Lý tưởng và thực tế của mô hình CNXH

ly-tuongTừ sau khi chế độ cộng sản sụp đổ tại Liên Xô và các nước Đông Âu (xảy ra trong thời gian 1989-1991)(1), những nước cộng sản còn lại (có lẽ trừ Triều Tiên) nhất trí cho rằng mô hình xã hội chủ nghĩa như đã được thực hiện tại những nước kia trong nhiều thập kỷ trước chưa phải là chủ nghĩa xã hội đích thực. Và họ lại tìm kiếm một mô hình khác của chủ nghĩa xã hội chân chính. Nhưng liệu có một mô hình như thế không?

1/ Mấy nét tiêu biểu của mô hình CNXH cũ

Thật ra thì ngay trước khi Liên Xô sụp đổ, các nhà cải cách trong giai đoạn Tổng Thống Gorbachev nắm quyền ở Liên Xô (1985-1991) đã cùng nhau trao đổi để tìm kiếm một mô hình khác thay thế cái mô hình cũ, mà họ gọi là Mô hình Chủ nghĩa Xã hội Nhà nước(Socialisme d’État) đã hình thành từ thời Staline. Theo dõi những trao đổi và tìm kiếm của Liên Xô giai đoạn đó, nhà nghiên cứu mác-xít Nguyễn Khắc Viện đã viết một loạt bài báo nhan đề “(Liên Xô) đi tìm mô hình mới của Chủ nghĩa xã hội” đăng trên Tuổi Trẻtrừ cuối tháng 10 qua đầu tháng 11, 1988, để phổ biến tư tưởng cải cách của nước đàn anh tại Việt Nam. Ông mô tả mô hình cũ với những đặc điểm như sau:

– Tất cả những gì được coi là XHCN đều phải thuộc về Nhà nước. Nhà nước tổ chức và quản lý tất cả các khâu của đời sống của đời sống xã hội, từ sản xuất đến lưu thông phân phối, từ đời sống vật chất đến đời sống văn hoá-tinh thần. Nói cách khác, tất cả những gì không phải là của Nhà nước thì đều không phải là XHCN, do đó phải nhà-nước hoá. Kinh doanh tư bản, dẹp đã đành, nhưng còn dẹp cả các thợ thủ công dù đã tập hợp thành các hợp tác xã. Đến các thành phố Xô Viết trong những năm trước đây, thấy chỉ có các xí nghiệp quốc doanh và cửa hàng nhà nước (quốc doanh), kể cả những hoạt động dịch vụ thông thường nhất”. (Tóm lại: Nhà-nước hoá mọi thứ: đó là CNXH).

– “Và nông dân, lẽ ra phải để họ tự tổ chức thành các loại hợp tác xã khác nhau theo đúng nguyện vọng và trình độ của họ, thì cũng bị dồn vào các nông trang tập thể được tổ chức trong một chiến dịch ngắn ngủi (…). Người nông dân mất đi quyền làm chủ ruộng đất của mình. Trong những tổ chức tập thể, họ bị dồn vào tình trạng của những người làm thuê không chút quyền hành (…). Tính chủ động sáng tạo của nông dân bị tê liệt. Dù có bỏ vào nông nghiệp hằng trăm tỉ rúp thì cũng không cứu vãn được một nền nông nghiệp mất hết sinh khí rồi.” (Tóm lại: Đưa nông dân vào làm ăn tập thể là CNXH).

– “Bộ máy cai trị quan liêu nắm sự thống trị tuyệt đối đối với xã hội. Trong một xã hội bị chủ nghĩa quan liêu thống trị đến mức ấy, thì dân chủ không thể tồn tại được… Quá trình nhà nước hoá thực chất là quan liêu hoá”. (Tóm lại: Đặt xã hội trong tay bộ máy cai trị quan liêu thống trị tuyệ đối, đó là CNXH).

