Sứ vụ của doanh nhân

SỨ VỤ CỦA DOANH NHÂN

GM.P. Nguyễn Thái Hợp O.P.

Ảnh: Đại hội doanh nhân Giáo phận Vinh lần thứ IV ngày 01-5-2011 tại TGM Xã Đoài

Xã hội cổ truyền chia thành gồm bốn thành phần: sỹ, nông, công, thương. Nhưng trên thực tế đã xây dựng trên nền tảng “nông vi bản”, chỉ sống bằng tô thuế, chứ không chú trọng đến sản xuất công nghiệp và kinh doanh. Hệ thống giá trị xưa rõ rệt “trọng nông ức thương”, vì vậy doanh nhân không những bị xếp ở cuối bảng, mà còn bị pháp luật ức chế và xã hội đánh giá thấp. Doanh nhân bị miệt thị là “bọn con buôn”. Dưới thời bao cấp, “bọn con buôn” này còn bị hạ giá hơn nữa để biến thành “lũ con phe”, thuộc giai cấp tư sản, tầng lớp bóc lột, bị xóa bỏ bằng “cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh”.

1- Vai trò của doanh nghiệp

Nhưng lịch sử đã sang trang, với nền kinh tế thị trường và ở thời đại toàn cầu hoá, doanh nghiệp tư nhân giữa vai trò chủ động trong phát triển đất nước. Không thể tăng trưởng kinh tế mà vắng bóng doanh nghiệp và tất cả những nơi đạt được tăng trưởng kinh tế cao là nhờ biết “đãi ngộ” doanh nghiệp. Thông điệp “Bách chu niên” công khai nhìn nhận rằng “trên bình diện quốc gia cũng như trong các mối quan hệ quốc tế, thị trường tự do là phương tiện thích đáng nhất để sử dụng các tài nguyên và đáp ứng hữu hiệu cho các nhu cầu của cuộc sống”[1].

Dĩ nhiên, Giáo huấn Xã hội của Giáo Hội không chấp nhận chủ trương coi thị trường tự do như thuốc thần trị bách bệnh và tiếp tục phê phán chủ nghĩa tiêu thụ và chủ trương duy kinh tế. Tuy nhiên, Giáo Hội đã có một cái nhìn mới và biện phân về chủ nghĩa tư bản. Nếu hiểu chủ nghĩa như một chủ trương đề cao duy lợi  và kinh tế đến độ tự do kinh tế không bị chi phối bởi một quy tắc pháp lý và đạo đức nào, thì dĩ nhiên Giáo Hội không bao giờ có thể chấp nhận. Nhưng nếu hiểu “chủ nghĩa tư bản” như một hệ thống kinh tế nhìn nhận vai trò căn bản và tích cực của doanh nghiệp, nhìn nhận thị trường, quyền tư hữu và trách nhiệm đối với các phương tiện sản xuất, cũng như tự do sáng tạo của con người trong lãnh vực kinh tế, thì câu trả lời rõ ràng là tích cực, mặc dù có lẽ phù hợp hơn nên gọi đây là “kinh tế doanh nghiệp”, “kinh tế thị trường” hoặc đơn giản là “kinh tế tự do”[2].

Lợi nhuận cũng được tái nghiên cứu và thẩm định giá trị một cách quân bình hơn. Thông điệp “Bách Chu niên” viết : “Giáo Hội nhìn nhận vai trò chính đáng của lợi nhuận như một dấu hiệu cho thấy hoạt động tốt của một doanh nghiệp. Khi một doanh nghiệp có lợi nhuận có nghĩa là các yếu tố sản xuất đã được sử dụng thích đáng và các nhu cầu tương ứng của con người đã được thoả mãn đúng đắn”. Nhưng, từ viễn quan Kitô giáo, thông điệp đã cẩn thận nhắc nhở thêm: “Lợi nhuận không phải là tiêu chí duy nhất để lượng giá tình trạng của doanh nghiệp. Rất có thể sổ sách kế toán đàng hoàng, nhưng con người, nguồn vốn quý giá nhất của doanh nghiệp, lại bị hạ thấp và bị xúc phạm phẩm giá”.

