Thánh Thể: Trung tâm điểm đời tôi

thanh-theSự Sống là một Tặng ân. Cuộc Sống được dệt bằng những Tặng Phẩm. Mỗi tặng ân là một Huyền Nhiệm. Mỗi Tặng Phẩm mang một ý nghĩa riêng. Có những Tặng ân xuất phát tự trời cao. Lại có những Tặng Phẩm khởi đi từ đất thấp, vì là hoa mầu ruộng đất. Tặng ân quấn quít Sự Sống như hồn trong xác. Tặng Phẩm góp cho Cuộc Sống những nốt nhạc dặt dìu yêu thương, qua bốn mùa mưa nắng. Không có Tặng Phẩm, Sự Sống nghèo như cánh đồng trong mùa hạn, hắt hiu trong chiều vàng nắng đổ. Thiếu Tặng ân, Cuộc Sống buồn như chiều sân ga vắng bóng người lữ khách; lẻ loi như cánh nhạn xa bầy.

Tặng Phẩm hay Tặng ân là để trao ban. Có trao ban là có lãnh nhận để tặng vật viên thành sứ mệnh. Có Tặng Phẩm là thầm nhắc còn yêu thương gắn bó. Tặng ân đem trao, lòng nhủ lòng còn day dứt nhớ nhung. Huyền Nhiệm của Tặng Ân, ý Nghĩa của Tặng Phẩm giá trị hệ tại nơi hồn người trao và lòng kẻ nhận, cũng như cách gửi trao. Tặng Vật càng thiết thân với hồn, khi đem trao càng day dứt. Đón nhận Tặng Vật như đón Sự Sống hiến dâng làm cho lòng thêm quay quắt. Có những Tặng Vật khi trao ban là Sự Sống đi vào Bất Tử. Có những tiếng hót của loài chim chỉ được tấu lên một lần trong Cuộc Sống, để rồi tan hòa vào Thinh Không. Tặng Vật ấy được đem trao bằng Sự Sống, bằng trọn vẹn cả xác hồn.

Thánh Thể là Tặng Ân và cũng là Tặng Phẩm. Một lần trao ban là ngàn đời ghi dấu. Thánh Thể là Hồn Trời, Xác Đất, là Tinh Túy của Linh Thánh và Trần Gian, là Điểm Hội Tụ của Bất Tử Yêu Thương nơi Con Người Giêsu. Thánh Thể là Hiện Thực mọi chiều kích Linh Thiêng, là Lời biến thành Xác, là Thiên Chúa mang phận người. Thánh Thể biến cuộc đời thành vũ khúc, để Thiên Chúa bước vào Hội Hoa Đăng cùng vui chơi, gồng gánh những bề bộn ngổn ngang cõi hồng trần. Thánh Thể hoàn tất hành trình lịch sử vũ hoàn. Nơi vườn Hội Ngộ, Thánh Thể biến Cuộc Sống thành bữa Tiệc Thần Linh, để mọi Thọ Sinh cùng say men Rượu Hân Hoan và đi vào Sự Sống Bất Diệt.

Những đóng góp nhỏ bé, vụn vặt suy tư về Mầu Nhiệm quá đỗi cao vời khôn ví trong tập sách, như những cánh én nhỏ nhoi giữa trời xuân tình yêu bát ngát thiên thu. Xin được gửi đến mọi người như tấm lòng thành tri ân trước tình Chúa viên thành trong Năm Thánh Thể này. Xin được trở nên như làn gió nhẹ, như nhánh cỏ dại ven đường, để bước chân người bộ hành bớt cô liêu. Với sự giới hạn giữa hai chiều không gian và thời gian, chắc chắn những suy tư được thổ lộ còn nhiều vụng dại, xin mọi người miễn thứ và chỉ giáo.

LỜI DẪN

Đối diện với một thế giới mà niềm tin vào tôn giáo nói chung và cách riêng đối với những thực tại thánh thiêng, cụ thể là bí tích Thánh Thể, đang bị mai một, Mẹ Giáo Hội muốn đưa con cái trở về nguồn cội và đó cũng là chóp đỉnh đời sống đức tin của mình. Từ nguồn mạch phú túc giàu sang ẩn chứa nơi nhiệm tích Thánh Thể, không chỉ Giáo Hội, nhưng toàn thể vũ trụ sẽ tìm thấy dung mạo, những chiều kích, và ý nghĩa cuộc sống của chính mình, ngõ hầu có thể hoàn tất sứ mệnh làm người trên hành trình dương thế.

Qua Công Đồng Vaticanô II, Giáo Hội xác định: “Phụng vụ, nhất là Lễ Tạ Ơn, như là nguồn mạch từ đó ân sủng tuôn tràn trong chúng ta và làm cho con người được thánh hóa trong Chúa Kitô một cách vô cùng hữu hiệu, đồng thời Thiên Chúa được tôn vinh: đây cũng là cứu cánh của mọi công việc khác của Giáo Hội” (SC no 10).

Như vậy, bí tích Thánh Thể xuất hiện như là trung tâm điểm qui hướng mọi chiều kích đời sống Giáo Hội, cũng như của con người. Tất cả những bí tích khác, các thừa tác vụ khác, kể cả các hoạt động tông đồ đều gắn liền và hướng về đó. Bởi lẽ, bí tích Thánh Thể chứa đựng tất cả của cải thiêng liêng của Giáo Hội, đó chính là Mầu Nhiệm Chúa Kitô chết và phục sinh, Người là Chiên Vượt Qua, là Bánh Hằng Sống, ban cho nhân loại sự sống đích thực bằng chính Thịt và Máu của Người. Qua Người, mọi sự đạt đến tầm mức viên mãn của mình: “Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người” (Cl 1,19). Nơi bí tích Thánh Thể, Giáo Hội và con người kín múc được sự sống thần linh để tiếp tục và hoàn tất chương trình cứu chuộc mà Thiên Chúa đã thực hiện trong lịch sử, qua Đức Giêsu Kitô. Tiếp tục sứ mạng của Đức Giêsu trong lòng Mẹ Giáo Hội, người Kitô hữu có bổn phận cử hành, loan báo và dẫn đưa cộng đồng nhân loại đến Bữa Tiệc Cánh Chung của Chiên Vượt Qua.

Trước những thách đố và nhu cầu của thời đại, Thánh Eymard, tông đồ Thánh Thể, “đã khám phá ra lời giải đáp cho những nhu cầu này, trong tình yêu của Thiên Chúa, được biểu lộ cách đặc biệt qua việc Đức Kitô hiến ban chính mình nơi Thánh Thể” (LS2). Cảm nghiệm được điều này, thánh nhân đã xác định ơn gọi của mình cách quyết liệt: “Thánh Thể là trung tâm điểm đời tôi”.

Thánh Thể – Sự hiện diện vượt không gian và thời gian

“Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14)

Thỉnh thoảng tôi nhận được những cánh thiệp. Có những cánh thiệp hồng báo tin vui. Và không thiếu những cánh thiệp tím màu tang chế báo tin buồn. Thiệp mừng, thiệp tạ ơn cũng không thiếu. Thân chủ gửi cánh thiệp đến với tôi vì họ đã có hoặc muốn xây dựng một mối liên hệ nào đó với tôi. Từ nội dung và hình thức của nó, mỗi cánh thiệp lại cho tôi những cảm xúc rất khác lạ. Nhưng qua tất cả những hình thức và nội dung chuyển tải đến với mình từ cánh thiệp, tôi nhận ra chúng có hai điểm giống nhau: một dấu chỉ được đánh dấu bằng một sự kiện.

Thiệp cưới: cao điểm của tình yêu – được đánh dấu bằng một kết ước hôn nhân.
Thiệp tang: kết thúc một cuộc đời – được đánh dấu bằng cái chết.
Thiệp khấn: khởi đầu bước đường dấn thân – được đánh dấu bằng lời khấn.
Thiệp sinh nhật: khởi đầu một tuổi mới – được đánh dấu bằng tiệc mừng.

Nội dung và hình thức của những tấm thiệp tạo ra trong tôi những suy nghĩ, bởi những sứ điệp chủ nhân gửi đến tôi. Có lời mời của thân chủ và có sự đáp lễ của tôi. Đó là sứ điệp trọn vẹn của tấm thiệp. Nước không thể là dòng sông nếu chẳng có đôi bờ. Chỉ có đôi bờ mà không có nước, đó là giao thông hào phục vụ cho chiến tranh. Con người đâu chỉ là xác hay đơn thuần là hồn. Thiếu một trong hai, ấy mới chỉ là một hữu thể hiện hữu, chưa có sự hiện diện thực. Có “người” mà cũng có “ta” là thế!

Nhận được thiệp bất kể lọai nào và hình thức ra sao, điều tôi quan tâm là Ai? Làm gì? Ở đâu? Khi nào? Nhưng đó mới chỉ là một nửa của sứ điệp. Còn một nửa khác quan trọng mà tôi hay quên, đó chính là mong muốn thân chủ đặt nơi tôi “Sự Hiện Diện”. Nói cách khác, đó là bổn phận mà tôi phải đáp lễ.

Thiệp cưới: sự hiện diện của… là một vinh dự cho…
Thiệp tang: sự hiện diện của… là một an ủi lớn lao cho…
Thiệp mừng: sự hiện diện của… là một khích lệ lớn lao cho…
Thiệp khấn: sự hiện diện của… là một lời kinh quí giá cho…
Sự hiện diện trở nên quan trọng và có giá trị hơn bất cứ tặng phẩm nào.

Nếu sự hiện diện mất đi giá trị đích thực của nó thì những lời mời chỉ là một thứ ngôn ngữ sáo rỗng, tựa như một thứ tạp âm. Lời mời sẽ có giá trị và sự hiện diện trở nên có ý nghĩa khi con người thực sự có tương quan thắm thiết với nhau, được xây dựng trên yêu thương. Trong tương quan tình yêu, niềm vui của người này sẽ làm người khác hoan hỉ; nỗi khó của người anh em trở nên vết đau trong lòng mình. Nếu “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”, thì phương chi là con người. Không có tình yêu, con người chỉ hiện hữu mà không hiện diện. Sự hiện diện nào cũng bao hàm cả hiện hữu. Nhưng không phải sự hiện hữu nào cũng là hiện diện, bởi vì hiện diện mời gọi thiết lập tương quan và là tương quan tình yêu. Có sự hiện diện đích thực, niềm vui tăng lên gấp bội và đau khổ giảm xuống đến mức tối thiểu. Vì thế, người ta cần hiện diện và cố gắng hiện diện bằng mọi cách. Có sự hiện diện hữu hình, cũng như không thiếu sự hiện diện vô hình. Nhưng hiện diện hữu hình hay vô hình mới chỉ là những bước đầu của sự hiện diện trong niềm tin.

Hiện diện hữu hình

Người ta “thương nhau vì lời nói, mến nhau qua nụ cười”. Nghe được giọng nói, nhìn thấy nụ cười cần phải diện đối diện, cần có mặt trong không gian và thời gian. Sự có mặt chuyển tải một tín hiệu đáp trả, quan tâm đến nhau và đôi khi người ta chỉ cần “thấy” nhau là đủ! Có yêu thương, sự hiện diện giúp nhau hoàn tất sứ mệnh làm người trong dòng sinh; khích lệ và nâng đỡ nhau trong đời sống. Vắng bóng tình yêu, người ta hiện hữu bên nhau mà không hề có hiện diện. Hiện hữu trở nên một sức nặng, đè bẹp đời nhau; trở nên một ngục thất để trói buộc và hành hạ nhau. Đó là bất hạnh lớn nhất trong cuộc đời, vì “không có sự cô đơn nào khủng khiếp cho bằng nỗi cô đơn bên cạnh người không có tình yêu”.

Vì thế “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14). Lời đã trở thành xác phàm và hiện diện giữa con người như một bằng chứng của tình yêu. “Hiện diện là đang sống. Sống và hiện diện không phải với cái tôi lẻ loi đơn độc mà là một khoảng không đầy tràn Thiên Chúa” (Chia sẻ Nội San Thần Học – Mục Vụ – Tu Đức, Liên Tu sĩ, trg 127). Yêu thương là hiện diện; hiện diện để yêu và được yêu, dù tình yêu ấy không hiện hữu trong không gian và thời gian vật lý, lại vẫn tiếp tục hiện hữu trong hồn, trong từng hơi thở của một phút sau mươi giây. Sự hiện hữu này đã trở thành bất tử vượt không gian và thời gian.

