Những nhà truyền giáo Công giáo buổi đầu- những sứ giả văn hóa Việt

Giáo hội Công giáo Việt Nam lấy mốc năm 1533 là năm đánh dấu Tin mừng có mặt ở đất nước hình chữ S này, căn cứ vào ghi chép trong cuốn “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”. Nhưng đây là dã sử, vả lại chính trong cuốn sách này cũng nói, vua đã cấm đạo nhiều lần thế là tôn giáo này phải có trước đó. Một số ghi chép rằng, đạo Công giáo có mặt ở Việt Nam sớm nữa nhưng ít có chứng cớ tin cậy. Song có một điều chắc chắn, nhiều nhà truyền giáo buổi đầu đến Việt Nam ( thế kỷ XVI-XVIII) là những sứ giả văn hóa.

          Các giáo sĩ dòng Tên hầu hết được đào tạo bài bản trong các trường đại học có tiếng ở phương Tây. Khi công cuộc tìm kiếm “hương liệu và linh hồn” mở ra, những thương gia phương Tây cũng muốn tìm kiếm các nhà truyền giáo giỏi về thiên văn, địa lý và ngoại ngữ để giúp họ vừa có thể an toàn trong chuyến đi dài ngày trên biển hiểm nguy vừa có thể giao thương với dân bản địa để dễ buôn bán. Vì vậy, sự sàng lọc đó đã làm cho đội ngũ truyền giáo đến Việt Nam buổi đầu có rất nhiều nhà khoa học tinh thông nhiều lĩnh vực. Họ là  những người truyền bá văn hóa, văn minh phương Tây vào Việt Nam.

          Lúc đầu, chưa biết tiếng Việt, họ dùng tranh ảnh để giới thiệu về đạo. Những bức họa của các họa sĩ lừng danh trên thế giới như “Đức Mẹ đồng trinh” của Rafael, “Bữa tiệc ly” của L. de Vinci… đã lần đầu tiên được giới thiệu với người Việt.  Rồi những bài thánh ca nổi tiếng như “Ave Maria”, “Holy Night”…cũng được phổ biến cho tín đồ. Như vậy, một phương thức ghi nhạc mới 5 dòng ở phương Tây cũng đã được đưa vào Việt Nam. Ở những nhà thương do các nhà truyền giáo xây dựng để cứu chữa những bệnh nhân nghèo có một phương pháp chữa bệnh mới đó là Tây y, khác với cách chữa bệnh truyền thống của Việt Nam là Đông y. Nhiều giáo sĩ được trọng dụng như JB. Sanna (Ý), S.Piere (Bồ) được phong ngự vương dưới thời Minh Vương. Ở Đàng Trong, chúa cho các giáo sĩ Da Coxta, Laggerloi được mở nhà thương. Còn ở Kẻ Chợ, năm 1627, A. Rhodes cũng nói đến mở nhà thương ở Cầu Dền. Theo thời gian, ở các vùng giáo, những ngôi nhà thờ to lớn được xây dựng theo kiến trúc hiện đại kiểu gotich hay roman – những kiến trúc rất thịnh hành ở châu Âu. Để dễ dàng truyền giáo, các thừa sai đã dùng phương pháp “ngoại giao đồng hồ”, có nghĩa là biếu vua chúa những đồ vật quý giá như chiếc đồng hồ cát chẳng hạn, vì lúc đó ở xứ này chỉ có đồng hồ nước. Alexandre de Rhodes và Marquez đã tường thuật lại buổi gặp gỡ với chúa Trịnh Tráng như sau:

          “Vừa thấy tôi, chúa liền cho tôi xuống thuyền ngài, rồi ngài đem đồng hồ có bánh xe và đồng hồ cát tôi đã dâng ngài trước đây khi ngài vào Đàng Trong. Ngài hỏi chúng tôi xem dùng đồng hồ như thế nào, vì chưa bao giờ ngài thấy và không còn nhớ những điều chúng tôi nói về cách sử dụng…”(1).