Theo Giáo huấn Xã hội của Giáo Hội, “mục đích của doanh nghiệp không phải chỉ để sản xuất lợi nhuận, mà trái lại sự hiện hữu của chính doanh nghiệp như cộng đồng con người, dưới nhiều dạng thức khác nhau, tìm cách thoả mãn những nhu cầu căn bản của mình và kết tạo thành một nhóm chuyên biệt để phục vụ toàn thể xã hội”. Nói cách khác, “lợi nhuận là một yếu tố điều hòa trong đời sống doanh nghiệp, nhưng nó không phải là yếu tố duy nhất. Cần phải quan tâm đến những yếu tố nhân bản và đạo đức khác, mà trong dài hạn cũng quan trọng tương đương cho đời sống của doanh nghiệp”[3].

Nói tóm lại, lợi nhuận tự nó không những không xấu, mà còn cần thiết cho việc phát triển doanh nghiệp. Nhưng chủ trương lợi nhuận vì lợi nhuận hay phát triển vì phát triển, mà lãng quên hay đánh mất con người, lại là chuyện khác. Cũng thế, “ước muốn sống khá hơn, tiện nghi hơn chẳng có gì là xấu. Tuy nhiên, phải coi là lạc hướng lối sống cho là tốt hơn khi hướng tới “cái có” chứ không hướng tới “cái là”, và khi người ta muốn “có nhiều hơn” không phải để “là người hơn”, mà để tiêu thụ và hưởng thụ nhiều hơn”.

2- Sứ vụ của doanh nhân

Khi thẩm định giá trị của doanh nghiệp, thông điệp “Bách chu niên” nhấn mạnh đến yếu tố sáng tạo, khả năng tạo giá trị gia tăng, tài quản trị, tinh thần lao động tập thể, có kỷ luật… “Thật vậy, cùng với trái đất, tài nguyên chính yếu của con người là chính con người. Đó là trí thông minh làm cho con người khám phá được những tiềm năng sản xuất của trái đất, cũng như nhiều phương thức để thỏa mãn các nhu cầu của con người”. Ngoài ra, để thực hiện tiến trình công nghiệp hóa cũng cần phải có những đức tính quan trọng khác như “chăm chỉ, cần cù, khôn ngoan trong khi đảm nhận những quyết định liều lĩnh thích ứng, đáng tin cậy và trung tín trong các quan hệ giữa người với người, can đảm trong việc thực hiện các quyết định khó khăn và đau đớn, nhưng cần thiết cho công việc chung của doanh nghiệp và để đương đầu với những rủi ro có thể xảy ra”[4].

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức,“tư bản nhân văn” ngày càng đóng vai trò chủ động : Nếu ở giai đoạn tiền công nghiệp, “đất đai là yếu tố quyết định của sản xuất, và sau đó, là tư bản, hiểu như toàn bộ máy móc và phương tiện sản xuất, thì ngày nay yếu tố càng lúc càng có tính quyết định là chính con người, nghĩa là khả năng hiểu biết của con người thể hiện trong kiến thức khoa học, tài tổ chức, cũng như khả năng nắm bắt và thỏa mãn những nhu cầu của người khác”.

Chính vì vậy, Giáo huấn Xã hội của Giáo Hội quan niệm sáng kiến cá nhân như một yếu tố căn bản trong sinh hoạt nhân loại nói chung và trong sinh hoạt kinh tế nói riêng. Đây là một quyền căn bản và bất khả chuyển nhượng. Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo tuyên bố: “Mỗi người có quyền có sáng kiến trong sinh hoạt kinh tế, sử dụng cách chính đáng các tài năng của mình để đóng góp vào sự thịnh vượng cho mọi người, và gặt hái những hiệu quả chính đáng do các nỗ lực của mình”. Phủ nhận quyền sáng kiến này thì vừa xâm phạm đến quyền của con người, vừa làm phương hại đến hiệu năng kinh tế.