Hiện diện vô hình

Có những điều xem ra phi lý, nhưng lại vẫn có lý. Hiện diện nhưng lại vô hình. Vô hình không có nghĩa là không có. Bởi vì trong cuộc sống có những điều mắt phàm không thấy, nhưng không phải là không có. Chúng có dưới dạng phi vật chất. Chúng hiện diện trong hồn, trong lòng và trong tâm con người. Nhiều khi sự hiện diện này còn sâu thẳm, còn day dứt hơn nhiều và chi phối cả cuộc sống con người. Sự hiện diện này đã trở thành bất tử, vì yếu tố thời gian và không gian không còn khả năng gì trên nó. “Những sự vật hữu hình thì chỉ tạm thời, còn những thực tại vô hình mới tồn tại vĩnh viễn” (2 Cor 4, 18). Cánh cửa vào thời gian vật lý đã khép lại, nhưng ngõ vào hồn vẫn rộng thênh thang để cho những kỷ niệm, những ước mơ và hoài bão có chỗ đi về, và để cho lòng người cứ miên man hồi cố, tri tâm. Vào cuộc đời là có nhau trong đời sống. Vắng bóng nhau trong thực tại, nhưng cứ hiện diện với trong hồn, xem ra đường đi vẫn thơm ngát hương hoa, làm bước chân càng thêm hồ hởi. “Đời chỉ đẹp khi tình yêu hiện diện. Đời hết vui khi tình đã chết rồi”. Thà có nhau trong hồn với tất cả khát vọng yêu thương còn hơn hiện hữu bên nhau mà trống vắng tin yêu. Còn tin yêu là dấu chỉ cho thấy vẫn còn sự hiện diện, dù chỉ là sự hiện diện vô hình. Thánh Thể là một biến cố trong quá khứ, là dấu chỉ của bí tích tình yêu. Và trong bí tích tình yêu này, Đức Kitô vẫn hiện diện. Đây là đỉnh cao của Sự Hiện Diện, sự hiện diện trong niềm tin.

Thánh Thể – Sự hiện diện của niềm tin

Khởi đầu Tin Mừng của mình, thánh sử Matthêu xác định: “… Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1, 23). Kết thúc Tin Mừng này, Đức Giêsu khẳng định: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20). Như thế, Đức Giêsu vẫn hiện diện, vẫn đồng hành với chúng ta, dù đời ta chưa một lần “thấy” Người. Đức Giêsu vẫn hiện diện và một cách cụ thể, Người hiện diện thực sự giữa chúng ta nơi Bí Tích Thánh Thể. Đây chính là sự hiện diện trong niềm tin, vượt không gian và thời gian; một sự hiện diện huyền diệu, mãnh liệt, sâu thẳm, sung mãn, liên tục và không biên giới. Huyền diệu bởi sự hiện diện này vượt lên trên và xuyên qua những gì là khả giác và khả cảm. Sự hiện diện của Đức Kitô trong bí tích Thánh Thể là sự hiện diện của Vĩnh Cửu đi vào Thời Gian; của Thánh Thiêng đi vào Tội Lụy; của Vô Biên đi vào Cõi Tạm; của Bất Tử đi vào cõi Tử-Sinh; của Trời Cao đi vào Đất Thấp; của Bất Diệt đi vào cõi Hư Vô; của Vĩ Đại đi vào trong Nhỏ Bé; của Thần Linh đi vào Thân Xác. Thánh Thể không chỉ là Lời, nhưng là Lời trở nên Người, là Thiên Chúa làm người.

Nhân loại được mời gọi để nhận ra sự hiện diện của Người qua tấm bánh đơn sơ, tầm thường, nhỏ bé. Đó là viên ngọc được chôn giấu trong ruộng, hay bị bao phủ bởi lớp đá xù xì, hoặc trong mình trai bị chôn vùi trong bùn đất. Sự hiện diện này là sự hiện diện VƯỢT QUA. Sự hiện diện này mời gọi con người phải vượt qua chính mình, để nhận ra sự phi thường, siêu việt trong cái tầm thường, tự nhiên, giản dị trong cuộc đời. Bài học của Maria Madalêna vẫn còn đó như một lời thách thức; đứng trước Chúa phục Sinh mà cứ ngỡ là “bác làm vườn” (Ga 20,15). Kinh nghiệm của hai môn đệ trên đường Emaus không phải là một lời cật vấn sao? Họ đã vội mỉa mai Người là: “Ông là người duy nhất ở Giêrusalem… không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay.” (Lc 24, 18). Sau khi nhận ra Người, họ hối hận: “Lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?” (Lc 24, 32). Đức Kitô hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn là một. Người vẫn bình thường giản dị như khi Người xuống thế. Và Người vẫn là Thiên Chúa mặc lấy xác phàm nhân loại, nên giống anh em mọi đàng ngoại trừ tội lỗi. Trong khi anh em Người lại muốn khác nhau mọi đàng ngoại trừ tội lỗi. Chính vì muốn khác nhau mà con người khó nhận ra Người. Phải chăng có cái gì đó đang đổ vỡ, xáo trộn, biến đổi trong lòng con người? Con người đang bị thế gian biến đổi. Họ như chiếc thuyền nan chao đảo, quay tít trong vòng quay của tục hóa, của mại thánh, của vật chất và của nhân tình thế thái… Mặt trời vẫn tiếp tục giải nắng cho vườn hoa thêm ngát hương, cho bầu trời rộn rã ban hợp xướng bất tận của thiên nhiên; vườn cây lao xao bởi cung nhạc du dương của bản hòa tấu do các chàng nghệ sĩ yến oanh; ánh trăng vẫn không ngừng gọi nàng thơ đến, gieo vào lòng người thi sĩ tiếng tơ lòng miên man, bất tận. Trời, trăng vẫn thế. Trái đất vẫn quay và con người vẫn cứ loay hoay trong vòng quay ấy, vì vậy, mới có chỗ tối, chỗ sáng; có người khôn, kẻ dại. Con người bị bóng đêm che phủ, nên có mắt mà không thấy; có tai mà chẳng thể nghe chi… Và dẫu cho mặt trời thôi chiếu sáng, trái đất không còn quay thì Thiên Chúa vẫn hiện diện. Người vẫn tiếp tục ở lại, ở cùng, ở với con người trong bí tích Thánh Thể. Sự hiện diện ấy là một tặng vật ân tình cho nhân sinh cõi tạm, dù tặng ân ấy là một nụ cười hay một dòng lệ.

Có người trao ban thì cũng cần có kẻ lãnh nhận, để quà tặng có ý nghĩa. Vì thế, hiện diện cũng cần hiện diện với ai, cho ai và vì ai. Chẳng ai hiện diện cho mình, vì đó chỉ là sự tồn tại. Hiện diện là sống và sống không chỉ cho, vì, với tình yêu mà là trong tình yêu. Đó cũng là sự hiện diện mãnh liệt, trọn vẹn, viên mãn và sâu thẳm của bí tích Thánh Thể. Sự hiện diện ấy là một lời mời gọi sống thánh thể; là thiết lập mối tương quan khăng khít, mật thiết như xác-hồn trong nhau, như giây đàn thủy chung son sắt với cây đàn. Tất cả phải gắn liền, không tách rời, ly tán để có thể rung lên giai điệu yêu thương trong cuộc tử-sinh. “Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34) và “Hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22,19). Thế là cuộc sống lại phải căng mình như sợi dây đàn, chấp nhận cọ xát, rung lên để tạo ra những giai điệu trầm lắng. Đàn không rung lên vì chính mình, nhưng để tấu lên những âm thanh, giai điệu, cống hiến cho người nghe. Sống Thánh Thể là sống cho người khác, sống vì hạnh phúc của anh em và đồng hành, rong ruổi với họ trên mọi nẻo đường của cuộc lữ hành trần thế… trong Đức Giêsu Kitô Thánh Thể: “Tôi sống nhưng không còn phải là tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2, 20). Sự hiện diện trong niềm tin, sự hiện diện vượt qua của Thánh Thể mời gọi sự đáp trả tiếng vọng tình yêu từ trên cao và từ nơi bàn tiệc Thánh Thể. Cuộc sống là một cuộc Vượt Qua liên lỉ; vượt qua ngọai cảnh, vượt lên trên tất cả những gì mà con người cho là tuyệt vời và cứ phải vượt qua mãi cho đến khi: “Tôi coi tất cả là rác rưởi, là thiệt thòi so với cái lợi tuyệt vời là Đức Kitô Giêsu, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả là rác, để được Đức Kitô và được kết hợp với Người” (Pl 3, 8-9).

Đó chính là sứ điệp mà cánh thiệp Thánh Thể muốn trao gửi đến những người tâm giao. Điều quan trọng làm sao để sự hiện diện của chúng ta trở thành niềm vinh dự, sự an ủi, lời khích lệ động viên và trở nên lời kinh đẹp trong tình yêu hiệp nhất.

Lạy Chúa, nơi nào có Người, nơi ấy có niềm vui. Khung trời nào có Chúa, dù có thử thách, đau khổ cũng không thiếu vắng tiếng hoan ca, bình an và niềm hy vọng. Còn hy vọng là sự sống tiếp tục đâm chồi, nẩy lộc và ươm bông, kết trái. Lạy Chúa, xin cho chúng con học được sự hiện diện Vượt Qua của người.

Thánh Thể – Lời Tạ Ơn

“Người cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho các ông” (Lc 22,19).

Chẳng có lời nào ngọt ngào bằng lời yêu thương. Chẳng có chữ nào đẹp và êm ả bằng hai chữ cám ơn. Được cám ơn là một điều hạnh phúc vì nhận ra rằng mình đã thụ ân. Nếu tất cả là hồng ân, thì cuộc đời là chuỗi cám ơn dài bất tận. Cám ơn trong niềm vui, tạ ơn trong nỗi buồn. Tiếng cười là cung bậc của hạnh phúc. Và tiếng khóc cũng thắm đượm giai điệu yêu thương. Giọt lệ biến thành lời kinh sám hối, để cánh cửa tâm hồn đón ngọn gió thứ tha. Từ đây, linh hồn sẽ dệt lời tạ ơn đời đời trong Đấng Tác Sinh và “Người cầm lấy bánh dâng lời chúc tụng tạ ơn” (1Cor 10, 23-24), dầu biết rằng lời tạ ơn dẫn Người đi vào cuộc hiến tế: “Mình Thầy bị nộp và Máu Thầy đổ ra để tha tội và lập Giao Ước mới.” ( x. 1 Cor 11, 23-25; Lc 22, 17-20)

Thánh Thể trước tiên là lời tạ ơn trọn vẹn nhất của Mẹ Giáo Hội, gói ghém trọn vẹn ân sâu nghĩa dày trong của lễ tiến dâng. Của lễ ấy là kết tinh của Tình Trời trao ban cho Đất Mẹ.

“Giáo Hội không bao giờ bỏ việc cùng nhau qui tụ để cử hành mầu nhiệm phục sinh: bằng đọc “những Lời chỉ về Người trong bộ Thánh Kinh” (Lc 24,27), bằng việc cử hành Lễ Tạ Ơn trong đó hiện tại hoá “sự vinh thắng và khải hoàn nhờ cái chết của Người”. Đồng thời “cảm tạ Thiên Chúa về ân điển khôn tả của Người” (2 Cr 9,15) trong Chúa Giêsu Kitô “để ca tụng sự vinh hiển của Người” (Ep 1,12) nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần” (SC 6).

Nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần biến đổi, Bánh và Rượu trở nên Thánh Thể. Từ đây mở ra cuộc lễ hội. Thánh Thể là bí tích cứu độ được Đức Kitô hoàn tất trên thập giá, đồng thời cũng là hy tế tạ ơn và ca ngợi công trình của Đấng Sáng Tạo. Chiều tím thập giá hiến tế có thể là cánh cửa mở vào hư vô. Nhưng nơi Thánh Thể, nhân linh nhận ra ngỏ mở đưa vào những cảnh đời nhộn nhịp. Con người đón nhận hư vô và không khước từ cảnh đời nhộn nhịp. Nếu Con Người đến để cho sự sống hiện diện và hiện diện cách trọn vẹn thì Thánh Thể sẽ mang màu tạ ơn hơn là tang tóc. Trong hy tế tạ ơn, qua cuộc tử – sinh, Đức Kitô dâng toàn thể công trình sáng tạo lên trước nhan Chúa Cha. Nhờ Người, Nương Tử có thể tạ ơn và ca ngợi vì tất cả những công trình chân thiện mỹ mà Đức Lang Quân thực hiện cho con người. Từ đây, Thánh Thể trở thành vườn tao ngộ, nơi con người hạnh ngộ trong tình bạn và tình yêu, để cảm ơn đời, cảm ơn người và cảm ơn trời.

Tạ ơn trời vì đã kết duyên với đất, chắp cánh và đem tình yêu đến mọi nẻo đường ngổn ngang, nhọc mệt của kiếp người; cảm ơn nhau vì chén kết ước, ly bôi uống hoài không vơi. Tình yêu mang đến những đau khổ đồng thời cũng mang đến hạnh phúc. Nếu có gió về thổi ngang qua cánh chim hạnh phúc, thì cũng có nắng vàng làm úa cánh hoa quỳnh gục ngã khổ đau. Tình yêu tác tạo lên khung trời lễ hội. Ở đâu có lễ hội là ở đấy có nhạc pháo đì đùng, chiêng cồng, trống mõ, áo mũ xông xênh, bánh trái đầy ăm ắp, lồng đèn, heo ngỗng, thịt rượu chứa chan; là có chuyện trò, thăm hỏi, có cám ơn và chia sẻ… ca múa, ăn uống. Lễ hội ở trong cuộc đời, và lễ hội ngay trong lòng người. Có những lễ hội ngắn ngủi trong cuộc đời, nhưng cũng có những lễ hội kéo dài suốt trong lòng người. Lễ hội trong cuộc đời có thể hết, nhưng lễ hội trong lòng người sẽ có thể kéo dài thiên thu. Vì tất cả là hồng ân, nên lời tạ ơn sẽ không dứt. Thánh Thể tạo nên sự sống. Sự sống đi vào cuộc đời, gom góp những mảnh vụn buồn vui để ghép chúng thành Vòng Tròn Sự Sống: “Cơm Cha, sữa mẹ, công thầy. Tác tạo cuộc đời, dâu bể gian nan”.

