Suy niệm Lời Chúa Tam Nhật Thánh

SUY NIỆM LỜI CHÚA TAM NHẬT THÁNH

MỤC LỤC

THỨ NĂM TUẦN THÁNH
1. Tưởng niệm (Lm Giuse Trần Việt Hùng)

2. “Giải nghĩa yêu” (Lm Inhaxiô Trần Ngà)

3. Rửa chân (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)
4. Xin rửa sạch những bất trung, phản bội (Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)

5. Yêu cho đến cùng (Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT)
6. Hãy canh thức với Thầy (Giuse Vũ An Tôn op)
7. Ngải đã yêu thương họ… (Giuse Đỗ Huy Hoàng op)
8. Thứ Năm Tuần Thánh (Hương Vĩnh)

THỨ SÁU TUẦN THÁNH
1. Thương khó (Lm Giuse Trần Việt Hùng)
2. Cần gì Chúa phải chết thay (Linh Mục Inhaxiô Trần Ngà)

3. Những đau khổ triền miên của Chúa Giêsu (Linh mục Giuse Đinh Quang Thịnh)

4. Vinh quang Thập Giá (Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT)

5. Tôn kính Thánh Giá (Lm Carôlô Hồ Bạc Xái)
6. Vì yêu, Người đã chết cho chúng ta được sống (Dom. Lê Đức Thiện op)
7. Con đường thập giá (Văn Phi, OP)

THỨ BẢY TUẦN THÁNH
1. Ngày Thánh (Lm Giuse Trần Việt Hùng)
2. Bài giảng đêm Phục Sinh (Gm. Bùi Văn Đọc)
3. Ba bài suy niệm về Ngày Thứ Bảy Tuần Thánh của ĐTC. Benedict XVI

tamnhatvuotqua

THỨ NĂM TUẦN THÁNH
(Xh 12, 1-8.11-14; 1 Cor 11, 23-26; Ga 13, 1-15)

Bài 1. TƯỞNG NIỆM
Lm Giuse Trần Việt Hùng

Vì nạn đói, con cháu của tổ phụ Abraham, Isaac và Giacob đã di dân vào Ai-cập khoảng năm 1700 B.C. và cư ngụ tại đó gần 430 năm. Con dân sinh xôi nây nở thêm đông. Thời gian dân Do-thái xuất Ai-cập khoảng năm 1300-1280 B.C., dưới thời vua Ramses II. Đây là một biến cố hết sức quan trọng trong lịch sử ơn cứu độ. Thiên Chúa đã chọn Môisen để cứu dân ra khỏi vòng nô lệ. Sự kiện vượt qua được chuẩn bị thật chi tiết và ý nghĩa: Các ngươi phải ăn thế này: lưng thắt gọn, chân đi dép, tay cầm gậy. Các ngươi phải ăn vội vã: đó là lễ Vượt Qua mừng Thiên Chúa (Xh 12, 11). Dân chúng bắt đầu cuộc lữ hành 40 năm trong sa mạc để chịu sự huấn luyện và thử thách. Hằng năm Giáo Hội nhắc nhở chúng ta về biến cố này và dùng thời gian 40 ngày chay thánh để chuẩn bị bước vào Tam Nhật Thánh.

Trong ngày xuất Ai-cập, mọi người và mọi gia đình phải tuân hành tất cả các lời chỉ dạy của ông Môisen để tránh mọi hiểm họa. Thiên Chúa đã sai các thiên thần giáng họa trên người Ai-cập. Thiên thần sẽ vượt qua tất cả các nhà đã được ghi dấu máu trên cửa. Thiên Chúa đã cứu họ khỏi sự áp bức của người Ai-cập: Còn vết máu trên nhà các ngươi sẽ là dấu hiệu cho biết có các ngươi ở đó. Thấy máu, Ta sẽ vượt qua, và các ngươi sẽ không bị tai ương tiêu diệt khi Ta giáng hoạ trên đất Ai-cập (Xh 12, 13). Thiên Chúa đã ưu ái đùm bọc và bảo vệ dân riêng của Người. Nói lên tình yêu thương vô bờ của một Thiên Chúa nhân từ và công bằng vô cùng. Chúa cho mưa trên cả người lành kẻ dữ nhưng Thiên Chúa lại đặc biệt bảo vệ và cưu mang dân Do-thái. Từng bước Thiên Chúa mạc khải cho dân chúng biết về một Thiên Chúa độc nhất vô hình, nhưng có ngôi vị biết yêu thương và thưởng phạt công minh.

Lễ Vượt Qua đã trở thành ngày lễ tưởng niệm biến cố mà Thiên Chúa đã ra tay oai hùng cứu dân. Lễ này được truyền tụng từ đời này sang đời khác qua các thế hệ: Các ngươi phải lấy ngày đó làm ngày tưởng niệm, ngày đại lễ mừng Thiên Chúa. Qua mọi thế hệ, các ngươi phải mừng ngày lễ này: đó là luật quy định cho đến muôn đời (Xh 12, 14). Xưa, mỗi năm Chúa Giêsu cùng với cha mẹ về Giêrusalem để mừng lễ Vượt Qua. Tới ngày nay, các tín hữu Đạo Do-thái vẫn tiếp tục giữ các tập tục cha ông một cách rất nghiêm nhặt. Vào dịp lễ Vượt Qua hằng năm, họ cử hành đọc Lời Chúa, ca hát Thánh Vịnh và chia sẻ bữa ăn tưởng niệm với bánh không men, thịt chiên nướng và rau đắng. Thiên Chúa với bàn tay uy dũng giúp dân riêng chiến thắng người Ai-cập. Chiến mã với kỵ binh, Ngài quăng chìm đáy biển. Một cuộc chiến, một biến cố và một lễ vượt qua là hình bóng chiến đấu giữa sự chết và sự sống. Dẫn đến cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô, Đấng Cứu Thế, đã chết đi để dẫn mọi người vào sự sống mới.

Vào dịp lễ Vượt Qua của người Do-thái, Chúa Giêsu đã cùng với các môn đệ cử hành các nghi thức ngày lễ tưởng niệm. Ngày này Chúa Giêsu đã loan báo rằng Ngài sẽ không bao giờ tham dự lễ Vượt Qua cho tới khi lễ này được thực hiện trong Nước Chúa. Như thế trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã tiên báo về một lễ Vượt Qua mới. Chúa đã dùng bánh để hóa nên Thân Mình Chúa: Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy.”(1 Cor 11, 24). Chúa Giêsu dùng từ, đây là Mình Thầy, mang một ý nghĩa thần học trọn vẹn. Chúa sẽ hiện diện thực sự trong tấm bánh nhỏ để nuôi hồn thiêng. Dâng lời tạ ơn, bánh được bẻ ra, bánh hiến tế, bánh làm của ăn và bánh là Mình Thầy. Chúa nuôi dưỡng chúng ta bằng chính Thịt Máu của Chúa.

Không chỉ Mình Chúa nhưng còn chén Máu Thầy. Máu của giao ước, máu của hy sinh đền tội và máu để nuôi sống. Chúa dùng chính thịt máu Chúa để nuôi dưỡng chúng ta: Cũng thế, cuối bữa ăn, Người nâng chén và nói: “Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy.”(1 Cor 11, 25). Chúa căn dặn các tông đồ là hãy làm việc này để tưởng nhớ đến Thầy. Nghi thức bẻ bánh sớm được các tông đồ ghi nhớ và thực hiện. Sau khi sống lại từ cõi chết, khi Chúa hiện ra với hai môn đệ đi về làng Emmaus, Chúa đã cầm bánh tạ ơn và bẻ ra phân phát cho các ông. Các ông đã nhận ra Chúa qua nghi thức bẻ bánh này. Ngay từ thời Giáo Hội sơ khai, các cộng đoàn tín hữu đã tụ họp thực hành nghi thức bẻ bánh và hát ca Thánh Vịnh.

Các Kitô hữu tiên khởi không còn cử hành Lễ Vượt Qua ở đền thờ Giêrusalem như trước, nhưng họ tưởng niệm lễ Vượt Qua mới. Lễ Vượt Qua của Chúa Giêsu đã vượt qua sự chết tới sự sống vĩnh cửu: Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết (1Cor 11, 26). Khi cử hành Bí tích Thánh Thể là chúng ta loan truyền sự chết và sống lại của Chúa Kitô cho đến khi Chúa lại đến. Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã lập Bí tích Thánh Thể và trao quyền cho các tông đồ tiếp tục cử hành để tưởng nhớ đến sự chết và sống lại của Chúa. Với thời gian, Giáo Hội đã trải qua nhiều giai đọan hình thành việc cử hành thánh lễ này. Như xưa, ông Môisen đã chọn riêng dòng dõi Aaron được thánh hiến để phục vụ bàn thờ. Chức vụ linh mục tư tế được thành lập để đại diện đoàn dân dâng tiến thánh lễ lên Thiên Chúa.

Trong thơ gởi cho tín hữu thành Galata, thánh Phaolô tông đồ được chính Chúa Kitô phục sinh chọn và gọi thi hành sứ mệnh. Ngài đã nhận lãnh tin mừng trực tiếp từ Chúa Kitô. Phaolô đã chỉ dậy tín hữu về căn cơ thần tính của Chúa Giêsu: Anh em gọi Thầy là “Thầy”, là “Chúa”, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa (Ga 13, 14). Không phải người đời phong danh ban tước cho Chúa, mà Chúa mạc khải về chính mình. Chúa Kitô đã phá tan gông kiềng sự chết và tội lỗi. Sự chết không còn làm chủ được Ngài nữa. Ngài vượt lên trên tất cả mọi phẩm trật và danh Ngài là Thánh. Chúng ta tuyên xưng Chúa là Chúa và là Đấng Cứu Độ trần gian. Khi nghe Danh của Chúa, mọi đầu gối sẽ bái qùy thờ lạy.

Trước khi cử hành bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã để lại một bài học rất mực khiêm tốn. Chúa khuyên dạy các tông đồ hãy yêu thương phục vụ lẫn nhau và bằng hành động cụ thể, Chúa đã qùy gối xuống rửa chân cho các môn đệ: Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau (Ga 13, 15). Các tông đồ bối rối như một bước hẫng. Vì theo tập tục của người Do-thái, khi khách đến nhà, chỉ có các đầy tớ mới rửa chân cho khách. Nếu nhà không có đầy tớ, thì trẻ em hay người vợ trong gia đình sẽ rửa chân cho khách. Ở đây, chính Chúa là Thầy và là Chúa lại cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Chúa đã rửa những bàn chân dơ dáy dính đày bụi trần và hôi hám. Một cử chỉ có một không hai, ngoài sự tưởng tượng của mọi người. Chúa đã yêu thương và tôn trọng các tông đồ toàn diện, cả thể xác lẫn tinh thần. Chúa rửa sạch thân xác qua việc rửa chân và Chúa nuôi dưỡng hồn bằng của ăn là Mình và Máu Thánh Chúa.

Lạy Chúa, Chúa trao ban tất cả. Chúa chọn con đường từ thấp đi lên để cứu độ chúng con. Chúa muốn ôm ấp mọi người và không loại trừ một ai. Chúa hiện diện giữa chúng con nơi những kẻ nghèo đói, bệnh hoạn và khổ sở lầm than. Chúa không chỉ nói xuông, nhưng bằng trái tim yêu thương và hành động phục vụ đích thực. Xin cho chúng con biết xả thân phục vụ và yêu thương anh chị em như Chúa đã yêu thương và hiến thân mình vì chúng con.

[Mục Lục]

Bài 2. “GIẢI NGHĨA YÊU”
Lm Inhaxiô Trần Ngà

Để nghe tơ liễu run trong gió
|và để xem Trời giải nghĩa yêu”(Hàn Mặc Tử)

Người ta đề cập rất nhiều về tình yêu, nhưng có lẽ không mấy ai hiểu cho đúng tình yêu là gì.

Ngay cả thi sĩ Xuân Diệu, người được xem là thi sĩ của tình yêu, có những cảm nhận rất tinh tế về tình yêu và tâm lý con người, nhưng cũng thú nhận là không thể giải nghĩa được tình yêu. Ông viết:

“Làm sao giải nghĩa được tình yêu
Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu.”

Và khi con người không lý giải được tình yêu thì có lẽ phải viện tới Trời. Vì thế, Hàn Mặc Tử, một nhà thơ tài hoa công giáo, khuyên chúng ta – qua bài “Đà Lạt trăng mờ” – như sau:

“Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều,
để nghe dưới đáy, nước hồ reo
để nghe tơ liễu run trong gió
và để xem Trời giải nghĩa yêu.”

“Và để xem Trời giải nghĩa yêu!” Đúng vậy, Thiên Chúa là Tình Yêu. Tình Yêu là phẩm chất của Thiên Chúa nên chỉ có Thiên Chúa mới biết thế nào là yêu và chỉ có Ngài mới có đủ thẩm quyền để “giải nghĩa yêu”.

Chúa Giê-su “giải nghĩa yêu” khi bày tỏ cho ông Ni-cô-đê-mô biết: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người để tất cả những ai tin vào Con của Người thì không phải hư mất nhưng được sống đời đời” (Ga 3,16).

Chúa Giê-su cũng đã “giải nghĩa yêu” khi Nguời nói: “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình.” (Ga 15, 13)

Thế là ý nghĩa của tình yêu giờ đây đã được sáng tỏ: yêu thương là trao ban, là hy sinh, là cống hiến, là cho đi…

Thiên Chúa Cha yêu thương thế gian nên đã trao ban Người Con Một cho thế gian; Chúa Giê-su đã yêu thương thế gian nên Ngài đã hy sinh tính mạng cho thế gian.

Nhưng Chúa Giê-su không chỉ giải nghĩa yêu bằng những lời hoa mĩ. Người thể hiện lòng yêu thương qua cuộc sống. Tin Mừng hôm nay cho biết rằng: “Người vốn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng.. Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn thắt lưng. Rồi Đức Giê-su đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau.” (Ga 13, 1.4-5).

Thế mới hiểu rằng:

Yêu là hạ mình làm tôi tớ người khác, là “đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau.”

Yêu là bẻ thân mình làm bánh trao ban cho bạn: “Nầy là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con.”

Yêu là rót máu mình như rượu hiến ban cho người khác được sống còn: “Nầy là Máu Thầy sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội.”

Yêu là nộp mình chết thay cho người mình yêu thương được sống: “Thà một người chết thay cho dân còn hơn là để toàn dân phải bị tiêu diệt” (Ga 11, 50).

Lạy Chúa Giê-su,

Thế ra lâu nay chúng con đã ngộ nhận rất nhiều về tình yêu.

Chúng con tưởng rằng yêu là say mê, là khai thác, là chiếm đoạt đối tượng mình yêu mến.

Hôm nay, nhờ bài học yêu thương Chúa dạy, chúng con mới hiểu rằng tình yêu đúng nghĩa là hy sinh, là quên mình để phục vụ, là cống hiến không ngừng cho tha nhân được hạnh phúc; và câu tỏ tình hay nhất, chân thật nhất, ý nghĩa nhất trên cõi đời nầy là câu tỏ tình của Chúa trong bữa tiệc ly:

“Nầy là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con… Nầy là chén Máu Thầy sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội.”

Và hôm nay, khi mời gọi “các con hãy làm việc nầy mà nhớ đến Thầy”, Chúa tha thiết kêu mời chúng con hãy yêu nhau theo cách yêu của Chúa; Chúa muốn chúng con nói lời yêu thương theo cách thức Chúa đã tỏ bày, nghĩa là:

Nầy là thời giờ của tôi, sức lực tôi, tim óc tôi, xin hy sinh vì bạn.

Nầy là thân xác tôi, trọn cuộc sống tôi, xin cống hiến cho cha mẹ, cho người bạn đời, cho con cái và cho tha nhân.”

[Mục Lục]

Bài 3. Rửa chân
Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

Dấu chân

Để khẳng định việc đã đến một nơi nào, người ta thường hay nói đã đặt chân đến nơi ấy. Dấu chân, vì thế biểu thị sự hiện diện của một con người đã đến, đã đi. Trong nhiều tôn giáo, nhắc đến nhiều dấu chân, theo truyền thuyết của Đức Phật, ngày đản sinh của Đức Phật, ngài đã bước đi bảy bước trong mỗi chiều của không gian. Theo thần thoại Hy Lạp, thần Vishnu đã bước đi 3 bước, bước thứ nhất tiếp xúc với đất, bước thứ hai là bước trung gian, bước thứ ba là tiếp xúc với trời. Theo thần thoại này, người ta nghĩ đó là 3 bước cơ bản của 3 vị trí mặt trời mọc và lặn, bước trung gian là đỉnh vào giữa ngọ. Ở Đông phương, việc thờ phượng các đôi bàn chân của thần Vishnu, của Đức Phật, hay bàn chân tiên ông trong Đạo Lão, hay bàn chân của Mahomet ở La Mecque là thường xuyên.

Dẫm vào dấu chân thần linh

Trong nhiều thần thoại của các dân tộc ở Việt Nam, việc đản sinh của một con người mang tính vượt trội thường là diễn tả sự thụ thai của bà mẹ bước vào dấu bàn chân của nhân vật huyền thoại nào đó chứ không như thường lệ là do người nam. Dẫm vào dấu chân thần linh để diễn tả con người phi thường ấy được sinh ra có sự can thiệp của thần linh chứ không nguyên do con người. Như vậy, trong thần thoại, người xưa đã tin rằng thần linh có mặt trên trái đất này và là chủ của trái đất này. Việc con người dẫm vào dấu chân thần linh là diễn tả con người thuộc về thần linh ấy, con người được các thần linh có tính chủ quyền của đất đai che chở, can thiệp…

Chân là trụ đứng của con người, cây trụ đứng giữa trời này có liên hệ với trục vũ trụ. Con người với đôi bàn chân đứng là trục và là trung tâm của vũ trụ, là trung gian giữa trời và đất, con người là đỉnh cao trong công trình sáng tạo. Là kỳ công của sáng tạo, nên con người cũng được giao phó trách nhiệm quản lý muôn loài thọ tạo. Chân đứng của con người khi khụy xuống hay bị trượt té thì muôn vật cũng theo đó bị đổ vỡ và té nhào. Trong lịch sử, con người đã ngã, vạn vật, thiên nhiên đang rên siết trong sự té ngã của con người. Con người đã không đứng vững và muôn loài cũng đang đau khổ vì cây trụ yếu ớt, mỏng dòn.

Chân là điểm khởi đầu tiếp xúc với đất đối nghịch lại với đầu là phần cuối cùng của thân thể con người. Chân đạp đất biểu thị một quan niệm rất cơ bản: Siêu nhiên cần dựa trên tự nhiên. Siêu nhiên là phần tiếp xúc với đầu, nhưng đầu nhờ có chân nâng đỡ. Cũng chính vì thế khi tự nhiên bị phá đổ, siêu nhiên cũng không còn chỗ đứng. Điều này Thánh Augustinô diễn tả trong câu nói: “Để dựng nên con, Thiên Chúa không cần có con, để cứu độ con, Thiên Chúa cần đến con”. Cứu độ là hồng ân siêu nhiên hiện tại hóa trong tự nhiên nơi con người Đức Giêsu Kitô. Con người tự nhiên đã bị tội lỗi đánh gục phải nhờ một con người vô tội đến từ siêu nhiên trong con người tự nhiên để cứu vớt. Như vậy, con người muốn được cứu vớt cần được tháp nhập vào trong con người của Đức Giêsu Kitô, việc tháp nhập là do con người quyết định. Thiên Chúa không thể cứu nếu con người không muốn.

Rửa chân trong chiều Thứ Năm Tuần Thánh là một biểu tượng có nhiều liên quan đến việc rửa sạch.

Rửa sạch cái quyền: Quyền của người lãnh đạo đúng như vương quyền Đức Giêsu là cúi xuống rửa chân cho anh em. Thay vì trong vai chủ nhà, theo thông lệ của người Do Thái, khách đến nhà, chủ gia sẽ lấy nước để khách rửa chân, khi nào là khách quý chính chủ nhà sẽ cúi xuống rửa chân cho vị khách. Chúa Giêsu xem các môn đệ của mình là những người khách quý đến nhà, Ngài đã cúi xuống long trọng rửa chân cho các môn đệ. Hành vi này gây cho Phêrô và các môn đệ thắc mắc: “Sao Thầy lại rửa chân cho con?” Lời thắc mắc này lại mở ra câu trả lời hoàn toàn nghe khác: “Nếu không rửa chân cho con, con se không được tham dự vào Nước của Thầy”. Lĩnh vực Nước của Đức Giêsu, cũng bị các môn đệ hiểu sai về một vương quyền trần thế sắp tới. Thực sự, các ông se hiểu rõ hơn: “Nước của Ngài không thuộc thế gian này”. Rửa chân – quyền để phục vụ – Nước Trời, là 3 chủ đề liên quan với nhau. Quyền không để trục lợi nhưng để phục vụ, quyền không để chiếm hữu tư lợi nhưng để cùng nhau tiến vào dự tiệc Nước Trời. Quyền bính nếu không để giúp con người sống dồi dào và phong phú hơn, quyền ấy đang bị lạm quyền và mang lại sự chết chóc, tiêu diệt. Rửa quyền hành là rửa sạch tư lợi để được các anh chị em trong hiệp thông sự sống.

