Suy niệm Lời Chúa các ngày trong tuần 4 phục sinh năm A

SUY NIỆM LỜI CHÚA CÁC NGÀY TRONG TUẦN IV PHỤC SINH NĂM A

Thứ hai
Thứ ba
Thứ tư
Thứ năm
Thứ sáu
Thứ bảy

thanh-mathiaTHỨ HAI TUẦN 4 PS: Th. Nê-rê-ô và A-ki-lê-ô, tử đạo

Bài đọc (Cv 11,1-18)

1 Hồi ấy, các Tông Đồ và các anh em ở miền Giu-đê nghe tin là cả dân ngoại cũng đã đón nhận lời Thiên Chúa. 2 Khi ông Phê-rô lên Giê-ru-sa-lem, các người thuộc giới cắt bì chỉ trích ông, 3 họ nói : “Ông đã vào nhà những kẻ không cắt bì và cùng ăn uống với họ !” 4 Bấy giờ ông Phê-rô bắt đầu trình bày cho họ đầu đuôi sự việc, ông nói : 5 “Tôi đang cầu nguyện tại thành Gia-phô, thì trong lúc xuất thần, tôi thấy thị kiến này : có một vật gì sà xuống, trông như một tấm khăn lớn buộc bốn góc, từ trời thả xuống đến tận chỗ tôi. 6 Nhìn chăm chú và xem xét kỹ, tôi thấy các giống vật bốn chân sống trên đất, các thú rừng, rắn rết và chim trời. 7 Và tôi nghe có tiếng phán bảo tôi : ‘Phê-rô, đứng dậy, làm thịt mà ăn !’ 8 Tôi đáp : ‘Lạy Chúa, không thể được, vì những gì ô uế và không thanh sạch không bao giờ lọt vào miệng con !’ 9 Có tiếng từ trời phán lần thứ hai : ‘Những gì Thiên Chúa đã tuyên bố là thanh sạch, thì ngươi chớ gọi là ô uế !’ 10 Việc ấy xảy ra đến ba lần, rồi tất cả lại được kéo lên trời.

11 “Ngay lúc đó, có ba người đến nhà chúng tôi ở : họ được sai từ Xê-da-rê đến gặp tôi. 12 Thần Khí bảo tôi đi với họ, đừng ngần ngại gì. Có sáu anh em đây cùng đi với tôi. Chúng tôi đã vào nhà ông Co-nê-li-ô. 13 Ông này thuật lại cho chúng tôi nghe việc ông đã thấy thiên sứ đứng trong nhà ông và bảo : ‘Hãy sai người đi Gia-phô mời ông Si-môn, cũng gọi là Phê-rô. 14 Ông ấy sẽ nói với ông những lời nhờ đó ông và cả nhà ông sẽ được cứu độ.’

15 “Tôi vừa mới bắt đầu nói, thì Thánh Thần đã ngự xuống trên họ, như đã ngự xuống trên chúng ta lúc ban đầu. 16 Tôi sực nhớ lại lời Chúa nói rằng : ‘Ông Gio-an thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì sẽ được rửa trong Thánh Thần.’ 17 Vậy, nếu Thiên Chúa đã ban cho họ cùng một ân huệ như Người đã ban cho chúng ta, vì chúng ta tin vào Chúa Giê-su Ki-tô, thì tôi là ai mà dám ngăn cản Thiên Chúa ?”

18 Nghe thế, họ mới chịu im, và họ tôn vinh Thiên Chúa mà nói : “Vậy ra Thiên Chúa cũng ban cho các dân ngoại ơn sám hối để được sự sống !”

Tin Mừng (Ga 10,1-10)

1 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Do-thái rằng : “Thật, tôi bảo thật các ông : Ai không đi qua cửa mà vào ràn chiên, nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy là kẻ trộm, kẻ cướp. 2 Còn ai đi qua cửa mà vào, người ấy là mục tử. 3 Người giữ cửa mở cho anh ta vào, và chiên nghe tiếng của anh ; anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra. 4 Khi đã cho chiên ra hết, anh ta đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh. 5 Chúng sẽ không theo người lạ, nhưng sẽ chạy trốn, vì chúng không nhận biết tiếng người lạ.” 6 Đức Giê-su kể cho họ nghe dụ ngôn đó. Nhưng họ không hiểu những điều Người nói với họ.

7 Vậy, Đức Giê-su lại nói : “Thật, tôi bảo thật các ông : Tôi là cửa cho chiên ra vào. 8 Mọi kẻ đến trước tôi đều là trộm cướp ; nhưng chiên đã không nghe họ. 9 Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ. 10 Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá huỷ. Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.”

THÁNH NÊ-RÊ-Ô VÀ A-KI-LÊ-Ô, Tử đạo

Hai thánh Nê-rê-ô và A-ki-lê-ô là binh sĩ phục vụ công chúa Đô-mi-tin-la, cháu hoàng đế Dô-mi-xi-en. Chính thánh Phêrô đã ban Bí tích Rửa tội cho các ngài và gia đình công chúa. Lòng đạo đức và trung thành của các ngài làm cho công chúa quý mến tín cẩn.

Một hôm, đang lúc công chúa Đô-mi-tin-la trau dồi nhan sắc để ra mắt bá tước Au-rê-li-en, người sắp cưới cô, các ngài trách khéo cô:

• Nhân đức và đạo cô tin theo cho cô xứng đáng với Vua trên hết các vua. Thế mà cô lại nhận một người phàm trần như thế sao? Hãy từ bỏ hạnh phúc ở đời, để được vinh hiển trên trời.

Những lời chân thành đó đã tỉnh thức Đô-mi-tin-la. Cô từ chối cuộc hôn nhân và quyết hiến thân cho Chúa.

Bá tước Au-rê-li-en tức giận. Ông ta bắt giam Nê-rê-ô và A-ki-lê-ô, và hành hạ đánh đập vô củng dã man. Các ngài dâng sự đau khổ cho Chúa, không than van trách móc điều gì để thông phần vào sự thương khó của Đức Kitô trong cuộc cứu độ của Người, như lời thánh tông đồ Phaolô nói: Trong thân xác tôi, tôi bù đắp những gì còn thiếu nơi các nỗi quẫn bách Đức Kitô phải chịu. Và như lời thánh Giám mục Âu-tinh: “Bạn chỉ chịu khổ trong mức độ các nỗi quẫn bách của bạn phải góp phần vào nỗi khổ nạn chung của Đức Kitô mà thôi. Người phải chịu đau khổ cả nơi đầu của ta và cả nơi các chi thể của Người, tức là nơi chúng ta nữa.”

Sau cùng, Au-rê-li-en ra lệnh chém đầu các ngài. Xác các ngài được chôn gần Rô-ma. Và nơi đây được xây dựng thành đường để kính hai thánh nhân. Hiện nay, khách hành hương Rô-ma thường đến kính viếng phần mộ các ngài.

Hôm nay cũng mừng kính thánh Păng-ra-xi-ô tử đạo. Thánh nhân sinh tại Phy-gi-a, trong một gia đình quý tộc. Cha mất sớm, ngài sống với người cậu tên Đơ-ni. Ngài theo cậu đến lập nghiệp ở Rô-ma. Nơi đây, ngài đã theo đạo và được rửa tội lúc 14 tuổi.

Dưới triều hoàng đế Đi-ô-lê-xi-en bắt đạo, thánh nhân bị bắt và bị buộc phải dâng hương tế thần. Nhưng ngài cương quyết từ chối vì trung thành với Chúa, nên bị chém đầu vào năm 304.

Quyết tâm:

Noi gương các thánh Nê-rê-ô, A-ki-lê-ô và Păng ra-xi-ô, tôi sẵn sàng chịu mọi sự gian nan khốn khó vì Chúa, để làm chứng cho Chúa và để cứu rỗi linh hồn tôi và mọi người.

Lời nguyện:

Lạy Thiên Chúa toàn năng, hôm nay chúng con mừng hai thánh Nê-rê-ô và A-ki-lê-ô tử đạo đã anh dũng tuyên xưng đức tin.Xin cho chúng con được các ngài bênh vực, chở che trước tòa Chúa.

Lạy Chúa, xin cho Hội thánh Chúa được vui mừng trong ngày kính nhớ thánh Păng-ra-xi-ô tử đạo.Xin nghe lời chuyển cầu của thánh nhân mà cho Hội thánh được bính an thư thái, để hăng say phục vụ Tin Mừng.

Suy niệm 1: BIẾT VÀ YÊU CHÚA GIÊ-SU

“Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi, như Chúa Cha biết tôi và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.” (Ga 10,14-15)

Suy niệm: Cô X. có người yêu khác tôn giáo sẵn sàng theo đạo như cô nhưng trên thực tế cô X. không quan tâm đến việc đó và cũng không tìm cách giúp cho người yêu biết Chúa Giê-su và Tin Mừng của Ngài. Điều này giả thiết chính cô X. cũng không biết, hoặc biết mà không yêu Chúa vì nếu có, cô sẽ tìm cách truyền đạt cho anh hồng ân đức tin mà mình đã lãnh nhận. Là Ki-tô hữu tức là môn đệ Chúa Ki-tô, nên cũng là một nhà truyền giáo. Chúa Ki-tô muốn họ cộng tác với Ngài để đem ánh sáng chân lý chiếu soi trên trần gian. Để làm tốt việc này, Ki-tô hữu phải học biết Chúa Ki-tô và yêu mến Ngài. Không ai cho cái mình không có.