Vào một lúc nào đó trong cuộc đời, chia vui, sẻ buồn cũng bận bịu giống như nhau. Mọi sự đến rồi đi. Hợp – tan là điều tự nhiên. Tạ ơn người vì ta được chứng kiến và tham dự vào mọi vui buồn sướng khổ, thế thôi! Thánh Thể có phân phát và hội tụ; có đau khổ và hạnh phúc; có nước mắt và tiếng cười; có mất mát và bồi hoàn; có tử nạn và phục sinh. Đó là hai chiều của hy tế.

Vì thế, Thánh Thể trước hết là Hy Tế Tạ Ơn. Hy Tế Tạ Ơn hiện tại hóa không gian ba chiều của lịch sử cứu độ: sáng tạo, cứu chuộc và thánh hoá. Có lời tạ ơn được nói bằng ngôn ngữ, nhưng cũng có cách tạ ơn được diễn tả bằng hành động. Có lời tạ ơn được viết bằng giấy trắng mực đen, nhưng cũng có lời tạ ơn được viết trong tâm hồn. Không ít lời tạ ơn thực hiện một lần là đủ, nhưng có nhiều lời tạ ơn đáp trả cả đời vẫn chưa xong, không đầy, “Hai mươi năm xin trả nợ người… Trả nợ một đời chưa hết tình sâu. Bao nhiêu năm em nợ bạc đầu. Trả nợ một đời không hết tình đâu… Hai mươi năm vơi cạn lại đầy… Bao nhiêu năm bỗng lại nhiệm mầu. Trả nợ một lần quên hết tình đau. Hai mươi năm vẫn là thuở nào. Nợ lại lần này trong cõi đời nhau.” (Một cõi – Trịnh Công Sơn, trg 598). Lời tạ ơn như giọt nước nhỏ nhoi, tan hòa vào cuộc dâu bể nghìn trùng đầy dang dở.

Cử hành Thánh Thể, là tiếp tục, là nối dài Buổi Dạ Tiệc Cứu Độ trong lời tạ ơn: “Trong Bữa Tiệc sau hết, vào đêm bị nộp, Đấng cứu chuộc chúng ta đã thiết lập Hy Lễ Tạ Ơn bằng Mình và Máu Người. Nhờ đó, Hy Tế khổ giá được kéo dài qua các thời đại, cho tới khi Người lại đến, và cũng để uỷ thác cho Hiền Thê của Người là Hội Thánh tưởng nhớ sự chết và phục sinh của Người” (SC 47, GLTC 1323). Lời tạ ơn trong cuộc cử hành Thánh Thể sẽ kéo dài đến mút cùng thời gian cho đến khi cuộc Tạo Thành đạt đến chiều Viên Mãn. Lời tạ ơn có khi được diễn bằng từ ngữ, nhưng đẹp nhất và sâu thẳm vẫn là lời tạ hồn rung lên bằng hồn.

“Trong đêm bị nộp, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: “Đây là Mình Thầy hiến tế vì anh em… Người nâng chén và nói: “Đây là chén Máu Thầy. Máu đổ ra để lập Giáo Ước mới”. (1Cr 11,23b. 25).

Với tâm tình tạ ơn khi cùng nhau quy tụ cử hành Thánh Thể, Giáo Hội nhìn nhận: “Đức Kitô là lễ Tạ Ơn, là ân ban tột đỉnh của Chúa Cha hiến trao cho loài người trong thánh lễ. Đức Kitô cũng chính là lời tạ ơn cho sự trao hiến ấy” (LM Jean Guillot S.J -Thánh Thể sinh động, trg 212). “Sở dĩ lễ Tạ Ơn được coi là Hy Lễ của Giáo Hội, chính là vì Đức Kitô đích thân dâng Hy Lễ duy nhất của Người trong tư cách là Đầu của Giáo Hội, qua tác vụ của linh mục hành động nhân danh Đức Kitô, Đầu của Giáo Hội” (Hợp tuyển thần học, số 13 & 14,trg 116). “Cha không cần chúng con ca tụng, nhưng được tạ ơn Cha lại là một hồng ân cao cả, vì những lời ca tụng của chúng con chẳng thêm gì cho Cha, nhưng đem lại cho chúng con ơn cứu độ muôn đời” (Sách lễ Rôma, Kinh Tiền Tụng IV).

THÁNH THỂ – GIAO ƯỚC MỚI

Tình yêu dun dủi cho con người xuất hiện. Và con người được kết nối với nhau bằng những tương quan. Cuộc sống có bề nổi và có mạch ngầm. Nếu tương quan là mạch ngầm thì giao ước là bề nổi. Tương quan và giao ước là bào thai, sinh nở ra hoa trái cuộc sống, đó là con người. Trong con người có niềm vui và cũng có đau khổ. Tâm hồn con người bề bộn những đường ngang, nẻo dọc; ngổn ngang những chung thủy và bất tín. Sinh ra trong cuộc đời là bị giới hạn ở hai đầu không gian và thời gian. Đó là dấu hiệu của những bất toàn và yếu đuối, của nhớ nhung và quên sót. Dường như, thân xác trần gian đã bị cày xới bởi những vết thương mờ mờ, ảo ảo, hoang đường trong cuộc đời lênh đênh, phiêu du, đầy phiền muộn. Nhưng từ những dở dang, khiếm khuyết ấy, thân xác bỗng hóa thành thánh địa cho những cuộc hẹn hò, để cõi đời thêm sinh động, nhiều màu sắc; có yêu thương, giận hờn bát ngát đi về lúc bình minh xuất hiện cho đến khi bóng tà dương khuất bóng sau rặng cây.

Như cánh diều giữa trời lộng gió, mang trong mình thân hữu hạn, nhưng con người không ngừng khắc khoải, vươn lên, đi tìm cho mình sự vô hạn. Vẫn biết mình bất toàn, nhưng con người được mời gọi để nên Hoàn Thiện. Kiếp người đầy thay đổi, chênh vênh nhưng luôn cầu tìm Vĩnh Cửu để bám víu, tín thác.

Hồn Vĩnh Cửu và xác Hoàn thiện được Hiền Nhân Isaia mô tả qua chân dung Người Tôi Tớ của Đức Chúa như là “Giao Ước của dân” (Is 42,6), như mối dây, như Đấng Trung Gian liên kết giữa hữu hạn và Vô Biên Tính. Người Tôi Tớ là hiện thân của Giao Ước mới. Qua Người Tôi Tớ, Đấng Vô Thủy Vô Chung tỏ mình và chuyển tải mạc khải sau cùng của Người cho dân.

Điều này được thực hiện cách trọn vẹn trong Đức Giêsu, Đấng liên kết dân mới với Thiên Chúa. Bằng việc đổ máu trên thập giá, Đức Giê-su thực hiện trọn vẹn Giao Ước được niêm ấn trên núi Xinai bằng máu tế vật. Máu Đức Giêsu đổ ra khai mở, gieo mầm hạt cứu độ trên mảnh ruộng trần gian và tưới gội cho đến ngày cây ươm bông, trĩu quả. “Người còn đó gieo hạt lúa trên ruộng đất này. Người còn đó bơ vơ mắt chong đêm dài… Người còn đó nhưng lời nói rơi về chân đồi. Người còn đó nhưng trong tim máu tuôn ra ngoài. Nhuộm đất này cho hồng hạt mầm trót vay” (Một cõi – Trịnh Công Sơn, trg 582). Đức Giêsu không chỉ tác động và thâu tóm toàn bộ Giao Ước, nhưng chính bản thân Người là Giao Ước. Hữu thể của Người liên kết thần tính và nhân tính của mình trong sự kết hợp nơi một con người. Nơi Con Người ấy, tất cả chương trình của Thiên Chúa được thực hiện một cách viên mãn. Đức Giêsu cũng là nguồn mạch và trung tâm của toàn thể vũ trụ, bởi vì Người đã kết hợp trong thân phận con người bụi đất của dòng giống nhân loại với “vàng ròng” là vinh quang của thần tính. Nói cách khác, Đức Giêsu đã niêm ấn Giao ước giữa Thiên Chúa và nhân loại, bởi vì Người đã kết hợp nhân tính và thiên tính trong chính bản thân mình.

Giao Ước là trung tâm kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Giao Ước này chỉ thực sự trở nên trọn vẹn và hoàn hảo khi cả hai bên thực hiện việc tự trao ban cách trọn vẹn. Về phần mình, Thiên Chúa “đã quá yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Người cho thế gian”, Người luôn trung thành với lời minh ước. Nhưng con người lại không có khả năng để thực hiện lời kết ước ấy cách trung thành, ngay cả dân riêng của Đức Chúa cũng chẳng bảo đảm được. Vì thế, Thiên Chúa tiếp tục tìm kiếm một “con người hoàn hảo” sinh bởi một người đàn bà, một “người Ixrael hoàn hảo” sinh dưới lề luật. Người sẽ là con người đáp trả sự tự trao ban cách trọn vẹn bằng một tiếng “Vâng” kiên vững. Con người ấy chính là Đức Giêsu, là Đấng Mê-si-a của chúng ta và là sự khai mở một Giao Ước mới. Vì trong nhân tính của Người, Đức Giêsu luôn nói tiếng “Vâng” để thực hiện tất cả thánh ý của Cha Ngài. Từ đó, nơi bản thân, Đức Giêsu là hiện thân của A-đam mới thực hiện tất cả những gì mà A-đam cũ không thực hiện được. Qua biến cố chịu phép rửa, Đức Giêsu đã thoáng thấy vai trò Mê-si-a mà Thiên Chúa Cha muốn nơi Người, đó là vai trò của “Người Tôi Tớ đau khổ” mà ngôn sứ Isaia đã loan báo. Điều này cũng gây ra những căng thẳng cuộc sống của Người. Đó chính là những cám dỗ nhằm thực hiện một chương trình cứu độ theo lối con người. Nhưng cuối cùng Người đã chiến thắng tất cả để thi hành trọn vẹn thánh ý Cha. Chính từ việc chấp nhận thực thi ý Cha như lương thực nuôi sống mình, Đức Giêsu đã làm cho Giao Ước giữa Thiên Chúa và nhân loại đi đến chỗ thập toàn. Giao Ước này được niêm ấn bằng chính máu của Người: “Chén này là Giao Ước Mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em” (Lc 22,20).

Tiếng “Vâng” kiên vững của Đức Giê-su không chỉ được thốt lên trong những giây phút hệ trọng của cuộc đời Người, nhưng được diễn tả ra trong suốt cuộc sống của Chúa. Cả cuộc đời Người chỉ chọn lựa và làm theo ý Thiên Chúa Cha. Đó chính là mối tương quan, là Giao Ước của chính Người với Thiên Chúa Cha. Với những lời tuyên bố long trọng trong Bữa Tối cuối cùng và trên thập giá, Đức Giêsu đã hoàn tất kế hoạch Thiên Chúa muốn thực hiện nơi Người. Nói cách khác, sau khi phó thác Thần Khí trong tay Cha, Đức Giêsu đã thực hiện cách trọn vẹn Giao Ước. Giao Ước này nối kết cả Giao Ước cũ của dân Ixrael và Giao Ước mới của toàn thể nhân loại. Nhưng Giao Ước mới này vượt xa những gì đã được thực hiện trong Giao Ước cũ. Vì thế, có thể đưa ra một sự đối chiếu và so sánh giữa hai Giao Ước như sau:

Mang trong bản thân mình dòng máu Ixrael, Đức Giêsu đã chỉnh sửa lại tất cả những gì mà dân Ixrael đã thất bại trong Giao Ước với Thiên Chúa. Dù là người Ixrael, nhưng Đức Kitô lại chính là đầu của một thân thể, thân thể ấy là Giáo Hội. Giáo Hội vừa là Thân Thể của Đức Giêsu, nhưng cũng chính là Dân Ixrael mới. Bởi đó, khi cử hành Thánh Thể là Giáo Hội nhớ lại và nhắc nhở cho chính mình và con cái về Giao Ước mới Thiên Chúa đã thiết lập trong Đức Giêsu. Việc cử hành này hướng Giáo Hội tới việc trung thành với Đấng đã “kêu gọi anh em từ nơi tối tăm đến vùng ánh sáng”. Ý thức được thân phận lữ hành của mình trên hành trình về Nhà Cha, như dân Chúa xưa tiến về Đất Hứa, Giáo Hội cần được Chúa hướng dẫn, che chở và nuôi nấng. Tất cả những điều đó chỉ được thực hiện khi Giáo Hội trung thành tôn thờ Thiên Chúa. Việc tôn thờ đẹp lòng Thiên Chúa nhất chính là việc cử hành Thánh Thể. Qua bí tích Thánh Thể, Thiên Chúa nhận được chính của lễ đầu mùa, thánh thiện, vô tì tích và đẹp lòng Người do chính dân của Người là Giáo Hội dâng lên cùng với Đức Giêsu, Con Chí Ái của Cha.