Rửa sạch những chiếm hữu: Trần thế này không phải là tất cả, chiếm hữu càng nhiều đôi chân càng bẩn, rửa chân là rửa những chiếm hữu quá đáng của con người. Khi con người chiếm hữu cho riêng mình phần lớn sẽ chèn ép và tẩy chay những đôi chân khác dù là bé tí. Phá thai, loại trừ sự sống là cách thức chiếm hữu của con người càng nhiều càng tẩy chay lẫn nhau: “Một đứa con sinh ra sẽ chia bớt phần hưởng thụ của cha mẹ và là một gánh nặng thêm cho các gia đình và xã hội”. Rửa sự chiếm hữu để chia cho nhau sự sống và để đi đến hiệp thông trong sự sống.

Rửa các mối tương quan: Chỉ khi rửa sạch các mối tương quan, con người mới hiểu được di chúc của Chúa trong Bữa Tiệc Ly: “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em”. Đó là nội dung chính của việc rửa chân.

[Mục Lục]

Bài 4. Xin rửa sạch những bất trung, phản bội
Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Sự bất trung và phản bội là những yếu đuối của bản tính con người. Sự bất trung và phản bội cũng là cách sống của kẻ “ăn cháo đá bát” của kẻ thiếu trách nhiệm với bản thân và gia đình. Chúa Giêsu trong thân phận làm người, Ngài cũng nếm cảnh trần trụi của tình người thay trắng đổi đen, của sự vô ơn và phản bội của thế gian. Ngài cũng hiểu nỗi đau của sự bị bỏ rơi, của sự vô ơn của kẻ Ngài đã từng thi ân. Ngài đã từng tiếc nuối cho kẻ vì danh lợi thú mau qua mà bán rẻ nhân phẩm của mình, vì chút bổng lộc mà bán đứng anh em. Ngài đã từng ước mơ “thà nó đừng sinh ra thì hơn”. Nhưng cuộc đời hôm qua và hôm nay vẫn còn đó những con người lòng chai dạ đá, đã bán đứng anh em, đã phản bội gia đình, đã bán rẻ phẩm giá của mình để đạt được danh lợi thú dơ bẩn ở đời. Nước mắt của tình đời thay trắng đổi đen. Nước mắt của sự cô đơn bị phản bội và bỏ rơi vẫn tồn tại trong kiếp người vốn dĩ là bể khổ, càng khổ thêm vì những người thân thiết nhất lại phản bội lẫn nhau. Vợ chồng phản bội nhau. Anh em chơi xấu nhau. Đồng loại lừa dối nhau đó là những cách sống đang làm cho thế gian đã gian dối lại càng dối gian thêm. Đó là cách sống đang giết chết tình người, đang gặm nhấm con tim của đồng loại.

Thánh lễ chiều Thứ Năm Tuần Thánh vẫn gọi là Thánh lễ Tiệc ly. Vì nó gợi nhớ lại bữa tiệc cuối cùng của Chúa Giêsu và các môn sinh. Tiệc chia tay đã buồn lại buồn thêm bởi sự ngăn cách tình người. Một trong anh em sẽ phản bội. Một trong anh em sẽ chối Thầy. Và đêm nay anh em sẽ vấp phạm vì Thầy. Quả thực là buổi chia tay thật buồn. Buồn vì giờ chia tay đã gần. Càng buồn hơn vì sự phản bội, bỏ rơi của các môn sinh. Thế nhưng, tình yêu Chúa vẫn mãi mãi tín trung. Ngài vẫn tiếp tục yêu họ cho đến cùng. Ngài đã thực hiện một dấu chỉ tuyệt vời của tình yêu thẳm sâu và lòng tha thứ bao dung qua hành vi rửa chân cho các môn sinh. Một hành vi mà chẳng ai hiểu được. Một hành vi mà Phêrô cảm thấy không ổn chút nào! “Không đời nào Thầy lại rửa chân cho con sao?” Thế nhưng, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục cúi xuống rửa chân cho các ông. Ngài không nhằm rửa sạch bên ngoài mà là thanh tẩy cõi lòng các ông. Ngài muốn rửa đi những lem lấm bụi đời, những toan tính trần thế. Ngài muốn dùng tình yêu để thanh tẩy tâm hồn các ông mỗi ngày thêm mới, thêm đẹp hơn. Ngài muốn thanh tẩy tâm hồn các ông khỏi những mưu đồ bất chính, những thói đời giả tạo, những kỳ vọng viễn vông. Bao lâu nay các ông theo Chúa nhưng lại nuôi dưỡng tham vọng quyền bính và bổng lộc trần gian. Sự tranh giành vị trí đã xảy ra. Kẻ đòi ngồi bên tả. Kẻ đòi ngồi bên hữu. Một vương quốc mà chia rẽ thì đâu còn tồn tại. Chúa rửa chân để các ông cũng sẽ rửa chân cho nhau. Kẻ làm lớn hãy dùng tình yêu để phục vụ. Hãy dùng tình yêu để hoán cải lòng người. Hãy dùng tình yêu để sửa lỗi cho nhau. Chính Chúa đã làm gương. Dù biết rằng Giuđa phản bội. Dù biết rằng Phêrô sẽ chối mình. Dù biết rằng các môn đệ sẽ bỏ Thầy trong lúc gian nguy. Việc Chúa làm lúc này để các ông mãi ghi khắc trong tim về tình yêu của Thầy. Cho dù đôi chân của các ông có bước tới tận bùn sâu của lầm lỗi, Chúa vẫn tha thứ. Chúa vẫn tiếp tục cúi xuống rửa sạch vết nhơ tội lỗi cho các ông. Chúa vẫn cho các ông cơ hội để làm lại cuộc đời, vì tình yêu của Ngài là tình yêu thuỷ chung, sắt son vẹn tuyền.

Như vậy, bài học mà Chúa muốn dạy các môn sinh chính là “hãy yêu thương nhau”. Một tình yêu tha thứ có thể rửa xoá đi những thù hận, có thể làm sạch mọi vết nhơ của hiểu lầm, bất trung và phản bội. Một tình yêu khiêm cung thẳm sâu để có thể cúi xuống phục vụ những con người sẽ bỏ mặc mình trong gian nguy, sẽ chối bỏ mình trong hiểm nguy, sẽ bán đứng mình vì một chút bổng lộc trần gian. Thế mà, Thầy chí Thánh đã làm như vậy! Ngài còn mời gọi chúng ta hãy noi gương Ngài mà “yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. Yêu như Thầy là mặc lấy tâm tình của Thầy để có lòng bao dung, độ lượng với nhau, để có thể tha thứ và tha thứ mãi mãi khôn cùng.

Ước gì những nghĩa cử cao đẹp mà Thầy Chí Thánh Giêsu đã làm luôn tồn tại nơi gia đình Kitô hữu chúng ta. Gia đình cần có lòng bao dung để tha thứ và đón nhận nhau. Gia đình cần có sự khiêm tốn để có thể cúi xuống phục vụ những con người đang hành hạ mình, đang đày đoạ mình bởi thiếu trách nhiệm và đạo đức. Gia đình cần có tình yêu phục vụ để rửa sạch những toan tính phản bội, những nhẹ dạ tội lỗi của các thành viên trong gia đình.

Ước gì từng người chúng ta đừng phản bội lẫn nhau chỉ vì những mối tình bất chính, những đam mê tội lỗi. Ước gì mỗi người chúng ta biết sống cao đẹp qua đời sống trung tín, thuỷ chung. Ước gì tình yêu như Thầy Giêsu sẽ làm cho các gia đình luôn ngập tràn niềm vui và hạnh phúc trong tình Chúa, tình người. Amen!

[Mục Lục]

Bài 5. YÊU CHO ĐẾN CÙNG
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Thánh lễ chiều nay sẽ tưởng niệm lại việc Chúa Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể, chức tư tế và điều răn của Chúa về tình bác ái huynh đệ.Rõ ràng trong thánh lễ này, chúng ta nhận ra tình thương cao vời của Chúa đối với nhân loại, đối với con người, đối với mỗi người. Để diễn tả tình thương vô biên Chúa Giêsu đã để lại cho chúng ta Thịt và Máu của Người để nuôi sống chúng ta.

Chúa Giêsu đã ăn Lễ Vượt Qua lần cuối cùng với các môn đệ nơi nhà Tiệc Ly, trong bữa ăn này, Ngài làm một cử chỉ rất đặc biệt, cử chỉ của người tôi tớ, người nô lệ, Ngài đứng dậy cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Đây là hành động của một Thiên Chúa rất mực khiêm nhường: cúi xuống rửa chân nói lên tình thương vô biên của Chúa. Rửa chân cho các môn đệ xong, Ngài lại tiếp tục bữa ăn và rồi Ngài đã cầm bánh và rượu lập nên Bí Tích Thánh Thể. Bánh đã trở nên Mình Chúa và rượu đã trở nên Máu Chúa. Đây là Bí Tích Thánh Thể. Bí Tích Tình yêu.Bí Tích nuôi sống con người phần hồn phần xác. Quả thực, khi sống nơi trần gian, đến giờ chấp nhận ý định của Thiên Chúa Cha cứu độ con người, Chúa Giêsu trước khi về với Chúa Cha, Ngài không để lại cho nhân loại của cải, tiền bạc, Ngài không để lại gia tài kếch sù để con người chia chác cho nhau, nhưng Ngài đã để lại cho nhân loại của ăn không bao giờ hư mất, Ngài đã nuôi sống con người bằng chính thịt máu của Ngài. Ngài đã đem lại cho con người sự sống mới, sự sống vĩnh cửu, sự sống đời đời. Chúa lập Bí Tích Thánh Thể để giao hòa chúng ta với Thiên Chúa Cha, giữa chúng ta với Ngài. Ngài cầm lấy bánh, tạ ơn Chúa Cha, trao cho các môn đệ mà nói: “Này là Mình Ta”. Bánh ấy đã trở nên chính thịt của Ngài. Thánh Thể là một lễ tế. Thánh Thể là một cuộc giao hòa. Nên, khi cầm chén rượu nho, tạ ơn Chúa Cha, trao cho các môn đệ và nói: “Này là chén Máu Ta, Máu giao ước vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được khỏi tội”. Rượu nho đã trở nên chính Máu của Chúa. Thật diệu kỳ, thật mầu nhiệm!

Trong bữa Tiệc Ly, Chúa đã phong chức thánh cho các môn đệ để các môn đệ tiếp tục sứ mạng cứu thế của Chúa ở trần gian này. Ngài thiết lập chức linh mục thừa tác để các môn đệ cử hành thánh lễ và truyền phép. Chúa Giêsu quả thực đã quá yêu thương nhân loại, yêu thương con người. Ngài yêu thương con người, nên để lại cho nhân loại kho tàng quí giá là các Giám mục, các Linh mục để các Ngài thay mặt Chúa ban phát Bí tích cho con người. Do đó, người ta có thề tự hiểu, nếu không có các giám mục, các Linh mục sẽ không có thánh lễ và như thế, đâu có Bí tích Thánh Thể.

Chúa Giêsu còn để lại cho chúng ta một giới răn mới, giới luật yêu thương: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương chúng con” hoặc : “Cứ dấu này người ta sẽ nhận ra anh em là môn đệ của Thầy là anh em yêu thương nhau”. Giới luật mới của Chúa Giêsu hoàn toàn trái ngược với luật của các luật sĩ, thượng tế và biệt phái, nhóm này quan niệm : “Ai thương mình thì thương, còn ai ghét mình thì mình ghét”. Chúa dạy con người : “yêu thương cả kẻ thù”. Đây là luật bác ái, luật tình yêu. Chúa Giêsu đã sống, đã thực hành giới luật ấy một cách tuyệt đối : “Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng vì người mình yêu” (Ga 15, 13).

Như vậy, Chúa Giêsu trong bữa Tiệc Ly, bữa ăn cuối cùng với các môn đệ, đã làm ba cử chỉ đẹp nhất, cao quí nhất là rửa chân cho các môn đệ, lập Bí tích Thánh Thể và ban giới luật mới, giới luật yêu thương. Thật lạ lùng, thật linh thánh và kỳ diệu, Chúa Giêsu đã để lại cho nhân loại kho tàng quí giá không người trần gian nào có thể có được, có thể để lại như Ngài…

Lạy Chúa, trong bữa Tiệc Ly trọng đại, trước ngày tự hiến thân chịu khổ hình, Đức Giêsu đã trối cho Hội Thánh một hy lễ mới muôn đời tồn tại làm bằng chứng tình thương của Người. Chiều nay, chúng con đến tham dự yến tiệc cực thánh, như lời Người truyền dạy, xin Chúa cho tất cả chúng con được tràn đầy tình yêu và sức sống viên mãn của Người” (Lời nguyện Nhập lễ Thánh Lễ Tiệc Ly).

[Mục Lục]

Bài 6. HÃY CANH THỨC VỚI THẦY
Giuse Vũ An Tôn op

Chiều hôm nay, chúng ta vừa cử hành nghi thức tưởng niệm bữa Tiệc Ly của Chúa Giêsu với các tông đồ. Trong bữa ăn đó Chúa đã lập Bí tích Thánh Thể để ở lại luôn mãi với chúng ta, đồng thời Người cũng thiết lập chức Linh Mục, khi truyền cho các tông đồ: “Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22,19), nhờ đó hy tế Vượt Qua của Người được tái hiện và Người luôn hiện diện giữa chúng ta cho đến tận thế, để tiếp tục cứu độ thế giới.

Cũng trong bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu còn quì xuống rửa chân cho các tông đồ, để lại cho chúng ta mẫu gương sống yêu thương phục vụ, nếu muốn trở nên môn đệ đích thực của Người.

Giờ đây, Hội Thánh tha thiết mời gọi chúng ta hãy ở lại canh thức cầu nguyện với Chúa Giêsu một thời gian, nhớ lại lời Chúa đã nói với các tông đồ: Hãy canh thức với Thầy, khi Chúa vào vườn Cây Dầu để cầu nguyện với Chúa Cha và trải qua cơn hấp hối hãi hùng, đến nỗi mồ hôi như những máu nhỏ xuống đất. (Lc 22,44)

Đối diện với những cực hình sẽ chịu, những nhục nhã phải hứng lấy và trước cái chết kinh khiếp sắp xảy đến, Chúa Giêsu buồn rầu, xao xuyến kêu cầu cùng Chúa Cha: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này” (Mt 26,39a). Trong cuộc sống của chúng ta, khi hy sinh cứu giúp người nào, nếu thấy trước người đó được cứu sống và được hạnh phúc thì may ra còn dễ dàng hy sinh, nhưng nếu biết sự hy sinh mà bị coi thường, bị phản bội thì lòng người hy sinh đau khổ biết là chừng nào. Vậy mà trong vườn Cây Dầu, Chúa Giêsu đã nhìn thấy tất cả những phản bội đó: một trong các bạn hữu sẽ nộp Người cho thù địch, người thì chối Thầy, kẻ khác thì bỏ chạy, dân chúng đã từng được nghe giảng dạy cũng như chứng kiến biết bao phép lạ thì cứng lòng,… Người đã phải chiến đấu quyết liệt cho sự hạnh phúc đời đời của chúng ta trong cô đơn lẻ loi: Chúa Cha hoàn toàn im lặng, các môn đệ thì ngủ say. Dầu vậy, Người vẫn một lòng trung tín với tình yêu dành cho Chúa Cha và cho loài người mà Chúa Cha muốn cứu độ: “Xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39b).

Đặt mình trước Thánh Thể, chúng ta hãy tự hỏi mình đã đối xử với Chúa như thế nào ? Sự thờ ơ lạnh nhạt của chúng ta với bí tích Thánh Thể không phải là cứng lòng hay sao ? Mỗi lần chúng ta phạm đi phạm lại một tội, há không là phản bội Chúa sao ? Những khi chúng ta dửng dưng trước nỗi đau của anh chị em mình, đó chẳng phải là chối Chúa hay sao ?

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,

Chúng con thờ lạy Chúa đang hiện diện trong Bí tích Thánh Thể. Hôm nay chúng con đến đây để được tỉnh thức bên Chúa, để được loại bỏ những cám dỗ ru ngủ, hào nhoáng quyến rũ và khổ đau của thế giới này. Xin Chúa hãy đánh thức chúng con dậy và ra khỏi những nụ hôn giả dối đầy ngọt ngào của danh vọng, tiền tài và hưởng thụ; thoát ra khỏi những cơn say của lạc thú, đam mê, đua chen bôn ba ở đời. Chính tại đây cũng như xưa kia nơi vườn Cây Dầu, Chúa cũng đang nói với chúng con: “Anh em không thể canh thức nổi với Thầy một giờ sao?” (Mt 26,40) Chúng con nào thấu hiểu được tình yêu của Chúa dành cho chúng con. Chúa càng chung thuỷ với chúng con bao nhiêu, thì chúng con lại cảm thấy chính mình bội bạc với Chúa bấy nhiêu. Chúa càng yêu chúng con bao nhiêu, thì chúng con lại cảm thấy mình hờ hững với Chúa bấy nhiêu.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con đã để Chúa đợi chờ quá lâu, đã để Chúa cô đơn quá nhiều! Chúng con chỉ đến với Chúa khi cần mà thôi, và khi Chúa đã đáp ứng nhu cầu của chúng con rồi thì chúng con lại quên mất Chúa. Chúng con xin lỗi Chúa thật nhiều. Xin hãy đốt lên trong trái tim chúng con ngọn lửa yêu mến Chúa, để chúng con bớt nguội lạnh và vô ơn đối với Chúa. Xin hãy nhìn chúng con bằng ánh mắt thấu suốt mà Chúa đã nhìn tông đồ Phêrô trong dinh thượng tế, để chúng con cũng nhận ra những yếu đuối của bản thân và biết ăn năn sám hối trở về cùng Chúa.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,

Chúa luôn sẵn sàng chúc phúc cho chúng con bằng ân sủng và tình yêu của Chúa. Vâng, Chúa hằng nghĩ tới chúng con, khao khát đợi chờ chúng con trong Bí tích Cực thánh này. Chúa chính là đường, là sự thật và là sự sống của cuộc đời chúng con. Chúa cũng biết rõ chúng con: “tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn” (Mt 26,41), Xin giúp chúng con luôn biết tin tưởng phó thác cuộc đời mình nơi bàn tay quan phòng của Thiên Chúa bằng cách năng canh thức và cầu nguyện, khi gặp thử thách cũng như trong mọi giây phút của cuộc đời. Amen.

[Mục Lục]

Bài 7. NGÀI ĐÃ YÊU THƯƠNG HỌ…
Giuse Đỗ Huy Hoàng op

Ngài đã yêu thương họ
và Ngài yêu thương họ đến cùng

Yêu và được yêu là khát vọng tất yếu của mỗi người. Và con người luôn mải miết kiếm tìm cho mình câu trả lời về tình yêu : tình yêu là gì? Nhưng giờ đây con người không phải khắc khoải đi tìm nữa, bởi nơi Đức Giêsu là câu trả lời thoả đáng về tình yêu. Và Ngôi lời đến thế gian để loan báo cho nhân loại biết tình yêu của Thiên Chúa với con người và Thánh Gioan đã khẳng định Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu là mối dây liên kết con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau, qua đó giúp cho mối liên kết được bền chặt trong yêu thương.

Giờ đây, Chúa Giêsu biết giờ của Người đã đến. Giờ Người hiến tế vì con người – giờ Người phải trở về với Chúa Cha. Đáng lẽ với một ý thức như thế Ngài phải tự hào, thế nhưng Người lại đi rửa chân cho các môn đệ. Đúng vào giờ khắc quan trọng, Chúa đã có tâm tình khiêm hạ tột cùng. Bởi Ngài yêu thương những kẻ thuộc về mình, những con người sống với Người trong suốt quãng thời gian công khai rao giảng của Người, những người đã, đang và sẽ thi hành tiếp tục sứ vụ của Ngài nơi trần thế. Vì yêu, nên Người đã cúi xuống rửa chân cho họ, với người Do thái một việc làm chỉ dành cho người nô lệ đối, thế nhưng Chúa đã làm và ngài nói: Ta là thầy là Chúa còn rửa chân cho các con, vì vậy các con phải rửa chân cho nhau(x Ga 13,14-16). Người trối lại cho các môn đệ giới răn mới để các ông trở thành cánh tay nối dài của tình yêu Thiên Chúa trong thế giới hôm nay. Thế chưa đủ, Người còn muốn ở lại và đồng hành với họ nên Người đã trao cho chính mình Người qua việc thiết lập Bí Tích tình yêu và như vậy Ngài mãi ở lại với họ – với con Người.