– “Trong một xã hội được tổ chức theo kiểu đó, con người bị điều kiện hoá đến mức cao nhất. Bị ‘tha hoá’, bị đánh mất bản thân mình. Thói khuôn phép trở thành chuẩn mực sống của mọi người. Con người không còn tồn tại như một cá nhân…” (Tuổi Trẻ, 5-11-1988). 
(Tóm lại: Tổ chức xã hội không có chỗ nào cho con người như là cá nhân, đó cũng là đặc điểm then chốt của CNXH).

Không hiểu tại sao Nguyễn Khắc Viện phải mô tả kỹ lưỡng thứ chủ nghĩa xã hội mà Liên Xô đã thực hiện như thế (thực ra ông chỉ lấy lại cách mô tả của bạn bè Liên Xô), bởi vì nó đã từng là mẫu mực cho Việt Nam và không nhiều thì ít cho cả Trung Quốc trước thời đổi mới. Chắc là để nhắc nhở những “đồng chí” nào của mình vào thời ấy đang muốn bám vào mô hình CNXH cũ thay vì đi tìm một mô hình mới.(2) Quả thực về sau, tôi đã đọc đâu đó ý kiến của một số cán bộ đảng viên Việt Nam quy tội cho Gorbachev đã đưa Liên Xô tới sụp đổ với chủ trương cải tổ của ông ta (Perestroika = tái cơ cấu – và Glasnost = cởi mở, công khai).

Nhưng Gorbachev cải tổ đất nước Liên Xô chính vì muốn duy trì chế độ cộng sản lúc bấy giờ đang bị lạc hậu và bế tắc trên nhiều mặt, nhất là kinh tế và xã hội, không giải quyết được những vấn đề mới cấp bách. Nguyễn Khắc Viện muốn cung cấp thông tin đầy đủ về chủ trương này mà ông coi là đúng đắn và cần thiết, vì ông cho rằng Việt Nam nên học lấy kinh nghiệm của Liên Xô trong khi tiến hành công cuộc đổi mới của mình (chính thức bắt đầu từ 1986). Có lẽ điều quan trọng hơn đối với nhà nghiên cứu này là cái mô hình mới của chủ nghĩa xã hội mà các bạn bè Liên Xô đang nói tới (và đang tìm kiếm) lúc bấy giờ chứ không phải chỉ là kinh nghiệm cải tổ. Trong thực tế, như đã nói, công cuộc cải tổ của Gorbachev đã thất bại theo nghĩa là nó không giúp duy trì được chế độ cộng sản như mong muốn nhưng điều đó không phải là lỗi của ông. Nó thất bại vì người Liên Xô lúc bấy giờ nhận thấy rằng dù được mặc cho một chiếc áo cải cách mới, nó cũng không còn thích hợp và không thể giải quyết những vấn đề lớn của đất nuớc và xã hội Liên Xô trong tình hình mới của thế giới.

2/ Có một mô hình mới của CNXH không?

Vậy, dựa theo những tìm tòi của các bạn Liên Xô những năm cuối thập niên 80 thế kỷ trước, cái mô hình mới của CNXH là gì? Tôi không thấy Nguyễn Khắc Viện trực tiếp trả lời câu hỏi này trong loạt bài của ông trên báo Tuổi Trẻ. Có bài viết nào khác của ông về đề tài này ở đâu nữa không, tôi không được biết, nhưng tôi vẫn nghĩ rằng không có vì thực ra chưa ai có thể và sẽ có thể nói rõ cho ta biết mô hình mới đó là gì, đơn giản vì nó chưa có. Theo chỗ tôi biết, ông Viện cũng chỉ đề cập tới những điểm xuất phát của mô hình mới chứ chưa phải là chính mô hình mới. Những điểm đó là:

– Không có một mô hình duy nhất chung cho tất cả mọi nước đi theo con đường CNXH; mỗi nước có mô hình riêng của mình căn cứ theo những điều kiện xã hội và lịch sử, những truyền thống và những trình độ đã đạt được mà tạo ra;

– Trở về với di sản của Lênin để xem xét những yêu cầu cấp bách và lâu dài của đất nước, đáp ứng những thách thức của thời đại, những trình độ mới của giai đoạn văn minh hiện nay của loài người. Nên biết: từ 1921-1929, Lênin đã đề ra Chính sách Kinh tế mới (NEP = New Economy Politics) rất cởi mở, không đối lập chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa tư bản, trái lại học tập và sử dụng những cái giá trị của tư bản cho công cuộc phục hồi kinh tế đang đình trễ của Liên Xô. Sau Lênin, Staline đã xây dựng một thứ CNXH khác hẳn, rất giáo điều và duy ý chí mà về sau sẽ gọi là CNXH nhà nước.

