Mầu nhiệm “tự hủy” của Ngôi Lời Nhập Thể và sự “thần hóa” con người

Từ xưa, đức tin của Giáo Hội đã tuyên xưng rằng Ngôi Lời Thiên Chúa đã nhận lấy trọn vẹn bản tính nhân loại và trở nên con người như mọi người, ngoại trừ tội lỗi (Dt 4, 15). Trong lời Tựa của Tin Mừng thứ tư đã viết: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1, 14), thánh sử Gioan đã dùng từ Hilạp Sarx (thịt – flesh, xác phàm) theo nghĩa mạnh như là một ý niệm thực tế về thân phận làm người, một thân phận tạo vật so với sự siêu việt và vĩnh hằng của Thiên Chúa nhằm khẳng định mầu nhiệm tự huỷ-nhập thể của Ngôi Lời, để trở nên Đấng Trung Gian bắc chiếc cầu nối khoảng cách xa vời vợi giữa trời và đất, giữa Thiên Chúa và con người.

  • Nhập Thể – Tình Yêu Của Ngôi Lời Thiên Chúa

Tình yêu vốn là lý do thực sự của việc Nhập thể làm người của Ngôi Lời Thiên Chúa. Vì thế, điều mà mầu nhiệm Nhập thể muốn mạc khải cho chúng ta là bản chất con người tự nó có giá trị đến độ Thiên Chúa (nơi Đức Kitô) có thể sống và hành động cứu chuộc nhờ và qua bản tính ấy. Con người không phải là những kẻ bị loại ra khỏi Nước Trời, nhưng là những thụ tạo cao quí được Thiên Chúa tạo dựng để được hiệp thông với Người; nhờ Ngôi Lời nhập thể làm người mà chúng ta không phải là những kẻ ngoài cuộc, nhưng là những người được nâng lên tham dự cách mật thiết với chính Thiên Chúa. Trong Ngôi Lời Nhập Thể, con người được tham dự vào sự sống và vinh quang của Thiên Chúa, và được kêu lên “Abba, Cha ơi !” (Gl 4, 6).

Vai trò trước hết của Ngôi Lời Nhập Thể là dùng thân xác mình làm cho Thiên Chúa Cha hiện diện giữa loài người, vì ai thấy Đức Kitô là thấy Đấng đã sai Ngài (Ga 12, 45). Thân xác nhập thể của Ngài là mãnh lực lớn lao của các dấu hiệu về Thiên Chúa[1]. Vì thế, khi mắt Ngài nhìn con người, tiếng Ngài nói với con người, bàn tay Ngài chạm đến con người, đó là cái nhìn, tiếng nói và bàn tay của Thiên Chúa; khi Ngài trừ quỉ, chữa lành bệnh nhân, cho kẻ chết sống lại, hóa bánh ra nhiều… đó chính là sức mạnh phát xuất từ linh hồn và thân xác của Con Thiên Chúa. Chỉ cần một cử động của thân xác, một lời nói hay một sự đụng chạm đến thân xác Ngài là có thể có một phép lạ xảy ra. Nơi Đức Kitô, thân xác của Ngài bộc lộ những khả năng vô cùng lớn lao của tình yêu phục vụ, nó trở thành công cụ của tình yêu Cứu độ, hay nói theo tư tưởng của giáo phụ Tertulianô: “xác thịt là điểm mấu chốt của ơn cứu độ”[2]. Tác giả của thư Dothái cũng đã minh xác: “Do thánh ý của Thiên Chúa, chúng ta được thánh hóa nhờ sự hiến dâng thân thể Chúa Kitô một lần là đủ” (Dt 10, 10). Thật thế, Ngôi Lời làm người “không phải để cứu vớt các thiên thần, nhưng để cứu độ loài người”[3], nên Ngài phải hiến dâng thân xác và linh hồn Ngài như của lễ hi sinh vì tình yêu Cứu độ. Cách duy nhất mà Ngôi Lời làm người có thể hiến dâng thân mình là hiến dâng thân xác của Ngài trong sự kết hợp hoàn toàn với ý chí và tự do của linh hồn Ngài. Như thế, ba mươi ba năm của cuộc đời dương thế trong nhân tính, Ngôi Lời làm người đã hiến dâng thân mình cho tình yêu Cứu độ thế giới. Và tất cả mọi hoạt động của thân xác Ngài như làm thợ, rao giảng, chữa bệnh, cầu nguyện… đều là hành động phục vụ cho công cuộc Cứu độ.