Với sự đóng góp và tham dự của toàn bộ Dân Chúa như một Dân Mới, họ cùng nhau qui tụ để cử hành Thánh Thể làm cho: “Việc tái lập Giao Ước của Chúa với con người trong Lễ Tạ Ơn nung nấu và lôi cuốn các tín hữu vào trong tình yêu thúc bách của Chúa Kitô” (SC 10). Thấm nhuần tinh thần của việc cử hành Thánh Thể và nhất là trở nên “dễ uốn nắn trước tác động của Chúa Thánh Thần”, Giáo Hội trở nên xứng đáng và trung thành với nhiệm tích Giáo Hội cử hành, với lòng tin tưởng tuyệt đối. Mối liên kết giữa Chúa Giêsu Thánh Thể và đời sống Giáo Hội được biểu hiện cụ thể và rõ nét qua sự liên kết mật thiết giữa những thành phần trong Giáo Hội. Mối liên kết chặt chẽ giữa Thánh Thể và Giáo Hội, cũng như giữa các thành phần khác nhau của Giáo Hội làm cho Giáo Hội trở thành dấu chỉ về Giao Ước giữa Thiên Chúa và con người. Trở thành dấu chỉ của bí tích và của Giao Ước, Giáo Hội được mời gọi để dấn thân cách sâu xa và trọn vẹn cho Thiên Chúa giữa lòng đời trong vai trò ngôn sứ, tư tế, vương đế của mình. Giáo hội mở lòng ra trước mọi thực tại của con người hôm nay, vì không có gì xảy đến cho con người mà không gây âm hưởng trong lòng Giáo Hội. Với nguồn sung mãn trào dâng từ bí tích Thánh Thể, Giáo Hội đáp ứng sự đói khát chân lý cho nhân loại mà thế giới hiện tại không thể đáp ứng. Đi sâu vào nội dung của Lễ Tạ Ơn, Giáo Hội được mời gọi để diễn tả và “sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em” (1Pr 3,15). Giữa một thế giới đang đánh mất niềm hy vọng vào những giá trị cuộc sống hiện tại và tương lai, Giáo Hội xuất hiện như một dấu chỉ độc sáng, giúp con người tìm được chân giá trị của cuộc đời. Qua việc cử hành Thánh Thể, Giáo Hội không chỉ “hiện tại hoá” Giao Ước thuở xưa, nhưng còn giới thiệu cho thế giới về Chiên Vượt Qua của Đức Chúa, Đấng xoá tội trần gian, và Giáo Hội cũng sống mầu nhiệm Vượt Qua ấy trong đời sống của mình.

Chiều kích vượt qua

Như lời dạy của Công Đồng Vaticanô II: “Thánh Thể, Mầu nhiệm Vượt Qua” đã trở nên quen thuộc với tất cả mọi người, ngay cả đối với những người giáo dân. Đây là một trong những quan niệm trọng yếu của phụng vụ, đặc biệt là đối với việc cử hành Thánh Thể.

Mầu nhiệm Vượt Qua được mô tả như một kiểu mẫu tương quan giữa Thiên Chúa với con người. Đây là một tương quan bền vững và không thay đổi. Trong tương quan này, Thiên Chúa nhắm đến việc chia sẻ sự sống của Người một cách trọn vẹn với con người. Đó là lý do tại sao Thiên Chúa tác tạo chúng ta và đặt để ở một vị trí cao hơn các loài thụ tạo khác, ngoại trừ thiên thần. Tuy nhiên, chúng ta, những hữu thể giới hạn, chỉ có thể chấp nhận sự chia sẻ đời sống của Thiên Chúa trừ phi chúng ta từ bỏ và dâng hiến cho Người chính đời sống của mình. Trong thực tế, tương quan của Thiên Chúa với con người được nhìn dưới hai khía cạnh: tiêu cực và tích cực. Tương quan này liên quan đến sự chết và sự phục sinh của Đức Giêsu. Tiến trình này bao gồm: sự từ bỏ, can đảm dâng hiến, để đạt đến sự sống mới. Bức họa về cuộc Vượt Qua trong truyền thống Do Thái bắt nguồn từ một hoàn cảnh cụ thể của dân Chúa với kiếp sống nô lệ bên Ai Cập.

Với việc ông Giuse được cất nhắc, bức tranh phát triển của dân Ixrael ở bên Ai cập đã được thiết lập. Đó là khía cạnh tích cực. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau, họ trải qua kiếp sống nô lệ tại chính đất nước này. Đó là khía cạnh tiêu cực của mầu nhiệm. Dân Ixrael khóc lóc và khẩn cầu Thiên Chúa nhớ lại lời Giao Ước xưa để ra tay cứu họ, và Người đã nhận lời.

Được trao phó sứ mạng giải thoát dân Chúa khỏi cảnh nô lệ, ông Mô sê đã dùng quyền năng của Thiên Chúa mà thực hiện những điều kỳ lạ trong đất nước Ai cập. Bên cạnh sự cứng lòng của vua Pharaon, Môi sê đã phải mất một thời gian dài để giúp dân hiểu rằng Thiên Chúa quan tâm đến cuộc sống của họ và Người muốn giải thoát họ khỏi cảnh nô lệ. Cùng với sự nô lệ về thể lý, dân Chúa đã bị lệ thuộc Ai cập cả về mặt tinh thần qua lối sống, cách suy nghĩ và những phong tục, tập quán khác, bất chấp cách đối xử phi nhân của vua quan Ai cập trên họ. Vì thế, Thiên Chúa không chỉ nhắm đến việc giải thoát dân khỏi sự nô lệ về thể lý, Người còn nhắm đến việc giải thoát họ khỏi lối sống cũ, nô lệ về tinh thần. Về phần mình, Thiên Chúa nhớ đến lời hứa và làm cho dân Do thái trở thành dân riêng của Người. Người yêu mến họ và săn sóc họ như “con ngươi trong mắt mình”.

Trong biến cố này, dân Chúa được mời gọi để cộng tác vào chính sự giải thoát của mình. Họ được hướng dẫn để ăn mừng cuộc giải thoát bằng bữa tiệc Vượt Qua. Bữa tiệc này được thực hiện qua việc sát tế chiên, bôi máu lên cửa và ăn thịt chiên trong bầu khí vội vã lên đường. Thiên thần Chúa sẽ đánh phạt dân Ai cập và các ngài sẽ vượt qua các nhà có bôi máu chiên. Biểu tượng bôi máu chiên lên cửa nói lên ý chỉ họ được cứu thoát và được dành riêng. Bữa tiệc này được cử hành vào trước lúc họ lên đường như một dấu hiệu báo trước sự tự do và đồng thời nói lên sự tự nguyện thuộc về Đức Chúa của họ. Mọi người Do Thái rời khỏi Ai Cập đều được tham dự vào bữa tiệc này.

Những bước chân hăm hở xuất hành của dân Chúa bị chặn đứng trước một nghịch cảnh: Biển Đỏ. Một lần nữa, cánh tay quyền năng của Thiên Chúa đã chứng tỏ sức mạnh của Người, khi Người đưa dân vượt qua Biển Đỏ mà họ vẫn khô chân. Người đưa họ qua cõi chết để bước vào cuộc sống mới trong sự tự do. Suốt bốn mươi năm lang thang trong sa mạc, dân Chúa không chỉ vượt qua những chặng đường đầy gian khổ, nhưng họ còn vượt qua bao nhiêu thử thách khác nữa. Đã không ít lần, dân Chúa tưởng chừng như đã hoàn toàn quỵ ngã trong sa mạc. Đã lắm phen họ đã không vượt qua được những thử thách và đã phản bội Đức Chúa. Nhưng tình thương và quyền năng của Đức Chúa vẫn dẫn dắt họ đến vùng đất hứa. Tất cả những nghi thức, những hình ảnh về cuộc vượt qua của Dân Ixrael đã được Đức Kitô hiện tại hoá trong biến cố lập phép Thánh Thể. Trong bí tích này, Đức Giêsu chấp nhận “ra đi, đón nhận cái chết và Người đã phục sinh”. Người trở thành Chiên Vượt Qua của Đức Chúa để giải thoát dân Chúa khỏi ách thống trị của tội lỗi và ác thần. Vai trò Chiên Vượt Qua của Đức Giêsu đã được ông Gioan Tẩy Giả khẳng định, khi ông long trọng giới thiếu với dân chúng: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian” (Ga 1, 29).

Ý thức được vai trò của mình là Dân Mới, Giáo Hội cử hành Thánh Thể là để nhắc nhở cho chính mình về cuộc Vượt Qua của Đức Giêsu, Đức lang Quân. Việc cử hành này cũng cho phép Giáo Hội tham dự vào Mầu Nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô, Người là Đầu của Giáo Hội. Sau cùng, là Dân Mới thay thế cho dân Ixrael xưa, việc cử hành Thánh Thể sẽ giúp Giáo Hội ý thức về thân phận lữ hành của mình đang trong cuộc vượt qua về Đất Hứa là trời mới, đất mới. Với ý thức phải thoát khỏi mọi dính bén với trần gian, Giáo Hội luôn ở trong tư thế sẵn sàng lên đường.

Thiên Chúa cứu độ con người. Và Người đã thực hiện ơn cứu độ trong lịch sử nhân loại. Thiên Chúa đã hành động là “vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi”. Điều này cho thấy, vị trí và vai trò của con người trong công cuộc cứu chuộc rất quan trọng. Thánh Âu-tinh khẳng định: “Khi dựng nên con, Chúa không cần hỏi ý kiến con, nhưng để cứu độ con, Chúa cần con cộng tác”.

Nhận ra tầm quan trọng của bí tích thánh Thể trong đời sống của mình cũng như trong đời sống của con cái, Giáo Hội hướng dẫn, khích lệ và không ngừng khẳng định về vai trò của bí tích thánh Thể: “Lễ Tạ Ơn như là nguồn mạch từ đó ân sủng tuôn tràn trong chúng ta và làm cho con người được thánh hóa trong Chúa Kitô… Đây cũng là cứu cánh của mọi công việc khác của Giáo Hội” (SC 14).

Thánh Lễ và cuộc sống

Theo tinh thần canh tân của công Đồng Vaticanô II, phụng vụ được xem là thành quả đầu tiên và cũng là nguồn gợi hứng cho những công trình khác của Công Đồng. Việc canh tân phụng vụ không chỉ đem lại cho đời sống những nét trẻ trung, sinh động và hiệp nhất, nhưng: “Canh tân phụng vụ là nhằm đổi mới cuộc sống người Kitô hữu” (LM Paul Bernier SSS – Thánh lễ gõ nhịp, trg 50). Là hiện thân, là nguồn mạch và chóp đỉnh đời sống Kitô hữu, phụng vụ, nhất là bí tích Thánh Thể có khả năng bao quát cuộc sống thường nhật, biến đổi cuộc sống và thánh hóa nó bằng cách đưa nó tiếp cận với những hành động cứu rỗi của Đức Kitô. Vì vậy, phụng vụ sẽ không có sức mạnh, nếu được hiểu như là một hành động thánh thiện mà lại hoàn toàn tách khỏi cuộc sống hiện thực. Bí tích Thánh Thể với những bước dẫn dắt hành trình đời sống chúng ta, khác hẳn với mọi thứ “siêu nhân bản” của các tôn giáo khác. Bởi vì, việc cử hành Thánh Thể của Giáo Hội: “Dìm sâu chúng ta trong mầu nhiệm mà ý nghĩa và sự cứu thoát chỉ tìm thấy nơi một Đấng, Người đã trao ban chính bản thân người cách hoàn toàn cho chúng ta qua cái chết trên thập giá và được hiện tại hóa cách trọn vẹn trong việc cử hành cao trọng này” (LM Rarier – Thánh Thể nguồn ơn thánh hóa – The Liturgical Press, 1995,trg 50).

Mối tương quan giữa Thánh Thể và cuộc sống chỉ thực sự đạt đến mức trọn vẹn khi chúng ta biết biến cuộc đời thành những thánh lễ âm thầm liên lỉ và nối dài. Điều này có nghĩa là, chúng ta phải bắc một nhịp cầu giữa “nhà thờ” và “nhà mình”. Đó là mối tương quan hai chiều giữa đời sống đức tin và đời sống thường nhật của con người “giữa thánh lễ và cuộc sống có một mối tương quan hữu cơ như bào thai với người mẹ, như thể lý và tinh thần, như thân xác và linh hồn trong một con người” (LM Rarier – Thánh Thể nguồn ơn thánh hoá – The Liturgical Press, 1995, trg 105). Dưới cái nhìn hiện sinh của nhà thần học, cuộc đời là một thánh lễ. Bàn thờ là cả vũ trụ. Của lễ được tiến dâng chính là những vui buồn trong cuộc sống, là hoa mầu ruộng đất và công lao của con người. Lời nguyện thánh hiến lễ vật chính là từng hơi thở trong thẳm sâu của con tim biết yêu thương và chia sẻ. Dù tất cả những điều này có được chúng ta ý thức hay không, thì vẫn có một liên hệ hỗ tương giữa việc cử hành Thánh Thể và cuộc sống hàng ngày. Điều này cho thấy hiệu năng của việc cử hành Thánh Thể và sức mạnh chứng tá đức tin của người Kitô hữu trực tiếp liên hệ với nhau, vì “không thể cử hành Thánh Thể một cách có ý nghĩa trọn vẹn, nếu cuộc sống chúng ta không phải là cuộc sống Thánh Thể trong nghĩa đúng nhất của từ Thánh Thể” (LM Paul Bernier SSS – Thánh lễ gõ nhịp, trg18). Trong tương quan hai chiều giữa Thánh Thể và cuộc sống, bí tích Thánh Thể ảnh hưởng trên đời sống của chúng ta và ngược lại, cuộc sống của chúng ta cũng diễn tả và tác động trên những gì mà chúng ta cử hành. Trước những lạm dụng của giáo dân thành Côrintô, thánh Phaolô đã thẳng thắn cảnh báo rằng nếp sống của chúng ta có thể phá huỷ những gì chúng ta cử hành: “tôi chẳng khen anh em đâu, vì những buổi hội họp của anh em không đem lại lợi ích gì, mà chỉ gây thiệt hại… Khi anh em hội họp, thì không phải là để ăn bữa tối của Chúa” (1Cr 11,17.20). Cử hành Thánh Thể là lễ mừng chính thực tại cuộc sống của chúng ta. Mặc dầu các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, trước tiên, là những hành động thờ phượng. Nhưng bí tích có tác động trực tiếp và mạnh mẽ trên cuộc sống thực tế của ta. Bí tích uốn nắn cách suy nghĩ và làm cho chúng ta trở nên Kitô hữu hơn, không chỉ trên danh nghĩa nhưng trên thực tế “Cử hành Thánh Thể có nghĩa là làm cho chúng ta trở nên Thánh Thể trong tư tưởng, lời nói và việc làm. Điều này có nghĩa là làm cho chúng ta trở nên con người của bí tích Thánh Thể” (LM Paul Bernier SSS – Thánh lễ gõ nhịp, trg 26). Phụng vụ là một kinh nghiệm, đòi buộc chúng ta phải dấn thân, phải đáp trả hành động của Đức Kitô, vì Người là khuôn mẫu và chuẩn mực cho cuộc đời của chúng ta. Phụng vụ giúp chúng ta suy nghĩ và hành động như người tín hữu của Chúa, làm tất cả mọi sự nhân danh Người “dù ăn, dù uống, dù làm, anh em hãy làm vì danh Chúa Kitô” (1Cr10, 31).