Mời Bạn:Ngày nay chúng ta phải đối diện với thách thức phải trả lời cách tương xứng cho nhiều người đang khao khát Thiên Chúa kẻo họ lại bằng lòng với những câu trả lời sai lệch hoặc với một Đức Giê-su vô cảm, không một chút dấn thân cho người khác.” (ĐGH Phan-xi-cô, Niềm Vui Tin Mừng, 89). Biết Chúa và yêu Chúa không chỉ là nhu cầu cho việc truyền giáo nhưng đó chính là lẽ sống, niềm vui và hạnh phúc chân thật cho tâm hồn chúng ta.

Sống Lời Chúa: Sứ mệnh Tân Phúc Âm hóa thúc bách chúng ta găp gỡ Đức Ki-tô mỗi ngày, đồng thời đổi mới cách trình bày Chúa cho những người sống chung quanh chúng ta.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su, Chúa là Mục tử nhân lành. Xin cho chúng con luôn hướng về Chúa, khao khát Chúa và đừng để những quyến rũ trần gian ngăn cản chúng con đến với Chúa.

Suy niệm 2: Sứ mạng

Chúa Giêsu là “Cửa” chuồng chiên. Chúa Giêsu ví Ngài như cánh cửa để cho chiên ra vào. Điều này cho thấy Chúa Giêsu chính là cửa ngõ, là con đường dẫn con người đến niềm vui, bình an và hạnh phúc đích thực. Qua Chúa Giêsu, đến với Chúa Giêsu, con người được dẫn đến nguồn sống vĩnh cửu. Nhờ Chúa Giêsu, con người được ơn cứu độ và được sống dồi dào viên mãn.

Chúa Giêsu là “Mục tử nhân lành”. Chúa Giêsu ví Ngài như Mục tử nhân lành, quan tâm lo lắng cho đoàn chiên, gắn bó, chăm sóc và bảo vệ đoàn chiên. Hình ảnh này cho thấy Chúa Giêsu yêu thương con người và đem đến cho con người những điều tốt đẹp nhất.

Chúa Giêsu không những là nguồn sống cho tôi, nhưng Ngài còn là tấm gương cho tôi trong cuộc sống mỗi ngày. Với bổn phận và trách nhiệm của mình trong gia đình, nơi làm việc và trong xứ đạo, tôi cũng như một mục tử. Lời Chúa hôm nay là lời nhắc nhở tôi và giúp tôi ý thức bổn phận của mình đó là: đem đến cho người khác những điều tốt đẹp bằng lời nói việc làm và bằng chính đời sống của tôi.

Xin cho con luôn gắn bó với Chúa Giêsu là “Mục tử nhân lành” để con kín múc nơi Chúa nguồn sống đích thực. Xin cho con luôn sẵn sàng sống cho tha nhân để con cũng đem đến cho người khác niềm vui và những điều tốt đẹp. Amen.

Suy niệm 3: Ta là cửa

Đoạn tin mừng hôm nay tiếp nối chương trước (Ga, 9). Diễn từ về cửa chuồng chiên và Mục Tử nhân lành giải thích ý nghĩa đoạn kết mang tính bi kịch của việc anh mù tuyên xưng niềm tin sau khi được chữa lành.

Là người bị trục xuất khỏi cộng đoàn chính trị hoặc tôn giáo, vì lý do làm chứng về Đức Giêsu, trở nên thành viên trong đàn chiên của Đức Kitô và nơi đây anh gặp được sự sống dồi dào, ơn cứu rỗi trọn hảo.

Các đầu mục dân Do thái qua cách hành xử của họ cho thấy họ là kẻ trộm (c.8 ), chứ không phải là mục tử dân Israel. Anh mù được chữa lành, bị trục xuất, sẽ không phải sống như chiên không đàn và không chủ chăn; anh ta đã gặp được Vị Mục Tử nhân lành và qua việc tuyên xưng niềm tin, anh đã đi vào đàn chiên của Chúa qua khung cửa: Đức Giêsu.

Cách nói ‘Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi’ (c.1) tiên báo những điều hệ trọng và thâm thúy. Hình ảnh cửa (c.1) mang ý nghĩa: những chủ chăn đích thực của đàn chiên Thiên Chúa cần phải đi qua cửa là Đức Kitô. Nơi Ngài, Thiên Chúa hiện diện, là đường dẫn đến Chúa Cha và là đền thờ mới.

Ai không biết Đức Kitô và chối từ Ngài là kẻ trộm, kẻ cướp, nghĩa là không thể hướng dẫn đàn chiên đến đồng cỏ của sự sống vĩnh cữu, nhưng chỉ gây thiệt hại và chết chóc. Trong cụ thể, những người Do thái và các biệt phái, là những người không muốn chấp nhận trung gian cứu độ của Đức Giêsu, đều là những kẻ trộm cướp. Như thế ngay cả những kẻ phiến loạn, các người phái Zêlót và chiến sĩ du kích như Barabba, đã gây nhiều cuộc nổi dậy trong dân, nhưng vì không đi vào cộng đồng Israel qua cánh cửa mà Thiên Chúa thiết lập, nên chỉ gây thiệt hại và chết chóc. Người chủ chăn đàn chiên Thiên Chúa đi vào cánh cửa Giêsu và qua Đức Giêsu tiếp cận với các con chiên.

Với câu ‘gọi tên các con chiên và dẫn chúng ra’ (c. 3 ), Đức Giêsu cho thấy hành động Ngài dẫn đưa các chiên của Ngài ở bên ngoài phạm vi hội đường. Anh mù được chữa lành, bị trục xuất khỏi cộng đồng Do thái, thực ra anh ta được Vị mục tử nhân lành dẫn ra khỏi hội đường và được đưa vào ràn chiên của Đức Kitô là Giáo Hội.

Cũng như Thiên Chúa đã đưa Israel ra khỏi Aicập, Đức Giêsu dẫn đầu đàn chiên của Ngài để đưa họ thoát khỏi Do thái giáo. Với hành động này Giáo Hội tách hẳn khỏi hội đường.

E rằng những lời của Ngài khó hiểu, Đức Giêsu lập lại hình ảnh trước và làm sáng tỏ hơn: cửa của các chiên chính là Ngài, kẻ trộm cướp là những chủ chăn giả hiệu Israel. Đức Giêsu là đấng trung gian để bước vào đàn chiên Thiên Chúa, là con đường đến với Chúa Cha (Ga 14, 6), là con đường bắt buộc để hiệp thông với các chiên của Ngài.

Cửa, trong ngôn ngữ kinh thánh, cũng có nghĩa thành phố hay đền thờ (x.Tv 87, 1-2; Tv 112, 2…). Do đó Đức Giêsu tuyên bố Ngài là nơi người ta tìm được sự cứu rỗi. Ngài là đấng Chúa Cha sai đến thế gian để nhân loại tội lỗi được cứu rỗi (Ga 3, 17). Do đó các con chiên muốn có sự sống vĩnh cửu dồi dào không thể từ chối trung gian của Ngài: họ phải đi qua cửa Giêsu để đi vào sự sống vĩnh cửu.

Trung gian cứu độ này không phải là điều gì mang tính áp đặt, nhưng là phương cách để hưởng được tự do hoàn toàn và cảm nghiệm sự sống tràn đầy.

Con Thiên Chúa không đến thế gian để giết chết, để mang thiệt hại cho nhân loại, như những chủ chăn giả hiệu, nhưng để cứu độ tất cả mọi người.

[Mục Lục]

THỨ BA TUẦN 4 PS: Đức Mẹ Fa-ti-ma

Bài đọc (Cv 11,19-26)

19 Hồi ấy, những người phải tản mác vì cuộc bách hại xảy ra nhân vụ ông Tê-pha-nô, đi đến tận miền Phê-ni-xi, đảo Sýp và thành An-ti-ô-khi-a. Họ không rao giảng lời Chúa cho ai ngoài người Do-thái. 20 Nhưng trong nhóm, có mấy người gốc Sýp và Ky-rê-nê ; những người này, khi đến An-ti-ô-khi-a, đã giảng cho cả người Hy-lạp nữa, loan Tin Mừng Chúa Giê-su cho họ. 21 Vì có bàn tay Chúa ở với họ, nên một số đông đã tin và trở lại cùng Chúa.

22 Tin ấy đến tai Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem, nên người ta cử ông Ba-na-ba đi An-ti-ô-khi-a. 23 Khi tới nơi và thấy ơn Thiên Chúa như vậy, ông Ba-na-ba mừng rỡ và khuyên nhủ ai nấy bền lòng gắn bó cùng Chúa, 24 vì ông là người tốt, đầy ơn Thánh Thần và lòng tin. Và đã có thêm một đám rất đông theo Chúa.

25 Ông Ba-na-ba trẩy đi Tác-xô tìm ông Sao-lô. 26 Tìm được rồi, ông đưa ông Sao-lô đến An-ti-ô-khi-a. Hai ông cùng làm việc trong Hội Thánh ấy suốt một năm và giảng dạy cho rất nhiều người. Chính tại An-ti-ô-khi-a mà lần đầu tiên các môn đệ được gọi là Ki-tô hữu. Ông Ba-na-ba và ông Sao-lô được cử đi Giê-ru-sa-lem.