– Nhận thức lại chủ nghĩa tư bản hiện đại: nó vượt các nước XHCN một khoảng cách không nhỏ về mặt kỹ thuật, công nghệ, tổ chức sản xuất và kinh doanh; cũng phải nhìn nhận chế độ dân chủ của họ “hiệu quả” hơn;

– Thế giới đang trong tiến trình quốc tế hoá và hoà nhập kinh tế. Nhìn nhận tính đa dạng và đa nguyên của thế giới.

– Giữa hai hệ thống xã hội –tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa – đang diễn ra quá trình tác động lẫn nhau và thâm nhập lẫn nhau ngày càng sâu sắc. Những yêu cầu và khả năng to lớn về giải quyết các vấn đề toàn cầu cũng đang tăng lên… Thế giới mới đòi hỏi tư duy mới.
Nguyễn Khắc Viện viết những bài trên đây khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông và Trung Âu chưa sụp đổ. Nói chung, đối với người cộng sản thời bấy giờ, những quan điểm trên là hoàn toàn mới lạ, có thể nói là cách mạng bởi chúng đi ngược với một số nội dung xưa nay được coi là bất khả xâm phạm của chủ nghĩa cộng sản, tức là chủ nghĩa xã hội hiện thực (theo một cách gọi chuyên môn), như: mâu thuẫn đối kháng giữa tư bản và cộng sản (không thể có chung sống hoà bình với nhau); tính ưu việt “độc tôn” của chủ nghĩa cộng sản; sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản và thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa cộng sản; vai trò lãnh đạo của Liên Xô đối với các nước cộng sản thế giới. Nhưng dù mới mẻ, những  “điểm xuất phát” trên đây cũng không giúp ai hình dung ra được cái mô hình mới của CNXH chính xác ra sao. Nó mới chỉ là một cái lý tưởng còn mơ hồ mà các nhà chủ trương cải cách ở Liên Xô thời bấy giờ đang tìm kiếm. Nhưng các nghiên cứu và tranh luận giữa họ chưa ngã ngũ thì họ đã bị thực tế xã hội và chính trị vượt qua và loại bỏ: theo sau các nước xã hội chủ nghĩa đàn em ở châu Âu, đến lượt Liên Xô của họ cũng sụp đổ và CNXH ở đó bị xoá sổ.

Có một chi tiết đáng để ý là, ngay trong bài viết về “Những điểm xuất phát của mô hình mới”, sau khi nhìn nhận nhiều điểm tốt hơn hẳn của tư bản so với cộng sản, nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Viện lại vẫn khẳng định: “Trách nhiệm của CNXH đối với sự tồn tại và phát triển của loài người không giảm đi mà càng tăng lên. Trong khi thừa nhận tính đa dạng, tính đa nguyên của thế giới hiện đại (…), CNXH phải tỏ ra có hiệu quả hơn về phát triển kinh tế và công bằng xã hội, đặc biệt về mặt nhân đạo hoá và dân chủ hoá. Mô hình mới của CNXH phải đáp ứng được đòi hỏi đó”. Thế là đã rõ, thứ CNXH mà tác giả coi là ưu việt và có trách nhiệm lớn hơn đối với sự tồn tại và phát triển – không phải của một vài nước mà cả nhân loại-, nó vẫn chỉ có trong khẳng định (duy ý chí) và trong ước muốn (tốt lành) của ông: hai động từ “phải” trong đoạn văn vừa trích dẫn thật là có ý nghĩa!

3/ Đổi mới ở Việt Nam

Cũng như Perestroika ở Liên Xô thời Gorbachev, đổi mới ở Việt Nam là để duy trì và củng cố chế độ vững mạnh hơn. Thời đó có người đã nói: đổi mới hay là chết!