Những gì được cử hành trên bàn thờ phải được đặt song song với cuộc sống thực tế. Và những gì chúng ta đang sống cũng phải được đặt trên bàn thờ, trong của lễ chúng ta dâng. Nhờ đó, qua tay vị linh mục, nhân danh Đức Kitô, nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, tất cả trở thành hiến vật dâng lên Thiên Chúa Cha “tựa hương thơm ngào ngạt”. Vì vậy, không thể có những kinh nghiệm sốt sắng về việc cử hành Thánh Thể đối với những kẻ bàng quan, những kẻ không nhận ra những nhu cầu của đồng loại, không nhận ra những sự dữ đang hoành hành trong cuộc sống này.

Tinh thần đích thực của người Kitô hữu là tinh thần Thánh Thể. Việc cử hành Thánh Thể, nhất là phụng vụ ngày Chủ Nhật, cộng với những nỗ lực cá nhân mỗi người là để nhận rõ các dấu chỉ thời đại. Qua đó, phụng vụ cung cấp cho chúng ta nguyên liệu cơ bản để xây dựng cuộc sống người Kitô hữu. Ý tưởng này giả thiết phải có một tương quan hữu cơ giữa việc cử hành Thánh Thể và cuộc sống. Để nhờ Thánh Thể, cuộc sống chúng ta được uốn nắn theo đức tin.

Nói thì dễ, làm mới khó. Việc ý thức được những yếu tố thâm sâu và kỳ diệu trong việc cử hành Thánh Thể đã là khó, nhưng để hội nhập những chiều kích ấy vào trong cuộc sống thực tế lại là một việc không đơn giản, và khó hơn bội phần. Tuy nhiên, điều ấy vẫn có thể thực hiện được nhờ vào sự hướng dẫn của Thánh Thần “Đấng sẽ dẫn đưa chúng ta đến chân lý vẹn toàn” (x Ga 16,13).

Bí tích Thánh Thể trong đời sống Giáo Hội

Một trong những hoạt động chính thức trong đời sống Giáo Hội là cử hành phụng vụ. Phụng vụ không chỉ là tột đỉnh của Giáo Hội, nhưng phụng vụ còn là nguồn mạch tuôn trào mọi năng lực của Giáo Hội và đỉnh cao đời sống phụng vụ của Giáo Hội là việc cử hành Lễ Tạ Ơn (Eucharistica). Việc cử hành này là nguồn mạch mọi ân sủng và làm cho mọi chi thể trong Thân Thể Mầu Nhiệm được thánh hoá trong Chúa Kitô: “Bí tích thánh Thể là trung tâm và cao điểm của đời sống Giáo Hội. Trong bí tích Thánh Thể, Đức Kitô liên kết mọi chi thể của người vào hy lễ chúc tụng và tạ ơn, hy lễ mà Người đã dâng lên Cha một lần dứt khoát trên thập giá. Qua hy lễ này, người thông ban tràn đầy ân sủng cứu độ trên thân thể của mình là Giáo Hội” (GLTC 1407). Những gì Giáo Lý toàn cầu diễn tả được đặt nền và được gợi hứng từ những Hiến Chế của Công Đồng. Chúng ta sẽ tìm hiểu cách Thánh Thể làm nên Giáo Hội qua sự hiện diện, trao ban sự sống, tính hiệp nhất và cộng đoàn, và Giáo Hội phát triển.

Bí tích Thánh Thể làm nên Giáo Hội

Các Giáo phụ khẳng định: “Thánh Thể làm nên Giáo Hội”. Thánh Thể kiến tạo Giáo Hội từ bên trong và dệt Giáo Hội quanh mình như một chiếc áo. Thánh Thể làm nên Giáo Hội bằng nhiều phương cách, nhưng việc cụ thể và rõ ràng nhất là sự hiện diện đích thực của Đức Kitô trong bí tích Thánh Thể.

Hiện diện: Giáo Hội được xem là một cộng đoàn Dân Thiên Chúa, Dân của Giao Ước mới thay thế cho dân Ixrael trong Cựu Ước. Xưa trong Cựu Ước, việc hình thành và qui tụ thành Dân Chúa là do chính sự hiện diện của Người ở giữa dân riêng: “Chúng sẽ dựng cho Ta một nơi Thánh để Ta ngự ở giữa chúng” (Xh 25,8). Đó là điều làm cho Ixrael khác với các dân tộc khác và là một bảo đảm cho họ trong hành trình về Đất Hứa: “Có dân tộc vĩ đại nào được thần minh ở gần, như Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, ở gần chúng ta, mỗi khi chúng kêu cầu Người?” (Dnl 4,7). Bước sang thời Tân Ước, Thiên Chúa tiếp tục hiện diện ở giữa Dân của Người: “Ngôi Lời là Thiên Chúa… Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,1.14). Trong biến cố truyền tin qua việc “Thánh Thần ngự xuống” (Lc 1, 35), Đức Giêsu bước vào trần thế, Người hiện diện giữa một dân tộc để chia sẻ, đồng hành, qui tụ, chăn dắt họ như “người mục tử qui tụ đàn chiên sau ngày chúng bị tản mát”. Cũng vậy, qua lời truyền phép, nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, bánh và rượu trở nên Mình và Máu của Người. Như thế, Đức Kitô, Ngôi Lời của Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật lại tiếp tục hiện diện ở giữa cộng đồng dân Chúa là Giáo Hội. Và chính Người cũng làm cho Giáo Hội trở thành dấu chỉ về sự hiện diện của Người, Đấng hiện diện và hiện tại hóa hy lễ Thập Giá của người, nhờ Thân Thể mầu nhiệm của Người là Giáo Hội. Vị chủ tế thực sự của bí tích là Đức Kitô “còn linh mục, giám mục hay bất cứ vị chủ sự bàn tiệc Thánh Thể nào, cũng chỉ đóng vai trò làm dấu chỉ. Dấu chỉ ở đây có thể coi như dấu chỉ của Đức Kitô, là Đầu của Giáo Hội” (LM Thiện Cẩm CGDT, số 1378, trg4). Thật ra, Đức Giêsu không bao giờ vắng mặt trong Giáo Hội, bởi vì Người đã khẳng định sẽ ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế (x Mt 28,20) và: “Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở giữa họ” (Mt 18, 20). Như thế khi cộng đoàn qui tụ nhau nhân danh Đức Giêsu để cử hành Thánh Thể, tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Người, chắc chắn Người hiện diện đồng hành và cùng chia sẻ với họ như xưa Người đã hiện diện với dân của Người.

Trao ban sự sống: Suốt bốn mươi năm trong sa mạc Dân Chúa được nuôi bằng man-na. Dầu thế, man-na cũng không cứu họ khỏi cái chết. Trong khi đó, Đức Giêsu khẳng định: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi ban tặng chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga 6,51). Sự sống Đức Giêsu ban tặng chính là sự sống thần linh, sự sống đời đời, vượt ra ngoài sự sống trần gian. Chính sự sống này đã kiến tạo nên Giáo Hội và làm cho Giáo Hội sống động: “Giáo Hội sống động là nhờ Thánh Thể và sống mạnh là nhờ sự phong phú của nhiệm tích này. Tất cả nội dung và ý nghĩa lạ lùng của nhiệm tích Thánh Thể đã được huấn quyền Giáo Hội giải thích từ xa xưa cho tới ngày nay” (Trần Phong Vũ, Thánh Thể trung tâm đời sống Giáo Hội – NXB Tin Vui, 2000). Với ân sủng dư tràn qua việc trao ban “Mình và Máu”, Đức Giêsu đã làm cho Giáo Hội có một nguồn sức sống mãnh liệt không gì lấn át được, ngay cả ma quỉ trong địa ngục. Như vậy, có thể nói chính vì Giáo Hội, vì sự hiện diện và sự sống của Giáo Hội mà Đức Giêsu đã lập bí tích Thánh Thể, không chỉ để trao ban sự sống của Ngài, nhưng qua đó, Ngài còn thể hiện và diễn tả cách cụ thể tình yêu của Người cho Giáo Hội: “Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh; như vậy Người thánh hoá và thanh tẩy Hội Thánh… để trước mặt Người có một Hội Thánh xinh đẹp và lộng lẫy, không tì ố, không vết nhăn hay bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền… Mầu nhiệm này thật cao cả. Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh” (Ep 5, 25b – 27. 32).

Tính hiệp nhất – cộng đoàn: Việc cử hành phụng vụ, nhất là cử hành Thánh Thể, là hành động của toàn thể Giáo Hội. Công Đồng khẳng định: “Bí tích hiệp nhất, dân thánh được qui tụ và tổ chức dưới quyền các giám mục… Các hoạt động đó thuộc về toàn thể Giáo Hội, diễn tả và ảnh hưởng trên Giáo Hội; tuy nhiên có liên quan khác nhau với từng chi thể, tùy theo sự khác biệt về phẩm trật phận vụ và sự tham dự sống động… Điều này có giá trị đặc biệt cho việc cử hành Thánh Thể” (SC 26.27). Thần học gia Karl Ralner diễn tả tính cộng đoàn của việc cử hành Thánh thể như sau: “Đức tin nói với chúng ta rằng thánh lễ là hy lễ của Giáo Hội cho nên thánh lễ riêng tư nhất của một linh mục cũng vẫn là hy lễ của cả Giáo Hội” (Bí tích học qua nhiều tác giả, số 468, trg 394). Cử hành phụng vụ là cơ hội để người tín hữu thể hiện chức vụ tư tế cộng đồng “ban cho họ khả năng dâng hy lễ theo tư cách riêng của họ” (LM Gioakim Nguyễn Văn Liêm – Giải thích mầu nhiệm Thánh Thể – trg 239). Hợp cùng với linh mục chủ tế và của lễ trên bàn thờ, mọi người tín hữu được mời gọi tiến dâng chính cuộc đời của họ. Đây là những lễ phẩm thiêng liêng được thu góp về từ trong cuộc sống. Từng con người như những tấm bánh nhỏ, những vụn bánh của cuộc đời cùng với Đức Kitô toàn thể dâng lên Chúa Cha hy lễ mà Người mong đợi. Vì thế, “cử hành Thánh Thể dù ở đâu, trong hoàn cảnh nào cũng vẫn là hành động của toàn thể Hội Thánh Chúa Kitô” (LM Dom Nguyễn Phúc Thuần SSS – Cử hành thánh lễ – 2000).

Chúng ta phải khẳng định rằng, Thánh Lễ đòi hỏi chúng ta phải có một cố gắng đầy ý thức, phải thực sự sống mối tình hiệp nhất mà chúng ta cử hành. Quan niệm đúng đắn về bản chất chức vụ tư tế cộng đồng của người Kitô hữu tuỳ thuộc vào sự thẩm định đúng đắn của họ về bản chất thực sự của cộng đoàn. Trong đời sống cộng đoàn, người ta không hiện hữu, nhưng là hiện diện. Sự hiện diện này mời gọi thiết lập một tương quan sống. Với người Kitô hữu, sống là sống với, sống cho, sống cùng và sống vì người khác. Như thế, qua mối dây tương quan của cộng đoàn, người giáo dân tiếp tục lãnh nhận ân sủng Thiên Chúa và tiếp tục sứ mạng của Người. Theo Jerome Murphy – Oconor: “Chính cộng đoàn là máng ơn cứu rỗi mà Đức Kitô tạo nên. Lời rao giảng của thánh Phaolô đã không đến tai người khác và những người đương thời, nếu không được cộng đoàn tiếp tục công bố. Như vậy, cộng đoàn là sự tiếp nối bằng xương bằng thịt sứ điệp của Đức Kitô, Đấng Cứu Thế” (Oconor – Worship – 2000).