          Thông qua những buổi trao đổi này, các giáo sĩ còn nói về toán học, thiên văn, địa lý. Ngày nhật thực, A. Rhodes cũng cam kết với chúa, chẳng cần gõ chiêng trống, mặt trời cũng sáng trở lại, rồi nguyệt thực cũng thế khiến không chỉ vua chúa mà cả bậc thức giả trong nước cũng khâm phục.  Trong cuốn “Vân đài loại ngữ”, nhà bác học Lê Quý Đôn nhận xét:

          “Giáo sĩ các nước Âu, Ba La…đàm luận về trời đất một cách sâu sắc, mới lạ vô cùng. Lý luận chính trị và luật pháp có nhiều điều mà tiền nhân ta chưa tìm ra, nói ra được. Họ bàn về địa lý, địa cầu, núi non, sông biển, thủy triều lên xuống, gió mưa phần nhiều hợp lý…Họ nói thiên hạ có 4 đại châu: Á, Âu, Phi, Mỹ. Châu Á là châu lớn nhất gầm trời” (2).

          Cũng chính các giáo sĩ đã đưa kỹ thuật dệt vải mịn, khổ rộng bằng khung dệt mang từ nước ngoài vào sản xuất tại dòng Mến Thánh giá Di Loan (Quảng Trị) và sản phẩm đã được trưng bày tại hội chợ Paris năm 1867. Kỹ thuật in cũng thế. Trước đây, nước ta dùng bản in khắc trên gỗ mất rất nhiều công sức và thời gian, các giáo sĩ đã mang kỹ thuật in bằng con chữ đúc đồng hoặc chì vào nhà in Vĩnh Trị (Hà Nam) thời giáo sĩ Jacques Longer (1752- 1831) vì ông vốn là thợ in báo, sau này làm Giám mục Tây Đàng Ngoài đã tạo ra cuộc cách mạng về nghề in ở nước ta. Người ta cũng ghi nhận các giáo sĩ đã có công đưa giống cừu vào Phan Rang để nuôi và linh mục Henry (MEP) đã đưa cây phi lao về trồng đầu tiên ở xứ Hà Úc (Huế). Một số giáo sĩ đồng thời cũng là các nhà khoa học nên đã giới thiệu khoa học phương Tây vào Việt Nam. Năm 1626, Badinotti ( người Ý) đã được chúa Trịnh vời vào cung để giảng giả về toán học và thiên văn. GS Phan Huy Lê nhận xét:

          “Trong hàng ngũ giáo sĩ, có những người chỉ hoạt động vì đức tin và cũng góp phần truyền bá một số thành tựu văn minh phương Tây vào Việt Nam. Nhà toán học và thiên văn học Jean Baptisle Sanna (Ý), Sebatien Pices (Bồ), Francoi de Lima (Bồ), Joseph Neugebeaur (Đức), nhà y học Jean Sibert (Tiệp), Chales Salemenski (Hung), Jean Koffer (Tiệp), Jean de Loureiro (Bồ)… là những giáo sĩ đã có thời gian giúp chúa Nguyễn ở Đàng Trong…”(3).

          Người Việt có tâm thức coi thường nghề buôn bán, xếp thương mại vào hạng cuối trong các thứ bậc người trong xã hội: sĩ, nông, công, thương. Dân gian gọi nghề thương mại là con buôn với ấn tượng không tốt: buôn gian, bán lận. Vậy mà các giáo sĩ đã đưa ra một phương thức làm kinh tế làm giàu mới, đó là rẻ mua, đắt bán và cho vay lấy lãi vừa phải. Trong cuốn sách “ Bổn dạy những sự kẻ giảng phải biết và giữ về phép Rửa tội” xuất bản thời Giám mục Neez năm 1742  viết:

          “Mùa nào rẻ thóc, rẻ hàng hãy mua. Mùa nào mắc sẽ bán cũng nên. Hay là mua lãi cách này : hãy cho người nào thật thà 10 quan hay 100 quan mặc lòng, mà vốn ấy trao cho người ấy, mặc người ấy cầm trọn đời, cùng đời con cái, đời cháu chắt người ấy mặc lòng; mà một năm nó trả như là mười quan là hai quan năm, hay ba quan lãi. Một năm là 15, 30, chốc ấy cũng nên.

Song le, mình chẳng được đòi vốn bao giờ, một ăn lãi mà thôi. Còn nó muốn chuộc, đừng trả lãi ấy nữa mà trả vốn bao giờ cho mình, mặc nó.

Buông vốn ra cho người ta mà mua lãi cách ấy mới được: đã có luật thánh Ighêrêxa dậy vậy” (4).

