Suy niệm Lời Chúa các ngày trong tuần 18 TN năm A

SUY NIỆM LỜI CHÚA CÁC NGÀY TRONG TUẦN XVIII THƯỜNG NIÊN A

Thứ hai
Thứ ba
Thứ tư
Thứ năm
Thứ sáu
Thứ bảy

Vianney5THỨ HAI TUẦN 18 TN: Th. Gio-an Ma-ri-a Vi-a-nê, linh mục

Bài đọc (Gr 28, 1-17)

Năm ấy, vào đầu triều đại Sêđêcia, vua Giuđa, tháng năm, năm thứ tư, có tiên tri Hanania, con của Azur, quê ở Gabaon, nói với Giêrêmia trong Ðền thờ Chúa, trước mặt các tư tế và toàn dân rằng: “Chúa các đạo binh, Thiên Chúa Israel phán thế này: “Ta đã bỏ ách của vua Babylon. Còn hai năm nữa thì tất cả những đồ dùng trong Ðền thờ Chúa, mà Nabucôđônosor, vua Babylon, đã đoạt đem qua Babylon, Ta sẽ đem về nơi này. Giêcônia, con Gioakim, vua Giuđa, cùng tất cả những người Giuđa bị lưu đày đi Babylon, Ta cũng sẽ đem về nơi này: vì Ta bỏ ách vua Babylon. Chúa phán như thế”. Bấy giờ tiên tri Giêrêmia trả lời tiên tri Hanania trước mặt các tư tế và toàn dân đang đứng trong Ðền thờ Chúa. Tiên tri Giêrêmia nói: “Ðược, Chúa cứ làm như vậy. Chúa cứ thực hiện những lời anh đã nói tiên tri. Ngài cứ đem các đồ dùng trong Ðền thờ Chúa và mọi người lưu đày từ Babylon về nơi này. Nhưng anh hãy nghe lời tôi nói cho anh và toàn dân nghe: Các tiên tri trước anh và tôi, đã nói tiên tri từ lâu, cho nhiều xứ và vương quốc vĩ đại biết có chiến tranh, cơ cực và đói khát. Nhưng tiên tri nào nói tiên tri cho biết có hoà bình, khi ứng nghiệm lời mình nói, thì mới được nhận là tiên tri thật Chúa sai đến”. Bấy giờ tiên tri Hanania giật cái ách nơi cổ của tiên tri Giêrêmia mà bẻ đi. Rồi Hanania nói trước mặt toàn dân rằng: “Chúa phán thế này: Hai năm nữa, Ta sẽ bẻ ách của Nabucôđônosor, vua Babylon, nơi cổ mọi dân tộc như thế đó”. Và tiên tri Giêrêmia bỏ đi. Nhưng sau khi tiên tri Hanania giật cái ách nơi cổ tiên tri Giêrêmia mà bẻ đi, thì có lời Thiên Chúa phán cùng Giêrêmia rằng: “Hãy đi nói với Hanania rằng: Chúa phán thế này: “Ngươi đã bẻ ách gỗ, thì Ta sẽ lấy ách sắt thay vào”. Vì Chúa các đạo binh, Thiên Chúa Israel phán: “Ta đã đặt ách sắt vào cổ mọi dân tộc này, để chúng làm tôi Nabucô-đônosor, vua Babylon. Chúng sẽ làm tôi vua ấy, và cả đến thú vật ngoài đồng, Ta cũng nạp cho vua ấy”. Tiên tri Giêrêmia liền nói với tiên tri Hanania rằng: “Hỡi Hanania, hãy nghe đây: Chúa không hề sai anh. Anh đã làm cho dân này tin tưởng sự giả dối. Vì vậy, Chúa phán thế này: ‘Ðây Ta sẽ cất ngươi khỏi mặt đất: năm nay ngươi sẽ chết, vì ngươi đã nói chống lại Chúa’ “. Và tiên tri Hanania đã chết trong tháng bảy năm ấy.

Tin Mừng (Mt 14, 22-36)

Khi dân chúng đã ăn no, lập tức Chúa Giêsu giục môn đệ trở xuống thuyền mà qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng. Giải tán họ xong, Người lên núi cầu nguyện một mình. Ðến chiều, Người vẫn ở đó một mình. Còn thuyền thì đã ra giữa biển, bị sóng đánh chập chờn vì ngược gió.

Canh tư đêm tối, Người đi trên mặt biển mà đến với các ông. Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hồn mà nói rằng: “Ma kìa” và các ông sợ hãi kêu la lớn tiếng. Lập tức, Chúa Giêsu nói với các ông rằng: “Hãy yên tâm. Thầy đây, đừng sợ”. Phêrô thưa lại rằng: “Lạy Thầy, nếu quả là Thầy, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy”. Chúa phán: “Hãy đến”. Phêrô xuống khỏi thuyền bước đi trên mặt nước mà đến cùng Chúa Giêsu. Khi thấy gió mạnh, ông sợ hãi và sắp chìm xuống nên la lên rằng: “Lạy Thầy, xin cứu con”. Lập tức, Chúa Giêsu giơ tay nắm lấy ông mà nói: “Người hèn tin, tại sao lại nghi ngờ?” Khi cả hai đã lên thuyền thì gió liền yên lặng. Những người ở trong thuyền đến lạy Người mà rằng: “Thật, Thầy là Con Thiên Chúa!”

Khi đã sang qua biển hồ, các ngài lên bộ và ghé vào Ghênêsarét. Nhận ra Ngài, dân địa phương liền loan tin đi khắp cả vùng xung quanh, và người ta đem đến cho Ngài hết mọi kẻ ốm đau. Họ nài xin Ngài cho họ rờ đến tua áo choàng của Ngài thôi, và ai đã rờ đến thì đều được chữa lành.

Thánh Gioan Maria Vianney, linh mục, bổn mạng các cha sở(1786 – 1859)

Gioan Maria Vianney, sinh ngày 8 tháng 5 năm năm 1786, tại Dardilly. Cha mẹ Ngài là những nông dân trung kiên với đức tin. Suốt thời cách mạng Pháp, họ thường bí mật tiếp rước các linh mục đến trú ngụ. Vì vậy Gioan là một trẻ em có mặt trong các buổi lễ cử hành lén lút tại lẫm lúa và được chứng kiến rất nhiều mẫu gương anh hùng với đức tin.

Năm lên 11, Gioan được cha Greboz cho xưng tội lần đầu. Tháng 5 năm 1798, Gioan được mẹ dẫn sang nhà bà dì ở Ecully để dọn mình rước lễ vỡ lòng. Mùa xuân năm 1799, Gioan cùng với 15 em khác được rước lễ vỡ lòng trong một thánh lễ được cử hành giữa đống rơm. Ngài rước lễ rất sốt sắng và đã giữ cho đến chết tràng chuỗi Môi Côi kỷ niệm ngày hạnh phúc này.

Năm 1800, thanh bình trở lại với các tín hữu, khi Napoléon nhận biết rằng không có tôn giáo thì không có một tổ chức nào có thể tồn tại vững bền được. Từ nhỏ, Gioan đã muốn làm linh mục. Khi bày tỏ ý định tốt đẹp này, Ngài đã 17 tuổi và mới chỉ qua bậc tiểu học. Mẹ Ngài tán thành chí nguyện, nhưng cha Ngài với óc thực tế đã băn khoăn rất nhiều và không chấp nhận. Mãi tới năm 1805, Gioan đến sống với cha Belley, ở họ đạo Ecully. Theo học với các bạn tuổi còn nhỏ, mà trí khôn Ngài lại quá trì trệ. Đã vậy vào năm 1890, Ngài lại còn phải nhập ngũ. Năm sau, Ngài may mắn được trở về nhà.

Năm 1810, Gioan gia nhập tiểu chủng viện Verrières. Hai năm trôi qua, Ngài là một chủng sinh học hành rất kém. Dầu vậy, Ngài cũng nhận vào đại chủng viện. Tại đây chuyển ngữ là tiếng Latinh, mà Gioan lại quá dở về môn này, khiến ban giám đốc khuyên thầy hồi tục. Không thất vọng, một lần nữa cha Balley đảm nhận việc dạy dỗ người chủng sinh gương mẫu nhưng chậm trí này. Sau khi hoàn tất chương trình học, ngày 13 tháng 8 năm 1815, Gioan Maria Vianney thụ phong linh mục tại nguyện đường đại chủng viện Grênoble. Ngài được gọi lên chức linh mục chính vì đời sống đạo đức.

Sau khi thụ phong, cha Gioan Maria Vianney được cử làm phó xứ Ecully. Tháng 12 năm 1817, cha Balley qua đời, cha Vianney được cử về làm chánh sở họ Ars. Khi bổ nhiệm, cha tổng đại diện nhắn nhủ : – “Đây là một họ đạo nhỏ bé, nghèo nàn, thiếu vắng tình yêu Chúa. Cha hãy mang tình yêu đến cho họ.”

Ngày 9 tháng 2 năm 1818, cha đến xứ lần đầu với hành lý khiêm tốn chất trên một chiếc xe tay, gồm một chiếc giường cũ, một rương sách và ít đồ vặt vãnh khác. Tới gần làng, Ngài dừng chân hỏi đường. Bọn trẻ chăn chiên không hiểu tiếng nói khác với thổ ngữ chúng vẫn dùng nhưng cũng đoán biết và chỉ lối cho cha. Khi biết được điạ sở, cha Gioan quì gối cầu nguyện cho những người sẽ là đoàn chiên của mình. Tới nơi Ngài vào thẳng nhà thờ và chìm trong kinh nguyện.

Nhà xứ Ars thật nghèo nàn với vài đồ vật thật sơ sài. Chính cha sở trẻ đã coi đời sống cầu nguyện hãm mình là phương thế để thành công. Trong khi mọi người còn triền miên giấc điệp, Ngài đã xách đèn từ nhà xứ sang nhà thờ để cầu nguyện. Trước nhà tạm, nhiều lần Ngài rơi nước mắt ướt cả sàn nhà, Ngài tha thiết cầu nguyện: – “Lạy Chúa, con xin lãnh chịu tất cả, nhưng xin Chúa cải hóa họ đạo của con… Con bằng lòng chịu mọi đau khổ như Chúa muốn, miễn sao họ biết hồi tâm hối cải.”

Chìm đắm trong kinh nguyện, cha Gioan không quan tâm tới nhu cầu thể xác mà Ngài coi như cái thây ma. Ngủ đã ít, Ngài lại thường nằm trên sàn nhà. Đồ đạc người ta dâng cúng, Ngài đem cho người nghèo… Vui cười, Ngài nói: – “Tôi không hề mất áo choàng bao giờ.” Chuyện ăn uống Ngài cũng chẳng quan tâm đến, tự mình nấu ăn, Ngài chỉ nấu một nồi khoai rồi treo lên tường.

Khi đói Ngài ăn một hai củ và củ thứ ba là “để cho vui miệng”. Nồi khoai thường để lâu cho đến nỗi những củ cuối cùng thường bị mốc meo. Ngài hãm mình như vậy cho tới năm 1827, khi các chị dòng Chúa quan phòng nấu ăn cho Ngài.

Hơn nữa, thánh nhân còn tự ý hãm mình. Mỗi đêm Ngài đều đánh tội trước khi ngủ. Trên tường phòng Ngài còn loang lổ nhiều vết máu.

Với một đời sống cầu nguyện hy sinh như vậy, thánh nhân nỗ lực canh tân họ đạo. Về xứ được ít lâu, Ngài sớm nhận ra được ba tệ đoan trong họ đạo là sự lãnh đạm với việc đạo đức, thói quen làm việc xác ngày Chúa Nhật và tật ham khiêu vũ.

Để chấn hưng lại tình trạng suy dồi kia, dĩ nhiên thánh nhân gia tăng lời cầu nguyện và việc hãm mình. Trong hoạt động, Ngài đi thăm viếng các gia đình. Sửa lại tình trạng thiếu hiểu biết về đạo, Ngài lo dạy giáo lý cho trẻ em. Suốt 27 năm, cha thánh Gioan ngày nào cũng trung thành với viêc dạy giáo lý. Đối với người lớn, cha dọn bài giảng rất kỹ lưỡng. Ngồi trong phòng thánh cạnh nhà tạm, cha viết bài giảng. Đêm thứ bảy, cha học và tập giảng cho hôm sau. Lời giảng của cha rất đơn sơ, nhưng xoáy vào lòng người nghe.

Chẳng hạn Ngài nói: – “Không có gì vững bền cả. Đời sống sẽ qua đi… danh giá cũng sụp đổ, của cải rồi sẽ tiêu tan, sức khỏe cũng bị tấn công, chúng ta ra đi như làn gió.”

– “Càng cầu nguyện người ta càng ham thích, như một con cá trồi lên mặt nước rồi chìm mình trở lại và luôn bơi đi mãi. Linh hồn đắm chìm trong lời cầu nguyện sẽ mất hút trong sự êm dịu của cuộc đàm thoại với Chúa.”

Các câu chuyện nhỏ cha kể nhiều khi có giá trị như một bài giảng. Chẳng hạn cha nói về một em nhỏ bị đau bệnh: – “Con đau đớn lắm không?”

Cậu bé trả lời: – “Hôm qua, con không đau đớn gì và ngày mai con cũng hết khổ”.

Cha hỏi lại: – “Vậy con muốn được lành bệnh không?”

Cậu bé trả lời: – “Trước khi bệnh con hung dữ, khỏi bệnh con dám như vậy lắm. Để như thế nầy là tốt hơn cả.”