Hai từ Đổi Mới đã trở nên quen thuộc với mọi người trong nước từ khoảng vài chục năm nay. Báo chí nước ngoài nhiều nơi thậm chí còn dùng nguyên hai từ tiếng Việt ấy khi nói về những thay đổi lớn trong xã hội Việt Nam ngày nay. Chính thức thì chủ trương đổi mới đã được đề ra trong Đại hội VI của Đảng Cộng sản năm 1986. Có người cho rằng sự kiện đã ảnh hưởng nhiều tới cuộc đổi mới của Việt Nam vào lúc bấy giờ là Đại hội XXVII của ĐCS Liên Xô, tháng 3 năm 1985. Chính Liên Xô cung cấp cơ sở lý luận cho chủ trương của Đại hội VI. Nhưng cũng đừng quên là trước tình hình khó khăn và bế tắc về kinh tế những năm 1980, ở phía Nam một số nhà lãnh đạo (nổi bật là Nguyễn Văn Linh và Võ Văn Kiệt) đã tìm cách “tháo gỡ”, thực chất là tìm kiếm những kẽ hở để vượt qua những gò bó cứng nhắc của chính sách trung ương, nhờ đó mà đời sống kinh tế “bung ra” dễ chịu hơn. Thực chất cách làm này đã là một thử nghiệm cải cách rồi. Đại Hội VI chú trọng vào kinh tế, và cũng chưa thật sự triệt để. Nhưng nó đã mở ra cho những thay đổi mạnh mẽ về sau về mặt kinh tế (kinh tế hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường và gồm nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu khác nhau), và cả về những những mặt khác nữa (tuy thận trọng hơn), như đối ngoại, xã hội, văn hoá, tôn giáo.

Về chính trị, đổi mới không đưa lại thay đổi nào đáng kể. Có đổi mới, thì chỉ là hình thức và bằng những cách nói mang tính khẩu hiệu, như câu sau đây được nêu lên tại Đại hội VI (1986): “Dân biết dân bàn dân kiểm tra”. Còn cái khung nòng cốt của hệ thống chính trị vẫn như xưa: Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Theo lý thuyết thì  sự ăn khớp giữa các bộ phận của cơ chế này là tuyệt vời, không có gì phải đổi mới nữa, vì “Đảng không có lợi ích nào ngoài lợi ích của nhân dân”, còn “nhà nước là của dân, do dân và vì dân” (3). Nên chú ý, vai trò quyết định vẫn là Đảng mà nhân dân không bầu ra.

4/ Có chăng một mô hình CNXH Việt Nam?

Đại hội X của ĐCS năm 2006 đưa ra quan niệm tổng quát về xã hội xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng, với 8 đặc trưng: (1) dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; (2) do nhân dân làm chủ; (3) có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực luợng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; (4) có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; (5) con người được giải phóng khỏi áp bức bóc lột, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; (6) các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; (7) có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản; (8) có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới. (4) Bảng đặc trưng 8 điểm này lấy lại 6 đặc trưng trong Cương lĩnh của Đảng tại Đại hội VII năm 1991 và thêm đặc trưng 1 về dân giàu nước mạnh, v.v. và đặc trưng 7 về nhà nước pháp quyền xhcn của nhân dân, v.v. Nó cũng sửa chữa một vài chỗ trong các đặc trưng của bản Cương lĩnh (đặc biệt là đặc trưng 1 và 2).