Nhà sử học Pháp Alain Forest đã phát hiện ra vai trò của các giáo sĩ trên phương diện kinh tế. Ông viết:

Xét cả trên phương diện kinh tế của vấn đề hiện đại hóa, những nhà truyền giáo phương Tây cũng đã đem lại những sự thay đổi về tổ chức cho cộng đồng Kitô hữu: lối mua sắm đất đai, can dự vào việc phân chia giàu nghèo, lối làm ăn cho vay lấy lãi” (5).

Các giáo sĩ buổi ban đầu không chỉ là người truyền bá văn minh phương Tây mà còn là những sứ giả văn hóa Việt.

Dù xuất thân từ những nước có nền văn minh hơn nước ta hồi đó, nhưng khi đặt chân lên đất nước Việt Nam, họ lại hết sức trân trọng văn hóa, con người xứ sở này. Linh mục Bunzomi, người Ý là người đặt chân lên Đàng Trong ngày 18-1-1615 đã nói về xã hội, con người Việt Nam như sau:

Nhờ Khổng giáo, xã hội và gia đình Việt Nam đã có một tổ chức rất cao, người dân Việt Nam có những đức tính và phong tục rất đáng khâm phục…Về con người, họ không nghiêng về văn chương, tính tình không thâm hiểm như người Tàu. Họ không quá nghiêng về quân bị, tính tình không độc ác như người Nhật. Cả về tầm thước, họ không cao như người Tàu, cũng không thấp như người Nhật, dễ nghe, dễ tin và nhiều mê tín nhưng người dân Việt dễ nhận ra lẽ phải, không kiêu căng hay tự tôn như người Tàu” (6).

A.de Rhodes đến Đàng Ngoài năm 1627, cũng hết sức ca ngợi lối chữa  bệnh  theo phương pháp cổ truyền cũng như pháp luật ở xứ này. Ông viết:

Tôi có thể nói, họ chẳng thua gì các bác sĩ của ta và hơn nữa trong một vài môn, họ giỏi hơn ta nữa. Họ luôn dùng ba ngón tay để bắt mạch và thực ra họ rất thành thạo. Thuốc của họ không khó uống như của ta, hơn nữa không đắt tí nào bởi vì thứ đắt nhất cũng chẳng giá hơn 5 xu… Pháp luật ở đây còn hơn cả các nước phương Tây vì không có giấy tờ rườm  rà, nghi thức lôi thôi làm tốn phí thời giờ và tiền bạc của cả đôi bên” (7).

Một số giáo sĩ sau khi nghiên cứu về đất nước, con người Việt Nam đã cực lực phản đối những tư tưởng sô vanh sai lạc cho rằng, ngoài châu Âu ra thì toàn chỗ man di mọi rợ hoặc “Trung Quốc là tất cả những gì đẹp nhất trái đất”. Những quan niệm này làm lệch lạc, méo mó ngay cả giới khoa học. Vì vậy, A. Rhodes đã ngạc nhiên đặt câu hỏi:

Tôi không biết vì sao đất nước rất xinh đẹp này lại không được biết tới, vì sao các nhà địa lý châu Âu không biết tên gọi và gần như không ghi trong bản đồ nào cả. Tuy họ chép đầy đủ tên các nước trên thế giới” (8).

Do phải làm tường trình, báo cáo hàng tháng với Bề trên ở nước ngoài nên những ghi chép về đất nước, con người Việt Nam cũng được giới thiệu ra thế giới phương Tây. Những ghi chép này hẳn hết sức ngạc nhiên với đa số người trên thế giới lúc đó,  thậm chí cho là lừa gạt, khó tin nên Bề trên Giám tỉnh dòng Tên Lyon phải cam kết với cuốn “Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài” của A. Rhodes:

Tôi cam đoan với những người muốn giải trí đọc cuốn Lịch sử này, tác giả cho chúng ta biết tình hình đời và đạo hiện nay ở xứ Đàng Ngoài, người đó không có ý lừa dối chúng ta. Vì về tình hình các việc đời của xứ này, tác gỉa tuyên bố là không tường thuật gì mà mắt mình không chứng kiến. Còn về việc thiết lập và sự tiến triển của Kitô giáo  thì tác giả đã trung thành trích ra hoặc từ những bản ký sự đã khởi thảo tại chỗ” (9).