Phát triển Giáo Hội: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6,55). Bí tích Thánh Thể không chỉ làm cho Giáo Hội sống, nhưng “sống dồi dào” (Ga 10,10b). Sống là lưu chuyển và phát triển, là lan toả. Với sức sống thần linh được lưu chuyển trong mình, Giáo hội có khả năng làm cho sức sống ấy lan toả đến mọi thực tại của con người và có khả năng biến đổi chúng. Với việc thường xuyên cử hành và tham dự lễ bẻ bánh, Cộng đoàn đầu tiên được biến đổi, từng cá nhân được lớn mạnh trong Thánh Thần. Và qua đời sống, họ trở thành một lời mời gọi, trở thành những lời giảng sống động cho Tin Mừng Phục Sinh và: “Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm người được cứu độ” (Cv 2, 47).

Bí tích Thánh Thể trong đời sống người Kitô hữu

Người giáo dân Công giáo được gọi là dân mang tính bí tích. Điều này có nghĩa gì? Có phải đó là dấu hiệu phân biệt họ với những Kitô hữu khác? Có phải họ thường xuyên tham dự việc cử hành các bí tích và nhất là bí tích Thánh Thể?

Thực ra, đó chỉ là những dấu hiệu bên ngoài. Nhưng đúng hơn, cuộc đời người công giáo, và cụ thể ở Việt Nam, được gắn liền với các bí tích. Mỗi bí tích đánh dấu một biến cố, một khúc quanh quan trọng trong cuộc đời của họ, được cử hành trong hoặc qui hướng về việc cử hành bí tích Thánh Thể. “Mở mắt chào đời con được dâng cho Chúa”, qua nghi thức gia nhập Giáo Hội, đó là bí tích Rửa Tội. Bí tích này thường được lồng vào và cử hành trong thánh lễ. Đến tuổi khôn lớn, sau khi đã được học hỏi giáo lý, họ được lãnh nhận bí tích Giải Tội lần đầu tiên, hầu chuẩn bị tâm hồn xứng đáng lãnh nhận Chúa Giêsu Thánh Thể. Với những giới hạn của con người khi phải đối diện những thử thách và khó khăn trong cuộc sống, họ sẽ được lãnh bí tích Thêm Sức. Chúa Thánh Thần sẽ hướng dẫn, nhắc nhở và dạy dỗ họ (x Ga 14,26; 16,13). Người giáo dân sẽ lãnh nhận Chúa Thánh Thần trong Thánh lễ Thêm Sức, như đánh dấu một bước hoàn tất chương trình khai tâm Kitô giáo. Trước lời mời gọi sống chứng tá cho Thiên Chúa, người giáo dân đến tuổi trưởng thành sẽ chọn đời sống gia đình hay đời sống tận hiến cho Thiên Chúa để phục vụ Tin Mừng và rao giảng Nước Trời. Sự chọn lựa của họ sẽ được đánh dấu bằng một thánh lễ; lễ cưới nếu họ chọn đời sống gia đình; lễ trao ban tác vụ linh mục hay lễ khấn nếu họ chọn sống đời dâng hiến. Khi tuổi đã xế bóng, đối diện với bệnh tật và sự chết họ được bí tích Xức Dầu nâng đỡ và kết thúc nghi thức bằng việc lãnh nhận Thánh Thể như của Ăn Đàng, bảo đảm cho hành trình tiến về nhà Cha. Thánh lễ an táng là thánh lễ cuối cùng mà người giáo dân tham dự, trước khi thân xác họ được trở về với lòng đất. Vì thế, trong đời sống đức tin của người công giáo nói chung và người công giáo Việt nam nói riêng, từ lúc mở mắt chào đời cho đến khi nhắm mắt từ giã cuộc đời là một cuộc cử hành Thánh Thể. Đúng như lời nhận định của Linh mục Fernandez: “Cuộc đời của người Kitô hữu là một cuộc cử hành Thánh Thể nối dài theo từng nhịp sống thời gian”. Chính vì vai trò và sự liên kết sâu xa của bí tích Thánh Thể với người Kitô hữu, nên Công Đồng khẳng định: “Việc lặp lại giao ước của Chúa với con người trong lễ Tạ Ơn nung nấu và lôi cuốn các tín hữu vào trong tình yêu nồng nàn của Chúa Kitô. Vì thế, phụng vụ, nhất là lễ Tạ Ơn, như là nguồn mạch từ đó ân sủng tuôn tràn trong chúng ta làm cho con người được thánh hoá trong Chúa Kitô một cách vô cùng hữu hiệu đồng thời Thiên Chúa được tôn vinh” (SC 10). Dựa vào truyền thống và lời dạy của Công Đồng, sách Giáo Lý Toàn Cầu giải thích thêm: “Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch và tột đỉnh đời sống Kitô hữu. Những bí tích khác cũng như các thừa tác vụ khác và các hoạt động tông đồ khác đều gắn liền với bí tích thánh Thể và qui hướng về đó” (GLTC 1324) .

Khi nói bí tích Thánh Thể là nguồn mạch của đời sống người Kitô hữu, Công Đồng và Giáo Lý của Giáo Hội muốn diễn tả sự sống mà người Kitô hữu được lãnh nhận khi tham dự cách trọn vẹn vào việc cử hành Thánh Thể. Trong Đức Kitô, sự sống này được thông chuyển một cách sâu xa và huyền nhiệm, vượt ra bên ngoài cả sự sống trần thế: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sự sống muôn đời” (Ga 6, 54a). Chính sự sống này mới đưa họ “đạt đến tầm vóc viên mãn của Đức Kitô” ( Ep 4,13). Đạt đến tầm mức viên mãn trong Đức Kitô nghĩa là trở nên giống Ngài. Một triết gia vô thần nói: “Con người là cái họ ăn” (LM Rarier – Thánh Thể nguồn ơn thánh hoá, The Liturgical Press, 1995, trg 43). Thế là thêm một triết gia vô thần nữa “vô tình” giải thích mầu nhiệm Thánh Thể của Kitô giáo cách tuyệt vời. Bởi vì nhờ Thánh Thể, người Kitô hữu thực sự trở nên “Cái họ ăn”. Thánh Lêô Cả đã viết: “Việc thông phần Mình và Máu Chúa Kitô có khuynh hướng làm cho chúng trở nên chính Đấng được chúng ta ăn” (LM. Rarier – Thánh Thể nguồn ơn thánh hoá, The Liturgical Press,1995, trg 60). Sự sống con người phát xuất từ Thiên Chúa và cụ thể là trong sự kết hiệp với Đức Kitô: “Như Cha hằng sống đã sai Ta, và Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta cũng sẽ sống nhờ Ta như vậy” (Ga 6,57). Sự sống ấy đưa họ đến mối liên kết sâu xa và huyền nhiệm với Đức Kitô như “cành liên kết với thân cây” như “các chi thể cùng chung một thân thể”. Đây chính là đỉnh cao của sự kết hiệp trọn vẹn, đó là trở nên một với Chúa Kitô và nên một với nhau trong sự hiệp thông.

Một vai trò khác của bí tích Thánh Thể trong đời sống người Kitô hữu là nối kết họ lại nên một với nhau: “để tất cả nên một, như, lạy Cha, Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta” (Ga7,21). Trước những xáo trộn do chia rẽ, phân biệt giai cấp xảy ra trong Giáo đoàn Côrintô khi họ cùng nhau qui tụ làm lễ Bẻ Bánh, thánh Phaolô xác định: “Bởi vì, chỉ có một tấm bánh, và tất cả chúng ta cùng chia sẻ một tấm bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1Cr 10,17). Bí tích Thánh Thể là sự hiệp nhất mọi người nên một trong Chúa Kitô. Trước mầu nhiệm cao cả này, thánh Âutinh đã phải thốt lên: “Ôi bí tích tình yêu! Dấu chỉ hiệp nhất! Mối giây bác ái!” (GLTC 1398). Sự hiệp nhất nên một giữa các phần tử của Chúa Kitô trong Giáo Hội là sự cần thiết và quan trọng, vì đó không chỉ là sự sống còn của Giáo Hội, mà còn là của từng người chúng ta trong tương quan với Giáo Hội, là Thân Mình của Chúa Kitô: “Ai không ở lại trong Thầy thì bị quăng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo” (Ga 15,1.6).

Sự hiệp nhất giữa các tín hữu là dấu chỉ của bác ái, yêu thương. Dấu chỉ bác ái yêu thương như một tấm căn cước của người Kitô giáo, bởi vì “người ta cứ dấu này mà nhận ra các con là môn đệ của Thầy, là các con hãy yêu thương nhau”. Được nuôi dưỡng bằng Thánh Thể và thấm nhuần tinh thần Tin Mừng, cuộc sống của người tín hữu trở thành những dấu chỉ sống động về sự hiện diện của Đấng Phục Sinh, trở thành lời loan báo hữu hiệu về tình yêu của Đức Kitô cho thế giới hôm nay. Nhận ra tầm quan trọng ấy, Công đồng nhận định: “Được bổ dưỡng bằng Mình Thánh Chúa Kitô trong thánh lễ, người Kitô biểu lộ cách cụ thể sự hiệp nhất của Dân Thiên Chúa. Sự hiệp nhất này được diễn tả đầy đủ và thực hiện cách kỳ diệu trong Bí Tích cực trọng này” (LG. 11).

Giữa một thế giới đang bị xâu xé bởi chủng tộc, giai cấp; bị phân cách bởi giầu nghèo, tôn giáo… thì sự hiệp nhất lại trở nên một lời mời gọi dấn thân. Khi lời tuyên tín của vị chủ tế cất lên sau khi truyền phép, cao điểm của việc cử hành Thánh Thể: “Đây là mầu nhiệm đức tin!”. Từ đáy thẳm sâu tâm hồn của tất cả cộng đồng cùng thưa: “Lạy Chúa! Chúng con loan truyền Chúa đã chịu chết và tuyên xưng Chúa đã sống lại cho tới khi Chúa lại đến” (Linh mục Dom Nguyễn Phúc Thuần – Cử hành Thánh lễ – 1994). Lời tuyên xưng này như một cam kết dấn thân, loan truyền tình yêu và vinh quang nước Chúa. Vì thế, Thánh Thể không chỉ thông ban cho người Kitô hữu sự sống thần linh của Đức Giêsu; nối kết họ lại trong một Thân Mình mầu nhiệm là Giáo Hội của Người. Nhưng, cử hành Thánh Thể còn thể hiện việc trao ban sứ vụ dấn thân, làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa trào dâng từ nhiệm tích này. Sống giữa cuộc đời, người giáo dân được Công đồng nhắc nhở: “Các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, thông ban và nuôi dưỡng trong họ đức ái đối với Thiên Chúa và đối với loài người. Nhân đức này là linh hồn của mọi hoạt động tông đồ” (LG 33). Để giúp họ định hướng và đi theo đường hướng chung, Công Đồng thêm: “Cả những bí tích khác cũng như các thừa tác vụ trong Giáo Hội và các hoạt động tông đồ đều gắn liền và qui hướng về đó. Thật vậy, bí tích Thánh Thể Chí Thánh chứa đựng tất cả của cải thiêng liêng của Giáo Hội, đó là Chúa Kitô, Người là Chiên Vượt Qua của chúng ta, Người là Bánh Hằng Sống, ban sự sống cho nhân loại bằng chính Thịt của Người, Thịt đã được sống nhờ Thánh Thần và làm cho con người được sống… Bởi vậy, bí tích Thánh Thể là nguồn mạch và tuyệt đỉnh của toàn thể công việc rao giảng Phúc Âm” (PO 5).

Thấm nhuần tinh thần thánh thể, người Kitô hữu không chỉ dừng lại ở việc rao giảng và dấn thân. Nhưng, họ còn được mời gọi trở nên bánh sự sống cho đồng loại: “Được lãnh nhận sự sống từ Bánh Ban Sự Sống là Đức Kitô, người tín hữu được mời gọi trở nên tấm bánh bẻ ra cho thế giới hôm nay, hầu đáp cứu sự đói nghèo của cộng đồng nhân loại” (Lm Fernandez SSS – The Bread that we break).

Công Đồng dựa vào nền tảng Thánh Kinh và truyền thống nói về vai trò cũng như những đóng góp của những cộng sự viên và của người giáo dân trong sứ mạng tông đồ (x CV 11,19-21; 18, 26; Rom 6, 1-16; Pl 4,3). Đối diện với một thế giới đang phát triển không ngừng về khoa học, cũng như để đáp ứng những nhu cầu mục vụ và phụng vụ trong những hoàn cảnh xã hội “phức tạp và tế nhị”, Công Đồng muốn phát động mạnh mẽ hơn việc sống những chiều kích bí tích, cách riêng là bí tích Thánh Thể dưới lăng kính “tông đồ giáo dân” (TĐ I – III). Giáo hội nhắm đến việc đào tạo một thế hệ giáo dân có đủ đức hạnh, năng lực, ý thức trách nhiệm, để giúp họ có thể sống tích cực những gì mà họ đã cử hành và nhất là trong việc chia sẻ những cảm nghiệm đức tin cụ thể và sống động với tha nhân. Vai trò này được diễn tả cụ thể qua những trách vụ như: phó tế vĩnh viễn, các trọng trách trong giáo xứ, giáo khu, giáo họ, giáo lý viên, thừa tác viên Thánh Thể. Đây cũng là đường hướng mà Đức Gioan Phaolô II muốn nhắn nhủ mọi người qua Tông huấn CATECHESIS TRADENDAE.

