Hư – Truyện ngắn của Ngũlãonhân

Bọn tôi, bốn anh em tu ra của tiểu chủng viện Á Thánh Phụng, Châu Đốc và Tiên Sa, Long Xuyên, một anh “to đầu mà dại” lớp FX; một anh “cùng thây” lớp DB; một anh “không bao giờ thất bại” và một anh “thồ đầy”, cùng học lớp vừa khai vừa phá, không hẹn mà hò, gặp nhau chẳng qua do tình cờ, nhưng do thiên duyên cũng có, và hẳn là cũng phải có tí nhân duyên. Mừng mừng tủi tủi, chén thù chén tạc, bốn cái sọ bọc da gật gù nhâm nhi cốc rượu trắng, một tí đưa cay, mắt mờ vì hơi men, tự hào về quá khứ không có gì đáng tự hào, tâm sự cái còn cái mất, cái mất thì nhiều nhưng cố chìm sâu, cái còn đầy ứ lại chẳng gọn gàng, cứ lộn xộn chẳng thứ tựlớp lang… Những con ngựa tàn phế đã bị lãng quên bỏ dưới chân bức tường thành loang lổ sau hơn 40 năm,giờ đã ruỗng móng, chỉ cần xô nhẹ cũng đủ lật nhào. Ấy vậy, chân liêu xiêu nhớ đường vạn dặm; đầu rỗng không nghĩ chuyện được thua; miệng ngu ngơ nói điều phải trái; lòng mang mang tốt xấu, thực hư… Hư là hư thân mất nết, mà hư còn là không như có, có như không, lúc không lúc có, nhà Phật gọi vô thường…

*  *  *

Lão thầy đồ phát pháo:

– Ngày xửa ngày xưa!… Tớ muốn kể chuyện “Một miếng giữa làng bằng sàng xó bếp”. Làng xã xưa là một lãnh thổ thu nhỏ, để xây dựng làng và đủ tiền góp sưu thuế, vua đã giao cho các xã quan (kỳ mục) tùy nghi phân bổ chức tước. Lợi dụng ân quyền này, quan phụ mẫu đã vẽ vời hầu chớp tiền mồ hôi nước mắt của con dân. Các gia đình chắt chiu hầu bao mua một hư vị cho con, để nở mặt với mọi nguời, không còn là hạng bạch đinh chân trắng, thằng mõ ăn xó mó niêu. Hàng năm hội họp đình làng được sắp xếp ngồi chiếu theo thứ bậc, vinh quang dù hão huyền nhưng thơm nức cả tộc họ xóm giềng, thế nên rất nhiều hủ tục mặc nhiên được “sáng tác” ra, không cần phép nước nên dở khóc dở cuời, thậm chí tủi hờn cay đắng. Phép vua thua lệ làng là đó. Có 2 nhóm tước vị là vương tước và thiên tước. Vương tước gồm 5 bậc: phẩm phong, lão thọ, ngôi chức, tư vãn và bạch đinh. Thiên tước có 4 bậc dựa theo tuổi tác: Thuợng (70), trung (60), hạ (50) và đồng niên (dưới 50) Đó là quy định của triều đình, nhưng bộ sậu chóp bu làng còn bày vẽ thêm nhiều tước bậc khác, cần quái chi tài năng đức độ học hành, miễn sao có tiền mua quan tậu chức. Đại dịch này sau nhiều thế kỷ đã lan trong cả nuớc. Đẻ ra không cần giấy khai sinh hộ tịch, 1 năm sau phải làm lễ “vào làng”, bố mẹ phải đóng những nghĩa vụ thay cho con. 18 tuổi chỉ là dân đinh nếu chưa có mua được ngôi thứ gì, tất nhiên phải chịu sưu dịch và bị sai bảo, đố cưỡng lại, từ cầm cờ quạt, bưng điếu đóm… Nhưng họ lại không có chỗ ngồi trong đình làng, không được mời dự việc làng, không có phần ăn uống trong cỗ tiệc đình làng tổ chức. Giá cả chức tước phân định quy ra thùng thóc (nộp quan trên và chia chác đút túi), phải mua cho chồng con một ngôi nào tuỳ túi cho khỏi hổ với đời, xứng danh gánh vác giang sơn, tiếng thơm lưu truyền hậu duệ, trong nhà đóng cửa mắm muối khoai ráy mặc xác, nhưng ra làng phải rung đùi vai vế, phải ngẩng cổ vênh râu, vợ con danh giá, những tên gọi: Biểu – nhiêu -hương – xã – chánh – tuần – tri – nhang v.v… xuất hiện nhiều lắm, (có tên gọi trùng với tươc quan chức, thây kệ…) Thời đô hộ, nguời Pháp đã cố ý xoá bỏ hủ tục này, nhưng thật khó lòng, nó đã bám rễ rất nhiều năm, khởi đầu từ vua Lê Dụ Tông 1362 cơ mà…

