Miền Sinh, Cõi Tử (Chúa nhật V mùa Chay, năm A)

Sinh – Tử là hai thái cực, hai đầu “mở” và “đóng” của cuộc lữ hành trần gian. Thật vậy, chính Chúa Giêsu cũng đã qua hai “ngưỡng” này – từ Belem tới Can-vê. Thế gian có nhiều loại “cuộc”, nhưng có lẽ đặc biệt nhất là cuộc đời, với đủ thứ nhiêu khê đan xen trong cái “cõi sống” đó!

Cuộc đời cũng là cuộc sống, là sự sống, nhưng không là Nguồn Sống. B. Brech nói: “Cái đáng sợ không phải là chết, mà là sống rỗng tuếch”. Cách “sống rỗng tuếch” là sống-như-chết, tức là “chết ngay khi còn sống”. Còn Maxwell Winston Stone nói: “Đừng nghĩ đến cái chết về thể xác mà hãy trả lời câu hỏi: Bạn đã hoàn thành sứ mệnh của cuộc đời mình chưa? Nhắc đến cái chết và chuẩn bị cho cuộc hành trình sang thế giới bên kia dường như khiến người ta bị quan, lo sợ. Nhưng theo nghĩa lạc quan, có một điều mới lạ sắp đến. Khi đó, bạn không còn cảm giác lo lắng hay sợ hãi nữa”. Biết nghĩ đến cái chết để cố gắng sống tốt hơn, chứ không để bi quan hoặc yếm thế.

Chắc chắn ai trong chúng ta cũng có hai sự sống: Sự sống thể lý và sự sống tâm linh. Người vô thần cũng có hai sự sống, dù họ cố ý chối bỏ phần tâm linh. Chắc chắn rằng sự sống tâm linh quan trọng hơn, vì đó là sự sống của linh hồn, mà chính linh hồn mới làm cho thân xác sống. Tuy nhiên, điều quan trọng phải ghi nhớ là chỉ có Thiên Chúa mới là Nguồn Sống (Tv 36:10). Thật vậy, Chúa Giêsu đã minh định: “Chính Thầy là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống (Ga 14:6). Và Thánh Vịnh gia cũng đã phân tích rạch ròi: “Chúa ẩn mặt đi, chúng rụng rời kinh hãi; lấy Sinh Khí lại, chúng tắt thở ngay mà trở về cát bụi. Sinh Khí của Ngài, Ngài gửi tới, chúng được dựng nên, và Ngài đổi mới mặt đất này” (Tv 104:29-30).

Thật vậy, Cựu Ước đã xác định rằng “chính Ngài ban Sự Sống cho muôn vật, muôn loài” (Nkm 9:6), và nguyên tổ A-đam là người đầu tiên được đón nhận sự sống: “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi Sinh Khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật” (St 2:7). Được sinh ra làm người đã là một hồng ân rồi, dù chúng ta như thế nào – thậm chí là sống đời thực vật. Tất nhiên, chúng ta không có quyền đòi hỏi hoặc chọn lựa gì cả, bởi vì  “Thiên Chúa là Đấng cầm quyền sinh tử”, Ngài có thể “đẩy xuống âm phủ rồi lại kéo lên” (Đnl 32:39; 1 Sm 2:6; Kn 16:13). Đó là quyền của Ngài, được thể hiện qua sự quan phòng và tiền định từ thuở đời đời.

Sự sống rất cần, vì thế mà mọi người đều có trách nhiệm bảo vệ sự sống. Sự sống liên quan không khí. Không khí là dưỡng khí, là ô-xy để chúng ta hít thở. Thiếu không khí vài phút là mọi vật chết hết. Chính không khí là đại hồng ân Thiên Chúa trao ban cho mọi loài, chúng ta sử dụng liên tục mà vẫn coi thường, thậm chí là vô ơn bạc nghĩa. Làm ô nhiễm môi trường là hủy hoại môi sinh, tiêu diệt sự sống, tự giết chính mình. Đó là tội lỗi!

Liên Hiệp Quốc cảnh báo rằng, kể từ Thế Chiến II tới nay, chúng ta đang sống trong cơn khủng hoảng nhân đạo dữ dội nhất. Hàng hàng lớp lớp đang chịu đói khát cả về thể lý lẫn tinh thần. Quả thật, đây là báo động đỏ cho thời đại của chúng ta ngày nay vậy.