Lạy Chúa Giêsu, Người dạy chúng con biết chỉ có một điều cao trọng, đó là giới luật yêu thương, vì yêu thương Người đã không ngần ngại cúi xuống rửa chân cho các môn đệ, cũng như ngài không ngần ngại ngụp lặn trong dòng sông Jodan để chụi phép thanh tẩy và mang vào thân tội lỗi của nhân loại. Thế nhưng trong một thế giới đề cao vật chất, chúng con đã đánh mất yêu thương với mọi người, chúng con đề cao danh vọng, muốn được tôn vinh mà quên đi bài học phục vụ. Chúng con ham muốn được nổi bật, không chịu nhận địa vị yếu kém.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa dạy chúng con rằng: cứ dấu này mà người ta nhận biết anh em là môn đệ thầy là anh em hãy yêu thương nhau. Nhưng Chúa ơi! Chúng con đã đón nhận yêu thương nhưng lại gieo hận thù, đón nhận điều thiện gieo điều ác, đón nhận điều lành gieo điều xấu. Đó là những điều Ngài không muốn nơi chúng con, Ngài chỉ muốn chúng con yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương chúng con và yêu mãi cho đến cùng. Và rồi có đôi lần con tự hỏi : con đã yêu thương mọi người ? chúng con có dành cho nhau tình cảm, của cải, vật chất, công việc, thời gian… nhưng chúng con không dám hy sinh mạng sống vì người mình yêu, chúng con lại ngập ngừng, thối chí khi muốn nói lời yêu thương với người thân của mình, nhưng Người thì ngược lại. Xin thêm lòng mến cho chúng con để chúng con yêu nhau như Chúa yêu.

Lạy Chúa, nơi Ngài có tình yêu chân thật, tình yêu không vị kỉ, một tình yêu mang đầy thấu cảm. Ngài yêu thương và sẵn sàng tha thứ mọi lỗi lầm chúng con trót phạm, khi con sám hối ăn năm. Vì Ngài biết và yêu cả thân phận yếu đuối và bất toàn của chúng con. Xin dạy chúng con bài học yêu thương tha thứ thay cho những gì là xét đoán và lên án anh chị em mình.

Lạy Chúa, giờ đây, con đang kiểm điểm mình trong giờ cầu nguyện này, để xem con đã biết cảm thông , thân thiện với mọi người chưa? Con có cố gắng để không bao giờ thiếu Đức mến trong tư tưởng, con đã biết làm hoà hay đền trả ai khi con đối xử tệ với họ. Con có dành cho họ yêu thương khi tiếp xúc không, con đã biết giúp đỡ mọi người chưa.

Cuộc thương khó của Chúa đã gần kề, con đang suy gẫm về tình yêu của Ngài dành cho con : ngài đã yêu thương và ngài yêu thương đến cùng. Xin cho chúng con biết thể hiện tình yêu đó với mọi người như Chúa yêu, và xin người thắp lên trong con ngọn lửa nồng nàn của tình mến thiết tha, để chúng con biết vượt qua những rào cảm để yêu thương và đón nhận nhau một cách vẹn toàn.

[Mục Lục]

Bài 8. THỨ NĂM TUẦN THÁNH
Hương Vĩnh

Nếu ai có dịp hành hương Thánh Địa và thăm viếng căn phòng Tiệc Ly, có thể sẽ rất ngạc nhiên, ngay cả sửng sốt nữa, khi thấy căn phòng đó đơn giản làm sao! Không có gì ở trong căn phòng đó gợi lên chút xíu về điều đã xảy ra ở giữa bốn bức tường khép kín vào tối Thứ Năm Tuần Thánh thứ nhất đó. Không có gì cho thấy điều đã xảy ra hôm đó có thể tồn tại mãi mãi về sau và khiến cho thế giới xưa kia không còn bao giờ như thế nữa. Tôi không tin bất cứ căn phòng nào – vì ý nghĩa lịch sử của nó – đã có thể tầm thường và đơn giản như thế. Tuy nhiên tính chất rất tầm thường và đơn giản đó đã làm vang vọng điều mà Chúa Giêsu đã nói và đã làm vào tối hôm đó và sẽ không bao giờ bị lãng quên được.

Chúa Giêsu và các môn đệ Ngài qui tụ ở đó để mầng lễ Vượt Qua hằng năm. Đó cũng là bữa cơm tối cuối cùng của họ khi tất cả mọi người họp mặt đông đủ. Quang cảnh rõ thật là một tấn đại bi kịch. Không ngạc nhiên chút nào, Chúa Giêsu đã mở miệng ra và nói từ con tim của mình về những điều mà Ngài ấp ủ trong lòng: thật đúng là một bài diễn văn giả biệt! Ngài nói về tình yêu và những hoài vọng của Ngài đối với họ, về những ưu tư của Ngài là họ sẽ bị tan rã khi Ngài ra đi. Chúa Giêsu tiếp tục nói lâu dài, nói từ trong con tim của mình. Giữa khi Ngài bộc lộ tâm tình như thế thì một sự cải vã nho nhỏ xảy ra giữa họ, cơ hồ làm hỏng hết ý nghĩa của buổi họp mặt hôm đó. Họ muốn biết ai trong đám họ là người lớn nhất. Đó là một cuộc tranh chấp quyền bính. Họ tranh giành địa vị. Họ muốn biết ai là người ở trên chóp bu. Thật là một điều không thích hợp và không thích đáng chút nào. Chẳng khác nào Chúa Giêsu không có mặt ở đó. Chẳng khác nào Ngài đã bị mất họ hết rồi. Họ ở trong một căn phòng với Chúa Giêsu nhưng họ đã xa cách nhau vạn dặm. Họ không cố nghe Chúa Giêsu nói. Họ đã ở trên sàn nhà đó nhiều lần trước kia rồi nhưng vẫn còn một vấn đề nghiêm trọng xảy ra. Họ đang cải nhau ầm ĩ vào giờ nầy đây và khiến Chúa Giêsu bị rơi vào tình trạng sửng sốt bàng hoàng. Tôi không biết Chúa Giêsu có chớp mắt, ngước nhìn lên trời và lắc đầu lia lịa hay không? Hoặc Ngài cảm thấy dở khóc dở cười khi phải chứng kiến cảnh huống lố bịch đó không? Ngài đang đối diện với tử thần và các môn đệ của Ngài đang đấm đá nhau như trẻ con vậy.

Những điều chúng ta phỏng đoán trên đây không thành vấn đề nhưng điều hệ trọng là việc Chúa Giêsu đã làm để kéo lôi họ ra khỏi chính con người của họ hầu trở lại với đường đi nước bước của Ngài. Họ cần một quả đấm ngàn cân, một sự chữa trị bằng một cú điện giựt thật mạnh để đem họ trở về lại trên mặt đất. Vì vậy Ngài đã lấy một bình nước, rót đầy nước vào chậu, quấn một chiếc khăn ngang hông và yêu cầu tất cả họ ngồi xuống. Giờ đây Ngài đã làm cho họ phải chú ý. Khi đến lượt Ngài bắt đầu rửa chân cho họ, họ đã kinh hoàng rúng động cùng tột. Chúa Giêsu là Chúa, là Thầy của họ, là vị cứu tinh, người lãnh đạo và là tất cả của họ nhưng nầy đây Ngài đã tự hạ mình xuống làm người thấp hèn nhất, bằng cách làm một công việc thuộc về hạng tôi đòi hèn hạ nhất. Khi Ngài đến với Phêrô, ông đã phản đối vì thấy rõ những điều ẩn ý bên trong. Có lẽ Phêrô là người khôn lanh nhất trong nhóm họ. Ông là một người lãnh đạo, là cánh tay mặt của Chúa. Ông đã là người lãnh đạo của nhóm lâu rồi trước khi Chúa Giêsu xuất hiện. Chúa đã nhận ra những đức tính lãnh đạo của Phêrô nên đã chỉ định ông làm người kế vị Ngài. Nhưng điều mà Chúa Giêsu đang làm không nằm trong ý hướng lãnh đạo của ông. Ông đã bàng hoàng. Đó là điều bất xứng. Đó là điều làm hạ phẩm giá của Ngài. Phêrô đã hiểu điều mà một người lãnh đạo phải làm. Ông đã khơi mào và làm chủ tình thế. Chúa Giêsu đang bỏ rơi quyền lực. Phêrô đã mất tự chủ và không biết thế nào là phục vụ, nhưng Chúa Giêsu cố thuyêt phục ông. Chúa đã làm đảo lộn toàn bộ hệ thống giá trị và tốt hơn hết là Phêrô nên tin tưởng điều đó. Chúa Giêsu thẳng thắn nói với Phêrô là trừ khi ông để Ngài rửa chân ông – tức là ông phải quan niệm lại vấn đề lãnh đạo – nếu không ông sẽ không thể nào thông phần với Ngài. Đến lúc đó Phêrô bị ngã gục. Phêrô đành đầu hàng, thua trận.

Cuối cùng khi Chúa Giêsu đã rửa chân xong, Ngài đứng thẳng dậy và hỏi: “Các con có hiểu điều Thầy đã làm không? Các con gọi Ta bằng Thầy bằng Chúa và đúng Ta là thế đó. Vậy nếu Ta là Thầy là Chúa mà đã rửa chân cho các con, các con nên rửa chân cho nhau. Ta đã làm gương cho các con để các con mô phỏng điều Ta đã làm.” Đó là điều chấm dứt ở đoạn Phúc Am Thứ Năm Tuần Thánh. Tại sao điều chấm dứt đó đã làm tôi bàng hoàng, bởi vì câu kế tiếp đã cắt nghĩa toàn bộ ý thức hệ lãnh đạo của Chúa Giêsu: “Ta long trọng nói cho các con biết: không tôi tớ nào lớn hơn chủ mình, không sứ giả nào lớn hơn người sai đi.”

Điều xảy ra trong tối Thứ Năm đó đã tóm gọn toàn bộ sứ mệnh của Chúa Giêsu. Ngài đã đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ. Ở trong Nước Trời, phục vụ là cai trị.

Các môn đệ thực ra lúc bấy giờ đã không thấu hiểu ý nghĩa của việc rửa chân. Phải có thời gian để sứ điệp và gương lành của Chúa Giêsu ngấm xuống. Cuối cùng họ sẽ nhận thấy rằng họ được kêu gọi để sống, không phải cho chính họ mà cho kẻ khác. Sau hết khi họ hiểu được sứ điệp và gương lành của Chúa Giêsu lúc bấy giờ họ mới quấn khăn ngang hông, đổ đầy những chậu nước và rửa chân người khác nhằm mục đích phục vụ Tin Mừng , ở trong tiến trình thay đổi thế giới.

Giờ đây đến lượt chúng ta phải bắt tay vào việc và đóng góp vào câu chuyện được kể lại trong Phúc Am. Có thể chúng ta chưa nắm bắt được ý nghĩa của việc rửa chân nhưng hy vọng chúng ta sẽ tham gia mỗi lúc một chút. Cách chắc chắn nhất, chúng ta nên phác họa lại bức tranh đó bằng cách bắt đầu sử dụng bất cứ nền tảng quyền lực nào mà chúng ta có, bất cứ địa vị được tín nhiệm nào mà chúng ta nắm giữ, bất cứ năng khiếu nào mà chúng ta được thiên phú và chúng ta sẽ tổng hợp các thứ đó lại để phục vụ kẻ khác. Rồi thì chúng ta bắt đầu rửa chân một cách can đảm và duyên dáng theo cung cách của Chúa Giêsu.

Đừng hiểu lầm, sứ mệnh rửa chân không bao giở dễ dàng cả. Hãy hỏi Chúa Giêsu đi. Hãy hỏi Phêrô đi. Hãy hỏi bất cứ ai đã cố gắng sống nhãn quan đó đi. Nếu chúng ta khôn khéo như Phêrô, chúng ta sẽ hiểu rõ những điều quan hệ và những điểm nối kết từ đó mà ra. Đặt để nhu cầu người khác trước tiên không bao giờ dễ dàng cả. Điều đó đi ngược lại bản năng tự nhiên của chúng ta. Bản năng tự nhiên chúng ta nhắc nhở chúng ta rằng: “Chính tôi, chính tôi mà thôi, luôn luôn là tôi và không ai khác hết.” Nhãn quan đối với đời sống rửa chân đã khiến cho quan niệm về cuộc sống đảo lộn khi nhắc nhở chúng ta điều ngược lại: “Không, không phải tôi mà là chính bạn, chỉ bạn thôi, luôn luôn là bạn và không ai hết.”

Cách thức mà quí bạn rửa chân và cách thức mà tôi rửa chân có thể sẽ khác nhau và thay đổi tùy theo hoàn cảnh cuộc sống. Mỗi người trong chúng ta phải hành động thế nào để chúng ta rửa chân theo cung cách phù hợp với những năng khiếu tự nhiên và ân sủng mà Thiên Chúa ban cho chúng ta.

Sau cùng, vấn đề không phải là dễ dàng hay khó khăn, mà là có đáng để chúng ta quàng khăn ngang hông, đổ đầy những chậu nước và rửa chân không? Câu trả lời cũng tương tự như câu trả lời cho hết mọi vấn đề quan trọng khác, tất cả đều phải đến từ bên trong chúng ta mà thôi.

Phỏng theo bài suy niệm “WASHING FEET” (Rửa chân) của Lm. Vincent Travers O.P. trong sách “IN STEP WITH GOD” (Đồng Hành Với Chúa).

[Mục Lục]

Thu6THỨ SÁU TUẦN THÁNH
(Is 52, 13-53,12; Dt 4, 14-16. 5, 7-9; Ga 18, 1-19.42).

Bài 1. THƯƠNG KHÓ
Lm Giuse Trần Việt Hùng

Thứ Sáu Tuần Thánh, Good Friday, ngày tưởng niệm sự đau khổ và sự chết của Chúa Giêsu Kitô trên thập giá. Hôm nay Giáo Hội dành một ngày đặc biệt để suy niệm về sự thương khó của Chúa: Nhà thờ không trưng hoa, đèn nến, không trải khăn bàn thờ và nhà tạm mở cửa để trống. Các tín hữu ăn chay và kiêng thịt hy sinh phần xác. Cộng đoàn tín hữu có giờ Kinh sáng và giờ thích hợp sẽ cử hành Phụng Vụ Lời Chúa với Bài Thương Khó, Lời Nguyện Giáo dân trọng thể, Suy tôn và hôn kính thánh giá và phần Rước Lễ hiệp thông. Cao điểm của các việc cử hành phụng vụ nhắc nhở chúng ta về tình yêu dâng hiến của Chúa Giêsu. Không có tình yêu nào cao quí hơn mối tình của người hiến thân mình vì bạn hữu. Chúa Kitô đã chấp nhận tất cả khổ đau chỉ vì muốn cứu độ chúng ta.

Tiên tri Isaia đã diễn tả hình ảnh đau thương của Người Tôi Trung bị người đời hành khổ: Cũng như bao kẻ đã sửng sốt khi thấy tôi trung của Ta mặt mày tan nát chẳng ra người, không còn dáng vẻ người ta nữa (Is 52, 14). Người tôi trung bị đánh đập phỉ nhổ, máu me chảy tràn lan trên mặt đến nỗi người ta không còn nhận diện ra khuôn mặt dáng vẻ. Đây là hình ảnh của Đấng Cứu Thế trong khi bị tra trấn, đòn đánh, mạo gai thấu vào đầu, roi vọt quất trên lưng trần, máu từ đầu chảy xuống mặt và thánh giá nặng đè vác trên vai. Ngài mang mọi thương tích để xoa dịu những đau thương của chúng ta: Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành (Is 53, 5). Khi bị trói buộc, đòn đánh và phỉ nhổ, Chúa đành chịu, không một lời ta thán mắng mỏ, nhưng âm thầm lê bước vác thập giá tới núi sọ để hiến dâng của lễ toàn thiêu tinh tuyền.

Sống ở đời, có nhiều điều làm cho chúng ta âu lo, phiền muộn, sầu não và sợ hãi. Lo lắng vì gặp sự nghèo khổ, đói khát, không có nơi trú ngụ và lưu lạc nơi xứ lạ quê người. Sợ người ta hiểu lầm, chống đối, tẩy chay, xua đuổi và chụp mũ. Thân xác sợ bị phỉ nhổ, xô đẩy, roi vọt đánh đòn, trói buộc và mọi sự hành khổ. Ai cũng có chút kinh nghiệm về sự khổ đau này. Người tôi trung của Chúa lãnh chịu mọi thứ hình khổ và sau cùng đã bị loại trừ bằng cái chết: Người đã bị ức hiếp, buộc tội, rồi bị thủ tiêu. Dòng dõi của người, ai nào nghĩ tới? Người đã bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh, vì tội lỗi của dân, người bị đánh phạt (Is 53, 8). Tôi trung chấp nhận chịu nhịn nhục và xỉ vả. Người ta cũng thường nói rằng một sự nhịn là chín sự lành. Sự nhẫn nhục chịu khổ đau đã sinh ra hoa trái là sự khiêm hạ và thắng vượt.

Lửa thử vàng, gian nan thử đức. Sự thống khổ sẽ giúp chúng ta tôi luyện tâm hồn nên tinh tuyền. Tôi trung công chính đã mở đường dẫn lối nhiều người tìm thấy nguồn an vui đích thực của chân lý: Nhờ nỗi thống khổ của mình, người sẽ nhìn thấy ánh sáng và được mãn nguyện. Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ (Is 53, 11). Muốn đội triều thiên vinh quang, chúng ta phải miệt mài tu luyện và liên lỉ phấn đấu với mọi trạng huống cuộc đời. Không thể ngôi chơi, xơi bát vàng. Muốn thành công mãn nguyện, cần phải trả giá. Giá càng cao, ân phúc càng tràn đầy. Người tôi trung đã đi qua con đường đau khổ để đạt vinh quang. Người tôi tớ không nhận vòng hoa chiến thắng bằng giải hoa tươi mau tàn chóng héo, nhưng là vòng hoa của sự công chính viên mãn.

Tiên tri Isaia đã tiên báo về số phận của Đấng Thiên sai. Chúa Giêsu, Đấng được xức dầu, đã hoàn tất mọi lời của các tiên tri đã loan báo về Ngài. Thiên Chúa đã sai các tiên tri loan tin như: Amos, Hosea, Micah, Isaiah, Zepaniah, Nahun, Habakkuk, Jeremiah, Ezekiel, Zechariah, Joel, Malachi và Jonah. Các tiên tri luôn đồng hành với dân để soi đường mở lối và dẫn dắt họ trong đường ngay nẻo chính. Những lời tiên tri mang lại niềm vui và hy vọng sự giải thoát khỏi vòng nô lệ tội lỗi và áp bức của ma quỉ và thế gian. Hình ảnh người tôi trung đã thể hiện rõ nét nơi Chúa Giêsu Kitô. Nhóm lãnh đạo tôn giáo và dân chúng đã bị xúi dục để lên án kết tội chết cho Chúa: Khi vừa thấy Đức Giêsu, các thượng tế cùng các thuộc hạ liền kêu lên rằng: “Đóng đinh, đóng đinh nó vào thập giá! ” Ông Philatô bảo họ: “Các người cứ đem ông này đi mà đóng đinh vào thập giá, vì phần ta, ta không tìm thấy lý do để kết tội ông ấy.”(Ga 19, 6). Tuy không tìm thấy lý do nhưng cứ kết tội. Đây cũng là sự nhu nhược và mị dân của ông Philatô.

Với sức ép từ mọi phía và lòng người ra chai cứng, người ta đã đóng đinh người vô tội: Tại đó, họ đóng đinh Người vào thập giá, đồng thời cũng đóng đinh hai người khác nữa, mỗi người một bên, còn Đức Giê-su thì ở giữa (Ga 19, 18). Khi lòng con người đã chìm ngập trong oán thù thì sự dữ tăng lên gấp bội. Người ta đã liệt kê Chúa Giêsu đồng hàng với những kẻ trộm cượp giết người. Để thỏa dạ, các thượng tế, luật sĩ, biệt phái và những người tiểu tâm đã thay lòng đổi dạ mắng nhiếc xỉ vả hết lời. Chúa cam chịu tất cả hình khổ như lễ dâng tinh tuyền lên Thiên Chúa Cha để đền tội cho muôn dân. Nhắp xong miếng giấm chua, Đức Giê-su nói: “Thế là đã hoàn tất! ” Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí (Ga 19, 30). Chúa Giêsu đã bị hành khổ cho đến chết. Chết vì kiệt sức. Chết vì đau đớn. Chết vì lưỡi đòng đâm thấu trái tim. Chúa Kitô đã hiến thân trọn vẹn. Một lễ toàn thiêu tinh tuyền dâng hiến một lần là đủ. Chúa Giêsu đã hoàn tất sứ mệnh cứu chuộc loài người.