Chống lại tật làm việc xác, cha nói: – “Ngày Chúa Nhật là của Chúa. Mà anh em ăn trộm cũng chẳng lợi ích gì cho anh em. Tôi biết có hai phương thế chắc chắn để nên nghèo khó là làm việc ngày Chúa Nhật và lấy của kẻ khác.”

Để chống lại tật ham khiêu vũ, đã có lần cha đến giữa đám để giải tán. Lần khác cha bỏ tiền trả cho nhạc công để anh rút lui. Tích cực hơn, cha lập hội Mân Côi để tập họp các thiếu nữ vào việc thực hành đạo đức này.

Hơn nữa, trong họ đạo có bảy quán rượu, cha hết sức khuyên nhủ và cả chúc dữ nữa để họ đổi nghề. Cuối cùng cả 7 quán đều đóng cửa.

Thấy trọng trách của một chủ chiên quá nặng nề. Đã bốn lần cha Gioan tìm cách trốn khỏi họ đạo. Nhưng rồi cha đã bị phát giác, tiếng chuông reo vang và người ta đổ xô ra đường để giữ cha lại. Nỗ lực của cha không dễ dàng được tiếp nhận. Người ta tìm nhiều cách để vu khống cho cha nhiều tội tày trời. Thành công của cha khiến cho nhiều người nghi ngờ và ghen tị, đến nỗi Tòa Giám mục phải mở cuộc điều tra. Sau nữa chính quỉ dữ cũng phải công khai phá cha dưới nhiều hình thức như xê dịch đồ đạc, la lối om sòm, hiện hình kỳ quái… đến độ đốt cháy cả giường nằm.

Nhớ lại tất cả những gì đã trải qua, cha nói: – “Khi đến Ars, nếu biết được tất cả những gì tôi phải chịu chắc tôi chết liền.”

Nhưng ơn thánh Chúa đã nâng đỡ Ngài. Mỗi ngày trong thánh lễ, Ngài được thấy chính Chúa Giêsu. Dần dần họ Ars đã được biến đổi, hương thơm thánh thiện còn bay lan rộng ra khỏi ngôi làng bé nhỏ và hẻo lánh này. Khách thập phương từ khắp nơi đổ xô đến, để được chiêm ngưỡng một cha sở thánh thiện, để được nghe lời Ngài, để xưng tội. Cha Gioan đã làm vui lòng mọi người.

Suốt hai mươi năm trời, cha như chôn mình trong tòa giải tội, từ sau lễ tới 11 giờ trưa, rồi từ 1 giờ chiều tới 8 giờ tối. Sau này, khi qua đời, cha được chôn cất tại nhà nguyện Thánh Gioan tẩy giả, cạnh tòa giải tội mà người ta gọi là phép lạ lớn nhất ở Ars.

Tận tụy với các linh hồn, cha Gioan cũng được ơn thấu tỏ lòng người. Ngày kia có một du khách tới Ars để đi săn. Nhìn ông với con chó bên cạnh, Ngài nói: – “Con chó của ông thật đẹp, nhưng linh hồn chẳng đẹp tí nào.” Cúi mặt, người du khách liền vào toà xưng tội.

Một người đàn bà khác nghe cha nói: – “Ông ấy đã được rỗi. Giữa thành cầu và giòng nước, ông đã kịp ăn năn tội…” Thế là cha đã biết nỗi lo âu của bà, vì cái chết mới đây của chồng bà. Ngài đã mang lại cho bà niềm an ủi khi cho biết rằng: – “Nhờ những bó hoa và vài lần cầu nguyện với vợ mỗi tháng Đức Mẹ, mà người chồng xấu số kia đã được cứu rỗi.”

Đời sống của cha Gioan là một mẫu gương tận tụy vì Chúa và vì các linh hồn, Ngài thường nói: – “Hạnh phúc cho một vị linh mục được hao mòn vì Chúa và các linh hồn.”

Quả thực, cha Gioan đã hao mòn vì phụng sự. Ngày 2 tháng 8 năm 1859, cha chịu các phép bí tích sau hết. Ngày 4 tháng 8 năm 1859 cha trút hơi thở cuối cùng với sự mãn nguyện. – “Phải chết lành khi người ta sống trên thánh giá.”

Ngày tháng 5 năm 1925, cha Gioan được tuyên hiển thánh. Và năm 1925, Ngài được đặt làm bổn mạng các cha sở trên toàn thế giới.

Suy niệm 1: HÃY VỮNG TIN VÀO CHÚA

Trong cuộc sống, nơi xã hội hôm nay luôn có những bất trắc. Nào là chuyện “cá lớn nuốt cá bé”; hay “ma mới bắt nạt ma cũ”; hoặc “chân lý thuộc về kẻ mạnh”. Một xã hội như thế, người ta lấy thước đo để đánh giá vấn đề, sự kiện… dựa vào tiền và quyền… Vì thế, không lạ gì khi vẫn còn đó tình trạng áp bức, bất công với người lương thiện và thấp cổ bé họng!

Đứng trước thực trạng ấy, chúng ta không thể không đặt ra câu hỏi: “Thiên Chúa ở đâu?”; “Ngài có thực sự hiện hữu không?”; “Nếu có, tại sao lại có chuyện con người thay Trời hành đạo như vậy?”.

Hôm nay, bài Tin Mừng tường thuật việc các môn đệ đang trên thuyền để đi sang bờ bên kia. Trong lúc các ông trèo thuyền ra xa, thì gió lớn nổi lên, khiến các ông lo sợ. Đúng lúc đó, Đức Giêsu hiện đến mà các ông không nhận ra Ngài. Vì thế, trong cơn hốt hoảng, các ông đã la lên: “Ma đấy”. Thấy vậy, Ngài đã trấn an các ông và nói: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!”. Tuy nhiên, chưa tin và vẫn còn nghi ngờ, nên Phêrô đã thử liều một phen mang tính thách thức: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài”.

Sự kiện Đức Giêsu đi trên mặt biển để đến với các môn đệ và việc cho Phêrô đi trên mặt nước với Ngài giúp cho chúng ta hiểu rằng: Chúa vẫn luôn còn đó trong cuộc đời. Mọi khó khăn thử thách, Ngài luôn có mặt, chỉ có điều chúng ta có một đức tin đủ mạnh để vượt qua mọi khó khăn và có đủ độ nhạy bén để nhận ra Ngài hay không mà thôi!

Hôm nay, phụng vụ Giáo Hội mừng kính cha thánh Gioan Maria Vianney linh mục, bổn mạng các cha xứ. Thánh nhân là người đã thể hiện niềm tin của mình vào Thiên Chúa cách tuyệt đối và có một đời sống khiêm nhường thẳm sâu, nên ngài đã luôn nhận ra Chúa hiện diện trong cuộc đời mình mọi nơi, mọi lúc. Vì thế, khi bị vị giáo sư mắng: “Vianney, anh dốt đặc như con lừa. Với một con lừa như anh, Giáo Hội hy vọng làm nên trò trống gì?”. Nhưng vì ý thức sự bất toàn của mình, Vianney đã khiêm tốn, bình tĩnh trả lời: “Thưa thầy, ngày xưa Samson chỉ dùng một cái xương con lừa mà đánh bại 3 ngàn quân Philitinh. Vậy với cả một con lừa này, Thiên Chúa không làm được việc gì sao?”.

Quả thật, niềm tin của thánh nhân đã được Chúa chúc phúc và dành tặng cho ngài một món quà vô cùng quý giá, đó là các linh hồn. Từ một xứ đạo khô khan, biếng nhác, không tha thiết việc đạo nghĩa, lại càng không thích sự hiện diện của các linh mục… Tuy nhiên, nhờ đời sống cầu nguyện, đạo đức và hy sinh của thánh nhân, họ đã xưng tội, bỏ đàng tội lỗi để trở về với Chúa và sống với nhau trong tình huynh đệ.

Thật vậy, không có việc gì mà Thiên Chúa không làm được. Chỉ có điều chúng ta có tin hay không, hoặc qua các biến cố đó, chúng ta có khám phá ra thánh ý của Thiên Chúa và thi hành hay chỉ ngồi đó để than thân trách phận, nghi ngờ, và thậm chí chỉ trích cả Thiên Chúa…?

Sứ điệp Lời Chúa và cuộc đời của cha thánh Gioan Maria Vianney dạy cho chúng ta bài học: nếu có niềm tin và tín thác vào Chúa trong sự khiên tốn thì sẽ được Chúa thương.

Mong sao trong mọi hoàn cảnh, chúng ta hãy nhớ đến câu nói của Đức Giêsu khi xưa: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!”.

Lạy Chúa Giêsu, cuộc đời của chúng con nhiều khi hoang mang và sợ hãi chẳng kém các môn đệ của Chúa là bao. Nhưng như các môn đệ, các ngài đã tin vào Chúa và được Chúa cứu, thì xin cũng ban thêm đức tin cho chúng con, để chúng con cũng được Chúa thương như các môn đệ khi xưa. Amen.

Suy niệm 2: CHẠM ĐẾN THẦY

Họ nài xin Người cho họ chỉ sờ vào tua áo của Người thôi, và ai đã sờ vào thì đều được khỏi. (Mt 14,36)

Suy niệm: Mọi năng lượng được chuyển giao và tiếp nhận đều diễn ra qua một sự tiếp cận, tiếp xúc một cách nào đó với nguồn năng lượng. Năng lực cứu độ của Chúa Giê-su đã được thực hiện qua việc Ngài cho phép con người chạm đến Ngài và ở lại trong Ngài. “Dân chúng, tất cả những kẻ đau ốm nài xin Người chỉ cho họ sờ vào tua áo của Người thôi, và ai đã sờ vào thì đều được khỏi”. Phê-rô đã thật sự “chạm” đến Thầy khi khẩn cầu: “Nếu quả là Thầy thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Thầy,” và Thầy đã truyền cho ông sức mạnh siêu nhiên giúp ông vượt lên trên tự nhiên, bước đi trên mặt biển. Tuy nhiên, chỉ khi ở lại trong Ngài, trong sức mạnh cứu độ của Ngài, với một niềm tin mạnh mẽ, tín thác nơi Ngài, ta mới hoàn toàn được biến đổi.

Mời Bạn: “Chạm” đến Chúa để được chữa lành, ở lại trong Chúa để được thật sự thay đổi. Nơi nào trong tâm hồn bạn đang bị thương tổn, yếu đuối nào nơi bạn cần được Chúa chạm vào để chữa trị? Bạn phải tín thác vào Chúa trong những lãnh vực nào để sức mạnh và quyền năng của Ngài thể hiện ra trong cuộc đời của bạn?

Chia sẻ: Chia sẻ cảm nghiệm về một lần bạn được sức mạnh chữa lành của Ngài chạm đến và thay đổi đời bạn.

Sống Lời Chúa: Tôi sẽ khẩn cầu Chúa đến cứu giúp, nâng đỡ mỗi khi gặp nguy hiểm, cám dỗ, thử thách.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su, con xin phó thác hoàn toàn vào sự quan phòng và quyền năng cứu độ của Chúa. Xin giúp con đứng vững, không chao đảo giữa bao sóng gió cuộc đời, nhờ “chạm” đến Chúa và ở lại trong Chúa. Amen.

Suy niệm 3: TRÁI TIM MỤC TỬ

Bài tin mừng này gợi lên cho tôi hai điều quan trọng trong đời sống thường ngày và trong tương quan với những người xung quanh tôi, nhất là đối với những người mà tôi có trách nhiệm, đó là tình thương và sự phục vụ.

Thật vậy, Chúa Giêsu đã “chạnh lòng thương” và chữa lành bệnh tật cho những người đang đau khổ. Chung quanh tôi cũng có những người đang gặp đau khổ dưới nhiều hình thức khác nhau. Đau khổ vì bệnh tật, đau khổ vì nghèo đói, đau khổ vì bị bỏ rơi, đau khổ vì bị thất bại và bị xúc phạm… Vậy, với trái tim yêu thương để biết chạnh lòng thương như Chúa Giêsu, tôi sẽ vượt qua mọi rào cản để quan tâm, an ủi, động viên, đem niềm vui và bình an đến cho những người đang sống trong sự bất hạnh.

Chúa Giêsu còn nhấn mạnh hơn trong việc cộng tác với Ngài để yêu thương quan tâm và phục vụ tha nhân khi Ngài nói: “chính anh em hãy cho họ ăn”. Lời Ngài nói với các môn đệ ngày xưa cũng chính là lời mời gọi tôi dấn thân phục vụ trong thế giới hôm nay. Tôi có gì để cho tha nhân? Thưa đó chính là những gì tôi đang có. Đó chính là sức khỏe, thời giờ, là những khả năng, là công việc, là bổn phận, là những ơn Chúa ban… Và Chúa muốn tôi sự dụng những ơn ban đó để phục tha nhân.

Lạy Chúa, xin cho con mỗi ngày biết cộng tác với Chúa và dấn thân phục vụ tha nhân bằng tình thương và những gì con đang có. Xin cho con biết nghe lời Chúa dạy, mỗi ngày biết sống yêu thương và sống cho tha nhân. Amen.

***

Lạy Chúa Giê-su Thánh Thể,

Sống đức tin trong thời đại hôm nay cũng khó khăn tựa như đi trên mặt biển. Có biết bao cám dỗ khiến chúng con xa lìa Chúa. Có biết bao những sóng gió khiến chúng con đánh mất niềm tin nơi Chúa. Xin Chúa thương nâng đỡ niềm tin còn yếu kém của chúng con để dầu đứng giữa những nghi nan của dòng đời, những sóng gió cuộc đời, chúng con vẫn luôn đặt trọn niềm tín thác vào Chúa. Xin giúp chúng con biết noi gương thánh Phê-rô mà thưa lên cùng Chúa: “Lạy Chúa, xin cứu con”.