Tin Mừng (Ga 10,22-30)

22 Khi ấy, ở Giê-ru-sa-lem, người ta đang mừng lễ Cung Hiến Đền Thờ. Bấy giờ là mùa đông. 23 Đức Giê-su đi đi lại lại trong Đền Thờ, tại hành lang Sa-lô-môn. 24 Người Do-thái vây quanh Đức Giê-su và nói : “Ông còn để lòng trí chúng tôi phải thắc mắc cho đến bao giờ ? Nếu ông là Đấng Ki-tô, thì xin nói công khai cho chúng tôi biết.” 25 Đức Giê-su đáp : “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông không tin. Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi, những việc đó làm chứng cho tôi. 26 Nhưng các ông không tin, vì các ông không thuộc về đoàn chiên của tôi. 27 Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi ; tôi biết chúng và chúng theo tôi. 28 Tôi ban cho chúng sự sống đời đời ; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi. 29 Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. 30 Tôi và Chúa Cha là một.”

Đức Mẹ Fatima

Mỗi nơi Mẹ Maria hiện ra đều mang một dấu ấn và để lại ấn tượng kỳ diệu nơi mỗi người suốt thể kỷ này tới thế kỷ khác. Nói đến Mẹ, tự nhiên con người ai cũng cảm thấy như có một niềm vui dâng đầy con tim, tràn ngập tâm hồn con người. Hôm nay, mừng kính Đức Mẹ Fatima, mãi muôn đời nhân loại sẽ không bao giờ quên sứ điệp của Mẹ đã nói với ba trẻ trên đồi Cova da Iria năm 1917.

Ba trẻ Lucia, Jacinta và Phanxicô là ba bé chăn chiên thuộc gia đình nghèo làng quê Fatima, nước Bồ Đào Nha. Các trẻ em này thuộc giáo phận Leiria. Hàng ngày các em được gia đình, cha mẹ trao phó việc dẫn đoàn súc vật : chiên, cừu đi ăn cỏ ở các vùng đồi núi quanh đó. Các em thường có thói quen sau khi để bầy súc vật ăn cỏ, liền qùi gối trên bãi đất trống đọc kinh, lần chuỗi mân côi chung với nhau.

Ngày 13 tháng 5 năm 1917, giữa lúc thế chiến thứ nhất đang xảy ra, khi các em đang sốt sắng đọc kinh lần chuỗi mân côi lúc gần giữa trưa, một luồng chớp chói lòa làm các em bỡ ngỡ, kéo hoàn toàn sự chú ý của các em về những ngọn cây trên đồi Cova da Iria, một Vị sáng láng hiện ra, Thiếu Nữ ấy xin các em cầu nguyện cho những người tội lỗi ăn năn trở lại, chiến tranh sớm kết thúc. Thiếu Nữ dặn các em hãy trở lại nơi này vào ngày 13. Theo lời Thiếu Nữ căn dặn, các em đã được gặp và nói chuyện với Thiếu Nữ ấy vào các ngày 13 từ tháng 5 đến tháng 10.

Trong những cuộc gặp gỡ ấy, Thiếu Nữ xưng mình là Đức Mẹ Mân Côi. Mẹ mời gọi các em cầu nguyện và làm việc đền tạ. Đặc biệt là lần cuối cùng ngày 13.10.1917, một hiện tượng rất lạ đã xẩy ra làm rúng động mọi người. 70 ngàn người đã chứng kiến hiện tượng Mặt Trời múa.

Năm 1930 Đức Giám Mục Leira đã chính thức công nhận việc Đức Mẹ hiện ra tại Fatima.

Sứ điệp của Fatima là hãy cầu nguyện cho các tội nhân, lần chuỗi Mân Côi và sám hối. “Mẹ đến kêu nài các tín hữu hãy lần hạt Mân Côi… Nếu người ta cải thiện đời sống thì chiến tranh sớm kết thúc”.

Đức Mẹ đã hiện ra với ba trẻ để qua các em, Mẹ nhắn nhủ nhân loại siêng năng cầu nguyện, năng lần chuỗi Mân Côi và thống hối ăn năn. Trải qua năm tháng, Fatima đã thu hút biết bao khách hành hương đến tôn vinh Mẹ Rất Thánh Mân Côi.

Sứ điệp Fatima nói lên một sự thật tuyệt vời : con người có nguy cơ hư đi khi xa dần Thiên Chúa, chỉ có thể được cứu vãn bằng những phương thế mà Mẹ dậy : “Cầu nguyện, lần chuỗi Mân Côi và Sám hối ăn năn “.

Lạy Mẹ Fatima, xin giúp chúng con biết siêng năng cầu nguyện, lần hạt Mân Côi và ăn năn thống hối.

Suy niệm 1: NGHE – TIN – THEO

Đức Giê-su nói: “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông không tin,… vì các ông không thuộc về đoàn chiên của tôi. Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi.(Ga 10,25.27)

Suy niệm: Chúa Giê-su trách những người Do-thái không tin Ngài là Đấng Chúa Cha sai đến mặc dù họ đã nghe Chúa Giê-su giảng, chứng kiến Ngài chữa lành bệnh tật, cho người chết sống lại…; lý do của sự cứng lòng ấy, Chúa cho biết, là vì họ không thuộc về đoàn chiên của Chúa, vì họ đã không nhận biết tiếng Ngài và đã không đi theo Ngài. Trái lại, những ai nhận biết tiếng Chúa và đi theo Ngài, hay nói cách khác, chỉ những ai nghe tiếng Chúa, tin vào Ngài, và sẵn lòng bước theo Ngài mới thuộc về đoàn chiên của Ngài.

Mời Bạn: Trong ba thái độ cơ bản của người môn đệ Chúa Ki-tô là “Nghe-Tin-Theo” thì “Nghe” đứng đầu: “Đức tin có là nhờ nghe” (Rm 10,14.17). Thế nhưng trong cuộc sống hôm nay, con người khó nghe được lời của vị Mục Tử Ki-tô vì tiếng Ngài lại hay bị nhiễu, bị át đi bởi quá nhiều tiếng động của xe cộ, máy móc, ca nhạc và còn bởi cả những tiếng ồn ào của lòng ham mê của cải, quyền lực, danh vọng…. Bạn làm gì để “tắt đi” những tiếng ồn trong cõi lòng bạn để bạn sẵn sàng lắng nghe Lời Ngài nói với bạn chưa?

Sống Lời Chúa: Ý thức mình là con chiên nhỏ trong đoàn chiên Chúa, bạn luôn trung thành với việc suy niệm Lời Chúa mỗi ngày.

Cầu nguyện: Lạy Chúa là Mục tử nhân lành, xin hướng dẫn con trong tình yêu Chúa. Xin Chúa gọi con, để con nhận ra tiếng Chúa. Nếu con có lạc đường, xin hãy đem con về và gìn giữ con, vì chỉ có Chúa biết rõ con và đời con chỉ thuộc về Chúa mà thôi.

Suy niệm 2

Đức Giêsu có mặt ở Đền Thờ Giêrusalem dịp lễ Cung Hiến Đền Thờ. Người Do Thái chất vấn Ngài có phải là Đấng Kitô? Ngài nói rằng Ngài đã trả lời nhiều lần rồi, nhưng tại vì họ không tin. Ngài cho họ biết lý do họ không tin là vì họ không thuộc đoàn chiên Ngài. Ngài cũng nói đến hai đặc điểm của những ai thuộc về đoàn chiên Ngài, đó là: nghe tiếng và đi theo Ngài. Đồng thời, Ngài cũng khẳng định hai điều mà Ngài sẽ ban cho những ai thuộc về đàn chiên Ngài: sự sống an toàn và sự sống đời đời.

Mong sao, tôi luôn ý thức mình là chiên mà Chúa là mục tử, để tôi luôn để ý nghe tiếng và đi theo Ngài.

Mong sao, tôi luôn nhớ rằng, ơn thánh qua Lời Chúa, qua thánh lễ, qua các bí tích… Chúa đang gìn giữ tôi trong sự sống an toàn.

Và mong sao, tôi được ban sự sống đời đời – sự sống dành cho những ai biết nghe tiếng Chúa và đi theo Ngài.

Suy niệm 3: Mẫu gương Đức Maria

(Lc 11,27-28)

27 Khi Đức Giê-su đang giảng dạy, thì giữa đám đông có một người phụ nữ lên tiếng thưa với Người: “Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm! “28 Nhưng Người đáp lại: “Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa.”

Suy niệm:Đức Maria quả thật là một mẫu gương cho tôi trong đời sống đức tin. Mẹ đã cưu mang Chúa Giêsu. Trong mọi hoàn cảnh Mẹ Maria luôn chu toàn bổn phận cưu mang này. Cụ thể hơn trong đoạn tin mừng ngắn ngủi này, Chúa Giêsu đã ca ngợi Mẹ như một mẫu gương về việc lắng nghe và tuân giữ lời Chúa. Thật vậy, suốt cuộc đời của Mẹ, khi vui cũng như lúc buồn.. Mẹ luôn luôn lắng nghe và thi hành ý Chúa.