Thật ra, thái độ của chúng ta cũng không khác gì với cách hành xử của các thượng tế và dân Do-thái xưa là bao. Kinh nghiệm sống đạo cho thấy rằng chúng ta cũng dễ bị lôi cuốn vào những thị phi vô thường ở đời. Đôi khi chỉ cần một lời phát biểu hay một câu văn bị cắt xén, vì không hợp với quan điểm của một vài độc giả, thế là bị chụp mũ, kết án và không tiếc lời mạt sát danh dự của tác giả. Chúng ta dễ bị cám dỗ chiều theo dư luận xấu để chống đối, vào hùa, trở mặt, dèm pha, chối từ và tẩy chay một cách vô ơn. Chỉ cần một sự bất đồng ý kiến, sự hiểu lầm hoặc không thỏa mãn yêu cầu riêng tư, thì thái độ của chúng ta đã xoay quanh 180 độ. Nhiều lần chúng ta đã kết án người vô tội. Giờ này, chúng ta không ngồi đây để trách cứ hay xét đoán người khác mà hãy suy gẫm về hành trình sống đạo và niềm tin của mình vào Chúa Kitô. Bao lần chúng ta ngoảnh mặt làm ngơ với điều thiện, với lẽ đạo và với chân lý. Chúng ta xem thường việc thực hành các vấn đề luân lý và đạo đức. Chúng ta đàn áp và nhạo cười các chứng nhân sự thật. Vào hùa với quần chúng và con người xã hội để phê bình chỉ trích các huấn quyền và lời chỉ dậy của Giáo Hội.

Tác giả thơ gởi tín hữu Do-thái đã tuyên xưng: Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội (Dt 4, 15). Xuyên suốt qua lời tiên báo của tiên tri Isaia, tin mừng của thánh Gioan và tác giả thơ Do-thái đã diễn tả hình ảnh đau thương thực sự của Chúa Kitô. Ngài đã chịu thử thách tư bề, nhưng không hề phạm tội. Ngài là Chúa Chiên lành và là con chiên tinh tuyền không tì vết. Mỗi khi linh mục chủ tế đọc lời chúc tụng trước khi rước lễ: Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian, phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa. Chúng ta tuyên xưng niềm tin và đón nhận Ngài.

Lạy Chúa, Chúa đã chọn con đường thánh giá để cứu độ chúng con. Xin cho chúng con biết vâng phục vác thánh giá mỗi ngày mà đi theo Chúa. Qua thánh giá khổ đau mới có triều thiên vinh quang của sự sống lại. Chúa mời gọi chúng con bước theo Chúa, vì: Dầu là Con Thiên Chúa, Chúa đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục (Dt 5, 8). Xin cho chúng con biết vâng ý Chúa Cha dưới đất cũng như trên trời để chúng con sẽ tìm được lẽ sống bình an và nguồn an vui đích thực.

[Mục Lục]

Bài 2. Cần gì Chúa phải chết thay
Linh Mục Inhaxiô Trần Ngà

Có một số người phê phán: “Chúa Cha là người Cha tàn ác vì đã bắt người Con Một của mình phải chết đau thương trên thập giá.”

Một số ki-tô hữu khác cũng tự hỏi: “Tại sao Chúa Giê-su phải chịu chết bằng một cực hình hết sức khủng khiếp trên thập giá? Nếu Thiên Chúa muốn tha thứ tội lỗi cho loài người thì Người cứ việc tuyên bố một lời là xong, cần chi phải nhọc công chết thay để đền tội loài người cách đau thương đến thế? Thiên Chúa toàn năng thì làm gì mà chẳng được! Có nhất thiết Ngôi Hai Thiên Chúa phải chịu khổ nạn hết sức đau thương mới có thể tha tội và cứu sống loài người được chăng?

Thiên Chúa điều hành mọi vận hành trong vũ trụ bằng quy luật, y như ta điều hành mọi hoạt động của máy vi tính bằng một hệ điều hành. Mọi sự trong hoàn vũ đều phải vận hành theo những quy luật bất di bất dịch mà Thiên Chúa đã “cài đặt” cho chúng. Một trong những quy luật đó là: tội lỗi gây ra sự chết. Ai có tội thì người đó phải chết.

Quy luật nầy đã được tiên tri Ê-dê-ki-ên công bố từ ngàn xưa: “Ai phạm tội, người ấy phải chết” (Ê-dê-ki-ên 18,20)

Quy luật nầy lại được thánh Phao-lô lặp lại trong thư Rôma: “Chỉ vì một người mà tội lỗi đã đột nhập trần gian và tội lỗi gây nên cái chết” (Rm 5, 12),

“Thật vậy, lương bổng mà tội lỗi trả cho người ta là cái chết” (Rm 6, 23)

và thư Galát: “Ai gieo giống nào thì sẽ gặt giống ấy. Ai theo tính xác thịt mà gieo điều xấu thì sẽ gặt được hậu quả của tính xác thịt là sự hư nát” (Galat 6,7)

Quy luật nầy cũng được thánh Giacôbê nhắc lại: “dục vọng sinh ra tội lỗi; còn khi đã phạm tội thì sinh ra cái chết” (Gia-cô-bê 1, 15)

Tiếc thay, mọi người trên cõi đời nầy, từ tổ tông loài người là Ađam-Evà cho đến hết thảy con cháu sau nầy đều sa ngã phạm tội và chiếu theo luật thì đều phải chết.

Vốn là Đấng rất nhân lành và giàu lòng yêu thương, Thiên Chúa không thể chịu nổi khi loài người là con chí ái của Người đều lần lượt kẻ trước người sau sa vào cõi trầm luân không lối thoát!

Nhưng nếu con người phạm tội mà Thiên Chúa vẫn cứ tha bổng cho họ, để họ khỏi chết, thì như thế, Thiên Chúa lại phá bỏ quy luật mà Người đã ban hành.

Vậy làm sao cứu con người đã phạm tội thoát chết, mà vẫn tôn trọng quy luật đã ban hành? Chỉ có cách là phải có người chết thay cho họ mà thôi.

Biện pháp chết thay

Để thực hiện kế hoạch nầy, Ngôi Hai Thiên Chúa tình nguyện xuống thế làm người, trở thành “Anh Cả của mọi người”, trở thành vị Đại Diện xứng đáng nhất cho loài người. Người trở nên “Chiên Thiên Chúa đến gánh tội trần gian”(Ga 1,29), mang lấy tội lỗi nhân loại nơi thân mình Người. Những ai tin vào Chúa Ki-tô thì Người sẽ gánh lấy tội lỗi cho họ.

Thế là Đức Giê-su Ki-tô là “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người.” (2 Co 5, 21)

Và một khi Chúa Ki-tô gánh lấy tội lỗi vô vàn của chúng ta, Người trở thành con người mang đầy tội lỗi, nên Người phải chịu những cực hình hết sức đau thương cho cân xứng với tội lỗi lớn lao mà Người đã mang vào thân.

Và thế rồi, quy luật “ai có tội thì phải chết” cũng phải được thể hiện nơi Chúa Giê-su. Người phải bị hành hình và xử tử vì tội lỗi chúng ta:

“Tội lỗi của chúng ta,
Chính Người đã mang vào thân thể
Mà đưa lên cây thập giá
Để một khi đã chết đối với tội,
Chúng ta sống cuộc đời công chính.
Vì Người phải mang những vết thương
Mà anh em đã được chữa lành.”
(1 Pr 2,21-24)

Thế là vì quá yêu thương loài người, Chúa Cha đã để cho Con Một Người mang lấy tội lỗi của họ, chịu đòn vọt, chịu khổ nạn vì họ, để nhờ đó, muôn người được cứu sống.

Lạy Thiên Chúa Ngôi Hai ngàn trùng cao cả,

Chúa đã lấy Đời Chúa để đổi lấy cuộc đời chúng con. Chúa đã hy sinh Mạng Sống Chúa để cứu lấy mạng sống hèn hạ của chúng con.

Xin cho chúng con biết dâng hiến mạng sống mỏng giòn của mình để đáp đền Mạng Sống cao siêu của Chúa; xin cho chúng con biết lấy tình thương nhỏ bé của mình để đáp trả Tình Thương vô bờ Chúa dành cho chúng con.

[Mục Lục]

Bài 3. NHỮNG ĐAU KHỔ TRIỀN MIÊN CỦA CHÚA GIÊSU
Linh mục GIUSE ĐINH QUANG THỊNH

Ai mang kiếp người cũng phải đương đầu với ba thù : xác thịt, thế gian, ma quỷ. Đức Giêsu cũng phải trải qua những đau khổ này, nhưng không hề phạm tội (x Dt 4,15 : Bài đọc II ). Bài ca thứ tư về người tôi tớ Giavê diễn tả đời phục vụ của Đức Giêsu: “Ngài bị người đời khinh dể ruồng rẫy, đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật. Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không muốn nhìn, nhưng sự thật Ngài mang lấy bệnh tật của nhân loại, gánh chịu những đau khổ của chúng ta, thế mà chúng ta lại tưởng Ngài bị Thiên Chúa phạt cách nhục nhã ê chề. Bị ngược đãi, Người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca ; như chiên bị đem đi làm thịt chẳng hề mở miệng. Người bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh, Người bị chôn cất giữa bọn gian ác” (Is 52,13-15 – 53,1-10a : Bài đọc I).

Thực vậy Đức Giêsu bị “ba thù” tấn công :

A. ĐỐI THỦ SATAN. Chúng chỉ quấy rầy Đức Giêsu trong chốc lát bằng ba câu “nếu” :

C Nếu ông là Con Thiên Chúa thì hãy truyền cho viên đá này thành bánh ?

C Nếu ông quỳ xuống lạy tôi, tôi sẽ cho ông hết thảy các nước thiên hạ, uy quyền và vinh quang của các nước ấy ?

C Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy gieo mình xuống từ trên thượng đỉnh Đền Thờ, Chúa sẽ ra lệnh cho các Thiên thần bay đến gìn giữ ông ?

Như thế, satan chỉ nêu lên những tình huống để dò ý Đức Giêsu thế nào, chứ thực tế chúng chưa dám đụng đến Ngài, vì lần tấn công nào của chúng, Ngài cũng xô nhào chúng một cách dễ dàng chỉ bằng một Lời Kinh Thánh (x Lc 4,1-12).

B. ĐỐI THỦ THẾ GIAN,là những kẻ không muốn đón nhận chân lý. Đan cử tổng trấn Philatô sợ mất ghế ngồi béo bở (x Ga 19) ; các đầu mục Do Thái : hàng tư tế, Luật sĩ và Biệt phái thì tự mãn vào việc giữ Luật Môsê, luôn đòi mọi người phải kính trọng họ, nên khi thấy Đức Giêsu được nhiều người ủng hộ, tán dương, khiến cho các đầu mục Do Thái sợ dân bỏ họ mà theo Đức Giêsu, nên phải tìm mọi mưu kế giết Ngài (x Ga 7,45.48-49) ; dân chúng thì chỉ đòi Đức Giêsu làm phép lạ đáp ứng nhu cầu thân xác họ, yêu sách này không được đáp ứng là họ phỉ báng Ngài và bỏ ra đi hết thảy (x Ga 6,22t) ; hoặc đòi phép lạ để thử thách nhằm hạ nhục Ngài (x Mt 27,39-44). Đây là loại người tạo nên “dịp thuận lợi cho Satan” (x Lc 4,13) hợp tác để tấn công Đức Giêsu trong suốt đời phục vụ của Ngài, cao điểm là ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, chúng đóng đinh Ngài trên thập giá chết cách nhục nhã ! Nhưng chỉ sau ba ngày Ngài “ngủ” trong mồ (x Mc 5,39 ; Ga 11,11), rồi chỗi dậy đánh gục thần chết tiến vào vinh quang của Chúa Cha (x Mt 20,19). Một trong những kẻ hung bạo trong bọn này là viên sĩ quan Roma thi hành bản án tử trên Ngài, cuối cùng ông phải đấm ngực hối hận mà thốt lên : “Ông này đích thực là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39), để ai nhờ nghe lời ấy mà tin vào Đức Giêsu, thì Ngài cho họ được sự sống đời đời (x Ga 17,3).

C. ĐỐI THỦ LÀ XÁC THỊT ĐỨC GIÊSU. Thánh Phaolô nói : “Vị Thượng Tế (Đức Giê-su) của chúng ta đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta. Bởi thế khi còn sống trong kiếp phàm nhân, Đức Giê-su đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lên lời khẩn nguyện nài xin Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết.Người đã được nhận lời, vì có lòng tôn kính. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ, mới học được thế nào là vâng phục, để biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Ngài không hề phạm tội” (Dt 4,14-16 ; 5,7-8 : Bài đọc II). Nhất là trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh :

– Đôi chân Ngài đi cứu giúp những người đau khổ, bàn tay Ngài dang ra để thi ân, giờ đây chúng trả nghĩa bằng những chiếc đinh nhọn dưới nhát búa hằn học đóng xuyên thâu ghim chặt vào cây gỗ .

– Khối óc Ngài để suy gẫm Lời Chúa Cha ban, hầu mở miệng rao giảng cho muôn dân, giờ đây chúng lấy vòng gai ấn vào đầu ghim thấu óc, hết suy nghĩ ;

– Miệng Ngài bị vả sưng phù, hết nói năng.

– Trái tim Ngài để yêu, chúng ngoáy nát!

Chỉ còn có linh hồn Ngài không ai cướp được, Ngài thưa : “Lạy Cha, Con phó linh hồn Con trong tay Cha” (Lc 23,46 : Đáp ca).

Nói tắt : Mọi khả năng phục vụ của Đức Giêsu bị tước đoạt, cũng như mọi cơ năng để biểu lộ tình yêu lại được đáp trả bằng hận thù, nhưng “khi chính bản thân Đức Giêsu đã tới mức thập toàn, Người đã trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (Dt 5, 9: Bài đọc II).

Ngày nay không ít người Công Giáo tự hào là các chi thể trong Thân Mình Mầu Nhiệm Chúa Giêsu Phục Sinh, thế mà vẫn tiếp tục gây đau khổ cho Ngài. Bởi vậy Chúa Giêsu Phục Sinh dù đã sống lại vinh hiển, nhưng tay chân và cạnh sườn Ngài vẫn còn mang thương tích (x Ga 20, 26a), và xem ra các vết tử thương này càng ngày càng mở rộng, vì những người đã được tháp vào Thân Thể Ngài không sống giáo lý Ngài dạy. Đứng đầu là các giáo sĩ, thứ đến là giáo dân.

I/ CÁC GIÁO SĨ GÂY ĐAU KHỔ CHO ĐỨC GIÊSU

Nguyên nhân gây đau khổ nhiều nhất cho Đức Giêsu là người ta tranh nhau quyền bính. Thậm chí cả đến các môn đệ Đức Giêsu đã được Thầy dầy công giáo dục, mà ông nào cũng nuôi tham vọng tranh ghế nhất nhì trong “Nước của Thầy” khi Thầy thành công trong sự nghiệp Cách mạng theo như các ông nghĩ. Thực ra ai cũng mơ ước mình được thành đạt trong cuộc sống để có địa vị trong xã hội, bản chất nó là tốt. Bởi đó thánh Phaolô nói : “Ai cầu mong được chức giám sự, người ấy mong ước việc tốt lành” (1Tm 3,1). Nhưng tranh quyền đòi ăn trên ngồi trước, dùng quyền thống trị người anh em, để thủ lợi cá nhân, thì vô cùng độc ác.

Đức Giêsu rất muốn cho các môn đệ được quyền cao chức cả như Ngài, thì phải thực hiện hai điều Ngài dạy :

1- Phải kết hợp với Chúa Giêsu Phục Sinh, nhất là hiệp thông với Ngài qua Bí tích Thánh Thể. Thực vậy, khi các môn đệ tranh nhau địa vị, thì Ngài hỏi các ông : “Chúng con có uống được chén của Thầy không ?” Các ông đáp : “Thưa được”. Đức Giêsu bảo : “Chén của Thầy, các người sẽ uống ; còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Cha Thầy đã chuẩn bị cho ai, thì kẻ ấy mới được” (x Mt 20,22-23).

Các ông quả quyết “uống được chén” của Thầy vì theo Thầy mà phải “nằm gai nếm mật” thì cũng cam. Vì khi Thầy thành công trong sự nghiệp, chắc chắn sự gian khổ các ông đã chịu sẽ được đền bù xứng đáng. Nhưng Đức Giêsu thì lại muốn các ông uống chén của Ngài, nghĩa là : Hiệp thông với Ngài qua mầu nhiệm Thánh Thể. Như Ngài đã nói với các ông trong lúc Ngài lập Bí tích này : “Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy” (1Cr 11,25). “Uống chén của Thầy” là hiệp dâng lễ với Chúa Giêsu để được đồng hóa với Ngài, đã là người cao cả nhất trong Nước Thiên Chúa. Đó là cách Chúa Cha đã chuẩn bị cho những ai “uống chén của Thầy” (x Dt 2,6-11 ; Mt 20,23). Vì thế mà Đức Giêsu đã so sánh ông Gioan Bt với kẻ nhỏ là người sống kết hợp với Ngài : “Quả thật, Ta bảo các ngươi, trong những kẻ sinh bởi người nữ chưa một người nào cao trọng hơn ông Gioan Tẩy Giả đã chỗi dậy ; nhưng kẻ nhỏ trong Nước Trời lại lớn hơn ông” (Mt 11,11).Ta lưu ý thuật ngữ “kẻ nhỏ” hay “trẻ nhỏ” hoặc “con thơ bé” trong Tân Ước chỉ riêng về người được Chúa Kitô cứu độ (x Ga 13,33; Mt 10,42; Mt 11,25;18,6 ; Lc 12,32 ; 1Ga 2,1.12.14.18.28). Và nhờ được kết hợp với Đức Giêsu, chúng ta mới có khả năng phục vụ đồng loại “nhờ Ngài, với Ngài, trong Ngài mà tôn vinh Thiên Chúa” (x Rm 11,36). Đây là chân lý trong thánh lễ chủ tế long trọng tuyên bố trước khi cho mọi người rước Lễ, để việc phục vụ trong Chúa Giêsu mới là việc bác ái, việc của Thiên Chúa, có giá trị tồn tại vĩnh cửu, tích trữ vào kho Quê Trời, để hưởng dùng vào thời cánh chung. Đối với những kẻ phục vụ mà không nhờ, không với, không trong Chúa Giêsu, thì việc ấy chỉ là nhân bản, không phải là Đức Ái, nên chắc chắn sẽ tan biến thành tro bụi (x Cv 5,38-39).

2- Thứ đến muốn làm lớn, người ta còn phải phục vụ đồng loại với tinh thần như Đức Giêsu, Ngài dạy : “Anh em biết: thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,25-28). Đây cũng là “chén đắng” mà Đức Giêsu trong bản tính nhân loại Ngài run sợ đến toát mồ hôi máu nếu phải uống(x Lc 22,41-44). Nhưng “vì chúng ta, Đức Kitô đã tự hạ, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu, trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu” (Tung Hô Tin Mừng).

Ngoài ra, các chủ chăn muốn trở nên người tôi trung phục vụ Chúa và đồng loại, còn phải đóng góp của cải, ưu tiên cho việc Nước Thiên Chúa, vượt trên việc bổn phận. bởi thế Đức Giêsu bảo ông Phêrô, thủ lãnh Hội Thánh “hãy thả câu xuống biển bắt được cá thì móc hai quan tiền trong miệng nó để nộp thuế vào Đền Thờ, phần Thầy trước, phần con sau”, mặc dù Đức Giêsu đã giải thích : Ngài là Vua, là Chủ Đền Thờ, môn đệ là con cái trong Nhà, thì không phải nộp thuế, nhưng để khỏi gây cớ vấp phạm cho người khác, Thầy trò vẫn sẵn sàng nộp thuế đền thờ (x Mt 17,24t). Chính vì thế mà Giáo Lý mới của Rôma số 2043, Đức Giáo Hoàng Phaolô II công bố năm 1992 đã thêm vào điều răn thứ 5 của Hội Thánh: “ Các tín hữu có bổn phận đóng góp cho các nhu cầu vật chất của Hội Thánh, mỗi người tùy theo khả năng của mình”

Ta cứ suy gẫm trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, có hai người nói về Đức Giêsu :

– “Này là Người” (Ga 19,5). Đây là lời của tổng trấn Philatô sau khi đã cho đánh nát thân Đức Giêsu, rồi ông dẫn Ngài ra đứng trước dân, chỉ vào Ngài nói như thế. Như vậy, Đức Giê-su phục vụ nhu cầu mọi người đến nát thân, Ngài mới làm trọn người có nhân bản : Đúng là Người!

– “Ông này thật là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39).Đây là lời tuyên xưng Đức Tin của vị sĩ quan Roma ngoại giáo, khi ông nhìn Đức Giêsu bị đâm, nước và máu từ tim dốc xuống khơi nguồn ơn cứu độ loài người. Như vậy, khi phục vụ đồng loại phải nhắm làm cho mọi người đạt ơn cứu độ, ta mới xứng danh là con Thiên Chúa.

Bất cứ ai phục vụ trong Chúa Giêsu như thế mới là người cao cả để được hiệp dâng Thánh Lễ với Ngài. Vì “Ngài trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (Dt 5,9b : Bài đọc II).