Lạy Chúa Giê-su mến yêu, chúng con thật hạnh phúc vì có Chúa luôn ở bên chúng con. Chúng con tin tưởng Chúa luôn bảo vệ chúng con. Chúa luôn quan phòng gìn giữ chở che cuộc đời chúng con. Vì chim trời, hoa huệ ngoài đồng chẳng là gì so với con người mà Chúa còn quan tâm chăm sóc. Chúa sẽ chẳng bao giờ bỏ rơi chúng con. Xin cho chúng con luôn vững tin vào Chúa dù gặp những gian nan. Xin cho chúng con biết nương tựa vào Chúa trong những lúc khó khăn và nguy hiểm của dòng đời.

Lạy Chúa, Chúa là sức mạnh và là thành luỹ bảo vệ đời chúng con. Xin cho chúng con biết tin tưởng và an vui nép mình bên Chúa. Amen.

[Mục Lục]

THỨ BA TUẦN 18 TN: Cung hiến thánh đường Đức Ma-ri-a

Bài đọc (Gr 30, 1-2. 12-15. 18-22)

Có lời Chúa phán cùng Giêrêmia rằng: “Chúa là Thiên Chúa Israel phán thế này: Ngươi hãy chép vào sách mọi lời Ta đã phán với ngươi”.

Vì Thiên Chúa phán rằng: “Nơi giập gãy của ngươi đã bất trị, thương tích ngươi làm độc quá đỗi. Không ai đoái thương băng bó cho ngươi: không có thuốc hay chữa ngươi bình phục. Mọi kẻ yêu ngươi đã bỏ quên ngươi, không tìm kiếm ngươi nữa, vì Ta đã đánh ngươi bị thương như kẻ thù sửa phạt ngươi nặng nề, vì sự gian ác của ngươi quá nhiều, tội lỗi của ngươi quá nặng, nên Ta đã làm cho ngươi những sự ấy”.

Chúa phán thế này: “Đây Ta đem những kẻ trong nhà xếp Giacóp bị bắt trở về gia cư họ, Ta sẽ xót thương. Thành sẽ được xây lại trên nơi cao của nó, đền thờ sẽ được trùng tu theo trật tự của nó. Thế là sẽ vang lên lời ca tụng và tiếng reo mừng. Ta sẽ làm cho nó thêm nhiều, và nó sẽ không bị hạ nhục. Con cái nó sẽ được như xưa; trước mặt Ta, cộng đồng nó sẽ đứng vững. Ta sẽ hỏi thăm mọi người áp bức nó. Thủ lãnh nó sẽ bởi nó mà ra; vua chúa nó sẽ từ trong nó mà lên. Ta sẽ cho nó triều yết và nó sẽ đến gần Ta, vì thật ra có ai dám liều mạng đến gần Ta? – Chúa phán như thế -. Bấy giờ các ngươi sẽ là dân Ta, và Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi”.

Tin Mừng (Mt 15,1-2.10-14)

1 Bấy giờ có mấy người Pha-ri-sêu và mấy kinh sư từ Giê-ru-sa-lem đến gặp Đức Giê-su và nói rằng : 2 “Sao môn đệ ông vi phạm truyền thống của tiền nhân, không chịu rửa tay khi dùng bữa ?” 10 Sau đó, Đức Giê-su gọi đám đông lại mà bảo : “Hãy nghe và hiểu cho rõ : 11 Không phải cái vào miệng làm cho con người ra ô uế, nhưng cái từ miệng xuất ra, cái đó mới làm cho con người ra ô uế.”

12 Bấy giờ các môn đệ đến gần Đức Giê-su mà thưa rằng : “Thầy có biết không ? Những người Pha-ri-sêu đã vấp phạm khi nghe Thầy nói lời ấy.” 13 Đức Giê-su đáp : “Cây nào mà Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời, đã không trồng, thì sẽ bị nhổ đi. 14 Cứ để mặc họ. Họ là những người mù dắt người mù. Mù mà lại dắt mù, cả hai sẽ lăn cù xuống hố.”

Lễ cung hiến thánh đường Đức Bà cả

Thánh đường Đức Maria được xây cất vào thế kỷ thứ 4 dưới thời Đức Giáo Hoàng Libêriô. Truyện kể rằng chính Đức Mẹ đã chọn nơi này để người ta xây ngôi thánh đường tôn kính Mẹ. Mẹ đã thân hiện ra với đôi vợ chồng sở hữu mảnh đất cũng như với Đức Giáo Hoàng, bảo họ rằng khoảng đất trên ngọn đồi được bao phủ đầy tuyết kia chính là nơi Đức Mẹ đã chọn. Sáng hôm sau, nhằm ngày mùng 5 tháng Tám, một thời điểm rất nóng trong năm ở Rôma, có một lớp tuyết bao phủ ngọn đồi Esquiline. Đôi vợ chồng đã xin dâng phần đất cũng như tiền bạc cần thiết để xây ngôi thánh đường như là món quà dâng kính Đức Mẹ.

Thoạt tiên, ngôi thánh đường này mang tên là Vương cung thánh đường Libêriô, theo tên của Đức Giáo Hoàng Libêriô. Nó cũng được gọi là thánh đường Đức Mẹ Xuống Tuyết để nhắc nhớ sự kiện Đức Mẹ đã chỉ cho biết mảnh đất dành cho việc xây cất. Sau đó, ngôi thánh đường được Đức Thánh Cha Sixtô III cung hiến cho Đức Maria sau khi Công đồng chung Êphêsô năm 431 tuyên bố tín điều Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa. Ngôi thánh đường chính là một nhắc nhở tuyệt đẹp về tình yêu và lòng tôn kính mà Giáo hội dành tặng cho Mẹ Thiên Chúa. Danh xưng “cả” được thêm vào danh hiệu “thánh đường Đức Bà” bởi vì đây là ngôi thánh đường đầu tiên được xây cất ở Tây phương để tôn kính Đức Mẹ.

Bên trong thánh đường có máng cỏ Bêlem nơi Đức Maria đã đưa nôi Chúa Hài Nhi Giêsu. Điều này biểu lộ lòng tôn kính ngày Chúa giáng sinh, với hình Chúa Hài Nhi nhỏ bằng bạc đang nằm trong máng cỏ.

Ðền Ðức Bà Cả là một trong bốn thánh đường ở Rôma nổi tiếng là các thánh đường chính được xây cất để kính nhớ các trung tâm đầu tiên của Giáo Hội:

– Ðền thánh Gioan Latêranô: tượng trưng cho ngai toà Thánh Phêrô, Toà Rôma

– Ðền thánh Phaolô Ngoại Thành: toà Alexandria, nghe nói do Thánh Máccô đứng đầu

– Ðền thánh Phêrô: tòa Constantinople

– Ðền Ðức Bà Cả: tòa Antiôkia, là nơi người ta cho rằng Ðức Maria sống ở đây lâu nhất.

Suy niệm 1: GIỮ LUẬT VÀ SỐNG Ý NGHĨA CỦA LUẬT

Ngày xưa, có người học trò hỏi Đức Khổng thế này: “Nếu mình xấu mà người ta nói mình tốt, người đó có tốt không?” Đức Khổng trả lời: “Không!”. Cậu học trò hỏi tiếp: “Vậy ai là người tốt?”. Lần này Đức Khổng trả lời: “Người tốt là người chân thành nói sự thật. Nếu mình xấu, người ta bảo là xấu. Mình tốt, người ta bảo là tốt”.

Thật vậy, người tốt là người sống thật tâm, không nịnh bợ, tâng bốc, hai lòng, lập lờ… Người tốt là người không vụ lợi, không nhân danh tập thể để lợi dụng cho cá nhân mình, không ăn bớt của công, và cuối cùng, họ là những người không: “sợ tiếng chửi, và ăn mày tiếng khen” (x. Đường Hy Vọng số 693).

Hôm nay, Đức Giêsu đã dạy cho những người Pharisêu và các Kinh sự bài học về việc giữ Luật. Luật vì con người chứ không phải con người vì Luật. Hiểu và giữ cốt lõi của Luật là tình thương thì quan trọng và đẹp ý Thiên Chúa hơn là những thứ bề ngoài. Trong khi đó, các Pharisêu và Kinh sư lại cổ súy người ta sống xa rời cốt lõi của Luật để chỉ tuân giữ Luật cách hình thức và chú tâm vào việc giữ gìn truyền thống cha ông mà thôi.

Thật vậy, nếu chỉ có vì Luật, người ta sẽ xử với nhau trên mặt chữ hay cái đầu mà không cần cái lý, cái tình và trái tim. Nếu cứ bề ngoài mà đánh giá và lấy đó làm chuẩn mực, thì sẽ luôn xảy ra tình trạng “thấy vậy mà không phải vậy” do những kẻ cầu thân nịnh bợ gây nên. Họ là những hạng người: “bên ngoài thì trông sáng láng, đẹp đẽ như mồ mả được tô vôi, nhưng bên trong thì toàn là xương người chết, dơ bẩn, thối tha”.

Nói như thế không có nghĩa là Đức Giêsu phủ nhận giá trị của Luật hay coi thường! Không! Chúng ta nên nhớ rằng: Đức Giêsu đến, Ngài không bao giờ bỏ một chấm một phết nào của Luật, nhưng Ngài kiện toàn nó và mặc cho nó một tinh thần mới, đó là tinh thần yêu thương.

Là kitô hữu, bài học của Đức Giêsu cho các Pharisêu và Kinh sư khi xưa cũng chính là bài học cho mỗi chúng ta hôm nay. Hãy sống hài hòa giữa cái bên trong và bên ngoài chứ không chỉ vụ Luật, tức là hình thức, phô trương mà bên trong thì rỗng tuếch. Hãy sống thật tâm chứ đừng giả dối. Thương người mà không có tâm tốt thì là một sự thương hại và xúc phạm, vì thế đáng nguyền rủa.

Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn mặc lấy tâm tình của Chúa trong khi giữ Luật, tinh thần đó là đi vào trong trái tim Chúa và sống chan hòa với nhau. Amen.

Suy niệm 2: Ô UẾ VÀ TINH SẠCH

“Không phải cái vào miệng làm con người ra ô uế, nhưng cái từ miệng xuất ra…(Mt 15,11)

Suy niệm: Ô uế là một ý niệm chìa khóa trong Thánh Kinh. Nó gắn liền với cảm thức về sự thánh thiện, tinh tuyền của Thiên Chúa. Người hay vật ô uế thì bất xứng với Thiên Chúa, và cần phải được thanh tẩy. Nhưng chẳng biết từ lúc nào, ý niệm này được hiểu một cách máy móc, hoàn toàn phụ thuộc vào những yếu tố bên ngoài. Dần dần người ta chỉ lo làm hay tránh những điều hoàn toàn bên ngoài, để khỏi ô uế, mà không hề quan tâm đến sự trong sạch trong tâm hồn mình. Ý niệm về ô uế hay tinh sạch cũng dần co lại nơi chính nó, và đặc tính tương quan (với Thiên Chúa) không còn được thấy rõ nữa.

Chính trong bối cảnh này mà Đức Giê-su đã bày tỏ quan điểm của Ngài. Ngài chuyển tiêu điểm của ô uế hay tinh sạch vào bên trong. Và Ngài giới thiệu một vị Thiên Chúa thấu suốt tâm can người ta và quan tâm trước hết đến những gì ở trong đáy lòng ấy: “Không phải cái và miệng làm con người ra ô uế, nhưng chính là cái từ miệng xuất ra”!

Mời Bạn: Chúng ta quan tâm đến sự sạch sẽ của thực phẩm, y phục, nhà cửa, môi trường. Chúng ta chống lại mọi hành động gây ô nhiễm nguồn nước, bầu không khí, v.v… Nhưng còn tư tưởng, tâm hồn của chúng ta thì sao? Ta đi xưng tội để được Chúa tha thứ; nhưng bí tích Sám hối này có được ta cử hành thực sự từ trong tâm hồn, chứ không qua loa, máy móc không?

Sống Lời Chúa: Thành tâm đặt mình trước mặt Chúa và kiểm điểm cuộc sống của mình.

Cầu nguyện:Lạy Chúa, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thủy…”.

Suy niệm 3: BÌNH AN

Cách đây không lâu tôi có một chuyến đi ra đảo Phú Quốc. Tôi đã ngồi trên một chiếc thuyền đánh cá để đi ra biển và đi khá xa bờ. Khi đó trời đổ mưa và gió thổi khá mạnh. Có nhiều đợt sóng mạnh đập vào thuyền làm chiếc thuyền ngả nghiêng. Tôi cảm thấy sợ. Lập tức tôi hỏi người lái thuyền cũng là người hướng dẫn và đưa chúng tôi ra biển: “Có bao giờ anh đã gặp sóng lớn như bây giờ không?” Anh ta trả lời: “Vẫn gặp hoài và sóng như bây giờ là vẫn còn nhỏ không ăn thua gì“. Bấy giờ tôi cảm thấy yên tâm hơn vì biết rằng người lái thuyền này có thể vượt qua sóng gió.

Bài tin mừng hôm nay cũng xảy ra một câu chuyện trên biển làm cho các môn đệ sợ hãi. Các ông sợ hãi vì những điều xảy ra trên biển. Ngay cả khi Chúa đến, các ông không nhận ra Ngài và các ông đã la lên vì hoảng sợ. Phêrô cũng sợ hãi vì gió thổi và sóng biển. Và vì mất niềm tin Phêrô đã bị chìm dần trong nước biển. Nhưng rồi, với sự hiện diện của Chúa Giêsu, và với quyền năng của Ngài đã giúp cho các ông vượt qua tất cả và bình an.