Thuở xưa, Thiên Chúa đã nói với ngôn sứ Ê-dê-ki-en: “Ngươi hãy tuyên sấm, hãy nói với chúng rằng Đức Chúa là Chúa Thượng phán như sau: Hỡi dân Ta, này chính Ta mở huyệt cho các ngươi, Ta sẽ đưa các ngươi lên khỏi huyệt và đem các ngươi về đất Ít-ra-en. Các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa, khi Ta mở huyệt cho các ngươi và đưa các ngươi lên khỏi huyệt, hỡi dân Ta!” (Ed 37:12-13). Được ra khỏi huyệt mộ là thoát chết, tức là được sống. Thật là Đại Phúc cho ai được như vậy!

Và chẳng đâu xa, mỗi chúng ta đã và đang được nhận phúc lớn đó. Thật vậy, Thiên Chúa đã nói như một lời giải thích: “Ta sẽ đặt thần khí của Ta vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được hồi sinh. Ta sẽ cho các ngươi định cư trên đất của các ngươi. Bấy giờ, các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa, Ta đã phán là Ta làm” (Ed 37:14). Chúng ta được Thiên Chúa “thổi hơi” để trao ban Thần Khí, nhờ đó mà chúng ta có thể sống. Và còn hơn thế nữa, vì chúng ta còn được sống dồi dào (Ga 10:10), theo mong muốn của Chúa Giêsu. Nếu chúng ta không thể sống dồi dào là lỗi tại chúng ta. Lời Chúa xác quyết “Ta đã phán là Ta làm” khiến chúng ta an tâm. Quả thật, Ngài không hề sai lời và Ngài rất thẳng thắn, một là một chứ không xấp xỉ hoặc tương đương. Tuyệt vời là như thế đấy!

Tình trạng “ở trong bóng tối” tức là CHẾT, tình trạng “ở trong ánh sáng” tức là SỐNG. Chúng ta chết vì chúng ta ở trong bóng tối – bóng tối tội lỗi. Vì thế, chúng ta luôn phải khẩn cầu: “Từ vực thẳm, con kêu lên Ngài, lạy Chúa, muôn lạy Chúa, xin Ngài nghe tiếng con. Dám xin Ngài lắng tai để ý nghe lời con tha thiết nguyện cầu” (Tv 130:1-2). Đó là lời cầu cấp tốc, lời cầu khẩn cấp, như tiếng còi vang lên từ xe cứu thương hoặc hiệu lệnh báo động.

Ôi, lại một hồng ân nữa: Chúng ta biết đánh tín hiệu cấp cứu “S.O.S” nên được cứu sống, nhờ Thiên Chúa đến kịp. Vâng, ước gì mỗi khi gặp hoạn nạn, chúng ta luôn biết “dò làn sóng của Thiên Chúa” bằng cách van xin: “Ôi lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng? Nhưng Chúa vẫn rộng lòng tha thứ để chúng con biết kính sợ Ngài” (Tv 130:3-5). Tuy nhiên, muốn được như vậy cũng không hề dễ dàng, nếu chúng ta không “hết lòng mong đợi và cậy trông ở lời Chúa” (Tv 130:5). Thật vậy, nếu thực sự muốn “sống cho đúng nghĩa”, chúng ta phải tâm niệm rạch ròi: “Hồn tôi trông chờ Chúa, hơn lính canh mong đợi hừng đông. Hơn lính canh mong đợi hừng đông, bởi Chúa luôn từ ái một niềm, ơn cứu chuộc nơi Ngài chan chứa. Chính Ngài sẽ cứu khỏi tội khiên muôn vàn” (Tv 130:6-8).

Thiên Chúa không ngừng phát “sóng hồng ân” liên tục 24/7, chúng ta không bắt được sóng của Ngài có thể là vì chúng ta không có ăng-ten, không muốn bắt “sóng thương xót” hoặc không muốn nghe các chương trình của Ngài vì cảm thấy “không hợp” với mình, cũng có thể vì thế mà chúng ta thích bắt các đài khác hợp ý mình hơn, nhưng khốn thay đó lại là các làn sóng của thế gian và Satan. Đó là “sống mà như chết”, thân xác thì sống thật đấy mà linh hồn lại chết rồi!