II/ NHỮNG GIÁO DÂN GÂY ĐAU KHỔ CHO ĐỨC GIÊSU

1. Không muốn nghe Lời Chúa : Phúc Âm thánh Marco 3,20-21 ghi lại: Đức Giêsu đang mải mê tiếp đón và đáp ứng nhu cầu của đoàn lũ dân chúng kéo đến chật nhà Ngài đang ngồi giảng dạy. Thậm chí Ngài không còn thời giờ để nghỉ ngơi ăn uống ! Đúng lý ra, những người thân tộc của Ngài phải lấy làm hãnh diện được thơm lây. Thế mà họ lại đến lôi Ngài đi không cho giảng cũng như không để cho Ngài phục vụ ai. Họ nói với mọi người : “Ông này mất trí rồi !”

Thái độ hỗn láo với Đức Giêsu như thế, ngày nay nhiều giáo dân đang thể hiện, không muốn hàng giáo sĩ hết lòng giảng dạy cặn kẻ để hiểu thấu đáo Lời Chúa, họ chỉ muốn giảng càng vắn càng tốt. Do đó họ dễ dàng kết án “điên” đối với những người giảng nhiều điều giống Chúa Giêsu (x Mc 6,34). Khác hẳn thời Giáo Hội sơ khai: các tín hữu rất quảng đại đối với việc nghe Lời Chúa, họ bỏ việc, bỏ ăn, bỏ ngủ đi nghe Đức Giêsu giảng suốt ba ngày! (x Mt 15,32). Thậm chí người ta nghe ông Phaolô giảng quá lâu, làm anh Êutykhô từ lầu ba vì buồn ngủ nhào đầu xuống đất chết, thế mà các tín hữu vẫn phải ngồi nghe ông Phao-lô giảng cho đến sáng (x Cv 20,7t).

2- Không thiết tha dự tiệc Thánh Thể : Trong đời Đức Giêsu, Ngài giảng một bài quan trọng nhất về Bí tích Thánh Thể, nhưng bị mọi người chê bai : “Ông này ăn nói sống sượng quá, ai mà nghe được”, thế là họ lũ lượt kéo nhau đi hết, trong đó có nhiều môn đệ đã từng theo Đức Giê-su cũng rút lui (x Ga 6,60-66).

Giáo huấn Công Đồng Vat.II dạy : “Một Giáo phận được tập trung trong Chúa Thánh Thần nhờ rao giảng Phúc Âm và cử hành Thánh Thể” (xem Sắc Lệnh Về Nhiệm Vụ Mục Vụ Của Các Giám Mục Trong Địa Phận số 11).

Ngày nay nhiều người ồ ạt kéo nhau đến phong trào Lòng Thương Xót Chúa hay đến với Canh Tân Đặc Sủng mục đích chỉ vì xin ơn, nhất là xin lành bệnh, chứ có mấy ai thiết tha khao khát đến dự Thánh Lễ mỗi ngày. Nếu chỉ nhận ra lòng Chúa thương xót khi thấy nhiều người anh em được ơn lạ chữa lành, để tin vào Chúa Giêsu, thì loại người này vẫn không được Ngài tín nhiệm, như thánh Gioan ghi nhận : “Trong thời Đức Giêsu ở tại Giêrusalem vào dịp lễ Vượt Qua, trong đám người chầu Lễ, đã có lắm kẻ tin vào danh Ngài, bởi được chứng kiến các dấu lạ Ngài làm. NHƯNG ĐỨC GIÊSU KHÔNG TÍN NHIỆM VÀO HỌ, vì Ngài biết họ hết thảy” (Ga 2,23-24).

THUỘC LÒNG

Đức Giêsu nói : “Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18,8).

[Mục Lục]

Bài 4. VINH QUANG THẬP GIÁ
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Thứ Sáu Tuần Thánh đối với chúng ta là một ngày thánh thiêng, một ngày chay trọng thể, để kính nhớ cuộc thương khó của Chúa Giêsu, chúng ta chay kiêng cho tới tối Vọng Phục sinh và sau đó chúng ta vui mừng, mừng Chúa sống lại.

Thứ Sáu Tuần Thánh, Hội Thánh đề cao vinh quang thập giá hơn là những đau khổ, những tủi nhục, những tang thương của sự thương khó. Hội Thánh kính nhớ cuộc thương khó của Chúa Giêsu và sự sống lại của Ngài. “Đức Kitô phải chịu thương khó đã để vào trong vinh quang” (Lc 24, 26). Thập giá và vinh quang đan quyện lấy nhau. Chúng ta chỉ có thể đón nhận mầu nhiệm Thập Giá và Vinh quang sống lại khải hoàn qua đức tin của chúng ta.

Hôm nay, thật sự ngày Thứ Sáu Tuần Thánh không còn là một ngày ảm đạm sầu đau, nhưng ngày Chúa chịu chết lại là một ngày thật tốt đẹp, ngày cao cả bởi vì Chúa Giêsu đã hoàn tất công trình cứu độ của Ngài : “Khi nào Ta được giương lên cao, đã sẽ kéo mọi người lên cùng Ta”. Đây là cao điểm cuộc đời hiến dâng của Chúa cứu thế. Chúa Giêsu chết trên giá, cái chết của Ngài không phải là sự tang tóc theo kiểu suy nghĩ của người đời, Ngài chết theo ý Chúa Cha, Ngài chết để cứu độ con người, cứu chuộc loài người. Cái chết của Ngài có mục đích, có ý nghĩa thẳm sâu. Chúa chết vì yêu thương con người bởi nơi Thập giá chứa chan ơn cứu chuộc. Chúa chết thay cho tất cả mọi người, Ngài vô tội nhưng đã gánh tội lỗi cho chúng ta để cứu rỗi chúng ta. Ngài biết chúng ta cần Ngài, nhưng Ngài yêu thương chúng ta trước, cứu chuộc chúng ta trước khi chúng ta biết mình được hạnh phúc ấy.

Đồi Canvê là nơi Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Tuy nhiên, chẳng khi nào chung ta hiểu thấu ý nghĩa cao sâu của việc Chúa hy sinh chết trên Thập giá, chẳng bao giờ chúng ta hiểu thấu tình thương vô biên của Chúa đối với chúng ta. Cuộc hành trình đức tin vẫn kéo dài. Cuộc lữ hành trần thế vẫn có những thử thách, những mong manh, những đau khổ, con người vẫn có nhièu lỗi phạm, chúng ta vẫn phản nghịch cùng Chúa và vẫn thích làm theo ý chúng ta. Chúa không muốn để chúng ta phải chết tuy chúng ta thật đáng tội chết. Chúa đã chết cho chúng ta được sống và sống dồi dào, sống tự do như Ngài đã nói : “Ta đến cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10, 10).

Do đó, chúng ta phải bỏ con người cũ để mặc lấy Đức Kitô. Từ bỏ tội lỗi, từ bỏ đời sống xấu xa để chúng ta được đẹp lòng Chúa. Chúng ta cũng phải thương yêu người đồng loại và đem Chúa cho họ.

Thứ Sáu Thánh, chúng ta hãy nhìn lên Thập giá Chúa Giêsu : “Đây là cây thánh giá. Nơi đã treo Đấng cứu độ trần gian”. Chúng ta hãy tự suy nghĩ và hồi tâm bởi đâu Chúa chịu chết như vậy ? Phải chăng do tội lỗi con người, do tội lỗi chúng ta mà Chúa chịu đau khổ và chịu chết thảm sầu trên thánh giá ? Chúng ta hãy thực lòng ăn năn thống hối để xin Chúa thứ tha và chúc lành.

Lạy Chúa, vì yêu thương chúng con vô ngần, Chúa đã vui lòng cho con một Chúa đổ máu đào trên thập giá để hoàn thành mầu nhiệm Vượt Qua, đem lại ơn cứu độ cho loài người. Giờ đây, xin Chúa nhớ lại tình thương ấy mà thánh hóa và che chở đoàn con luôn mãi. Amen (Lời nguyện đầu ngày Thứ Sáu Thánh).

[Mục Lục]

Bài 5. TÔN KÍNH THÁNH GIÁ
Lm Carôlô Hồ Bạc Xái

Tôn kính Thánh Giá, Tưởng niệm Ðức Giêsu chịu chết

(Mt 4,17)

Nghi thức Chiều Thứ Sáu Tuần Thánh không phải là Thánh lễ mà chỉ là một lễ nghi phụng vụ tôn kính Thánh giá Chúa Giêsu và tưởng niệm việc Ngài chịu chết.

I. Lời Chúa

1. Bài đọc I: Is 52,13 – 53,12

Ðây là bài ca thứ tư về Người Tôi Tớ trong sách Isaia, bài tiêu biểu nhất trong 4 bài. Có 3 ý lớn:

– Người Tôi Tớ ấy phải chịu rất nhiều đau khổ về cả thể xác lẫn tinh thần.
– Nhưng bản thân Người Tôi Tớ thì vô tội. Sở dĩ Người chịu khổ như thế là vì tội của người khác.

– Vì thế những đau khổ của Người đem lại ơn tha thứ và ơn cứu rỗi cho nhiều người khác.

2. Ðáp ca: Tv 30

Ðây là lời cầu nguyện của tín hữu trong lúc bị đau khổ. Người tín hữu bày tỏ niềm trông cậy vào Thiên Chúa và phó thác đời mình trong tay Chúa.

Trong lúc tắt hơi, Chúa Giêsu đã cầu nguyện bằng một câu của Tv này “Con xin phó linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).

3. Bài đọc II: Dt 4,14-16–5,7-9

Tác giả thư Do thái coi Chúa Giêsu chịu nạn chịu chết là Vị Thượng Tế tự nguyện chịu khổ để mang ơn cứu độ cho nhân loại.

4. Bài Thương khó theo Thánh Gioan: Ga 18-19

Những ý tưởng mà Thánh Gioan muốn nhấn mạnh đặc biệt trong bài tường thuật này:

a/ Chúa Giêsu là người tự do: Ngài biết trước mọi việc sắp xảy đến, nhưng Ngài không trốn tránh, trái lại hoàn toàn ý thức và tự nguyện đi vào những biến cố bi thảm đó. Như thế cuộc chịu nạn chịu chết của Ngài là một chuỗi những hành đông tự do.

b/ Chúa Giêsu là Vua: trong vụ án này, bề ngoài xem ra Chúa Giêsu là tội nhân, là bị cáo. Nhưng Gioan đã nhận ra Ngài là Vua, là kẻ chủ động và là quan tòa.

c/ Qua việc chịu chết, Chúa Giêsu tuôn đổ Thánh Thần xuống cho các môn đệ.

II. Gợi ý giảng

1. Những lời cuối cùng

Có thể căn cứ vào những lời nói cuối cùng của một người sắp chết mà biết được người đó như thế nào, bởi vì trước khi chết người ta chỉ nói những gì mình tha thiết nhất, chỉ nói những lời xuất phát từ tận đáy lòng. Nếu đúng như vậy, chúng ta hãy tìm hiểu những lời cuối cùng của Ðức Giêsu trước lúc tắt hơi trên Thập Giá, chúng ta sẽ hiểu rõ con người của Ðức Giêsu hơn.

Triết gia Sénèque nói về tâm lý của những người bị xử tử như sau: thường là họ chửi rủa: chửi rủa những kẻ đang giết mình, chửi rũa những kẻ đứng xem, có người còn nguyền rủa thân phận xấu số của mình, nguyền rủa ngày mình sinh ra, nguyền rủa chính người mẹ đã sinh ra mình. Bởi thế, như văn hào Cicéron cho biết thêm, trong những cuộc xử tử ở đế quốc Lamã, khi thấy tên tử tội nào hung dữ, người ta cắt lưỡi hắn trước, để khỏi phải nghe tiếng chửi rủa. Và trong cuộc xử tử chiều thứ sáu tuần thánh ấy, chúng ta cũng đã thấy có một tên trộm bị đóng đinh chung với Ðức Giêsu đã chửi rủa lung tung, chửi cả Ðức Giêsu là người chẳng thù oán gì với hắn.

Chiều hôm đó, có lẽ mọi người cũng đang chờ nghe những lời chửi rủa của Ðức Giêsu: những tên lý hình chờ, vì họ là những người đang trực tiếp hành hình Ngài: các Tư tế và biệt phái chờ, vì họ là những kẻ đầu xỏ vận động kết án xử tử Ngài; dân chúng đứng phía dưới thập giá chờ vì họ đoán rằng Ngài rất tức giận họ bởi họ đã từng chịu ơn rất nhiều của Ngài mà bây giờ quay ra chống lại Ngài. Tất cả mọi người đều chờ, họ sẵn sàng nghe chửi rủa. Họ tin chắc rằng cái tên Giêsu ấy, cái người đã từng rao giảng rằng: Hãy thương yêu kẻ thù… Hãy làm ơn cho kẻ ghen ghét mình” giờ đây sắp nói khùng, sẽ quên hết những giáo huấn Tin mừng kia mà thay vào đó bằng những lời chửi rủa thậm tệ.

Thế nhưng khi Ðức Giêsu lên tiếng, thì ai nấy đều ngạc nhiên sửng sờ. Không phải những lời chửi rủa, mà là những câu dịu dàng. Câu thứ nhất “Lạy Cha, xin Cha tha cho họ“; câu thứ hai “Tôi hứa thật với anh, ngay hôm nay anh sẽ được lên nơi vui vẻ cùng tôi“; và câu thứ ba “Thưa Bà này là con Bà“.

Ngoài giọng điệu dịu dàng và nội dung chan chứa yêu thương của những câu nói đó, chúng ta hãy còn chú ý đến thứ tự của chúng: câu thứ nhất “Lạy Cha…” là nói đến những kẻ thù ghét Ngài; câu thứ hai “Ngay hôm nay…” là nói với người tội lỗi, tên trộm bên cạnh Ngài; câu thứ ba “Thưa Bà…” là nói với Ðức Mẹ, một người thánh thiện. Nghĩa là: cho đến phút sắp chết, tình thương của Ðức Giêsu vẫn bao la, và còn bao la hơn bao giờ hết. Tình thương đó dành cho ai? Trước hết là cho kẻ thù, kế đến cho người tội lỗi, và thứ ba là cho kẻ thánh thiện. Con người là Ðức Giêsu là như thế là do căn cứ vào những lời nói cuối cùng của Ngài trước lúc chết.

1. Hôm nay chúng ta đã thấy Ðức Giêsu trong khi chết đã tỏ lòng yêu thương trước nhất không phải là đối với Mẹ Ngài, cũng không phải là đối với các môn đệ của Ngài, mà là những kẻ thù ghét Ngài. Vậy chúng ta hãy cố gắng noi gương Chúa. Hãy tha thứ cho nhau và hãy sống hoà thuận lại với nhau.

2. Hạng người thứ hai được Ðức Giêsu yêu thương nhớ đến trong lúc hấp hối là những người tội lỗi. Chúa không bao giờ ghét người tội lỗi, không bao giờ ruồng bỏ người tội lỗi, nhưng Chúa rất thương người tội lỗi. Nếu biết rằng chính chúng ta là những người tội lỗi thì chúng ta phải cảm động biết bao. Và nếu có ai đó khi nào ngã lòng vì cho rằng tội mình quá nặng hay tội mình quá nhiều, thì người ấy hãy nhớ lại tấm lòng của Ðức Giêsu trong những phút giây trước khi Ngài chết.

3. Còn nếu chúng ta cho rằng mình thánh thiện, hoặc có thiện chí muốn trở thành thánh thiện, thì chúng ta hãy cố gắng bắt chước gương thánh thiện của Chúa chúng ta, là hãy hết lòng yêu thương những kẻ thù ghét mình và cũng hết lòng yêu thương những người tội lỗi.

2. Tâm trạng của Baraba

Bài tường thuật cuộc thụ nạn của Ðức Giêsu tuy đã dài mà vẫn chưa đủ, vì chưa mô tả tâm trạng của những người tham dự vào cuộc xử án Ðức Giêsu. Và bây giờ chúng ta hãy đi vào tâm trạng của một trong những người đó, Baraba.

Sáng Thứ Sáu, Baraba đang ngồi trong từ thì cửa tù mở ra, viên cai ngục bước vào gọi Baraba đi ra. Baraba giật mình sợ hãi vì tin chắc người ta sẽ dẫn mình đi xử tử. Hắn là một tên cướp của giết người mà tử hình là điều chắc. Nhưng người ta không dẫn hắn ra pháp trường, mà lại đến dinh Philatô, ở đó đã có sẵn một người tù khác đang bị trói, thân thể tả tơi vì bị tra tấn. Philatô ra lệnh đưa cả hai ra trước công chúng và hỏi: Trong hai người này: Một là Giêsu, hai là Baraba, các người muốn ta tha ai? Baraba cảm thấy nhẹ nhỏm; thì ra người ta dẫn hắn đi không phải để giết mà để hỏi ý dân có muốn tha cho hắn không? Tuy nhiên chỉ nhẹ nhỏm trong phút chốc thôi, Baraba lại lo sợ: thế nào dân chúng cũng đòi tha người kia đồng thời đòi giết hắn: tội hắn quá rõ và quá lớn mà. Thế nhưng Baraba không tin vào tai mình khi nghe dân gào ta: Hãy tha cho Baraba và đóng đinh Giêsu. Ðến khi Philatô hỏi lại lần thứ hai và dân chúng lại kêu gào lần thư hai y như lần trước thì Baraba mới tin đó là sự thật. Người ta mở trói hắn và dẫn Giêsu đi. Hắn bước xuống đi về phía đám dân, tưởng rằng người ta sẽ chào đón hoan hô hắn, vì người ta đã thương hắn và xin tha cho hắn mà. Nhưng lạ thay chẳng ai còn quan tâm tới hắn nữa, người ta vẫn còn mãi mê gào thét đòi giết Giêsu. Khi đó hắn hiểu ra mình không phải dân chúng yêu thương gì hắn, mà chỉ vì dân chúng đang thù ghét Giêsu. Baraba đi theo đám đông áp tải Giêsu đi đến pháp trường. Giêsu là ai vậy? Chắc là một tên tội phạm còn hung ác hơn hắn nhiều nên mới bị thù ghét như vậy. Khi người ta đã đóng đinh Giêsu xong trên lên thập giá, hắn mới có dịp nhìn kỹ khuôn mặt của người đã chết thay cho mình: chẳng có gì là hung ác, chẳng một lời nguyền rủa những kẻ hành hạ mình. Hai bên Giêsu, Baraba nhận ra mặt của hai tên đã từng ở tù chung với hắn. Tương truyền tên của hai người này Dicma và Ghetta. Ghetta thì luôn mồm chửi rủa, chửi lý hình, chửi dân chúng và chửi luôn Giêsu. Nhưng Giêsu cũng vẫn im lặng. Còn Ðicma thì nói với đồng nghiệp: Mình bị như vậy là đáng tội rồi, còn ông này có làm chi nên tội đâu. Baraba hiểu thêm ý chi tiết nữa: Giêsu là người vô tội bị kết ách oan. Ðicma lại quay sang Giêsu và nói: Thưa Ngài, khi Ngài lên trời, xin cho tôi được đi theo. Và Giêsu đáp: Tôi hứa với anh ngay hôm nay anh sẽ lên thiên đường với tôi. Vậy nghĩa là Giêsu lại cứu thêm một người nữa, không phải chỉ một mình Baraba mà cả tên Ðicma đầu trộm đuôi cướp kia. Baraba còn đang suy nghĩ về lòng nhân ái của Giêsu thì nghe Giêsu kêu lớn: Lạy Cha, xin Cha tha cho họ. Baraba lại càng ngạc nhiên hơn nữa: Giêsu chẳng những cứu hắn, cứu Ðicma, mà còn muốn cứu tất cả những người đã lớn tiếng gào thét giết Ngài. Rồi Giêsu lại kêu lớn: Lạy Cha, con xin phó linh hồn con trong tay Cha. Và Ngài gục đầu tắt thở. Bấy giờ tên đại đội trưởng lên tiếng: Ðúng thật người này là Con Thiên Chúa. Baraba thầm nghĩ: Ðúng vậy, chỉ có Con Thiên Chúa mới có được một tấm lòng như vậy. Baraba rời đồi Golgotha, vừa đi vừa tiếp tục suy nghĩ. Tương truyền rằng kể từ đó Baraba hoán cải, không còn trộm cướp nữa mà trở nên một người lương thiện.

Chúng ta có thể đoán rằng, trong dòng suy tư của mình, Baraba đã suy nghĩ rất nhiều về Luật:

– Trước hết là luật công bình: theo luật này thì cả hắn, cả Ðicma và Ghetta nữa đều phải bị xử tử vì cả 3 đều là những tên cướp của giết người. Nhưng hôm nay luật này đã không được thực hiện.

– Kế đến là luật rừng, luật bị thúc đẩy bởi lòng thù ghét muốn loại bỏ người mình không ưa. Ðức Giêsu đã bị xử tử vì thứ luật rừng.

– Nhưng khám phá lớn nhất của Baraba là luật tình thương. Luật Giêsu đã thực hiện: do luật tình thương này mà Ðức Giêsu cam lòng chịu chết nhưng cũng nhờ luật này mà Baraba được thả, Ðicma được lên thiên đường và những kẻ thù của Ðức Giêsu được tha thứ. Luật tình thương này đã mở mắt mở lòng viên đại đội trưởng và hoán cải tâm hồn Baraba.