Sóng gió trong cuộc đời cũng giống như sóng gió trên biển cả. Nó làm cho tôi sợ hãi, làm cho tôi mất niềm tin và mất bình an, nhất là khi tôi không nhận ra sự hiện diện của Chúa ngay bên cạnh tôi. Tôi cũng sợ hãi và la lên như các môn đệ. Tôi cũng bị chìm trong vất vả khó khăn của cuộc sống như Phêrô chìm trong nước biển. Thế nhưng, Chúa vẫn ở bên tôi. Nếu tôi nhận ra Ngài, nếu tôi nghe tiếng Ngài, nếu tôi tin tưởng vào Ngài thì tôi không còn sợ hãi và tôi sẽ sống trong bình an.

Lạy Chúa, xin cho con nhận ra sự hiện diện của Chúa và luôn tin tưởng vào Chúa trong mọi thăng trầm của cuộc sống. Xin cho con luôn sống trong vòng tay và bình an của Chúa, để con cũng chia sẻ niềm vui và bình an cho những người con gặp gỡ. Amen.

***

Lạy Chúa Giê-su Thánh Thể,

Chúa là tấm bánh dưỡng nuôi cuộc đời chúng con. Đây là ân phúc vượt lên mọi điều chúng con mong ước. Chúng con chỉ cần của ăn mau hư nát, nhưng Chúa lại cho chúng con sự sống đời đời là chính Thánh Thể Chúa. Chúng con chỉ cầu Chúa ban cho chúng con lương thực hằng ngày, thế mà Chúa lại cho chính Chúa làm gia nghiệp cuộc đời chúng con. Chúng con xin tạ ơn Chúa. Xin giúp chúng con cũng trở thành tấm bánh để hoà tan trong anh em. Xin giúp chúng con luôn trở thành người hữu ích cho cộng đoàn bằng đời sống yêu thương và phục vụ vì lợi ích của tha nhân.

Lạy Chúa, ngày nay người ta không chỉ đói cơm ăn, thiếu áo mặc mà còn cần sự cảm thông và chia sẻ, cần tình thương mến và rất cần những cử chỉ quan tâm chăm sóc của tha nhân. Nhưng Chúa ơi! Sao chúng con quá ích kỷ với nhau. Chúng con thường có thái độ bàng quan, dửng dưng trước những bất hạnh của tha nhân. Chúng con cũng còn thiếu cả trách nhiệm với gia đình, đôi khi vì lười biếng mà chúng con đã chồng chất gánh nặng lên vai cha mẹ và anh em. Chúng con thiếu mau mắn chia sẽ trách nhiệm với gia đình. Chúng con ngại đưa tay giúp đỡ thi ân. Chúng con chần chờ khi phải đến viếng thăm nhau. Chúng con thường tìm vui thú cho bản thân hơn là lo lắng phục vụ cho lợi ích cộng đoàn. Chúng con đã không dùng tài năng Chúa ban để phục vu cộng đoàn nhưng chỉ lo thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Xin Chúa tha thứ cho những thiết sót của chúng con.

Lạy Chúa Giê-su mến yêu, xin cho cuộc đời chúng con cũng là tấm bánh làm vui lòng mọi người qua sự chia sẻ trong yêu thương và phục vụ của chúng con. Amen.

[Mục Lục]

THỨ TƯ TUẦN 18 TN: Chúa Hiển Dung

Bài đọc I (Đn 7, 9-10. 13-14)

Tôi ngắm nhìn cho đến khi đặt ngai toà xong, và một vị Bô Lão ngự trên ngai: áo Người trắng như tuyết, tóc trên đầu Người như những ngọn lửa, các bánh xe như lửa cháy. Một con sông lửa chảy lan tràn trước mặt Người. Hằng ngàn kẻ phụng sự Người, và muôn vàn kẻ chầu chực Người. Người ngự toà xét xử, và các quyển sách đều mở ra.

Trong một thị kiến ban đêm, tôi đã ngắm nhìn, và đây tôi thấy như Con Người đến trong đám mây trên trời. Ngài tiến đến vị Bô Lão, và người ta dẫn Ngài đến trước mặt vị Bô Lão. Vị này ban cho Ngài quyền năng, vinh dự và vương quốc: Tất cả các dân tộc, chi họ, và tiếng nói đều phụng sự Ngài: quyền năng của Ngài là quyền năng vĩnh cửu, không khi nào bị cất mất: vương quốc của Ngài không khi nào bị phá huỷ.

Bài đọc II (2 Pr 1, 16-19)

Anh em thân mến, chúng tôi không theo những truyện bày đặt khôn khéo, để tỏ ra cho anh em biết quyền năng và sự hiện diện của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta; nhưng chúng tôi đã được chứng kiến nhãn tiền sự uy nghi của Người. Người đã được Chúa Cha ban cho vinh dự và vinh quang, khi có lời từ sự vinh quang cao cả xuống phán về Người rằng: “Này là Con Ta yêu dấu, Người đẹp lòng Ta, các ngươi hãy nghe lời Người”. Chúng tôi đã nghe tiếng ấy từ trời phán xuống, lúc chúng tôi ở với Người trên núi thánh. Và chúng tôi có lời nói chắc chắn hơn nữa là lời nói tiên tri: anh em nên nghe theo lời đó, nó như ngọn đèn sáng soi trong nơi u tối, cho đến khi rạng đông và sao mai mọc lên trong lòng anh em.

Tin Mừng (Mt 17, 1-9)

Khi ấy, Chúa Giêsu gọi Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông này, và Người đưa các ông tới chỗ riêng biệt trên núi cao. Người biến hình trước mặt các ông: mặt Người chiếu sáng như mặt trời, áo Người trở nên trắng như tuyết. Và đây ông Môsê và Êlia hiện ra và đàm đạo với Người.

Bấy giờ ông Phêrô lên tiếng thưa Chúa Giêsu rằng: “Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm; nếu Thầy ưng, chúng con xin làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Êlia”. Lúc ông còn đang nói, thì có một đám mây sáng bao phủ các Ngài, và có tiếng từ trong đám mây phán rằng: “Đây là Con Ta yêu dấu rất đẹp lòng Ta, các ngươi hãy nghe lời Người”. Nghe thấy vậy, các môn đệ ngã sấp xuống và hết sức sợ hãi. Bấy giờ Chúa Giêsu đến gần, động đến các ông và bảo: “Các con hãy đứng dậy, đừng sợ”. Ngước mắt lên, các ông thấy chẳng còn ai, trừ ra một mình Chúa Giêsu.

Và trong lúc từ trên núi đi xuống, Chúa Giêsu đã ra lệnh cho các ông rằng: “Các con không được nói với ai về việc đã thấy, cho tới khi Con Người từ cõi chết sống lại”.

Lễ Chúa Hiển Dung

Cả ba Phúc Âm Nhất Lãm đều đề cập đến biến cố Hiển Dung (Mátthêu 17,1-8; Máccô 9,2-9; Luca 9,28-36). Với một sự tương đồng đáng chú ý, cả ba đều kể lại biến cố này sau khi Phêrô tuyên xưng đức tin Chúa Giêsu là Ðấng Cứu Thế và sau lần đầu tiên Chúa Giêsu nói về sự thống khổ và cái chết của Người. Sự hăng hái của Phêrô trong việc dựng lều nơi hiển dung đưa ra giả sử rằng, biến cố đó xảy ra trong dịp Lễ Lều kéo dài một tuần lễ trong mùa thu.

Tabor là ngọn núi cao nhất miền Galilêa. Từ trên đỉnh ta có thể nhìn thấy một khung cảnh bao quát. Chính tại đây, Chúa Giêsu đã biến hình trước mặt ba môn đệ là những người sẽ được chứng kiến cơn hấp hối của Ngài sau này trong vườn cây Dầu.

Mặc dù cả ba văn bản đều rất giống nhau, theo các học giả Thánh Kinh, thật khó để diễn lại cảm nghiệm của các tông đồ, vì các Phúc Âm dựa rất nhiều vào Cựu Ước trong đoạn diễn tả cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa ở núi Sinai và những điều tiên tri về Con Người. Chắc chắn là Phêrô, Giacôbê và Gioan đã thoáng được nhìn thấy thiên tính của Chúa Giêsu, nhưng ấn tượng ấy đủ mạnh để tạo nên sự sợ hãi in sâu trong tâm hồn họ.

Phúc Âm đã kể lại: “Quần áo Ngài trở nên rực sáng và trắng đẹp đến nỗi không một thợ giặt nào ở thế gian làm được như vậy. Rồi Elia và Môsê hiện ra nói chuyện với Ngài. Bấy giờ Phêrô thưa cùng Chúa Giêsu: “Lạy Thầy, ở đây tốt lắm, chúng con xin dựng ba lều: Thầy một, Elia một và Môsê một”. Phêrô không rõ mình nói gì vì cả ba đều kinh sợ. Kế đến có một đám mây che phủ các Ðấng ấy và nghe thấy tiếng từ đám mây phán ra: “Này là con Ta yêu dấu, hãy nghe lời Người”.

Một cảm nghiệm như vậy không thể nào diễn tả được, do đó các ngài dùng cách diễn đạt thông thường trong kinh sách để diễn tả. Và tất nhiên, Chúa Giêsu đã cảnh cáo cho họ biết, sự vinh hiển và sự thống khổ của Người liên hệ với nhau một cách chặt chẽ – đó là chủ đề mà Gioan lập đi lập lại trong Phúc Âm của ngài.

Sự biến hình, một lần nữa lại minh xác với chúng ta rằng: Ðức Kitô chính là Con Thiên Chúa, là Ngôi Lời Nhập Thể, đồng thời cho chúng ta thấy trước được hình ảnh sự sống lại vinh hiển của Ðấng Cứu Thế, và sự sống lại của những người công chính trong ngày sau hết.

Truyền thống coi núi Tabor là nơi hiển dung. Ðầu tiên, trong thế kỷ thứ tư một nhà thờ được dựng nên ở nơi đây để cung hiến cho biến cố này vào ngày 6 tháng Tám. Một ngày lễ để tôn kính sự Hiển Dung được Giáo Hội Ðông Phương cử hành mừng bắt đầu từ khoảng thời gian đó. Sự mừng kính của một vài Giáo Hội Tây Phương bắt đầu vào khoảng thế kỷ thứ tám.

Vào ngày 22 tháng Bảy năm 1456, Thập Tự quân đánh bại quân Thổ Nhĩ Kỳ ở Belgrade. Tin tức về cuộc chiến thắng được đưa về Rôma vào ngày 6 tháng Tám, và vào năm sau, Ðức Thánh Cha Callistus III đã đưa ngày lễ này vào niên lịch phụng vụ của Rôma.

Suy niệm 1: QUA ĐAU KHỔ ĐẾN VINH QUANG

Nick Vujicic được chào đón tại Việt Nam từ ngày 22 tháng 5 đến ngày 26 tháng 5 năm 2013. Khi xuất hiện, chàng trai trẻ này đã “truyền nghị lực sức sống mãnh liệt cho giới trẻ Việt”. Vậy chàng trai này là người như thế nào? Hẳn không cần câu trả lời, ai cũng biết anh là một người không chân, không tay, nhưng đã làm được nhiều điều kỳ diệu trong cuộc sống của mình. Anh đã thành công và trở thành người nổi tiếng. Nhờ anh, mà biết bao người thất vọng trở thành hy vọng. Buồn khổ trở nên vui vẻ và đón nhận cuộc đời như một quà tặng của Thiên Chúa.

Tuy nhiên, mấy ai biết được rằng: anh đã nhiều lần lên kế hoạch tự tử chỉ vì cảm thấy thất vọng về thân hình của mình. Nhưng cuối cùng anh đã vượt qua và trở thành một biểu tượng của niềm hy vọng cho biết bao người bất hạnh và đang tìm đến ngõ cụt của cuộc đời là cái chết. Tại sao lại có sự thay đổi tuyệt vời như thế? Thưa! Nguyên nhân chính là nhờ niềm tin của anh đặt nơi Thiên Chúa. Phần khác nhờ động lực của bà mẹ. Giờ đây, anh trở thành người loan truyền Tin Mừng cách sống động.

Hôm nay, Tin Mừng thuật lại việc Chúa Biến Hình. Tại sao Đức Giêsu lại biến hình trước mặt các môn đệ? Thưa! Chỉ vì Ngài muốn làm điểm tựa và củng cố niềm tin nơi các ông. Có lẽ Ngài sợ đức tin của các ông không đủ mạnh để chứng kiến và đứng vững trước những hình khổ mà Ngài phải chịu. Mặt khác, chính các ông là những người bước theo Thầy của mình trên chính con đường mà Thầy đã trải qua, e rằng vì sợ hãi mà sinh ra thất vọng, và nguy cơ bỏ cuộc có lẽ là rất cao! Vì vậy, khi biến hình trước mặt các ông, Đức Giêsu muốn cho các ông nếm trước vinh quang Nước Trời, nơi đó sẽ là phần thưởng dành cho những người trung thành vượt qua thử thách trong cuộc đời và trên hành trình sứ vụ.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy ý thức rằng: đi theo Chúa là đi trên con đường hẹp, con đường của khổ giá, con đường của cái chết. Tuy nhiên, cứ theo Chúa đến cùng, ta cũng sẽ được phục sinh. Nguyên tắc của hạt lúa gieo vào lòng đất là phải thối và chết đi thì mới sinh ra những bông hạt khác.