Tin Chúa và theo Chúa là một hành trình đức tin. Hành trình này cũng ví như là sự cưu mang Chúa trong đời sống của tôi. Đức Maria là mẫu gương và là động lực cho tôi trong đời sống đức tin của mình. Ước mong tôi luôn sống như Mẹ, luôn chu toàn bổn phận trong mọi hoàn cảnh, luôn làm cho Chúa “được lớn lên” trong đời sống của tôi, và nhất là lắng nghe và thi hành ý Chúa mỗi ngày.

Xin Chúa cho con dám hiến dâng đời sống của mình như Đức Maria, để đời sống của con sống cho Chúa trọn vẹn như Mẹ. Amen.

Suy niệm 4: Tiếng chủ chăn

Lại thêm một nét bút nữa để vẽ Vị Mục Tử nhân lành – Messia. Là con người khiêm nhu không cần phải lớn tiếng. Chỉ với chất giọng quen thuộc Ngài được nhận ra ngay. Đó là chất giọng của tình yêu vì tin mừng của Ngài không phải là là một giáo thuyết chỉ cho người ta con đường cứu độ, nhưng là một con người, Đức Kitô, tuyên bố mình là ‘Là Đường, là Sự Thật và là sự Sống’. Ai theo Ngài sẽ không bao giờ hư mất và sẽ được bảo vệ trước mọi bạo lực.

Trong một thế giới như ngày nay, người ta nói nhiều đến những biện pháp an ninh, hình ảnh tin mừng của vị Mục Tử nhân lành, khi chiều đến, đi tìm những con chiên lạc hoặc những con chiên chậm bước, vẫn có giá trị– không phải ý nghĩa tiêu cực- bởi vì Ngài bảo vệ chúng ta và nâng đỡ chúng ta khi mà chúng ta đang dấn sâu trong đau khổ và đang cảm thấy tuyệt vọng.

Ân ban của Ngài là sự sống vĩnh cửu, vượt trên không gian và thời gian, là hai phạm trù của các kỹ thuật hiện đại. Hình ảnh vị Mục Tử Nhân Lành: mang trên vai các chiên con và nhẹ nhàng dẫn dắt các chiên mẹ. Những lời của vị tiên tri vẽ nên bức tranh vừa dịu dàng vừa mạnh mẽ, mời gọi phó thác.

Hôm nay tôi tự hỏi: tôi có biết tiếng của vị Mục Tử Nhân Lành đã thí mạng sống vì tôi không? Tôi có đạt đến việc hòa hợp giữa cái mạnh mẽ và dịu dàng trong các mối liên hệ với người khác? Xin Chúa cho tôi được nhận biết Ngài cách sâu xa và theo Ngài bất cứ nới đâu Ngài đi.

Tôi không cần đến những biện pháp cứng rắn để củng cố trật tự. Sự nhân lành mang tính cảnh tỉnh, nhẫn nại và trắc ẫn có hiệu quả vượt bậc và nhanh chóng hơn sự cứng rắn của roi đòn. Về vấn đề này tôi không bao giờ nghi ngờ. Gioan XXIII (Nhật ký tâm hồn).

[Mục Lục]

THỨ TƯ TUẦN 4 PS: Th. Mát-thi-a, tông đồ (lễ kính)

Bài đọc (Cv 1,15-17.20-26)

15 Trong những ngày ấy, ông Phê-rô đứng lên giữa các anh em – có khoảng một trăm hai mươi người đang họp mặt – Ông nói : 16 “Thưa anh em, lời Kinh Thánh phải ứng nghiệm, lời mà Thánh Thần đã dùng miệng vua Đa-vít để nói trước về Giu-đa, kẻ đã trở thành tên dẫn đường cho những người bắt Đức Giê-su. 17 Y đã là một người trong số chúng tôi và được tham dự vào công việc phục vụ của chúng tôi. 20 Thật thế, trong sách Thánh vịnh có chép rằng : Ước gì lều trại nó phải tan hoang, không còn ai trú ngụ, và ước gì người khác nhận lấy chức vụ của nó.

21 “Vậy phải làm thế này : có những anh em đã cùng chúng tôi đi theo Chúa Giê-su suốt thời gian Người sống giữa chúng ta, 22 kể từ khi Người được ông Gio-an làm phép rửa cho đến ngày Người lìa bỏ chúng ta và được rước lên trời. Một trong những anh em đó phải cùng với chúng tôi làm chứng rằng Người đã phục sinh.”

23 Họ đề cử hai người : ông Giô-xếp, biệt danh là Ba-sa-ba, cũng gọi là Giút-tô, và ông Mát-thi-a. 24 Họ cầu nguyện rằng : “Lạy Chúa, chính Chúa thấu suốt lòng mọi người ; giữa hai người này, xin chỉ cho thấy Chúa chọn ai 25 để nhận chỗ trong sứ vụ Tông Đồ, chỗ Giu-đa đã bỏ để đi về nơi dành cho y.” 26 Họ rút thăm, thăm trúng ông Mát-thi-a : ông được kể thêm vào số mười một Tông Đồ.

Tin Mừng (Ga 15,9-17)

9 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. 10 Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người. 11 Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.

12 Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. 13 Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. 14 Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy. 15 Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết.

16 Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại, hầu tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em. 17 Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau.

Thánh Mátthia Tông đồ

Về cuộc đời của thánh Mátthia Tông Đồ, chúng ta chỉ biết qua đoạn Công vụ 1,15-25. Ngài được chọn để thay thế cho Giuđa Ítcariốt, để gia nhập vào Nhóm Mười Hai.

Theo lời của Phêrô, Mátthia thuộc về nhóm người “đã đi cùng chúng tôi, suốt cả thời gian Đức Giêsu đã ra vào giữa chúng tôi, khởi từ lúc Gioan thanh tẩy, cho đến ngày Đức Giêsu được cất khỏi chúng tôi’’ (Cv 1,21-22)

Thánh Mátthia là một trong số bảy mươi hai môn đệ của Đức Chúa Giêsu. Ngài là môn đệ của Đức Chúa Giêsu trong suốt quãng đời sống công khai của Người. Thánh Phêrô đã xin 120 người họp lại để cầu nguyện và chọn một tông đồ thay thế Giuđa. Việc này rất quan trọng vì người ấy sẽ làm giám mục như các tông đồ khác. Thánh nhân nói rằng nên chọn một người đã từng ở với Đức Chúa Giêsu từ lúc Chúa chịu thanh tẩy nơi sông Giođan cho tới khi Chúa về trời.

Chương thứ nhất của sách Tông đồ Công vụ thuật rằng nhóm họ đã đề cử hai người. Một người là Mátthia và người kia là Giuse, gọi là Basaba. Người ta cũng gọi Giuse là Justô. Cả Giuse và Mátthia đều là những người rất được các môn đệ của Đức Chúa Giêsu ưu ái. Vì thế họ là hai người được đề cử thay thế cho Giuđa. Nhưng các tông đồ chỉ chọn có một người! Vậy các ngài đã làm gì? Đơn giản thôi, các ngài đã rút thăm và tên Mátthia được chọn.

Thánh Mátthia là một tông đồ rất tốt lành. Ngài rao giảng Tin mừng ở miền Giuđêa. Rồi ngài đến Cappađôxia (ngày nay là Thổ Nhĩ Kỳ). Nhiều người đã nghe thánh Mátthia thuyết giảng. Họ tin vào sứ điệp kỳ diệu của ngài. Các kẻ thù của Đức Chúa Giêsu rất căm giận khi thấy người ta lắng nghe Mátthia. Họ quyết định ngăn cản ngài. Sau cùng, Mátthia đã chết như một vị thánh tử đạo.

Cũng theo truyền thuyết, thánh Mátthia hoạt động ở Êtiôpi và chịu tử đạo tại đó. Theo lệnh của hoàng hậu Hêlêna, di hài của thánh nhân được mang về Tria ; tại đây được tôn kính trong đan viện thánh Mátthia. Đây là nơi hành hương nổi tiếng thời Trung Cổ.

Thánh Mátthia nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta có phúc may vì được làm môn đệ của Đức Chúa Giêsu và là một chi thể trong Giáo hội của Người. Chúng ta hãy nài xin thánh Mátthia giúp chúng ta năng sống biết ơn đối với điều chúng ta được nhận lãnh.

Suy niệm 1: CHÚA CHỌN NGƯỜI CHÚA MUỐN

“Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em, để anh em ra đi, sinh được hoa trái…” (Ga 15,16).

Suy niệm: Thánh Mát-thi-a được chọn làm tông đồ muộn màng sau khi Đức Giê-su về trời, mà lại được chọn bằng cách rút thăm, nhưng dù vậy trong lời nguyện của “nghi lễ truyền chức” đó, cộng đoàn đã nài xin Thiên Chúa tuyển chọn người mà Ngài muốn: “Lạy Chúa, chính Chúa thấu suốt lòng mọi người; giữa hai người này, xin chỉ cho thấy Chúa chọn ai để nhận chỗ trong sứ vụ Tông Đồ” (Cv 1,24-25). Quả vậy, không ai tự chọn cho mình làm tông đồ nếu như Chúa đã không chọn họ trước. Chúa chọn họ một cách hoàn toàn tự do và theo ý Ngài muốn (Mc 3,13). Điều Chúa mong muốn là những người Chúa chọn được sai đi và mang lại nhiều hoa trái và hoa trái đó tồn tại vững bền.