Tối thứ Năm trước khi bước vào cuộc thụ nạn, Ðức Giêsu đã nói với các môn đệ “Thầy ban cho chúng con một điều luật mới, là chúng con hãy thương yêu nhau. Không có tình thương nào cao cả cho bằng tình của người dám thí mạng sống vì người mình thương. Và Ðức Giêsu là người đầu tiên thực hiện điều luật đó. Không nên sống theo luật rừng, không chỉ bằng lòng sống theo luật công bình, mà người môn đệ Chúa còn phải biết sống theo luật tình thương.

Chúng ta là môn đệ của Ðức Giêsu. Chúng ta phải noi gương Ngài sống luật tình thương.

III. Kinh Lạy Cha

Trong những giây phút đau đớn nhất và buồn phiền nhất, Chúa Giêsu đã hướng về Chúa Cha và tha thiết cầu nguyện với Ngài. Chúng ta hãy kết hợp tâm tình với Chúa Giêsu và cầu nguyện với Chúa Cha bằng lời kinh do chính Ngài dạy.

VI. Giải tán

(Dùng “Lời nguyện trên dân chúng” trong Sách Lễ Rôma)

[Mục Lục]

Bài 6. VÌ YÊU, NGƯỜI ĐÃ CHẾT CHO CHÚNG TA ĐƯỢC SỐNG
Dom. Lê Đức Thiện op

“Ngài vẫn yêu thương và yêu thương đến cùng” (Ga 13,1)

Trong cuộc sống của con người, không ai có thể sống mà không yêu, và cũng chẳng có niềm vui nào, hạnh phúc nào sánh được với niềm vui, niềm hạnh phúc vì được yêu. Tuy nhiên, dù niềm vui nơi tình yêu là tuyệt đối duy nhất, nhưng nó lại không thể không có khổ đau. Vì yêu chính là chết đi với mình, là khước từ sống trong mình, cho mình và nhờ mình, nhưng là sống cho người mình yêu và sống nhờ người mình yêu. Đó là sự đón nhận và cho đi. Vì vậy, có thể nói rằng : sống, là yêu, mà tận cùng của tình yêu cũng chính là chết đi cho người mình yêu.

Đó chính là điều mà Đức Giêsu đã dạy chúng ta : “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13) ; và đó cũng là điều mà Đức Giêsu đã thực hiện khi Ngài gánh chịu mọi khổ đau để rồi chết trên cây thập giá hầu ban ơn cứu độ cho chúng ta. Đó là một hành trình của tình yêu, mà Đức Giêsu, qua cuộc thương khó của mình, Ngài dẫn đưa chúng ta tiến tới sự sống và hạnh phúc muôn đời.

Thật vậy, khi chấp nhận mang lấy những khổ đau và nhục nhã của cái chết nơi thập giá, Đức Giêsu đã trở nên như hạt lúa phải mục nát đi để, từ đó, sự sống mới phát sinh, như Thánh Phaolô nói : “Đức Giê-su Ki-tô, vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,6-8). Điều này có nghĩa là : Đức Giêsu Kitô, khi tự hạ làm nô lệ, khi tự để mình bị trói buộc trong cuộc khổ nạn và từ bỏ chính mạng sống của mình, chính lúc ấy, Ngài đã thể hiện một tình yêu vẹn toàn, một tình yêu đi đến tận cùng của tình yêu, là cái chết. Nhờ đó, sự sống đời đời xuất hiện cho chúng ta. Đó chính là con đường nối kết giữa sự chết và sự sống : chấp nhận khổ đau và chết vì yêu thương sẽ mở ra con đường dẫn đến sự sống muôn đời.

Tự bản chất, đau khổ không mang một giá trị nào, nhưng Đức Giêsu đã chỉ ra cho chúng ta thấy rằng : chính tình yêu sẽ mang đến cho đau khổ một ý nghĩa, một giá trị cứu độ. Bởi vì yêu thương chúng ta mà Đức Giêsu đã chấp nhận đau khổ để chúng ta được hạnh phúc, chấp nhận cả cái chết để chúng ta được sống. Ngài đã ban cho cuộc sống của chúng ta một ý nghĩa, một niềm hy vọng. Chính từ trái tim bị đâm thâu của Ngài mà ân sủng được ban tặng và ơn cứu độ đến với chúng ta.

Nhìn lên thập giá, chúng ta được mời gọi hãy chết đi cho tội lỗi, và sống lại trong ân sủng ; hãy vượt qua mọi dụcvọng đam mê và điều khiển lý trí của mình theo như ý Chúa, như Thánh Phaolô đã nêu gương cho chúng ta : “Tôi chịu đóng đinh vào thập giá với Chúa Kitô, nên tôi sống nhưng không còn phải là tôi, mà là Chúa Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).

Lạy Chúa Giêsu, xin hãy dạy chúng con trở thành những người môn đệ chân chính của Chúa, biết quên đi cái tôi của mình và ngày càng liên kết với mầu nhiệm chết và sống lại của Chúa hơn, để chúng con cũng biết yêu thương như Chúa đã yêu, mà trước hết là biết yêu thương và hy sinh cho cha mẹ, anh chị em, bạn bè,… và sau đó là xa hơn nữa, cho cả những người ghét và làm hại chúng con nữa như khi xưa Chúa đã dạy chúng con : “Còn Thầy, Thầy bảo anh em : hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5,44).

[Mục Lục]

Bài 7. CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ
Văn Phi, OP

Chuyện kể rằng: có một tâm hồn đạo đức nọ, một hôm đến xin Chúa cho mình đổi cây thập giá mà Chúa đã trao cho anh vì anh không thích và cho rằng nó không hợp với mình. Chúa đồng ý và đưa người đó đến nơi có đủ loại thập giá để chọn. Nhìn bên phải thấy có cây thập giá ngắn gọn, người ấy vội vàng cầm lên để vác thử. Nhìn sang trái, tâm hồn đạo đức đó lại thấy một cây thập giá có vẻ dễ vác hơn vì thân nó tròn và bóng, không có các cạnh vuông. Người đạo đức mỉm cười và nghĩ mình sẽ chọn cây thập giá tròn kia để vác cho êm vai hơn. Nhưng khi đặt nó lên vai thì cảm thấy khó vác, vì nó trơn trượt nên cứ tuột ra ngoài, vác đi rất bất tiện.

Thế là người đạo đức nọ xin đổi cây thập giá khác. Lần này kỹ càng hơn, người đạo đức này rảo mắt nhìn qua tất cả các cây thập giá được trưng bày và thấy một cây thập giá bỏ trong góc phòng. Có lẽ nó đã bị bỏ rơi lâu rồi vì không được ai vác. Đặt thập giá này lên vai, người đạo đức cảm thấy nhẹ nhàng, tiện lợi và dễ vác hơn. Cuối cùng, tâm hồn đạo đức này đã quyết định vác lấy cây thập giá đó. Chúa mỉm cười và nói: “Con hãy nhìn kỹ coi, cây thập giá này Cha đã xếp đặt cho con vác ngay từ đầu mà con đã than phiền muốn đổi cây thập giá khác”.

Bạn thân mến, nhìn vào thái độ của người đạo đức trong câu chuyện vui kể trên, chúng ta thấy rằng: Nếu cứ bận tâm mãi với cây thập giá phải vác thì có lẽ chúng ta sẽ phải so sánh lựa chọn thay đổi mãi.

Kinh nghiệm thực tế cho chúng ta hiểu rằng, giả như có hai người cùng thực hiện một công việc giống nhau. Một người làm vì coi đó là trách nhiệm và bổn phận phải làm; còn người kia thì làm việc với cả nhiệt tâm và lòng yêu mến thì người thứ hai sẽ hạnh phúc hơn người thứ nhất và hẳn rằng tình yêu sẽ làm cho gánh nặng vơi bớt.

Cũng thế, chúng ta cần xác tín rằng: Trọng tâm của đời sống Ki-tô hữu không phải là “thập giá” mà là “tình yêu”, là tương quan tình yêu của người môn đệ với Chúa Giêsu Ki-tô – Thầy của mình. Tình yêu đó sẽ làm cho cây thập giá nhẹ đi, vừa sức vác mỗi người.

Qua câu chuyện trên, chúng ta có thể thấy rằng: Chúa Giêsu muốn nhắc cho người môn đệ hiểu được giá trị cao quý của tình yêu đối với Ngài. Tình yêu ấy cao quý khi người môn đệ biết đặt Chúa vào chỗ đứng thứ nhất trong cuộc đời mình. Hay nói một cách khác: Ai muốn trở nên người môn đệ đích thực của Chúa thì phải yêu mến Chúa nhiều hơn, nhiều hơn mọi thứ tình yêu khác, hơn cả thứ tình yêu nhân bản phải có như tình yêu đối với cha mẹ, anh chị em thân thuộc của mình.

Bạn thân mến, kinh nghiệm thiêng liêng cho chúng ta thấy rằng: nếu chúng ta yêu mến Chúa hơn hết mọi sự, hơn hết mọi người thì trong chính tình yêu cao độ đó, chúng ta có thể chu toàn giới răn yêu thương đối với anh chị em xung quanh. Đó là kinh nghiệm của những vị thánh. Các thánh là những người yêu mến Chúa nhiều hơn, yêu mến Chúa nhất, yêu mến Chúa trên hết mọi sự và trên hết mọi người. Đồng thời, các thánh cũng là những người yêu thương phục vụ mọi người cách thiết thực nhất.

Lời Chúa còn cho chúng ta một cái nhìn thiết thực hơn về tình yêu Chúa, không phải tình yêu trừu tượng trên môi miệng hay thứ tình cảm hời hợt thoáng qua. Nhưng tình yêu thiết thực đối với Chúa cần được thể hiện qua những việc làm cụ thể: chấp nhận thập giá, chấp nhận những đau khổ thập giá, chấp nhận bị khinh dể, bị chà đạp như một tử tội, phải chịu tử hình, vác chính thập giá của mình đến nơi bị hành quyết… Vác thập giá như thế là sẵn sàng chịu mất mạng sống mình.

Chúng ta chịu mang án tử không phải như một tội nhân bởi vì chúng ta không làm điều chi sai quấy. Chúng ta sẵn sàng chịu thử thách, chịu đau khổ nhục nhã, chịu hy sinh thiệt thòi… và chịu mất mạng sống mình chỉ vì tình yêu Chúa mà thôi.

Được như vậy, chúng ta mới được đồng hóa như Chúa, giống như Chúa – Người là Đấng vô tội chỉ biết yêu thương, nhưng bị ghét bỏ và bị đóng đinh trên Thập giá. Chỉ có như thế, chúng ta mới phản ánh dung mạo của Chúa Ki-tô trong môi trường chúng ta đang sống. Lúc đó, chúng ta thực hiện được điều Chúa nói: “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy.” Mt 10,40. Danh dự này là một danh dự đòi hỏi người môn đệ phải yêu mến Chúa trên hết mọi sự. Chính vì tình yêu Chúa mà người môn đệ vui lòng vác lấy thập giá và sẵn sàng hy sinh cả tính mạng mình.

Chúng ta cần nhớ rằng, mọi hy sinh vì tình yêu Chúa đều trở nên hữu ích cho những ai tin cậy nơi Ngài. Đức Giêsu đã khẳng định: “Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy” Mc 8, 35.

Lạy Chúa Giêsu, con xin cảm tạ Chúa vì Chúa lại ban cho con được hưởng thêm một mùa Chay thánh nữa. Nhìn lại bao tháng ngày đã qua, con thấy mình còn nhiều bất xứng với tình yêu Chúa. Biết bao lần, con đã đoan hứa sẽ trở về và sống với Chúa luôn mãi cho trọn tình con thảo. Thế nhưng, những đam mê, yếu đuối… đã làm con lãng quên tình Chúa. Chúa đã phải cô đơn, tủi buồn vì sự vô ân bội nghĩa của con.

Chúa ơi, con thành tâm xin lỗi Chúa vì con đã để Chúa phải chờ đợi quá lâu! Giờ đây con thành tâm thống hối. Xin Chúa giúp con có đủ quyết tâm và nghị lực để trở về cùng Ngài.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã dạy chúng con: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” Mt 26,24. Xin Chúa hãy biến đổi con nên giống Chúa hơn và luôn sẵn sàng vác lấy thập giá mình mỗi ngày mà theo Chúa cho đến cùng. Amen.

[Mục Lục]

Thu7jpgTHỨ BẢY TUẦN THÁNH

Bài 1. NGÀY THÁNH
Lm Giuse Trần Việt Hùng

Các nghi lễ của chiều Thứ Sáu Tuần Thánh khép lại. Mọi người ra về trong thinh lặng. Giữ lòng chay tịnh và kiêng thịt để tiếp tục tưởng niệm sự đau khổ và sự chết của Chúa Giêsu Kitô. Sự vắng lặng bao trùm khuôn viên thánh đường thật linh thiêng. Nhà thờ trống vắng như mồ đá. Không có nhang đèn, hoa lá hay khăn phủ. Với khí hậu lành lạnh vắng tanh tạo nên bầu khí thanh lặng và sầu não. Mọi người đã chứng kiến tận mắt mọi hình khổ của Chúa Giêsu. Thân xác nào chịu cho nổi những lằn roi quất vào người, nhịn đói vác thánh giá lên núi sọ, bị qụy ngã và yếu sức. Người ta đã lột áo, xô ngửa trên thập giá và đóng đinh chân tay vào thánh giá. Quân lính dựng thánh giá lên và có một tên đã lấy đòng đâm cạnh nương long của Chúa. Thế là máu cùng nước chảy ra. Chúa gục đầu trút hơi thở. Con Thiên Chúa đã hiến mình chịu chết. Ngài đã chết thật và đã được mai táng trong mồ đá. Ngày ấy, tâm tư của Đức Maria, các Tông đồ và những người bà con lối xóm thân cận có lẽ buồn nhiều. Họ đều trở về nhà vì hôm sau là ngày Sabát.

Các thân hữu trong gia đình đã hạ xác, tắm rửa, xức dầu thơm và mai táng Chúa trong mồ. Ai trong chúng ta cũng từng có những kinh nghiệm khi phải xa cách và vĩnh biệt người thân. Chết là bước sang một thế giới khác mà không ai có kinh nghiệm. Mọi thành viên trong gia đình thân tộc cùng gắn bó và chia xẻ nỗi đau. Mẹ Maria đã xa cách người con duy nhất. Mẹ ẵm xác lạnh của con. Mẹ nuốt vào tâm dòng nước mắt đau thương. Mẹ không phiền trách, không to tiếng nhưng âm thầm lãnh nhận như một hiến lễ dâng lên Thiên Chúa Cha. Có lẽ hôm nay là ngày vắng lặng nhất trong đời sống của mẹ Maria. Sự vắng lặng linh thiêng trong niềm mong chờ hy vọng. Mẹ đã luôn sống trong niềm tin yêu và phó thác. Riêng các tông đồ thì mỗi người một hoàn cảnh. Có vị thì buồn rầu chán nản chuẩn bị bỏ về quê. Có vị thì bồn chồn lo sợ và đau buồn. Có vị rơi vào bước hẫng lặng thinh. Dù trong tâm trạng nào, các tông đồ vẫn vây quanh Đức Maria để an ủi và được sự ủi an. Mẹ Maria như cột trụ dẫn đàng cho các tông đồ trong thời điểm thương đau nhất.

Dân chúng ai về nhà nấy. Phần đông dân chúng thờ ơ như những khách bàng quan. Có lẽ nhiều người trong họ cũng đã từng chứng kiến những cảnh tử hình đóng đinh trên cây như thế. Họ không quan tâm phân biệt đúng sai hay phải trái, nhưng cứ hùa theo dư luận của đám đông để lên án và kết án. Trách nhiệm trao lại cho nhà cầm quyền và các vị lãnh đạo tôn giáo. Không biết có được mấy người cảm thông, chia sẻ và nhận ra sự thật của cuộc hành quyết trên đồi Calvê. Phúc âm ghi lại sau khi Chúa Giêsu trút hơi thở thì một viên sĩ quan ca tụng: Ông này qủa thật là người công chính (Lc 23, 47). Thế rồi mọi người từ các quan chức chính quyền, các tử tế, luật sĩ và biệt phái cùng đoàn dân trở về nhà. Họ nghĩ thế là mọi truyện đã hoàn tất. Các nhà lãnh đạo đã yên tâm diệt trừ được một người luôn làm cho họ cảm thấy chướng tai gai mắt. Có lẽ các nhà lãnh đạo rất hả hê khi đã giết Chúa.

Ngày Sabát, mọi người tiếp tục nghỉ ngơi và dành thời giờ cầu kinh, hát Thánh Vịnh và dâng tiến lễ vật mừng lễ Vượt Qua. Đền thờ vẫn nhộn nhịp, kẻ ra người vào và kẻ buôn người bán. Các khách thập phương đua chen về đền thờ dự lễ để chu toàn bổn phận của người tín đồ. Trong dịp Lễ Vượt Qua này, Chúa Giêsu đã chịu chết và an táng trong mồ đá lạnh. Cửa mồ khép kín bằng tảng đá. Chúa của vũ trụ đang an nghỉ. Giao Ước cũ đã kết thúc. Chương trình lịch sử cứu độ đã tới thời viên mãn. Chúa Giêsu đã hoàn tất mọi lời các tiên tri đã loan báo về Ngài. Ngài đã kinh qua mọi khổ đau của người Tôi Trung được diễn tả trong sách tiên tri Isaia. Giao Ước mới đã được ký kết bằng chính máu của Con Chúa để cho nhiều người được ơn tha tội. Một kỷ nguyên mới đang hé mở. Ngày Sabát đạo cũ sắp qua và ngày thứ nhất trong tuần ló dạng, Chúa Giêsu đã vượt qua sự chết để bước vào sự sống mới.

Quyền lực thế gian tìm chiến thắng người công chính bằng cách tiêu diệt và hạ bệ. Nhiều tổ chức chính trị xã hội nghĩ rằng họ có thể dùng bạo lực để che lấp và chôn vùi sự công chính. Trong thế giới hôm nay cũng còn lập lại cách hành xử bạo loạn bất công như xưa. Lấy quyền lực và vũ khí áp chế dân lành. Dùng thủ đoạn để tiêu diệt những người dám lên tiếng cho công lý. Lạm dụng tự do ngôn luận để bề hội đồng những cá nhân hay tổ chức không cùng quan điểm hay đi trái lề. Có nhiều bạo quyền tiếp tay đàn áp và tước đọat những quyền lợi căn bản của con người. Có những chủ trương tha hóa và vong thân dẫn dắt con dân đi vào ngõ cụt. Những người thấp cổ bé miệng chịu thiệt thòi trong mọi lãnh vực. Cuộc sống đạo đức xã hội bị xói mòn bởi những chủ trương luân lý tương đối (relativism) và dễ dãi thả trôi theo dòng. Đối với nhiều người, các lý tưởng cao đẹp của cuộc sống chỉ còn để ngưỡng mộ, chứ không phải để sống.

Niềm hy vọng cuộc sống tươi đẹp hình như dần bị thu hẹp. Khi con người không còn muốn gieo những hạt giống tốt, thì mong chi có hoa quả an vui hạnh phúc. Nguyên lý nhân qủa vẫn có đó: Gieo gió thì gặt bão. Nhân nào qủa đó. Ác giả ác báo. Đôi khi chúng ta cảm thấy cuộc đời có qúa nhiều khổ ải và khốn khó. Phần lớn những khốn khổ cuộc đời là do chính chúng ta tạo nên. Chúng ta nên tìm cách hóa giải những uẩn khúc cuộc đời để mong sao có được sự an bình đích thực. Hãy gieo hạt giống tốt vào tâm địa mình. Tâm địa chính là mảnh đất của tâm hồn. Cùng gieo hạt giống của sự yêu thương, tha thứ, quảng đại, khiêm nhu, từ ái và chân tình. Vì khi gieo hạt giống nào, chúng ta sẽ được gặt hoa qủa đó.

Chúa Giêsu đã tung gieo hạt giống tin mừng khắp nơi. Nhiều hạt giống đã rơi vào vùng đất tốt để sinh hoa kết trái. Bất cứ hạt giống tốt nào cũng cần phải được vun tưới, chăm sóc và bảo vệ mới có thể sinh hoa kết qủa. Bất cứ hạt giống nào muốn nẩy mầm sinh trái cũng cần phải trải qua sự tiêu hủy: Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác (Ga 12, 24). Chúa Giêsu bước qua sự chết để vào cõi sống. Chúa Cha đã trao ban cho nhân loại một hạt giống tinh tuyền ẩn chứa một sự sống vĩnh cửu. Hạt giống đã được gieo vào lòng đất qua sự chết và đã sống lại phát sinh nhiều hoa trái.

