socrates được vào thiên đàng, Chúa Giêsu không phải là con đường duy nhất.

Ơn cứu độ khách quan đối ngược với tri thức chủ quan về ơn cứu độ. Song luận trên không chỉ là một vấn đề đầy hóc búa mang tính kỹ thuật và thần học; nó là điều quan trọng nhất của mọi vấn đề, “Tôi phải làm gì để được cứu độ?” Để trả lời câu này, ta cần phân biệt rạch ròi giữa phương diện khách quan và chủ quan của vấn đề. Tân Ước cho chúng ta một câu trả lời rõ ràng, rốt ráo và chặt chẽ về khía cạnh khách quan, nhưng còn bỏ ngỏ phương diện chủ quan.

Về khách quan, Tân Ước khẳng định rằng Chúa Kitô là Đấng Cứu Độ duy nhất. Chính Đức Giê-su nhận rằng: “Thầy là con đường…. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy” (Ga 14, 6). Người Kitô hữu tin Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ duy nhất vì Ngài đã nói như vậy. Nếu điều này không đúng, Ngài chẳng phải là Đấng Cứu Độ, nhưng là kẻ nói dối, lộng ngôn và một tên ngốc tự kỷ không đáng tin.

Về chủ quan, chúng ta cần gì để được cứu độ? Tân Ước nói rằng chúng ta cần tin vào Ngài để được cứu độ, nhưng điều này nghĩa là gì? Đức tin loại nào? Không thể có nhiều loại Chúa Giêsu, nhưng có thể có nhiều kiểu tin khác nhau. Lằn ranh giữa Chúa Giêsu và tất cả những người khác đã được vạch rõ ràng; nhưng ranh giới giữa đức tin của Phêrô và đức tin có thể có của Socrates thì không rõ ràng lắm.

Nói rằng Socrates có thể đã có niềm tin vào Chúa Kitô nghĩa là gì? Để tin vào Chúa Kitô, bạn phải biết một chút nào đó về Người. Làm sao Socrates có thể biết về Chúa Kitô? Trong cùng cách thức, mọi người đều có thể tin vào Ngài xét như là “ánh sáng thật, ánh sáng chiếu soi mọi người” (Ga 1, 9), như là Ngôi Lời tiền nhập thể, Lời, Ánh Sáng, hay Lý Trí thần linh.

Không ai có thể biết Thiên Chúa mà không qua Chúa Kitô (Ga 1:18; Lc 10:22). Nhưng dân ngoại biết Thiên Chúa (Cv 17:28; Rm 1:19-20; 2:11-16). Vì vậy, dân ngoại biết Chúa Kitô. Vì Chúa Kitô không chỉ là bác thợ mộc người Do Thái cao 6 feet, 33 tuổi. Ngài là Ngôi Hai của Ba Ngôi vĩnh cửu, là sự biểu đạt đầy đủ, sự mặc khải, hay Ngôi Lời toàn vẹn của Chúa Cha (Col:15,19; Ga 14:9). Do đó, tín điều về thiên tính của Chúa Kitô – bị người theo chủ nghĩa tự do cho là “bảo thủ” hoặc “truyền thống” – lại chính là nền tảng để người theo chủ nghĩa tự do hi vọng rằng dân ngoại có thể được cứu.

Những hiểu hiết minh nhiên về Chúa Giêsu nhập thể thì không thiết yếu cho ơn cứu độ. Ví dụ, Abraham, Moses và Elijah không có những hiểu biết đó, nhưng họ vẫn được cứu độ (Chúng ta biết điều này từ Mt 17:3 và Lc 16:22-23). Ngôi vị ấy – Ngôi Hai trong Ba Ngôi – vừa là Ngôi Lời tiền nhập thể, Đấng đã “chiếu soi mọi người” đồng thời là Chúa Giêsu nhập thể, Đấng chỉ được một số người nhìn thấy. Ai biết Đấng này thì cũng biết Đấng kia, vì cả hai chỉ là một ngôi vị.

Tắt một lời, giải đáp của chúng ta là: Socrates (hay bất cứ người ngoại nào) có thể tìm kiếm Thiên Chúa, có thể sám hối về tội của ông, có thể tin một cách mù mờ và chấp nhận Thiên Chúa mà ông biết một cách mù mờ đôi chút, và do đó ông có thể được cứu độ – hoặc bị hư mất, nếu ông từ chối tìm kiếm, hối cải và tin vào Ngài. Luôn có đủ ánh sáng và cơ hội, đủ hiểu biết và chọn lựa tự do, để mọi người chịu trách nhiệm trước mặt Chúa. Thiên Chúa luôn công bằng. Và một Thiên Chúa công bằng thì phán xét cách công minh, không thiên vị; nghĩa là ngài phán xét tùy theo hiểu biết mà mỗi người có, chứ không theo sự hiểu biết mà họ không có (xem Jas 3:1).

Phản bác ơn cứu độ cho dân ngoại

Những người bảo thủ thường chống đối luận điểm này, vốn cho rằng dân ngoại cũng được cứu độ, và làm suy yếu động lực cho công cuộc truyền giáo. Tại sao phải dành cả đời, liều cả mạng sống, để nói cho thế giới biết về Chúa Giêsu nếu người ta có thể được cứu độ mà không cần đến sự hiểu biết này? Đây là một câu hỏi hay, và nó đáng được trả lời thỏa đáng.

Có ba lý do khả thi cho việc truyền giáo, nghĩa là kể cho người khác về tin mừng, “phúc âm” của Chúa Giêsu. (Dù sao đi nữa, mọi Kitô hữu được đòi hỏi trở nên nhà truyền giáo; Cuộc trao Sứ mạng lớn lao này (Mt 28:18-20) không chỉ dành riêng cho hàng giáo sĩ.) Đầu tiên, có một lý do mà nhiều người theo thuyết chính thống cực đoan đưa ra: chúng ta biết rằng thế giới sẽ sa hỏa ngục nếu không chấp nhận Chúa Kitô như là Đấng Cứu Độ của mình. Thứ hai, có một lý do mà nhiều người theo chủ nghĩa tân thời đưa ra: chúng ta chỉ muốn yêu tha nhân và chia sẻ với họ bất cứ thứ gì chúng ta có, muốn thực hiện một công tác xã hội trổi vượt. Chúng ta không tin hỏa ngục, và nếu chúng ta đã tin, chúng ta cũng không nghĩ có bất kỳ ai sa hỏa ngục cả, và nếu ta nghĩ có người sa hỏa ngục, chúng ta chỉ có thể nghĩ đến Hitler hoặc Stalin. Chúng ta không dấn thân cho công cuộc cứu độ, chúng ta chỉ làm công tác phục vụ xã hội. Thứ ba, có một lý do cổ truyền: chúng ta không biết chính xác ai đang trên đường sa hỏa ngục, đó là lý do ta liều mất tất cả để cứu một số người. Một bà mẹ không cần phải biết trước rằng con của bà chắc chắn sẽ sụp xuống băng và chết đuối thì mới la lên “Ra khỏi chỗ băng ngay!” Tất cả những gì bà cần biết là bà không biết rằng con bà sẽ không chìm, chúng cũng có thể chìm. Chúng ta biết rằng bất cứ ai đều có thể sa hỏa ngục, vì Chúa Giêsu đã nói thế. Chúng ta không theo chủ nghĩa tân thời. Nhưng chúng ta không biết chính xác những đứa con nào sẽ hư mất, vì Chúa Giêsu không cho ta biết. Do đó, chúng ta lớn tiếng cảnh báo và quăng phao cứu sinh cách mạnh mẽ y như những người theo thuyết duy nền tảng.

Ở đây có điều tương tự như phá thai. Có ba thái độ khả dĩ đối với việc phá thai, tương đương với ba lý do đã nêu ở trên về việc truyền giáo, được phân biệt bởi những gì mà bạn cho rằng mình biết. Một số người cho rằng linh hồn đi vào trong thân xác ngay lúc thụ thai, làm cho bào thai trở thành một con người, vì vậy, phá thai đồng nghĩa với giết người. Một số cho rằng điều này không đúng, nên phá thai không phải là sát nhân. Và một số người cho rằng không biết lúc nào linh hồn đi vào thân xác, [nên không biết] khi nào bào thai trở thành một con người. Dù lập trường hoài nghi này rất thường được thấy nơi những người ủng hộ phá thai, nó vẫn là một lý do đầy thuyết phục để ủng hộ sự sống. Nếu bạn không biết chắc rằng một đứa trẻ chưa sinh ra không phải là một con người và không có linh hồn, thì thật là nhẫn tâm và vô trách nhiệm dường bao khi liều mình lao vào khả thể giết người. Nó giống như việc xả súng vào một đường phố đông người, hoặc băng xe tải qua một đống quần áo có hình người.