Tình yêu của Ngôi Lời Nhập Thể được bộc lộ cách mạnh mẽ, tràn đầy nhưng bi đát nhất trên cây thập giá. Trung tâm điểm của việc Cứu chuộc là thân xác Ngài bị treo trên cây gỗ ở đồi Calvari. Cơn hấp hối tinh thần và những đớn đau thân xác đè nặng trên hữu thể Đức Kitô và đã được Ngài chấp nhận bằng một hành động lựa chọn yêu thương, để từ trên thập giá, linh hồn bao bọc và trao phó thân xác mình một cách tràn đầy đến nỗi chúng ta được cứu chuộc nhờ lễ tế tình yêu của thân xác Ngài. Thế nhưng, kết quả của việc Cứu độ bằng hiến tế thân xác của Đức Kitô còn hệ tại ở sự phục sinh thân xác: “thân xác đã được mai táng này không phải là một tử thi, nhưng là một mầm sống”[4]; thân xác bị hi sinh đã trở thành thân xác được tôn vinh. Đó mới là ý nghĩa tròn đầy của tình yêu cứu chuộc nơi thân xác của Ngôi Lời Nhập Thể!

Sự liên đới mang chiều kích lịch sử của Ngôi Lời với dòng giống nhân loại đã làm sáng tỏ đức công bình phi thường của Thiên Chúa trong công cuộc Cứu chuộc, bởi vì sự đền bù tội lỗi được thực hiện bởi một người xuất thân từ dòng giống tội lỗi, và “phẩm giá con người cũng nhờ đó mà được nâng cao, bởi vì tên ác thần đã bị đánh bại bởi một nhân vật đại diện cho cả nòi giống mà xưa kia đã bị bại trận trước nó vào buổi đầu của lịch sử”[5]. Khi đảm nhận bản tính nhân loại trọn vẹn xác hồn, Ngôi Lời đã nhận lấy mọi đau khổ và cả sự chết là những thuộc tính của nhân loại, để cứu chữa nhân loại bằng sự Phục sinh sau cái chết. Khi Apollinaire chủ trương Đức Kitô không có linh hồn nhân loại thực sự, vì thế ông cũng chối bỏ luôn khả năng vâng phục của Ngài trong công cuộc Cứu chuộc, và nhân tính Ngài cũng không có khả năng cứu vớt con người bằng tình yêu Cứu chuộc. Đức Kitô chỉ có thể cứu chuộc loài người khi giữa Ngài với con người không có sự dị biệt tuyệt đối. Sự Cứu chuộc con người phải nhờ đến và thông qua sự liên đới mầu nhiệm giữa người với người, giữa Đức Kitô với từng người một cách trọn vẹn. Rất nhiều khía cạnh khác nhau của mầu nhiệm Cứu chuộc phải được cứu xét dưới ánh sáng của mầu nhiệm Nhập Thể qua mối dây liên đới giữa nhân loại với Đức Kitô – Ngôi Lời Nhập Thể, hay nói đúng hơn, qua sự liên kết giữa Đức Kitô với nhân loại trong chính bản thân Người, bởi vì Người là Ađam mới. Các Giáo phụ đã dùng nhiều lối diễn tả nhằm xác quyết một điều căn bản về Ngôi Lời nhập thể làm người là “Đức Kitô phải trở thành những gì chúng ta là, ngõ hầu chúng ta có thể trở thành những gì Ngài là; rằng, Đức Kitô trong tư cách là Đấng Cứu độ, đã thâu kết nơi mình toàn thể nhân loại.”[6]