Chúa Giêsu đã hiến thân mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người. Chúa đã dâng hiến với tình yêu vô điều kiện, yêu chỉ vì yêu: Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình (Ga 15, 13). Chúng ta không thể thấu hiểu tình yêu mà Chúa đã dành cho nhân loại. Tình yêu qúa cao vời và huyền diệu. Chúa đắp đổi hận thù bằng sự tha thứ. Chúa cúi đầu chấp nhận mọi sự xỉ vả và lăng nhục của con người. Chúa đứng lặng yên trước những cáo buộc gian dối và thách thức quyền hành. Chúa hiện diện đó như một người Tôi Tớ hiền lành và nhân từ. Qua thái độ khiêm hạ, Chúa đang thầm gieo những hạt giống tốt vào những mảnh hồn chai cứng để cải đổi đời sống con người.

Lạy Chúa, mầu nhiệm tình yêu của Chúa cao vượt trên mọi suy tưởng của con người. Chúa đã hạ thân làm người đem tin mừng cứu độ. Chúa đã mở cửa nước trời mời đón mọi người. Chúa đã chữa lành và tha thứ mọi tội lỗi của con người. Vậy mà chúng con cứ ngoảnh mặt làm ngơ và chối từ ơn Chúa. Lạy Chúa, xin tha thứ và xin thương xót chúng con.

[Mục Lục]

Bài 2. BÀI GIẢNG ĐÊM PHỤC SINH 2007
Gm. Bùi Văn Đọc

Đêm canh thức Phục Sinh, Giáo hội cho chúng ta nghe nhiều bài đọc Kinh Thánh, để dọn lòng chúng ta đón mừng Chúa Phục Sinh cách long trọng, hân hoan nhất. Chúng ta được nhìn lại tất cả lịch sử nhân loại, tất cả lịch sử cuộc đời chúng ta, dưới ánh sáng của Lời Chúa. Giáo hội như muốn cho chúng ta nghe cho rõ, thấy cho được Tình thương của Thiên Chúa đối với nhân loại và đối với mỗi một người chúng ta.
Chúng ta đi từ Sáng tạo, từ lúc bắt đầu lịch sử của vũ trụ, bắt đầu lịch sử cuộc đời chúng ta. Vũ trụ bao la cũng như mỗi một người chúng ta, đều không phải là do ngẫu nhiên mà có, nhưng là do Tình thương của Thiên Chúa mà có. Chúa muốn có mặt chúng ta ở đời này, nên cuộc đời của chúng ta có ý nghĩa, có giá trị trước mặt Chúa và trước mặt người khác. Chính vì thế không phải chúng ta muốn sống ra sao cũng được. Nhưng phải sống sao cho ra cái giống người, cho xứng đáng là hình ảnh của Thiên Chúa.

Giáo hội lại cho chúng ta nghe câu chuyện của ông Abraham hiến tế ông Isaác, như báo trước cho chúng ta hy tế thập giá của Chúa Giêsu. Ở đây tình thương của Thiên Chúa còn được nhấn mạnh nhiều hơn nữa. Thiên Chúa sẵn sàng hy sinh Con một của Người là Chúa Giêsu, để cho chúng ta nhờ Chúa Giêsu mà được tha tội. Chúng ta được mời gọi lắng nghe Chúa Giêsu, để hiểu được Tình thương của Thiên Chúa. Bước theo Chúa Giêsu, noi gương Chúa Giêsu, sống như người con thảo đối với Thiên Chúa, người anh em đối với mọi người.

Ông Môsê vâng nghe lời Thiên Chúa, giải thoát Dân Israel ra khỏi ách nô lệ của Dân Ai cập, là hình bóng của Chúa Giêsu là Môsê mới, vâng lời Thiên Chúa, dùng máu của mình để giải thoát nhân loại khỏi ách nô lệ thần dữ, nô lệ tội lỗi, những điều xấu, những điều ác mà con người làm ra. Chúng ta là những con người tự do, sinh ra để sống tự do, chứ không phải để làm nô lệ cho bất cứ ai, và nhất là không phải để làm nô lệ cho thần dữ, cho kẻ ác, cho dục vọng và những khuynh hướng xấu khống chế chúng ta.

Bài thư gởi tín hữu Rôma nhắc nhớ rằng chúng ta đã chịu phép rửa, đã được lãnh nhận hồng ân cứu độ. Con người cũ của chúng ta, con người do tội lỗi thống trị, đã bị huỷ diệt, bị chôn vùi, đã chết, thay vào đó có con người mới, đầy sự sống mới của Chúa Ktô Phục sinh. Chúa Kitô đã chiến thắng sự chết, Người không còn chết nữa, sự chết không làm chủ được Người nữa. Và số phận của chúng ta cũng vậy, ta sẽ được giống Chúa. Sự chết không còn làm chủ được ta nữa. Nếu ta có chết vì già, vì bệnh hay vì tai nạn đi nữa, mai ngày ta cũng sẽ được phục sinh với Chúa.

Trong bài Tin Mừng, thánh Luca tường thuật cho chúng ta câu chuyện ngôi mộ trống. Những người phụ nữ, sau khi đã chứng kiến cái chết của Chúa Giêsu, và đã cùng với một vài người đàn ông vội vã liệm xác Chúa, cho khỏi lỗi luật ngày Sabbat. Ngày thứ ba họ trở lại thăm xác Chúa, thì không thấy đâu nữa, nhưng chỉ thấy hai thiên thần hiện ra bảo rằng : Ngài không còn đây nữa, ngài đã trỗi dậy rồi, sao lại tìm Người Sống giữa kẻ chết.

Chúa đã sống lại rồi, chúng ta không đi tìm Chúa nơi mồ mã nữa. Người không thuộc về âm phủ, không ở trong âm phủ. Các thế lực của âm phủ không làm gì được Ngài. Ta hãy tìm Ngài nơi khác, và nơi khác đó không còn là ở đây hay ở kia, vì Ngài không còn bị ràng buộc bởi không gian nữa. Ngài đã sống lại, các ranh giới thời gian và không gian không kềm hãm được Ngài. Ngài đã về cùng Thiên Chúa, mà Thiên Chúa thì ở khắp mọi nơi, nên ta có thể gặp Ngài khắp mọi nơi trên đường đời của ta, miễn là ta tin Ngài đã sống lại và ao ước gặp gỡ Ngài.

Nhưng ta không gặp Ngài kiểu gặp người phàm nữa, vì dù đã sống lại trong thân xác, Ngài đã vượt qua kiếp phàm nhân. Ngài đã được Chúa Cha tôn vinh, Ngài ở trong vinh quang, ở trong Thần Khí. Cũng giống như Chúa Cha, Ngài là Tình thương và Chân lý. Đâu có Tình thương và chân lý, đó có Ngài.

Khi ta yêu thương, thì có Chúa trong tình yêu của ta, khi ta tha thứ, có Ngài trong sự tha thứ của ta, khi ta hy sinh, có Ngài trong sự hy sinh của ta. Khi ta cố gắng sống trong chân lý, sống thật thà, không lừa dối, trong chân lý có Ngài, trong sự ngay thật của ta có Ngài. Điều chắc chắn đêm nay là, nếu ta có lòng tin, ta sẽ gặp Chúa cách đặc biệt trong thánh lễ, vì Giáo hội cử hành thánh lễ là đón tiếp Chúa đến trong mầu nhiệm Tử nạn Phục sinh của Ngài.

[Mục Lục]

Bài 3. BA SUY NIỆM VỀ NGÀY THỨ BẢY TUẦN THÁNH của ĐTC. BENEDICT XVI

Trong mùa Phụng Vụ của Hội Thánh Công giáo, không có một ngày nào tĩnh lặng, ảm đạm, trống trải, nhuốm mầu hoang mang và ngao ngán bằng ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh, cho dù tiết trời độ này chỉ mới vừa vào xuân. Thế nhưng, vị đương kim Giáo Hoàng của chúng ta, Đức Bênêđictô XVI – từ khi còn là một nhà thần học – đã cống hiến cho chúng ta những suy nghĩ tuyệt vời phản ảnh não trạng của những con người thời đại, vốn ảnh hưởng và chi phối rất đậm đà ngay cả trái tim của những tín hữu trung kiên nhất, chính giữa lòng Hội Thánh. Phải, nhà thần học lỗi lạc ấy, Joseph Ratzinger, đã viết ba bài suy niệm về ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh, suy tư về sự vắng mặt của Thiên Chúa trong thế giới hôm nay. Đã bốn mươi năm qua, những dòng suy tư này, theo thiển ý, vẫn còn rất đúng. Chẳng thế mà, trong một buổi hỏi đáp với giới trẻ, Đức Giáo Hoàng (ĐGH) Bênêđictô XVI đã lập lại một trong những tư tưởng chính ngài đề cập đến trong ba bài suy niệm ấy: “Thách đố lớn của thời đại chúng ta là trào lưu tục hóa. Xã hội đang tạo ra cái ảo tưởng là Thiên Chúa không hiện hữu, hoặc giả nếu có, thì Ngài cũng chỉ luẩn quẩn trong cái vòng giới hạn riêng tư của mỗi người. Là Kitô hữu, chúng ta không thể nào chấp nhận thái độ này. Hơn bao giờ hết, Thiên Chúa cần phải hiện diện một cách mới mẻ trong cuộc đời chúng ta” (CWNews.com, ngày 7 tháng 4 năm 2006). Và mới đây nhất, Ngài tuyên bố rõ rằng: “Chỉ khi nào ta thưa ‘vâng’ với Chúa thì đời ta mới thật sự có ý nghĩa” (VIS, 5 tháng 4, 2009).

Trong tâm tình ấy, xin cống hiến bạn đọc bản phiên dịch ba bài suy niệm Thứ Bẩy Tuần Thánh.

Lời dẫn nhập của Lucio Brunelli

“Thứ Bẩy Tuần Thánh: ngày Thiên Chúa được mai táng; điều này chẳng áp dụng thật chính xác cho thời đại chúng ta hôm nay hay sao? Thế kỷ ta đang sống chẳng phải là đã khai mào cho một ngày thứ Bẩy Tuần Thánh, ngày Thiên Chúa vắng mặt đó sao? Đây là điều nhà thần học Joseph Ratzinger đã nêu lên trong bài suy niệm Phục Sinh năm 1969 trước khi ĐGH Phaolô VI đặt ngài làm Hồng Y, và trước khi ĐGH Gioan Phaolô II triệu ngài về Roma nắm chức vụ Tổng Trưởng Bộ Tín Lý. Ngài có một nhận định khá bi thảm về thời đại chúng ta. Nhưng đó cũng lại là một nhận định rất sáng suốt về nỗi hoang mang như đang phủ tràn lương tâm của người Kitô hữu hôm nay. “Hội Thánh, niềm tin, chẳng giống như chiếc thuyền mong manh sắp đắm chìm vì không cưỡng nổi những đợt sóng cả và những trận cuồng phong dập vùi, chính trong cái giờ khắc mà Thiên Chúa tưởng như đang vắng mặt đó sao?”

Nhiều năm trước đây, Đức Ông Luigi Giussani nhắc lại sự kiện ĐGH Phaolô VI bắt đầu phát động phong trào Hiệp Thông và Giải Phóng (HTGP), vào những năm cuối triều giáo hoàng của ngài, lý do là chính ngài và phong trào đều có cùng một nhận định về thảm trạng của Hội Thánh. Ngày 8 tháng 9 năm 1977, ngài nói với Jean Guitton rằng: “Hiện thời Hội Thánh như đang chìm lún vào một cơn khốn quẫn sâu xa, và vấn nạn lại chính là niềm tin. Tôi thấy như phải lập lại câu nói mang đầy nét u ám tối tăm của Chúa Giêsu được ghi lại trong Phúc Âm Luca: “Khi Con Người đến, liệu Ngài còn có thể tìm thấy niềm tin trên mặt đất này chăng?” (…). Rất có thể cái lối suy nghĩ phản Công giáo này mai mốt đây sẽ còn mạnh mẽ hơn nữa trong giới Công giáo. Thế nhưng lối suy nghĩ đó không bao giờ có thể đại diện cho suy tư của Hội Thánh được. Dù bé bỏng đến đâu, đoàn chiên nhỏ vẫn cần phải tồn tại.” Giussani kết luận thế này về nhận xét của ĐGH Phaolô VI: “Đây là tóm tắt suy tư của ĐGH về hiện tình và định mệnh của Hội Thánh. Đó chính là lý do ngài phát động phong trào HTGP.” Quả thực, khi ĐGH băng hà, niềm hy vọng của Giussani còn lại gì? “Có một người tiếp tục cảm nhận được cái thảm trạng đang bủa vây Hội Thánh. Nhân vật đó cảm nhận rằng phương dược duy nhất có thể chữa trị cho tình trạng này, chính là trở về với niềm tin vào đấng siêu nhiên như là yếu tố quyết định cho cuộc sống của Hội Thánh: đó là cuộc trở về với tính chân truyền của Truyền Thống” (xem Luigi Giussani, Un avvernimento di vita cioé una storia, II Sabato, 1993, từ trang 72).

Trong lòng Hội Thánh cũng thấy chớm nở một cảm nhận về sự gần gũi mang tính nhân loại khi ta khám phá ra nơi một ai khác cùng một nhận định về thời khắc lịch sử ta đang sống. Việc này xẩy đến khi chia sẻ những điều khơi gợi niềm đau đớn và những điều làm vươn lên mầm hy vọng. Đọc lại ba bài suy niệm của Ratzinger về Thứ Bẩy Tuần Thánh, ta sẽ lại tìm thấy cùng một nhận định về hiện trạng của niềm tin, và hôm nay hơn bao giờ hết, nó trở thành một cái gì rất hợp thời. Niềm tin phải bao quát cả tình trạng choáng váng của con người, nỗi hư vô đang gậm mòn trong chúng ta và qua chúng ta. Lúc nào cũng vẫn thế, nhưng càng đặc biệt áp dụng đúng cho ngày hôm nay. “Cô có biết sự vắng mặt nào lại mãnh liệt hơn sự có mặt không?” Đó là câu Bác sĩ Schweitzer hỏi cô y tá trong vở kịch của Gilbert Cesbron: ‘Nửa Đêm Rồi, Bác sĩ Schweitzer ơi’ (xem Luigi Giussani, At the Origin of the Christian Claim).
Ta sẽ đọc thấy trong bài suy niệm II: “Một nỗi ưu tư chợt đến, một thứ ưu tư chính hiệu vừa khai sinh trong cõi sâu của niềm cô đơn; không thể dùng lý trí mà xua tan nó được; chỉ sự có mặt của một ai đó hằng thương yêu ta mới trị được nó mà thôi.” Ta chỉ có thể nài xin và nhận ra sự có mặt này khi nó bừng sáng trước đôi mắt và trái tim ta. Khi nó được tỏ lộ như là những biến cố của ân sủng, nghĩa là, “của sự thánh thiện chân thực, ở đây và bây giờ, trên mặt đất này” (Lumen Gentium 48), thì nỗi kinh ngạc của con người mới được đánh động và niềm hoài mong của con người mới được no thỏa. Và rồi nhà thần học lừng danh Ratzinger đã kết luận bằng một lời kinh mộc mạc: “Xin ban cho chúng con một niềm tin khiêm tốn đơn sơ.”

Bài I: ƯU TƯ VỀ MỘT SỰ VẮNG MẶT

Càng ngày người ta càng nhấn mạnh rằng hôm nay Thiên Chúa đã chết rồi. Lần đầu tiên người ta nói thế, trong tác phẩm của Jean Paul, đó thật là một giấc mộng hãi hùng: Giêsu, kẻ đã chết, công bố với những người đã chết, từ trên thượng tầng thế giới rằng, khi du hành sang qua bên kia thế giới, ông chẳng thấy gì cả, không thiên đàng, không Thượng Đế từ nhân, chỉ có hư không biền biệt, và niềm im lặng của cõi hư vô trống rỗng. Đó vẫn còn là giấc mộng rùng rợn, bị xô đẩy sang một bên, tan biến dần khi trở giấc, đúng theo kiểu của mộng mơ, cho dù nỗi ưu tư nó mang đến sẽ chẳng bao giờ biến tan được, bởi vì lúc nào nó cũng nằm chờ đợi, đầy vẻ nham hiểm, ở sâu trong đáy lòng.

Một thế kỷ sau, trong tác phẩm của Nietzsche, điều đó lại trở thành một lối trịnh trọng đến chết người, được diễn đạt bằng một tiếng kêu, chất đầy kinh hãi: “Thượng Đế đã chết! Thượng Đế còn tiếp tục chết! Chính chúng ta đã giết Ngài!” Năm mươi năm sau, người ta luận bàn về điều này một cách phóng khoáng theo kiểu hàn lâm, và rồi người ta chuẩn bị cho một thứ “thần học đàng sau cái chết của Thượng Đế,” trong khi đưa mắt dáo dác dõi tìm nẻo đường đi tới. Người ta khích lệ nhau chuẩn bị cho việc thế chỗ cho Thượng Đế. Mầu nhiệm kinh hoàng của ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh, vực thẳm im lặng của nó, chính ngày hôm nay, đã thủ đắc được một thực tại tan nát. Bởi lẽ, hôm nay là Thứ Bẩy Tuần Thánh: ngày Thiên Chúa ẩn mình, ngày của cái nghịch lý chưa từng có mà ta đọc được trong Kinh Tin Kính với những lời như: “xuống ngục tổ tông,” đi sâu vào lòng mầu nhiệm sự chết. Trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, ta còn nhìn thấy hình hài kẻ bị đóng đinh. Nhưng sang đến ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh, hoàn toàn trống vắng, tảng đá che mồ đang phủ lấp người đã chết, tất cả đã chấm hết, niềm tin dường như đã dứt khoát bị lột mặt nạ trơ ra thành một thứ cuồng tín. Chẳng có vị Thiên Chúa nào cứu nổi ông Giêsu này dù với tư cách là Con Thiên Chúa. Chẳng còn phải lo lắng gì nữa: kẻ thận trọng đã có lúc do dự, đã băn khoăn tự hỏi xem liệu sự việc có thể khác đi được chăng, hay có thể xẩy ra đúng y như mình tưởng không. Thứ Bẩy Tuần Thánh: ngày Thiên Chúa được mai táng; đó không phải là ngày ta đang sống đây sao? Thế kỷ này chẳng phải đã đánh dấu sự khởi đầu của một ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh dài dằng dặc, ngày mà Thiên Chúa vắng mặt, và khi ngay cả tâm hồn các môn đệ cũng đắm chìm trong một hố thẳm cóng lạnh, càng ngày như càng khoét sâu thêm, để rồi khi trở về nhà, lòng các ông trĩu nặng niềm xấu hổ và ưu tư, tinh thần rã rời, trống rỗng và tuyệt vọng, lê bước trên đường về Emmaus, thật không ngờ kẻ mà mình tin rằng đã chết, nay lại đang hiện diện giữa các ông? “Thiên Chúa đã chết, và chúng ta đã giết Ngài”: có bao giờ ta ý thức rằng câu nói này đã được lấy ra, từng chữ một, từ trong truyền thống Kitô giáo, và trong khi đi đàng thánh gía, chúng ta cũng thường lặp lại câu nói ấy mà không hề nhận thức được hết cái sức nặng khủng khiếp của điều ta thốt lên? Ta đã giết Ngài, khi giam hãm Ngài trong cái vỏ rệu rã của lối nghĩ suy cũ kỹ sáo mòn, khi đầy ải Ngài vào một cõi hình thức xót thương rỗng tuếch, khiến Ngài bị mất hút trong cái vòng tròn của những lời lẽ đạo đức, hoặc của những thứ của cải cổ lỗ. Ta đã giết Ngài khi lối sống hàm hồ của ta buông phủ bức màn tăm tối che lấp đi hình ảnh của Ngài. Quả vậy, còn điều gì làm cho Thiên Chúa trở thành vấn đề trong thế giới hôm nay ngoài chính niềm tin và tình yêu của người tín hữu, vốn tự nó đã chất chứa đủ mọi thứ vấn đề?

Sự khuất bóng Thiên Chúa ngày hôm nay, trong thế kỷ này, đang dần trở thành một ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh dài dằng dặc. Sự khuất vắng này đang lên tiếng gọi mời lương tâm chúng ta. Nhưng dù sao chăng nữa, điều đó cũng an ủi ta phần nào. Cái chết của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô cùng một lúc biểu lộ tình Ngài triệt để liên đới với ta. Cùng một lúc, cái mầu nhiệm tăm tối nhất của đức tin lại cũng chính là dấu chỉ sáng chói nhất của một niềm hy vọng vô tận. Còn hơn thế nữa, chỉ qua cái thất bại của ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, chỉ qua niềm thinh lặng của nỗi chết trong ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh mà các môn đệ mới mở trí ra để thấu hiểu được chân tính của Chúa Giêsu và chân lý của sứ điệp Ngài. Thiên Chúa phải chết cho họ thì Ngài mới sống thực nơi họ. Cái hình ảnh không tốt đẹp mà họ có về Thiên Chúa phải bị xóa bỏ, ngõ hầu, qua đống hoang tàn của căn nhà đổ nát, họ có thể thấy được bầu trời cao xanh, và nhìn nhận Ngài vẫn mãi vĩ đại, cao cả vô biên. Ta cần đến niềm im lặng của Thiên Chúa để có thể cảm nghiệm lại được cái hố thẳm nơi vẻ cao cả của Ngài và cái vực sâu trong nỗi hư vô của ta, cái cõi thăm thẳm ấy sẽ cứ mãi ngoác to hơn và khoét sâu thêm, nếu không có Ngài.