…Ông nội tớ bóp bụng mua cho bố tớ một chức “xã” lúc mới 12 tuổi, tránh cho con mình khỏi khiêng trống cầm cờ. 18 tuổi đi làm rể, ông ngoại kính nể luôn miệng gọi giai tế bằng “anh xã”. Mẹ tớ 16 tuổi về làm dâu, đương nhiên chức “xã” phải xưng kèm truớc tên chồng, hãnh diện lắm chứ, tên này dính liền với thân phận mẹ cho đến năm tạ thế 84 tuổi, qua những danh xưng chị xã, thím xã, bà xã, cụ xã. Oách thật! Hồi ấy! Mỗi lần cha phó xứ đạp xe ngang qua đều mau mắn chào mẹ tớ và hỏi to: “Bà xã ơi! Anh ấy có nhà không?” Tội nghiệp cha phó du học bên Tây về, đầy một bụng chữ nghĩa lại vô tình, dù vô tình trong sáng, ngay lành. Tội nghiệp mẹ tớ cứ thản nhiên không ngượng ngập: “Còn sớm, mời cha vào chơi tí”. Đám phụ nữ trẻ ngang qua rúc rích cười tinh quái… Năm ngoái tớ về quê, hơn 60 bó rồi mà cứ “xà lỏn” trống trơ trần trùng trục, thiên hạ ông nọ bà kia rối tinh hoa mắt. Để hoa hoè lịch sự, anh tớ (chức trùm họ) muốn giới thiệu với ai, cứ một điều “chú ký” hai điều “chú ký” xoành xoạch. Chả là ngày xưa khi họp ban ấp, tớ có tẹo chữ nên được đề cử làm thư ký viết biên bản cuộc họp, chỉ có vậy mà thành danh vĩ đại, mũi tớ khoái tỉ phồng to đến tối chưa xẹp.

Đấy! Chuyện nhạt phèo xửa xưa, qua nhiều thế hệ tuy bây giờ không còn mua danh bán tước, nhưng đã biến thái, thay hình đổi dạng, vẫn khó dứt nọc, điển hình không chỉ ở quê tớ hôm nay…

*  *  *

Lão cùng thây, ngày xưa đã học xong cả triết, cả thần, được Chúa thương túm đầu quăng ra cõi trần ai. Lão chuốc một ngụm rượu, mặt nhăn như mặt khỉ:

– Quê tớ hôm nay có hơn gì? Ông chú Út của tớ, 80 tuổi trời, được Chúa gọi về, 5 ngày quàn đấy, chờ con út lấy chồng Việt kiều Mỹ về. Kinh khủng quá! Con cái báo hiếu cho bố bằng 5 ngày, 5 con heo tạ. Suốt ngày suốt đêm, bất cứ ai đến viếng, đọc câu kinh, thắp nén nhang trước di ảnh, rảy nước thánh trên áo quan, nói vài lời phân ưu, cúi đầu chào, đều được tang gia mời (kè thì đúng hơn) sang nhà bên cạnh đánh chén. Kinh khủng hơn nữa là suốt ngày suốt đêm, không phải 24/24 mà là 120/24 tiếng đồng hồ đọc kinh cho ông cụ bằng đĩa CD. Sợ Chúa, Đức Mẹ và các Thánh không nghe thấy, dàn âm thanh phải mở hết công suất. Nghe đâu ở bờ kênh bên kia, có em bé bị tra tấn dai dẳng bằng những lời kinh đinh tai nhức óc ấy, lên cơn động kinh, phải đi cấp cứu.

Rồi lão triết lý hơn cả một triết gia duy lý:

– “In medio stat virtus”: Nhân đức là ở giữa, là trung dung. Bất cập cũng như thái quá đều hư như nhau. Không có hình thức thì còn gì là lễ, mà hình thức quá đà thì rõ là hỏng. Ấy, ấy! “Quá”, từ Hán Việt có nghĩa là lỗi, phải không, cụ đồ?