Những ghi chép này, không những giới thiệu cho bạn bè quốc tế biết đến Việt Nam mà còn là những chứng cớ lịch sử trong việc bảo vệ chủ quyền đất nước hiện nay. Chẳng hạn tấm bản đồ An Nam quốc họa đồ của J. Tabert in năm 1838 hay bút tích của vị Giám mục này ở Bengal tháng 9-1837:

 “ Quần đảo Panacels mà người Việt gọi là Cát Vàng hay Hoàng Sa gồm nhiều đảo chằng chịt với những bãi đá lô nhô mà các nhà hàng hải khiếp sợ do người Việt ở xứ Đàng Trong chiếm cứ. Năm 1816, vua Gia Long cắm cờ trên quần đảo này” (10).

Các giáo sĩ không chỉ truyền bá văn minh, văn hóa phương Tây vào Việt Nam, giới thiệu Việt Nam ra thế giới mà còn thực sự góp phần xây dựng văn hóa Việt. Đóng góp lớn nhất của họ là quá trình latinh hóa tiếng Việt để tạo ra chữ quốc ngữ. Tất nhiên, mục đích ban đầu chỉ là để công việc truyền giáo được thuận lợi hơn.

Vì không biết tiếng Việt nên buổi đầu công cuộc truyền giáo của họ bị thất bại. Có đoàn thừa sai sau 4 tháng vào Việt Nam phải quay về không. Bartholomeo Ruiz hai năm ở Việt Nam 1584-1586 mà chỉ rửa tội cho một đứa trẻ sắp chết ở Thăng Long. Linh mục Giuliano Baldinotti và Jiulio Piano vào Thăng Long năm 1616, sau 4 tháng cũng chỉ rửa tội cho 4 đứa trẻ hấp hối nên phải quay về Ma Cao cầu cứu. Vì vậy, các giáo sĩ buộc phải “nhập gia tùy tục” tức là phải học tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt quả là quá khó với người phương Tây vì “líu lo như chim hót” bởi cung giọng và thanh. A. Rhodes ghi nhận:

Có một điều rất khó trong ngôn ngữ của họ đối với những người muốn học, đó là tất cả sự khác biệt về thanh và giọng đều ở trong một tiếng hay một vần, gây thành nhiều khác biệt về nghĩa. Thí dụ tiếng ba đọc với thanh trầm thì có nghĩa là bà: bà nội, bà ngoại; nếu đọc với thanh gần như trầm thì có nghĩa là dính (bả) hay vật bỏ đi; nếu đọc với thanh uốn trầm thì có nghĩa là cặn, chất còn lại của cỏ cây hay trái cây sau khi đã ép hết chất ngọt (bã); nếu không có thanh và đọc bằng phẳng thì có nghĩa là con số 3” (11).

Với nhiều thế hệ các giáo sĩ và với sự cộng tác của cả người Việt nữa, công trình sáng tạo ra chữ quốc ngữ đã thành công. Người đầu tiên là Francisco de Pina (1585-1645). Ông không chỉ giỏi tiếng Việt mà còn soạn cả một cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, một cuốn giáo lý bằng tiếng Đàng Trong vào những năm 1622-1623. Đây là “văn bản chữ quốc ngữ đầu tiên” ở nước ta. Rất tiếc là tài liệu này đã bị thất lạc. Tiếp đó là Christoforo Borri, rồi A.de Rhodes, Gaspar d’ Amaral…Nhưng chính A. de Rhodes (Đắc Lộ) là người đã khẳng định chữ quốc ngữ trên thế giới với bộ ba tác phẩm: Ngữ pháp tiếng Việt, Từ điển Việt- Bồ – La và Phép giảng tám ngày được in ở Rôma năm 1651. Ngày nay, những ai đã làm công việc đọc bông, sửa morat hẳn sẽ vô cùng thán phục khi A.Rhodes một mình làm công việc từ sắp chữ đến sửa bản in để có bộ sách đó vì lúc bấy giờ chẳng ai giúp được ông vì có người biết thứ chữ này. Chữ quốc ngữ tiếp tục được hoàn thiện với các từ điển Việt La của P.de Behain in năm 1773 và từ điển La Việt của J. Tabert in ở Serampore năm 1838.