  • Nhập Thể – Sự “Tự Hủy” Của Ngôi Lời Và Sự “Thần Hóa” Con Nguời

Sự Nhập thể của Ngôi Lời là một sự tự huỷ đầy kinh ngạc và là một lối bày tỏ tình yêu phi thường mà Thiên Chúa dành cho nhân loại, để trong tư cách là Ađam mới, Đức Kitô kết hợp với mọi người chúng ta và đảm nhận vào thân thể Ngài thảm cảnh và mọi bất trắc của lịch sử nhân loại. Việc hiến thân mình làm lễ hi sinh trên thập giá thay cho nhân loại dâng lên Chúa Cha sẽ không thể hiểu nổi, thậm chí phi lý nếu loại bỏ mầu nhiệm Nhập Thể làm người cũng như mọi hệ luỵ xuất phát từ nhân tính đích thực và toàn vẹn của Ngôi Lời Nhập Thể. Bằng mối dây liên đới mầu nhiệm, với tư cách là Ađam mới, Ngôi Lời đã đón nhận toàn bộ thực tại của lịch sử nhân loại mọi thời đại để thần hoá nó, làm cho nó có ý nghĩa vừa nhân bản vừa siêu việt. Theo mọi nghĩa, chính nơi hữu thể Đức Giêsu Kitô, toàn bộ thực tại và lịch sử nhân loại được “siêu việt hoá”, bởi chính nơi Ngài trọn vẹn là Đấng Siêu Việt và cũng trọn vẹn là con người hữu hạn. Cũng kể từ đây, thân xác của con người là thân xác đã được cứu chuộc, thân xác đã được thánh hóa thần hóa; thân xác không còn là một sự vật trần tục nhưng là một vật linh thánh! Và khi lãnh nhận Thánh tẩy, toàn bộ con người trở nên chi thể của Ngôi Lời, nói cách khác, Ngôi Lời chiếm lấy trọn vẹn linh hồn và thân xác con người. Như thế, từ đây Kitô giáo đã đạt tới đích trên bước đường khẳng định lại các giá trị, và “chính ở đây mới trắng đen rõ một: con người tự hiến trọn vẹn cho tha nhân, tự nguyện bỏ mình, huỷ ra không-ra không theo nghĩa đen-, thì chính người đó mới là Con Người đích thực, Con Người của tương lai, và chính nơi Con Người đó Thiên Chúa và phàm nhân nên một với nhau.”[7]

Theo tư tưởng của Đức Benedict XVI, con người chỉ thực sự trở thành người khi vượt qua được lằn ranh từ loài vật để vươn tới Logos (Ngôi Lời), và theo một nghĩa mạnh, khi vượt qua được sinh vật thuần tuý để vươn tới hữu thể tinh thần. Điều này đã và sẽ vẫn được hiện thực nơi và nhờ Đức Kitô. Quả thế, trong Đức Kitô, con người từ “bụi đất” đã trở thành người đúng nghĩa, và điều này “chỉ thành sự khi chính Logos, chính Ý Nghĩa sáng tạo nên mọi sự tan hoà được vào trong con người. Con người chỉ trở thành người trọn vẹn khi Thiên Chúa đã làm người. Chỉ trong tiến trình ‘thành người’ và ‘làm người’ đó, con người mới hoàn toàn vượt qua được ‘thế giới loài vật’ để bước vào ‘thế giới Logos’”.[8] Vì thế, chính nhờ Đức Kitô, Đấng là Thiên Chúa thật và là người thật, mà tiến trình làm người của mọi người mới đạt tới điểm hoàn tất. Đó là giá trị cứu chuộc và thần hoá nhờ nhân tính của Ngôi Lời Nhập Thể đối với nhân loại.

Ảo Thân thuyết đã đánh giá một cách sai lạc về sự tự huỷ của Ngôi Lời Thiên Chúa qua việc Nhập Thể của Ngài, khi họ chủ trương Đức Kitô không có thân xác thật; theo đó, họ đã chia cắt bản vị của Ngôi Lời với bi kịch của thân phận con người đích thực nơi Đức Kitô. Ngôi Lời, Đấng đã tạo dựng nên bản tính nhân loại, đã tự huỷ một cách đáng kinh ngạc khi trở nên bản tính của chính thụ tạo do Ngài dựng nên, để bản tính đó được kết hợp với bản tính Thiên Chúa. Như thế, Thiên Chúa đã đi xuống để trở thành con người. Và đó là một mầu nhiệm vĩ đại! Nhưng công cuộc của tình yêu Nhập Thể đó sẽ vô hiệu nếu không liên quan gì đến đạo lý của việc thần hoá con người. Cứu chuộc hệ tại ở Tình Yêu tự hạ: Ngôi Lời đã đi xuống để con người có thể đi lên; Con Thiên Chúa đã hạ mình xuống chia sẻ thân phận con người để loài người được nâng lên thông dự vinh quang Thiên Chúa. Việc con người được thông dự vào sự sống Thiên Chúa là phần thiết yếu của toàn bộ kế hoạch Cứu độ.