Mời Bạn: Ơn gọi của mỗi người, dù thuộc bậc giám mục, linh mục, tu sĩ hay giáo dân đều là ơn ban từ Đấng Khôn Ngoan và Quan Phòng. Chúa không gọi chúng ta vào một bậc sống nào đó để chúng ta sống một cách tầm thường vô nghĩa. Nếu chúng ta hài lòng đón nhận và nhiệt tâm phát triển ơn gọi mình, thì chúng ta đang làm cho ơn gọi của mình sinh hoa kết quả cho Chúa.

Chia sẻ: Bạn cảm nhận hạnh phúc thế nào về ơn gọi của bạn? Mời bạn chia sẻ.

Sống Lời Chúa: Ôn lại quá trình ơn gọi của mình và dâng lời tạ ơn Chúa.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su, xưa Chúa đã chọn gọi các tông đồ và sai các ngài đi. Nay Chúa cũng chọn gọi chúng con và sai chúng con đi tiếp nối sứ mạng tông đồ. Xin ban cho chúng con niềm xác tín và lòng nhiệt thành để việc tông đồ chúng con sinh hoa kết quả cho Nước Chúa.

Suy niệm 2: Tình yêu xóa bỏ khoảng cách

Khi đọc đoạn tin mừng này tôi nhận ra rằng sức mạnh của tình yêu đã xóa bỏ những rào cản, những khoảng cách giữa Thiên Chúa với con người và giữa con người với nhau:

– Tình yêu đã làm cho Thiên Chúa ở lại với con người để trao ban tình thương và hạnh phúc cho con người. Tình yêu đã làm cho con người ở lại trong tình yêu của Thiên Chúa để sống trong hạnh phúc của Thiên Chúa.

– Nhờ tình yêu mà con người được trở nên bạn hữu với Thiên Chúa, trở nên gần gũi với Thiên Chúa và được hưởng sự sống thần linh với Thiên Chúa.

– Vì tình yêu mà Thiên Chúa sẵn sàng chết cho con người để cho con người được sống trong ơn nghĩa với Chúa.

Từng ngày từng giờ và trong mọi nơi mọi lúc, Thiên Chúa mời gọi tôi đáp lại tình yêu của Ngài dành cho tôi. Ngài muốn tôi xóa bỏ những khoảng cách để sống yêu Ngài và yêu thương tha nhân.

Lời Chúa hôm nay cũng là lời nhắc nhở tôi xóa bỏ những khoảng cách với tha nhân, xóa bỏ con người nhỏ nhen ích kỉ của tôi, xóa bỏ đi trái tim chai đá của tôi, xóa bỏ đi những hận thù chia rẽ…để tôi sống yêu thương tha nhân như Chúa đã yêu tôi.

Xin cho con một trái tim yêu thương để mỗi ngày con sống yêu thương như Chúa mời gọi, và xin cho con biết diễn tả tình thương của Chúa cho tha nhân trong đời sống thường ngày. Amen.

Suy niệm 3: Ánh sáng thế gian

Đoạn tin mừng hôm nay trình bày phần cuối của sách tin mừng Gioan, là một bảng tổng kết. Nhiều người tin vào Đức Giêsu và can đảm tuyên xưng Ngài cách công khai. Các môn đệ khác tin nhưng lại không có can đảm tuyên xưng đức tin. Họ sợ bị trục xuất ra khỏi hội đường. Và nhiều người không tin: ‘Ngài đã làm ngần ấy dấu lạ trước mặt họ, thế mà họ vẫn không tin Ngài; như vậy là ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia: Lạy Đức Chúa, ai đã tin lời chúng con rao giảng? Và quyền lực của Đức Chúa tỏ cho ai’? (x.Ga 12,37-38 ). Sau nhận xét này, thánh Gioan lặ̣p lại vài đề tài chính trong Tin mừng của Ngài:

Ga 12,44-45: Tin vào Đức Giêsu là tin vào Đấng đã sai Ngài. Là câu tóm cả Tin mừng thánh Gioan. Chủ đề xuất hiện nhiều lần với nhiều hình thức khác nhau. Đức Giêsu liên kết với Chúa Cha, Ngài không nói nhân danh Ngài mà nhân danh Cha. Ai thấy Đức Giêsu là thấy Cha. Nếu muốn nhận biết Thiên Chúa, hãy nhìn Đức Giêsu. Thiên Chúa chính là Đức Giêsu.

Ga 12,46: Đức Giêsu là ánh sáng đến trong thế gian. Ở đây thánh Gioan lặp lại điều mà Ngài đã nói trong phần mở đầu: Ngôi Lời là ánh sáng thật chiếu soi mọi người. Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, nhưng bóng tối không nhận lấy ánh sáng. (x.Ga 1,5.9). Ngài lặp lại: ‘Ta là ánh sáng đến thế gian, để bất cứ ai tin vào Ta, thì không ở lại trong bóng tối’. Đức Giêsu là câu trả lời sống động cho những vấn nạn lớn khởi hứng và thúc đẩy việc tìm kiếm của con người. Là ánh sáng chiếu rõ hướng đi. Giúp khám phá ra bề mặt sáng chói của bóng tối đức tin.

Ga 12,47-48: Ta không đến để xét xử thế gian. Việc xét xử sẽ ra sao? Trong hai câu, thánh sử làm rõ chủ đề của việc xét xử. Không xét xử theo sự đe dọa kèm theo những lời chúc dữ. Đức Giêsu nói: ‘Ai nghe những lời Ta nói mà không tuân giữ, thì không phải chính Ta xét xử người ấy; vì Ta đến không phải để xét xử thế gian, nhưng để cứu thế gian. Ai từ chối Ta và không đón nhận lời Ta, thì có quan tòa xét xử người ấy: chính lời Ta nói sẽ xét xử người ấy trong ngày sau hết’. Sự xét xử hệ tại người ấy đối diện với lương tâm mình.

Ga 12,49-50: Cha truyền lệnh cho Ta phải nói điều gì. Những lời cuối cùng của Sách các dấu lạ (Tin mừng Gioan) là bảng tóm những gì Đức Giêsu đã nói và làm. Ngài quả quyết lần nữa những điều Ngài đã xác quyết ngay từ đầu: ‘Ta không nói về Ta. Cha là Đấng sai Ta, Ngài truyền lệnh cho Ta phải nói gì. Và Ta biết rằng lệnh truyền của Ngài thì vĩnh cửu. Những gì ta nói với các ngươi, thì Ta nói như Cha đã nói với Ta’. Đức Giêsu là phản ánh của Chúa Cha. Vì vậy, ngài không cần đưa ra bằng cứ và lý chứng cho những người khiêu khích Ngài. Chính Chúa Cha biện minh cho Ngài qua những công việc Ngài làm. Khi nói công việc, không có ý nói đến những phép lạ cả thể, mà tất cả những gì Ngài nói và làm, cả những điều tiểu tiết. Đức Giêsu là dấu chỉ của Chúa Cha. Ủy nhiệm thư của một vị đại sứ không do ông viết mà do chính người mà ông đại diện viết. Từ Chúa Cha.

Biết bao lần chúng ta như mù trước ánh sáng của Chúa, trước mặt trời chân lý. Nhưng để có thể đi vào trong luồng sáng của Chúa, cần phải mở cửa lòng ra. Một kinh nghiệm thời thơ ấu: Đi xe đạp vào buổi tối. Mỗi chiếc xe đạp có gắn một chiếc đèn nối liền với chiếc môtơ phát điện nhỏ áp sát vào vòng bánh xe. Nếu ta ngưng đạp, thì sẽ không có ánh sáng. Mỗi ngày, việc cầu nguyện, nghiên cứu Thánh Kinh, chay tịnh và phục vụ, sống Tin Mừng và tuân thủ các giới răn làm phát ra ánh sáng để chúng ta tiến bước chắc chắn đúng hướng.

Đêm sắp tàn và ngày đang đến. Hãy loại bỏ những công việc của bóng tối và mang lấy những khí giới của ánh sáng.

Suy niệm 4: Lễ Kính Thánh Matthia

Lạy Chúa, chính Chúa thấu suốt lòng mọi người; giữa hai người này, xin chỉ cho thấy Chúa chọn ai (Cv 1,24)

Hôm nay chúng ta dừng phụng vụ mùa Phục sinh để mừng kính thánh Matthia, nhưng diễn tiến của phụng vụ không bị gián đoạn: bởi lẽ dù sách Công vụ hay sách tin mừng Gioan, tất cả đều đặt chúng ta trong bầu khí phục sinh và chuẩn bị cho lễ Hiện Xuống. Chắc chắn là việc Đức Giêsu sống lại đã làm cho các tông đồ nhớ lại cách rõ rệt tất cả những gì mà họ đã nghe Ngài nói…Ngài đã tuyên bố cho họ biết rằng ‘tất cả những gì Thầy đã nghe nơi Cha Thầy thì Thầy đã cho chúng con biết’, điều này bảo đảm rằng Ngài đã chọn họ, và giờ đây chính Ngài cũng hướng dẫn sự chọn lựa của họ. Cần phải thay thế chỗ của Giuđa vì muốn giữ lại con số 12 vị mà Đức Giêsu đã tuyển chọn giữa nhiều người làm nền móng Giáo Hội. Họ đưa ra những tiêu chuẩn: phải là người cùng đi theo Chúa Giêsu từ khi Ngài chịu phép rửa, một chứng nhân về suốt cuộc đời của Đức Kitô… có lẽ là một trong số 72 môn đệ đã được Đức Giêsu sai đi làm phép lạ và loan báo nhân danh Ngài và rồi trở về hân hoan vì thấy các quỷ dữ cũng bị trừ khử, rồi được nghe những lời của Thầy: ‘Hãy vui mừng vì tên các con được ghi trên trời’.