Vô tri và liều lĩnh có thể là những lý do đáng kể để hành động, y như sự hữu tri và chắc chắn. Nếu bạn nghĩ con bạn có thể sẽ chết, bạn sẽ phóng nhanh đến bác sĩ như thể bạn biết con mình sẽ chết. Thật vậy, chủ nghĩa hoài nghi cởi mở của những người theo chủ nghĩa tự do và sự dấn thân hết tình của những người theo trào lưu chính thống cực đoan hoàn toàn tương hợp nhau.

Quan trọng hơn mọi tính toán về các khả thể này, cần nói thêm nữa về động lực cho công việc truyền giáo. Động cơ rao giảng tin mừng của chúng ta không chỉ là gia dân số thiên đàng và giảm thiểu dân số hỏa ngục, mà còn để mời gọi tha nhân bước vào đời sống thiêng liêng sâu xa hơn trong thế giới này: hiểu biết và yêu mến Chúa Kitô cách thâm sâu là điều mang lại lòng tín thác, hi vọng, niềm vui và bình an sâu xa. Không biết Chúa Kitô cách minh nhiên, có lẽ sẽ không có được những điều này. Và không có những điều này, sẽ không chắc chắn được cứu, dù ơn cứu độ có thể vẫn khả thi.

Tái bút

Điều quan trọng là làm rõ rằng ở đây chúng ta không khẳng định Socrates đã được cứu độ, hoặc bất kỳ người nào, nhiều người hay đa số người ngoại sẽ được cứu độ. Trước hết, chúng ta mời gọi những người theo thuyết chính thống cực đoan hay những người duy phúc âm – những người đã cho rằng lâp trường này quá “tự do” – đảm bảo chính xác lập trường của chúng ta là gì. Chúng ta đã lặp đi lặp lại rằng chúng ta đơn giản không biết ai hoặc bao nhiêu người sẽ được cứu độ.

Mặt khác, chúng ta cũng mời gọi những người theo chủ nghĩa tự do, những người bất nhẫn trong việc quy phục người theo trường phái chính thống cực đoan phải suy xét xem sự bất nhẫn của họ thực sự “tự do” đến mức nào, và duyệt xét lại động cơ của chính họ khi loại bỏ lời giáo huấn rõ ràng và được lặp lại nhiều lần của Chúa Kitô duy nhất mà chúng ta biết. Yêu mến tín đồ của các tôn giáo khác và trân trọng những điều đúng đắn và tốt đẹp có thể có trong các tôn giáo khác này không được phép làm chúng ta đui mù trước những sai lầm và khiếm khuyết của họ. Nếu Chúa Kitô là Đấng Cứu Độ duy nhất và tất cả các tôn giáo khác trên thế giới từ chối điều này, thì cách logic và thiết yếu, các tôn giáo ấy đã phạm một sai lầm chết người ở điểm then chốt này. Từ điều này, không thể suy ra rằng người ngoài Kitô giáo bị kết án, nhưng phải cho họ biết chân lý, vì tình yêu dành cho họ vì chân lý.

[Về mục lục]Trở về: [1], [2], [3], [4], [5], [6], [7], [8][9], [10], [11], [12], [13]Đọc tiếp:  [14], [15]                  

*****

-14-

Kitô Giáo và Các Tôn Giáo khác

K

hi dạy hộ giáo và triết học tôn giáo trong nhiều năm, chúng tôi thấy rằng các sinh viên ngày càng lo lắng và bối rối về các tuyên bố của những người Kitô giáo “không phải người Mỹ” theo chủ nghĩa bài trừ hơn là về bất cứ khía cạnh nào thuộc tôn giáo của họ. Trong thời đại của khoan dung và đa nguyên này, những tranh luận phổ biến nhất chống lại Kitô giáo dường như cho rằng Kitô giáo chỉ là một trong những tôn giáo mà thôi. Thế giới là nơi rộng lớn; “mỗi người một kiểu”; “đừng đặt lên người khác những giá trị của mình”.

Tôn giáo thực chất của hầu hết người Mỹ là sự bình đẳng; đó là giá trị hiển nhiên và tuyệt đối. Thiên Chúa phải là một người Mỹ, một ông chủ công bằng. Tất cả những ngả đường tôn giáo khác, nếu có ai theo cách chân thành, rồi cũng sẽ dẫn đến Thiên Chúa.

Cách nghĩ này rất dễ chấp nhận và có vẻ rất sáng sủa – cho tới khi một ai đó bắt đầu suy nghĩ một cách hợp lý và hỏi những câu hỏi khó, rõ kiểu như: liệu con đường của Jim Jone có dẫn đến thành phố Jonestown không? Hay dẫn đến vương quốc Satan? Vậy thì bạn vạch ra con đường đó ở đâu?

Xác định vấn đề

Chúng ta phải làm rõ ít nhất năm câu hỏi về vị trí của Kitô giáo liên quan đến các tôn giáo khác:

  1. Các tôn giáo khác có chân thực không?
  2. Chúng có tốt không? (Có tính luân lý không?)
  3. Chúng có tính cứu độ không?(Có thể cứu rỗi bạn không?)
  4. Chúng có tính giáo dục không? (Liệu người Kitô hữu có học hỏi được từ đó không?)
  5. Chúng có hữu ích không? (Liệu người Kitô hữu có nên thực hành những điều trong đó không?)

Các tôn giáo có chân thực không? Chúng ta không thể đặt câu hỏi này cho đến khi chúng ta đồng ý về cái gì được coi là “chân thực”. (Xem “Kết luận: Dòng cuối”). Nếu chúng ta sử dụng định nghĩa này theo nghĩa chung ở phương Tây, nghĩa là, ứng với thực tại khách quan, thì câu trả lời đúng dường như là một phần. (Nhưng khi chúng ta xem xét một chút ở các tôn giáo khác, đặc biệt ở các tôn giáo phương Đông, cũng có những định nghĩa khác về chân lý.)

Chúng ta có thể nói, ví dụ, rằng Ấn giáo là chân thực trong thuyết độc thần và sai lầm trong thuyết phiếm thần, hoặc nói rằng những khẳng định của Hồi giáo về cầu nguyện và công bằng là chân thực, nhưng việc từ chối Thiên Chúa có thể có một người Con là sai lầm.

Tuy nhiên, ý nghĩa đích thực nhất của chân lý thay đổi khi bạn đi sang phương Đông. Vì đối với một người theo thuyết phiếm thần, sự khác nhau giữa sự chân thực và sự sai lầm không thể là sự khác nhau giữa sự tương đồng và sự không tương đồng của ý nghĩ chủ quan với thực tại khách quan. Vì thực tại đối với người theo phiếm thần thuyết là một, không bao giờ là hai; chân lý không là sự tương đồng của ý tưởng nhưng là mức ý nghĩa của nó, có thể nói như vậy. Chỉ ý tưởng của Đấng Duy Nhất hoặc của Brahman hoặc của Nirvana là hoàn toàn “đúng”; tất cả những ý tưởng thấp hơn có phần đúng và có phần sai, chỉ là một phần của cái Toàn Thể.

Điều này làm cho những tranh luận giữa phương Đông (gồm Ấn giáo, Phật giáo, Lão giáo) và phương Tây (Do Thái giáo, Kitô giáo, và Hồi giáo) trở nên hết sức khó khăn. Đối với người phương Tây, họ tuyên bố người phương Đông là sai lầm về một số điểm, và người phương Đông tuyên bố rằng họ chẳng có gì sai trái cả. Một người Ấn giáo có thể tin mọi thứ, kể cả tin vào Kitô giáo, như là một phần của chân lý, hoặc như là một chặng của con đường đi tới chân lý toàn vẹn. Thậm chí những ý tưởng trái ngược có thể được chấp nhận là chân lý; vì thế việc cản trở cho đối thoại Đông-Tây chính là ở điểm này.