Cử hành và sống bí tích Thánh Thể cách đích thực

Với bức tranh phác họa ở trên về việc cử hành Thánh Thể, chúng ta thấy có những điểm mạnh, nhưng cũng phải công nhận là những điểm yếu cũng còn tồn tại khá nhiều. Những vùng tối của bức tranh cử hành Thánh Thể còn chiếm một khoảng khá lớn.

Đặc biệt những chiều kích linh thánh và huyền diệu của việc cử hành chưa được triển khai rõ ràng và cụ thể. Điều đó khiến cho người giáo dân cảm thấy mơ hồ và lúng túng trước mầu nhiệm Thánh Thể, nói chi đến việc “hiện tại hoá” những chiều kích ấy vào cuộc sống của họ. Vì thế, trước tiên phải tạo điều kiện cho mọi người tham dự cách tích cực và linh động vào việc cử hành Thánh Thể.

Tham dự cách tích cực và linh động

Để có một cuộc cử hành Thánh Thể linh động và diễn tả được sự hài hòa của một cộng đoàn phụng vụ, Công đồng nhắn nhủ: “Mỗi người dù là thừa tác viên hay tín hữu, khi chu toàn phận vụ mình, nên thi hành trọn vẹn những gì thuộc lãnh vực của mình tuỳ theo bản chất sự việc và những qui tắc phụng vụ” (SC, 28). Việc tham dự cách tích cực mời gọi người giáo dân tham dự một cách trọn vẹn, nghĩa là cả hồn và xác. Điều này giúp họ nhận ra rằng đây là cuộc cử hành của chính họ. Đó là cuộc cử hành của niềm tin. Sự hài hoà trong cộng đồng phụng vụ diễn tả một ý thức cao độ về vị trí và bổn phận của chức vụ tư tế. Trước hết, phải cho họ thấy sự hiện diện trong việc cử hành là điều hết sức cần thiết. Chính vì thế, thánh Phaolô nhấn mạnh: “Khi họp nhau để dùng bữa, anh em hãy đợi nhau” (1 Cr 11, 33). Sự hiện diện của họ trong thánh lễ thể hiện mối dây hiệp nhất giữa các phần tử trong cộng đoàn. Họ đến với nhau trong việc cử hành thánh lễ “không đơn giản là nhận lấy một cái gì đó từ Chúa, từ Giáo Hội, nhưng họ còn đến đó để trao ban” (Paul Bernier SSS – Thánh lễ gõ nhịp, trg 14). Thái độ nhận lãnh là thái độ thụ động. Nó sẽ biến cộng đoàn phụng vụ thành một “cử tọa câm nín, không có sức sống”.

Thánh lễ là cuộc gặp gỡ thiết thân giữa từng người với Đấng mà họ đã khẩn cầu và thiết lập mối tương quan. Cuộc gặp gỡ này phải được diễn ra trong bầu khí đối thoại, không phải là độc thoại. Thiên Chúa là Đấng lắng nghe những lời khẩn cầu của dân Người. Đến lượt họ cũng có quyền được nghe những gì Thiên Chúa muốn nói với họ trong lúc này và ở đây (hic et nunc). Những lời kinh, câu xướng đáp là của tất cả mọi người. Nếu vị chủ tế có những lời đọc dành riêng cho mình, thì người giáo dân cũng có những phần dành riêng cho họ. Điều cốt yếu là tất cả mọi người đều chung lời để tạ ơn Thiên Chúa. Lời kinh ấy chỉ thực sự là lời tạ ơn của mỗi người, khi nó thực sự được cất lên từ thẳm sâu của cõi lòng mình. Đó chính là lời kinh của cuộc sống, là tiếng lòng do chính Thần Khí thay thế để cất lên từ chính trong tâm hồn họ (x Rom 8,26-27). Của lễ vị linh mục dâng trên bàn thờ cũng chính là lễ vật của mỗi người: “Anh chị em hãy cầu nguyện để lễ vật của tôi cũng là lễ vật của anh chị em được Thiên Chúa là Cha toàn năng chấp nhận”. Từng cuộc đời với những vui – buồn, sướng – khổ, thành công – thất bại, được tiến dâng lên trên đĩa thánh và được Đức Kitô thánh hiến. Bởi vì, đó chính là “hoa mầu ruộng đất và công lao của con người”. Của lễ người giáo dân dâng lên được cụ thể hoá bằng những đồng tiền bỏ vào giỏ trong thánh lễ và được đặt trước bàn thờ. Những đồng tiền ấy là thành quả của mồ hôi, nước mắt và đôi khi là máu. Có những đồng tiền của bà góa, nhưng cũng có đồng tiền của người thu thuế. Có những đồng tiền lương thiện và chắc chắn không thiếu những đồng tiền bất chính. Tất cả những đồng tiền ấy như con người của họ được tiến dâng lên. Thiên Chúa đón nhận và thánh hóa chúng trong của lễ của Đức Kitô.

Trong Bữa Tiệc của Chúa, mọi người đều được mời gọi tham dự. Không có sự phân biệt chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, địa vị hay trình độ… Tất cả đều bình đẳng như nhau. Mỗi người đều có vị trí của mình trong bữa Tiệc ấy. Họ cùng ăn một bánh, uống một chén. Với tất cả tâm tình và ý thức đó, họ sẽ cảm nhận được là chính họ đang dâng lễ. Sẽ không còn sự phân biệt hay so sánh “lễ của cha này với lễ của cha kia” (CGDT, LM Thiện Cẩm, số 1397). Thánh lễ có sốt sắng, có sinh ích lợi cho họ hay không tuỳ thuộc vào chính sự tham dự cách tích cực hay thờ ơ của họ. Sự tham dự cách tích cực và linh động mời gọi việc tham dự bằng cả tâm hồn lẫn thể xác. Tâm hồn ước ao và thân xác diễn tả lòng ước ao ấy.

Chính những điều người giáo dân xác tín và thực hiện trong thánh lễ sẽ trở thành nguồn động lực thúc đẩy và diễn tả ra bên ngoài nơi “phố chợ”. Nơi cuộc đời họ sẽ có cơ hội để “hiện tại và cụ thể hoá” thánh lễ họ cử hành mỗi ngày. Bởi vì, cuộc sống giữa lòng đời chính là bàn thờ của họ. Điều này được chính cha Piô cảm nghiệm: “Trong thánh lễ tôi tiến dâng lễ vật lên Thiên Chúa. Trong cuộc sống tôi trở thành lễ vật của Ngài” (LM Rarier – Thánh Thể nguồn ơn thánh hoá – The Liturgical Press,1995). Cuộc sống nhân sinh đầy những khó khăn, đau khổ. Đau khổ tột cùng của nhân loại là cái chết. Nhưng chính qua những biến cố ấy, dưới cái nhìn đức tin Kitô giáo, là những cơ hội để họ thực sự trở nên hạt lúa miến được chà xát, được xay giã để trở nên bột cho tấm bánh hiến dâng. Thánh Innhaxiô thành Antiôkia đã có cảm nghiệm này khi đối diện với cái chết: “Tôi là hạt lúa mì của Thiên Chúa và sẽ được nanh thú dữ nghiền tán để thành tấm bánh tin tuyền của Đức Kitô. Xin khẩn cầu cùng Đức Kitô cho tôi, để nhờ đám thú dữ này, tôi được nên của lễ tiến dâng lên Thiên Chúa” (CGKPV – Kinh Sách Mùa Thường Niên, Tập IV, trg 670).

“Anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”. Lệnh truyền này của Chúa được cất lên trong lúc truyền phép. Người không bảo chúng ta “lặp lại lời” ấy. Điều Người muốn là chúng ta “hãy làm” những gì Người đang làm trong lúc đó. Đó là chuẩn bị trao ban mạng sống mình để trao ban, để cứu rỗi người khác. Nếu khi đến với thánh lễ, chúng ta lãnh nhận sự sống từ Đức Giêsu. Bước vào thánh lễ cuộc đời, chúng ta cũng phải chấp nhận trao ban sự sống của mình cho người khác. Trong Hy Tế thập giá, Đức Giêsu vì yêu dám hiến ban mạng sống cho nhân loại. Trong hy tế cuộc đời, Chúa cũng mời gọi chúng ta hãy yêu và làm như Người. Một tình yêu tích cực, một sự dấn thân toàn diện, đó chính là tâm điểm của Thánh Lễ. Chính thánh lễ sẽ giúp chúng ta, trong cuộc sống hằng ngày, sống được những gì chúng ta cử hành nơi bàn tiệc của Chúa.

Cử hành những gì mình sống và sống những gì mình cử hành

Chúng ta nhìn nhận rằng, ở đâu có Giáo Hội, ở đó có thánh lễ và cuộc đời của người Kitô hữu là thánh lễ nối dài, theo gương của Đức Giêsu. Dưới cái nhìn xã hội Do – thái giáo, Đức Giêsu cũng chỉ là người “giáo dân”, nhưng là người “giáo dân gương mẫu” (LM Jess. S.Brena. S.J, Linh đạo cho người giáo dân, 2000). Người và cha mẹ cũng phải lo chu tất những bổn phận một người giáo dân. Bản thân Người cũng được dâng vào Đền Thánh với của lễ là đôi chim câu (x. Lc 2, 22-24). Hàng năm cha mẹ Người cũng phải lên Đền thờ dự lễ Vượt Qua và năm lên 12 tuổi, Người cũng trẩy lên Đền Thánh để dự lễ (x Lc 2,42-43). Những năm tháng ẩn dật tại Nagiaret, Đức Giêsu cũng vẫn âm thầm thể hiện vai trò của mình như một người giáo dân âm thầm bằng cách “hằng vâng phục các Ngài… được mọi người yêu mến” (Lc 2,51. 52). Hàng tuần, vào ngày Sabat, Chúa vẫn đến hội đường để nghe sách thánh và luật Môisê (x Lc 4,16). Trong tương quan với những người khác, Chúa cũng đi dự đám cưới và đem lại cho tiệc cưới niềm vui trọn vẹn nhờ phép lạ hoá nước thành rượu (x Ga 2,1- 12). Những ngày thi hành sứ vụ, Chúa cũng có những người bạn thân như Matta, Maria, Lagiarô. Chúa cũng đồng bàn với những người thu thuế, giao du với hạng đĩ điếm và gần gũi, chúc lành cho những trẻ thơ. Người cũng không ngại để cho những người bệnh tật, ô uế đụng chạm đến mình. Mặc dù điều đó gây cho Người nhiều khó khăn và chống đối. Với cuộc sống của một người giáo dân trong xã hội Do Thái giáo, Chúa đã sống và làm cho những việc bình thường trở nên phi thường. Chính cách sống của Chúa đã thu hút nhiều người đến nghe Người giảng dạy và không thiếu những lần họ muốn tôn Người lên làm vua. Tất cả những chiều kích Thánh Thể ấy đã được Người thực hiện một cách nhuần nhuyễn trong suốt 30 năm sống trong mái nhà Nagiaret.

Thánh lễ người Kitô hữu “cử hành”, trước hết là trong môi trường gia đình của họ. Bởi vì “có thể gọi gia đình công giáo là “Hội Thánh tại gia” (HT.11) (GLHN – Giáo Phận Xuân Lộc). Chính trong môi trường gia đình, người ta được mời gọi để thực thi sứ mệnh tư tế của người Kitô hữu: “Gia đình cũng phải thực thi chức năng tư tế của mình: đó là siêng năng cầu nguyện, chuyên chăm tham dự các bí tích, cách riêng là bí tích thánh Thể”(THGĐ. 61). Trong bối cảnh của một buổi phụng vụ, nhất là phụng vụ thánh lễ, người giáo dân được mời gọi tham dự với tinh thần Thánh Thể hiến tế. Trở về với môi trương gia đình và xã hội, họ được khích lệ sống chiều kích “tinh thần Thánh Thể nhập thế” (LM Jess. S.Brena. S.J, Linh đạo cho người giáo dân, 2000).