Việc tuyển chọn giữa hai người: Thánh Thần đang ban sức mạnh và ánh sáng cho các tông đồ dũng cảm đã phó thác việc tuyển chọn cuối cùng cho Ngài: ‘Họ đề cử hai người… và họ rút thăm, thăm trúng ông Matthia’.

Ngày nay, lạy Chúa, xin giúp con khả năng chọn lựa, phân định và quyết định. Xin giúp con thẩm định biết bao công việc được trao phó, không đẩy hết mọi trách nhiệm cho Chúa, nhưng đúng hơn, xin Chúa giúp chúng con biết chọn lọc điều thiện, bằng cách gởi đến cho chúng con những dấu chỉ mới để tìm ra sự thật và thánh ý Chúa, được ghi dấu trong dòng lịch sử và trong cuộc sống đời thường.

Cuộc sống là một lựa chọn dũng cảm! Thật đúng như vậy! Một chọn lựa dũng cảm được đổi mới từng giây phút.

[Mục Lục]

THỨ NĂM TUẦN 4 PS

Bài đọc (Cv 13,13-25)

13 Bấy giờ, từ Pa-phô, ông Phao-lô và các bạn đồng hành vượt biển đến Péc-ghê miền Pam-phy-li-a. Nhưng ông Gio-an bỏ các ông mà về Giê-ru-sa-lem. 14 Còn hai ông thì rời Péc-ghê tiếp tục đi An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a. Ngày sa-bát, hai ông vào hội đường ngồi tham dự. 15 Sau phần đọc sách Luật và sách Các Ngôn Sứ, các trưởng hội đường cho người đến nói với hai ông : “Thưa anh em, nếu anh em muốn khuyên nhủ dân điều gì, xin cứ nói.”

16 Ông Phao-lô đứng dậy, giơ tay xin mọi người lưu ý, rồi nói :

“Thưa đồng bào Ít-ra-en và những người kính sợ Thiên Chúa, xin nghe đây : 17 Thiên Chúa của dân Ít-ra-en đã chọn cha ông chúng ta, đã làm cho dân này thành một dân lớn trong thời họ cư ngụ ở đất Ai-cập, và đã giơ cánh tay mạnh mẽ của Người mà đem họ ra khỏi đó. 18 Và trong thời gian chừng bốn mươi năm, Người đã nuôi dưỡng họ trong sa mạc. 19 Rồi Người đã tiêu diệt bảy dân tộc ở đất Ca-na-an và ban đất của chúng cho họ làm gia sản : 20 tất cả đã xảy ra trong khoảng bốn trăm năm mươi năm. Sau đó, Người ban cho họ các vị thủ lãnh cho đến thời ngôn sứ Sa-mu-en. 21 Rồi họ đòi có vua, Thiên Chúa ban cho họ ông Sa-un, con ông Kít thuộc chi tộc Ben-gia-min, trị vì bốn mươi năm. 22 Sau khi truất phế vua Sa-un, Người đã cho ông Đa-vít xuất hiện làm vua cai trị họ. Người đã làm chứng về ông rằng : Ta đã tìm được Đa-vít, con của Gie-sê, một người đẹp lòng Ta và sẽ thi hành mọi ý muốn của Ta. 23 Từ dòng dõi vua này, theo lời hứa, Thiên Chúa đã đưa đến cho Ít-ra-en một Đấng Cứu Độ là Đức Giê-su. 24 Để dọn đường cho Đức Giê-su, ông Gio-an đã rao giảng kêu gọi toàn dân Ít-ra-en chịu phép rửa tỏ lòng sám hối. 25 Khi sắp hoàn thành sứ mệnh, ông Gio-an đã tuyên bố : ‘Tôi không phải là Đấng mà anh em tưởng đâu, nhưng kìa Đấng ấy đến sau tôi, và tôi không đáng cởi dép cho Người.’

Tin Mừng (Ga 13,16-20)

16 Sau khi rửa chân cho các môn đệ, Đức Giê-su nói : “Thật, Thầy bảo thật anh em : tôi tớ không lớn hơn chủ nhà, kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi. 17 Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em ! 18 Thầy không nói về tất cả anh em đâu. Chính Thầy biết những người Thầy đã chọn, nhưng phải ứng nghiệm lời Kinh Thánh sau đây : Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con. 19 Thầy nói với anh em điều đó ngay từ lúc này, trước khi sự việc xảy ra, để khi sự việc xảy ra, anh em tin là Thầy Hằng Hữu. 20 Thật, Thầy bảo thật anh em : ai đón tiếp người Thầy sai đến là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy.”

Suy niệm 1: THÂN THIẾT THẦY-TRÒ

“Thật Thầy bảo thật anh em: Ai đón tiếp người Thầy sai đến là đón tiếp Thầy. Và ai đón tiếp Thầy, là đón tiếp Đấng đã sai Thầy.” (Ga 13,20)

Suy niệm: Trong bầu khí yêu thương thân tình giữa Thầy và trò sau khi Chúa Giê-su rửa chân cho các môn đệ, chúng ta cảm nhận được sự bồi hồi xao xuyến của Ngài trước lúc chia tay. Đây là lúc mà không còn lúc nào khác để Chúa nói với các môn đệ những lời tâm huyết nhất: Ngài cho biết mối tương quan giữa Ngài với các môn đệ trở nên khăng khít vì được liên kết với mối tương quan khăng khít không thể tách rời giữa Ngài với Chúa Cha: Ai đón tiếp các môn đệ là đón tiếp Chúa Giê-su và đón tiếp Ngài như vậy cũng tương đương như là đón tiếp chính Chúa Cha.

Mời Bạn: Hiểu thấu được tâm tình của Đức Giê-su bạn có cảm thấy được đánh động sâu xa cả con người của bạn không? Biết mình trở nên quan trọng với Chúa như thế, được liên kết chặt chẽ với Ngài như thế, bạn quyết tâm là người môn đệ trung thành của Thầy, thực hành tới từng chấm từng phẩy lời Thầy dạy chứ? Bạn được Thầy tuyển chọn và sai đi tiếp tục sứ mạng của Ngài, bạn sẽ sống xứng đáng với sự tin tưởng của Thầy, để mọi người có thể nhận ra Ngài nơi đời sống của bạn chứ?

Chia sẻ: Bạn nhìn lại những biến cố xảy ra trong cuộc đời bạn. Bạn có nhận ra sự chăm sóc ân cần của Chúa dành cho bạn, và sự tín nhiệm của Ngài đối với bạn khi Ngài trao cho bạn sứ mạng làm ngôn sứ, chứng nhân cho Ngài không? Mời bạn chia sẻ cảm nghiệm đó.

Sống Lời Chúa: Để tình thân thiết Thầy-trò giữa Chúa và bạn ngày càng sâu đậm bạn đừng quên dành thời giờ tâm sự với Chúa mỗi ngày.

Cầu nguyện:Hát Kinh Hòa Bình.

Suy niệm 2: Con đường Chúa đã đi qua

Chúa Giêsu đã đến trần gian và ngài đã thực hiện sứ mạng của Ngài theo thánh ý của Thiên Chúa Cha. Cho dù gặp nhiều thử thách và đau khổ về thể xác và tinh thần, và dù có phải chấp nhận cái chết đau thương nhục nhã, Chúa Giêsu cũng đã chu toàn sứ mạng của mình. Chúa Giêsu luôn sống theo ý Cha và chu toàn sứ mạng Cha trao phó.

Cho đến ngày hôm nay, Chúa vẫn mời gọi tôi theo Chúa và cộng tác với Chúa trong công trình cứu độ của Ngài. Chúa cũng trao cho tôi một sứ mạng trong ơn gọi và bổn phận của tôi. Sứ mạng đó chắc chắn cũng có nhiều vất vả thử thách. Sứ mạng đó cũng đòi hỏi tôi sống hy sinh dấn thân phục vụ Chúa và tha nhân.

Xin cho con bước theo Chúa Giêsu sống hiến thân phục vụ. Xin cho con dám từ bỏ ý riêng để chu toàn bổn phận theo ý Chúa và sống xứng đáng là môn đệ của chúa Giêsu. Amen.

Suy niệm 3: Sẽ rửa chân cho ai?

Trong vòng ba tuần, tin mừng ngày thường sẽ trích từ những chương (13-17) tin mừng của Thánh Gioan: cuộc đối thoại dài của Đức Giêsu với các môn đệ trong bữa ăn tối cuối cùng. Là cuộc đối thoại thân tình khắc ghi trong tâm trí người môn đệ Chúa yêu. Đức Giêsu hình như muốn kéo dài tối đa cuộc gặp gỡ sau cùng này, những giây phút hết mực thân tình. Ngày nay cũng có nhiều cuộc gặp gỡ như vậy. Có cuộc gặp gỡ hời hợt chỉ toàn những lời lẽ môi mép, phản ánh cái trống rỗng của tâm hồn. Có cuộc gặp gỡ đi sâu vào tâm hồn và đọng mãi trong tâm trí. Tất cả chúng ta đều có những giây phút đầy thân tình như thế, những tấm lòng cởi mở cho nhau, giúp nhau sức mạnh vượt qua những khó khăn, giúp nhau tin tưởng và chiến thắng sợ hãi.