Chúng ta biết rằng chuyện sống – chết liên quan vấn đề xác – hồn. Điển hình và dễ nhận thấy là sự sống của thân xác. Nhưng cũng nên phân biệt rạch ròi hai vế là “xác thịt” (nhục thể, cụ thể) và “tính xác thịt” (trừu tượng). Đôi khi “tính xác thịt” còn nguy hiểm hơn “xác thịt”. Có lẽ vì thế mà Giáo hội “đề nghị” lời cầu nguyện trong mầu nhiệm thứ Năm của Mùa Thương: “Xin cho con biết đóng đinh tính xác thịt vào Thánh Giá Chúa”. Vả lại, chính Chúa Giêsu cũng đã cảnh báo: “Tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn” (Mt 26:41; Mc 14:38).

Rất có thể khi nghe nói như vậy sẽ có người muốn “nổi loạn” và muốn “kiện” Chúa. Tại sao? Bởi vì họ cho rằng Ngài đã tạo nên một dạng thân-xác-yếu-hèn. Ý nói là Chúa đã “cài đặt” mặc định (default) như vậy rồi, y như máy vi tính đã “đóng băng” (Deep Freeze), chúng ta có thay đổi mọi thứ thì nó cũng trở về “mặc định” sau khi nó được khởi động lại (restart). Nhưng KHÔNG phải như vậy. Thật ư? Vấn đề thứ nhất: đó là mầu nhiệm, chúng ta không đủ trình độ để hiểu. Vấn đề thứ nhì: Thiên Chúa không bao giờ tạo dựng điều xấu, vì Ngài là Đấng chí thánh, nơi Ngài CHỈ CÓ ĐIỀU TỐT chứ KHÔNG CÓ ĐIỀU XẤU.

Quả thật, Thánh Phaolô đã nói: “Những ai bị tính xác thịt chi phối thì không thể vừa lòng Thiên Chúa” (Rm 8:8). Nhưng chúng ta thật may mắn vì chính tội-nhân-chúng-ta được trở thành con cái của Thiên Chúa, điều mà Thánh Phaolô đã giải thích: “Anh em không bị tính xác thịt chi phối, mà được Thần Khí chi phối, bởi vì Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em. Ai không có Thần Khí của Đức Kitô thì không thuộc về Đức Kitô” (Rm 8:9). Còn hơn cả sự tuyệt vời!

Đối với chuyện sinh – tử, Thánh Phaolô giải thích và xác định chi tiết: “Nhưng nếu Đức Kitô ở trong anh em thì dầu thân xác anh em có phải chết vì tội đã phạm, Thần Khí cũng ban cho anh em được sống, vì anh em đã được trở nên công chính. Lại nữa, nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới” (Rm 8:10-11).

Và Kinh Thánh cũng đã nói: “Thiên Chúa là Đấng cầm quyền sinh tử, đẩy xuống âm phủ rồi lại kéo lên” (1 Sm 2:6). Quả đúng là như vậy, vì “Thiên Chúa nắm chủ quyền trên mọi xác phàm” (Đn 14:5), chính “Chúa Cha đã ban cho Người [Đức Kitô] quyền trên mọi phàm nhân” (Ga 17:12) và “trên mọi chi tộc” (Kh 13:7). Rất rõ ràng, rất rạch ròi, không có gì mơ hồ!

Tin Mừng hôm nay là trình thuật Ga 11:1-45, kể lại một chuyện-cổ-tích-có-thật thế này: Một người bị đau nặng tên là La-da-rô, quê ở Bê-ta-ni-a, em trai của hai chị em cô Mác-ta và Ma-ri-a (người sau này sẽ xức dầu thơm và lấy tóc lau chân Chúa Giêsu). Một hôm, anh La-da-rô bị đau nặng và… tắt thở. Chuyện buồn xảy ra hằng ngày, không của riêng ai, vì ai cũng tới lúc này. Và ai cũng đã nhiều lần có cảm giác mất mát người thân hoặc bạn bè, càng nhiều tuổi càng trải qua nhiều cảm giác “lạ” này.

Ngay khi biết em trai bị bệnh nặng, khó qua khỏi, hai chị em gái cho người đến báo tin buồn cho Đức Giêsu: “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng”. Chúng ta thấy rõ ràng La-da-rô là “người mà Chúa Giêsu thương mến”, thế nhưng Ngài vẫn thản nhiên bảo: “Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa: qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh”. Giữa lúc dầu sôi lửa bỏng thế mà Chúa Giêsu vẫn bàng quan thế ư? Không phải đâu, Ngài không dùng từ nào thừa hoặc thiếu, nhưng rất chính xác và đầy đủ, vì Ngài biết Ngài là ai và Ngài sẽ làm gì.

