Khoảng cách thế hệ*

GM. Paul Nguyễn Thái Hợp

 

Khoảng cách thế hệ cũng như cuộc khủng hoảng trẻ già hầu như là một định luật tất nhiên của cuộc sống. Ta gặp thấy nó ở mọi thời và mọi nơi. Trong rất nhiều trường hợp nó còn là một động lực làm biến đổi lịch sử và thăng tiến cuộc sống. “Tre già măng mọc”, cổ nhân ta không từng nói thế sao? Nhưng đối với nhiều cộng đoàn và gia đình Việt Nam hôm nay, khoảng cách giữa các thế hệ và cuộc khủng hoảng trẻ già nói trên có mức độ bi đát hơn, do những thay đổi quá sâu rộng và nhanh chóng về điều kiện sống, môi trường văn hóa, xã hội, chính trị và nhất là khoa học kỹ thuật.

Dĩ nhiên đây là một vấn đề rộng lớn, liên hệ đến nhiều yếu tố sâu xa và phức tạp. Những dòng dưới đây hầu như chỉ giới hạn ở vấn đề khoảng cách thế hệ, do những đổi thay về môi trường sống và do ảnh hưởng của phát triển khoa học kỹ thuật.  

1. Tính liên đới của gia đình

Nói chung văn hóa là một đặc trưng của xã hội loài người, luôn mang dấu vết của con người và biểu lộ rõ rệt tính nhân sinh. Đọc lịch sử nhân loại ta thấy có nhiều loại hình văn hóa khác nhau. Mỗi nền văn hóa có những nét tiêu biểu, kết tụ bởi môi trường sống, điều kiện kinh tế, tổ chức xã hội, chính trị và sinh hoạt tinh thần.

Mừng tuổi ông bà

Văn hóa truyền thống của Việt Nam xây dựng trên cơ sở xã hội nông nghiệp, cho nên tự bản chất có những nét đặc trưng của môi trường và sinh hoạt nông nghiệp. Con người Việt Namgắn bó mật thiết với thiên nhiên và vũ trụ, đồng thời luôn hướng tới nếp sống hài hòa. Tuy nhiên, trong văn hóa Việt Nam, do yếu tố cơ bản nông nghiệp, tính quân bình nói trên không phải tuyệt đối, trái lại, có phần thiên về âm tính: lấy tĩnh làm gốc, cái vô hình trên cái hữu hình, tình nặng hơn lý, xu thế ổn định nổi trội hơn xu thế phát triển. Khuynh hướng hài hòa nhưng nghiêng về âm tính này biểu hiện rõ rệt qua lối sống tình cảm, mềm dẻo, kín đáo, tế nhị, linh hoạt, du di, xuề xòa, tương đối, “chín bỏ làm mười”.

Nếu qui tắc xử sự của Tây phương là luật pháp, khách quan, rõ rệt nhưng cứng ngắc, thì qui tắc xử sự ở Việt Nam ngày xưa là luật lệ. Truyền thống thiên về tình cảm của người dân Việt đã làm “mềm đi” tính cứng ngắc của luật pháp bằng những tục lệ của làng xã. Có những lần “phép vua thua lệ làng”.

Vì điều kiện cụ thể của sinh hoạt nông nghiệp lệ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên, con người Việt Namngày xưa thường phải dựa vào nhau để sống. Tính cộng đồng và tổ chức phường hội, giáp thôn, làng xã luôn được đặt nổi. Có những nơi ở Bắc Việt, làng và gia tộc đồng nhất với nhau, chẳng hạn Đặng Xá (làng của họ Đặng), Đỗ Xá, Lê Xá, Ngô Xá, Trần Xá, v.v… Lý do đơn giản là sinh hoạt nông nghiệp, đặc biệt nghề trồng lúa nước, với đặc tính thời vụ cao, đòi hỏi tinh thần tương thân tương trợ.

Ngoài ra mỗi gia đình riêng lẻ cũng không đủ khả năng để đối phó một cách hữu hiệu với những bất trắc của môi trường tự nhiên, như thiên tai hay lụt lội, và điều kiện xã hội, như nạn trộm cướp chẳng hạn. Do đó lối xóm có xu hướng và nhu cầu liên kết chặt chẽ với nhau đến độ “bán bà con xa, mua láng giềng gần”.