Có thể gọi những đặc trưng này về xã hội mà ĐCS nhắm xây dựng là một mô hình của CNXH riêng của Việt Nam không?  Giáo trình “Chủ nghĩa xã hội khoa học” của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2007 trả lời là có (tr.147), nhưng theo tôi đây chỉ là một cương lĩnh (như Đai hội VII đã gọi), một chương trình hoạt động, những mục tiêu cho hoạt động của ĐCS trong giai đoạn hiện nay. Đàng khác, các đặc trưng này không có gì là tiểu biểu của CNXH cả, hầu hết chính quyền các nước đều phấn đấu đạt được cho nhân dân và đất nước của họ. Trong bảng đặc trưng 6 điểm của Cương lĩnh 1991, ta thấy còn nói tới quyền làm chủ của nhân dân lao động và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, – là hai chủ trương “kinh điển” của CNXH, nhưng cả hai đã bị loại ra khỏi bảng đặc trưng 8 điểm năm 2006. Đặc trưng 7 về “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, thoạt nghe qua có thể cho là rất “xã hội chủ nghĩa”, nhưng thật ra khẩu hiệu “nhà nước của dân, do dân, vì dân” nguyên là của Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln đưa ra năm 1863, đó quả là một lý tưởng cao đẹp nhưng chắc chính vị tổng thống tài ba này đã không thực hiện trọn vẹn được, còn đối với ta lý tưởng đó càng quá xa vời! Có một chi tiết thực sự còn là CNXH, đó là ở mấy chữ cuối câu: “dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản”. Và đây là yếu tố quan trọng nhất. Nói mô hình cũ hay mô hình mới hay bất cứ loại mô hình nào của CNXH thì  yếu tố quyết định vẫn là đây.

5/ CHXH: lý tưởng và thực tế

Trong Tông thư gởi hồng y Maurice Roy đề ngày 14 tháng 05 năm 1974 nhân dịp kỷ niệm 80 năm thông điệp Tân Sự (Rerum Novarum) của Đức Giáo Hoàng Lêo XIII, Đức Phaolô VI nói tới sức lôi cuốn của chủ nghĩa xã hội, và phân biệt nhiều trình độ khác nhau của chủ nghĩa xã hội:

(1) Chủ nghĩa xã hội như là khát vọng và sự tìm kiếm một xã hội công bằng hơn.

(2) Chủ nghĩa xã hội như là những trào lưu lịch sử có một tổ chức và một mục tiêu chính trị.

(3) Chủ nghĩa xã hội như một ý thức hệ với tham vọng đề ra một nhân sinh quan toàn diện và tự lập (tự lập là hoàn toàn “nhân loại”, hoàn toàn tại thế, hoàn toàn “tự nhiên”, loại trừ mọi khía cạnh vĩnh cửu và siêu việt của con người).

Đức Thánh Cha lưu ý ngay rằng, các trình độ ấy liên hệ với nhau (số 3c) không thể tách rời ra được. Nhắc nhở này nhắm tới nhiều người hay nhóm Kitô hữu mà những năm 1960, muốn theo sự phân tích xã hội và kinh tế của học thuyết Mác để cải tạo xã hội nhưng vẫn trung thành với giáo lý Tin Mừng. Theo sự phân biệt của Đức Phaolô VI thì chủ nghĩa cộng sản (hay CNXH hiện thực) nằm ở trình độ 2 và 3. Nhưng trong ngôn ngữ họ dùng, người cộng sản đôi khi tỏ ra mập mờ, họ nói tới CNHX khi thì như một lý tưởng, một khát vọng, một tìm kiếm về công bằng xã hội, khi thì như một tổ chức chính trị hay một ý thức hệ nhưng không xác định rõ, có thể vì nhu cầu tuyên truyền. Ngay trong chủ trương của ĐCS Việt Nam hiện nay là thực hiện kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa, thì CNXH nói đây không rõ ràng.

Cái thu hút không phải chỉ người Kitô hữu mà thôi nhưng hầu hết mọi người, kể cả trí thức Tây phương sau chiến tranh thế giới II, chính là cái lý tưởng của CNXH, đến mức mà một triết gia công giáo Pháp thế kỷ XX, Jacques Maritain đã có thể trình bày chủ nghĩa cộng sản như một lạc thuyết (heresy) của Kitô giáo – nghĩa là một chân lý Kitô giáo đi lạc đường. Lấy lại tư tưởng của Maritain, Giáo sư Philippe Chenaux (tác giả của một nghiên cứu về mối quan hệ giữa Giáo Hội công giáo và chủ nghĩa cộng sản ở châu Âu) đã phát biểu như sau: “Quả thực tôi tin rằng người ta không thể quan niệm chủ nghĩa cộng sản bên ngoài một nền văn hoá là văn hoá Do-thái và Kitô giáo. Như Maritain nói, người ta tìm thấy trong các giá trị của cộng sản (công bằng xã hội, bình đẳng, tính cộng đồng, v.v…) mà cả trong niềm hy vọng thế tục mà nó đã khơi dậy, một “chút tàn dư” (résidu) của di sản Do-thái/ Kitô giáo bị tách khỏi phần còn lại của di sản này và tháp nhập vào trong một quan niệm duy vật vô thần về cuộc sống và về lịch sử. Chính cái chút tàn dư  này giải thích phần lớn sức thu hút mạnh mẽ của nó đối với quần chúng Tây phương” (và tôi xin thêm: trước khi các chế độ cộng sản châu Âu sụp đổ). (5)