Những lập luận của người phương Đông cho rằng định nghĩa của họ về chân lý bao gồm định nghĩa của người phương Tây, nhưng ngược lại thì không được; nghĩa là người phương Đông thì bao hàm, còn người phương Tây thì loại trừ. Có thể đây là lý do chính yếu cho sự lan tràn của các tôn giáo Đông phương ở Tây phương ngày nay, đặc biệt ở mức độ bình dân và không chính thức. Không nhiều người Mỹ theo Ấn giáo, nhưng hầu hết họ đều thích khái niệm chân lý của người Ấn giáo so với khái niệm chân lý của người Tây phương, ít nhất về mặt tôn giáo.

Nhưng hoàn cảnh thực tế là có sự trái ngược: phương Tây truyền thống bao gồm phương Đông, không có ngược lại. Người phương Tây luôn nghĩ trực giác của người phương Đông có một cái gọi là các cấp độ về chân lý (ví dụ như cấp độ của hiểu biết, trực giác, chiều sâu, tương hợp, thông thái). Tuy vậy, người phương Tây thêm rằng cũng có một cấp độ như thế như nguyên lý không mẫu thuẫn. Các mệnh đề trái ngược không thể cùng đúng trong cùng một ý nghĩa tại cùng một thời điểm. Người phương Đông không thừa nhận điều này.

Lấy ví dụ, giả thuyết rằng có nhiều cấp độ chiều sâu về sự hiểu biết ý nghĩa của từ Thiên Chúa. Tuy nhiên, hoặc Thiên Chúa có một ý muốn và định ra một luật về luân lý, như người phương Tây tin, hoặc không tin, như người phương Đông tin. Không thể cả hai đều tin. Chính người phương Đông không thể thấy trực giác của người phương Tây ở đây, và chân lý thì hơn cấp độ hiểu biết về ý nghĩa của thuật ngữ; cũng vậy, hoặc giả thuyết là đúng hay không đúng, thực tế hay không thực tế.

Khi dùng ý nghĩa về chân lý của phương Tây, câu trả lời của chúng ta cho câu hỏi “Các tôn giáo khác có chân thực hay không?” là “Chắc chắn chân thực một phần nào đó. Thậm chí Satan cũng có thể nói một vài sự thật để tung ra những chiêu lừa bịp của hắn. Satan nói với những kẻ tin hắn một vài sự thật (ví dụ, Satan là có thật và đầy quyền lực, và chúng muốn chúng ta phạm tội như giết trẻ em để hiến tế). Rồi thì chúng ta sẽ tìm thấy nhiều hơn nhiều chân lý nơi những người thầy thông tuệ, nhân đức và khôn ngoan như Đức Phật, Đức Khổng Tử, và Môhamét. Tuy nhiên, điều đáng được xem xét là những chân lý của họ so sánh như thế nào với chân lý của Kitô giáo, và như thế nào khi chúng pha lẫn những điều sai lạc.

Duy chỉ có một tôn giáo “khác” mà người Kitô hữu có thể chấp nhận như là chân lý toàn thể đó là Do Thái giáo theo Kinh Thánh, vì lý do đơn giản rằng đây không phải là một tôn giáo “khác” nhưng là nền tảng của Kitô giáo. Chúa Kitô nói, “Đừng nghĩ rằng Ta đến để bãi bỏ lề luật và lời các ngôn sứ; Ta không đến để bãi bỏ nhưng là để kiện toàn” ( Mt 5,15). Người Kitô hữu tin mọi điều người Do Thái tin và còn hơn thế nữa; giống như người Công giáo tin mọi điều mà người Tin Lành chính thống tin và còn hơn thế nữa. Những người Do Thái hiện đại chê trách những người Kitô hữu vì họ tin quá nhiều thứ; giống như người Tin Lành chê người Công giáo tin vào quá nhiều thứ.

Các tôn giáo khác liệu có tốt không? Đâu là đạo đức và luân lý của các tôn giáo khác? Không kể Satan giáo, mỗi tôn giáo trên thế giới không chỉ có một vài nhưng có rất nhiều tính luân lý chân thực. Luật luân lý của các tôn giáo lớn trên thế giới không khác mấy trong nền thần học của chúng. Thậm chí bạn có thể tìm ra nhiều giá trị Chúa Giêsu đã dạy trong bài giảng Trên Núi nơi Plato, Lão Tử, hoặc Đức Phật, dù không chung trong một bối cảnh lịch sự về “Nước Trời.”

Tuy nhiên, có một vài khác biệt luân lý căn bản giữa các tôn giáo dựa trên niềm tin thần học khác nhau. Lấy ví dụ, giả thuyết rằng bạn là một người Ấn giáo chính thống. Bạn sẽ tin rằng (a) thân xác rốt cục chỉ là một sự tỏ hiện; (b) tất cả chúng ta phải làm việc vì nghiệp chướng (karma) chúng ta, hay vì định mệnh của chúng ta; và (c) sau khi chết, mỗi người, ngoại trừ những kẻ đã giác ngộ hoàn toàn, phải chịu nhiều kiếp luân hồi nữa. Vì những lý do này, bạn sẽ không phải nhanh tay cứu một đứa bé bị bỏ rơi sắp chết ra khỏi cái cống. Vì (a) một thân xác chết thì không quan trọng gì; (b) bạn có thể can thiệp vào nghiệp chướng của một người, hoặc học hỏi kinh nghiệm ngang qua đau khổ và sắp chết này; và (c) sự chết không phải là một bi kịch thê thảm vì nó không phải là kết thúc – chúng ta đi thêm vòng nữa và có thể có những cơ hội khác nhờ vào sự luân hồi.

Trái lại, nếu bạn là một người Kitô hữu hoặc một người Do Thái giáo hay người Hồi giáo, bạn phải hành động giống như người Samari tốt lành vì bạn tin rắng (a) thân xác là chân thực, tốt lành và quan trọng; (b) chúng ta không bị tất định nhưng được tự do (hoặc cả tất định và tự do); và (c) chúng ta chỉ sống một lần, vì thế, sự sống thì đáng quý vô ngần.

Tuy nhiên, những bất đồng loại này không phổ biến mấy. Thường hơn, không chỉ có những sự giống nhau thôi mà còn là những sự giống nhau đáng ghi nhận. Luật luân lý có thể được phân thành ba cấp độ: luật về sự sống thực tại, luật về công bằng khách quan, và luật về lòng vị tha. Tất cả ba luật này bảo chúng ta đừng đánh vỡ đầu người khác, nhưng với ba lý do khác nhau: để không bị đánh lại; vì điều đó không tốt đẹp gì, và vì chúng ta nên quảng đại như Thượng Đế, hoặc Thực Tại Tối Hậu. Mọi người biết cấp độ một, đa số các dân tộc văn minh biết cấp độ hai, nhưng cấp độ ba thì cao và hiếm. Tuy nhiên, tất cả các tôn giáo lớn trên thế giới đều dạy về ba cấp độ này.

Các tôn giáo khác có ơn cứu độ? Các tôn giáo khác có thể cứu rỗi bạn? Xem ra câu trả lời khá thoáng: Có nhiều chân lý và nhiều điều tốt lành luân lý nơi các tôn giáo khác. Bây giờ chúng ta sẽ xem xét một cách rất cẩn trọng. Kitô giáo không loại bỏ tuyên bố của mình về một đấng cứu độ duy nhất.

Tuy nhiên, như chúng ta đã thấy ở chương mười ba, tín điều về Chúa Kitô là Đấng cứu độ duy nhất không cần bắt phải kết luận rằng chỉ những Kitô hữu chính danh mới là những người được cứu độ. Các bản văn như thư thứ nhất gửi tín hữu Rôma và Gioan 1, 19 nói cho chúng ta biết Thiên Chúa chiếu ánh sáng vào tâm trí mọi người và nói với muôn dân tộc qua lương tâm, tiếng nói bên trong của Thiên Chúa. Kitô hữu không tuyên bố mình biết bao nhiêu người đáp lại sự hiểu biết về Thiên Chúa trong một cách thức như thế để được cứu độ; nhưng họ tuyên bố biết (vì Chúa Giêsu đã bảo họ) rằng nếu và khi và bằng cách nào một người được cứu độ, họ phải được cứu độ nhờ Chúa Giêsu, Đấng cứu độ độc nhất.

Những tuyên bố có tính riêng biệt của Kitô giáo không dành cho Kitô giáo nhưng cho các Kitô hữu của Chúa Kitô, là người tin Chúa Kitô là Thiên Chúa làm người, Thiên Chúa-trong-xác-phàm. Những tuyên bố của Người không thể bị sửa đổi, làm giảm đi, tương đối hóa, nhân nhượng hoặc biến thái thành một cái gì có thể chấp nhận được.