Trong mọi hoàn cảnh, không bao giờ thất vọng. Tương lai vẫn chờ đón ta ở phía trước. Thật vậy, cuộc đời này không ai là vô dụng, và cũng không ai là trọn vẹn trước mặt Thiên Chúa cả. Chỉ có điều ta có làm nên điều kỳ diệu mà Thiên Chúa đã phú bẩn, gieo mầm ngay từ khi ta còn trọng bụng mẹ hay không mà thôi.

Nguyên lý của sự thành đạt chính là hy sinh và kiên trì. Thật vậy, người tín hữu kitô cần phải hiểu cho rõ nguyên tắc này là: muốn vào Nước Trời, phải trải qua đau khổ, phải vác thập giá hằng ngày mà theo, phải đi theo con đường hẹp. Thiên Đàng không có chỗ cho kẻ lười biếng và ngủ mê trong tội. Thiên Đàng cũng không có chỗ cho những kẻ mang trên mình quá nhiều thứ kủng kỉnh…

Lạy Chúa, xin cho chúng con được theo Chúa đến cùng trên con đường Chúa đã đi qua. Xin cho chúng con ý thức mình thuộc về con cái Nước Trời, tuy nhiên, muốn vào được Nước đó, phải trải qua đau khổ của thập giá. Amen.

Suy niệm 2: CHÂN DUNG ĐÍCH THỰC CỦA CHÚA

“Các con không được nói với ai về việc đã thấy, cho tới khi Con Người từ cõi chết sống lại.(Mt 17,9)

Suy niệm: Thầy Giê-su không muốn ba môn đệ thân tín mô tả chân dung sáng chói của mình trong biến cố “hiển dung,” vì sợ người ta hiểu sai về Đấng Cứu Thế. Ngài muốn các ông và cả chúng ta nữa diễn tả hình ảnh đúng về Ngài: một Đấng Cứu Thế chịu đóng đinh trên thập giá. Niềm tin vào Đức Ki-tô phục sinh vinh hiển luôn bao hàm rằng Đấng Ki-tô ấy chịu treo đau khổ trên thập giá. Thập giá là phương thế Thiên Chúa Cha đã hoạch định cho Đức Ki-tô cứu độ nhân loại, và đó cũng là con đường dẫn đến Ngài đến phục sinh vinh quang. Khi nắm vững sự thật này, ta sẽ vui mừng đón nhận thập giá của Đức Giê-su, không còn trông mong một Đấng Thiên Sai trần tục theo kiểu quan niệm của người Do Thái xưa.

Mời Bạn: Bạn đang mang trong mình hình ảnh của Đấng Phục Sinh, hình ảnh ấy phải được tỏ rạng trong cuộc sống hằng ngày của bạn qua thái độ tin tưởng, phó thác vào Chúa trước những thử thách, lạc quan trong mọi biến cố cuộc sống, âm thầm làm chứng cho những giá trị Nước Trời… vì tin rằng sự sống đời đời của Đấng Phục Sinh đã nở hoa ngay trong cuộc sống hôm nay.

Sống Lời Chúa: Nhờ xác tín giá trị của thập giá Đức Ki-tô, tôi sẽ vui lòng đón nhận những hy sinh, thiệt thòi khi sống những đòi hỏi của người môn đệ Chúa mỗi ngày.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su, Chúa ban cho con sự sống mới, con xin cảm tạ Chúa. Xin cho con biết kết hiệp với Chúa trong mọi sự, để con trở nên hình ảnh sinh động của Đấng Phục Sinh trong con. Amen.

Suy niệm 3: CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ

Bài tin mừng này gợi lên cho tôi những suy nghĩ sau đây:

– Chúa Giêsu biến hình trên núi, tỏ vinh quang của Ngài để củng cố niềm tin cho các môn đệ. Tôi là người con của Chúa, là môn đệ của Chúa.. mỗi ngày tôi cũng có thể diễn tả vinh quang và hạnh phúc của Thiên Chúa cho tha nhân bằng những lời nói, bằng việc làm và bằng đời sống tốt lành của tôi đối với tha nhân.

– Khi chứng kiến và sống trong vinh quang và hạnh phúc, các môn đệ muốn ở lại và ở mãi. Nhưng Chúa Giêsu và các môn đệ lại xuống núi và tiếp tục công việc thường ngày. Qua sự kiện này tôi nhận ra rằng, tôi cũng muốn sống hạnh phúc và muốn hưởng vinh quang. Muốn ở trong hạnh phúc và vinh quang như các môn đệ. Tôi muốn hưởng thụ và thích an nhàn, ngại dấn thân, ngại khó ngại khổ. Tuy nhiên, Chúa Giêsu cũng muốn tôi xuống núi với Ngài, nghĩa là, Ngài muốn tôi sống một cuộc sống hiện tại với những bổn phận và trách nhiệm của mình. Chúa không muốn tôi mơ mộng và hưởng nhàn hay trốn tránh hiện tại. Tôi sẽ được hưởng hạnh phúc thật và vinh quang nước Chúa chỉ sau khi chu toàn tốt đẹp cuộc sống nơi trần gian.

– Chúa Giêsu còn nói với các môn đệ: “Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy”. Thật vậy, Chúa Giêsu muốn các môn đệ thật sự hiểu về Ngài trước khi nói về Ngài cho người khác biết. Đó là Ngài còn phải chịu đau khổ, phải vác thập giá, chịu chết rồi mới phục sinh vinh quang. Tôi cũng có nhiều dịp nói về Chúa cho người khác nghe. Mong sao tôi cũng thật sự hiểu về Chúa Giêsu để tôi nói cho người khác một cách đúng đắn về Ngài.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con hăng say bước đi theo Ngài trên mọi nẻo đường trong cuộc sống. Xin cho con hiểu Ngài để con yêu mến Ngài, và để con nói về Ngài một cách trung thực và đầy đủ cho những người chung quang. Amen.

***

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể!

Chúng con yêu mến và ngợi khen Chúa. Vì Chúa đã quá yêu thương chúng con. Dù rằng chúng con chỉ là một tạo vật nhỏ bé và đầy lỗi lẫm. Chúa vẫn chăm sóc cuộc đời chúng con. Qua bí tích Thánh Thể, Chúa hoà nhập vào cuộc đời chúng con. Chúa chấp nhận tan biến mình, để chúng con được sống sức sống của Chúa. Xin cho chúng con biết sống sao cho xứng với tình yêu mà Chúa đã dành cho chúng con.

Nhưng Chúa ơi! ở đời sự giàu sang, danh vọng và khoái lạc trần thế là những điều hấp dẫn chúng con, trói buộc chúng con, làm cho chúng con đui mù không nhìn thấy những giá trị vĩnh cửu ở trên trời. Chúng con đã hành động theo những đam mê mù quáng. Chúng con đã lao vào thói hư tật xấu vì chiều theo tính xác thịt. Xin Chúa giải thoát và tháo gỡ chúng con khỏi mọi sự u mê của trần thế, để chúng con nhìn thấy những sự phong phú và vĩnh cửu ở trên trời, để chúng con luôn nỗ lực tìm kiếm Chúa và biết khôn ngoan chọn Chúa là nguồn hạnh phúc của cuộc đời chúng con.

Lạy Chúa, giữa những thói đời đầy đam mê thấp hèn, xin giúp chúng con đứng vững trước những cám dỗ tội lỗi và trung tín trong ơn nghĩa với Chúa luôn. Amen.

[Mục Lục]

THỨ NĂM ĐẦU THÁNG TUẦN 18 TN: Th. Xít-tô II, giáo hoàng và các bạn tử đạo

Bài đọc (Gr 31, 31-34)

Chúa phán: “Đây tới ngày Ta ký kết giao ước mới với nhà Israel và nhà Giuđa, giao ước này không giống như giao ước Ta ký kết với tổ phụ chúng trong ngày Ta cầm tay chúng dắt ra khỏi đất Ai-cập, giao ước ấy chính chúng đã phản bội, mặc dầu Ta thống trị chúng”. Chúa phán: “Đây là giao ước Ta sẽ ký kết với nhà Israel sau những ngày đó. Ta sẽ đặt lề luật của Ta trong đáy lòng chúng, và sẽ ghi trong tâm hồn chúng; Ta sẽ là Chúa của chúng, và chúng sẽ là dân của Ta”. Chúa phán: “Người này sẽ không còn phải dạy người nọ, anh sẽ không còn phải dạy em rằng: ‘Ngươi hãy nhìn biết Chúa’, vì mọi người từ nhỏ chí lớn đều nhìn biết Ta, vì Ta sẽ tha tội ác của chúng, và sẽ không còn nhớ đến tội lỗi của chúng”.

Tin Mừng (Mt 16, 13-23)

Khi ấy, Chúa Giêsu đến địa hạt thành Cêsarêa Philipphê, và hỏi các môn đệ rằng: “Người ta bảo Con Người là ai?” Các ông thưa: “Người thì bảo là Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là Êlia, kẻ khác lại bảo là Giêrêmia hay một tiên tri nào đó”. Chúa Giêsu nói với các ông: “Phần các con, các con bảo Thầy là ai?” Simon Phêrô thưa rằng: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Chúa Giêsu trả lời rằng: “Hỡi Simon con ông Giona, con có phúc, vì chẳng phải xác thịt hay máu huyết mạc khải cho con, nhưng là Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Vậy Thầy bảo cho con biết: Con là Đá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và cửa địa ngục sẽ không thắng được. Thầy sẽ trao cho con chìa khoá Nước trời. Sự gì con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc; và sự gì con cởi mở dưới đất, trên trời cũng cởi mở”. Bấy giờ Người truyền cho các môn đệ đừng nói với ai rằng Người là Đức Kitô.

Kể từ đó, Chúa Giêsu bắt đầu tỏ cho các môn đệ thấy: Người sẽ phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ bởi các kỳ lão, luật sĩ và thượng tế, phải bị giết, và ngày thứ ba thì sống lại. Phêrô kéo Người lại mà can gián Người rằng: “Lạy Thầy, xin Chúa giúp Thầy khỏi điều đó. Thầy chẳng phải như vậy đâu”. Nhưng Người quay lại bảo Phêrô rằng: “Hỡi Satan, hãy lui ra đàng sau Thầy: con làm cho Thầy vấp phạm, vì con chẳng hiểu biết những sự thuộc về Thiên Chúa, mà chỉ hiểu biết những sự thuộc về loài người”.

THÁNH XÍT-TÔ 2 GIÁO HOÀNG VÀ CÁC BẠN TỬ ĐẠO

Gương Thánh nhân

Thánh Xít-tô lên ngôi Giáo Hoàng năm 257, giữa lúc Hội thánh đang gặp cơn bắt bớ dữ dằn, thời hoàng đế Va-lê-ri-a-nô, nên đã bị giết chết vì đạo cùng với một số các phó tế của ngài, như lời thánh Cýp-ri-a-nô thuật lại sau đây:

“Sự thật là hoàng đế đã gởi lên Thượng viện một sắc lệnh truyền xử tử tức khắc các Giám mục, Linh mục và phó tế; còn đối với nghị viên, công chức cao cấp và kỵ binh Rô-ma thì phải bốc lột hết chức tước, tịch thu tài sản và nếu mất hết tài sản rồi mà họ vẫn cố chấp giữ đạo thì phải trảm quyết liền; phần các bậc mệnh phụ thì tước đoạt tài sản xong sẽ cho họ đi đày; mọi công chức của triều đình, trước đây xưng mình là tín hữu hay bây giờ vẫn còn xưng như thế, thì cũng phải tịch thu tài sản, rồi lập danh sách và trói lại, điệu đến các nơi hoàng triều cương thổ.

“Hoàng đế Va-lê-ri-a-nô còn cho kèm theo sắc lệnh trên, một phó bản bức thư ông gởi đến cho các quan Tổng đốc về chúng tôi. Ngày nay chúng tôi cũng chờ bức thư đó tới, vì chúng tôi đã nhất định đứng vững trong đức tin, sẵn sàng chịu đau khổ và trông đợi lòng Chúa thương xót ban cho được triều thiên sự sống đời đời; quý huynh cũng nên biết rằng Đức Xít-tô đã bị xử nơi một nghĩa địa ngày 6 tháng 8 cùng với 4 phó tế. Hằng ngày ở Rô-ma, quan vẫn tiến hành các cuộc bách hại như vậy: hễ thấy điệu ai tới là họ xử tử liền, và tịch thu tài sản để cho vào công khố”.

Thánh nhân bị chém đầu cùng với 4 vị phó tế trong số 7 vị phó tế của ngài, đang lúc ngài dâng Thánh lễ trong một hang toại đạo tại nghĩa trang. Hôm đó là ngày 6 tháng 8 năm 258, trong lúc thánh nhân dâng lễ có đông giáo hữu tham dự, cảnh sát Rô-ma đột ngột xông vào. Ngài tự hiến mình cho họ chém đầu, để giáo dân tẩu thoát. Ngài hy sinh chịu chết để cho đoàn chiên khỏi bị bắt bớ giam cầm, do đó mà mọi người đều tôn kính mến yêu ngài hết lòng. Ngài nêu gương can đảm làm chứng cho Chúa, coi cái chết như cỏ rác, trọng phần phúc thiên đàng hơn cả mạng sống và chức tước danh vọng.

Quyết tâm

Noi gương thánh Giáo Hoàng Xít-tô thứ 2; quý trọng phần phúc thiên đàng hơn tất cả mọi sự ở đời, và sẵn sàng hy sinh chịu khó hết sức để được ơn phước đó.

Lời nguyện

Lạy Chúa, Chúa đã ban thánh Xít-tô và các bạn thí mạng sống mình, để trọn niềm trung thành với Lời Chúa và làm chứng cho Đức Giê-su.