Chúng ta được biết rằng Chúa Giêsu quý mến cả ba chị em Mác-ta, Ma-ri-a và La-da-rô, bằng chứng là Ngài đã lưu lại thêm hai ngày ở nhà họ. Sau đó, Ngài cùng các môn đệ trở lại Giu-đê. Các môn đệ thấy người Do-thái mới tìm cách ném đá Thầy, nên muốn can ngăn. Nhưng Ngài vẫn bình tĩnh bảo họ: “Ai đi ban ngày thì không vấp ngã, vì thấy ánh sáng mặt trời. Còn ai đi ban đêm thì vấp ngã, vì không có ánh sáng nơi mình!”. Một bài học nữa về cách sống tâm linh mà Chúa Giêsu dạy cho chúng ta, đặc biệt là các Kitô hữu.

Khi đó, Chúa Giêsu bảo họ: “La-da-rô, bạn của chúng ta, đang yên giấc. Tuy vậy, Thầy đi đánh thức anh ấy đây”. Các môn đệ nói: “Thưa Thầy, nếu anh ấy yên giấc được, anh ấy sẽ khoẻ lại”. Các môn đệ không hiểu ý của hai từ “yên giấc” mà Ngài dùng, họ tưởng Ngài nói về việc ngủ nghỉ bình thường. Thật ra Ngài muốn đề cập SỰ CHẾT. Và rồi Ngài phải nói toạc móng heo luôn: “La-da-rô đã chết. Thầy mừng cho anh em, vì Thầy đã không có mặt ở đó, để anh em tin. Thôi, nào chúng ta đến với anh ấy”. Ôi chao! Thấy người ta chết mà lại bảo là “mừng”. Coi bộ “căng” dữ nghen! Thế nhưng đúng là như vậy, Ngài mừng vì Ngài không có mặt ở đó để người ta thêm tin khi thấy việc Ngài làm: Cải tử hoàn sinh cho La-da-rô.

Hôm đó, các đệ tử đã đồng tâm nhất trí muốn “cùng chết với Sư Phụ”. Tốt lắm, ít ra cũng là như thế! Cuộc sống cần nhớ điều này: Dù CHƯA LÀM được điều mình MUỐN thì ít ra cũng phải biết MUỐN điều mình MUỐN THỰC HIỆN.

Chắc hẳn là La-da-rô bệnh nặng lắm nên mới mau chết như vậy. Bởi vì dù đường không xa, nhưng khi Chúa Giêsu đến nơi, người ta đã an táng La-da-rô được bốn ngày rồi. Kinh Thánh cho biết rằng Bê-ta-ni-a cách Giê-ru-sa-lem không xa, chưa đầy ba cây số, nhưng thời đó cuốc bộ suốt nên mất nhiều thời gian. Có nhiều người Do-thái đến chia buồn với chị em Mác-ta và Ma-ri-a. Dân làng với nhau mà, có chuyện gì cũng chia sẻ với nhau – dù là việc hỉ hay việc hiếu.

Khi nghe tin Đức Giêsu đến, cô Mác-ta liền vội ra ngõ đón Ngài, còn cô Ma-ri-a thì cứ ngồi ở nhà, cứ bình thường, ra vẻ như chẳng có gì quan trọng. Phong cách bình thản như thế kể cũng hay thật đấy! Nhà hiếu chưa yên chuyện buồn thì lại có chuyện khác. Cuộc đời thật là rắc rối như mớ bòng bong vậy!

Vừa gặp Chúa Giêsu, Mác-ta nói ngay: “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết. Nhưng bây giờ con biết: Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy”. Ngài liền bảo: “Em chị sẽ sống lại!”. Mác-ta thưa rằng cô vẫn tin kẻ chết sống lại trong ngày sau hết. Nhưng Ngài nói rõ: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy thì dù đã chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy sẽ không bao giờ phải chết”. Ngài hỏi Mác-ta có tin thế không, Mác-ta cũng xác tín: “Con vẫn tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian”. Một lời tuyên xưng tuyệt vời quá đỗi!