Chính vì vậy không phải ngẫu nhiên mà ở Việt Namtổ chức nông thôn theo huyết thống thường đặt căn bản trên yếu tố gia tộc. Các khái niệm truyền thống như “cửu tộc” (chín đời), “tộc trưởng” (trưởng họ); “từ đường” (nhà thờ họ), “gia phả”; “ruộng kị”; “giỗ họ”; “giỗ tổ”… đều liên quan đến gia tộc chứ không phải gia đình. Có lẽ tiếng Việt là một trong rất ít ngôn ngữ trên thế giới có đủ từ đơn để phân biệt rạch ròi chín thế hệ, chứ không phải dùng từ ghép như các ngôn ngữ khác.

Dĩ nhiên nét đặc trưng của văn hóa Việt Namkhông nằm ở mối liên kết theo huyết thống, vì đâu đâu trên thế giới cũng có sự liên kết này, mà do ở mức độ liên kết. Thật vậy, sức mạnh của gia tộc thể hiện qua tinh thần đoàn kết, yêu thương, đùm bọc nhau, theo nguyên tắc: “Lá lành đùm lá rách”, vì dù sao đi chăng nữa “máu loảng còn hơn nước lã”.

Ca dao Việt Namdiễn tả thật sắc nét vai trò của gia tộc, với khả năng yêu thương, cưu mang và đùm bọc nhau: “Con người có bố, có ông. Như cây có cội, như sông có nguồn”. Hay “Con có mẹ như măng ấp bẹ. Trái lại, “Con không cha như nhà không nóc”. Thành ra nếu vì một lý do nào đó bắt buộc phải lựa chọn, người xưa xác tín rằng: “Thà ăn bắp hột chà vôi, chẳng thà giàu có mồ côi một mình”.

Trong hệ thống đại gia tộc của Việt Nam, “chú là cha”“anh em như thể tay chân, rách lành đùm bọc đỡ đần yếu đau”. Nhờ vậy, dù có sa cơ bất hạnh thế nào đi chăng nữa, con người cũng không cảm thấy bơ vơ côi cút, vì “sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì”. Gia tộc không những hỗ trợ về vật chất, mà còn là điểm tựa về tinh thần và xã hội. Người xưa thường nói: “Nó lú nhưng chú nó khôn”, và vẫn đinh ninh rằng “một người làm quan cả họ được nhờ”.

Theo truyền thống, tổ chức gia tộc là quan hệ theo hàng dọc, có tôn ti trật tự, có cấp bậc trên dưới, với vai trò rõ rệt của tộc trưởng và gia trưởng. Mệnh lệnh và kiến thức thường cũng được truyền đạt theo tương quan chiều dọc đó. Chữ hiếu được coi như một đức tính căn bản, một chất xi-măng có sức nối kết mọi thành viên của gia tộc, dù còn sống hay đã qua đời. Chính vì vậy bất hiếu luôn luôn bị coi là một trọng tội.

Hệ thống tổ chức qui định tôn ti trật tự, biết kính trên nhường dưới, lối sống tình nghĩa, yêu thương đùm bọc nhau và xu hướng ổn định gia đình là một nét đặc trưng của văn hóa Việt Nam. Cho đến nay mô thức gia đình Việt Nam tương đối thành công và có khả năng giúp đỡ, đùm bọc nhau, nuôi nấng con em học hành thành tài. Ngay tại Hoa Kỳ, tổ chức gia đình ViệtNamcũng đã phá được hàng rào hệ thống tín dụng khắt khe của ngân hàng. Bằng cách cha mẹ, con cái, anh chị em chung tiền hay cho mượn tên, người Việt đã có thể mua xe, tậu nhà một cách dễ dàng, trong một thời gian kỷ lục. Giả sử chỉ dựa vào khả năng kinh tế của mỗi cá nhân thôi thì không biết có bao nhiêu gia đình di dân Việt Nam tại Hoa Kỳ hiện có nhà riêng?