– Sao bác lại hỏi em, không hỏi người không bao giờ thất bại?

*  *  *

Cái con người luôn luôn thành công ấy chỉnh sửa lại tay áo, vuốt lại mái tóc trắng phau phau, nói vừa đủ nghe, đĩnh đạc như một nhà mô phạm:

–  Đệ dạy học, có nhiều học trò, đi đám các kênh nhiều, đệ biết. Ở nhiều xứ đạo, trong nhà có người chết, tang gia phải đi đến từng nhà mời người thân đi “chôn xác kẻ chết”, tham dự thánh lễ, sau đó xin mời trở lại với tang quyến dùng bữa cơm thân mật… Nhiều khi đệ tự hỏi đức ái ở đâu, trong kinh sách, trong bữa nhậu, hay trên đầu môi… Đó là đám tang. Còn đám cưới cũng không hơn gì. Đời thuở nào, đám cưới tổ chức rất to, rất hoành tráng. Chính tiệc đãi 70 bàn, thì bữa nhóm họ phải 55 – 60 bàn. Chính đệ được nghe tận tai:

– Không mời nhóm họ là họ khinh khi mình, ngu gì đi cho mất tiền.

Hoặc:

– Tính đi 200.000, nhưng nhóm họ không mời, đi 100.000 thôi.

May mà ở nhà quê bây giờ đám xá được cái rất văn minh, rất đúng giờ, 11 giờ là 11 giờ, không oong đơ gì hết, không quê mùa như trên thành phố, mời 18 giờ, cà kê dê ngỗng, 20 giờ chưa được miếng đút vào miệng. Thế nhưng ở quê cũng có chuyện dở khóc dở cười, không phải một lần đâu, ít lắm đệ cũng chứng kiến hơn hai lần. Cha xứ vì lý do nào đấy không đến dự đám cưới được. Đã 11 giờ 15, người dẫn chương trình miệng dẻo quèo quẹo:

– Chúng tôi chân thành xin lỗi quý khách và nhị tộc, đã để quý vị phải chờ đợi 15 phút vàng ngọc. Vì lý do đặc biệt, cha xứ không thể đến “chung chia” cùng ông bà chủ hôn. Vì vậy, ngay sau đây, chúng tôi kính mời đồng chí phó ban nhân dân kiêm bí thư chi bộ ấp, đại diện quý khách có đôi lời phát biểu và thánh hóa của ăn.

Trời ơi, đất hỡi! Đến như linh mục chủ tế trong Thánh lễ, phần phụng vụ Thánh Thể còn phải “Vì thế, chúng con nài xin Chúa dùng ơn Thánh Thần Chúa thánh hóa những của lễ này…”, vậy mà đồng chí bí thư chi bộ ấp thánh hóa của ăn được ư? Đệ không sao hiểu nổi.

Nhưng đệ không cho rằng, những gì bác cùng thây nói là hư đâu, chỉ sắp hư thôi. Người ta, nhất là các đấng Bề Trên nói nhiều, dạy dỗ nhiều về ô nhiễm môi trường nhất là từ khi có Tông huấn “Chăm Sóc Ngôi Nhà Chung – Laudato Si” của Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Nếu đệ nhớ không lầm thì Vị Cha Chung của chúng ta đã dùng các số 143 – 146 (LS) nói về môi sinh học văn hóa. Còn thư chung tháng 8 của các Đức Giám Mục Long Xuyên có tựa đề “Môi Sinh – Lòng Thương Xót và Tân Phúc Âm Hóa Xã Hội – Vấn Đề Nước” đấy thôi. Thế nên, nhờ ơn Chúa, chúng ta không bao giờ tuyệt vọng. Sắp hư nghĩa là chưa hư. Mà chưa hư thì còn hy vọng cứu vãn được, phải không?