Xin dùng quyền năng của Thánh Thần giúp chúng con biết sẵn sàng đón nhận chân lý và can đảm tuyên xưng đức tin.

Suy niệm 1: CẦN TUYÊN XƯNG ĐỂ ĐÓN NHẬN SỨ VỤ

“Người ta bảo Con Người là ai?”.

Tại sao Đức Giêsu lại hỏi các môn đệ như vậy? Câu hỏi này của Đức Giêsu có ý gì?

Thưa vì những lý do sau:

Thứ nhất, Ngài và các môn đệ đang ở vùng Cêsarêa Philipphê. Đây là vùng đất của dân ngoại. Địa danh này còn được biết đến là một trung tâm thờ thần Baan. Nơi đây cũng có thể là nơi “chôn rau cắt rốn” của thần Hylạp có tên là Panias thần thiên nhiên.

Dân chúng ở đây, trong tâm thức của họ, Đức Giêsu chỉ là một nhân vật vĩ đại và thuần túy, hay chỉ là người tiếp nối quá khứ truyền thống các tiên tri mà thôi. Sẵn có lối suy nghĩ như vậy, nên họ không hiểu rõ sứ vụ Thiên Sai của Đức Giêsu. Vì thế không lạ gì khi được hỏi về dư luận trong dân chúng về mình, các môn đệ đã thông tri cho Đức Giêsu biết: “Người thì bảo là Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là Êlia, kẻ khác lại bảo là Giêrêmia hay một tiên tri nào đó”. Khi nghe thấy như thế, Đức Giêsu không thỏa mãn với câu trả lời đó, nên đã hỏi trực tiếp các môn đệ: “Phần các con, các con bảo Thầy là ai?”. Phêrô đã thay mặt anh em lên tiếng: “Thầy là Ðức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”.

Khi Phêrô tuyên xưng điều đó, có lẽ ông cũng không hiểu hết, bởi vì mầu nhiệm này quá sức của ông và các môn đệ khác.

Quả thật, “Đấng Kitô” mà Đức Giêsu muốn các môn sinh của mình hiểu ở đây không chỉ đơn thuần theo nghĩa là Đấng được Thiên Chúa sinh ra, mà còn là người hành động như Thiên Chúa, ngang bằng với Thiên Chúa. Còn “Con Thiên Chúa hằng sống ”, tức Ngài là Đấng tự hữu và tự tồn tại, vì thế “Ngài ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế”.

Thứ hai, đây là dịp để Đức Giêsu trắc nghiệm niềm tin của các ông vào mình, bởi lẽ không thể trao phó một trách nhiệm quan trọng mang tính trường tồn cho một kẻ kém tin và không hiểu biết gì về mình.

Vì vậy, khi Phêrô tuyên xưng niềm tin, ngay lập tức, Ngài đã đổi tên của ông là Simon thành Phêrô và giải thích là “Đá Tảng”, đồng thời Ngài cũng đặt gánh nặng lên vai Simon Phêrô: “Trên tảng đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy” và “Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy”.

Khi nói Phêrô là “Đá Tảng”, Đức Giêsu cho biết, đây là một thực tại chắc chắn, không lay chuyển, không thay đổi.

Thứ ba, khi đặt Phêrô làm “Đá Tảng” để xây dựng Giáo Hội, Đức Giêsu muốn chúng ta tin rằng:

Giáo Hội được Ngài thiết lập trên “Đá Tảng” là Phêrô, và chúng ta là người được ở trong tòa nhà đó, hẳn chúng ta có quyền tin rằng: “quyền lực tử thần sẽ không phá nổi”.

Thật vậy, trải qua biết bao thế kỷ, Giáo Hội luôn đứng vững trước sự công phá của ma quỷ, không những thế, Giáo Hội còn giải thoát con người khỏi ách của tội lỗi… và sự chết.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay muốn mời gọi chúng ta hãy vững tin vào Đức Kitô, vì “Ngài là Con Thiên Chúa hằng sống”. Tin tưởng vào lòng thương xót của Thiên Chúa nơi Bí tích Hòa Giải. Vâng phục, yêu mến đấng thay mặt Chúa, kế vị Thánh Phêrô là Đức Giáo Hoàng. Đồng thời luôn biết thể hiện tinh thần hiệp thông để xây dựng Giáo Hội của Chúa trên trần gian này. Hầu cho nhiều người nhận biết “Ðức Kitô, là Con Thiên Chúa hằng sống”. Amen.

Suy niệm 2: KHẲNG ĐỊNH LỜI TUYÊN XƯNG

“Người ta nói Con Người là ai? ”… “Còn anh em, anh em nói Thầy là ai?” (Mt 16,13.15)

Suy niệm: Thành Xê-da-rê Phi-líp-phê ở thượng nguồn sông Gio-đan, dưới chân núi Khe-môn, cách hồ Ga-li-lê 50 cây số. Đây là miền đất ngoại giáo, thờ nhiều vị thần, kể cả hoàng đế Rô-ma; ngày nay vẫn còn dấu tích đền thờ các vị thần, nói nôm na, nơi đây là “siêu thị tôn giáo.” Chính trong bối cảnh này, Đức Giêsu làm một cuộc “thăm dò dư luận” với các môn đệ: “Người ta nói Con Người là ai?” – “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Cuộc thăm dò đi từ việc tường thuật lời “người ta nói” sang việc khẳng định chính kiến “còn anh em, anh em bảo”. Câu trả lời của các môn đệ không còn chung chung nữa, nhưng phải là một sự xác định mang tính cá vị trong tương quan với Đức Giêsu và mặc khải của Chúa Cha (c. 17), nghĩa là tin vào Thiên Chúa duy nhất và vào Đấng Cứu Thế duy nhất là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa.

Mời Bạn:Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”Trả lời câu hỏi của Thầy Giêsu ở nhà thờ hay trong giờ học giáo lý thì thật dễ dàng, nhưng không dễ trong cuộc sống, phải không bạn? Nhất là khi quanh bạn đang có nhiều thứ “thần” khác mà lắm khi được cho là quan trọng hơn cả Chúa: tiền bạc, danh vọng, những đam mê bất chính, sự ích kỷ… Ngày hôm nay Chúa Giê-su cũng hỏi bạn câu hỏi quan trọng đó, bạn sẽ trả lời Ngài thế nào?

Sống Lời Chúa: Chậm rãi lặp đi lặp lại lời tuyên xưng: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống”.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su, chúng con tuyên xưng Chúa là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống. Xin giúp chúng con sống niềm tin này. Amen.

Suy niệm 3: TÔI VÀ PHÊRÔ

Tôi nhận thấy rằng tôi cũng có những điểm giống như Phêrô trong bài Tin mừng hôm nay. Và Chúa Giêsu cũng hỏi tôi như Ngài hỏi các môn đệ: “Anh em nói Thầy là ai?”. Chúa Giêsu là ai? Chúa Giêsu quan trọng như thế nào với bản thân tôi? Ngài là tất cả trong cuộc đời của tôi không? Câu hỏi này có một ý nghĩa rất lớn trong cuộc đời của tôi. Nó quyết định cho những chọn lựa trong cuộc sống của tôi.

Cũng như Phêrô, tôi được biết Ngài, tôi tin Ngài, tôi đã bước theo Ngài, và tôi đã tuyên xưng Ngài.

Cũng như Phêrô, khi nghe nói tới vất vả, đau khổ, hy sinh và chết chóc. Tôi cũng nhiều lần tìm cách tháo lui hay trốn tránh.

Tôi nhận ra một điều đó là từ lời nói đến việc làm thật khó biết bao. Từ lời tuyên xưng đến những hành động cụ thể trong cuộc sống không hề dễ dàng.

Mong sao tôi có thể làm nhiều hơn những gì mình nói và mong sao tôi có thể sống tốt những điều tôi đã tuyên xưng.

Lạy Chúa, xin cho con biết rằng những gì con đang có là do Chúa ban. Xin cho con ơn Chúa để con vượt thắng những yếu đuối của bản thân và để con sẵn sàng dấn thân bước theo Chúa trong cuộc sống mỗi ngày. Amen.

***

Lạy Chúa Giê-su Thánh Thể,

Cuộc đời luôn có những sóng gió nghi nan. Dòng đời luôn đong đầy những gian truân vất vả. Thế nhưng, chúng con thật hạnh phúc vì có Chúa trợ giúp trong những lúc khó khăn. Chúng con có Chúa đồng hành và sẵn lòng cất nhẹ những gánh nặng trong cuộc đời chúng con. Xin cho chúng con biết siêng năng đến với Chúa nơi bí tích Thánh Thể để được ơn nâng đỡ phần hồn và phần xác. Xin cho chúng con biết trao vào tay Chúa những gánh nặng trong cuộc đời, những thử thách trong hiện tại và lo lắng cho tương lại.

Lạy Chúa Giê-su mến yêu, thánh Phê-rô hôm nay đã tuyên xưng Chúa là Đấng hằng sống, dù rằng ngày mai ông lại chối Chúa đến ba lần. Chúa biết Phê-rô sẽ gục ngã trước nghi nan dù rằng lòng ông không muốn thế. Chúa nhìn thấu suốt tâm can. Chúa biết tấm lòng chân thật của thánh nhân. Xin Chúa cũng nhìn đến lòng thành của chúng con. Chúng con vẫn tuyên xưng mình là người ky-tô giáo nhưng lại không sống điều chúng con tin. Chúa bảo chúng con yêu người nhưng chúng con vẫn còn ghét bỏ nhau. Chúa bảo chúng sống công bình nhưng chúng con vẫn để cho những danh lợi thú làm chủ con người chúng con. Chúa muốn chúng con vác thập già mà theo Chúa nhưng chúng con lại sợ nghi nan.

Lạy Chúa, xin nâng đỡ đức tin còn yếu kém của chúng con để dù giữa những đau khổ, thử thách của cuộc sống, chúng con luôn kiên vững và an vui trong bổn phận của mình. Amen.

[Mục Lục]

THỨ SÁU TUẦN 18 TN: Th. Đa-minh, linh mục

Bài đọc (Nk 1, 15; 2, 2; 3, 1-3. 6-7)

Kìa xem, trên núi có người đưa tin mừng chạy đến. Hỡi Giuđa, hãy mừng các ngày lễ trọng của ngươi, hãy thi hành lời ngươi khấn nguyện. Vì Bêlial từ nay sẽ không còn đi qua đất ngươi: nó đã bị hoàn toàn tận diệt.

Vì Chúa sẽ trồng lại cây nho Giacóp, cũng như cây nho Israel, bởi quân phá phách đã tàn phá chúng và đã bẻ cành chúng.

Khốn cho thành khát máu, tràn đầy gian dối, hung bạo, người ta không ngừng cướp phá ngươi. Hãy nghe tiếng roi quất, tiếng bánh xe lăn, ngựa hí, xe phóng nhanh, quân kỵ binh xông đến, gươm lấp lánh, giáo sáng ngời, nhiều người bị giết, tàn phá nặng nề, xác chết vô vàn, ngã quỵ trên nhau.

Ta sẽ vứt đồ ô uế trên mình ngươi, làm nhục ngươi, bêu xấu ngươi. Lúc bấy giờ, hễ ai thấy ngươi cũng ngoảnh mặt mà nói: “Ninivê thật tiêu điều! Ai thương được ngươi? Tìm đâu ra người an ủi ngươi”.

Tin Mừng (Mt 16, 24-28)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình đi, và vác thập giá mình mà theo Thầy. Vì chưng, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai đành mất mạng sống mình vì Ta, thì sẽ được sự sống. Nếu ai được lợi cả thế gian mà thiệt hại sự sống mình, thì được ích gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi được sự sống mình? “Bởi vì Con Người sẽ đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ, Người sẽ trả công cho mỗi người tuỳ theo việc họ làm. Thật, Thầy bảo các con: trong những kẻ đang đứng đây, có người sẽ không nếm sự chết trước khi xem thấy Con Người đến trong Nước Người”.

THÁNH ĐA-MINH, Linh Mục

Gương Thánh nhân

Thánh Đa-minh sinh tại Cát-tin, nước Tây-ban-nha, năm 1170.

Ngay lúc nhỏ, thánh nhân đã mến mộ học hành, cầu nguyện, hãm mình, sống khắc khổ và yêu thương người nghèo. Mỗi ngày đều có giờ nhất định để đọc kinh cầu nguyện, và ngài ăn chay hãm mình luôn. Ngày kia có người đến xin ngài giúp đỡ để chuộc lại đứa em bị bắt, ngài không còn tiền cho người ấy, vì đã bố thí hết, nên nói:

Tôi không còn tiền, nhưng nầy chị hãy dẫn tôi nộp cho người ta, để chuộc em chị về.

Người nầy không thể chấp nhận đề nghị đó, nhưng lòng hết sức cảm phục sự hy sinh cao độ của Ngài.

Vì muốn dâng mình giúp việc Chúa, nên thánh nhân được gởi đến thụ giáo với một Linh mục ở Gu-mi-en. Năm 14 tuổi, ngài gia nhập đại chủng viện tại Pa-len-ci-a. Sau khi hoàn tất việc học ngài được Đức Cha Đi-gê-ô truyền chức Linh mục. Và vì thấy ngài thông minh nhân đức, nên Đức Giám mục đặt ngài làm Kinh sĩ ở Ốt-ma.