Nhưng hoa hồng nào mà chẳng có gai và mề đay nào mà chẳng có mặt trái. Cái nhược điểm cố hữu của nó là óc gia trưởng, thói gia đình chủ nghĩa, bệnh ỷ lại, dựa dẫm, tùy tiện, xuề xòa, đại khái… Tính cộng đồng theo lối “khép kín sau lũy tre làng” nhiều lần cũng dẫn đến thói “đố kị cào bằng”, với chủ trương tai hại “xấu đều hơn tốt lỏi” hay “khôn độc không bằng ngốc đàn”. Cái nguy cơ nằm ở chỗ tình gia tộc có thể biến thành một thứ tình cảm ích kỷ, khép kín, còn tình liên đới làng xóm trở thành óc địa phương. Cung cách quan hệ này cũng thường biểu lộ một tâm thức chủ quan, hẹp hòi, thiếu tự lập và nghèo nàn về nhận thức. Xã hội tổ chức theo mô hình kinh tế thị trường đặt nặng tương giao pháp lý, khách quan, tính khế ước trong mọi quan hệ và đề cao tài năng cá nhân.

2. Bước ngoặt của lịch sử

Không cần nói mọi người đều thừa biết là nền văn hóa xây dựng trên cơ sở xã hội nông nghịêp đang phải đương đầu với lối tư duy và điều kiện sinh hoạt của xã hội công nghệ. Không những hệ thống gia tộc bị băng hoại, mà ngay cả cha con, vợ chồng, anh em cũng ít quan tâm đến nhau. Những chuyện con kiện cha, vợ bỏ chồng, anh em đem nhau ra tòa hay con cái đưa cha mẹ vào nhà dưỡng lão, v.v… chẳng còn là hiện tượng họa hiếm. Không những thói dựa dẫm không còn hữu hiệu trong điều kiện cạnh tranh của khoa học kỹ thuật, mà ngay cả lối sống tình nghĩa cũng đang bị tiêu chuẩn kinh tế thị trường đào thải. Trong một xã hội mà hầu như mọi việc đều được đánh giá bằng con số và lợi nhuận thì đương nhiên lối sống cá nhân và việc phát triển tài năng cá nhân được đặt nổi.

Đối diện với xã hội công nghệ và tự do dân chủ, hệ thống “tôn ti trật tự” cổ truyền cũng bị đặt thành vấn đề và vai trò gia trưởng lu mờ dần. Thật thế, những thay đổi quá nhanh và quá lớn về môi trường sống, hoàn cảnh xã hội, chính trị, điều kiện kinh tế, trào lưu tư tưởng và nhất là tiến bộ khoa học kỹ thuật… làm cho nhiều người lớn tuổi cảm thấy bị hụt hẫng, nếu không muốn nói là bị thời đại đào thải. Vốn liếng kiến thức ngày xưa không còn đủ để hiểu và thảo luận với giới trẻ, nói chi việc truyền đạt văn hóa và tư tưởng (!).

Một số quan niệm, hành động, tập tục, lễ giáo cổ truyền… mà ngày xưa cha ông vẫn xác tín… hôm nay đã quá lỗi thời. Thật vậy, ở một xã hội dân chủ tự do, có bà vợ nào sẽ chấp nhận nguyên tắc “phu xướng phụ tùy”. Có đứa con nào chịu để “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”, hay không phải phì cười khi nghe câu “phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu” (cha bảo con chết, con không chết là con bất hiếu).

Khoảng cách giữa những người trưởng thành trong nền văn hóa nông nghiệp và giới trẻ lớn lên trong xã hội công nghệ có lẽ cứ tăng dần, trong khi đó vai trò của người gia trưởng cứ thu nhỏ lại. Vấn đề không phải chỉ đặt ra cho những người gia trưởng cao niên, mà rất có thể cho tất cả các thế hệ đàn anh: giữa lớp trẻ 17-25 tuổi và thế hệ cha anh ngày trước cũng đang nẩy sinh những khác biệt về sở thích, lối nghĩ, nếp sống, cách đánh giá và nhìn sự vật.

Chỉ cần đọc một số bài của các sinh viên gốc Việt Nam trên Internet hay ở các nội san đại học Âu Mỹ, chẳng hạn, sẽ nhận thấy ngay cách đặt vấn đề, lối lý luận và đề tài lựa chọn của họ… chẳng còn gì dính dáng hay liên hệ với cái diễn đàn báo chí Việt Nam hải ngoại hiện tại.