Từ đó chúng ta dễ dàng hiểu được vai trò của các doanh nhân. Họ được coi là trung tâm của cả một hệ thống phức tạp, bao gồm các quan hệ kỹ thuật, thương mại, tài chính, văn hóa… Chính họ là người đã đưa ra những sáng kiến mới, phương pháp sản xuất tối tân, sản phẩm độc đáo, các cuộc cải cách táo bạo, cái nhìn mới, nắm bắt nhanh thời cơ, tinh thần mạo hiểm, dám chấp nhận rủi ro trong các quyết định đầu tư vào lãnh vực mới. “Khả năng nhận diện đúng lúc những nhu cầu của người khác và toàn bộ những yếu tố sản xuất thích hợp nhất để thoả mãn những nhu cầu ấy, tạo thành một nguồn quan trọng khác cho sự giàu có trong xã hội ngày nay. Hơn nữa, có nhiều thứ của cải không thể sản xuất được một cách thích đáng bằng công sức của một cá nhân đơn độc, mà đòi hỏi sự cộng tác của nhiều người trong cùng một mục tiêu. Tổ chức một nỗ lực sản xuất như thế, lên chương trình về thời gian, lưu tâm để đáp ứng các nhu cầu cần được thoả mãn và chấp nhận những mạo hiểm cần thiết, tất cả những cái đó cũng tạo nên một nguồn mang lại giàu có trong xã hội hôm nay. Như vậy, ngày càng hiển nhiên và có tính quyết định vai trò của lao động con người, lao động có tổ chức và sáng tạo, cũng như khả năng sáng kiến và tinh thần doanh nghiệp[5].

Các doanh nhân được mời gọi để đảm nhận sứ vụ phục vụ công thiện công ích qua việc sản xuất hàng hóa hữu ích, chất lượng tốt, giá thành hạ, nhưng giảm thiểu việc sử dụng năng lượng và nguyên liệu thiên nhiên, bằng cách đưa thêm chất xám, tài nghệ và mô hình sản xuất hữu hiệu. Khi một doanh nhân nâng cao chất lượng hay hạ giá thành một sản phẩm hoặc dịch vụ, dĩ nhiên sẽ có lợi thế trên thị trường và sẽ tăng cao lợi nhuận. Sự thành công này sẽ làm giàu cho bản thân, nhưng phải chăng cũng làm giàu cho đất nước, đồng thời tạo thêm công ăn việc làm cho nhiều người? Lợi nhuận, vì vậy, cũng đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển.

Từ niềm tin Kitô giáo, phải chăng đó cũng là một hành động bác ái gián tiếp? Trong giai đoạn toàn cầu hoá và nền kinh tế tri thức này, dĩ nhiên vẫn còn thiên tai lụt lội và những trường hợp bất hạnh khác, cần đến hành động bác ái trực tiếp của chúng ta. Tuy nhiên, trong công cuộc phát triển đất nước thì phải nghĩ đến kế hoạch dài và trung hạn, nghĩa là phải đề cao sáng kiến của các doanh nhân và những hình thức bác ái gián tiếp nói trên.

Ở thời đại toàn cầu hóa này, các doanh nghiệp tư nhân đang đóng vai trò chủ động trong việc phát triển kinh tế, cũng như cung cấp hàng hóa và dịch vụ ngày càng có chất lượng cao hơn. Vì hoạt động kinh doanh ngày càng phức tạp, nhiều rủi ro và phải chấp nhận những điều kiện cạnh tranh gay gắt, nên dĩ nhiên các chủ xí nghiệp cũng phải cân nhắc, đắn đo nhiều hơn trước khi quyết định. Tuy nhiên, các doanh nhân cũng không bao giờ có thể lấy những quyết định quan trọng dựa trên lý do kinh tế mà thôi.

Tài liệu của Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình viết : “Các chủ doanh nghiệp và quản lý doanh nghiệp không thể chỉ chú ý đến mục tiêu kinh tế của công ty, các tiêu chuẩn của hiệu năng kinh tế, những yêu sách bảo toàn “vốn”, tức toàn thể các phương tiện sản xuất. Họ còn có nghĩa vụ tôn trọng cách cụ thể nhân phẩm của những người lao động trong công ty (…). Trong những quyết định quan trọng về chiến lược và tài chánh, mua hay bán, tái tổ chức hay đóng cửa các phân xưởng hoặc sát nhập, không thể chỉ giới hạn nơi những tiêu chuẩn tài chánh và thương mại mà thôi”[6].