Có một hoạt cảnh Tin Mừng lột tả hết sức kỳ diệu niềm thinh lặng của ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh, và do đó, một lần nữa, phản ảnh trung thực cái giai đoạn lịch sử mà ta đang sống. Chúa Kitô đang thiêm thiếp ngủ trên mạn thuyền, giữa cảnh phong ba bão táp. Ngôn sứ Êlia đã có lần diễu cợt các tư tế tôn thờ thần Ba-al khi họ gào thét khẩn cầu thần linh của họ cho lửa xuống thiêu đốt hy lễ. Ông khích bác họ nên hò hét dữ dội hơn, ngộ nhỡ vị thần của họ đang còn say ngủ. Thế nhưng, có đúng là Thiên Chúa không hề ngủ say chăng? Có phải lời diễu cợt của vị ngôn sứ đã chẳng rơi xuống trên đầu các tín hữu hằng tôn thờ Đức Chúa của Israel, là vị đang cùng ta ở trên một con thuyền sắp sửa đắm chìm? Thiên Chúa thì say ngủ trong khi các tín hữu của Ngài sắp sửa chết đuối? Đó chẳng phải là cái kinh nghiệm của cuộc đời ta đang sống hay sao? “Hội Thánh, niềm tin, chẳng giống như chiếc thuyền mong manh sắp đắm chìm vì không cưỡng nổi những đợt sóng cả và những trận cuồng phong dập vùi, chính trong cái giờ khắc mà Thiên Chúa tưởng như đang vắng mặt đó sao?” Các môn đệ đang kêu cứu đến tuyệt vọng. Họ vội đánh thức Ngài dậy. Thế nhưng Chúa lại tỏ vẻ ngạc nhiên và quở trách họ vì lòng tin yếu kém. Tình trạng này có hề khác với những gì đang xẩy đến cho ta chăng? Khi giông bão đã qua đi rồi, ta sẽ hiểu ngay rằng sự yếu tin đã khiến ta trở thành ngu muội biết bao nhiêu.

“Chúa ơi, làm sao chúng con có thể không đánh thức Chúa dậy được, bởi vì Chúa cứ mãi lặng im, cứ mãi ngủ say, còn chúng con thì không thể không kêu gào: thức dậy đi, Chúa ơi, Chúa không thấy chúng con sắp chìm xuồng sao? Xin Chúa chỗi dậy, đừng để bóng tối của ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh phủ tràn mãi mãi. Xin Chúa cho tia sáng của ngày Phục Sinh toả chiếu trên thời đại chúng con hôm nay. Xin Chúa đồng hành với chúng con đang hoang mang lầm lũi tiến về Emmaus, để cho tâm hồn chúng con bừng nóng lên trong sức ấm nồng tỏa ra từ sự hiện diện gần gũi của Chúa. Lậy Chúa, Chúa đã âm thầm ẩn mình, len lỏi bước đi trên những nẻo đường Do Thái, để trở thành một con người giữa lòng thế nhân, xin chớ để chúng con đắm chìm trong bóng tối; xin đừng để lời Ngài biến tan đi trong lúc chúng con đang phí phạm lời nói, đang tuôn ra những lời phù phiếm. Xin hãy giúp chúng con, bởi vì không có Chúa, chúng con sẽ chìm lỉm mất thôi. AMEN.

LỜI NGUYỆN

Lậy Chúa Giêsu Kitô, trong bóng tối của cái chết, Chúa đã chiếu tỏa một tia ánh sáng rạng ngời; trong vực thẳm nỗi cô đơn tuyệt cùng, tình yêu bao dung đầy quyền lực của Chúa nay sống mãi muôn đời; trong nỗi thống khổ của việc Chúa ẩn mình, giờ đây chúng con có thể cất tiếng hát lên bài Allêluia của những kẻ được cứu thoát. Xin ban cho chúng con lòng tin khiêm tốn đơn sơ, khiến chúng con không lạc bước khi Chúa gọi chúng con trong những giờ phút tăm tối, lúc chúng con thấy như bị bỏ rơi, và khi mọi sự đều chất ngất khó khăn; xin ban cho chúng con, khi đang chới với giữa một cuộc chiến sống còn, nhuốm mầu chết chóc, được nhìn thấy ánh sáng để không lạc mất Chúa; xin chiếu sáng chúng con để đến lượt mình, chúng con có thể dọi chiếu ánh sáng ấy đến cho những ai đang cần đến. Xin làm cho mầu nhiệm Niềm Vui Phục Sinh của Chúa bừng sáng lên như vầng hào quang của ánh bình minh, toả lan trên dòng đời chúng con đang sống; xin cho chúng con thực sự trở thành những con người của Phục Sinh ngay giữa ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh lịch sử. Xin ban cho chúng con, khi đang sống những chuỗi ngày thời đại tranh tối tranh sáng hôm nay, được luôn thấy mình mang những trái tim vui tươi bước đi trên đường hướng về vinh quang ngày mai của Chúa. AMEN.

Bài II: ƯU TƯ VỀ NỖI CHẾT

Việc Thiên Chúa ẩn mình trong thế giới đã tạo nên mầu nhiệm thực sự của ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh, cái mầu nhiệm đã thoát lộ qua những từ ngữ bí ẩn: Chúa Giêsu “xuống ngục tổ tông.” Cùng lúc ấy, kinh nghiệm thời đại đã hiến tặng cho ta một lối tiếp cận ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh hoàn toàn mới mẻ, giả định việc Thiên Chúa ẩn mình trong thế giới vốn thuộc về Ngài, và lẽ ra phải công bố danh thánh Ngài bằng muôn vàn ngôn ngữ, cái kinh nghiệm về nỗi bất lực của một vị Thiên Chúa toàn năng—chính đây là kinh nghiệm và nỗi khốn cùng của thời đại chúng ta.

Thế nhưng ngay cả khi Thứ Bẩy Tuần Thánh có lôi kéo chúng ta tiến sâu về phía chiều hướng đó, ngay cả khi ta thấu hiểu vị Thiên Chúa của ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh nhiều hơn là sự mạc khải đầy quyền năng của Thiên Chúa qua sấm chớp được Cựu Ước nói đến, thì có một câu hỏi vẫn chưa có câu trả lời—đó là giải thích ý nghĩa chân thực của dòng chữ nhiệm mầu: Chúa Giêsu “xuống ngục tổ tông.” Ta nên nhớ rõ rằng: chẳng ai thực sự có khả năng giải thích được câu nói trên. Tình trạng cũng chẳng khả quan gì hơn nếu bảo rằng “ngục tổ tông” chỉ là lối dịch tồi tệ từ ngữ “shê-ol” trong tiếng Do Thái, vốn chỉ có nghĩa là vương quốc của thần chết. Như thế, cái công thức ấy nguyên thủy chỉ có nghĩa là Chúa Giêsu đã bước xuống tận đáy thẳm của nỗi chết; Ngài đã chết thưc sự để chia sớt với ta cái hố thẳm định mệnh của sự chết. Thực ra, câu hỏi là thế này: chết thực sự có ý nghĩa gì? Cái gì sẽ thực sự xẩy ra khi ta bước xuống tận đáy thẳm của cái chết? Ta còn phải ghi nhận sự kiện là: sự chết đã không còn như trước nữa, nó đã khác đi kể từ ngày Chúa Kitô chịu chết, chấp nhận cái chết, và đi vào cõi chết. Y như sự sống cũng thế: nó không còn giống như trước đây nữa, kể từ khi Chúa Kitô đến với con người, lấy cuộc hiện hữu thần linh hòa nhập với hiện hữu con người. Trước đây, chết chỉ đơn thuần là chết, là cách biệt với cõi sống, cho dù ở những độ sâu khác nhau, một cái gì như thể là cõi địa ngục, khía cạnh tối đen của vùng bóng tối sinh động và bất khả thấu nhập. Thế nhưng, từ đây, chết cũng chính là sống, và khi ta bước qua ngưỡng cửa của sự chết, như một vùng hoang mạc giá băng, ta sẽ luôn gặp lại được đấng hiện thân cho sự sống; Ngài luôn ấp ủ ước muốn trở thành người bạn đường cùng đi với ta vào cõi cô đơn cuối cùng. Trong cuộc thống khổ nơi vườn Cây Dầu, giữa cảnh cô đơn tuyệt cùng nhuốm mầu tang tóc, khiến Chúa thảm thiết thốt lên lời này từ trên thánh giá: “Lậy Chúa, lậy Chúa Trời con, sao nỡ bỏ rơi con thế này?” Chúa Giêsu đã trở thành đấng thông chia nỗi cô đơn khổ sầu với ta. Vào một đêm tối, khi em nhỏ phải một mình băng qua một cánh rừng già, thì chắc hẳn em sẽ sợ hãi, cho dù ta có trấn an em cả trăm lần rằng không có gì phải sợ đâu. Thực ra, em không sợ một cái gì rõ rệt, nỗi sợ của em là nỗi sợ không tên, nhưng trong bóng đêm rợn rùng, em không khỏi cảm thấy bất an, cô độc, có cái gì đó nguy hiểm đang rình chờ đâu đây. Chỉ một giọng nói của một ai đó mới có thể an ủi em; chỉ có bàn tay của một người nào đó em yêu thương mới ngăn chận được nỗi ưu tư trĩu nặng như một cơn ác mộng. Một nỗi ưu tư chính hiệu vừa khai sinh từ đáy sâu của niềm cô đơn; không thể dùng lý trí mà xua tan đi được; chỉ sự có mặt của một ai đó hằng thương yêu ta mới trị được nó mà thôi. Nỗi ưu tư này thực ra là nỗi ưu tư không tên. Nó chính là biểu hiệu kinh khủng của niềm cô đơn tối hậu. Ai trong chúng ta chưa từng trải nghiệm cái cảm giác bị chối từ đầy hãi hùng này? Ai chưa hề nghe thấy phép lạ đầy ủi an và phúc lành xẩy ra trong những hoàn cảnh như thế xuất phát từ một câu nói ân cần? Thế nhưng, chính ở nơi nào phủ ngập cô đơn mà lại không thể nghe được những lời nói yêu thương có mãnh lực biến đổi, thì nơi đó chính là địa ngục rồi đấy. Trong thời đại chúng ta, không phải là có ít người, đầy vẻ lạc quan, nhưng lại chủ trương rằng cuộc gặp gỡ nào cũng đều hời hợt nông cạn hết thảy; họ cho rằng chẳng ai thấu đạt được cõi sâu thẳm chân thực của người khác, và do đó, ngay trong đáy sâu tột cùng của mọi hiện hữu đều thấy chực chờ một nỗi tuyệt vọng, một nền địa ngục. Jean Paul Sartre đã diễn tả tình trạng này một cách thi vị trong một vở kịch của ông và đồng thời cũng bộc lộ cái cốt lõi của lý thuyết ông có về con người. Có một điều chắc chắn sẽ xẩy ra: đó là sẽ có một đêm khi không một lời nói ủi an nào có thể thấu nhập vào sự chối từ tăm tối, để rồi một cánh cửa sẽ mở ra cho ta bước qua trong tuyệt cùng cô đơn: đó là cánh cửa của nỗi chết. Rốt cuộc, tất cả mọi ưu tư trên cõi đời này đều xuất phát từ nỗi cô đơn tuyệt cùng ấy. Chính vì thế mà trong Cựu Ước, từ ngữ ám chỉ vương quốc của thần chết cũng chính là từ ngữ ám chỉ địa ngục: shê-ol. Chết, thực ra, chính là niềm cô đơn tuyệt đối. Thế nhưng, nỗi cô đơn nào đã chìm quá sâu đến nỗi không một tia sáng tình yêu nào dọi thấu, thì đó chính là địa ngục vậy.

“Xuống ngục tổ tông”–lời thú nhận này của ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh có nghĩa là Chúa Kitô đã bước qua cánh cửa cô đơn, rồi Ngài đã đi xuống sâu, thật sâu đến độ thân phận cô đơn của ta không sao dò thấu, không sao tiến đến gần được. Thế nhưng đó cũng có nghĩa là, ngay trong khi bức màn đêm mù đặc khiến cho không lời nào thấu nhập vào được, và khi tất cả chúng ta đây chẳng khác gì lũ trẻ bị đuổi xua, nức nghẹn, thì bỗng vang lên một giọng nói, gọi đúng tên ta, một cánh tay vươn ra nắm lấy tay ta và dẫn ta đi. Niềm cô đơn bất khuất đã bị khuất phục ngay từ giây phút Ngài bước vào đó. Địa ngục đã bị đánh bại ngay từ khoảnh khắc tình yêu bước nhẹ vào cõi chết và vùng đất cô đơn hoang lạnh có Ngài cắm lều định cư. Tự đáy sâu thăm thẳm, con người không sống bằng cơm bánh. Trong chân tính hữu thể của mình, con người sống bằng sự kiện mình được thương yêu, và được trao cho khả năng yêu thương. Ngay từ cái khoảnh khắc có tình yêu hiện diện trong cõi chết, thì sự sống thấu nhập sự chết: “Sự sống các tín hữu Ngài không bị tước đoạt, lậy Chúa, mà được biến đổi,” đó là điều Hội Thánh cầu xin trong phụng vụ lễ an táng.

Rốt cuộc, chẳng ai có thể đo lường được tầm mức của những lời “xuống ngục tổ tông.” Thế nhưng khi nào đã gần đến giờ bước vào niềm cô đơn tuyệt cùng, chắc hẳn chúng ta sẽ được ban cho ơn hiểu biết một cách rõ ràng cái mầu nhiệm tăm tối này. Ta có thể tin chắc rằng khi đã đến giờ phút cô đơn tột cùng, ta sẽ không đơn độc, bởi vì ngay từ bây giờ, ta đã có thể mường tượng điều gì sẽ xẩy ra. Chính trong cơn thống khổ vì phải đối chọi với bóng tối sự chết của Chúa mà ta bắt đầu biết cảm tạ hồng ân vì đã nhìn thấy ánh sáng tỏa ra từ chính vùng tăm tối ấy.

Bài III: HƯỚNG VỀ ÁNH SÁNG PHỤC SINH

Trong Sách Nguyện Rôma, phụng vụ của Tam Nhật Thánh được sắp đặt một cách đặc biệt; qua những lời nguyện, Hội Thánh ước mong thông chuyển cho ta thực tại cuộc khổ nạn của Chúa, rồi xuyên qua và vượt qua các từ ngữ, ta đi đến cái cốt lõi thiêng liêng của những biến cố xẩy ra. Nếu muốn diễn tả bằng cách thâu tóm lại trong một vài từ ngữ các kinh nguyện phụng vụ của ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh, thì trước hết, ta phải nói đến hiệu năng của niềm bình an sâu xa toát ra từ đó. Chúa Kitô đã thấu nhập vào sự ẩn mình (Verborgenheit), nhưng trong cùng một lúc và tận ở cái cốt lõi của niềm tăm tối bất khả thấu nhập, Ngài đã đi sâu vào sự an toàn (Geborgenheit). Quả thế, Ngài đã trở thành niềm chắc chắn tối hậu. Thế là lời khích lệ của Vịnh gia đã trở thành sự thật: “Ngay cả khi con muốn lẩn trốn vào nơi địa ngục, thì Chúa cũng ở đó rồi.” Càng đi sâu vào trong phụng vụ, ta càng thấy nhiều thêm những tia sáng Phục Sinh chói lọi trong đó, y như vầng hào quang của ánh bình minh. Trong khi ngày Thứ Sáu Tuần Thánh mở ra trước mắt ta cái dung nhan méo mó của kẻ bị đóng đinh, thì phụng vụ ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh lại phản ảnh nhiều hơn cái bóng dáng cây thánh giá thật thân gần với Hội Thánh ngày xưa: bóng thánh giá phủ đầy ánh sáng, trong cùng một lúc, vừa là dấu chỉ của sự chết, vừa là chỉ dấu của sự phục sinh.

Vì thế, ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh nhắc nhở ta một khía cạnh của lòng thương xót Kitô giáo, có thể đã bị mai một với thời gian. Khi ngước lên thánh giá cầu nguyện, ta thường nhìn nó chỉ như một dấu chỉ cuộc khổ hình lịch sử của Chúa trên đồi Golgotha. Thế nhưng, nguồn gốc việc tôn sùng thánh giá đã đổi thay: ngày xưa, khi cầu nguyện, các tín hữu quay mặt về hướng Đông, vừa nói lên niềm hy vọng rằng Chúa Kitô, là mặt trời chân chính, sẽ mọc lên trên dòng lịch sử, vừa biểu lộ niềm tin vào ngày Chúa sẽ trở lại. Trước hết, thánh giá được trực tiếp gắn liền với ý hướng cầu nguyện này. Nó được biểu hiện như một tấm bích chương được giương lên khi vị hoàng đế giáng lâm; trong hình ảnh thánh giá, đội tiền phong của đoàn quân đã xuất hiện giữa lòng đám người đang cầu nguyện. Đối với các Kitô hữu ngày xưa, thánh gía vượt lên trên tất cả mọi dấu ấn hy vọng. Nó trỏ về một Đức Chúa sắp đến hơn là một Đức Chúa của quá khứ. Hẳn nhiên, với thời gian, ta không thể không cảm thấy nhu cầu nội tại ngoái nhìn về biến cố đã xẩy ra: điều thiết yếu là bảo vệ cái bản chất bao dung đến điên cuồng của tình Chúa yêu thương thế nhân khốn cùng, đến nỗi đã trở thành một phàm nhân, ôi phàm nhân tuyệt vời! Phải bảo vệ tình yêu Chúa chống lại những xu hướng trốn tránh điều linh thánh, chống lại mọi cái nhìn sai lạc về việc Thiên Chúa nhập thể. Phải bảo vệ tính ngu dại thánh thiện của tình Chúa yêu thương, Đấng đã cố ý không muốn biểu dương quyền lực, mà đã chọn con đường yếu nhược đến bất lực để đẩy những ước mơ quyền lực của ta lên cái giá treo cổ và đánh bại nó từ trong trứng nước.

Nhưng liệu như thế có phải là ta đang quên đi mối dây liên kết giữa thánh giá và niềm hy vọng, giữa quá khứ và tương lai trong Kitô giáo, và quên rằng hướng Đông và hướng thánh gía cũng chỉ là một mà thôi chăng?. Thần khí của hy vọng đang thổi làn hơi sinh động trong những lời nguyện của ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh phải một lần nữa thấu nhập vào toàn thể cuộc hiện hữu Kitô giáo của ta. Kitô giáo không chỉ là một tôn giáo của quá khứ, mà hơn hết, còn là tôn giáo của tương lai; niềm tin Kitô giáo cũng chính là niềm hy vọng, bởi vì Chúa Kitô không chỉ đã chết và đã sống lại, mà Ngài còn là đấng sẽ lại đến.

Lậy Chúa, xin dùng mầu nhiệm của niềm hy vọng này để soi sáng lòng trí chúng con hầu cho chúng con nhận ra dòng ánh sáng chiếu toả từ thánh giá Chúa. Xin ban cho các tín hữu Chúa đây biết mau bước hướng về tương lai, mong chờ cuộc gặp gỡ trong ngày Chúa lại đến. AMEN.

LỜI NGUYỆN

Lậy Chúa Giêsu Kitô, trong bóng tối của cái chết, Chúa đã chiếu tỏa một tia ánh sáng rạng ngời; trong vực thẳm nỗi cô đơn tuyệt cùng, tình yêu bao dung đầy quyền lực của Chúa nay sống mãi muôn đời; trong nỗi thống khổ của việc Chúa ẩn mình, giờ đây chúng con có thể cất tiếng hát lên bài Allêluia của những kẻ được cứu thoát. Xin ban cho chúng con lòng tin khiêm tốn đơn sơ, khiến chúng con không lạc bước khi Chúa gọi chúng con trong những giờ phút tăm tối, lúc chúng con thấy như bị bỏ rơi, và khi mọi sự đều chất ngất khó khăn; xin ban cho chúng con, khi đang chới với giữa một cuộc chiến sống còn, nhuốm mầu chết chóc, được nhìn thấy ánh sáng để không lạc mất Chúa; xin chiếu sáng chúng con để đến lượt mình, chúng con có thể dọi chiếu ánh sáng ấy đến cho những ai đang cần đến. Xin làm cho mầu nhiệm Niềm Vui Phục Sinh của Chúa bừng sáng lên như vầng hào quang của ánh bình minh, toả lan trên dòng đời chúng con đang sống; xin cho chúng con thực sự trở thành những con người của Phục Sinh ngay giữa ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh lịch sử. Xin ban cho chúng con, khi đang sống những chuỗi ngày thời đại tranh tối tranh sáng hôm nay, được luôn thấy mình mang những trái tim vui tươi bước đi trên đường hướng về vinh quang ngày mai của Chúa. AMEN.

[Mục Lục]

Share This Post