Nếu như “sông có khúc, người có lúc” thì mỗi thế hệ cũng có giai đoạn và thời điểm riêng. Bởi vậy, ngoại trừ một số người có sức bám trụ dẻo dai, nội lực cao và khả năng thích nghi tốt, đại đa số những người ngoài lục tuần đều lờ mờ nhận ra rằng so với lớp trẻ hôm nay, mình là đoạn kết của một giai đoạn lịch sử đã bị vượt qua, còn họ đang bắt đầu một cái gì khác.

3. Trước thách đố của xã hội mới

Theo ý kiến của nhiều chuyên viên, nhân loại ở cuối thế kỷ 20 đang bước từ thời kỳ hậu công nghiệp sang xã hội tin học. Sẽ có nhiều biến chuyển và thay đổi quan trọng trong cách tổ chức xã hội, mô hình sản xuất, điều kiện lao động, nếp sống gia đình, giao lưu văn hóa… mà không ai có thể lường được những hậu quả của nó.

Không phải chỉ loài rùa mới có mu cứng và khi gặp khó khăn thường thích ẩn mình dưới cái “mu cứng an toàn” đó, loài người cũng có sở thích tương tự. Tập quán, phong tục, nếp sống, lối nghĩ… là một thứ “mu rùa” con người tự tạo cho mình để được sống an toàn. Càng lớn tuổi, cái mu này càng dày, cứng và nặng nề hơn, cho nên càng giảm khả năng thích nghi với môi trường sống và khó tiếp thu những cái mới.

Giới trẻ, trái lại, tiếp thu dễ dàng và rất nhanh khoa học kỹ thuật tân tiến. Do ảnh hưởng sâu rộng của những phương tiện truyền thông và những đổi mới về khoa học kỹ thuật, nhân sinh quan và vũ trụ quan của họ không còn giống thế hệ trước. Rồi đây giới trẻ lớn lên với máy vi tính, video game, internet… sẽ có lối tư duy, cách giải quyết vấn đề, mối tương giao và lối sống riêng… theo mô hình xã hội tin học. Đối với họ, có lẽ sẽ không có vấn đề gì được coi là đã phán quyết, kết thúc, đành bó tay chấp nhận. Tất cả có thể xóa bàn làm lại, có thể tìm giải đáp mới, theo phương pháp khác, hữu hiệu, nhanh và hay hơn. Tính năng động, chính xác, óc sáng tạo và vai trò cá nhân được đề cao.

Ở một vài nơi trên thế giới nhà trường đã được nối kết qua mạng lưới Internet hoặc qua hệ thống video, nếu có nghi vấn sinh viên có thể tham khảo trực tiếp tài liệu trong thư viện hay hơn nữa hỏi thẳng các chuyên viên. Ý kiến của phụ huynh và ngay cả của các giáo sư không còn được coi như là quan điểm “duy nhất” và “đúng nhất”. Vấn đề cải tiến hệ thống và chương trình giáo dục phải được đặt ra một cách khẩn thiết. Chắc chắn trong tương lai những nhà giáo có thực tài sẽ có dịp để thi thố khả năng của mình vượt khỏi khuôn khổ nhỏ hẹp của ngôi trường, trong khi đó những nhà giáo không có thực lực phải dần dần nhường chỗ cho những người có khả năng hơn.

Giới trẻ hôm nay cũng có thể thảo luận với nhau về bất cứ vấn đề nào trên thế giới qua hệ thống thông tin tối tân. Nếu như ngày trước người ta chỉ thổ lộ tâm tình với người yêu bên cạnh, với những thân nhân trong gia tộc hay với bạn bè thân thiết; hôm nay, qua hệ thống internet, nhiều người trẻ bộc lộ tâm sự và đối thọai thân tình với những người bạn “không chân dung” ở bất cứ phương trời xa thẳm nào. Đa số thời giờ trong tuần họ sống với bạn bè tại nhà trường hay ở nơi sở làm. Những giờ rảnh rỗi, thường khi lại ngồi im lặng trước máy truyền hình hay máy vi tính. Số thời giờ để hàn huyên trao đổi với cha mẹ hầu như chẳng còn bao nhiêu.

Do công việc và điều kiện sống, nhiều gia đình ViệtNamtại hải ngoại cũng đánh mất ngay cả cái cơ hội và điều kiện ngồi ăn chung với nhau. Sợi dây liên kết giữa các thế hệ trong gia đình giảm thiểu dần, trong khi đó tương quan chiều ngang với những người cùng lứa tuổi, trình độ, tâm trạng hay sở thích… ngày càng trở nên thiết thực, hữu ích và hứng thú hơn.