Giáo huấn Xã hội của Giáo Hội ý thức được những khó khăn, tầm quan trọng và hậu quả kinh tế – xã hội của những quyết định này. Chính vì vậy, Giáo Hội kêu gọi các doanh nhân khi lấy quyết định quan trọng không nên chỉ nghĩ đến lý do kinh tế, mà cần lưu ý tới các yếu tố xã hội, nhân bản, đạo đức, trách nhiệm và  liên đới đối với cộng đồng.

3- Linh đạo doanh nhân?

Câu “linh đạo doanh nhân” nghe có vẻ cao xa, siêu thực và viển vông! Nhưng nói một cách đơn giản là cách thế sống Tin Mừng của Đức Giêsu, cách thế làm người Công giáo và cố gắng nên thánh trong môi trường kinh tế, buôn bán, sản xuất… mà chúng ta hiện đang sinh hoạt. Theo Công đồng Vatican II, mảnh đất nhân bản sinh hoạt trần thế phải được coi là môi trường riêng biệt, nơi người Công giáo thực hiện sứ mệnh làm người và lý tưởng làm con Chúa của mình. Đây chính là môi trường Thiên Chúa gọi mỗi người chúng ta thể hiện niềm tin của mình qua đời thường, qua cuộc sống gia đình và nghề nghiệp, qua những quyết định cụ thể trong lãnh vực kinh doanh, qua tương quan với Chúa, với anh em và với xã hội… Mỗi người chúng ta được mời gọi vừa chu toàn trách vụ gia đình, vừa thực hiện tốt nghề nghiệp của mình, với tư cách vừa là người kinh doanh, sản xuất, buôn bán…, vừa là người Công giáo.

Môi trường văn hoá, kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục, lao động… là lãnh vực riêng của giáo dân. Các tín hữu Công giáo cần cố gắng để ánh sáng Tin Mừng thấm nhập thực tại trần thế này. Nói rõ hơn, “giáo dân phải tự thánh hóa trong cuộc sống hàng ngày, cuộc sống nghề nghiệp và xã hội. Để đáp ứng ơn gọi của mình, người giáo dân phải xem đời sống thường nhật như một cơ hội kết hiệp với Chúa và thực hiện ý muốn của Ngài, như một cơ hội phục vụ tha nhân bằng cách đưa họ tới hiệp thông với Thiên Chúa trong Đức Kitô” (Tín hữu giáo dân, 17).

Ngoài những mục tiêu chung đó, giới kinh doanh Công giáo thuộc giáo phận Vinh dĩ nhiên có thêm một số thách đố yêu cầu riêng biệt. Trước hết, hơn bao giờ hết chúng ta cần can đảm vượt qua thứ “Nho giáo – làng xã”, cái tâm lý bảo thủ, khép kín, ngại thay đổi, thiếu sáng tạo, thích an cư lạc nghiệp, được biểu lộ qua cái nhìn hẹp hòi “ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” của “con người tiểu nông”.

Mặt khác, cần khắc phục nhược điểm của “con người tiểu kỷ”: thói dựa dẫm, tùy tiện, xuề xoà, phụ thuộc, ỷ lại, cam chịu, chu chu chăm chắm lo vun vén chút ít cho cái tôi nhỏ bé, để xây dựng một nhân cách tự lập, có sáng kiến, biết lãnh trách nhiệm, tự trọng, biết tôn trọng người khác và có tầm nhìn chiến lược. Hơn bao giờ hết, đất nước đang cần các doanh nhân biết trở về nguồn văn hóa dân tộc để kín múc dòng nước nguyên thủy của tổ tiên, nhưng đồng thời can đảm “gạn đục khơi trong” để giữ gìn và phát huy phần tinh hoa, rồi thích ứng nó với hoàn cảnh mới của thời đại.