Chính Marx và Engels đã từng coi cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên tại Giêrusalem (x. sách Công vụ Tông đồ 4,23 tt) là một mẫu mực của chủ nghĩa xã hội, nhưng hai ông lại bảo đó mới chỉ là CNXH không tưởng (utopic), tuy đẹp nhưng không thể tồn tại lâu dài, chỉ có thứ CNXH mà họ chủ trương mới là CNXH khoa học vì đặt cơ sở trên những qui luật phát triển của xã hội và lịch sử loài người mà chính họ tìm ra. Chính cái CNXH khoa học này đã được Lênin lần đầu tiên đưa ra áp dụng và lập ra nhà nước xhcn đầu tiên trong lịch sử…

Kinh nghiệm lịch sử cho phép ta nghĩ rằng: CNXH đích thực chỉ là một lý tưởng, một ước vọng cao quý của người ta. Không có, không thể có một hình thức CNXH hiện thực nào gọi được là mô hình CNXH đích thực. Mô hình đích thực của CNXH chính là những giá trị lý tưởng của nó (bình đẳng, huynh đệ, dân chủ, tự do…) mà nếu được thực hiện trọn vẹn thì sẽ có thể nói đó là “thiên đàng ở trần gian”. Quả thực, theo lý thuyết, CHXH sẽ dẫn tới xã hội cộng sản chủ nghĩa (commumist society) mà ở chặng phát triển cao nhất của nó, sẽ không còn giai cấp, mọi phương tiện sản xuất sẽ là sở hữu chung của nhân dân, mọi thành viên xã hội sẽ hoàn toàn bình đẳng về mặt xã hội, mỗi cá nhân được phát triển toàn diện, sẽ không còn xung đột quyền lợi của cá nhân và tập thể; nhờ khoa học kỹ thuật và những lực lượng sản xuất phát triển cao, mọi nguồn của cải sẽ tuôn trào, nhờ đó “mỗi người sẽ làm việc theo khả năng và hưởng theo nhu cầu” (6).

Đọc những dòng trên, người ngoài cộng sản tất sẽ cho là “ảo tưởng”, “viễn vông” nhưng với người cộng sản Liên Xô từ những năm 60 thế kỷ trước, “lý tưởng” đó tất yếu sẽ được thực hiện, vì: “khác với các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng, C.Mác đã hình dung xã hội cộng sản chủ nghĩa là sản phẩm tất yếu của quá trình vận động lịch sử thực tế, là sản phẩm của đấu tranh giai cấp. Ngay từ đầu, học thuyết của Mác về chủ nghĩa cộng sản đã hình thành với tư cách là một lý luận khoa học dựa trên việc nghiên cứu những quan hệ xã hội đang tồn tại thực sự và sự phát triển của những quan hệ đó”. Đây là khẳng định chắc nịch của cuốn Từ điển “Chủ nghĩa cộng sản khoa học”, xuất bản tại Liên Xô năm 1980 (7). Cho đến khi hàng loạt nước xã hội chủ nghĩa sụp đổ, người cộng sản vẫn khẳng định rằng “xã hội cộng sản chủ nghĩa” tất yếu phải đến (và thậm chí đã gần kề) vì họ coi những phân tích của Marx về xã hội và lịch sử là khoa học, giống như khoa học tự nhiên tìm ra những quy luật phát triển của thiên nhiên vậy. Bây giờ thì đã rõ. Mãi mãi CNXH đích thực chỉ là một lý tưởng. Không có gì sai trái khi người ta muốn xây dựng một xã hội theo những giá trị lý tưởng của CNXH, nhưng thật là ảo tưởng nếu cho rằng mình có thể xây dựng “thiên đàng” ở trần gian, và hơn nữa thật là vô cùng tai hại nếu nhân danh cái thiên đàng ấy vốn chỉ có trong mơ, để bắt hằng chục thế hệ con người phải hy sinh tất cả cho nó, như đã thấy bắt đầu từ thời Liên Xô của Lênin.