Khi nhiều người thánh thiện lên đường vào sa mạc để sống như những ẩn sĩ, Thánh Grêgôriô thấy thất vọng nên cất tiếng hỏi: ‘Nếu các bạn đi vào sa mạc tất cả, các bạn sẽ rửa chân cho ai’? Một câu hỏi xác đáng, gợi lên cử chỉ của Đức Kitô như in vào lòng mỗi kitô hữu. Nhắc lại bữa tối cuối cùng Chúa Giêsu tự hạ mình làm người tôi tớ và dạy cho mọi người noi theo, không chỉ là một cử chỉ chóng qua, nhưng như là một lời đáp trả cho những tìm kiếm hạnh phúc của con người qua mọi thời.

Biết những điều ấy và đem ra thực hành, thì sẽ có hạnh phúc. Rửa chân cho những người nghèo là một hình ảnh mang tính kitô, đi ngược lại mọi quy luật thế gian. Khôn ngoan của thế gian lấy bản thân mình làm chính. Uy quyền đi đôi với việc cai trị. Khinh thường những kẻ yếu thế, những kẻ không được bảo vệ, những kẻ bị loại trừ. Hạnh phúc được quan niệm như những kẻ có quyền lực, thế lực và tiền của.

Là một ngẫu tượng hấp dẫn. Có lẽ Giuđa cũng đã bị hấp lực này lôi cuốn khi ông quyết định bán Thầy mình, từ chối cách thức mà Đức Giêsu đề nghị để đạt được hạnh phúc. Đó là tội thô bạo nhất. Nó làm cho các môn đệ khiếp sợ! Do đó Đức Kitô đã báo trước, để giảm thiểu cú sốc và, đồng thời minh chứng Ngài là Đấng được sai đến.

Tôi tớ không lớn hơn chủ. Tôi làm gì để cuộc đời mình là một phục vụ thường hằng cho người khác? Đức Giêsu chung sống với những người không chấp nhận Ngài. Còn tôi thì sao?

[Mục Lục]

THỨ SÁU TUẦN 4 PS

Bài đọc (Cv 13,26-33)

26 Khi đến An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a, ông Phao-lô đứng giữa hội đường và nói : “Thưa đồng bào Ít-ra-en, và thưa anh em đang hiện diện nơi đây, là những người kính sợ Thiên Chúa, lời cứu độ này được gửi tới chúng ta. 27 Dân cư thành Giê-ru-sa-lem và các thủ lãnh của họ đã không nhận biết Đức Giê-su ; khi kết án Người, họ đã làm cho ứng nghiệm những lời ngôn sứ đọc mỗi ngày sa-bát. 28 Tuy không thấy Người có tội gì đáng chết, họ vẫn đòi Phi-la-tô xử tử. 29 Sau khi thực hiện tất cả mọi điều Kinh Thánh chép về Người, họ đã hạ Người từ trên cây gỗ xuống và mai táng trong mồ. 30 Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết. 31 Trong nhiều ngày, Đức Giê-su đã hiện ra với những kẻ từng theo Người từ Ga-li-lê lên Giê-ru-sa-lem. Giờ đây chính họ làm chứng cho Người trước mặt dân.

32 “Còn chúng tôi, chúng tôi xin loan báo cho anh em Tin Mừng này : điều Thiên Chúa hứa với cha ông chúng ta, 33 thì Người đã thực hiện cho chúng ta là con cháu các ngài, khi làm cho Đức Giê-su sống lại, đúng như lời đã chép trong Thánh vịnh 2 : Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con.

Tin Mừng (Ga 14,1-6)

1 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Anh em đừng xao xuyến ! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. 2 Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở ; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. 3 Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. 4 Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi.”

5 Ông Tô-ma nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường ?” 6 Đức Giê-su đáp : “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.”

Suy niệm 1: CON ĐƯỜNG GIÊ-SU

“Thầy đi đâu thì anh em biết đường rồi.” Ông Tô-ma nói với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao biết được đường?” Đức Giê-su đáp: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống.” (Ga 14,4-6)

Suy niệm: Chúa Giê-su nói: “Thầy là con đường.” Nhưng “con đường Giê-su” ở đây không phải là con đường được vẽ trên bản đồ, nhưng là chính con người Đức Giê-su, để một khi “ở lại trong con người của Ngài,” chúng ta luôn có Ngài đồng hành và được hướng dẫn trên mọi nẻo đường đời. Ngoài Đức Giê-su, không có đường nào khác đưa dẫn con người đến hạnh phúc đích thực. Con đường Giê-su là có hai chiều gặp nhau trong con người của Ngài: một chiều Thiên Chúa đến gặp chúng ta; một chiều khác con người hướng về và gặp gỡ Thiên Chúa. Trên con đường Giê-su, mọi biển cấm đều bị Ngài gỡ bỏ, mọi chướng ngại đều bị lấy đi, để trong Ngài, Thiên Chúa đến với con người, ở lại với con người và trong Ngài, con người được hưởng ân huệ của Thiên Chúa và hạnh phúc reo lên “Ab-ba”, “Cha ơi!”, vì được làm con Thiên Chúa. Nói tóm lại, duy chỉ Chúa Giê-su là con đường duy nhất giữa Thiên Chúa và con người.

Mời Bạn: Đi theo Chúa Giê-su, sống với Ngài và sống theo Lời Ngài, bạn nắm chắc hạnh phúc và lời hứa Nước Trời. Chúa Giê-su phục sinh gỡ bỏ mọi tảng đá chướng ngại trên con đường mang tên Giê-su, để bạn dễ dàng sống tình thân với Thiên Chúa. Bạn bắt đầu đi vào con đường Giê-su đi nhé!

Sống Lời Chúa: Mỗi ngày, bạn chọn một câu Lời Chúa để đem ra thực hành trong cuộc sống của bạn.

Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin cho con mạnh dạn sống Lời Chúa và luôn tìm hạnh phúc trong việc thi hành ý Chúa.

Suy niệm 2: Sống trong niềm vui

Trong cuộc sống thường ngày có nhiều điều làm cho tôi lo âu và sợ hãi. Đọc đoạn tin mừng này, tôi cảm thấy tôi được sống trong bình an, trong niềm vui, trong sự thật và đón nhận được nguồn sống. Tin vào chúa Giêsu giúp tôi vượt qua mọi bối rối, lo âu và sợ hãi. Thật vậy, Đức Giêsu chính là con đường dẫn tôi đến nguồn sống, nguồn hạnh phúc và bình an.

Trong cuộc sống thường ngày, tôi cũng gặp rất nhiều người đang sống trong lo âu sợ hãi. Đọc đoạn tin mừng này, tôi ước mong mình trở nên một “con đường nhỏ” để đưa những ai đang sống trong lo âu sợ hãi đến với Chúa Giêsu là “con đường lớn” dẫn đưa họ đến nguồn hạnh phúc và bình an.

Xin cho con đến với Chúa Giêsu và đi trên con đường Chúa Giêsu trong niềm tin để con sống trong bình an của Chúa. Xin cho con trở nên là nhân chứng đức tin giữa cuộc đời, để lời nói việc làm và đời sống của con cũng đem lại niềm vui và bình an cho tha nhân. Nhất là đưa họ đến với Chúa là nguồn vui bình an và nguồn sống đích thực. Amen.

Suy niệm 3: ‘Làm sao biết được đường’

Từ ‘Thiên Chúa’ xem chừng có vẻ lạnh nhạt và gợi lên sự xa cách. Nhưng tên gọi ‘Cha’ lại đầy tình cảm yêu mến tha thiết: là từ ngữ của mạc khải. Ta có thể là những người kính sợ Thiên Chúa vì sự thánh thiện của Ngài là lời khiển trách cho lối sống phàm tục của ta. Nhưng điều ngược lại xảy ra khi ta gọi ‘Cha’. Các dân tộc đều gọi đất nước của họ là ‘patria’ (tổ quốc). Điều đó ngầm hiểu có một sự che chở bảo vệ và từ đó đưa đến tình yêu. Trong nhà Cha, ta cảm thấy như ở nhà mình, ta cảm thấy thoải mái, được bảo vệ. Đó chính là hiệu quả tuyệt vời của tình yêu: biến đổi ngôi nhà thành nhà của riêng mình và một tôi tớ thành người con.

Ông Tôma hỏi: ‘Làm sao chúng con biết đường đi?’ Đức Kitô trả lời: ‘Thầy là đường’. Đức Kitô tự định nghĩa vai trò của mình và dạy chúng ta biết rằng Đức Kitô không đến vì chính mình Ngài mà vì chúng ta. Nhà của Ngài là nhà của chúng ta, Cha của Ngài là Cha của chúng ta. Còn gì đơn giản và hết sức dễ thương (trẻ con) nét giáo lý kitô giáo này! CHúng ta không bước đi một mình, chúng ta không bước đi mà không có người hướng dẫn. Đức Kitô có hai tay: tay này để chỉ ta con đường, tay kia để nâng đỡ ta suốt con đường. Ngài chính là tất cả những gì mà một khách hành hường cần đến: Là Đường, Là Sự Thật và là sư Sống.