Nếu hôm nay người ta thường đề cao doanh nhân như những “viên thuyền trưởng của nền công nghiệp tân tiến”, thì cũng đường quên rằng họ không chỉ là những “anh hùng” hay “hiệp sĩ”, mà thực ra còn là những con người bình thường, cần mẫn, nhẫn nại, can trường. Họ cũng không phải là những kẻ hám lợi hay ham hưởng thụ giàu sang – những “doanh nhân” kệch cỡm kiểu này có thể xuất hiện trong những thời kỳ nhiễu nhương hoặc bất bình thường nào đó, nhưng thực ra đấy hoàn toàn không phải là nhà kinh doanh hiện đại. Nhà kinh doanh đúng nghĩa không bao giờ hoạt động dựa trên sự bạo lực hay sự gian dối, sự “chạy chọt”, “chụp giựt”, “đánh quả”… mà luôn luôn tìm cách sử dụng những công cụ hòa bình và những phương tiện hợp pháp, lương thiện. Nhà kinh doanh cũng không phải là kẻ chỉ thích phiêu lưu để phiêu lưu, lại càng không phải là kẻ dám “liều mạng”, mà thực ra là những người luôn tỉnh táo và thận trọng suy xét, phán đoán các khả năng trên cơ sở lý tính để làm sao vượt qua những sự rủi ro và bất định.

Nói tóm lại, chúng ta chỉ có thể hiểu được một cách xác đáng và đồng thời giải tỏa một số ngộ nhận có thể có về đạo đức kinh doanh nói riêng cũng như về văn hóa doanh nghiệp nói chung, nếu dựa trên những tính chất cốt lõi của tinh thần kinh doanh:

  • Tuân thủ những tiêu chuẩn bên ngoài (nội quy, luật lệ) và tiêu chuẩn đạo đức doanh nghiệp.
  • Tư duy lý tính, tinh thần chức nghiệp, và óc đổi mới.
  • Cố gắng đạt tới các đức tính căn bản: chăm chỉ, trung thực, biết điều, sòng phẳng,  biết ơn, không tham lam, không gian xảo, không thất tín…
  • Ý thức trách nhiệm xã hội của công ty: từ việc đóng góp cho xã hội, ngang qua cách thức tuyển dụng nhân viên trong đó luôn dành một cơ may nào đó cho những người có hoàn cảnh đặc biệt, cho đến tạo ra sản phẩm an toàn, giảm thiểu ô nhiễm, tiết kiệm nhiên liệu, giải quyết các vấn đề lao động một cách cận tình cận lý.

Trong viễn tượng đó, phải chăng sống linh đạo doanh nhân là cố gắng xây dựng một thế hệ doanh nhân có đức, có tài, có tấm lòng, có khả năng, đầy nhiệt huyết và trách nhiệm nghề nghiệp cao: Nhiều nội lực, nhiều sáng tạo, nhiều tài trí, quản trị giỏi, đạt hiệu năng, nhưng cũng  chân thành, nhân ái và liên đới.

Trong hiện trạng xã hội Việt Nam chập chờn “ánh sáng và bóng tối”, đang cố gắng hoà nhập vào tiến trình toàn cầu hoá, thu hút đầu tư của nhiều tập đoàn kinh tế trong cũng như ngoài nước với những kỹ thuật hiện đại, giúp người dân tiếp cận với những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, có thêm công ăn việc làm và phong thái làm việc mới. Tuy nhiên, vì chưa được chuẩn bị đầy đủ nên để hoà nhập với dòng chảy chung của nhân loại nên xã hội Việt Nam đang : Tệ nạn tham nhũng và hối lộ, quản lý tồi và thiếu trách nhiệm, phung phí tài nguyên quốc gia, cạnh tranh không lành mạnh, lạm pháp cao, nợ quốc tế chồng chất, giới tiểu thương gặp nhiều khó khăn, công nhân bị bóc lột, chênh lệch giàu nghèo ngày càng sâu rộng, cuộc sống ngày càng sô bồ, bạo lực gia tăng…