Trong bối cảnh văn hoá xã hội và truyền thống đức tin của dân tộc, Đức Giêsu đã thiết lập bí tích Thánh Thể trong khung cảnh của một bữa ăn gia đình, nơi đó mọi người cùng nhau qui tụ và chân tình chia sẻ với nhau những vui buồn của cuộc sống. Nếu đối với người Kitô hữu, cuộc sống và những biến cố gắn liền với thánh lễ, thì đối với người Việt Nam, mọi biến cố vui mừng hay đau khổ đều được ghi dấu hoặc tưởng nhớ bằng một “bữa tiệc”. Dưới cái nhìn của vị Linh Mục phụ trách Mục Vụ Gia Đình của Tổng Giáo Phận Thành phố Hồ Chí Minh: “Các bữa ăn gia đình, truyền thống lâu đời của Việt Nam hiện vẫn còn duy trì… chuyện nấu nướng để tạo không khí. Rồi các dịp sum họp lễ tết, giỗ kỵ để anh em gặp gỡ trao đổi cũng là nét hay trong cách tổ chức gia đình Việt Nam” (CGDT, số 1379 – Mục chuyên đề, trg 22). Từ đó cho thấy, bữa ăn gia đình đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của họ. Bữa ăn của con người nói chung và cách riêng của người Việt Nam đều mang “dáng dấp và tinh thần Thánh Thể”. Bữa ăn của gia đình là nơi mọi thành viên thắt chặt thêm mối giây hiệp nhất bằng cách chia sẻ. Họ thuật lại cho nhau về những gì đã, đang xảy ra trong cuộc sống: chuyện gia đình, kinh tế, chính trị, những thành công, thất bại, những vui buồn, sướng khổ… của cuộc sống. Trong gia đình, bữa ăn là lúc mọi thành viên sum họp. Cha mẹ, con cái kể lại cho nhau những chuyện xảy ra trong nhà máy, nơi chợ búa, trong học đường nơi họ làm việc và học hành. Đó cũng là lúc họ được gần gũi nhau, được thông cảm và nâng đỡ. Phụng vụ Lời Chúa trong thánh lễ thuật lại những gì đã và đang xảy ra trong cuộc sống của dân Chúa, dưới sự hướng dẫn và quan phòng của Người. Qua đó, họ cảm thấy Thiên Chúa gần gũi, an ủi và nâng đỡ họ. Nơi bàn tiệc, người ta nâng chén chúc mừng nhau về những thành công và những điều may lành trong cuộc sống. Nhưng, họ cũng nâng chén để chia sẻ cho nhau những mất mát, đau khổ mà từng người đang lãnh chịu. Đây chính là lúc họ giúp nhau sống mầu nhiệm Tạ Ơn và Vượt Qua. Các môn đệ không chỉ chia sẻ chén chúc tụng trong Bữa Tiệc Vượt Qua (x.1Cr 11,24-25), nhưng họ cũng được mời gọi để uống chén đắng cuộc khổ nạn của Thầy Chí Thánh (x. Mc 10, 38). Người Việt Nam có lòng hiếu khách và có thói quen tiếp đồ ăn cho nhau bằng chính “đôi đũa” của mình. Nơi bàn ăn, cha mẹ chăm sóc cho con cái để chúng được no nê và lớn mạnh. Qua việc ăn uống cha mẹ biết được tình trạng sức khoẻ của con cái mình. Việc chăm sóc cha mẹ lúc tuổi già trong bữa ăn cũng thể hiện lòng biết ơn và sự hiếu thảo của con cái dành cho các bậc sinh thành. Tinh thần phục vụ của Chúa qua việc rửa chân cho các môn đệ, được các thành viên trong gia đình cụ thể hoá trong những cử chỉ này. Tất cả những cử chỉ trên nói lên lòng yêu mến, tấm chân tình và sự quan tâm đến nhau. Trong Bữa Tối sau cùng, Đức Giêsu đã dùng chính đôi bàn tay của mình: “cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho các môn đệ” (Mt 26, 26). Lương thực nơi bàn ăn là thành quả do bàn tay lao công. Qua những của ăn, con cái nhận ra những giọt mồ hôi của cha đổ ra trên nương đồng, trên công trường nắng cháy, trên những chuyến xe ôm đường dài. Họ cũng nhận ra những bước chân nặng nề của mẹ trong những buổi chiều mưa gió với gánh hàng trên vai. Mồ hôi, nước mắt và thậm chí cả máu đổ ra để tạo ra những của ăn cho con cái. Thành quả này chính là chiều kích hiến tế trong thánh lễ cuộc đời của cha mẹ. Tuổi đời và sức khoẻ của cha mẹ bị bào mòn theo năm tháng trong những lo toan cơm, áo, gạo, tiền dành cho con. Đó không chỉ là bổn phận và trách nhiệm của bậc sinh thành. Nhưng đó còn thể hiện cả một tình yêu bao la của người “dám hy sinh tính mạng và chết cho người mình yêu”. Sự trưởng thành của con cái theo năm tháng, trong mọi môi trường và lãnh vực sống được tính bằng “việc thể hiện những chiều kích Thánh Thể của cha mẹ” trong đời sống. Sự trưởng thành ấy cũng là lời đáp trả của con cái trước sự hy sinh của những bậc sinh thành trong thánh lễ cuộc đời của các ngài. Những hy sinh của cha mẹ trong việc nuôi nấng con cái cũng biểu hiện sự phục vụ âm thầm và liên lỉ. Sự phục vụ ấy cũng diễn tả tinh thần Thánh Thể của Đức Ki-tô khi Ngài bước vào cuộc sống nơi dương thế. Cha mẹ đã trở nên người phục vụ con cái trong suốt cả cuộc đời, từ khi con trẻ chào đời cho đến khi chúng trưởng thành. Và cha mẹ vẫn âm thầm lo lắng, phục vụ chúng đến khi nhắm mắt lìa đời. Trước tấm lòng và công lao to lớn, mênh mông của cha mẹ như núi Thái Sơn, như biển Thái Bình, con cái cũng có bổn phận ghi lòng tạc dạ những ơn nghĩa ấy và nỗ lực đáp trả trong việc báo hiếu. Điều đó không hoàn toàn mang tính nhân bản và truyền thống dân tộc, nhưng, đó còn là một đòi hỏi sống tinh thần Phúc âm (x. Lc 2, 51) và lệnh truyền của Thiên Chúa (x, Ep 6,1-3). Vai trò của gia đình trong đời sống đức tin của con người thật là quan trọng, cách riêng là việc sống những chiều kích của các bí tích. Trước những đòi hỏi của công việc và chủ nghĩa tự do cá nhân, bữa cơm gia đình của người Việt Nam, cụ thể là ở các đô thị đang bị đánh cắp. Họ không còn nhiều cơ hội để “cùng nhau qui tụ trong bữa ăn”. Đây chính là một trong những lý do dẫn đến việc đổ vỡ hạnh phúc trong các gia đình và làm tăng lên những “hình thức tội phạm mới trong xã hội”. Đối với Giáo Hội Công Giáo, gia đình là nhà trường, là tiểu chủng viện đầu tiên của Giáo Hội. Vì thế, khuôn mặt của Giáo Hội và xã hội tuỳ thuộc vào môi trường sống của gia đình. Trong lá thư Mục Vụ của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam năm 2002, các ngài khẳng định: “Tương lai nhân loại sẽ đến qua gia đình” (ĐSGĐ,86) (CGDT, số 1379, trg 11).

Bước vào đời sống xã hội, con người có cơ hội mở lòng ra với những thực tại của cuộc sống và diễn tả tinh thần Thánh Thể trong một môi trường rộng lớn hơn. Mối tương quan này được mô phỏng và cụ thể theo từng bước chân của Đức Kitô trên con đường sứ vụ. Theo gương Người, người Kitô hữu phải học cho biết rung cảm trước những mảnh đời đau khổ. Họ được mời gọi chia sẻ “vui với người vui, khóc với những ai đang khổ sầu”. Việc chia sẻ của họ không chỉ dừng lại ở phạm vi tinh thần, nhưng phải cụ thể hoá bằng việc chia sẻ vật chất với những người túng thiếu, gặp cảnh bĩ cực, như những tín hữu cộng đoàn tiên khởi đã làm. Thánh Giacôbê đã có những hướng dẫn cụ thể: “Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hàng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ: “Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no”, nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, nào có ích lợi gì?” (Gc 2, 15-16). Người Việt Nam nói chung và người giáo dân Việt Nam nói riêng thuộc lòng những câu ca dao nói về tình tương thân tương ái như: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương. Người trong một nước phải thương nhau cùng”. Hay “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Với tinh thần “một miếng khi đói, bằng một gói khi no”, sự chia sẻ của họ không chỉ là chuyện “lá lành đùm lá rách”, nhưng còn đi xa hơn thế “lá rách đùm lá nát”. Trước những thiệt hại và mất mát do thiên tai, mọi người không phân biệt tuổi tác, tôn giáo, địa vị đều tích cực tham gia và thể hiện tinh thần chia sẻ cao độ. Tinh thần liên kết và hiệp thông của bí tích Thánh Thể cũng được diễn tả ra bằng tính liên đới: “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”. Cuộc sống qui tụ họ lại thành những cộng đồng và trong đó mọi người coi nhau như anh em một nhà “tắt lửa, tối đèn, sớm tối có nhau”. Vì thế, người ta có câu: “Bán anh em xa mua láng giềng gần”. Họ sống gần gũi giúp đỡ nhau, chia sẻ những buồn vui trong cuộc sống. Trong chiều hướng đại kết, hình ảnh một người Kitô hữu cùng sống và làm việc với một người khác tôn giáo là chuyện bình thường. Một linh mục cùng một vị thượng toạ cùng chung tay lo cho thôn xóm là những hình ảnh đẹp vẫn được đăng trên báo công giáo và dân tộc. Nói như Linh mục Nguyễn Tầm Thường, đó là: “Vượt qua ranh giới của tôn giáo để phục vụ con người” (Nguyễn Tầm Thường – Nhật ký của một linh mục). Nói cách khác, tinh thần Thánh Thể là tinh thần quên mình để hướng tới việc phục vụ và xây dựng con người và cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn, đúng với nhân phẩm con người hơn. Tóm lại, nếu cuộc sống thường nhật của người tín hữu là những thánh lễ nối dài, thì những việc làm của họ trong tâm tình liên kết với Đức Giêsu Thánh Thể để phục vụ cho phần rỗi con người, đều mang chiều kích Thánh Thể.

Kết luận

Trước những nhu cầu tri thức của xã hội ngày càng cao, người giáo dân cũng cần phải được trang bị những hành trang cần thiết để thực hiện trọn vẹn sứ mạng của mình giữa lòng đời. Để giúp họ, Giáo Hội mà cụ thể là những Vị Thường Quyền phải quan tâm đến việc giáo dục đức tin cho họ. Việc giáo dục ấy phải chỉ nhắm đưa ra những lý thuyết, nhưng làm thế nào để áp dụng và cụ thể hoá chúng trong cuộc sống hàng ngày. Việc giáo dục phải được đặt trong một tiến trình dài và thường xuyên. Việc bồi dưỡng giáo lý cho người trưởng thành đã bị bỏ quên. Đó là một thiếu sót lớn trong đại gia đình Giáo Hội. Vì thế, người viết muốn nêu ra một vài những phương pháp ngõ hầu có thể giúp họ sống cách tích cực những chiều kích Thánh Thể trong cuộc sống.

– Về mặt tri thức

Tất cả mọi người, ở mọi cấp độ, đều phải được bồi dưỡng thường xuyên về ý nghĩa cử hành các bí tích và cách riêng là bí tích Thánh Thể. Làm sao giúp họ nắm được ý nghĩa của việc cử hành một cách cụ thể và linh động. Nội dung giáo lý không chỉ mang tính giáo điều, nhưng phải chú trọng đến cách thực hành và áp dụng vào cuộc sống hiện tại. Qua việc cử hành, phải làm sao cho họ thấy được vị trí và vai trò của Thánh lễ trong cuộc đời họ. Giúp cho họ thấy mối tương quan thiết thân giữa các bí tích và cụ thể là bí tích Thánh Thể với cuộc sống của họ. Một mặt, Giáo Hội cung cấp cho họ những giáo lý cơ bản và nền tảng về bí tích. Mặt khác, Giáo Hội cũng kêu gọi sự nỗ lực khám phá những kinh nghiệm cá nhân trong việc sống bí tích của họ. Bởi vì, kinh nghiệm sống là của mỗi người trong hoàn cảnh hiện tại khác nhau và không ai có thể sống thay cho họ.

– Về mặt thực hành

Trong vai trò mục tử, các vị linh mục cũng phải mời gọi và động viên họ tham gia vào các bổn phận trong việc cử hành phụng vụ. Các linh mục phải mạnh dạn trao phó cho họ những công việc cụ thể trong việc cử hành phụng vụ và ân cần chỉ bảo họ trong tâm tình thương yêu. Ý thức được sự cần thiết của tính cộng đoàn trong việc cử hành thánh lễ, phải cho họ thấy tầm quan trọng về sự hiện diện của họ trong thánh lễ. Từ đó, họ mới cảm thấy vai trò của họ là cần thiết trong cộng đoàn phụng vụ. Đây cũng là cách tốt nhất để giúp người giáo dân thực thi chức vụ tư tế cộng đồng. Bước vào thiên niên kỷ mới, con người phải đối diện với nhiều vấn đề mới phát sinh trong cuộc sống. Tuy nhiên, với những tiến bộ về khoa học kỹ thuật giúp cho chúng ta thấy hành tinh này dường như nhỏ bé hơn và nhân loại dường như gần gũi hơn trong tiến trình toàn cầu hoá. Điều đó cũng muốn nói lên rằng, mọi vấn đề của nhân loại và cách riêng của Giáo Hội cũng là của chúng ta. Việc cử hành và sống những chiều kích Thánh Thể không còn chỉ dành riêng cho bất cứ một giới nào trong Giáo Hội. Cũng thế, việc sống những chiều kích này không chỉ đơn thuần giới hạn trong khung cảnh một giáo xứ, một giáo phận hay một giáo hội địa phương nhưng nó phải mang tính chất toàn cầu và đại kết. “Anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”. Đó là lời mời gọi cử hành và sống những chiều kích tích cực và hiện sinh của bí tích Thánh Thể. Tầm vóc phổ quát của ơn cứu độ mà Thiên Chúa đã thực hiện là tất cả mọi người được nên một trong Đức Kitô, nhờ máu người đổ ra trên thập giá. Ngài đã phá đổ mọi bức tường ngăn cách. Trong Ngài, không còn sự phân biệt nam hay nữ, nô lệ hay tự do, Do thái hay Hy lạp, Ngài kêu gọi và qui tụ tất cả. “Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1Cr 10, 17). Đó chính là cuộc cử hành Thánh Thể “trong Chân Lý và trong Sự Thật”.

Linh mục Phêrô Phạm Ngọc Hảo SSS

 

Share This Post