*  *  *

Lão to đầu mà dại nãy giờ im thin thít như thóc ngâm, mở miệng phun mấy câu phảng phất mùi sầu riêng:

– Các ông muốn “Quyển thổ trùng lai” phải không?” Thôi đi, thôi đi. Xin hỏi bốn cái thân xác này đây không sắp hư đi là gì? Cả bốn chúng mình không từng hư thân mất nết hay sao? Này thì hư, này thì chưa hư. Cầm ly lên, tớ hô nhé: Một, hai, ba… Hư… Vô…

Bốn cái mặt mẹt xịu xuống, tái mét, xám ngoét màu thời gian. Lão thầy đồ có vẻ không vui:

 – Ở cái lứa tuổi tàn thu này, hạnh ngộ như thế này là quý báu lắm. Lứa tuổi bạn bè em cháu về bụi tro ối ra rồi. Chúng mình nay còn mai mất, sao không nói chuyện thật, chuyện lành, cứ kể chuyện hư? Tớ đổi đề tài nhé! Nói chuyện chúng mình thôi, chuyện bạn hữu ấy mà.

Rồi lão nhắp một tí rượu, chép chép miệng, ung dung y hệt một cụ đồ đã từng ngấu nghiến thiên kinh vạn quyển:

– Chuyện nước Tàu ngày xưa có hai ông Quản Trọng và Bão Thúc Nha, ấu thời chơi với nhau thân lắm. Tuổi tráng niên gặp kỳ binh lửa. Hai hoàng tử nước Tề tranh bá đồ vương, Quản cùng Bão bèn ngoéo tay nhau thề mỗi người hết lòng phò tá một chúa, chúa của ai vinh hiển thì sẽ đề bạt nhau. Công tử Tiểu Bạch thắng công tử Củ, lên ngôi làm vua. Bão nhớ lời giao ước, tâu lên Tề Hoàn Công tiến cử Quản. Vua Tề quên sao được mũi tênsuýt xơi mất mạng mình năm xưa, có ý không dùng Quản. Nhưng vị nể Bão năm lần bảy lượt thuyết phục mới triệu vời. Về sau tể tướng Quản Trọng dụng tài kinh bang tế thế đã giúp vua Tề lập nên nghiệp bá hùng mạnh, uy trấn các nước chư hầu… Thúc Nha, một nghĩa khí bằng hữu cao thượng quên mình, chơi với nhau thì khiêm nhường nhận phần thua thiệt, ra trận giữa lằn đạn mũi tên lại hăng hái đi đầu, lấy thân mình chở che cho bạn, mã đáo thành công lại hết lòng tiến cử bạn lên tột đỉnh triều đình, thậm chí chẳng hờn ghen trước di ngôn của bạn, làm cho Quản Trọng phải thốt lên: “Sinh ra ta là cha mẹ, biết được ta chỉ có Bão Tử”.

Lão cùng thây, xưa chuyên triết đông, không chịu thua kém lão thầy đồ:

– Lại tích xưa có hai chàng Lưu Bình và Dương Lễ, cùng đèn sách chờ ngày khoa cử. Lưu con nhà giầu có, mê chơi phóng túng chểnh mảng học hành. Dương thân phận nghèo túng quyết tâm dùi mài kinh sử, tất nhiên đến ngày thi, bảng vàng chói lọi, võng lọng nghênh ngang, vinh hiển làm quan, còn Lưu trượt vỏ chuối, xôi hỏng bỏng không, cùng đường phải đến dinh Dương nhờ vả. Nghĩ tình bạn hữu xưa chắc chẳng tệ, ngờ đâu thói đời đen bạc, Dương “bố thí” cho bạn bát cơm hẩm với một quả cà muối mặn đắng mặn cay, còn xỉ nhục khinh mạn dể duôi. Lưu ra về mà nước mắt đầm đìa phẫn hận. May sao trong lúc quẫn cùng, giữa đường gặp của giời cho, một người con gái thơm như múi mít, tên Châu Long, thẽ thọt tự nguyện theo về khuyên nên nuôi chí sách đèn, chờ ứng thí ngày sau. Đêm đêm bên song, nàng quay tơ dệt vải, chàng chong đèn kinh sử chuyên chăm, chờ thời cá chép vượt vũ môn… Ngày đã đến, quả nhiên Lưu xướng tên đầu bảng, được bổ nhậm làm quan to, về mái tranh xưa thì… lạ chửa, Châu Long đã dạt phương nào! Chợt nhớ người bạn “tán tận” ngày xưa, Lưu khệnh khạng đến dinh rửa hận, phen này sẽ cho anh “đểu” biết thế nào là lễ độ… Dương ra vẻ ngây thơ, xun xoe gọi vợ ra chào tân quan nhớn. Rèm vừa hé, nàng Châu Long hiện ra như một phép màu! Ối giời ơi! Ngã bổ chẩng cả ra đấy!… Cái anh Dương Lễ, dụng mưu xỉ nhục người bạn trót dại rong chơi, rồi âm thầm đưa nguyên một cô thiếp yêu dấu đến hầu, lam làm nuôi nấng khuyên lơn, ba năm đằng đẵng chứ có ít đâu, anh bạn Lưu Bình chắc trước đây đã tu mười kiếp. Đoạn kết thật đẹp và có hậu, vô cùng hậu nữa là khác.