Ơn cứu độ mà Thiên Chúa ban cho con người qua Ngôi Lời Nhập Thể có thể được hiểu như một sự biến đổi về mặt hữu thể, nhưng không thể theo nghĩa chặt của cụm từ này: “Bởi Người đã đích thân làm người để chúng ta được thành Thiên Chúa”[9]. Thật thế, con người trong Đức Kitô là do bản chất, vì Ngài là Ngôi Lời của Thiên Chúa và là Thiên Chúa, còn những ai tin nhận Đức Kitô cũng được trở nên con Thiên Chúa nhờ việc tham dự (hoặc kết hợp-consortio). Bản tính nhân loại của Ngôi Lời Nhập Thể tìm được tiếng vang trong sự thần hoá con người chúng ta, và ngược lại, “chỉ nhờ việc ‘trở nên’ Thiên Chúa mà chúng ta mới bắt đầu trở thành người cách trọn vẹn”[10]. Như thế, sự thần hóa mà con người đón nhận là cả một tiến trình biến đổi về mặt hữu thể để được thông dự-kết hợp với Thiên Chúa, chứ không phải là sự mua đoạn bán đứt. Kitô giáo đặc biệt quan tâm đến sự biến đổi nhân loại tội lỗi qua một tiến trình kì diệu và mang tính cá vị giữa con người với Thiên Chúa. Vì thế, không có lí do gì để loại trừ con người ra khỏi ơn Cứu độ, kể cả đối với những người bị coi là tội lỗi nặng nề. Ơn Cứu độ không phải chỉ được ban cho một số người được quyền hưởng, nhưng là cho mọi người, chỉ trừ những ai cố tình khước từ ơn ấy mà thôi.

Khoa Kitô học bàn nhiều về nhân tính Đức Kitô theo góc độ hữu thể học, nhưng giáo lý về sự thần hóa con người qua nhân tính được Ngôi Lời đảm nhận phần nào bị bỏ quên, vì thế, tính hiện sinh của đức tin Kitô giáo bị giảm thiểu, hơn nữa còn làm “giảm hạ mầu nhiệm của kế hoạch của Thiên Chúa xuống chỉ còn như là một ít ‘mảnh đạo đức siêu hình’”.[11] Tự bản chất, Kitô giáo đâu chỉ hệ tại ở vấn đề sống tốt, nhưng quan trọng là vấn đề “trở nên Thiên Chúa”[12]. Chính nhờ hết lòng tin nhận chân lý Ngôi Lời Thiên Chúa đã chia sẻ đầy đủ bản tính con người của ta, mà ta mới có thể mạnh dạn tìm ra ở nơi Người một lối đi tới mối tương quan sâu thẳm có tính biến đổi với Thiên Chúa-Đấng luôn hiện hữu vượt quá mọi kinh nghiệm của con người.

Công đồng Vat. II đã sử dụng lại thành ngữ đã có từ thời các Giáo phụ: “Điều gì không được Đức Kitô nhận lấy sẽ không được cứu thoát”.[13] Trước hết, thành ngữ này đã được các Giáo phụ dùng như một luận chứng then chốt và xác đáng để bảo vệ nhân tính đích thực của Đức Kitô, và sự nhập thể của Ngài như là một sự nhân hoá đích thực. Công đồng còn nhấn mạnh thêm: “và để xây dựng một xã hội huynh đệ giữa con người, con người tội lỗi, Thiên Chúa đã quyết định đi vào lịch sử loài người một cách mới mẻ và dứt khoát bằng cách sai Chúa Con mặc lấy xác phàm chúng ta để nhờ Chúa Con, Ngài giải thoát nhân loại khỏi quyền lực tối tăm và Satan, và để trong Chúa Con, Ngài hoà giải thế gian với chính Ngài”.[14] Tính chân thực của nhân tính Đức Kitô phải được đặt trong mối liên hệ khăng khít với tính chân thực của việc Nhập thể của Ngôi Lời, và nhờ đó ta mới có thể diễn tả được tính chân thực của việc thần hóa con người. Chỉ trong mối liên hệ khăng khít như vậy giữa các khía cạnh chân thực của mầu nhiệm Ngôi Lời: Nhập thể – Nhân tính – Cứu chuộc, chúng ta mới có thể khẳng định được rằng, “nếu Đức Kitô không phải là người thật, gồm trọn vẹn cả xác hồn giống như ta, thì Ngài cũng không thể cứu chuộc chúng ta trong cả xác hồn.”[15] Nhân tính của Ngôi Lời Nhập Thể khi được nhìn theo viễn cảnh Cứu độ học, thì mới hiểu được giá trị vô song của nó, như suy tư của thánh Athanase, nếu Đức Kitô không phải là Thiên Chúa thật và không phải là người thật, thì Người không có khả năng đem lại ơn cứu độ cho nhân loại, và con người không thể được thần hóa trong Người.