Nhưng chủ nghĩa loại trừ này không là một chủ nghĩa loại trừ của văn hóa Kitô giáo, của đạo đức Kitô giáo hoặc của những Kitô hữu như là những ứng viên duy nhất cho nước trời. Những tấn công vào chủ nghĩa loại trừ Kitô giáo một cách ngu xuẩn và ác tâm thường làm rối loạn ba chủ nghĩa loại trừ không thể bào chữa được này với một cái thực tế, cái mà hầu như chẳng bao giờ được thẳng thắn đối mặt. (Bạn có thường nghe một người nào đó không phải là Kitô hữu đối mặt với câu hỏi trọng tâm rằng những tuyên bố của Chúa Giêsu về chính mình là thật hay giả không?)

Các tôn giáo khác có tính giáo dục không? Các Kitô hữu có thể học hỏi sự khôn ngoan nào từ các tôn giáo khác không? Chắc chắn như thế! Kinh Thánh của chúng ta dạy rằng Thiên Chúa nói qua nhiều cách khác nhau với các tổ phụ Do Thái của chúng ta (Dt 1,1), Ngài đã không để mặc chính mình mà không có một chứng nhân giữa dân ngoại (Cv 17, 22-28; Rm 1, 19-20).

Có ích nhất ba lý do thuận lợi để các Kitô hữu học hỏi nơi các tôn giáo khác.

1. Để đánh giá tôn giáo của chúng ta tốt hơn bằng cách so sánh.

2. Để củng cố và đào sâu hiểu biết của chúng ta về những khía cạnh giống nhau trong tôn giáo của chúng ta. Lấy ví dụ, Khổng Tử có thể dạy chúng ta rất nhiều về sự hòa hợp thực tiễn xã hội, luân lý và vũ trụ; Lão Tử về sự thinh lặng vô hình của Thiên Chúa, là sức mạnh mềm dẻo trong tự nhiên; Đức Phật về tầm quan trọng của thing lặng và suy niệm; và, trên hết, Môhamét, về sự quy phục (islam) Thiên Chúa và ý muốn của Người. Tuy nhiên, sự cẩn trọng và nhận định luôn là điều cần thiết nhất, đặc biệt khi những giáo huấn này không chỉ được học hỏi từ bên ngoài vào nhưng phải được hội nhất với chính cuộc sống con người từ bên trong.

3. Để tìm kiếm chân lý bất cứ nơi đâu có thể. Tất cả chân lý là chân lý của Thiên Chúa. Chúng ta không biết chân lý ở đâu cho tới khi chúng ta tìm kiếm. Vì thế, chúng ta nên tìm khắp mọi nơi, nếu chúng ta đánh giá cao chân lý, như cha mẹ kiếm tìm quý tử.

Các tôn giáo khác liệu có hữu ích không? Một Kitô hữu có nên dùng một vài kỹ thuật thiền của Phật giáo hay không? Các Kitô hữu Trung Hoa có nên coi Đức Khổng Tử như là bậc thầy của họ về đạo đức xã hội chăng? Các Kitô hữu theo chủ nghĩa hòa bình có nên học từ những phương pháp của Gandhi không? Các Kitô hữu gốc Do Thái có nên tổ chức những ngày lễ của người Do Thái hay không?

Những câu hỏi như thế nên được đặt ra với một sự quan tâm lớn, vì tôn giáo là sự phục vụ năng động và thực tế cho Thiên Chúa, các thần, thiên thần hay ma quỷ. Trước khi những người Kitô hữu sử dụng một câu thần chú từ một người thầy Chiêm niệm Cao siêu, họ nên chắc rằng nó không phải là tên của ma quỷ, được ngụy trang-vì nó thường như vậy! Trước khi mở lòng ra với việc thiền định, họ nên chắc rằng việc đó hướng mở lên Thiên Chúa, chứ không phải vào hư vô – bởi vì trong Thiền không có sự khác biệt! Việc nhận định là cần thiết, trong những điều căn bản. Sự ôm đồm không phân định hay sự loại trừ không phân định, cả hai luôn là điều thiếu suy xét như nhau.

Mặt khác, chúng ta phải nhớ rằng những phương pháp Đông phương đã được phát triển như là những phương tiện cho mục đích phi Kitô; và có sự kết nối cơ cấu giữa phương tiện và mục đích. Đối với người phương Đông, cùng đích là thần bí; thần tính chỉ là một phương tiện. Đối với người Kitô hữu (và người Do Thái và người Hồi giáo), cùng đích là thần tính; thần bí chỉ là phương tiện để dẫn đến kết quả cao hơn này. Đối với một tín đồ Ấn giáo hay một tín đồ Phật giáo, thần tính chỉ thanh tẩy linh hồn của cá nhân để nó có thể nhìn thấu chính nó như là một ảo giác. Đối với những người Kitô hữu, chủ nghĩa thần bí chỉ như là một phần thưởng của thần tính hoặc như là động cơ cho nhiều thần tính khác.

Chúa Kitô truyền cho chúng ta hãy yêu mến Thiên Chúa; người Ấn giáo bảo chúng ta là Thiên Chúa. Chúa Kitô bảo chúng ta hãy yêu mến láng giềng của mình; Đức Phật bảo chúng ta là láng giềng của chính mình. Đích điểm của người phương Đông là phải nhìn xuyên thấu ảo tưởng của cái tôi, linh hồn, thân xác, bản thân, người khác, vật chất, không gian, thời gian, thế giới, sự lành, sự dữ, sự thật, sai trái, cái đẹp, cái xấu, cái này và cái kia. Đích điểm của người Kitô hữu là biết, yêu mến, làm vui lòng, phụng sự, kết thân và vui thú với Thiên Chúa ở đời này và đời sau.

Ngoài ra, trong khi Kinh Thánh dạy ta rất nhiều về nửa thứ hai của lệnh truyền là “hãy ra sức nhận biết Ta là Đức Chúa”, điều này nói cho chúng ta rất ít về việc làm thế nào để thực hành nửa thứ nhất. Về nguyên tắc, một vài kỹ thuật có tính tự nhiên và não trạng của người phương Đông có thể bị tách khỏi cùng đích của người phương Đông và được gắn nhập vào việc phục vụ cho cùng đích của người Kitô.

Chính các vị thánh, chứ không phải các nhà thần học, là những người hướng dẫn cho chúng ta trong việc nhận định này.

Vấn đề quan trọng nhất trong “các tôn giáo so sánh” không phải là những vấn đề trừu tượng và chung chung nhưng là vấn đề cụ thể và riêng biệt về căn tính của Chúa Giêsu. Lãnh vực “các tôn giáo so sánh” đưa ra cho những ai không muốn chấp nhận tuyên bố của Chúa Giêsu về mình là Thiên Chúa, một con đường vòng khác để tránh dẫn đến Người, số còn lại trốn tránh chừng nào có thể việc lập luận về thiên tính của Người như được giới thiệu ở chương tám. Có lẽ Chúa Giêsu không phải là Thiên Chúa, không là kẻ nói dối cũng không là người mất trí hay nhà thần bí nhưng là một bậc thầy (guru).

Theo lý thuyết này, chúng ta nên giải thích tuyên bố của Người về thiên tính của mình không phải trong ý nghĩa của người Kitô hữu, người Do Thái hay người phương Tây nhưng trong ý nghĩa của người Phật tử, người Ấn giáo và người phương Đông. Vâng, Chúa Giêsu là Thiên Chúa, Người biết điều đó, tuyên bố điều đó – nhưng tất cả chúng ta là Thiên Chúa. Chúng ta không phải là những nhà thần bí, cũng không được soi sáng để nhận ra điều đó. Chúa Giêsu là nhà thần bí được soi sáng, một bậc thầy, người nhận ra chính thiên tính bên trong của mình. Ngày nay và cũng như trong quá khứ, có hàng ngàn người xưng mình là Thiên Chúa nhưng họ chỉ là những kẻ nói dối hay là những người mất trí. Họ là những bậc thầy, những nhà yoga, thiền định, “những bậc thầy thiêng liêng”, những nhà thần bí “giác ngộ”. Tại sao Chúa Giêsu không thể nào khớp với tầng lớp khá nổi tiếng và vững vàng này?