Giới trẻ cũng không còn chung não trạng và quan niệm về lí tưởng với thế hệ trước. Sau những đổ vỡ của các ý thức hệ lớn và những tang thương của cuộc chiến bi đát, dai dẳng, thảm khốc – mà nhiều khi cha mẹ của chúng vừa là tác nhân, vừa là nạn nhân – giới trẻ hôm nay mang một tâm trạng hoàn toàn khác. Họ nhìn đời với cặp mặt thực tế, tinh khôn và ranh mãnh hơn.

Hầu như họ chẳng hồ hởi gì trước những lý tưởng sáng chói, những danh từ đẹp đẽ, những khẩu hiệu thuộc loại “đao to búa lớn”, mà trân trọng cái tình người bé bỏng, thiết thực, chú tâm kiếm tìm thành công cá nhân, bằng lòng với những nguồn vui nho nhỏ, vừa tầm tay với, chẳng hạn như: có kiến thức, nghề nghiệp, xe mới, hoặc một buổi hẹn hò, một cuộc píc-níc, một lần gặp gỡ thân tình giữa bạn bè… Có người trách họ tầm thường, ích kỷ, chăm lo quá nhiều cho bộ vó của mình. Có kẻ lại coi đó là một lối sống quá thực tiễn, quá so đo mặc cả với đời, nên tính lí tưởng thấp.

Đây chưa phải là lúc phân định xấu tốt, đúng sai. Có điều nên ghi nhận là quan niệm về lí tưởng của thế hệ trẻ hôm nay đã khác thế hệ trước. Với chút ít vốn sống, kiến thức và quan sát của mình, nhiều người trẻ muốn tự suy nghĩ và bước đi với chính đôi chân của mình. Cho dù lí tưởng của họ có thể thấp hay nhỏ đi chăng nữa, nhưng bù lại có vẻ thẳng thắn, trung thực và trong sáng hơn.

Nói tóm lại, chính những biến đổi về xã hội và khoa học kỹ thuật đang mở cho giới trẻ một chân trời mới, rộng lớn bao la và khác biệt với quan niệm cổ truyền. Con đường truyền đạt tri thức từ thầy đến trò, từ già đến trẻ, từ cha đến con… gặp khó khăn. Tính tôn ti trật tự và óc gia trưởng bị đặt thành vấn đề. Thay vào đó, tương quan hàng ngang phát triển mạnh. Hằng triệu người trẻ đã sử dụng một loại “video game” như nhau, đã lớn lên với máy vi tính, vào đời trong xã hội tin học, sẽ nối kết với nhau qua xa lộ thông tin, với cùng một lối suy nghĩ, một cách thế nhìn đời, một đường lối giải quyết vấn đề theo nhu cầu và điều kiện của văn minh tin học. Cổ nhân ta từng công nhận: “Hậu sinh khả úy”. Trong bối cảnh xã hội tin học hôm nay, có lẽ càng “hậu sinh” càng “khả úy” hơn.

4. Thái độ đối thoại và tìm kiếm

Thay vì than trách hay kết án giới trẻ, thiết tưởng chúng ta cần sáng suốt suy nghĩ làm sao thực hiện tốt chức năng chuyển đạt và giáo dục văn hóa cho thế hệ trẻ. Nếu “gien” sinh học di truyền lại cho con cháu nét đặc trưng về thể lý, thì văn hóa là một thứ “gien” có công dụng di truyền bản sắc dân tộc cho các thế hệ mai sau. Đây là một công tác rất khó khăn và phức tạp, đòi hỏi khả năng phân tích, phê bình, đánh giá, chọn lọc và thích nghi. Nhưng trước hết và trên hết, đòi hỏi sự quảng đại, kiên nhẫn và yêu thương.

Ngoài ra cũng cần phân biệt việc chuyển đạt giá trị văn hóa với thái độ bảo thủ, khư khư ôm ghì gia tài truyền thống. Văn hóa không phải chỉ là một bảo tàng viện để lưu trữ những giá trị đã ổn định, mà còn có chiều kích lịch sử sống động, với khả năng tiếp thu không ngừng những cái mới của người, hoặc biến đổi những cái cũ của mình cho thích hợp với nhu cầu và đòi hỏi của thời đại.