  • Kết Luận

Trong bối cảnh mang đậm dấu ấn trần tục hoá hiện nay, đối với nhiều người, chấp nhận một vị Thiên Chúa mạc khải qua Ngôi Lời Nhập Thể chẳng đem lại một ý nghĩa trực tiếp nào. Con người hiện đại muốn nắm vững đời sống mình trong tay, họ muốn thoát khỏi sự tha hoá và thể hiện mình bằng chính sức mạnh của mình. Nhưng một điều luôn chắc chắn, nếu Ngôi Lời Thiên Chúa không hạ cố mặc lấy thân phận phàm nhân, thì con người sẽ chẳng là gì trong ý nghĩa của nó. Việc Ngôi Lời mặc lấy xác phàm đã khuyến khích ta chấp nhận, yêu thương và hiểu rõ được tính xác thịt nơi ta, với tất cả sự trân trọng những giá trị cũng như giới hạn của nó. Khi chiêm ngắm và suy tư về mầu nhiệm Nhập Thể: “Ngôi Lời trở nên xác phàm”, ta càng trân trọng hơn đối với thân xác đã được Ngôi Lời thần hóa nơi tất cả mọi người. Và con người chỉ thắng được huyền nhiệm cuộc đời mình khi biết phó mình cho mầu nhiệm Thiên Chúa được mạc khải trong Đức Kitô – Ngôi Lời Nhập Thể, Đấng là Thiên Chúa thật và là người thật. Chỉ nhờ, vớitrong Đức Kitô, con người mới nhận được sự thật tối hậu của mình.

Lm. Fx. Hồng Ân

_______

[1] X. Jean MOUROUR, Quan niệm Kitô giáo về con người, Trần Thái Đỉnh và Nguyễn Bình Tĩnh dịch, ĐCV. Huế, 1997, tr. 119.

[2] Michael CASEY, Con người trọn vẹn-Thiên Chúa trọn vẹn, Lm. Đaminh Nguyễn Đức Thông C.Ss.R dịch, Nxb. Tôn Giáo, 2009, tr. 35.

[3] Jean MOUROUR, op. cit., tr. 123.

[4] Ibid., tr. 126.

[5] Fernando OCARIZ, Mầu nhiệm Đức Kitô, Lâm Văn Sỹ, Op. dịch, TTHVĐM, tr. 95.

[6] Ibid., tr. 96.

[7] Jos. Ratzinger – ĐỨC GIÁO HOÀNG BÊNÊĐICTÔ XVI, Đức Tin Kitô Giáo Hôm Qua Và Hôm Nay, bản dịch Việt ngữ của Lm. Atha. Nguyễn Quốc Lâm và Nguyễn Hồng Lam, Nxb. Tôn Giáo, 2000, tr. 239.

[8] Ibid., tr. 249.

[9] Suy tư của thánh Athanase Alexandria (295-373), x. Karl-Heinz Ohlig, Kitô Học Qua Các Tác Giả, 1991, tr. 219.

[10] Michael CASEY, op. cit., tr. 29.

[11] Ibid., tr. 30.

[12] Ibid., tr. 31.

[13] Cđ. Vat. II, Sắc lệnh Truyền giáo, số 3.

[14] Ibid.

[15] Fernando OCARIZ, op. cit., tr. 93.

________________

Share This Post