Sau đó, Mác-ta vội đi nói nhỏ với Ma-ri-a: “Thầy đến rồi, Thầy gọi em đấy!”. Nghe vậy, Ma-ri-a liền đứng lên và đến với Đức Giêsu. Lúc đó, Ngài chưa vào làng, vẫn ở chỗ Mác-ta đã ra đón. Những người Do-thái thấy Ma-ri-a vội vã đứng dậy đi ra thì cũng đi theo, vì họ tưởng cô ra mộ khóc em.

Khi đến gần Đức Giêsu, Ma-ri-a liền phủ phục dưới chân và nói: “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết”. Thật là tội nghiệp hết sức! Thấy cô khóc, những người Do-thái đi với cô cũng khóc, và chính Đức Giêsu thổn thức trong lòng và xao xuyến. Có lẽ Ma-ri-a khóc em trai dữ lắm, đặc biệt là thể hiện niềm thương nỗi nhớ của chị dành cho em. Khi đó, Ngài hỏi xác anh ấy ở đâu. Họ mời Ngài đến mộ, và Ngài cũng bật khóc. Thấy thế, người Do-thái bảo nhau: “Kìa xem! Ông ta thương anh La-da-rô biết mấy!”. Có vài người trong họ dặt vấn đề rằng Đức Giêsu đã từng mở mắt cho người mù mà sao lại không làm cho anh ấy khỏi chết. Nghe họ nói vậy nên Chúa Giêsu lại thổn thức trong lòng. Thương lắm chứ, thương cả người chết và người sống, thế nên Ngài đã thể hiện “chạnh lòng thương” tới ba lần! Rồi Ngài đi tới mộ La-da-rô, phiến đá vẫn đậy kín cửa hang. Ngài bảo người ta lăn phiến đá ra. Mác-ta vội ngăn lại, và bảo đã nặng mùi, bởi vì La-da-rô đã an táng được bốn ngày rồi. Lúc đó, Chúa Giêsu nhắc lại chuyện đức tin, và không ai có thể nói gì thêm nữa.

Ngay sau khi phiến đá được đem đi, Chúa Giêsu ngước mắt lên trời và cầu nguyện: “Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con. Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con”. Nói xong, Ngài nói lớn: “Anh La-da-rô, hãy ra khỏi mồ!”. Ôi chao, thật là diệu kỳ, người chết bật dậy và lù lù đi ra trong khi thân xác vẫn còn quấn vải liệm. Chắc hẳn lúc đó ai cũng phải kinh ngạc. Đức Giêsu điềm nhiên bảo: “Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi”. Hai bà chị cũng ngạc nhiên không kém, nhưng họ rất vui mừng, không chỉ vì em trai sống lại mà chính là họ biết niềm tin của họ vào Thầy Giêsu là điều hoàn toàn chính xác.

Thánh sử Gioan cho biết thêm rằng trong số những người Do-thái đến đám tang La-da-rô hôm đó cũng đều được chứng kiến việc Đức Giêsu làm cho người chết sống lại, và trong số đó có nhiều kẻ đã tin vào Ngài. Họ thật diễm phúc vì đã tin. Tất nhiên cũng vẫn có những kẻ cứng lòng, một phần vì họ cố chấp, không muốn tin mặc dù thấy nhãn tiền. Ngày nay cũng vẫn có nhiều người cố chấp như thế đấy!

Hôm nay, khi đề cập vấn đề chuyện sinh – tử và có liên quan đức tin, chúng ta cùng nhớ lại một mối phúc đặc biệt – ngoài Tám Mối Phúc – mà Chúa Giêsu đã nói với tông đồ Tô-ma sau khi Ngài từ cõi chết sống lại: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin” (Ga 20:29). Và đó cũng là lời “nhắc khéo” đối với chúng ta hôm nay vậy!

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng sinh, xin thương ban thêm đức tin cho con, bởi vì đức tin của con còn yếu đuối lắm, và con biết chắc rằng nếu không có Ngài thì con không thể làm được bất cứ điều gì (Ga 15:5). Abba – Lạy Cha! Xin giúp con biết cách biến đổi chính sự yếu đuối của con thành sức mạnh nhờ Đức Kitô, để dù SỐNG hay CHẾT, con vẫn mãi chỉ thuộc về Ngài mà thôi. Con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Người Tôi Trung đau khổ và Đấng cứu độ nhân loại. Amen./. 

Trầm Thiên Thu

 

Share This Post