Vì một lý do hết sức đơn giản: bởi vì Ngài là một người Do Thái. Không một guru nào là một người Do Thái cũng như chưa hề có người Do Thái nào là một guru. Những sự khác biệt, hay xa hơn, là những sự mâu thuẫn-giữa Do Thái giáo của Chúa Giêsu và lời dạy của tất cả các guru, người Ấn giáo, người Phật giáo, Lão giáo hay Kỷ nguyên Mới, thì quá nhiều, quá bao la và quá rõ ràng. Tuyệt nhiên không có tính lịch sử, không có gốc rễ cho thấy Chúa Giêsu như là một người Ấn giáo mà không phải là một người Do Thái; như một kiểu mẫu mang tính phổ quát về “lương tâm được giác ngộ”. Bạn không thể bỏ qua tính Do Thái của Ngài.

Nếu Chúa Giêsu thật sự là một guru hay một nhà thần bí, người siêu vượt và khác với những người dân Do Thái của mình, thì cuối cùng Ngài cũng thất bại trong việc đưa ra một trong những lời dạy của các guru nhằm tiếp cận với mọi người, hơn nữa, trong vòng gần hai ngàn năm. Ngài sẽ là vị thầy tồi nhất trong lịch sử nếu Ngài lừa lọc tất cả những ai theo Ngài về một trong những điểm trọng yếu nơi mà Do Thái giáo và chủ nghĩa thần bí phương Đông mâu thuẫn với nhau.

1. Do Thái giáo là một tôn giáo công khai tuân giữ tất cả những lề luật chung (Torah) và tin vào một cuốn sách chung (Kinh Thánh). Nhưng các guru và các nhà thần bí của tất cả các nền văn hóa dạy về kinh nghiệm bên trong, cá nhân và riêng tư mà không thể nào được thông tri bằng lời.

2. Các nhà thần bí phương Đông và các guru tin vào một Thiên Chúa có tính phiếm thần và ở mọi nơi. Với họ, “sự giác ngộ” hệ ở việc nhận ra rằng chúng ta và mọi thứ khác rốt cục đều là Thiên Chúa. Giáo lý độc đáo của Do Thái giáo tin rằng Thiên Chúa thì khác biệt với thế giới. Người tạo ra thế giới từ hư không. Có một khoảng cách vô biên giữa Đấng Tạo hóa và thụ tạo. Việc nhầm lẫn hay xác định một thụ tạo với Đấng tạo hóa là tội thờ ngẫu tượng, một tội trọng khủng khiếp.

Nếu một người Ấn giáo nói với vị thầy của mình, “Tôi vừa mới khám phá ra mình là Thiên Chúa,” phản ứng lại sẽ là “Xin chúc mừng. Cuối cùng anh cũng đã ngộ ra” Nếu một người Do Thái cũng nói như thế cách đây hai ngàn năm, phản ứng trở lại sẽ là việc ném đá (Jn 8,32-59) hoặc bị đóng đinh (Jn 19,1-7).

3. Với những người Do Thái, Thiên Chúa là một ngôi vị. Mặc khải cao nhất của Thiên Chúa cho Môsê trong bụi gai bốc cháy khi Người nói với Môsê về danh tánh đích thực vĩnh cửu của Người: “TA LÀ”. Với những người Do Thái, “TA”, là danh của Thực Tại Tối Cao-Thiên Chúa.

Đối với những guru, “TA” là danh của một sự lý tưởng tối hậu. Cá nhân, cá vị, bản thân là những lý tưởng cao nhất, những cái phải được thấu triệt và giải nghĩa để chúng ta đạt đến chân lý tối hậu về sự giác ngộ. Khác với bản chất tự nhiên của thực tại tối hậu trong Thiên Chúa, nó không có thực ở bên trong chúng ta.

4. Đối với các nhà thần bí, thời gian và lịch sử cũng là những điều không có thực chút nào, hoàn toàn hão huyền và là sự phóng chiếu của một trạng thái chưa được sự giác ngộ. Giác ngộ bao gồm sự giải thoát khỏi thời gian. Sự cứu độ được tìm thấy trong phi thời gian. Nhưng đối với người Do Thái, thời gian và vật chất (những cái liên hệ với nhau) là có thực bởi vì Thiên Chúa đã dựng nên chúng. Đối với Do Thái giáo, Thiên Chúa được biết đến, được yêu mến và được phụng sự trong thời gian. Do Thái giáo là một tôn giáo có tính lịch sử

Đối với nhà thần bí, sự cứu rỗi nằm ở kiếp trước khi nhận ra căn tính nguyên thủy của chúng ta với mọi sự. Nhưng đối với người Do Thái, sự cứu rỗi cốt ở việc Thiên Chúa thực hiện công trình của Người (“ngày của Đức Chúa”) trong tương lai, trong thời gian, trong lịch sử, trong thời đại Mêsia. Các nhà thần bí nhìn vượt khỏi thời gian hoặc kiếp sau; người Do Thái nhìn vào thời gian và tương lai.

5. Các nhà thần bí tin rằng Thiên Chúa thì bất khả tri, ngoại trừ bằng kinh nghiệm thần bí phi thế giới. Người Do Thái tin Thiên Chúa đã làm cho Người được biết đến một cách rộng khắp bằng việc làm và bằng lời, qua những bản văn được thần hứng.

6. Đối với người Do Thái, Thiên Chúa là đấng sáng tạo năng động. Đó là lý do tại sao Người luôn được hình dung như là một người đàn ông-như nhà vua, người chồng, chiến binh. (Một lý do khác là sự siêu vượt của Người; xem cuối chương bốn.) Tôn giáo không phải là việc chúng ta tìm kiếm Thiên Chúa nhưng là việc Thiên Chúa tìm kiếm chúng ta.

7. Thiên Chúa của người Do Thái là một nhà luân lý. Chính Người là luân lý, công chính, thánh thiện; và lệnh truyền Người đưa ra cho chúng ta là “Hãy nên thánh, như Ta là đấng thánh.” Người đưa ra các giới răn. Người có một ý muốn. Người luôn rạch ròi. Người ghét sự ác và ưa thích sự thiện.

Thiên Chúa phiếm thần của các guru không có ý chí, không có lề luật, không có sở thích. Người hoàn toàn không thể được phân biệt, giống như tính phi luân lý hiện đại của những người phương Tây. Đối với các guru, luân lý là sự chuẩn bị tốt nhất cho việc giác ngộ, là phương tiện để giải phóng tâm trí khỏi những đam mê (và tình yêu); tệ nhất, luân lý là một ảo tưởng có tính nhị nguyên. Đó là phát kiến của chúng ta, không phải của Thiên Chúa. Thiên Chúa của họ thì “vượt xa sự lành và sự dữ.”

8. Một lý do chính khác giải thích tại sao các tôn giáo phương Đông khá phổ biến giữa những người thời nay trước kia là người Do Thái giáo hay người Kitô hữu là chúng không có hỏa ngục. Có thể chỉ có một sự chuộc lỗi tạm thời-ví dụ, đầu thai ở đời này và hóa kiếp ở đời kế tiếp (The Tibetan Book of the Dead)-nhưng rồi cuối cùng mọi người ai cũng tự động đi vào thiên đường. Thiên Chúa của những guru không phán xét hay trừng phạt tội lỗi. Không có tội lỗi, không có sự xa cách Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tất cả.

Do Thái giáo Thánh Kinh và chính thống, như Kitô giáo, dạy về sự công bình và sự phán xét cuối cùng và vĩnh cửu. Không ai có thể tự mình đảm bảo được ơn cứu độ. Sự tồn tại của hỏa ngục là hợp lý, đến từ hai giáo lý rõ ràng của Kitô giáo và Do Thái giáo: sự phân biệt giữa Đấng tạo hóa và thụ tạo, giữa Tạo hóa và ý chí tự do của con người. Những người theo phiếm thần thuyết không thể tin vào hỏa ngục bởi vì chúng ta không có tự do để lựa chọn nó. Những người Do Thái chính thống và những Kitô hữu chính thống tin vào khả năng có hỏa ngục (sự xa cách muôn đời với Thiên Chúa) bởi vì chúng ta không phải là các phần của Thiên Chúa, và chúng ta tự do chối bỏ Người. Còn về Chúa Giêsu thì sao? Chúa Giêsu đã tin mạnh mẽ và rõ ràng vào hỏa ngục, và đã nói nhiều về nó. Vì thế, chúng ta có tám điều hết sức mâu thuẫn với nhau, tất cả rất quan trọng giữa lời dạy của Chúa Giêsu như chúng ta có trong Tân Ước và những lời dạy của các nhà thần bí và guru phương Đông. Nếu xếp Chúa Giêsu như là một guru thì cũng y chang như việc xếp Marx như là một nhà tư bản.