 Lão không bao giờ thất bại đúng là một nhà giáo, đĩnh đạc tổng hợp:  

– Chuyện trên là sử chép, chuyện dưới thì chẳng rõ giả chân, tuy cả hai đều rất xửa rất xưa, nhưng bài học rút ra thật vô cùng trân quý. Mạnh Tử viết: “Trách thiện bằng hữu chi đạo giả (trách khuyên làm điều thiện, đó là đạobằng hữu vậy). Nhưng đã mấy người nghe. Chẳng hạn, như Tào Tháo tay đại gian hùng thời Tam Quốc, một lần bị quân Đổng Trác tiễu trừ truy lùng bán sống bán chết, trời tối trên đường bôn tẩu, vào nhà Lã Bá Xa vốn là người quen cũ. Lã Bá Xa thực lòng đón bạn, thân hành đi mua rượu và dặn dò gia nhân ở nhà mổ lợn đãi bạn. Tháo lòng dạ bất an ám ảnh, nghe tiếng mài dao cùng lời nói lao xao của đám gia nhân nhà dưới, nào là trói gônó lại, nào là lấy dao chọc tiết… Tháo hồn phi phách tán tưởng bắt mình, bèn dùng gươm giết cả nhà rồi phóng lên ngựa tẩu thoát, giữa đường gặp Lã Bá Xa hớn hở ôm vò rượu đi về, Tháo biết là mình lầm bèn nghĩ bụng: “Thà phụ người, đừng để người phụ ta. Nếu Xa về mà thấy cảnh tượng đó tất không ổn, nhất định tung tích sẽ bại lộ”. Tháo lén vung kiếm đàng sau giết nốt bạn hòng bảo toàn hành tung. Than ôi! Lã Bá Xa lòng dạ thẳng ngay, toàn gia phải chết thảm. Gớm thay Tào A Man ác độc, đã biết nhầm lẫn còn đang tay cố tình giết bạn…

Nhưng các bác biết không? Trong các pho sách của Tàu, nói đến tình bằng hữu nhiều nhất, chắc không quyển nào đề cập nhiều bằng Thủy Hử. 108 tội phạm triều đình, từ quan nhớn bé đến lục lâm thảo khấu, đều tiết lên một khí phách trượng nghĩa, đề cao tình bằng hữu kết bôi, bức tranh lớn minh họa đầy vàng và máu, chết chóc và ách nạn, tham vọng và bất công, lại phủ lên lớp son dầy tình bạn.

Lão thầy đồ ngắt lời nhà sư phạm, cầm trịch lại cuộc chơi:

– Thời tranh bá đồ vương giữa Nguyễn Tây Sơn và Gia Long Nguyễn Ánh có hai ông Đặng Trần Thường và Ngô Thời Nhiệm (Ngô Thì Nhậm), cùng quê Hà Đông và là bạn học với nhau từ ngày để chỏm. Đặng Trần Thường thi đỗ sinh đồ thời Hậu Lê, ra làm quan theo trướng Gia Long, Ngô Thời Nhiệm thi đỗ tiến sĩ theo phò Tây Sơn. Nhà Tây Sơn đến hồi suy vì, Gia Long tiến quân ra Bắc Hà tiêu diệt. Đặng Trần Thường lúc trước để bụng ghét ghen, vì cho rằng Nhiệm khinh mình kém tài, bèn lệnh bắt rồi ra câu đối như sau: “Ai công hầu, ai khanh tướng, đường trần ai ai dễ hơn ai”. Nhiệm ngẫm nghĩ đáp lại: “Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế thế thời phải thế”. Thường điên tiết sai lính trói và đánh Nhiệm bằng roi tẩm thuốc độc ngay trước cửa Quốc Tử Giám. Nhiệm uất ức và do thấm độc nên phải tử vong. Thương thay Ngô Thời Nhiệm, một quan văn đất Hà Đông, một chí sĩ tên tuổi, gặp bước cùng mạt lộ phải chết đớn đau. Rõ là “Tàn đời vì bạn, khốn nạn đồng hương”. Buồn quá! Kết thúc chẳng có hậu, nhưng lại là sự thật. Đặng Trần Thường cũng là một nho sinh cửa Khổng sân Trình, lẽ nào chẳng đọc Bão Thúc Nha tiến Quản Trọng thời Xuân Thu, lẽ nào không biết “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo…”, để cuối đời phải chết rũ tù dưới triều Minh Mạng, rõ nhơ thay mà cũng đáng thương thay!