Khi tưởng niệm những gì Đức Kitô đã làm cho chúng ta qua hy tế thập giá, tất cả chúng ta được mời gọi bước theo Ngài để có thể làm gì hơn nữa cho gia đình, giáo xứ, giáo phận và đất nước Việt Nam. Thông điệp “Bí tích Thánh Thể” đặt chúng ta trước những trách nhiệm cụ thể: “Những thách đố đang bao phủ chân trời của chúng ta thì nhiều lắm. Chỉ cần nghĩ đến nhu cầu cấp bách phải kiến tạo hoà bình, thiết lập mối tương giao giữa người với người, dựa trên nền tảng vững chắc của công lý và liên đới, việc bảo vệ sự sống con người từ lúc thụ thai cho đến khi chết một cách tự nhiên. Và chúng ta sẽ phải nói gì về vô vàn mâu thuẫn trong một thế giới “toàn cầu hoá”, trong đó những người yếu ớt nhất, không có quyền lực và nghèo nhất dường như không còn chút hy vọng nào! Chính trong thế giới ấy, niềm hy vọng của các Kitô hữu phải toả sáng! Cũng vì lý do đó, Chúa đã muốn ở lại với chúng ta trong Thánh Thể để làm cho sự hiện diện của Ngài trong bữa ăn và trong hy tế trở thành lời hứa đổi mới nhân loại bằng tình yêu của Ngài”[7].

Trước những thách đố và nhiệm vụ đặc biệt đó, Đức Bênêđictô XVI nhắn nhủ giáo dân Việt Nam: “Bằng đời sống xây nền trên đức ái, sự liêm chính, việc quý trọng công ích, anh chị em phải chứng tỏ rằng là người Công giáo tốt cũng là người công dân tốt”[8].

Hội đồng Giám mục Việt Nam cũng ước mong rằng trước hiện trạng của Việt Nam hôm nay, Giáo huấn xã hội của Giáo hội “sẽ soi sáng cho các tín hữu sống lòng ái quốc chân chính, yêu thương mọi người, kể cả người bách hại Giáo hội, quan tâm phát triển nhân bản và văn hoá, xây dựng công bằng, tình liên đới, sự bình đẳng và tự do tôn giáo qua lối sống nhân ái, chân thành, khiêm tốn và tha thứ. Định hướng này sẽ mở đường cho những chương trình mục vụ của Giáo hội tại Việt Nam”[9].

Hội Doanh nhân Công giáo giáo phận Vinh nằm trong tổ chức Công giáo tiến hành. Đây là một hình thức mục vụ chuyên biệt để giúp những người hoạt động trang lãnh vực kinh doanh, sản xuất, xây dựng, dịch vụ, thương mại… sống và loan báo Tin Mừng một cách hữu hiệu hơn. Để hoạt động hữu hiệu trong một giáo phận quá rộng lớn,  Hội được chia thành nhiều vùng: Quảng Bình, Hà Tĩnh, Hương Khê, Vinh, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành, Phủ Quỳ… Hội có Ban Điều hành Trung ương và Ban Điều hành các Vùng. Toà Giám mục sẽ bổ nhiệm Cha linh hướng cho Hội và cho mỗi Vùng để đồng hành đắc lực với quý anh chị em.

Xin ánh sáng và an bình của Đức Kitô Phục sinh luôn chiếu sáng tâm hồn, gia đình và Hội chúng ta. “Cùng với Mẹ, chúng ta hăng hái lên đường thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng, góp phần tích cực vào việc xây dựng nền văn hoá sự sống và văn minh tình thương trên quê hương đất nước chúng ta”[10].

(Xã Đoài, 1-5-2011)


[1] Gioan Phaolô II, Bách chu niên, số 34.

[2] Ibidem, số 42.

[3] Ibidem, số 35.

[4] Ibidem, số 32.

[5] Ibidem

[6] Tóm lược Học thuyết xã hội của Giáo hội Công giáo, số 344.

[7] Gioan Phaolô II, Bí tích Thánh Thể, số 20.

[8] Huấn từ dành cho HĐGMVN dịp Ad limina 2009.

[9] Hội đồng Giám mục Việt Nam, Thư chung hậu Đại hội Dân Chúa 2011, số 33.

[10] Ibidem, số 48.

Share This Post