Lúc Đức Cha sang Pháp lo việc mục vụ, thánh nhân được dẫn theo. Trong thời gian ở đây, ngài thấy tận mắt những khó khăn tai hại do bè rối An-bi-ro (Albigeois) gây ra cho Hội thánh. Họ chủ trương tất cả những gì thuộc về vật chất đều xấu xa; muốn hoàn thiện phải tận diệt vật chất, sống hoàn toàn khắc khổ. Ngài quyết định đem hết khả năng chống lại chủ trương sai lạc của họ. Nhưng nhận thấy không thể một mình đương đầu nổi với sức bành trướng của họ ngài kêu gọi nhiều nhà truyền giáo nhiệt thành cộng tác, đó là những người sau nầy trở nên tu sĩ hội dòng ngài sáng lập, gọi là “Dòng Anh Em Thuyết Giáo”.

Một cộng tác viên của Ngài kể lại:

“Đa-minh có một đời sống luân lý, một lòng sốt sắng kính mến Chúa mãnh liệt, đến nỗi hiển nhiên ai cũng thấy ngài là tác phẩm của sự cao trọng và của ơn thánh. Ngài có một tâm hồn bình thản đến nỗi chỉ rộn lên khi phải trắc ẩn và thương xót. Và vì tâm hồn hân hoan thì làm cho bộ mặt rạng rỡ, nên ngài cũng để lộ sự bình thản của tâm hồn ngài ra trên nét mặt hiền từ và vui tươi của ngài.

“Đâu đâu ngài cũng tỏ ra một con người của Tin mừng, cả trong lời nói và hành động…

“Ngài năng dâng lên Chúa lời cầu xin đặc biệt nầy, là cho ngài được lòng bác ái chân thật, có khả năng săn sóc và đem lại phần rỗi cho người ta; ngài nghĩ mình sẽ thật là chi thể của Chúa, nếu tiên vàn mình đem hết sức lực mình ra cứu rỗi các linh hồn, giống như Chúa Giêsu, Đấng Cứu chuộc mọi người, đã tận hiến mình để cứu chuộc chúng ta. Và chính để làm công việc ấy mà theo ý Chúa an bài sâu xa, ngài đã lập ra “Dòng Anh Em Giảng Thuyết”.

Suốt 6 năm trời, thánh nhân dâng lời cầu nguyện, sự hy sinh kèm theo lời rao giảng kêu gọi mọi người trở về với đức tin chân chính, nhưng kết quả không được bao nhiêu. Ngài buồn sầu than thở với Mẹ Ma-ri-a, và được Mẹ dạy bảo hãy rao giảng và cổ động mọi người lần hột chuỗi Môi-khôi, để nhờ đó Mẹ cầu cùng Chúa cho những người lầm lạc trở về với Hội thánh. Vâng lời Đức Mẹ, ngài đem hết khả năng truyền bá chuỗi Môi-khôi, giải thích các mầu nhiệm thánh, kêu gọi mọi người thực hành việc đạo đức nầy. Kết quả thật lạ lùng! Không bao lâu, những người tội lỗi và kẻ lầm lạc ăn năn trở lại với Chúa. Thánh nhân hết sức vui mầng, tạ ơn Chúa và tri ân Đức Mẹ.

Năm 1215, thánh nhân đến Rô-ma, xin Đức Giáo Hoàng chuẩn nhận Hội Dòng Anh Em Thuyết Giáo của ngài, và đã được Đức Hô-nô-ri-út thứ 3 châu phê luật dòng vào ngày 22 tháng 10 năm 1216. Từ đó, dòng phát triển mạnh mẽ và có mặt trên khắp thế giới.

Thánh nhân qua đời tại Bô-li-nha, ngày 6 tháng 8 năm 1221. Năm 1231 Đức Thánh Cha Ghê-gô-ri-ô thứ 9 đã tôn phong ngài lên bậc Hiển thánh.

Quyết tâm

Noi gương thánh Đa-minh, hằng ngày tôi siêng năng lần hột chuỗi Môi-khôi và cổ động nhiều người tham gia, để cậy nhờ Đức Mẹ cầu cùng Chúa, cho kẻ tội lỗi lầm lạc trở về cùng Chúa.

Lời nguyện

Lạy Thiên Chúa toàn năng, Chúa đã cho xuất hiện trong Hội thánh một tông đồ nhiệt tâm truyền giảng chân lý là thánh Đa-minh.

Xin nhận lời thánh nhân hằng tha thiết chuyển cầu, mà ban cho Hội thánh luôn tiến triển, nhờ công đức và lời giảng dạy của Ngài.

Suy niệm 1: TỪ BỎ MÌNH ĐỂ ĐI THEO CHÚA

Ngày nay, khi đi phỏng vấn để xin việc, người ta thường đòi hỏi những điều kiện về sức khỏe và chuyên môn, đồng thời tùy một số công việc đặc thù, cần phải có sự thỏa thuận cụ thể hơn. Cũng vậy, khi được gọi để trở thành môn đệ, Đức Giêsu cũng đòi hỏi người môn sinh phải hội đủ những điều kiện cần thiết để chu toàn bổn phận của người thừa sai, hầu những ai được gọi và chọn thì đều cảm thấy hạnh phúc khi thi hành sứ vụ của người sai đi.

Hôm nay, bài Tin Mừng kể lại việc Đức Giêsu đòi hỏi những người Ngài muốn gọi và chọn để ra đi thi hành sứ vụ cần phải “từ bỏ mình và vác thập giá theo Ngài”.

Thoạt nghe, chúng ta cảm thấy buồn cười và có sự mâu thuẫn! Tuy nhiên, nhìn dưới khía cạnh của Kinh Thánh thì sự đòi hỏi này của Đức Giêsu mang tính tự do cho người đón nhận chứ không phải vì ép buộc. Tức là tự nguyện từ bỏ một cuộc sống dễ dãi, an nhàn, hay ăn trên ngồi trước, để lựa chọn một cuộc sống thiếu thốn, khổ hạnh vì ích lợi và niềm vui của kẻ khác.

Từ bỏ chính mình, vác thập giá mà theo, tức là chấp nhận đi trên con đường mà chính Đức Giêsu đã đi. Con đường đó là một con đường hẹp. Con đường của hy sinh, thiệt thòi. Con đường của tự hủy. Con đường khiêm tốn và là con đường vâng phục thánh ý Chúa Cha hoàn toàn.

Thật vậy, từ bỏ chính mình quả là điều khó nhất, bởi vì: “Bỏ tất cả mà chưa bỏ mình thì con chưa bỏ gì cả, vì chính mình con sẽ dần dần quơ góp lại những gì con bỏ trước” (Đường Hy Vọng, số 3). Nhưng nhiều người lại có suy nghĩ là bỏ tất cả, nhưng từ bỏ mình thì nhất quyết không, bởi vì họ từ bỏ cái tôi thì phải chăng họ không còn là họ nữa!

Tuy nhiên trong hoàn cảnh này, Đức Giêsu muốn các môn đệ ra khỏi sự ích kỷ, tự phụ, kiêu ngạo, để ý Chúa rợp bóng trên cái tôi của mình, và chính từ đó, tôi được trở thành tôi đúng nghĩa trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

Thánh Đaminh mà chúng ta hôm nay mừng kính, ngài đã từ bỏ hết tất cả để sống cho Thiên Chúa và tha nhân.

Vì thế: “Ngài năng dâng lên Chúa lời cầu xin đặc biệt này là cho ngài được lòng bác ái chân thật, có khả năng săn sóc và đem lại phần rỗi cho người ta. Ngài nghĩ mình sẽ thật là chi thể của Chúa, nên tiên vàn mình đem hết sức lực mình ra cứu rỗi các linh hồn, giống như Chúa Giêsu, Đấng Cứu Chuộc mọi người, đã tận hiến mình để cứu chuộc chúng ta. Và chính để làm công việc ấy mà theo ý Chúa an bài sâu xa, Ngài đã lập ra “Dòng Anh em Thuyết Giáo”.

Thật vậy, ngài đã từ bỏ tất cả, cho đi tất cả, kể cả mạng sống của mình. Nên đã có lần ngài thấy một phụ nữ vì không có tiền để chuộc lại đứa em gái của mình, nên đã nói: “Tôi không có tiền, nhưng này, chị hãy dẫn tôi nộp cho người ta, để chuộc em chị về”. Rồi ngay cả có cuốn sách quý hiếm, khi không còn gì để cho người nghèo nữa, ngài cũng bán. Khi được hỏi tại sao thì ngài trả lời: “Tôi không thể học trên những miếng da chết đang khi người khác chết đói”.

Thật vậy, ngài đã trở nên vị thánh lỗi lạc nhờ những trang Tin Mừng sống qua những hành vi bác ái với người nghèo. Cả cuộc đời của ngài đã cố tâm thực hiện câu Lời Chúa: “Ai muốn nên trọn lành, hãy về bán hết gia tài, bố thí cho người nghèo, đoạn hãy theo Tôi” (Mt.19,21).

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết an vui khi chọn Chúa làm gia nghiệp. Xin cũng cho chúng con được từ bỏ mọi sự, vác thập giá để theo Chúa trên con đường cứu độ mà Chúa muốn chúng con thi hành. Amen.

Suy niệm 2: TỪ BỎ CÁI “TÔI”

Rồi Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình và theo.” (Mt 16,24)

Suy niệm:Đa số chúng ta nghĩ rằng từ bỏ có vẻ như điều bất thường, là nhu nhược, lép vế hay thua trận. Thật ra, từ bỏ là điều rất bình thường và cần thiết. Từ bỏ là quy luật phát triển, trưởng thành của con người. Thai nhi không thể ở mãi trong bụng mẹ, dù đó là chỗ an toàn, êm ấm. Tội nhân biết hối lỗi, chừa bỏ tình trạng hiện tại, chắc chắn sẽ thành người tốt. Ki-tô hữu càng từ bỏ cái “tôi”, từ bỏ tội lỗi bao nhiêu, thì càng thánh thiện và giống Chúa bấy nhiêu. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su khẳng định điều kiện để làm môn đệ Ngài là từ bỏ mình mỗi ngày và vác thập giá theo Chúa, nghĩa là không sống theo ý riêng mình mà sống theo ý Chúa trong mọi hoàn cảnh cuộc đời, dù phải hy sinh, thiệt thòi.

Mời Bạn:Chúa Giê-su từ bỏ địa vị Thiên Chúa, xuống thế làm người để con người trở thành con cái Chúa. Ngài từ bỏ sự cao sang để sống nghèo khổ, tự nguyện nhận lấy tội lỗi của loài người, chết trên thập giá để cho con người được sống muôn đời. Mời bạn từ bỏ một tật xấu để gia đình mình được ấm êm; từ bỏ lời nói gian dối để tha nhân bớt khổ; từ bỏ thói nói xấu, vu oan để cộng đoàn được hiệp nhất, và từ bỏ một tội lỗi nào đó để nên thánh thiện.

Sống Lời Chúa: Mỗi ngày tôi quyết tâm dành thời gian đọc hoặc lắng nghe 5 phút Lời Chúa, để có những giây phút sống với Chúa, để Chúa dạy dỗ mình.

Cầu nguyện:Lạy Chúa, xin ban cho con ơn can đảm, để con dám ra khỏi chính mình, khỏi cái tôi ích kỷ, và vui lòng vác thập giá mình theo Chúa mỗi ngày. Nhờ vậy, con sống an bình bên Chúa và an hòa với tha nhân. Amen.

Suy niệm 3: ĐIỀU KIỆN THEO CHÚA

Khi Chúa Giêsu tiên báo về cuộc thương khó của Ngài, Phêrô không chấp nhận điều đó nên ông đã can ngăn Chúa. Nhân dịp này, Chúa Giêsu nói tiếp: “Ai muốn theo Thầy, hãy bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Thầy“.

Theo Thầy” có nghĩa là làm môn đệ của Chúa. Làm môn đệ không đơn giản là nói “tin vào Ngài” mà phải là đi theo con đường Ngài đã đi, sống theo những lời Ngài đã dạy. Đi theo con đường của Chúa đó là con đường thập giá đến vinh quang. Sống theo lời Ngài dạy là sống giới luật yêu thương.

Bỏ mình và vác thập giá” chính là từ bỏ những suy nghĩ cá nhân để chấp nhận ý của Chúa.

Phêrô đã tuyên xưng Chúa nhưng ông chưa thật sự là môn đệ của Chúa vì ông chưa từ bỏ suy nghĩ riêng tư của mình để chấp nhận ý của Chúa. Ông chưa từ bỏ con đường của mình để chấp nhận và bước theo con đường của Chúa.

Tuy nhiên, con đường đau khổ mà Chúa đã đi không kết thúc trong đau khổ mà dẫn đến vinh quang bất diệt. Đó là vinh quang mà Chúa Giêsu đã tỏ cho các môn đệ thấy khi hiển dung, và cũng chính là vinh quang của Ngài khi Ngài trở lại trong ngày sau hết. Đó cũng là vinh quang mà Chúa dành cho những ai chấp nhận theo con đường của Ngài vì “Người sẽ trả công cho mỗi người tuỳ theo việc họ làm“.

Hôm nay Chúa cũng mời gọi chúng ta: “Hãy từ bỏ mình và vác thập giá theo Thầy“. Chúng ta nói: “tôi tin Chúa” thôi chưa đủ và chưa hẳn là môn đệ của Chúa. Chỉ khi chúng ta biết đi theo con đường thập giá của Chúa, biết từ bỏ những ý riêng để đón nhận ý Chúa, chúng ta mới mong trở thành môn đệ đích thực của Ngài.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết đón nhận con đường khổ giá trong đời sống và luôn biết vâng theo Thánh Ý của Ngài để con mỗi ngày trở nên giống Chúa hơn. Amen.