Còn nữa, thời Pháp đô hộ nước ta, cụ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, mang cùng họ Phan nhưng không cùng huyết thống, đồng chí hướng nhưng khác chủ trương. Cụ này lập phong trào Đông Du, cụ kia kêu gọi Tây Du, cả hai quyết lòng kỳ vọng cho thanh niên nước nhà học hỏi tinh túy hai cõi toàn cầu, để hậu duệ dùng tri thức cống hiến dân tộc, thoát nô lệ ngoại bang. Quá trình hoạt động nay vào tù ra khám, mai đất khách quê người, thế mà luôn khuyến khích chia sẻ lẫn nhau, nhớ nhau đến nỗi: “Tương tư lọ phải là trai gái, một ngọn đèn xanh trống điểm thùng!…”. Khi cụ Phan Châu Trinh thác, cũng là lúc cụ Phan Bội Châu được thả ra tù, câu đối viếng của Mai Đăng Đệ đã nói lên sự thương tiếc là ngần nào: “Nhất Phan tử khứ, nhất Phan sinh hoàn, ta tai tổ quốc! Thiên cổ văn chương, thiên cổ tâm sự, thủy vi tiên sinh.” (Một Phan chết đi, một Phan sống lại, than ôi tổ quốc! Ngàn xưa văn chương, ngàn xưa tâm sự, ai là tiên sinh). Đấy nhá! Tấm gương bằng hữu hai cụ đã cẩn thận lau chùi một đời dành cho hậu thế, đẹp tuyệt!

Lão cùng thây lại chuốc một ngụm rượu, mặt lại nhăn như mặt khỉ:

– Một nhà văn Tây, (Có phải Mademoisell De Scudery không nhỉ?), nói rằng: “Có một loại hoa hồng không gai, đó là tình bằng hữu”. Tam tự kinh đề cập đến đạo bằng hữu trong thập nghĩa (Quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu). Thiên tự văn cũng nhắc :”Giao hữu đầu phân, thiết ma châm quy” (Kết giao tin tưởng, bàn luận khuyên lơn). Sách Minh Tâm Bảo Giám còn dành nguyên cả một thiên thứ 19 nói vế bằng hữu, bao năm trôi qua luôn là khuôn vàng thước ngọc cho hậu thế. Trên đời này ai là người không có bạn, đi buôn có bạn, đi bán có phường… Thói đời đa phần khi hàn vi bạn bè thường có nhau, nhưng khi phú quý lại hay quên lãng, cho nên ông Tống Hoàng nhủ rằng: “Bần tiện chi giao bất khả vong” (Bạn bè khi nghèo nàn không thể quên). Tiền tài danh vọng không bao giờ mua được bạn chân thành, có chăng chỉ nước đục thả câu, a dua xu nịnh. “Còn bạc còn tiền còn đệ tử, hết cơm hết rượu hết ông tôi”, vĩnh viễn không bao giờ có tri kỷ.

Lão kết luận:

 – Đừng như Tào Tháo, đừng theo Đặng Trần Thường, hãy giống Bão Thúc Nha, hãy noi gương hai cụ Phan nước nhà.

Cái lão to đầu mà dại, vốn “ăn không nên đọi, nói chẳng nên lời”, nãy giờ câm như hến, bất ngờ đứng lên, dõng dạc:

– Và xin nhớ cho, đừng bao giờ quên, rằng: Chúng ta có một Người – Bạn – Trên – Hết – Mọi – Người – Bạn: “Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ, nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu” (Ga 15, 15).

Bùi Nghiệp và Lão Ngu

Share This Post