[Về mục lục]Trở về: [1], [2], [3], [4], [5], [6], [7], [8][9], [10], [11], [12], [13] [14] ; Đọc tiếp: [15]                 


*****

-15-

Chân Lý Khách Quan

T

ừ quan điểm thực hành, câu hỏi về liệu chúng ta có thể biết chân lý khách quan là một trong những câu hỏi quan trọng trong hộ giáo, vì ngày nay hầu hết các tranh luận giữa những người Kitô giáo với những người không là Kitô giáo rốt cuộc cũng quay về vấn nạn này. Điều thường xảy ra là: sau khi Kitô giáo đạt thắng lợi trong cuộc tranh luận quan trọng, những người không là Kitô giáo, vì không thể bác lại các lập luận của Kitô giáo, để lại kết luận sau: “những gì các anh nói có thể đúng với các anh, nhưng với chúng tôi thì không. Chân lý thì tương đối. Các anh lấy quyền gì mà áp đặt niềm tin của các anh lên chúng tôi? Các anh là quan tòa chắc!”

Chiến thuật hộ giáo Kitô giáo phải sẵn sàng đối diện với động thái này. Chúng ta phải được chuẩn bị để tỏ cho các người phản đối chúng ta thấy (ví dụ, bạn bè của chúng ta) rằng họ lẩn tránh bằng chủ nghĩa tương đối và chủ nghĩa chủ quan chỉ sau khi họ thất bại trong cuộc tranh luận, nhưng sẽ không bao giờ như thế nếu như họ chiến thắng, hay nghĩ rằng họ đã chiến thắng.

Các hậu quả mà chủ nghĩa chủ quan và chủ nghĩa tương đối về chân lý phá hủy không chỉ hộ giáo mà còn cho liêm khiết tri thức và cuộc sống. Vì nếu như chân lý là khách quan, nếu như chúng ta sống trong một thế giới không do chúng ta tạo ra và không thể thay đổi nó chỉ bằng ý nghĩ, nếu như thế giới không là giấc mơ của riêng chúng ta, thì cái mà phá hủy niềm tin nhất chúng ta có thể tin được sẽ là việc từ chối chân lý đệ nhất này. Nó tương tự như việc bạn nhắm mắt lại trong khi lái xe, hay phớt lờ cách vui vẻ những cảnh báo của bác sĩ,” (C. S. Lewis, “Thuốc độc của Chủ nghĩa chủ quan,” trong các suy tư Kitô giáo).

Trong tất cả các triệu chứng thối nát trong nền văn minh suy đồi của chúng ta, chủ nghĩa chủ quan thì tai hại hơn hết. Một lỗi phạm có thể được khám phá ra và được sửa chữa nếu và chỉ nếu chân lý hiện hữu và có thể biết được và được yêu mến và được tìm kiếm. Nếu một nhà phẫu thuật đóng mắt vì không muốn nhìn thấy ánh sáng trong phòng mổ, thí sẽ không có cơ hội nào cho cuộc phẫu thuật thành công và bệnh nhân sẽ được cứu.

Định nghĩa từ Khách quan

1.Từ khách quan trong cụm từ “chân lý khách quan” không liên quan đến một thái độ vô cảm, từ bỏ hay vô nhân đạo. Chân lý không phải là một thái độ. Chân lý không là chúng ta biết như thế nào, chân lý là những gì chúng ta biết.

2. Khách quan không có nghĩa là “được mọi người biết đến” hay “được mọi người tin.” Dẫu cho ai đó tin một điều là sai, nó vẫn là điều sai. “bạn không thể tìm thấy chân lý bằng cách đếm những cái mũi.”

3. Khách quan không có nghĩa “được chứng minh cách công khai.” Một chân lý khách quan có thể được biết một cách cá nhân – ví dụ, vị trí của một kho tàng bị ẩn giấu. Nó cũng có thể được biết mà không cần được chứng minh; biết là một sự vật, đưa ra những bằng chứng tốt hay những lý lẽ cho trí của bạn là một điều khác.

Những gì khách quan nghĩa là trong “chân lý khách quan” thì “độc lập với người biết và với ý thức của anh ta.” “tôi ngứa” là một chân lý chủ quan; “Plato viết nền cộng hoà” là một chân lý khách quan.” Tôi không muốn là kẻ ích kỷ” là một chân lý chủ quan; “tôi phải là người không ích kỷ dẫu cho tôi có muốn hay không” là một chân lý khách quan.

Định nghĩa Chân lý

Trong một nghĩa nào đó, toàn bộ đề tài giữa người chủ quan và người khách quan là định nghĩa về chân lý. Định nghĩa mà chúng ta nêu lên ở đây mang ý nghĩa chung chung; nó là những gì mà hầu hết mọi người và các nền văn hoá trong mọi thời và mọi nơi có ý nói…nhưng người chủ quan sẽ không đồng ý với định nghĩa của chúng ta. Bản thân định nghĩa này là “một người khách quan.” Vì thế vấn đề chính ở đây là chính định nghĩa. Vì thế chúng ta sẽ so sánh và đánh giá 5 định nghĩa khác nhau về chân lý sau khi đã đưa ra một định nghĩa đúng.

Aristotle, bậc thầy của triêt học theo nghĩa nào đó, định nghĩa những gì bình thường người ta có ý nói bằng chân lý chẳng hạn “khi nói những gì là của cái nó là và những gì không là của cái nó không là”. Chân lý có nghĩa tương ứng với những gì bạn biết hay nói với những gì là. Chân lý có nghĩa là “nói về nó như nó là.”

Các lý thuyết khác nhau về chân lý

1. Lý thuyết mang tính thực dụng về chân lý “chân lý là cái gì hữu hiệu.”

Vì “cái gì hữu hiệu” thì chủ quan và tương đối (cái gì bạn nghĩ hữu hiệu, hay cái gì hữu hiệu cho bạn), chủ nghĩa thực dụng là một hình thức của chủ nghĩa chủ quan và chủ nghĩa tương đối.

Chesterton bác bỏ chủ nghĩa thực dụng khi nói rằng “nhu cầu trong chủ nghĩa thực dụng của con người thì lớn hơn kẻ thực dụng.” Vì không có điểm dừng, không một ai sẽ làm việc cho bất cứ phương tiện thực tế nào. “Phương tiện” có nghĩa là “phương tiện cho cùng đích.” Không có một cùng đích thực dụng nào, nên không ai có thể là thực dụng. Chủ nghĩa thực dụng không hành động, nó không có tính thực hành.

2. Lý thuyết theo chủ nghĩa thực nghiệm về chân lý: “Chân lý là điều ta có thể cảm nhận bằng giác quan.”

Chủ nghĩa thực nghiệm với lý thuyết về chân lý có vẻ như lập nên một ưu tiên từ lúc ban sơ, hơn là cách thực nghiệm và từ kinh nghiệm, mà loại trừ linh hồn, tinh thần, Thiên Chúa, thiên đàng, luật luân lý khách quan khỏi lãnh vực các chân lý chủ quan.

Tự bản thân chủ nghĩa thực nghiệm không là một bản báo cáo mang tính thực nghiệm, khảo sát, kinh nghiệm về làm thế nào mà chúng ta thực sự dùng các từ ngữ (như tinh thần); thay vào đó, nó là một điều duy lý, một giáo thuyết thuộc về hệ tư tưởng ưu tiên. Chủ nghĩa thực nghiệm thì không đủ thực nghiệm.

3. Lý thuyết mang tính duy lý về chân lý: “Chân lý là điều chúng ta có thể hiểu được cách rõ ràng và rạch ròi bằng lý trí,” hay “chân lý là điều chúng ta có thể chứng minh được bằng lý trí”

Cũng như chủ nghĩa thực dụng không mang tính thực dụng và chủ nghĩa thực nghiệm không mang tính thực nghiệm, chủ nghĩa duy lý không mang tính duy lý. Bạn không thể chứng minh rằng chân lý chỉ là điều có thể chứng minh được. Và nó cũng không hoàn toàn rõ ràng rằng mọi chân lý là hoàn toàn rõ ràng. Quả thật, nhiều chân lý không thể chứng minh được: ví dụ, nguyên lý bất mâu thuẫn (X không tương đương với phi-X). Điều này được giả định trong mọi bằng chứng, để cố gắng chứng minh nó luôn phải nại đến câu hỏi; nó giả định điều bạn muốn chứng minh. Nhiều chân lý quan trọng cũng không rõ ràng: ví dụ, chân lý rằng mọi người thì vừa tốt vừa xấu, được hòa lẫn vào nhau cách mầu nhiệm; hay rằng “cuộc sống thì đáng sống.”