***

Lạy Chúa Giê-su Thánh Thể,

Chúa là nguồn sức mạnh nâng đỡ cuộc đời chúng con. Chúa vẫn tha thiết mời gọi chúng con trao vào tay Chúa những gánh nặng của cuộc sống. Chúa mời gọi chúng con hãy can đảm vác thập giá hằng ngày mà theo Chúa. Xin Thánh Thể Chúa giúp chúng con can đảm bước theo chân Chúa với một lòng trung tín, sắt son.

Lạy Chúa Giê-su mến yêu, Chúa đã vui lòng đón nhận thập giá đắng cay để cứu chuộc chúng con. Chúa đã chấp nhận chết đi để ban lại cho chúng con sự sống đời đời. Xin dạy chúng con biết sống quảng đại, biết cho đi mà không tính toán, biết chiến đấu mà không sợ thương tích, và không chờ một phần thưởng nào khác là biết mình đã làm theo ý Chúa.

Lạy Chúa, xin dạy chúng con hiểu rằng: chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân, vì khi cho đi là lúc chúng con được nhận lãnh để chúng con luôn biết sống thanh thoát và quảng đại cho tha nhân. Amen.

[Mục Lục]

THỨ BẢY TUẦN 18 TN: Th. Tê-rê-xe Bê-nê-đi-ta Thánh Giá, nữ tu, tử đạo

Bài đọc (Kb 1, 12-2, 4)

Chớ thì ngàn xưa Chúa chẳng phải là Thiên Chúa, Chúa của tôi, là Đấng Thánh của tôi? Vậy là chúng tôi không sao chết được. Lạy Chúa, Chúa đã đặt nó lên để xét xử, làm cho nó vững mạnh để trừng phạt. Mắt Chúa tinh sạch, không thể nhìn sự dữ, không thể xem sự gian ác. Tại sao Chúa lại nhìn những kẻ gian ác, và kẻ bất lương nuốt người công chính hơn nó, sao Chúa vẫn làm thinh?

Chúa để loài người như cá biển, như sâu bọ không có vua quan. Nó lấy lưỡi câu mà bắt hết, lấy chài mà kéo mọi sự, lấy lưới mà thu lượm: bởi thế nó hớn hở vui mừng. Vì vậy, nó cúng tế cho chài, nó dâng lễ vật cho lưới, vì bởi đấy nó được phần béo tốt và món ăn ngon. Lẽ nào nó cứ thả lưới không ngừng và luôn luôn tàn nhẫn sát hại các dân?

Tôi sẽ đứng ở vọng canh của tôi, đứng yên nơi thành lũy của tôi, tôi chờ xem Chúa dạy tôi thế nào, và trả lời ra sao cho điều tôi biện bạch? Chúa đáp lại tôi rằng: “Hãy chép điều ngươi thấy, hãy khắc nó vào tấm bảng để đọc được dễ dàng. Bởi hình lạ còn xa, nó sẽ xuất hiện trong thời sau hết và sẽ chẳng hư không. Nó kết duyên với ngươi, hãy chờ đợi nó, vì nó sẽ đến không trì hoãn. Chắc chắn nó sẽ đến, không sai. Người không có lòng ngay thì ngã gục, nhưng người công chính sẽ sống nhờ trung tín”.

Tin Mừng (Mt 17, 14-19)

Khi ấy, có một người đến gần, quỳ gối trước mặt Chúa Giêsu mà nói rằng: “Lạy Ngài, xin thương xót con trai tôi vì nó mắc chứng kinh phong và rất trầm trọng: nó thường ngã vào lửa và lắm lúc nó ngã xuống nước. Tôi đã đem nó đến cùng môn đệ Ngài, nhưng các ông không thể chữa nó được”. Chúa Giêsu đáp: “Ôi thế hệ cứng lòng tin và hư hỏng! Ta phải ở với các ngươi đến bao giờ? Ta còn phải chịu đựng các ngươi đến bao giờ nữa? Hãy đem nó lại đây cho Ta”. Chúa Giêsu quát mắng quỷ và quỷ liền ra khỏi đứa bé. Và nó được lành ngay trong lúc ấy. Bấy giờ các môn đệ đến hỏi riêng Chúa Giêsu rằng: “Tại sao chúng con không thể trừ quỷ ấy được?” Chúa Giêsu bảo các ông rằng: “Vì các con yếu lòng tin! Thầy bảo thật các con: Nếu các con có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì các con có khiến núi này rằng: ‘Hãy rời khỏi đây mà sang nơi kia’, thì nó liền đi sang, và chẳng có gì các con không làm được”.

Suy niệm 1: KIÊU NGẠO SẼ THẤT BẠI

Một sự cám dỗ lớn lao nhất thường đến với con người, đó là cơn cám dỗ về sự kiêu ngạo.

Thật vậy, sự kiêu ngạo nó thường trực trong con người, và mức độ nguy hiểm của chúng là rất cao. Có thể ví rằng: sự kiêu ngạo luôn nhăm nhe bừng phát, chúng giống như bình xăng. Ma quỷ như bó đuốc. Nếu không cẩn thận và đề phòng bằng sự khiêm nhường, ắt không sớm thì muộn, chúng cũng làm cho bình xăng bốc cháy.

Đọc lại lịch sử cứu độ, chúng ta thấy, từ xa xưa, người ta vẫn bị mắc vào cám dỗ này.

Khởi đi từ Nguyên Tổ loài người là Ađam và Evà; rồi câu chuyện tháp Babel, đến hành động của Môsê, Aharon, Đavít, và ngay cả đến các Tông đồ, tất cả đều bị ngã gục trước sự cám dỗ của ma quỷ dưới lưỡi hái của sự kiêu ngạo.

Thật vậy, cậy vào sức riêng của mình là chuyện bình thường. Tuy nhiên, vì tự tin đến độ không cần đến Thiên Chúa thì lại là kẻ bất thường, vì thế, thất bại là lẽ đương nhiên.

Hôm nay, bài Tin Mừng cho thấy việc các môn đệ thất bại trong việc trừ quỷ. Nguyên do chính là do các ông tự mãn và cậy vào khả năng riêng của mình chứ không phải là niềm tin vào Thiên Chúa.

Tin Mừng thuật lại, sau khi Đức Giêsu đưa ba môn đệ lên núi Tabor, số môn đệ còn lại ở dưới núi, vì thế người ta mang đến cho các ông một đứa trẻ bị quỷ ám mắc kinh phong. Các ông đã trừ mà không được. Nên thấy Đức Giêsu xuống, dân chúng đã xúm lại và xin Ngài chữa lành. Sau khi Ngài chữa cho bé gái khỏi quỷ ám. Các môn đệ tiến lại gần và hỏi: “Tại sao chúng con đây lại không trừ nổi tên quỷ ấy?”. Đức Giêsu mặc khải cho họ biết: “Tại anh em kém tin! Thầy bảo thật anh em: nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: ‘rời khỏi đây, qua bên kia!’ nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được”.

Sau khi các ông nhận ra sự thất bại của mình và hiểu rõ về sức mạnh của niềm tin, Đức Giêsu muốn dạy các ông sự khiêm nhường và gắn bó với Thiên Chúa cách trọn ven thì mới có thể thi hành được sứ vụ.

Trong cuộc sống đức tin của chúng ta, có lẽ không cần phải xin Chúa cho được chuyển núi dời non theo nghĩa đen. Nhưng điều mà chúng ta cần chuyển dời chính là ngọn núi của kiêu căng, tự ái, ghen ghét. Có thế, chúng ta mới để cho đức tin mà Thiên Chúa ban cho chúng ta được lớn mạnh.

Lạy Chúa, xin cho ban thêm đức tin cho chúng con. Xin cho chúng con biết gắn bó với Chúa để được Chúa yêu thương. Amen.

Suy niệm 2: ĐƠN GIẢN MÀ KHÔNG BIẾT

“Tôi đã đem cháu đến cho các môn đệ Ngài, nhưng các ông không chữa được.” (Mt 17,16)

Suy niệm: Cách Chúa Giê-su trừ quỷ và dạy cách trừ quỷ khiến cha của đứa bé và các môn đệ ngạc nhiên: phải ăn chay và cầu nguyện. Các ông loay hoay dựa vào kinh nghiệm cá nhân hoặc kinh nghiệm dân gian, nhưng không thành. Chỉ khi nghe Chúa mách bảo các ông mới ngộ ra rằng bấy lâu nay dù sống bên Chúa nhưng các ông lại thiếu niềm tin, thiếu đời sống cầu nguyện. Những căn bệnh do quỷ ám được Chúa Giê-su chữa lành minh chứng rằng Ngài là Đấng Cứu Thế đang đến giữa con người. Tin Mừng Ngài rao giảng chính là Lời và hành vi của Ngài có sức mạnh đánh tan mọi sai lầm ám ảnh xưa nay lôi kéo con người vào chỗ tin vơ thờ quấy. Đó là một Tin Mừng có sức giải phóng khỏi mọi hình thức sự dữ mà nhiều người chưa biết hay không muốn biết.

Mời Bạn: Hiện nay có những căn bệnh trầm kha mà thuốc men không có tác dụng: trầm cảm, ham mê sắc dục… Nếu những bệnh nhân này tìm đọc, suy niệm, tĩnh tâm, cầu nguyện bằng Tin Mừng, nhờ các nhà linh hướng hướng dẫn… họ mới mong được chữa khỏi.

Chia sẻ: Phòng bệnh tốt hơn chữa bệnh: khi đời sống cá nhân và gia đình bạn đã được Phúc Âm hóa thì những bệnh tật do tính mê nết xấu, cám dỗ không còn cơ hội ảnh hưởng, tác hại.

Sống Lời Chúa: Hằng ngày tôi đọc, suy gẫm, cầu nguyện với Lời Chúa. Nhờ đó, lòng tin của tôi thêm kiên vững trước những cám dỗ của cuộc sống.

Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin cho con biết lắng nghe và thực hành Lời Chúa hằng ngày, vì Lời ấy là thuốc thiêng chữa trị tật bệnh tâm hồn, cũng như là nguồn mạch hoan lạc đời con. Amen.

Suy niệm 3

Chúa Giêsu than thở: “Ôi thế hệ cứng lòng tin và hư hỏng“. Ai là người cứng lòng tin trong bài Tin mừng hôm nay?

– Người cứng lòng tin trước hết đó là cha của đứa bé. Ông muốn các môn đệ chữa lành con ông, nhưng không thể được vì có lẽ ông chưa đủ tin tưởng vào quyền năng mà Chúa đã ban cho các Tông đồ. Phép lạ xuất hiện từ quyền năng của Thiên Chúa kết hợp với lòng tin của con người.

– Người cứng lòng tin cũng có thể là các môn đệ, các Tông đồ. Họ được van nài để cứu chữa đứa bé nhưng lại bất lực. Chúa Giêsu nói rõ, một trong những yếu tố khiến họ không thể chữa lành cho đứa bé là “vì các con yếu lòng tin“. Chúa Giêsu còn nói thêm điều kiện để trừ được quỷ này là phải ăn chay và cầu nguyện.

Nhiều lần trong đời sống chúng ta cũng sống thiếu lòng tin. Chúng ta không thể vượt qua được những khó khăn vì chúng ta chỉ cậy dựa vào sức của mình hoặc chúng ta chạy đến Chúa nhưng chưa đủ lòng tin vào Chúa.

Tâm hồn chúng ta cũng chứa đầy những ô nhơ, thói hư tật xấu làm cho chúng ta trở nên bệnh hoạn về tinh thần. Chúng ta muốn chữa lành căn bệnh này nhưng lại bất lực vì chúng ta chưa đủ lòng tin, chưa biết cầu nguyện và ăn chay.

Hãy cầu nguyện nhiều với Chúa để Chúa giúp chúng ta. Hãy cầu nguyện với lòng tin mạnh mẽ thì chắc chắn Chúa sẽ trợ giúp chúng ta.

Hãy biết chay tịnh trong ước muốn, trong suy nghĩ, trong hành động để chúng ta dành chỗ cho ước muốn của Chúa và để Chúa hành động trong chúng ta.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết tin tưởng vào Chúa. Xin giúp chúng con biết sống và hành động với Chúa để những gì con suy nghĩ, những gì con nói và những gì con làm đều theo Thánh Ý của Chúa. Amen.

***

Lạy Chúa Giê-su Thánh Thể,

Chúa là thần dược, là sức sống bổ dưỡng cho cuộc đời chúng con. Thánh Thể Chúa có thể chữa lành, xoa dịu thương đau cho cả hồn và xác chúng con. Xin Chúa hãy củng cố lòng tin còn yếu kém của chúng con. Xin dạy chúng con biết nương tựa vào quyền năng và tình thương của Chúa khi phải đối đầu với gian nan thử thách.

Nhưng Chúa ơi, có lẽ Chúa cũng thất vọng vì đức tin của chúng con chẳng bằng hạt cải. Chúng con còn hay ngã lòng trước nghi nan. Chúng con còn hay thất vọng trước những thất bại của cuộc đời. Nhiều lần chúng con buông xuôi cho dòng đời nổi trôi. Chúng con cậy vào sức mình hơn là tin tưởng trao vào tay Chúa những khó khăn thử thách. Chúng con đã không bám vào Chúa để vượt qua giông tố cuộc đời. Xin Chúa tha thứ cho những yếu kém của lòng tin nơi chúng con. Xin ban cho chúng con sức mạnh và ơn can đàm để chúng con luôn vững tin và trông cậy vào Chúa.

Lạy Chúa Giê-su mến yêu, là sức mạnh nâng đỡ những ai khổ sầu, xin thương nâng đỡ, chở che cuộc đời chúng con. Amen.

[Mục Lục]

Share This Post