Sở dĩ chữ quốc ngữ được sử dụng và phát triển không chỉ nhờ công sức của các giáo sĩ vì ở Nhật Bản và Triều Tiên, Trung Quốc, các giáo sĩ cũng đã latinh hóa tiếng bản xứ nhưng thất bại. Tại Việt Nam, nó lại được các sĩ phu yêu nước tiếp sức, ủng hộ vì cho rằng phù hợp với tinh thần độc lập dân tộc. Các chí sĩ của nhóm Đông kinh nghĩa thục đã ra lời kêu gọi toàn dân nên đi học chữ quốc ngữ vì đó là một kế sách mở mang dân trí để tính kế đòi độc lập dân tộc:

Gần đây, mục sư người Bồ Đào Nha chế ra chữ quốc ngữ, lấy 20 chữ cái châu Âu phối hợp với 6 âm, 11 vần, đánh vần theo lối hòa thanh mà đặt ra tiếng ta rất là giản dị, nhanh chóng. Phàm người trong nước, đi học nên lấy chữ quốc ngữ để ghi việc đời xưa, chép việc đời nay và thư từ thì có thể chuốt lời, đạt ý. Đó thật là bước đầu trong việc mở mang trí khôn vậy” (12).

Rõ ràng, thành tựu latinh hóa tiếng Việt để có chữ quốc ngữ không chỉ giúp dân ta mau xóa nạn mù chữ sau cách mạng tháng 8-1945 mà còn giúp cho người Việt Nam hội nhập quốc tế dễ dàng hơn khi học ngoại ngữ cũng như sử dụng công nghệ số. Đúng như nhận xét của GS Trần Quốc Vượng:

Việc sáng tạo ra chữ quốc ngữ hay việc la tinh hóa chữ Việt về lâu dài đây là thành tựu văn hóa lớn và có tác dụng sâu xa đến việc phổ biến tri thức, thông tin đến việc phát triển nền văn hóa giáo dục cận hiện đại Việt Nam. Thành tựu văn hóa này gắn với lịch sử đạo Thiên Chúa ở Việt Nam” (13).

Cho nên việc tôn vinh những người có công với văn hóa dân tộc Việt như A. de Rhodes là việc nên làm. Rất tiếc, quyết định của Thủ tướng năm 1993 là cho dựng lại tấm bia ghi công ông ở Thư viện quốc gia vẫn không thực hiện được vì những thông tin thiếu chính xác thậm chí cho ông là “gián điệp” của Pháp dù ông mất năm 1660 tại Iran gần 200 năm trước khi Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng năm 1858. Hoặc kết tội chữ quốc ngữ làm đứt đoạn văn hóa dân tộc. Bỏ chữ Hán đâu phải lỗi của A. de Rhodes. Trái lại, ông còn là người yêu nước Việt. Khi bị trục xuất vĩnh viễn khỏi Việt Nam, ông đau xót viết:

Ngày mùng 3 tháng 7 năm 1645, thân xác tôi rời bỏ Đàng Trong nhưng linh hồn tôi thì không. Cả Đàng Ngoài cũng không kém. Thật ra cả hồn, cả xác tôi đều ở cả hai nơi và tôi không nghĩ tôi có thể rời bỏ mãi được…Ước mong Thiên Chúa ban cho giáo hội này luôn tăng tiến về sự trọn lành và được đầy ơn Thiên Chúa, để cho ta xem thấy một kỳ công tuyệt tác của vinh quang Người” (14).

TS. Phạm Huy Thông

Trưởng ban Tư duy Tôn giáo, Trung tâm Khoa học tư duy,

Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban ĐKCGVN Thành phố Hà Nội.

 

Chú thích:

  • Rhodes: Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài, UBĐKCG T.p HCM ấn hành 1991, tr.95
  • Theo Báo Người Công giáo Việt Nam số 16 ngày 30-8-1992
  • Nguyễn Khắc Xuyên: Lịch sử địa phận Hà Nội, Paris 1994, tr.150-151
  • Đỗ Quang Hưng: Lịch sử đạo Thiên Chúa ở Việt Nam, ĐHTH Hà Nội 1991, tr.62
  • Một số vấn đề về lịch sử đạo Thiên Chúa trong lịch sử dân tộc, Nxb KHXH 1988, tr.19
  • Nguyễn Hồng: Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, tập 1, Nxb Hiện Tại 1959, tr.55

7,8,9, 11, 14- A. Rhodes: sđ d, tr.89; tr.143; tr.2; tr.70; tr.209

10- Phạm Huy Thông: Ảnh hưởng qua lại giữa đạo Công giáo và văn hóa Việt Nam, Nxb Tôn giáo 2012, tr.78-79.

12- Văn tuyển văn học Việt Nam 1858-1930, Nxb Giáo dục 1989, tr.180

13- Trần Quốc Vượng: Trong cõi, Nxb Trăm hoa, USA 1991, tr.186-187.

 

 

 

Share This Post