4. Lý thuyết có kết cấu mạch lạc về chân lý: “Chân lý không là một tương quan tương ứng giữa một ý tưởng và đối tượng ngoại biên của nó, nhưng là sự gắn kết chặt chẽ hay duy nhất hay sự hòa hợp giữa một chuỗi các ý tưởng.” Chân lý là một sự nhất quán, toàn thể hay tổng thể các ý tưởng.

Lý thuyết kết cấu chặt chẽ giả định chân lý về điều gì đó giống như lý thuyết tương ứng. Vì nó tuyên bố rằng nó đúng, nghĩa là, lý thuyết này thực sự nói cho chúng ta cái nó thực sự là nó – hay tương ứng với các sự kiện, tình huống thực, cách nó thực sự là – và lý thuyết khác (tương ứng) không như thế. Vì vậy nó mâu thuẫn với chính nó. Lý thuyết kết cấu chặt chẽ lại không chặt chẽ. Mọi lý thuyết về chân lý, một khi chúng được diễn giải rõ ràng và đơn giản, tiền giả định rằng quan niệm chung về chân lý mà đã được cất giấu trong sự khôn ngoan của ngôn ngữ và trong truyền thống sử dụng nó, đơn thuần là lý thuyết tương ứng (hay căn tính). Vì mỗi lý thuyết tuyên bố rằng nó thì thật sự đúng, và rằng các lý thuyết khác đều sai, nghĩa là, rằng chúng đã sai tương ứng với thực tại.

Chủ nghĩa chủ quan phổ quát

Chủ nghĩa chủ quan phổ quát tuyên bố rằng mọi chân lý là chủ quan, nghĩa là, “trong” hay phụ thuộc vào người biết. Đây là một mâu thuẫn nội tại. Mâu thuẫn nằm trong chân lý rằng chủ thể tuyên bố chân lý thực sự, cách khách quan, chủ quan. Nếu họ đã chỉ tuyên bố rằng tính chủ quan nơi chân lý là một chân lý chủ quan, chỉ là ý kiến cá nhân hay cảm xúc trong tâm trí của chủ thể, thì họ sẽ không tuyên bố rằng lý thuyết chủ quan là thật sự đúng và lý thuyết khách quan là sai. Trong trường hợp đó, họ sẽ hoàn toàn không thực sự bất đồng với các điều đối nghịch tí nào cả.

Người theo trường phái chủ quan thì có sai lầm đối lập với người thuộc trường phái hoài nghi. Người thuộc trường phái hoài nghi nói rằng chân lý không ở trong ai. Người theo trường phái chủ quan nói rằng chân lý ở trong mọi người. Người theo trường phái hoài nghi phủ nhận chân lý; người theo trường phái chủ quan phủ nhận sai lầm. Với họ, mọi điều đều đúng “cho” mọi người; vì chân lý là “đúng cho tôi” nhưng không thật cần thiết phải đúng cho anh,” vì việc nối kêt giữa “đúng với tôi” với “đúng cho anh” cụ thể là chân lý khách quan phổ quát, bị bỏ qua.

Nhưng nếu chân lý chỉ là chủ quan, chỉ đúng cho tôi nhưng không đúng cho anh, thì chân lý đó – cái “chân lý” của chủ nghĩa chủ quan – cũng không đúng, mà chỉ “đúng cho tôi”(ví dụ, đúng cho người theo trường phái chủ quan.) Vì thế người theo trường phái chủ quan không nói rằng chủ nghĩa chủ quan thì thật sự đúng và chủ nghĩa khách quan thì thật sự sai, hay rằng người theo chủ nghĩa khách quan thì hoàn toàn sai lầm. Anh ta không thách thức đối thủ của mình, không tranh luận, không bàn cãi, chỉ là “chia sẻ những cảm giác.” “tôi cảm thấy tốt” không mâu thuẫn hay khước từ tuyên bố của anh “tôi cảm thấy ốm.” Chủ nghĩa chủ quan không phải là một “chủ nghĩa”, không triết lý. Nó không đạt đến mức độ đáng để lưu ý hay khước từ. Lời tuyên bố của nó như là “tôi khao khát,” chứ không là “tôi biết.”

Chủ nghĩa chủ quan tôn giáo

Chủ nghĩa chủ quan tôn giáo rất phổ biến trong thời đại hôm nay. Nó xem mọi điều không là thật, và chân lý tôn giáo như là “thật đối với anh nhưng không thật đối với tôi” điều này thực sự có nghĩa là nó xem chân lý tôn giáo như là cảm xúc, hay một mẫu nhạy cảm, hay một thứ gì đó giúp chúng ta đương đầu với những khó khăn và sống thành tựu hơn, hay là một tập hợp các ý niệm và các giá trị, hơn là như kinh tin kính, hay như các tuyên bố hoặc đúng hoặc sai vì chúng tuyên bố việc mặc khải các sự kiện, như “Đức Kitô đã chết, sống lại, và Ngài sẽ lại đến.”

Tôn giáo bao hàm mọi chiều kích khác này, nhưng tôn giáo cũng khẳng định sự kiện – các tuyên bố (ví dụ, một đấng toàn năng, toàn thiện, và toàn tri và như vậy Thiên Chúa hiện hữu; rằng Người sáng tạo vũ trụ; rằng Người đã trở nên phàm nhân và đã chết và đã sống lại; rằng có một luật luân lý thật sự, khách quan; và rằng có một phán xét thật sự, một thiên đàng thật sự, và một địa ngục thật sự). Những tuyên bố này có thể đúng hoặc có thể sai, nhưng chúng không tuyên bố về mọi điều bên trong nhận thức của chúng ta nhưng về những điều bên ngoài nó. Chúng là những chân lý khách quan, không là những chân lý chủ quan; về hiện hữu, không duy chỉ ý thức; về những luật, không duy chỉ các giá trị; về sự phục sinh của một con người thật bằng xương, bằng thịt, không chỉ về sự khơi dậy “niềm tin phục sinh” trong tâm trí mọi người.

Chủ nghĩa chủ quan tôn giáo thực sự nghĩa là tôn giáo được làm nên bởi chúng ta, phụ thuộc vào chúng ta, chỉ “đúng” như một hình ảnh tưởng tượng là “đúng.” Đây là một cách nói lịch sự rằng Thiên Chúa chỉ là sự chuyển đổi của người lớn về ông già Noel và rằng tín hữu là những kẻ đã lớn nhưng không bao giờ trưởng thành.

Lời tuyên bố này thì quá nông cạn và mơ hồ không đáng ghi nhận. Nó thậm chí không thể được tranh luận cho tới khi nào nó trở nên cụ thể. Nó cũng giống như lời tuyên bố rằng “khoa học” đã chứng minh “tôn giáo” là sai. Lời đáp phải là, khoa học nào? Khám phá nào? Bởi ai? Khi nào? Bằng chứng của nó là gì? Tôn giáo nào? Giáo lý nào? Giáo lý này thực sự có nghĩa gì, tuyên bố gì? Và thực sự thì tuyên bố kép thuộc chân lý có mâu thuẫn về mặt logic hay không?

Như chúng tôi đã đề nghị bên trên (trong chương hai, về đức tin và lý trí, và trong chương sáu, về các phép lạ), mỗi thách thức cụ thể có thể bị bác bỏ. Không có mâu thuẫn giữa khoa học và tôn giáo. Các luật tự nhiên trong vật lý không bác bỏ các mầu nhiệm siêu nhiên. Tiến hóa không bác bỏ tạo dựng. Mỗi tuyên bố mâu thuẫn cụ thể có thể được trả lời. Điều nào bị bỏ qua là hệ tư tưởng mơ hồ và chung chung hay thành kiến rằng “khoa học” mâu thuẫn với “tôn giáo”.

Lời tuyên bố chân lý tôn giáo thì “chủ quan” thì chính xác cũng cùng trong một hoàn cảnh. Một khi nó trở nên cụ thể, nó có thê được trả lời. Ví dụ, lời tuyên bố rằng sự phục sinh của chúa Kitô không là chân lý khách quan nhưng chỉ là một truyền thuyết chủ quan có thể bị bác bỏ bằng lập luận và bằng chứng cứ (xem chương 9). Lời tuyên bố rằng Thiên Chúa chỉ là “những kẻ chết lành trong nhân cách” có thể bị bác bỏ bằng việc đưa ra bằng chứng về sự hiện hữu của một Thiên Chúa khách quan (chương 3).