Lịch sử cho thấy rằng thứ CNXH khoa học mà Marx và Engels nói là đã tìm ra, rốt cuộc, sau khi đã được đưa vào thực nghiệm, lại chứng tỏ là thứ CNXH không tưởng vĩ đại nhất trong lịch sử loài người. Cái vĩ đại của Marx nếu có, phải nằm ở chỗ nào khác chứ không phải ở chỗ này.

Lm Nguyễn Hồng Giáo, dòng Phanxicô
(8-1-2011)

———————-
1/ Theo thứ tự: Ba-lan tháng 6,1989; Hungary tháng 9,1989; Đông Đức tháng 10, 1989 đập đổ bức tuờng Berlin, nhưng đến tháng 11,1990 mới chính thức sát nhập vào với Tây Đức; Tiệp Khắc tháng 11, 1989; Romania 12, 1989; Liên Xô tháng 12, 1991
2/ Nguyễn Khắc Viện nhận định: “Trong lúc cải tổ ở Liên Xô đang tiến những bước mạnh mẽ và to lớn, thì có người tưởng rằng nó đang dừng lại và có nguy cơ thất bại. Trừ một số rất ít người (vì những lý do nào đó) mong muốn cho cải tổ ở Liên Xô cũng như đổi mới ở Việt Nam không thành công để quay lại như cũ, số rất đông vẫn theo dõi tiến trình cải tổ ở Liên Xô với một niềm hy vọng mới” (Nguyễn Khắc Viện, Không được để mất thời gian, Tuổi Trẻ số 127/88 ngày 29-10-1988)
3/ Đúng ra là lợi ích của giai cấp công nhân, nhưng trong lý thuyết cộng sản, giai cấp công nhân là giai cấp vổ sản và vì vô sản nên đại diện được cho toàn dân, lợi ích của họ trùng hợp với lợi ích của nhân dân, thậm chí của nhân loại “đau khổ” nữa. Thuật ngữ Nhà nuớc của dân, v.v… là do Tổng thống Mỹ A. Lincoln đưa ra trong một bài nói chuyện năm 1863. Thế kỷ XX, Tôn Dật Tiên, Nehru và Hồ Chí Minh đã lặp lại. Sau cụ Hồ, nhiều Tổng Bí thư Đảng thường lặp lại. Công thức này thay thế kiểu nói  “chuyên chính vô sản”.
4/ Văn kiện ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ X, trích theo Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học (dùng trong các trường đại học, cao đẳng), nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2007, tr. 147
5/ Theo Zenit ngày 9-12-2009
6/ Xem Wolfgang Leonard, Sowiet-Ideologie heute II: die politischen Lehren, Fischer Buecherei, Frankfurt, 1962, tr.274, Câu “mỗi người làm việc theo khả năng…” và những ý tưởng trên là của Marx trong cuốn Critique of the Gotha program của Marx (1875). Câu nói đó là khẩu hiệu chung của phong trào xã hội chủ nghĩa và lần đầu tiên được nhà xã hội chủ nghĩa Pháp Louis Blanc sử dụng trong cuốn L’Organisation du travail,  năm 1840. Tuy nhiên, nguồn gốc xa của nó là trong Kinh Thánh.
7/ Chủ biên của cuốn Từ điển là Viện sĩ  A.M. Rumianxtép. Bản dịch Việt ngữ, nxb Sự Thật, Hà Nội,1986, tr. 76).

 

Share This Post