Như chúng tôi đã trình bày ở trên, nếu như một số giá trị văn hóa cổ truyền thuộc xã hội nông nghiệp không còn thích hợp với xã hội công nghệ, rất nhiều giá trị cổ truyền khác cần bảo tồn và phát triển. Chẳng hạn óc gia trưởng và lối truyền lệnh, “phán” từ trên xuống nên thay đổi, nhưng cần duy trì và phát huy vai trò của người gia trưởng. Thiết tưởng các bậc phụ huynh nên bớt độc đoán và đừng quá nghiêm khắc với con cái. Thay vì lối truyền lệnh như xưa, có lẽ nên dùng hình thức đối thoại: chuyển đạt kinh nghiệm sống, trao đổi thân tình, đặt vấn đề, nêu thắc mắc, gây ý thức, giải thích, hướng dẫn… Làm sao giúp giới trẻ suy nghĩ và đào sâu thêm vấn đề trước khi lấy quyết định, nhưng không áp đặt hay lấy quyết định thay cho họ, trái lại cố gắng giúp họ biết sáng suốt chọn lựa và luôn tôn trọng sự chọn lựa của họ.

Để có thể thực hiện tốt việc đối thoại nói trên thiết tưởng những người lớn chúng ta cần cố gắng lướt thắng căn bệnh “sĩ diện hão”, can đảm nhìn thẳng vào thực tế và chấp nhận những giới hạn tất nhiên của mình trong xã hội tin học này. Quá khứ vẫn còn ảnh hưởng rất nhiều trên thế hệ chúng ta. Đó là tập tục cổ truyền, là nguồn gốc văn hóa, là giòng lịch sử tiếp nối của mỗi dân tộc. Chúng ta cần biết gạn lọc những điều hay để giữ lại, nhưng đồng thời nên ý thức là lịch sử đã sang trang và cứ tiếp tục đi tới.

Riêng giới trẻ nên cảm thông và yêu thương cha mẹ nhiều hơn. Có bao nhiêu người trẻ lớn lên trong xã hội hôm nay hiểu được tình thương và những nỗi khổ tâm của cha mẹ mình? Nếu giới trẻ tự bản chất vốn dễ thích nghi và nhiều sáng kiến, tại sao không đi bước trước, đề xướng lối sống nối kết trong trân trọng, thông cảm và yêu thương?

Đã qua rồi cái thời “tam tòng…”. Người con và người vợ đã được giải phóng hay đã tự giải phóng khỏi những qui phạm đã trở thành thiên la địa võng. Đó là một tiến bộ, nhưng cũng cần cẩn trọng đề phòng cái nạn “cá đối bằng đầu” và thói tự do thái quá đang làm băng hoại xã hội Âu Mỹ. Mới đây cử tri tiểu bang Washington đã dồn phiếu cho ông Gary Locke, một ứng cử viên Thống đốc gốc Trung Hoa, chỉ vì ông ta đã yêu cầu cử tri Mỹ suy nghĩ về số phận của bản thân và thảm trạng của gia đình mình. Dĩ nhiên không thể ôm khư khư hệ thống gia đình Á đông cổ truyền, nhưng chắc chắn con người cũng không thể sống thiếu gia đình.

Không ai có thể phủ nhận rằng điều kiện cụ thể của xã hội mới đòi hỏi giới trẻ phải có nghành nghề chuyên môn, tuy nhiên kiến thức mà thôi đâu đủ để bảo đảm thành công và hạnh phúc trong cuộc sống xô bồ này. Cũng chẳng có nhà trường hay sách vở nào dạy khôn con người bằng kinh nghiệm sống. Cho dù giới trẻ nghĩ gì đi chăng nữa, rồi ra sẽ cảm nhận được “chạy trời không khỏi nắng”. Chính vì vậy, giới trẻ cũng nên can đảm lướt thắng cái “tự hào hão” để suy nghĩ về một câu nói đã được tích lũy qua kinh nghiệm ngàn đời: “khôn đâu có trẻ, khỏe đâu có già”.

 

* Trích từ Một nửa hành trình 

 

 

Share This Post