Kết luận: Lời cuối

Dù bạn là ai, và đang đọc sách này, có thể bạn là (1) một Kitô hữu – trong trường hợp này bạn đọc không phải để tìm ra câu trả lời cho câu hỏi, liệu Kitô giáo đúng hay sai nhưng là để có gắng hiểu nó tốt hơn và để học làm cách nào để tranh luận cho nó và thuyết phục người khác về chân lý trong nó; hay bạn (2) không là một Kitô hữu – trong trường hợp này có thể bạn đọc vì tò mò, nhưng là để tìm xem tại sao người Kitô hữu lại tin vào những điều họ tin và chúng tôi hi vọng rằng, vì một tìm kiếm chân thành chân lý, với một tâm trí cởi mở và bạn ngạc nhiên tự hỏi liệu đây rốt cuộc có thực sự đúng.

Những lưu ý sau đây về việc tìm kiếm chân lý được chỉ ra trong hai phạm trù về con người. Những người tin có thể giải thích những lưu ý này như những kế hoạch chiến đấu, vì họ đã chọn các bên. Những người không tin có thể giải thích rằng đây như sự bố trí của đại lý du lịch về các chặng phía trước trên con đường Kitô giáo, điều du khách chọn để đi xa hơn xuống con đường này sẽ là mục đích của nó.

Chúng ta phải phân biệt bốn bước trong việc trở nên một Kitô hữu. Bước thứ nhất là tin bằng lý trí. Điều này là đầu tiên vì bạn không thể bước bước kế tiếp hướng đến mục đích trừ phi bạn tin nó hiện hữu. Bạn không thể tìm kiếm hay đối mặt với một Người mà bạn không tin là hiện hữu. Bạn không thể cầu nguyện với một Thiên Chúa bạn cho là đã chết.

Ba bước kế tiếp là – hoán cải về tội lỗi của mình; – giữ đức tin, đức tin không còn cảm nghiệm theo trí, chấp nhận Đức Kitô như Đấng cứu thế; và – sống niềm tin Kitô hữu. Cả ba bước này giả thuyết chân lý thuộc về Thiên Chúa đấng bạn thống hối trở lại, đấng bạn tin trong và với sự hiện diện thực sự của ngài và giờ đây giúp bạn sống.

Sách này được soạn nhằm thuyết phục bạn nhận bước đầu tiên, nếu như bạn vẫn chưa nhận nó, bằng những lập luận dựa trên lý trí. Nếu bạn tiếp nhận bước này và tin rằng Kitô giáo là đúng, quyển sách được soạn ra để giúp bạn thuyết phục người khác chấp nhận bước đầu tiên.

Nhưng bước thứ nhất chỉ là bước khởi đầu. Vẫn còn nhiều điều lắm trong kho tàng dành cho tín hữu. Bước đầu tiên tựa như đang tin vào sự chính xác của bản đồ dẫn đường; ba bước tiếp theo thực sự là việc sử dụng bản đồ.

Thậm chí với bước một, trí tuệ không thôi vẫn chưa đủ. Ý chí cũng là một phần cần thiết để tham dự vào. Vì không ai muốn tin trừ phi họ đang muốn tin. Điều này không thật sự có ý là thành kiến. Nó dùng ý chí để mở trí cũng như đóng trí lòng bạn lại. Bạn không cần một thúc đẩy tích cực nào hay một cảm tình nào cho Kitô giáo, nhưng bạn cần một cảm tình tích cực về chân lý khách quan bất cứ khi nào nó được tìm thấy. Không, mạnh hơn cảm tình, bạn cần một lựa chọn kiên quyết, chủ ý để yêu mến và tìm kiếm và gặp gỡ và hiểu biết chân lý dù nó ở đâu chăng nữa.

Lời tuyên bố này – mà mọi kẻ tìm kiếm tìm – có thể kiểm chứng được bằng kinh nghiệm, bằng thí nghiệm. Nếu bạn là một nhà khoa học chân chính thì đây là một con đường tìm kiếm dẫu cho Kitô giáo có đúng hay không. Hãy thể hiện thực nghiệm tương ứng để kiểm tra giả thiết rằng ai đó đang đứng sau cánh cửa và gõ cữa. Kiểm tra giả thiết Kitô giáo rằng Đức Kitô đang đứng sau cánh cửa và gõ cửa.

Làm thế nào bạn gõ cửa? Hãy cầu nguyện! Hãy nói với Đức Kitô rằng bạn đang tìm kiếm chân lý – tìm kiếm Ngài, nếu Ngài là chân lý hãy yêu cầu Ngài hoàn tất lời Ngài hứa rằng ai đi tìm Ngài sẽ gặp được Ngài – dĩ nhiên vào thời của Ngài. Ngài đã hứa rằng bạn sẽ tìm thấy, nhưng người không hứa một thời khóa biểu. Ngài là một người yêu, chứ không là một người huấn luyện.

Nhưng bạn có thể trả lời rằng, tôi không biết liệu Đức Kitô có là Thiên Chúa hay không; tôi thậm chí không biết liệu có Thiên Chúa không nữa. Được thôi; bạn có thể cầu nguyện với lời cầu nguyện của người hoài nghi như sau:

Lạy chúa, tôi không biết liệu ngài có thật sự hiện hữu hay không. Tôi là một kẻ hoài nghi. Tôi nghi ngờ. Tôi nghĩ ngài chỉ là một huyền thoại. Nhưng tôi không chắc (chí ít là không khi tôi hoàn toàn chân thành với chính mình). Vì nếu ngài thực sự hiện hữu, và nếu ngài thực tình đã hứa thưởng cho mọi kẻ tìm kiếm, giờ đây ngài chắc chắn đang nghe tôi. Vì thế bằng cách này tôi tuyên bố bản thân tôi là kẻ kiếm tìm, một kẻ kiếm tìm chân lý, dẫu cho nó là gì đi chăng nữa hay nó ở đâu đi chăng nữa. Tôi muốn biết chân lý và sống chân lý ấy. Nếu ngài là chân lý, xin hãy giúp tôi.

Nếu Kitô giáo là đúng, ngài sẽ giúp bạn. Lời cầu nguyện như vậy tạo nên một kiểm chứng công bằng một cách khoa học về “giả thuyết” Kitô giáo – nghĩa là, nếu bạn không đặt những rào cản bất công với Thiên Chúa, như đòi hỏi một phép lạ (cách này là của bạn, không phải của ngài) hay chắc chắn trước ngày mai (giờ của bạn chứ không phải của ngài). Việc đòi hỏi rằng Thiên Chúa hành động như người đầy tớ của bạn thì khó là một kiểm chứng công bằng cách khoa học về giả thuyết rằng có một vị Thiên Chúa đấng là vua của bạn.

Nhưng tiên vàn điều mà vị vua này đòi hỏi bạn là lòng chân thành, không giả tạo một niềm tin mà bạn không có. Lòng chân thành là một chọn lựa của ý chí – chọn lựa tìm kiếm chân lý dẫu cho nó có là gì và ở đâu chăng nữa. Đây là sự lựa chọn trọng yếu bạn có thể làm. Nó là chọn lựa ánh sáng thay cho bóng tối, thiên đàng cách tối hậu thay cho địa ngục.

Lòng chân thành thì quan trọng vô cùng hơn chúng ta thường nghĩ. Nó cũng khó hơn chúng ta nghĩ. Văn hóa chúng ta tầm thường hóa lòng chân thành vào việc chỉ “chia sẻ những cảm xúc của bạn”, nói cho người khác về tâm lý của bạn. Điều đó không đối lập với sự thiếu chân thành, nó chỉ đối lập xấu hổ, hay ngượng ngùng. Lòng chân thành nông cạn tìm kiếm “sự chia sẻ”; lòng chân thành thẳm sâu tìm kiếm chân lý. Lòng chân thành nông cạn hiện diện trong sự hiện diện của người khác; lòng chân thành thẳm sâu hiện diện trong sự hiện diện của Thiên Chúa.

[Về mục lục]Trở về: [1], [2], [3], [4], [5], [6], [7], [8][9], [10], [11], [12], [13] [14]           

____________________________

Share This Post