[Mục Lục]

THỨ BẢY TUẦN 4 PS

Bài đọc (Cv 13,44-52)

44 Vào một ngày sa-bát, gần như cả thành An-ti-ô-khi-a tụ họp nghe lời Thiên Chúa. 45 Thấy những đám đông như vậy, người Do-thái sinh lòng ghen tức, họ phản đối những lời ông Phao-lô nói và nhục mạ ông. 46 Bấy giờ ông Phao-lô và ông Ba-na-ba mạnh dạn lên tiếng : “Anh em phải là những người đầu tiên được nghe công bố lời Thiên Chúa, nhưng vì anh em khước từ lời ấy, và tự coi mình không xứng đáng hưởng sự sống đời đời, thì đây chúng tôi quay về phía dân ngoại. 47 Vì Chúa truyền cho chúng tôi thế này : Ta sẽ đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ đến tận cùng cõi đất.”

48 Nghe thế, dân ngoại vui mừng tôn vinh lời Chúa, và tất cả những người đã được Thiên Chúa định cho hưởng sự sống đời đời, đều tin theo. 49 Lời Chúa lan tràn khắp miền ấy.

50 Nhưng người Do-thái sách động nhóm phụ nữ hượng lưu đã theo đạo Do-thái, và những thân hào trong thành, xúi giục họ ngược đãi ông Phao-lô và ông Ba-na-ba, và trục xuất hai ông ra khỏi lãnh thổ của họ. 51 Hai ông liền giũ bụi chân phản đối họ và đi tới I-cô-ni-ô. 52 Còn các môn đệ được tràn đầy hoan lạc và Thánh Thần.

Tin Mừng (Ga 14,7-14)

7 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người.”

8 Ông Phi-líp-phê nói : “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện.” 9 Đức Giê-su trả lời : “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư ? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói : ‘ Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha ‘ ? 10 Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao ? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. 11 Anh em hãy tin Thầy : Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy ; bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm. 12 Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha. 13 Và bất cứ điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi người Con. 14 Nếu anh em nhân danh Thầy mà xin Thầy điều gì, thì chính Thầy sẽ làm điều đó.

Suy niệm 1: NHÂN DANH ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ

“Nếu anh em nhân danh Thầy mà xin Thầy điều gì, thì chính Thầy sẽ làm điều đó.” (Ga 14,14)

Suy niệm: Điều Chúa dạy trong Tin Mừng hôm nay – “nhân danh Thầy mà xin” – được thánh Phê-rô thực hành đúng từng chữ khi chữa lành người què ăn xin ở Cửa Đẹp Đền thờ: “Vàng bạc thì tôi không có; nhưng cái tôi có, tôi cho anh đây: nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, anh đứng dậy mà đi” (Cv 3,5). Và hiệu quả của lời ấy là tức thì và thật đáng kinh ngạc: anh “đứng phắt dậy,” chẳng những anh đi được mà anh còn có thể “vừa đi vừa nhảy nhót và ca tụng Thiên Chúa” (x. Cv 3,8). Chúa Giê-su dạy khi chúng ta nhân danh Ngài để cầu xin điều gì thì lời cầu xin ấy rất có hiệu lực bởi vì lúc đó không phải chúng ta mà là chính Ngài sẽ thực hiện điều đó.

Mời Bạn: Mỗi khi làm dấu Thánh giá, chúng ta bắt đầu bằng những lời “Nhân danh Chúa Cha…”. Có một thực tế là dù ta làm dấu rất nhiều lần trong ngày, nhưng các công việc ta làm, lắm khi đã không nhân danh Chúa, mà lại nhân danh cái tôi của mình. Còn cầu xin thì chúng ta nghĩ đến những nhu cầu của chúng ta nhiều hơn là xin cho “Danh Cha cả sáng”. Lời Chúa nhắc nhở chúng ta khi cầu xin thì cầu xin “nhân danh Đức Ki-tô” và khi làm việc thì hãy hành động “để danh Chúa được tôn vinh”.

Chia sẻ: Bạn nghĩ gì về lời xác tín của thánh Phê-rô: “Vàng bạc thì tôi không có; nhưng cái tôi có, tôi cho anh đây: nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, anh đứng dậy mà đi” (Cv 3,5)?

Sống Lời Chúa: Mỗi khi làm dấu Thánh Giá, tôi làm một cách nghiêm trang, đầy ý thức và quyết tâm làm việc để tôn vinh danh Chúa.

Cầu nguyện:Đọc kinh Lạy Cha.

Suy niệm 2: Bày tỏ

Nơi Chúa Giêsu, qua lời dạy và việc làm của Chúa Giêsu, tình yêu của Thiên Chúa được bày tỏ một cách hoàn hảo và trọn vẹn. Thiên Chúa được bày tỏ như thế cũng bởi vì Chúa Giêsu kết hiệp mật thiết với Chúa Cha như Ngài nói: “Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy”. Chính sự kết hiệp này làm cho Chúa Giêsu nên một với Chúa Cha. Chính vì sự kết hiệp này lời nói và việc làm của Chúa Giêsu bày tỏ tình yêu và sự hiện diện của Thiên Chúa.

Khi suy nghĩ về sự kết hiệp này, tôi cũng ước mong đời sống của tôi và của người Kitô hữu cũng được kết hiệp với Chúa Giêsu. Sự kết hiệp này chắc chắn sẽ làm cho tôi được sống gắn bó với Chúa, cho tôi được đón nhận sự sống thần linh và sống trong tình yêu của Chúa.

Khi suy nghĩ về sự kết hiệp này, tôi cũng ước mong đời sống của tôi trở nên giống Chúa hơn, những lời nói và việc làm của tôi cũng diễn tả tình yêu và sự hiện diện của Thiên Chúa cho tha nhân.

Xin ban cho con đức tin mạnh mẽ để con nhận ra sự hiện diện của Chúa nơi Đức Giêsu. Xin cho con kết hiệp mật thiết với Chúa để con sống trong tình yêu của Chúa và diễn tả tình yêu của Chúa cho những người chung quanh. Amen.

Suy niệm 3: Xin chỉ cho chúng con thấy Cha

‘Sự Thật’ là một từ chìa khóa. Đối với người đời từ ngữ ‘sự thật’ gợi lên một công thức, một lý thuyết, một cái gì thuộc tinh thần, là cái mà người ta thủ đắc được. Đức Kitô lật đổ quan niệm này, vì nó hoàn toàn hời hợt bên ngoài. Ngài không tuyên bố: ‘Ta có’ nhưng nói ‘Ta là’: ‘Ta là Sự Thật’.

Sự Thật là một con người chứ không phải là một mệnh đề. Mọi người đều đi tìm sự thật, nhưng không đúng chỗ, họ bằng lòng với những chủ thuyết hoặc ý thức hệ. Tất cả những chủ thuyết ấy, như cơn mưa rào mùa hạ, sẽ chóng lỗi thời.

Tìm Sự Thật, chúng ta đi tìm con người đích thực, tìm Chúa Cha và Đức Kitô là mạc khải của Chúa Cha. Nơi đây không đề cập đến Sự Thật của Chúa Cha mà Chúa Con học biết để rồi truyền đạt lại cho con người. Chính Đức Kitô là Sự Thật.

Điều này vượt quá trí hiểu của các tông đồ. Philipphê diễn tả ưu tư của các ông: ‘Lạy Thầy, xin chỉ cho chúng con thấy Cha và như thế là đủ cho chúng con rồi’. Các tông đồ không hiểu được căn tính của Chúa Cha và Chúa Con. Họ chỉ biết rằng họ sắp lìa xa Đức Kitô và nghĩ rằng đến nhà Cha thì sẽ được ở cùng với Đức Giêsu và lưu lại với Ngài mãi mãi.

Đức Giêsu tuyên bố Ngài là con đường duy nhất dẫn đến Thiên Chúa, Cha Ngài và ai biết Ngài thì biết Cha. Động từ biết trong ngôn ngữ do thái muốn diễn tả điều gì hơn một liên hệ tri thức với người được nhận biết, vì từ ngữ này thường được dùng để diễn tả kinh nghiệm trong quan hệ vợ chồng.

‘Tôi sống, không còn là tôi sống, nhưng Đức Kitô sống trong tôi’. Điều Đức Kitô xác quyết cũng được áp dụng cho các kitô hữu. Với niềm tin vào Đức Kitô, người tín hữu sẽ sống mật thiết với Thiên Chúa và cũng như Đức Kitô, chúng ta có bổn phận làm sao cho người khác, khi nhìn chúng ta, nhận biết Chúa Cha. Để những việc chúng ta làm tôn vinh Chúa Cha trên trời.

Câu hỏi của Philipphê cũng là câu hỏi của mỗi người chúng ta và mỗi người tự cố gắng trả lời bằng chính cuộc sống của mình: sao các bạn hỏi ‘Xin chỉ cho chúng tôi thấy Cha. Các bạn không thấy rằng Chúa Cha tỏ hiện trong các công việc của chúng tôi sao’? Đó là bổn phận làm chứng tá của mỗi kitô hữu.

[Mục Lục]

(gpcantho.com và giaophannhatrang.org)

Share This Post